
Giải pháp đẩy mạnh cổphần hoá DNNN ở
Việt Nam
vNỘI DUNG
I). Cổphần hoá và cổphần hoá DNNN.
1.Cổphần hoá.
Công ty cổphầnlà doanh nghiệp trong đó vốnđiều lệ đợc chia thành nhiều phần
bằng nhau gọi là cổphần. Cổ đông chỉchịu trách nhiệm vềnợvà các nghĩa vụkhác của
doanh nghiệp trong phạm vi sốvốnđã góp vào doanh nghiệp, cổ đông có quyền tựdo
chuyển nhợng cổphần của mình cho ngời khác trừtrờng hợp qui định tại khoản 3 điều 55
và khoản 1 điều 58 của luật doanh nghiệp. Cổ đông có thểlà tổchức cá nhân sốlợng cổ
đông tối thiểu là 3 không hạn chếtốiđa. Công ty cổphầnđợc phép phát hành chứng
khoán và có t cách pháp nhân kểtừngày đợc cấp giấy chứng nhậnđăng kí kinh doanh.
Cổphần hoá là quá trình chuyểnđổi hình thức sởhữu, biến doanh nghiệp một chủ
thành doanh nghiệp của nhiều chủ, tức là chuyển từhình thức sởhữuđơn nhất sang sởhữu
chung thông qua chuyển một phần tài sản cho ngời khác, cổphần hoá có thểáp dụng với
tất cảcác doanh nghiệp thuộc sởhữu của một chủduy nhất. Vì thếdoanh nghiệp t nhân,
doanh nghiệp Nhà nớc, doanh nghiệp có vốnđầu t nớc ngoài...đều có thểcổphần hoá.
2. Cổphần hoá DNNN
DNNN đợcđịnh nghĩaở điều 1 luật DNNN: “Doanh nghiệp nhà nớc là tổchức kinh
tếdo nhà nớc sởhữu toàn bộvốnđiều lệhoặc có cổphần, vốn góp chi phối, đợc tổchức
dới hình thc công ty nhà nớc, công ty cổphần, công ty trách nhiệm hữu hạn”.Định nghĩa
này chứađựng những thay đổi cơbản trong nhận thức của các nhà lập pháp và hoạch định
chính sách đối với các thành phần kinh tế. Nh vậy việc xác định DNNN không hoàn toàn
dựa vào tiêu chí sởhữu nh trớcđây ( trớcđây doanh nghiệpđợc Nhà nớc thành lập, đầu t
vốn, tổchức quản lí đợc coi là DNNN trong đó sởhữuđợc coi là tiêu chí cơbản nhất);

tiêu chí quyền chi phốiđợc áp dụng trong luật DNNN năm 2003 là tiêu chí định lợng, tính
chấtđịnh lợng thểhiệnởphần vốn góp của Nhà nớc trong toàn bộvốn của doanh nghiệp.
Nh vậy quyền kiểm soát đợc coi là tiêu chí cơbảnđể xác định một doanh nghiệp có phải
là DNNN hay không, đây có thểcoi là một bớc tiến trong cách tiếp cận DNNN.
Cổphần hoá doanh nghiệp Nhà nớclà một quá trình chuyểnđổi hình thức sởhữu
một phần tài sản của Nhà nớc, biến doanh nghiệp từsởhữu của Nhà nớc thành dạng sở
hữu hỗn hợp trong đó Nhà nớc có thểgiữmột tỷlệnhấtđịnh, tỷlệnày tuỳthuộc vào từng
doanh nghiệp cũng nh vai trò và vịtrí của nó trong nền kinh tế.
Việc chuyển sang nền kinh tếthịtrờng đợcđại hộiĐảngVI khởi xớng đã tạo ra những
điều kiện tiềnđề để cải cách triệtđể hơnđối với DNNN, thông qua việc cổphần hoá
chúng. Sởdĩcổphần hoá đợc coi là giải pháp triệtđể vì nó giải quyếtđợc căn nguyên
trong tổchức quản lí và hoạtđộng của DNNN đó là sởhữu. Cổphần hoá DNNN chấp
nhận sựdung hoà của nhiều thành phần kinh tếkhác nhau mà trớc hết là các doanh nghiệp.
