z
LUẬN VĂN:
Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng
đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh
Lời mđầu
Tín dụng Ngân hàng được coi “đòn bẩy” quan trọng cho nền kinh tế, nguồn vốn
quan trọng, chủ động để phát triển kinh tế trong nước. Tuy nhiên, nghiệp vụ tín dụng
không chỉ ý nghĩa với nền kinh tế mà còn nghiệp vụ hàng đầu, ý nghĩa
quan trọng, quyết định đối với sự tồn tại phát triển của từng Ngân hàng. Cũng như
mọi hoạt động kinh doanh khác, hoạt động tín dụng cũng chứa đựng những rủi ro. Do
đặc thù kinh doanh tín dụng Ngân hàng kinh doanh chủ yếu dựa trên tiền của người
khác, kinh doanh qua tay người khác nên rủi ro trong hoạt động tín dụng của Ngân
hàng còn cao hơn rủi ro doanh nghiệp vì vừa phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của
Ngân hàng vừa phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, rủi ro
trong kinh doanh dịch vNgân hàng điều ktránh khỏi mà chủ yếu rủi ro tín
dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Thời gian gần đây rủi ro tín dụng đối
với khu vực này đang vấn đề nổi cộm đang thu hút squan m của các cấp lãnh
đạo ngành Ngân hàng trong khi tiềm năng của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh rất to
lớn nhưng chưa được phát huy. Hơn nữa rủi ro xảy ra trong Ngân hàng nói chung
rủi ro tín dụng nói riêng còn nguy hiểm hơn rất nhiều lần so với rủi ro trong các ngành
kinh doanh khác. Hậu quả của rất dễ lan truyền trong cả hệ thống Ngân hàng, gây
ra những vhoảng loạn sụp đổ hàng loạt Ngân hàng một loạt hậu quả nghiêm
trọng khác về mọi mặt kinh tế, hội đặc biệt lòng tin của người dân vào sự lãnh
đạo của Chính phủ bị suy giảm. Ta có thể thấy được phần nào hậu quả của rủi ro Ngân
hàng qua vụ đổ vỡ hàng loạt của gần 500 quỹ tín dụng đô thị và hàng nghìn hợp tác
tín dụng nông thôn nước ta những m 1989-1990, hay mới đây nhất ssụp đổ của
hệ thống quỹ tín dụng ở Anbani.
Với các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay, rủi ro tín dụng đối với khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh cũng đang một vấn đề m đau đầu các nhà quản trị Ngân
hàng. Sự gia tăng của các khoản nợ quá hạn, nợ kđòi, thất thoát vốn tín dụng do bị
lừa đảo, chiếm dụng….đã làm rung động cả một hệ thống Ngân hàng thương mại cổ
phần đẩy không ít các Ngân hàng kể cả Ngân hàng quốc doanh vào trạng thái co
cụm không dám cho vay. Nhưng đã cho vay thì phải chấp nhận rủi ro. Trong kinh
doanh Ngân hàng cũng vậy, đến các Ngân ng hoạt động hiệu quả nhất thì việc tồn
tại các khoản nợ quá hạn, nợ kđòi vẫn xảy ra nhưng mức độ thấp rất thấp.
Chính vì vậy, vấn đề đặt ra cho các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay là cần
chấp nhận rủi ro m ra các biện pháp giảm thiểu đến mức thấp nhất thể, để
trên sở đó nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng lợi nhuận và góp phần thúc đẩy kinh
tế phát triển.
Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề, sau một thời gian thực tập tại Ngân hàng thương
mại cổ phần Hàng hải- Chi nhánh nội, ới sự hướng dẫn của giáo PGS, TS
Nguyễn Thị Bất em đã chọn đề tài nghiên cứu: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng
đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh” (Nghiên cứu tại Ngân ng thương
mại cổ phần Hàng hải – Chi nhánh Hà nội).
Bài luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại đối
với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải- Chi nhánh Hà nội.
Chương 3: Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng đối
với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng thương mại cổ phần
Hàng hải- Hà nội.
Chương 1
Rủi ro tín dụng trong hot đng
kinh doanh của Ngân ng thương mại
đối với khu vực Kinh tế ngoài quc doanh
1.1. hoạt động kinh doanh ca nn hàng thương mại trong nn kinh tế thị
trường.
