TRƯỜNG …………………. KHOA………………………. -----(cid:91)(cid:92)(cid:9)(cid:91)(cid:92)----- BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

Đề tài:

"Một số giải pháp kỹ thuật nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tại công ty dịch vụ du lịch và thương mại TST"

MỤC LỤC

1

LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................. 5 CHƯƠNG I ...................................................................................................... 7 TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ..................................................... 7 I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG. .................................................................... 7 1. Vị trí của hoạt động nhập khẩu trong Thương mại Quốc tế. ................. 7 1.1. Khái niệm và vai trò của Thương mại Quốc tế đối với sự phát triển của mỗi Quốc gia..................................................................................................... 7 1.2. Vị trí của công tác nhập khẩu trong Thương mại Quốc tế đối với một quốc gia............................................................................................................. 8 2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu. ............................................................. 9 3. Các hình thức nhập khẩu thông dụng trong thương mại quốc tế........ 10 3.1. Nhập khẩu trực tiếp: ............................................................................... 10 3.2. Nhập khẩu uỷ thác. ................................................................................. 11 3.3. Nhập khẩu liên doanh............................................................................. 11 4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu................................ 12 4.1. Các chế độ chính sách luật pháp trong nước và quốc tế: ..................... 12 4.2. Tỷ giá hối đoái. ........................................................................................ 13 4.3. Sự biến động thị trường trong nước và nước ngoài.............................. 13 4.4. Nền sản xuất cũng như sự phát triển của các doanh nghiệp Thương mại trong và ngoài nước. ............................................................................... 14 4.5. Hệ thống tài chính ngân hàng................................................................ 15 4.7. Hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc: ........... 15 II. NỘI DUNG CHÍNH CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU.................... 16 1. Nghiên cứu thị trường nhập khẩu. .......................................................... 16 1.1. Nghiên cứu thị trường trong nước......................................................... 16 1.2. Nghiên cứu thị trường hàng hoá quốc tế. ............................................. 17 1.3. Nghiên cứu dung lượng thị trường và các yếu tố ảnh hưởng đến dung lượng thị trường hàng hoá. ........................................................................... 18 1.4. Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên phạm vi thị trường thế giới. ............ 19 2. Giao dịch đàm phán và ký kết hợp đồng nhập khẩu............................. 21 2.1. Lựa chọn đối tượng giao dịch ................................................................ 21 2.2. Đàm phán và ký kết hợp đồng. ............................................................... 22 a. Thương lượng, đàm phán hợp đồng nhập khẩu.......................................... 22 b. Hợp đồng nhập khẩu. .................................................................................. 23 3. Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu. ................................................ 27 3.1. Xin giấy phép nhập khẩu:....................................................................... 28 3.2. Mở L/C. .................................................................................................... 28 3.3. Thuê tàu lưu cước. .................................................................................. 28 3.4. Mua bảo hiểm.......................................................................................... 29

2

3.5. Làm thủ tục hải quan.............................................................................. 30 3.6. Kiểm tra hàng hoá nhập khẩu và giao nhận với tàu............................. 30 3.7. Thanh toán. ............................................................................................. 31 3.8. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại........................................................... 31 CHƯƠNG II .................................................................................................. 33 I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY. ................................................................. 33 1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty........................................ 33 2. Cơ cấu, chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của Công ty. .......................... 34 2.1. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty. .................................................... 34 2.2. Cơ cấu, tổ chức bộ máy quản lý của Công ty. ....................................... 36 3.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty trong những năm gần đây. ......................................................................................................................... 40 Đơn vị : triệu đồng .......................................................................................... 40 Biểu 2 : Phản ánh tình hình nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu .......... 43 Nhận xét : ....................................................................................................... 44 3.3. Kết quả các hình thức nhập khẩu .......................................................... 45 a. Hình thức nhập khẩu trực tiếp. ................................................................... 45 b. Hình thức nhập khẩu uỷ thác. ..................................................................... 45 c. Phân tính kết quả các hình thức nhập khẩu ................................................ 46 Biểu 3 : Phản ánh kết quả nhập khẩu theo hình thức................................. 46 Đơn vị : 1000USD........................................................................................... 46 Nhận xét : ....................................................................................................... 47 II. PHÂN TÍCH QUY TRÌNH NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY DỊCH VỤ DU LỊCH VÀ THƯƠNG MẠI TST. ........................................................... 48 1. Công tác nghiên cứu thị trường:.............................................................. 48 2. Lựa chọn đối tác kinh doanh. .................................................................. 51 3. Đàm phán và ký kết hợp đồng. ................................................................ 52 4. Thực hiện hợp đồng nhập khẩu............................................................... 53 1. Thành công................................................................................................. 56 2. Hạn chế....................................................................................................... 58 CHƯƠNG III................................................................................................. 60 MỘT SỐ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT NGHIỆP VỤ..................................... 60 I. PHƯƠNG HƯỚNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN TỚI. ..................................................................................................... 60 II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY TST. ............................................. 62 1. Một số giải pháp kỹ thuật nghiệp vụ:...................................................... 62 1.1. Giải pháp mở rộng thị trường. ............................................................. 62 1.2. Lựa chọn đúng đối tác. .......................................................................... 66 1.3. Quy định chặt chẽ các điều khoản trong hợp đồng. ........................... 67 1.4. Giải pháp đẩy mạnh công tác giao nhận hàng nhập khẩu................. 68

3

2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHÁC.................................................................. 70 2.1. Thay đổi cơ cấu mặt hàng nhập khẩu của Công ty theo hướng phục vụ các ngành sản xuất trong nước..................................................................... 70 2.2. Nâng cao công tác quản lý hoạt động kinh doanh................................ 72 b) Về cơ sở vật chất......................................................................................... 74 c) Về lao động. ................................................................................................ 74 3. Một số kiến nghị đối với Nhà nước và Bộ chủ quản. ............................. 74 KẾT LUẬN .................................................................................................... 77

4

LỜI NÓI ĐẦU

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu bước ngoặt lớn trong cơ chế quản lý kinh tế nước ta từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh mới, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương mở rộng quan hệ ngoại thương. Kinh doanh xuất nhập khẩu đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển nền kinh tế đất nước. Xuất khẩu là nguồn tăng thu ngoại tệ, nâng cao khả năng phát triển nền kinh tế. Song nhập khẩu lại là điều kiện cần thiết để thực hiện tái sản xuất mở rộng, thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Nhập khẩu cho phép tận dụng được tiềm năng về khoa học kỹ thuật tiên tiến của các nước trên thế giới.

Trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nước nhu cầu về máy móc thiết bị, vật liệu vật tư không ngừng tăng lên . Cùng với tiến trình phát triển của đất nước, công ty Thương mại du lịch và dịch vụ TST đã không ngừng vươn lên tự hoàn thiện mình. Hoạt động kinh doanh XNK nói chung và kinh doanh nhập khẩu máy móc thiết bị, vật liệu vật tư... nói riêng đã đạt được những kết quả bước đầu tương đối khả quan. Tuy nhiên đội ngũ cán bộ công nhân viên trong công ty không thoả mãn với những việc đã làm được mà luôn trăn trở để thực hiện tốt hơn nữa chức năng, nhiệm vụ mà Bộ Thương mại giao phó.

Trong điều kiện bối cảnh kinh tế - chính trị thế giới có nhiều thay đổi theo chiều hướng xấu, cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Châu á vẫn còn dư âm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các nước trong khu vực. Bên cạnh đó chính sách quản lý nhập khẩu của Nhà nước cũng còn nhiều tồn tại như biểu thuế nhập khẩu chưa khoa học, thủ tục hành chính còn nhiều phiền phức... Trước rất nhiều khó khăn như vậy làm thế nào để hoạt động nhập khẩu của công ty đạt hiệu quả cao? làm thế nào để phát huy thế mạnh của công ty có uy tín trong và ngoài nước? đó là những câu hỏi đặt ra từ thực trạng hoạt động nhập khẩu ở công ty dịch vụ du lịch và thương mại TST.

