1
Luận văn
Các giải pháp huy động vốn cho đầu-
Phát triển nền kinh tế
2
Lời nói đầu
Công cuộc đổi mới chuyển từ chế quản tập trung quan liêu bao cấp
sang chế thị trường có sự quản của Nnước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa đã thi một luồng gió mới vào các hot động kinh tế Việt Nam. Nó
không những khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, thu t nguồn
vốn trong ngoài nước. Tạo công ăn việc làm, tạo đà tăng trưởng và phát
triển … mà còn đưa nền kinh tế Việt Nam hoà nhập với khu vực và thế giới.
Điều đó đòi hỏi phải thực hiện những chiến lược chính sách đúng đắn
trong từng thời knhằm đẩy mạnh tốc độ phát triển. Vốn là nguồn lực đầu
tiên bn của s phát triển và hiện đại hoá đất ớc. Những chính sách
huy động và sdụng vốn thích ứng có hiệu quả động lực bn để phát
triển và hiện đại hoá nhanh chóng đất nước.
Xuất phát từ nhận thức đó em chọn đề tài: c giải pháp huy động vốn
cho đầu tư - Phát triển nền kinh tế”.
Nội dung
3
I. Các nguồn huy động cho đầu tư - phát triển kinh tế:
1. Vai trò của vốn cho sự phát triển kinh tế
Việt Nam đang phấn đấu để trở thành một ớc phát triển. Điều đó đòi
hỏi phải thực hiện những chiến lược chính sách đúng đắn trong từng thời
kỳ, nhằm đẩy nhanh tốc độc phát triển. Vn là nguồn lực đầu tiên và bản
ca sự phát t riển và hiện đại hoá đất nước. Những chính sách huy động và s
dụng vốn thích ứng có hiệu quả động lực bản để pt triển và hiện đại
hoá nhanh chóng đất nước.
Với thắng lợi của sự đổi mới kinh tế Việt Nam và kết quả phấn đấu
đạt vượt những chtiêu quan trọng của kế hoạch 5 năm 1991 1995, Việt
Nam đang chuyển qua giai đoạn mới đưa đất ớc phát triển với nhp độ cao
hơn để khắc phục tình trạng tụt hậu so với nhiều nước xung quanh. Đây là đặc
trưng quan trọng nhất của giai đon mới. thể nói tốc độ phát triển của Việt
Nam trong 5 năm qua đạt bình quân trên 8%/năm ng với thành quchống
lạm phát đã giúp Vit Nam thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế, nhưng chưa thể
tránh được nguy cơ tụt hậu xa hơn so với cácớc khác. Do vậy, trong những
năm tới nhiệm vphấn đấu thoát khỏi tình trạng ớc nghèo, kém phát triển
và tụt hậu so với các nước xung quanh là vấn đề lớn, có thể nói là vấn đề sống
còn của dân tộc Việt Nam trong thời điểm hiện nay. Có th nêu một ssố liệu
sau đây để so sánh:
- Tốc độ ng trưởng kinh tế ca Việt Nam trên 8% nhưng tỷ lệ ng
n số là 2,2%.
- Tốc độc tăng trưởng kinh tế ca Thái Lan là 8-9% nhưng tốc độ tăng
n số chỉ trên 1%.
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc từ khi chuyển sang kinh
tế thị trường thì 10 năm liền tốc độ tăng trưởng trung bình 9%/năm, những
năm gần đây tăng 11 13%/năm, nhưng dân số cũng chỉ tăng trên 1%.
4
Nvậy, về GDP bình quân đầu người thì Vit Nam ngày càng tụt xa
so với các nước đó. Do đó Việt Nam phải tốc độ phát triển nhanh và bền
vững trong nhiều năm đi đôi với hthấp tỷ lệ tăng dân số thì mới hy vọng
tránh nguy tụt hậu ngày càng xa. Để m được điều đó Việt Nam phải
đủ vốn. Đối với Việt Nam, bình quân để tăng thêm 1 đồng GDP thì phải đầu
3 đồng vốn. Do vậy, muốn tốc độ tăng trưởng từ nay đến năm 2000
trung bình 9 10%/năm thì phải đầu vào nền kinh tế khoảng 50 tỷ USD.