Cổphần hoá làm thay đổi kết cấu sởhữu của chúng.
II). Cơsởlí luận và thực tiễn cổphần hoá DNNN
Quá trình cổphần hoá DNNN có cảnhững thành công và những va vấp lệch lạc. Những
thành công chủyếu là gặt hái đợc nhiều kinh nghiệm, làm sáng tỏthêm nhiều vấnđề
không chỉtrong phạm vi cổphần hoá mà cảtrong lĩnh vực hệtrọng hơn, nh sắp xếpđổi
mới DNNN và cơchếquản lý.
1. Cơsởlí luận.
Vềthực chất hình thức công ty cổphầnđầu tiên đã đợc C.Mac đánh giá và khái quát
một cách khách quan và khoa học. Sựra đời của các công ty cổphần là một bớc tiến của
lực lợng sản xuất:
Chúng đã biến những ngời sỡhữu t bản thành những ngời sởhữu thuần tuý, một mặt chỉ
giảnđơnđiều khiển và quản lí t bản của ngời khác, mặt khác là những nhà t bản-tiền tệ
thuần tuý. Quyền sởhữu t bản hoàn toàn tách rời chức năng của t bản trong quá trình tái
sản xuất thực tế.
Làm cho quy mô sản xuấtđợc tăng lên, mởrộng, mộtđiều mà đối với các doanh nghiệp
riêng lẻrất khó thực hiện. Xuất hiện những tiềnđề thủtiêu t bản với t cách là sởhữu t
nhân ởngay trong những giới hạn của bản thân phơng thức sản xuất t bản chủnghĩa, thủ
tiêu phơng thức sản xuấttbản chủnghĩaởngay trong lòng nó.
Các công ty cổphần là điểm quá độ để biến tất cảnhững chức năng của quá trình tái sản
xuất hiện còn gắn liền với quyền sỡhữu t bảnđơn giản thành những chức năng của những
ngời sản xuất liên hợp, tức là thành những chức năng xã hội.
Bên cạnh những thành công đó thì C.Mac cũng phân tích những hạn chế( tiêu cực) của
các công ty cổphần. C.Mac chủyếu phân tích những ảnh hởng của phơng thức sản xuất t
bản chủnghĩa, so sánh công ty cổphần t bản chủnghĩa với công ty hợp tác của công nhân.
Dới chủnghĩa t bản có thểhình thức sản xuất mới này sẻ đađến việc thiết lập chế độ độc
quyền và đađến sựcan thiệp của Nhà nớc.

Nh vậy sựxuất hiện của các công ty cổphần theo lí luận của C.Mac là kết quảcủa sựphát
triển của lực lợng sản xuất và là bớc tiến từsởhữu t nhân lên sởhữu tập thểcủa các cổ
đông.
Quá trình cổphần hóa một bộphận DNNN ởnớc ta có nhiều nét đặc thù, đó là cổ
phần hóa một bộphận doanh nghiệp thuộc sởhữu nhà nớc, thuộc sởhữu xã hội, toàn dân.
Mục tiêu cơbản của việc chuyển một bộphận DNNN thành công ty cổphần là nhằm hoàn
thiện quan hệsản xuất, phù hợp với tính chất trình độ của lực lợng sản xuất, nâng cao hiệu
quảcủa DNNN. Cụthểlà tìm một hình thức quản lí vừa phát huy quyền làm chủcủa ngời
lao động vừađảm bảo quản lí một cách có hiệu quảtài sản của doanh nghiệp.
Chúng ta đã đa ra nhiều hình thức công ty cổphần nhng có thểgói gọn trong hai nhóm
chính:
Nhóm các công ty cổphần trong đó Nhà nớc có tham gia cổphần nh: Giữnguyên giá trị
của doanh nghiệp kêu gọi thêm vốn bằng cách phát hành thêm cổphiếu, bán một phần tài
sản doanh nghiệp, cổphần hóa một bộphận doanh nghiệp. Tất cảcác hình thức cổphần
hóa theo ba dạng trên thì Nhà nớc hoặc là nắm giữcổphiếu khống chế(51%) hoặc là
không nắm giữcổphiếu khống chế.