5

Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại công ty em đã tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty và đã chọn đề tài:

"Một số giải pháp kỹ thuật nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tại công ty dịch vụ du lịch và thương mại TST" làm luận văn tốt nghiệp.

Do tính phức tạp của vấn đề, sự hạn hẹp về thời gian nên bài viết của em còn nhiều điểm chưa hoàn chỉnh, không thể tránh khỏi những sai sót, em rất mong sự góp ý kiến của các thầy cô giáo trong khoa.

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn Bùi Đức Dũng cùng tập thể cán bộ phòng kinh doanh đã giúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn của mình.

6

CHƯƠNG I

NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ - MỘT HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA KINH DOANH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TRONG NỀN

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

1. Vị trí của hoạt động nhập khẩu trong Thương mại Quốc tế.

1.1. Khái niệm và vai trò của Thương mại Quốc tế đối với sự phát

triển của mỗi Quốc gia.

Thương mại quốc tế là mối quan hệ trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa một

quốc gia với quốc gia khác, là một bộ phận trong quan hệ kinh tế quốc tế của

một nước với các nước khác trên thế giới.

Thương mại Quốc tế làm tăng khả năng thương mại của mỗi quốc gia.

Từ sự khác biệt về tài nguyên, khoáng sản, lực lượng sản xuất, kỹ thuật công

nghệ… đã làm cho chi phí để sản xuất ra mỗi sản phẩm có sự khác biệt giữa

nước này với nước khác.

Thương mại Quốc tế góp phần mở rộng thị trường của mỗi quốc gia.

Thương mại Quốc tế trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần tất yếu dẫn

đến cạnh tranh, theo dõi, kiểm soát lẫn nhau rất chặt chẽ giữa các chủ thể kinh

doanh Thương mại Quốc tế.

Thương mại Quốc tế cho phép mua được những hàng hoá và dịch vụ ở

những thị trường có giá rẻ hơn, sau đó bán chúng ở những thị trường có giá

cao. Nhưng điều lý thú hơn cả là không phải lúc nào ta cũng mua được các

sản phẩm có giá rẻ và bán chúng với giá đắt mà cái chính là chúng ta lợi dụng

được lợi thế so sánh, nhờ đó qua trao đổi Quốc tế mà cả hai bên đều có lợi.

Nói đến Thương mại Quốc tế không thể không tìm hiểu về các lý

thuyết kinh tế, đặc biệt là quy luật lợi thế so sánh. Quy luật lợi thế so sánh

7

nhấn mạnh sự khác nhau về chi phí sản xuất, coi đó là chìa khoá của phương

thức thương mại. Một quốc gia phải tập trung vào sản xuất và trao đổi sản

phẩm mà ở đó thể hiện mối tương quan thuận lợi hơn giữa các mức chi phí cá

biệt của Quốc gia đó với mức chi phí trung bình Quốc tế trên thị trường Thế

giới. Do đó có thể thấy cốt lõi của lợi thế so sánh là sự khéo léo lựa chọn, biết

kết hợp giữa ưu thế của một nước với ưu thế của nước khác để đạt được lợi

thế tối đa trên cơ sở một khả năng hạn chế.

Như vậy, một Quốc gia muốn phát triển thì phải bảo đảm hiệu quả tối

đa của việc chuyên môn hoá trên cơ sở lợi thế so sánh. Làm được điều đó thì

bất cứ một quốc gia nào cũng có thể tham gia vào thị trường Thương mại

Quốc tế một cách có lợi nhất.

1.2. Vị trí của công tác nhập khẩu trong Thương mại Quốc tế đối với

một quốc gia.

Nước ta cũng như nhiều nước khác có khả năng rất lớn về nhiều mặt

như: tài nguyên thiên nhiên, lao động... song không chỉ nhằm vào chúng một

cách độc lập mà hy vọng đạt hiệu quả cao. Tức là nói ngắn gọn không thể có

một nền kinh tế phát triển cao dựa trên cơ sở hoàn toàn tự cấp tự túc.

Để khai thác hiệu quả tiềm năng trên, chúng ta phải có vốn, khoa học

kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Để có những yếu tố này chúng ta có thể sử

dụng nhiều phương pháp mà phương pháp cơ bản nhất là thông qua Thương

mại Quốc tế trong đó chủ yếu và giữ vị trí chủ động là hoạt động nhập khẩu.

Trong điều kiện chúng ta còn tương đối lạc hậu về kinh tế công nghệ kỹ thuật

thấp kém thì việc thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc hiện đại

hoá lực lượng sản xuất không thể ngày một ngày hai mà chỉ có thể tiến hành

từng bước bằng nhập khẩu trong một thời gian dài. Việc thay đổi chiến lược

kinh tế từ "đóng cửa” sang "mở cửa” là vô cùng quan trọng. Nền kinh tế mở

sẽ tạo ra những hướng phát triển mới, tạo điều kiện khai thác lợi thế tiềm

năng của nước chúng ta trong phân công lao động Quốc tế một cách có lợi

8

nhất. Thương mại Quốc tế chỉ ra cho một nước lợi thế của mình, nên đầu tư

vào đâu, đầu tư vào lĩnh vực nào có lợi nhất. Nhập khẩu sẽ giúp chúng ta gỡ

những vướng mắc mà những nước nghèo thường mắc phải, phương châm đó

là vay mượn công nghệ nước ngoài trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá.

2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu.

Nhập khẩu là một trong hai hoạt động cấu thành hoạt động ngoại

thương. Có thể hiểu đó là việc mua hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài về phục

vụ cho nhu cầu trong nước hoặc tái sản xuất nhằm mục đích thu lợi. Nhập

khẩu thể hiện sự phụ thuộc gắn bó lẫn nhau giữa nền kinh tế của một quốc gia

với nền kinh tế Thế giới. Hiện nay khi các nước đều có xu hướng chuyển từ

đối đầu sang đối thoại, nền kinh tế quốc gia đã hoà nhập với nền kinh tế Thế

giới thì vai trò của nhập khẩu đã trở nên vô cùng quan trọng.

- Nhập khẩu mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước, cho phép tiêu

dùng một lượng hàng hoá lớn hơn khả năng sản xuất trong nước và tăng mức

sống của nhân dân.

- Nhập khẩu làm đa dạng hoá mặt hàng về chủng loại, quy cách, mẫu

mã cho phép thoả mãn nhu cầu trong nước.

- Nhập khẩu tạo ra sự chuyển giao công nghệ, do đó tạo ra sự phát triển

vượt bậc của sản xuất xã hội, tiết kiệm chi phí và thời gian, tạo ra sự đồng đều

về trình độ phát triển trong xã hội.

- Nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại, tạo ra

động lực bắt buộc các nhà sản xuất trong nước phải không ngừng vươn lên,

tạo ra sự phát triển xã hội và sự thanh lọc các đơn vị sản xuất.

- Nhập khẩu xoá bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ triệt để nền kinh tế

đóng, chế độ tự cấp, tự túc.

- Nhập khẩu giải quyết những nhu cầu đặc biệt (hàng hoá hiếm hoặc

quá hiện đại mà trong nước không thể sản xuất được).

9

- Nhập khẩu là cầu nối thông suốt nền kinh tế, thị trường trong và ngoài

nước với nhau, tạo điều kiện phân công lao động và hợp tác quốc tế, phát huy

được lợi thế so sánh của đất nước trên cơ sở chuyên môn hoá.