Trong khi đó khả ng ngun vốn trong nước chỉ đáp ứng được theo quy
hoạch đầu khoảng hơn 40% nhu cầu (tương đương với 20 tỷ USD) phần
còn li phải dựa vàon ngoài.
T lệ đó được tính trên sở mức tích lu trong ớc còn thấp chỉ
chiếm khong 10% GDP. Theo xu thế pt triển chung hiện nay thì t lệ vốn
trong nước sẽ tăng, vốn ngoài nước sẽ giảm dần khi nguồn tích luỹ trong nước
tăng lên. Vấn đề quan trọng hiện nay là bng cách nào để hàng năm Việt Nam
thu hút được một lượng vốn khá lớn ớc tính 2 3 t USD) đang nằm
“đọngtrong nhân n. Hơn nữa, số vốn huy động phải tăng lên trong nhng
năm sau để đáp ứng nhu cầu đầu tư chung của đất nước.
Trước hết, cần có những quan điểm mới về tính chất đa dạng của nguồn
vốn (không chỉ là tiền tệ, với các cấu thành phong phú: Vàng, ngoại tệ, nội tệ,
giấy tờ giá trị như một thứ “bán tiền tệ” khác, cvật kthuật, đất
đai, lao động và tri thức khoa học...) cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
ớc, về việc huy động và sdụng hiệu qumọi nguồn vốn tiền tệ (được
coi là nguồn vốn bao trùm nhất, linh hoạt nhất).
Th hai, phải coi trọng nguồn vốn trong dân cư các doanh nghiệp, vì
đây là nguồn vốn chủ yếu cho ngân sách và cho hthống tín dụng. Vốn đầu tư
trong nướcn bn phải dựa vào tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế. Phải bằng mọi
cách thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân đsử dụng hiệu
quả, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân.
5
Một trong những mục tiêu bản trong chiến lược phát triển kinh tế
hội Việt Nam 1996 2000 phn đấu tăng gấp 2 lần GDP trên mỗi đầu
người vào năm 2000 (so với năm 1990), tương ứng với tỷ lệ tăng trưởng GDP
xấp xỉ 10%/năm. Để thực hiện được mục tiêu trên, vốn vai trò rất quan
trọng.
Thực hiện được mục tiêu tăng trưởng đó có ý nghĩa rất lớn:
- Đây phương thức duy nhất để rút ngắn khoảng cách chênh lệch về
trình độ kinh tế hội giữa Việt Nam c nước khác trong khu vực và
trên thế giới.
- điều kiện tiền đề để cải thiện từng bước mức sống ca các tầng lớp
n cư, giảm tình trạng đói nghèo, thất học, lạc hậu vẫn còn phbiến của một
bộ phận không nhỏ của nhân dân hiện nay, đặc biệt tại các khu vực nông thôn,
min núi.
- Tạo ra bước ngoặt có tính chất quyết định để đất nước đẩy nhanh tiến
trình công nghiệp hoá, hiện đạo h nền kinh tế cho những m sau năm
2000.
Qua thực tiễn phát triển kinh tế ca cácc trên thế giới, người ta vẫn
thấy rõ một điều: Giữa tăng trưởng và vốn đầu tư có mối quan hệ khá chặt
chẽ, đđạt được mức tăng trưởng cao, cần thiết phải có mức tích luđu
tư lớn, ngược lại mức đầu tư lớn chỉ có thể duy trìi hn thông qua tỷ lệ tăng
trưởng cao và n định. c bảng số liệu bên ới góp phần khẳng định điều
nêu trên. Châu Phi do có mức đầu hạn chế xấp xỉ 20%/năm so với GDP
cho nên hậu quả là mức tăng trưởng GDP qua c m rất thấp, ước chừng
2,5%/năm. Trong khi đó, châu á do liên tục duy trì được mức đầu trên
30%/năm, nên đã bảo đảm tốc độ ng trưởng GDP ktốt và ổn định, trên
6%/m. Đi sâu o từng nước được ghi nhận cho năm 1993, chúng ta cũng
thấy tình hình tương tnhư vậy: Những nước mức đầu cao đều
mức ng trưởng khá nhanh như Malaixia, Thái Lan..., thậm chí có nước nh