Loại hình cổphần hóa theo thểthức Nhà nớc bán toàn bộdoanh nghiệp cho ngời lao động.
Nhằm rút vốn, đầu t vào những ngành lĩnh vực quan trọng, then chốt, địa bàn quan trọng.
Không nhất thiết phải giữtỷtrọng lớn trong tất cảcác ngành, lĩnh vực, sản phẩm của nền
kinh tế.
Dù tồn tại dới bất kì hình thức nào thì công ty cổphần là một loại hình doanh nghiệpđa sở
hữu. khi ngời lao động tham gia mua cổphần của doanh nghiệp thì họcũng đã gắn lợi ích
của bản thân vào lợi ích của doanh nghiệp, tạo ra sựgiám sát tập thể đối vớiđối với quá
trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh, tạo ra cơchếphân phối hài hòa giữa doanh nghiệp,
Nhà nớc và ngời lao động. Nhờ đó mà hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp có điều
kiệnđợc nâng lên.
Nh vậy có thểnói quá trình cổphần hóa một bộphận DNNN không phải là quá trình t
nhân hóa. Bởi vì Nhà nớc chỉnắm giữnhững ngành, những lĩnh vực cần thiết, vai trò chủ
đạo của khu vực kinh tếnhà nớc không những không đợc cũng cốmà còn có thểbịyếuđi
nếu cứtiếp tục duy trì những doanh nghiệp hiệu quảthấp, năng lực cạnh tranh kém. Việc
bán toàn bộtài sản chỉ đợc áp dụng đối với các doanh nghiệp mà Nhà nớc không cần nắm
giữ, những lĩnh vực mà khu vực dân doanh hoàn toàn có thểlàn tốt hơn DNNN. Nhà nớc
sẻlựa chọn hình thức bán phù hợp và nếu bán theo cách để cho ngời lao động có cổphần u
đãi hay cổphần không chia thì rõ ràng không thểnói đó là t nhân hóa.
Cổphần hóa cũng xuất phát từyêu cầuđổi mới DNNN. DNNN nắm giữtrong tay những
nguồn lực của nền kinh tếnh tài nguyên thiên nhiên, vốn và nhân lực. Việc sửdụng lãng
phí, không hiệu quảcao các nguồn lực khan hiếm là một trong những nhân tốlàm chậm
tiến trình phát triển kinh tếcủa nớc ta. Tốcđộ tăng trởng cao của nền kinh tếnớc ta trong
những năm qua không có nghĩa là nền kinh tếchúng ta đang vận hành trơn tru mà sựtăng
trởng cao đó nh các tổchức kinh tếthếgiớiđã cảnh báo là do chúng ta có xuất phát điểm
thấp. Hiện nay mối quan hệgia nhà nớc và các DNNN là không rõ ràng, để duy trì các

doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quảNhà nớcđã sửdụng hàng loạt các biện pháp trực tiếp
và gián tiếp nh : xóa nợ, khoanh nợ, tăng vốn, u đãi tín dụng... Và nh vậy DNNN trởthành
đối tợng “trợcấp”của xã hội, và xã hội trởthành chổbấu víu cho các DNNN
làm ăn thua lỗ. Theo báo cáo tổng kiểm kê tài sản và xác định lại giá trịtài sản của DNNN
thì thực trạng nh sau: “tổng giá trịtài sản của DNNN theo sổsách kếtoán là 517.654 tỷ
đồng, theo giá kiểm kê xác định lại là 527.256 tỷ đồng; sốnợphải thu là 187.091 tỷ đồng
chiếm 35% giá trịtài sản của doanh nghiệp, gấp 1,43 lần vốn kinh doanh; hàng hóa tồn
kho là 45.688 tỷ đồng, trong đó hàng ứ đọng, mất phẩm chất không dùng đến là 1.600 tỷ
đồng; doanh nghiệp có 1 đồng vốn thì phải vay hoặc chiếm dụng 1,2 đồng cho kinh doanh,
hệsốvốn vay và vốn chiếm dụng so với vốn sởhữu là 1,8 lần; tổng sốnợphải trảlà
353.410 tỷ đồng, bằng 2,3 lần vốn nhà nớc cấp, gấp 2 lần nợphải thu trong đó nợquá hạn
phải trảlà 10.171 tỷ”[ theo báo cáo tổng kiểm kê tài sản và xác định lại tài sản DNNN tại
thờiđiểm 0 h ngày 01-01-2000.]