3. Các hình thức nhập khẩu thông dụng trong thương mại quốc tế.

Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu chỉ được tiến hành ở các doanh

nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp, nhưng trong thực tế do tác động

của môi trường, điều kiện kinh doanh cùng với sự năng động sáng tạo của

người kinh doanh đã tạo ra nhiều hình thức nhập khẩu khác nhau. Có thể kể ra

đây một vài hình thức nhập khẩu đang được sử dụng tại các doanh nghiệp của

nước ta hiện nay.

3.1. Nhập khẩu trực tiếp:

Hoạt động nhập khẩu trực tiếp là hình thức nhập khẩu độc lập của một

doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường trong và

ngoài nước, tính toán đầy đủ các chi phí đảm bảo kinh doanh có lãi, đúng

phương hướng, chính sách luật pháp của Nhà nước cũng như quốc tế.

Trong hoạt động nhập khẩu tự doanh, doanh nghiệp hoàn toàn nắm

quyền chủ động và phải tự tiến hành các nghiệp vụ của hoạt động nhập khẩu

từ nghiên cứu thị trường, lựa chọn bạn hàng, lựa chọn phương thức giao dịch,

đến việc ký kết và thực hiện hợp đồng. Doanh nghiệp phải tự bỏ vốn để chi

trả các chi phí phát sinh trong hoạt động kinh doanh và được hưởng toàn bộ

phần lãi thu được cũng như phải tự chịu trách nhiệm nếu hoạt động đó thua

lỗ.

Khi nhập khẩu tự doanh thì doanh nghiệp được trích kim ngạch nhập

khẩu, khi tiêu thụ hàng nhập khẩu doanh nghiệp phải chịu thuế doanh thu,

thuế lợi tức.

Thông thường, doanh nghiệp chỉ cần lập một hợp đồng nhập khẩu với nước

ngoài, còn hợp đồng tiêu thụ hàng hoá trong nước thì sau khi hàng về sẽ lập.

10

3.2. Nhập khẩu uỷ thác.

Hoạt động nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa

một doanh nghiệp hoạt động trong nước có ngành hàng kinh doanh một số

mặt hàng nhập khẩu nhưng không đủ điều kiện về khả năng tài chính, về đối

tác kinh doanh... nên đã uỷ thác cho doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao

dịch ngoại thương tiến hành nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của mình. Bên

nhận uỷ thác phải tiến hành đàm phán với nước ngoài để làm thủ tục nhập

khẩu theo yêu cầu của bên uỷ thác và được hưởng một hoa hồng gọi là phí uỷ

thác. Quan hệ giữa doanh nghiệp uỷ thác và doanh nghiệp nhận uỷ thác được

quy định đầy đủ trong hợp đồng uỷ thác.

Nhập khẩu uỷ thác có đặc điểm: trong hoạt động nhập khẩu này, doanh

nghiệp Xuất nhập khẩu (nhận uỷ thác) không phải bỏ vốn, không phải xin hạn

ngạch (nếu có), không phải nghiên cứu thị trường tiêu thụ vì không phải tiêu

thụ hàng nhập mà chỉ đứng ra đại diện cho bên uỷ thác để giao dịch với bạn

hàng nước ngoài, ký hợp đồng và làm thủ tục nhập hàng cũng như thay mặt

cho bên uỷ thác khiếu nại đòi bồi thường với nước ngoài khi có tổn thất.

Khi tiến hành nhập khẩu uỷ thác thì đại diện của các doanh nghiệp xuất

nhập khẩu chỉ được tính kim ngạch xuất nhập khẩu chứ không được tính

doanh số, không chịu thuế doanh thu. Khi nhận uỷ thác, các doanh nghiệp

xuất nhập khẩu này (nhận uỷ thác) phải lập hai hợp đồng:

- Một hợp đồng mua bán hàng hoá với nước ngoài

- Một hợp đồng nhận uỷ thác với bên uỷ thác.

3.3. Nhập khẩu liên doanh.

Đây là một hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kỹ thuật

một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanh

nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng, kỹ thuật để cùng

giao dịch và đề ra các chủ trương biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập

11

khẩu, thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho cả hai bên,

cùng chia lãi nếu lỗ thì cùng phải chịu.

Nhập khẩu liên doanh có đặc điểm: so với tự doanh thì các doanh

nghiệp nhập khẩu liên doanh ít chịu rủi ro bởi mỗi doanh nghiệp liên doanh

nhập khẩu chỉ phải góp một phần vốn nhất định, quyền hạn và trách nhiệm

của các bên cũng tăng theo số vốn góp, việc phân chia chi phí, thuế doanh thu

theo tỷ lệ vốn góp, lãi lỗ hai bên phân chia tuỳ theo thoả thuận dựa trên vốn

góp cộng với phần trách nhiệm mà mỗi bên gánh vác.

Trong nhập khẩu liên doanh thì doanh nghiệp đứng ra nhận hàng sẽ

được tính kim ngạch xuất nhập khẩu. Khi đưa hàng về tiêu thụ thì chỉ được

tính doanh số trên số hàng tính theo tỷ lệ vốn góp và chịu thuế doanh thu trên

doanh số đó.

Doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp tham gia liên doanh phải lập hai hợp đồng:

- Một hợp đồng mua hàng với nước ngoài.

- Một hợp đồng liên doanh với doanh nghiệp khác (không nhất thiết

phải là doanh nghiệp Nhà nước).

4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu.

4.1. Các chế độ chính sách luật pháp trong nước và quốc tế:

Đây là những vấn đề quan trọng mà các doanh nghiệp kinh doanh xuất

nhập khẩu buộc phải nắm vững và tuân theo một cách vô điều kiện. Vì nó thể

hiện ý chí của Đảng lãnh đạo mỗi nước, sự thống nhất chung của Quốc tế, nó

bảo vệ lợi ích chung của các tầng lớp trong xã hội, lợi ích của các nước trên

thương trường Quốc tế. Hoạt động nhập khẩu được tiến hành giữa các chủ thể

các Quốc gia khác nhau. Bởi vậy, nó chịu sự tác động của các chính sách, chế

độ, luật pháp của các quốc gia đó. Chẳng hạn như tự sửa đổi thực hiện, sửa

đổi luật pháp quốc gia hay sự thực hiện thay đổi chính sách thuế ưu đãi của

một nước hay một nhóm nước, điều đó không những chỉ ảnh hưởng đến nước

đó mà còn ảnh hưởng đến các nước có quan hệ kinh tế xã hội với những nước

12

đó. Đồng thời, hoạt động xuất nhập khẩu phải nhất định tuân theo những quy

định luật pháp Quốc tế chung. Luật pháp quốc tế buộc các nước vì lợi ích

chung phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong hoạt

động của mình trong hoạt động nhập khẩu, do đó tạo nên sự tin tưởng cũng

như hiệu quả cao trong hoạt động này.

4.2. Tỷ giá hối đoái.

Nhân tố này có ý nghĩa quyết định trong việc xác định mặt hàng, bạn

hàng, phương án kinh doanh, quan hệ kinh doanh của không chỉ một doanh

nghiệp xuất nhập khẩu mà tới tất cả các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập

khẩu nói chung. Sự biến đổi của nhân tố này sẽ gây ra những biến động lớn

trong tỷ trọng giữa xuất khẩu và nhập khẩu. Ví dụ khi tỷ giá hối đoái của

đồng tiền thanh toán có lợi cho việc nhập khẩu thì lại bất lợi cho xuất khẩu và

ngược lại.

Mặt khác có rất nhiều loại tỷ giá hối đoái: tỷ giá hối đoái cố định, tỷ giá

hối đoái thả nổi, tỷ giá hối đoái thả nổi tự do và tỷ giá hối đoái thả nổi có

quản lý. Vì vậy khi tiến hành bất cứ một hoạt động thương mại xuất nhập

khẩu nào, doanh nghiệp cũng cần nắm vững xem hiện nay quốc gia mà mình

định hoạt động đang áp dụng loại tỷ giá nào, bởi việc ấn định này sẽ có ảnh

hưởng rất lớn đến lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu và kinh doanh hàng nhập

khẩu.