1.1.1. Tính tất yếu khách quan của hoạt động kinh doanh Ngân hàng.
Ngân hàng thương mi (NHTM) một bộ phận không thể tách khỏi đời sống hội,
một sản phẩm đặc biệt của nền kinh tế thị trường. Sự ra đời và phát triển của Ngân
hàng thương mại dựa trên cơ sở lưu thông hàng hóa và phải trải qua một quá trình phát
triển lâu dài của loài người. Quan niệm Ngân hàng thay đổi theo thời gian, theo sự
biến đổi của nền kinh tế. Song khái quát chung được ghi trong pháp lệnh Ngân hàng
ngày 23/05/1990 của Hội đồng Nhà nước iều I, khoản 1): “Ngân ng một tổ
chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ mà hoạt động chủ yếu thường xuyên nhận
tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả sử dụng số tiền đó để cho vay,
thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Ngân hàng thương mại cũng giống ncác tchức kinh doanh khác hoạt động
mục đích thu lợi nhuận nhưng tổ chức kinh doanh đặc biệt vì đối tượng Ngân hàng
tiền tệ. Trong đó hoạt động tín dụng đặc trưng chủ yếu. Hơn nữa, tổ chức này lại
vai trò to lớn trong việc tạo ra vốn và điều hoà vốn trong nền kinh tế. Khoản 8
10, điều 20, luật các tổ chức tín dụng, hoạt động tín dụng được định nghĩa như sau:
“Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sdụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy
động để thoả thuận cấp tín dụng cho khách hàng với nguyên tắc hoàn trả bằng các
nghiệp vụ cho vay, chiết khấu cho thuê tài sản, bảo lãnh ngân hàng các nghiệp v
khác…”.
Hoạt động Ngân hàng cũng như hoạt động tín dụng ngân hàng đều một công cụ
quan trọng không thể thiếu của nền sản xuất kinh tế thị trường.
1.1.2. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại thể hiện mình thông qua c hoạt
động sau:
1.1.2.1. Huy động tiền gửi của doanh nghiệp và cá nhân.
Đây là một trong những nghiệp vbản, đầu tiên chủ yếu của ngân hàng thương mại
chính qua nghiệp vnày, ngân hàng thương mại đã thực hiện chức năng tạo tiền.
Ngân hàng thương mại có thể huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội bằng cách nhận tiền
của các doanh nghiệp và nhân thông qua các hình thức: tiền gửi có khạn, tiền
gửi không kỳ hạn tiền gửi tiết kiệm. Ngoài ra, khi cần thêm vốn, ngân hàng thể
huy động bằng cách phát hành các chứng chỉ tiền gửi, các trái khoán ngân hàng, hay
vay vốn của ngân hàng trung ương và các tổ chức tín dụng khác. Tuy nhiên, ngân hàng
thương mại phải thu hút vốn trên cơ sở vốn tự có. Vốn tự được coi “cái đệm
chống đỡ các rủi ro gặp phải trong kinh doanh ngân hàng. Tỷ lệ vốn huy động và vốn
tự có được quy định cụ thể trong luật ngân hàng mỗi nước. ở Việt Nam, các ngân hàng
thương mại không được phép huy động vốn quá 20 lần vốn tự có và quỹ dự trữ.
1.1.2.2. Thực hiện nghiệp vụ đầu tư tín dụng.
Đây nghiệp vkinh doanh mang lại phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại dùng chủ yếu vốn huy động để cho vay từ đó thu lợi nhuận trên
sở chênh lệch chi phí đầu vào và đầu ra. Thực hiện nghiệp vụ này, các ngân hàng
thương mại đã thực hiện chức năng hội của mình thông qua việc mở rộng vốn đầu
tư, gia tăng sản phẩm hội và cải thiện đời sống nhân dân. Tín dụng ý nghĩa lớn
đối với toàn bộ nền kinh tế thông qua hoạt động tài trợ cho các ngành, các lĩnh vực
trong nền kinh tế như: công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng sở hạ tầng…Đồng thời
đây cũng hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất, do vậy các ngân hàng thương mại
luôn chú trọng tới việc thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc cho vay để đảm bảo thu
về cả gốc lẫn lãi đúng hạn.
1.1.2.3. Nghiệp vụ thanh toán.
Các ngân hàng thương mại thực hiện nghiệp vthanh toán thông qua việc phát hành
các công cthanh toán (thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, séc) cung cấp các dịch vụ thanh
toán cho công chúng, thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ. Để thực hiện các chức năng