Yêu cầuđổi mới DNNN còn phát sinh sựtừcạnh tranh với khu vực kinh tết nhân đang có
những bớc chuyển mình mạnh mẻ. Mặt khác trong quá trình hội nhập DNNN không chỉ
cạnh tranh với các doanh nghiệp t nhân trong nớc mà còn cảvới các doanh nghiệp khác
của nớc ngoài. Cạnh tranh trên thịtrờng không chấp nhận sựbảo hộcủa Nhà nớcđối với
các doanh nghiệp của mình mà cạnh tranh bình đẳng đòi hỏi nhà nớc không chỉxóa độc
quyền mà cảbao cấp. Nh vậy cổphần hóa là một giải pháp tốt cho nền kinh tếnớc ta nói
chung cũng nh các DNNN nói riêng.
2. Thực tiễn cổphần hóa DNNN.
DNNN có mặtởhầu hết các nớc trên thếgiới, kểcảnhững nớc t bản chủnghĩa. Sựtồn tại
của DNNN ởcác nớc t bản chủnghĩa là một tất yếu khách quan . Khi mà những cuộc
khủng hoảng liên tục của chủnghĩa t bản vào những nămđầu của thếkỉXIX đã chứng
minh sựsụpđổ của học thuyếtbàn tay vô hình . Sựcan thiệp của Nhà nớc vào hoạtđộng
của nền kinh tếlà rất cần thiếtđể duy trì sựphát triển cân đối của nền kinh tếquốc dân.
Tuy nhiên sựphát triển của DNNN ởnhiều nớcđều vấp phải tình trạng chung là hiệu quả
thấp, tham nhũng, lãng phí... Vì thếcải cách DNNN là mộtđiều tất yếu; Có nhiều cách
thứcđể cải cách DNNN nhng t nhân hóa là biện pháp đợc sửdụng rộng rãi nhất và đem lại
nhiều kết quảkhảquan nhất. T nhân hóa đợc tiến hành mạnh mẻ ở các nớc có nền kinh tế
phát triển mạnh nh Hàn Quốc, Xingapo, Nam phi... cũng nh các nớcđang phát triển và các
nớc phát triển và nó đang trởthành một xu thếmang tính chất toàn cầu. Là một nớc xã hôi
chủnghĩa, có điều kiện tựnhiên, kinh tếxã hội cũng gần giống với Việt Nam. Trung Quốc
cũng tiến hành cải cách DNNN và thực tiễn cải cách DNNN ởTrung Quốcđã để lại cho
chúng ta nhiều kinh nghiệm quý báu. Cải cách DNNN ởTrung quốcđợc thực hiện khá
rộng rãi và thành công, thực sựlà một kinh nghiệm cho việc cải cách DNNN mà không
cần phải t nhân hóa hàng loạt. Cải cách DNNN bắtđầu từnăm 1984 và đã trải qua bốn giai
đoạn... Cổphân hóa DNNN trong giai đoạn này thực sựtrởthành chiến lợc của Trung
Quốc trong việc hiệnđại hóa và phát triển kinh tếvà đã thểhiện rõ rệt hiệu quảcủa khu
vực kinh tếcông cũng nh nâng cao hiệu quảhoạtđộng của DNNN.