4.3. Sự biến động thị trường trong nước và nước ngoài.

Có thể hình dung hoạt động nhập khẩu như một chiếc cầu nối thông

thương giữa hai thị trường: đầu cầu bên này là thị trường trong nước, đầu cầu

bên kia là thị trường ngoài nước. Nó tạo sự phù hợp gắn bó cũng như phản

ánh sự tác động qua lại giữa chúng, phản ánh sự biến động của mỗi thị

trường, cụ thể như sự tôn trọng giá, giảm nhu cầu về một mặt hàng nào đó

13

trong nước sẽ làm giảm lượng hàng hoá đó chuyển qua chiếc cầu nhập khẩu

và ngược lại. Cũng như vậy, thị trường ngoài nước quyết định tới sự thoả mãn

các nhu cầu trên thị trường trong nước. Sự biến đổi của nó về khả năng cung

cấp, về sự đa dạng của hàng hoá, dịch vụ cũng được phản ánh qua chiếc cầu

nhập khẩu để tác dụng đến thị trường nhập khẩu.

4.4. Nền sản xuất cũng như sự phát triển của các doanh nghiệp

Thương mại trong và ngoài nước.

Sự phát triển sản xuất của những doanh nghiệp trong nước tạo ra sự

cạnh tranh mạnh mẽ với sản phẩm nhập khẩu, tạo ra sản phẩm nhập khẩu từ

đó làm giảm nhu cầu hàng nhập khẩu. Còn nếu như sản xuất kém phát triển

không sản xuất được những mặt hàng đòi hỏi kỹ thuật cao thì nhu cầu về hàng

nhập khẩu tăng lên là điều tất nhiên và do đó nó ảnh hưởng đến hoạt động

nhập khẩu.

Ngược lại, sự phát triển của nền sản xuất nước ngoài làm tăng khả năng

của sản phẩm nhập khẩu, tạo ra sản phẩm mới thuận tiện, hiện đại, sẽ hấp dẫn

nhu cầu nhập khẩu đẩy nó lên cao tạo đà cho hoạt động nhập khẩu phát triển.

Tuy nhiên, không phải lúc nào sản xuất trong nước phát triển thì hoạt

động bị thu hẹp, mà nhiều khi để tránh sự độc quyền, tạo ra sự cạnh tranh,

hoạt động nhập khẩu lại được khuyến khích phát triển. Tương tự như vậy, để

bảo vệ quyền sản xuất trong nước, khi nền sản xuất nước ngoài phát triển thì

hoạt động nhập khẩu càng bị thu hẹp và kiểm soát gắt gao.

Cũng như sản xuất, sự phát triển của hoạt động Thương mại trong và

ngoài nước, sự phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh Thương mại quyết

định đến sự chu chuyển, lưu thông hàng hoá trong nền kỹ thuật hay giữa các

nền kinh tế. Chính vì vậy, nó tạo thuận lợi cho công tác nhập khẩu. Mặt khác

do chủ thể của hoạt động nhập khẩu chính là các doanh nghiệp xuất nhập

khẩu, sự phát triển của doanh nghiệp này đồng nghĩa với việc thực hiện một

cách có hiệu quả các hoạt động nhập khẩu. Trong một nước mà các doanh

14

nghiệp Thương mại không được tự chủ phát triển, chịu sự can thiệp quá sâu

của Nhà nước thì hoạt động nhập khẩu cũng không thể phát huy thế chủ động,

tinh thần sáng tạo không thể vươn mạnh ra nước ngoài từ đó tạo ra sự bí bách

trong nền kinh tế.

4.5. Hệ thống tài chính ngân hàng.

Hiện nay, hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển hết sức lớn mạnh,

nó can thiệp sâu tới tất cả các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, dù tồn tại dưới

hình thức nào, thuộc thành phần kinh tế nào.

Có được điều đó là bởi nó đóng vai trò hết sức to lớn trong hoạt động

quản lý, cung cấp vốn, đảm trách việc thanh toán một cách thuận tiện, chính

xác, nhanh chóng cho các doanh nghiệp. Hoạt động nhập khẩu sẽ không thực

hiện được nếu không có sự phát triển của hệ thống ngân hàng, dựa trên các

thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động nhập khẩu, đảm bảo cho

họ về mặt lợi ích kỹ thuật cũng như xã hội và cũng nhiều trường hợp do có

lòng tin với ngân hàng mà các doanh nghiệp với số lượng vốn lớn kịp thời tạo

điều kiện cho doanh nghiệp chớp được những thời cơ kinh doanh.

4.7. Hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc:

Việc thực hiện hoạt động nhập khẩu không thể tách rời với hoạt động

vận chuyển và thông tin liên lạc. Nhờ có thông tin liên lạc hiện đại mà công

việc có thể tiến hành thuận lợi, kịp thời. Còn việc vận chuyển hàng hoá từ

nước này sang nước khác là một công việc hết sức quan trọng trong hoạt động

nhập khẩu. Do đó sự hiện đại hoá công việc nghiên cứu và áp dụng những

công nghệ tiên tiến của khoa học kỹ thuật vào hệ thống thông tin và giao

thông vận tải là tất yếu ảnh hưởng to lớn đến hoạt động nhập khẩu.

Trên đây, chúng ta đã xem xét một số nhân tố chính ảnh hưởng có tính

chất quyết định đến hoạt động nhập khẩu của bất cứ một quốc gia nào. Bên

cạnh đó cũng còn rất nhiều nhân tố khác. Vì vậy hoạt động nhập khẩu hết sức

15

phức tạp và có mối tác động qua lại tương hỗ với nhiều hoạt động khác trong

nền kinh tế.

II. NỘI DUNG CHÍNH CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU.

Hoạt động nhập khẩu là một quá trình bao gồm rất nhiều khâu từ khâu

nghiên cứu thị trường đến khâu tiếp nhận và bảo quản hàng hoá. ở mỗi khâu

đều cần phải nghiên cứu thực hiện một cách đầy đủ kỹ lưỡng, đồng thời phải

đặt các khâu trong mối quan hệ hữu cơ với nhau. Có như vậy hoạt động nhập

khẩu mới đạt được hiệu quả cao, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và nhu cầu

tái sản xuất mở rộng trong nước, thực hiện nhiệm vụ của cấp trên giao đồng

thời cũng đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.

Hoạt động nhập khẩu rất phức tạp và biến động muôn hình muôn vẻ

nhưng nhìn chung các hoạt động nhập khẩu đều bao gồm các bước sau:

1. Nghiên cứu thị trường nhập khẩu.

Thị trường là phạm trù khách quan gắn liền với sự ra đời và phát triển

của nền sản xuất hàng hoá.

Việc nghiên cứu thị trường là công việc đầu tiên cũng là công việc đòi

hỏi cần được tiến hành liên tục thường xuyên trong suốt quá trình kinh doanh

của doanh nghiệp.

1.1. Nghiên cứu thị trường trong nước.

Việc nghiên cứu thị trường trong nước nhằm mục đích nhận biết sản

phẩm nhập khẩu, từ đó chọn ra mặt hàng kinh doanh có lợi nhất. Muốn như

vậy phải trả lời được những câu hỏi sau:

* Thị trường trong nước cần những mặt hàng gì? Tình hình tiêu thụ

mặt hàng đó ra sao?

Cần phải xác định được nhu cầu của người tiêu dùng về các mặt hàng

một cách cụ thể về quy cách, phẩm chất, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, số lượng

để nhập khẩu hàng hoá về thoả mãn đúng, đủ, kịp thời những nhu cầu đó.