Phải nói rằng cụm từ“cổphần“đã rất quen thuộc từhơn nhiều năm nay, kểtừkhi
Đảng ta lập hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng, lập cửa hàng xí nghiệp công t hợp
doanh và đã đợc phát triển rộng khắp. Trớc sức ép đẩy nhanh việc cổphần hóa một số địa
phơng và DNNN đã tìm mọi cách để đạtđợc chỉtiêu kếhoạch. Nếu chọnđơn vịkém hấp
dẫnđể cổphần hóa thì cổphần hóa thờng rất bếtắc vì xuất phát từtâm lí chủquan của
mọi ngời là ai cũng muốn bảo toàn lợi ích của mình, không ai muốn rủi ro vì thếkhông ai
muốn bỏvốn ra để mua cổphần. Bởi vậyđể có thểsuôn sẻviệc chọnđơn vịnào đang làm
ănđợc, đang có triển vọng đợc coi là một giải pháp hữu hiệu dễ đợc cán bộcông nhân
viên và ngời ngoài doanh nghiệp chấp nhận việc mua cổphần. Nếu chỉlà DNNN thuần
túy thì cơchếtài chính rất ngặt nghèo, dù làm ăn có hiệu quả, lãi lớn thì tiền lơng vẫn bị
khống chế, không đợc tăng lên tơng ứng. Sựxuất hiện của công ty cổphầnđã phần nào
khắc phụcđợc những hạn chế đó. Nhng qua thực tếthì rõ ràng không phải cổphần hóa là
một phép màu làm cho các công ty cổphần bỗng nhiên phát đạt, bởi vì nếu không có sự
“hỗtrợ”của các DNNN thì các công tyđó mất rất nhiều hợpđồng kinh tế, mất việc làm và
có thểdẫnđến sa sút ngay. Điều này càng chứng tỏcổphần hóa làm sáng tỏnhu cầu và
nội dung đổi mới DNNN, đó là phảiđồng bộcảvềsắp xếp cải tiến hoạtđộng của doanh
nghiệp và cơchếchính sách đối với nó để đảm bảođộng lực phát triển, nhân tốkích thích
sựhăng hái sáng tạo, nâng cao hiệu quảkinh doanh.
Các công ty thành viên hoặc bộphận trong DNNN sau khi cổphần hóa vềnguyên tắc coi
nh đã ra khỏi doanh nghiệp mẹ. Nhng xét vềthực chất thì công ty cổphần mới vẫn gắn
chặt với công ty mẹvà thông thờng không muốn rời bỏquan hệmật thiết trong hệthống
của tổng công ty Nhà nớc. Bởi vậy cổphần hóa đã gợi mởmô hình tổng công ty đa sởhữu
với thành phần kinh tếNhà nớc giữvai trò chủ đạo, vai trò chủ đạoở đây bắt nguồn từkhả
năng chi phối bằng sức mạnh kinh tế, từlợi ích mà thành phần kinh tếchủ đạo dẫn dắt và
mang lại cho các thành phần kinh tếkhác. Trong thực tế đã bắtđầu xuất hiện công ty đa sỡ
hữu kiểu này ởmột vài DNNN có quy mô lớn nhng mô hình này cha đợc thểchếhóa và
nhân rộng. Khi mô hình này đợc phát triển thì sẻ ẩn chứa khảnăng hình thành các công ty
đầu t hoặc kinh doanh tài sản của Nhà nớc, qua đó quyền sởhữu tài sản của doanh nghiệp
sẻchuyển thành quyền sởhữu giá trịdới hình thức phổbiến là cổphiếu.
Trong nền kinh tếthịtrờng các công ty cổphần các, công ty TNHH, t nhân... đầu t mua
chứng khoán của nhau, đan xen xâm nhập nhau tạo nên những hình thái doanh nghiệpđa
sởhữu, tách quyền sởhữu với quyền kinh doanh nhng lại gắn kết các thành viên trong xã
hộiởhiệu quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Có thểnói đây là xu hớng tích cực,
ngày càng phổbiến làm cho các thành viên trong nền kinh tếcó thểhợp sức nhau lại tạo
nên mộtđộng lực mới cho tiến trình phát triển kinh tếcủađất nớc.
III). Tiến trình cổphần hóa DNNN ởViệt Nam.
Cổphần hóa là một phần quan trọng trong cải cách hệthống doanh nghiệp Nhà nớc của
nhiều quốc gia trên thếgiới kểtừ đàu thập niên 80 của thếkỉXX ởViệt Nam, cổphần hóa
DNNN là một quá trình tìm tòi thửnghiệm và từng bớc tháo gỡkhó khăn trong quá trình
triển khai. Trong quá trình đó Đảng ta không ngừng đổi mới t duy, từng bớc chỉ đạođúng