16

* Mặt hàng đó đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống? Tình hình sản

xuất mặt hàng đó ở trong nước như thế nào?

Mỗi sản phầm hàng hoá đều có chu kỳ sống riêng. Chu kỳ sống của

mỗi sản phẩm bao gồm các pha: pha giới thiệu, pha phát triển, pha hưng

thịnh, pha bão hoà, pha suy thoái, ở mỗi pha chu kỳ sống, nhu cầu của người

tiêu dùng về sản phẩm là rất khác nhau, biểu hiện ra thành hành động mua

cũng cũng rất khác nhau. Do vậy để kinh doanh nhập khẩu đạt hiệu quả cao

cần thiết phải nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm và nắm bắt được sản

phẩm đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống.

Bên cạnh nghiên cứu nhu cầu về hàng hoá nhập khẩu, cần phải nghiên

cứu để biết được cung trong nước về hàng hoá đó. Chênh lệch nhu cầu về

hàng hoá và cung trong nước của hàng hoá đó chính là nhu cầu về hàng hoá

nhập khẩu. Yếu tố ảnh hưởng trực tiếp mạnh mẽ đến cung của một hàng hoá

là khả năng sản xuất và tốc độ phát triển sản xuất của hàng hoá đó. Do vậy,

muốn biết được nên kinh doanh nhập khẩu mặt hàng gì với số lượng là bao

nhiêu cần phải nghiên cứu tình hình trong nước về sản xuất mặt hàng đó như

thế nào.

1.2. Nghiên cứu thị trường hàng hoá quốc tế.

Một trong những yếu tố quan trọng của thị trường là cung về hàng hoá.

Kinh doanh nhập khẩu đòi hỏi phải nghiên cứu thị trường hàng hoá quốc tế là

một yếu tố khách quan.

Nghiên cứu thị trường hàng hoá quốc tế bao gồm việc nghiên cứu toàn

bộ quá trình tái sản xuất trên phạm vi quốc tế. Tức là việc nghiên cứu không

chỉ dừng lại ở lĩnh vực lưu thông mà còn nghiên cứu cả trong lĩnh vực sản

xuất và phân phối hàng hoá.

Nghiên cứu thị trường hàng hoá nhằm hiểu biết về quy luật hoạt động

của chúng- thể hiện qua nhu cầu, cung ứng, và giá cả - liên hệ với điều kiện

17

của doanh nghiệp và nhu cầu về hàng hoá nhập khẩu ở trong nước để quyết

định kinh doanh mặt hàng gì và lựa chọn đối tác kinh doanh thích hợp.

1.3. Nghiên cứu dung lượng thị trường và các yếu tố ảnh hưởng đến

dung lượng thị trường hàng hoá.

Có thể hiểu dung lượng thị trường của một mặt hàng là khối lượng

hàng hoá đó được giao dịch trên một khu vực thị trường nhất định (một quốc

gia, một khu vực hay trên toàn thế giới) trong một thời kỳ nhất định thường là

một năm.

Dung lượng thị trường không phải là yếu tố tĩnh mà thường xuyên biến

động do nó chịu sự tác động tổng hợp của rất nhiều yếu tố khác nhau. Nghiên

cứu dung lượng thị trường nhằm mục đích xác định được vị trí của doanh

nghiệp trên thương trường. Còn việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến dung

lượng thị trường để có thể dự đoán được sự biến động của nó trên cơ sở đó vạch

ra các kế hoạch chiến lược kinh doanh dài hạn và ngắn hạn cho doanh nghiệp.

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến dung lượng thị trường tập trung

vào những nhân tố chủ yếu sau:

* Các nhân tố làm dung lượng thị trường biến động có tính chu kỳ: bao

gồm: sự vận động của tình hình kinh tế tư bản chủ nghĩa, tính chất thời vụ của

sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hoá.

- Sự vận động của tình hình kinh tế tư bản chủ nghĩa là nhân tố quan

trọng nhất có ảnh hưởng đến tất cả thị trường hàng hoá. Nắm vững ảnh hưởng

của tình hình kinh tế tư bản chủ nghĩa đối với thị trường hàng hoá có ý nghĩa

quan trọng trong việc vận dụng các kết quả nghiên cứu thị trường và giá cả để

chọn thời gian giao dịch thích hợp nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất.

- Nhân tố thời vụ ảnh hưởng đến dung lượng thị trường hàng hoá trên

cả ba khâu sản xuất, lưu thông, tiêu dùng. Một số hàng hoá chịu ảnh hưởng

của các yếu tố mang tính chất thời vụ do đó việc sản xuất, lưu thông, tiêu

dùng những hàng hoá này cũng rất khác nhau nên sự tác động của nhân tố

18

thời vụ đến dung lượng thị trường của những hàng hoá khác nhau cũng rất

khác nhau. Nghiên cứu nhân tố này đòi hỏi phải nắm vững đặc điểm của mặt

hàng kinh doanh và tính chất thời vụ của nó để ra các quyết định đúng đắn về

hành động mua, vận chuyển và phân phối hàng hoá đó trong nước.

* Các nhân tố ảnh hưởng lâu dài.

Có những nhân tố không làm thay đổi dung lượng thị trường hàng hoá

một cách nhanh chóng mà ta có thể dễ dàng nhận biết ngay được. Những nhân

tố này có thể gây những biến động rất lớn về dung lượng thị trường nhưng

phải trải qua một quá trình chứ không phải trong một thời gian ngắn. Có thể

đến các nhân tố như tiến bộ khoa học kỹ thuật, các biện pháp và chính sách

của nhà nước và các tập đoàn tư bản lũng đoạn, thị hiếu và tập quán người

tiêu dùng, ảnh hưởng của các hàng hoá thay thế.

* Các nhân tố ảnh hưởng tạm thời:

Các nhân tố có thể kể đến là: các yếu tố tự nhiên, thiên tai, bão lụt, hạn

hán.. gây ra sự biến đổi cung cầu của một số mặt hàng nhất định. Cần phải

nghiên cứu các yếu tố này để có thể đối phó được với các tình huống bất ngờ

xảy ra.

1.4. Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên phạm vi thị trường thế giới.

Trên thị trường thế giới, giá cả không những phản ánh mà còn điều tiết

cung cầu. Việc xác định đúng đắn giá cả trên thị trường quốc tế trong hoạt

động kinh doanh xuất nhập khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả

Thương mại Quốc tế. Cụ thể nó sẽ làm tăng thu ngoại tệ trong xuất khẩu và

giảm chi ngoại tệ trong nhập khẩu.

* Dự đoán xu hướng biến động của giá cả và các nhân tố ảnh hưởng

đến xu hướng ấy.

Tuỳ theo mục đích mà dự báo xu hướng biến động của giá cả trong thời

gian ngắn và dài. Kết quả nghiên cứu dự báo trong thời gian dài thường được

19

sử dụng vào mục đích lập kế hoạch nhập khẩu hàng năm. Dự báo trong thời gian

ngắn nhằm phục vụ trực tiếp cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu hiện tại.

* Các nhân tố tác động lên xu hướng biến động giá cả của hàng hoá.

Các nhân tố tác động lâu dài:

- Nhân tố chu kỳ: sự vận động có tính chất quy luật của nền kinh tế tư

bản chủ nghĩa qua các giai đoạn của chu kỳ sẽ làm thay đổi quan hệ cung cầu

về các loại hàng hoá đó trên thị trường. Khi quan hệ cung cầu trên thị trường

thay đổi thì kéo theo sự thay đổi của giá cả hàng hoá là một điều tất yếu.

- Nhân tố lũng đoạn và giá cả: lũng đoạn làm xuất hiện nhiều mức giá

khác nhau đối với cùng một loại hàng hoá, thậm chí ngay trên cùng một khu

vực thị trường tuỳ theo mối quan hệ giữa người mua và người bán.

- Nhân tố cạnh tranh: cạnh tranh có thể làm cho giá biến động theo

những xu hướng khác nhau. Cạnh tranh giữa những người bán xảy ra khi trên

thị trường có xu hướng cung lớn hơn cầu khiến cho giá có xu hướng giảm

xuống. Cạnh tranh giữa những người mua xuất hiện trên thị trường khi cầu có

xu hướng lớn hơn cung làm cho giá cả trên thị trường có xu hướng tăng lên.

Đây cũng chính là mối quan hệ giữa cung cầu và giá cả.

- Nhân tố lạm phát: giá cả hàng hoá không những được quyết định bởi

giá trị của nó, mà còn được quyết định bởi giá trị của một đơn vị tiền tệ hiện

hành.

Trên thị trường thế giới, giá cả hàng hoá thường là sự biểu hiện giá trị

của nó thông qua những đồng tiền mạnh (như Đôla Mỹ, Demac Đức, Bảng

Anh...). Do đặc điểm của nền kinh tế thị trường, bản thân giá trị của đồng tiền

cũng có thể bị thay đổi. Lạm phát và giảm phát làm cho giá cả của hàng hoá

tăng lên hay giảm xuống một cách bất thường.

* Xác định giá xuất - nhập đối với thị trường có quan hệ giao dịch.

20

Trên cơ sở phân tích đúng đắn ảnh hưởng của các nhân tố, ta có thể dự

đoán được xu hướng biến động của giá cả trên thị trường thế giới, từ đó xác

định được mức giá cho từng mặt hàng mà ta có kế hoạch nhập.

Nếu hàng hoá nhập khẩu là đối tượng giao dịch phổ biến hoặc có các

trung tâm giao dịch quốc tế thì nhất thiết phải tham khảo thị trường thế giới

về hàng hoá đó. Đồng thời cần tham khảo giá xuất khẩu loại hàng hoá đó từ

khu vực thị trường các nước bạn hàng đi các nước nhập khẩu khác. Cần chú ý

tới cước phí vận tải, các chế độ ưu đãi thuế quan để định giá cho chính xác.

Với các mặt hàng nhập khẩu thông thường, có thể dựa vào giá chào

hàng của các đơn vị cung ứng, giá nhập khẩu của các năm trước đó có tính

đến các thay đổi của sản phẩm và các yếu tố có liên quan để đưa ra một mức

giá nhập khẩu hợp lý, nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp.

2. Giao dịch đàm phán và ký kết hợp đồng nhập khẩu.

2.1. Lựa chọn đối tượng giao dịch

Lựa chọn đối tượng giao dịch bao gồm vấn đề lựa chọn đối tượng để

giao dịch và lựa chọn thương nhân. Khi lựa chọn nước để nhập khẩu hàng hoá

nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước, chúng ta cần nghiên

cứu tình hình chung của nước đó như khả năng và chất lượng hàng xuất khẩu

của họ, chính sách, luật pháp, tập quán thương mại... Khi lựa chọn thương

nhân để giao dich, trong điều kiện cho phép, hiệu quả nhất là nên chọn người

sản xuất để nhập khẩu trực tiếp. Tuy nhiên, khi muốn thâm nhập vào thị

trường mới, mặt hàng mới thì việc giao dịch qua trung gian với tư cách là đại

lý môi giới lại có ý nghĩa quan trọng. Để lựa chọn được chính xác và đúng

đắn, không nên căn cứ vào những lời quảng cáo, tự giới thiệu, mà cần phải

tìm hiểu khách hàng về thái độ chính trị của thương nhân, khả năng tài chính,

quan điểm kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, uy tín và mối quan hệ của họ

trong kinh doanh.

21

Khi nghiên cứu những vấn đề trên đây, người ta áp dụng hai phương

pháp chủ yếu sau:

- Điều tra qua tài liệu và sách báo hay còn gọi là điều tra tại phòng làm

việc. Đây là phương pháp phổ biến nhất và tương đối tốn kém. Tài liệu

thường dùng để nghiên cứu là các bản tin giá cả thị trường của VNTTX và

của trung tâm thông tin kinh tế đối ngoại, các báo cáo của cơ quan thường vụ

Việt Nam ở nước ngoài, các báo tạp chí như: MOCI (Pháp), Far Eastern

Economic Review (Anh), Financial Time (Anh)...

- Điều tra tại chỗ (Fiel reseach) theo phương pháp này người ta cử

người đến tận thị trường để tìm hiểu tình hình, tiếp xúc với các thương nhân.

Phương pháp này tuy tốn kém nhưng giúp đơn vị kinh doanh mau chóng nắm

được những thông tin chắc chắn và toàn diện.

Ngoài hai phương pháp trên đây, người ta còn có thể sử dụng các

phương pháp sau: mua, bán thư, mua dịch vụ thông tin của các công ty điều

tra tín dụng, thông qua người thứ ba để tìm hiểu...

2.2. Đàm phán và ký kết hợp đồng.

a. Thương lượng, đàm phán hợp đồng nhập khẩu.

Sau giai đoạn nghiên cứu, tiếp cận thị trường, lựa chọn đối tượng giao

dịch, các doanh nghiệp tiến hành xúc tiến việc chuẩn bị ký kết hợp đồng nhập

khẩu. Nhưng để tiến tới ký hợp đồng mua bán với nhau, người nhập khẩu

thường phải qua một quá trình giao dịch, thương lượng với nhau về các điều

kiện giao dịch, công việc này trong hoạt động ngoại thương gọi là đàm phán

có thể đàm phán giao dịch qua thư tín, điện thoại... nhưng đối với những hợp

đồng lớn, phức tạp, cần giải thích thoả thuận cụ thể với nhau thì nên giao dịch

đàm phán với nhau bằng cách gặp gỡ trực tiếp. Đàm phán theo phương pháp

này tuy chi phí cao nhưng đảm bảo hiệu quả và nhanh chóng.

Trình tự đàm phán như sau:

22

- Hỏi giá: do bên mua (bên nhập khẩu) đưa ra, tức là phải nêu rõ tên

hàng, quy cách, phẩm chất, số lượng, thời gian giao hàng, điều kiện thanh

toán (loại tiền thanh toán, thể thức thanh toán...). Về phương diện pháp lý thì

đây là lời thỉnh cầu trước khi bước vào giao dịch, về phương diện thương mại

thì đây là việc người mua đề nghị người bán cho biết giá cả hàng hoá và các

điều kiện mua hàng. Hỏi giá không ràng buộc trách nhiệm của người hỏi giá.

- Phát giá: luật pháp coi đây là lời đề nghị ký kết hợp đồng. Phát giá có

thể do người bán hoặc người mua đưa ra. Nhưng trong buôn bán ngoại

thương, phát giá là chào hàng thường do người xuất khẩu thể hiện ý định bán

hàng của mình bằng cách nêu rõ các điều kiện đã nêu trong hỏi giá (chú ý có

thêm điều kiện giao hàng).

- Hoàn giá: bên mua không chấp nhận hoàn toàn chào hàng đó mà đưa

ra đề nghị mới.

- Chấp nhận: là sự đồng ý hoàn toàn tất cả các điều kiện chào hàng.

- Xác nhận: hai bên mua và bán sau khi đã thống nhất với nhau về điều kiện

giao dịch có thể lập hai văn kiện ghi lại mọi điều đã thoả thuận, gửi cho nhau.

Trong các bước giao dịch đàm phán trên thì chào hàng và đặt hàng là

hai khâu được quan tâm hơn cả vì đó là cơ sở để dẫn đến ký kết hợp đồng

nhập khẩu. Việc giao dịch, đàm phán sau khi đã có kết quả sẽ dẫn đến ký kết

hợp đồng nhập khẩu.

b. Hợp đồng nhập khẩu.

Hợp đồng nhập khẩu chính là hợp đồng kinh tế ngoại thương, trong đó

có sự thoả thuận của đương sự có quốc tịch khác nhau về chuyển giao quyền

sở hữu hàng hoá, nghĩa vụ thanh toán, trả tiền nhận hàng.

Hợp đồng kinh tế ngoại thương của nước ta bắt buộc phải thể hiện dưới

hình thức văn bản. Bởi đây là hình thức tốt nhất trong việc bảo vệ quyền lợi

của hai bên, nó xác định rõ ràng mọi quyền lợi và nghĩa vụ của bên mua và

23

bên bán, tránh được những hiểu lầm do không thống nhất về quan niệm, đồng

thời tạo điều kiện thuận lợi cho thống kê, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện.

Hợp đồng nhập khẩu có các điều khoản chủ yếu như sau:

+ Phần mở đầu: Ghi thông tin về số hợp đồng, ngày và nơi ký hợp

đồng, về chủ thể hợp đồng (tên giao dịch Quốc tế, địa chỉ, số điện thoại...)

+ Điều khoản tên hàng: Tên hàng phải ghi rõ, chính xác để không xảy

ra hiểu lầm, có thể ghi rõ địa danh sản xuất (xuất xứ hàng hoá), nhà sản xuất,

quy cách, tên thông dụng, tên thương mại, tên khoa học (nếu có)...

+ Điều khoản số lượng: Ghi rõ số lượng, khối lượng, trọng lượng, quy

cách, đơn vị đo lường... Nếu số lượng quy định khoảng chừng phải dự liệu

theo một sai số có thể chấp nhận được. Trọng lượng hàng hoá có thể tính cả

trọng lượng bì hoặc không (phải ghi rõ). Cũng có thể tính trọng lượng hàng

hoá theo trọng lượng thương mại tức là có độ ẩm tiêu chuẩn.

+ Điều khoản phẩm chất: Hợp đồng phải ghi rõ tiêu chuẩn quy định

phẩm chất của hàng hoá, tính năng cơ, lý, hoá, công suất, hiệu suất (máy

móc), thẩm mỹ... để phân biệt hàng hoá này với hàng hoá khác. Cũng có thể

căn cứ vào mẫu mã hàng hoá và các tài liệu kỹ thuật, nhãn hiệu hàng hoá hay

căn cứ vào một tiêu chuẩn được công nhận trong tập quán Thương mại Quốc tế.

+ Điều khoản bao bì: Điều quan trọng nhất trong kinh doanh Thương

mại Quốc tế là phải bảo đảm hàng hoá có bao bì phù hợp tính năng, hình dáng

kích thước của hàng hoá và phương thức vận tải.

Còn về phương thức xác định giá cả của bao bì: nếu bên bán chịu trách

nhiệm cung cấp bao bì, thì việc tính giá của bao bì có thể có mấy trường hợp:

giá cả bao bì được tính vào giá cả hàng hoá (không tính riêng), giá cả của bao bì

do bên mua trả riêng, và giá cả của bao bì được tính như giá cả của hàng hoá.

+ Điều khoản cơ sở giao hàng: Hiện nay, tất cả các doanh nghiệp tham

gia hoạt động kinh doanh XNK đều có thể áp dụng một trong 13 điều khoản

cơ sở giao hàng Incoterm 2000

24

+ Điều khoản giá cả: bao gồm đồng tiền tính giá và mức giá. Đồng tiền

tính giá có thể dùng tiền của nước nhập khẩu, xuất khẩu hoặc của nước thứ

ba, nhưng phải là đồng tiền ổn định và tự do chuyển đổi được. Mức giá tức

mức giá Quốc tế mà các bên phải tuân theo. Phương pháp quy định giá có thể

theo các loại sau:

Giá cố định: tức là giá được quy định khi ký kết hợp đồng mà không

sửa đổi.

Giá quy định: được xác định trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Giá linh hoạt: là giá có thể được điều chỉnh trong quá trình thực hiện

hợp đồng.

Giá di động: người ta quy định mức giá ban đầu, sau đó tính toán lại

trong khi thực hiện hợp đồng trên cơ sở giá ban đầu.

Nhưng trong việc xác định giá cả, thông dụng hơn cả người ta luôn

luôn định rõ điều kiện cơ sở giao hàng có liên quan với giá đó. Sở dĩ như vậy

là vì điều kiện giao hàng đã bao hàm các trách nhiệm và các chi phí mà người

bán phải chiụ trong việc mua hàng như: vận chuyển, bốc dỡ, mua bảo hiểm,

chi phí lưu kho, làm thủ tục hải quan... Vì vậy trong các hợp đồng mua bán,

mức giá bao giờ cũng được xác định căn cứ và điều kiện cơ sở giao hàng và

điều kiện cơ sở giao hàng ấy thường được ghi bên cạnh rõ ràng.

+ Điều khoản giao hàng: nội dung của điều khoản này xác định thời

hạn, địa điểm, phương thức giao hàng và thông báo giao hàng. Thời hạn giao

hàng là thời hạn mà người bán phải hoàn thành nghĩa vụ giao hàng. Nếu các

bên không có thoả thuận gì khác thì thời hạn này là lúc di chuyển rủi ro, tổn

thất từ người bán sang người mua. Giao hàng không đúng hạn có thể thiệt hại

và phải bồi thường. Có ba kiểu quy định giao hàng: giao hàng có định kỳ,

giao hàng không có định kỳ và giao hàng ngay.

25

Phương thức giao hàng: có thể quy định tiến hành tại một địa điểm nào

đó, có thể giao sơ bộ, giao cuối cùng hoặc có thể giao nhận về số lượng, chất

lượng...

Thông báo giao hàng: các điều kiện về cơ sở giao hàng đã bao hàm

nghĩa vụ thông báo giao hàng. Tức là quy định nội dung và số lần thông báo

khi người bán giao hàng xong.

+ Điều khoản thanh toán trả tiền: trong việc thanh toán trả tiền hàng,

các bên thường phải xác định những vấn đề về đồng tiền thanh toán, thời hạn

trả tiển, phương thức trả tiền và các điều kiện đảm bảo hối đoái.

Đồng tiền thanh toán: giống như các điều khoản trên quy định trong

Thương mại Quốc tế, đồng tiền thanh toán phải là đồng tiền ổn định và tự do

chuyển đổi được.

Thời hạn thanh toán: trong Thương mại Quốc tế, bên nhập khẩu có thể

trả tiền trước, trả tiền sau hoặc trả tiền ngay.

Phương thức thanh toán: trong giao dịch Quốc tế, phương thức thanh

toán phổ biến nhất là phương thức nhờ thu và phương thức tín dụng chứng từ.

Phương thức tín dụng chứng từ được sử dụng rộng rãi và an toàn nhất. Nó là

sự thoả thuận mà trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của bên mua trả tiền

cho bên bán hoặc bất cứ người nào theo lệnh của bên bán trong một thời hạn

nhất định khi bên bán xuất trình bộ chứng từ đầy đủ và đã thực hiện mọi yêu

cầu được quy định trong một văn bản được gọi là thư tín dụng (letter of credit

L/C). Có hai loại thư tín dung: thư tín dụng có thể huỷ ngang (revocable L/C)

và thư tín dụng không thể huỷ ngang (ỉnevocable L/C).

Thư tín dụng có thể huỷ ngang là loại L/C do ngân hàng mở (ngân hàng

phát hành L/C) có thể sửa đổi hoặc huỷ bỏ bất cứ lúc nào không cần báo trước

cho người hưởng lợi (bên bán). Thư tín dụng không thể huỷ ngang là loại L/C

mà trong thời hạn hiệu lực của nó, ngân hàng mở không có quyền huỷ bỏ

26

hoặc sửa đổi nội dung, đó là cam kết chắc chắn đối với người bán trong thanh

toán tiền hàng, đồng thời bảo đảm hàng hoá cho người mua.

Phương thức nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó người bán khi

giao hàng hoá, dịch vụ cho người mua, uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền. Có

hai loại phiếu nhờ thu được sử dụng đó là: nhờ thu không kèm chứng từ và

nhờ thu kèm chứng từ. Loại phiếu nhờ thu không kèm chứng từ là phương

thức trả tiền nhờ thu phiếu trơn (clean collection). Theo phương thức này,

ngân hàng không nắm được chứng từ, người mua có thể dùng bộ chứng từ

nhận được từ nước ngoài để đi nhận hàng mà không cần qua ngân hàng xong

vẫn trì hoãn được việc trả tiền. Loại phiếu nhờ thu kèm chứng từ là phương

thức trả tiền phải kèm chừng (documentary collection). Theo phương thức

này, ngân hàng khống chế bộ chứng từ, người mua muốn có chứng từ để nhận

hàng thì phải trả tiền và chấp nhận trả tiền.

+ Điều khoản bảo đảm hối đoái: vì đồng tiền trên thế giới luôn bị lạm

phát, mất giá hay bị thay đổi do nhiều nguyên nhân khác nhau, vì vậy các bên

có thể thoả thuận quy định những điều kiện bảo đảm tỷ giá hối đoái. Có thể

dùng vàng hoặc đồng tiền mạnh, ổn định.

+ Điểu khoản bảo hành: là sự bảo đảm của người bán về chất lượng

hàng hoá trong thời gian nhất định được gọi là thời hạn bảo hành. Người ta

thường thoả thuận về phạm vi đảm bảo của người bán, thời hạn bảo hành và

trách nhiệm của người bán trong thời hạn bảo hành.

+ Điều kiện bất khả kháng: trong trường hợp nếu có rủi ro xảy ra, bên

đương sự được hoàn toàn và trong một chừng mực nào đó được miễn trách

nhiệm nếu rủi ro đó có tính chất khách quan mà không thể khắc phụ được.

Trách nhiệm của bên gặp rủi ro là phải lập tức thông báo cho bên kia bằng

văn bản. Người ta thường thoả thuận chỉ định một tổ chức chứng nhận sự việc

xảy ra, thường là phòng thương mại.

3. Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu.

27

Sau khi hợp đồng mua bán ngoại thương được ký kết, đơn vị kinh

doanh xuất nhập khẩu với tư cách là một bên ký hợp đồng phải tổ chức hợp

đồng đó. Đây là một công việc rất khó khăn, phức tạp đòi hỏi phải tuân thủ

luật pháp Quốc gia, Quốc tế, đảm bảo uy tín của cả hai bên. Về mặt kinh

doanh, trong quá trình thực hiện các khâu công việc, đơn vị kinh doanh phải

cố gắng tiết kiệm chi phí lưu thông, nâng cao tính doanh lợi và hiệu quả của

các nghiệp vụ giao dịch.

Để thực hiện một hợp đồng nhập khẩu, đơn vị kinh doanh phải tiến

hành các khâu công việc sau:

3.1. Xin giấy phép nhập khẩu:

Hiện nay, việc xin giấy phép nhập khẩu của các doanh nghiệp kinh

doanh XNK ở Việt Nam vẫn được áp dụng trong trường hợp:

- Nếu là hàng hoá thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch thì doanh nghiệp

phải xin giấy phép XNK của Bộ Thương mại.

- Nếu là hàng hoá không thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch thì doanh

nghiệp không cần phải xin giấy phép.

3.2. Mở L/C.

Nếu hợp đồng nhập khẩu quy định thanh toán bằng L/C thì bên mua

phải lập L/C. Thời gian mở L/C nếu hợp đồng không quy định gì thì phụ

thuộc vào thời gian giao hàng, thông thường thì L/C được mở khoảng 20-25

ngày trước thời hạn giao hàng. Cơ sở mở L/C là các điều khoản trong hợp

đồng nhập khẩu. Người nhập khẩu phải căn cứ vào đó để điền vào mẫu xin

mở L/C gọi là giấy mở tín dụng khoản nhập khẩu.

3.3. Thuê tàu lưu cước.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu, việc thuê tàu chở hàng

được tiến hành dựa vào ba căn cứ sau: những điều khoản của hợp đồng mua

bán, đặc điểm của hàng hoá nhập khẩu và điều kiện vận tải. Chủ hợp đồng

28

phải chú ý tới từng loại hàng hoá để thuê phương tiện vận tải cho phù hợp.

Hàng hoá có khối lượng lớn thì thuê tàu chuyến, hàng hoá có khối lượng nhỏ

thì thuê tàu chậm, hàng lỏng thì thuê Tanker, hàng tươi sống thuê phương tiện

vận tải có thiết bị làm lạnh... Việc thuê tàu, lưu cước đòi hỏi có kinh nghiệm

nghiệp vụ, có thông tin về thị trường thuê tàu và tinh thông các điều kiện thuê

tàu. Vì vậy thông thường, chủ hàng thường uỷ thác việc thuê tàu, lưu cước

cho một công ty vận tải chuyên nghiệp. Cơ sở pháp lý điều tiết mối quan hệ

giữa hai bên nhận uỷ thác thuê tàu và uỷ thác thuê tàu là hợp đồng uỷ thác.

Có hai loại hợp đồng uỷ thác:

- Hợp đồng uỷ thác thuê tàu cả năm.

- Hợp đồng uỷ thác chuyến.

Chủ hàng xuất nhập khẩu căn cứ vào đặc điểm vận chuyển của hàng

hoá để lựa chọn loại hình hợp đồng uỷ thác cho thích hợp.

3.4. Mua bảo hiểm.

Hàng hoá chuyên chở trên đường thường gặp nhiều rủi ro, tổn thất vì

thế chủ hàng nhập khẩu thường mua bảo hiểm tại các Công ty bảo hiểm có uy

tín. Hợp đồng bảo hiểm có thể là hợp đồng bảo hiểm hoặc là bảo hiểm

chuyến. Để ký hợp đồng bảo hiểm cần nắm vững những điều kiện bảo hiểm:

- Bảo hiểm mọi rủi ro.

- Bảo hiểm có tổn thất riêng.

- Bảo hiểm miễn tổn thất riêng.

Ngoài ra có một số loại bảo hiểm phụ: vỡ, rò, rỉ, mất trộm, ôxi hoá... và

bảo hiểm đặc biệt: chiến tranh, đình công, bạo động, dân biến...

Việc lựa chọn điều kiện bảo hiểm phải dựa trên 4 căn cứ:

- Điều khoản hợp đồng.

- Tính chất hàng hoá.

- Tính chất bao bì và phương thức xếp hàng.

29

- Loại tàu chuyên chở.

- Tình hình khí hậu thời tiết, chính trị, xã hội...

3.5. Làm thủ tục hải quan.

Hàng hoá khi đi ngang qua biên giới quốc gia để nhập khẩu đều phải

làm thủ tục hải quan gồm ba nội dung chủ yếu sau:

- Khai báo hải quan: chủ hàng phải khai báo các loại chi tiết hàng hoá

lên tờ khai về: loại hàng hoá (hàng mậu dịch, phi mậu dịch, hàng trao đổi tiền

ngạch biên giới, hàng tạm nhập tái xuất), số lượng, khối lượng, giá trị hàng

hoá, phương tiện vận tải, nước giao dịch... kèm theo đó là giấy phép nhập

khẩu, hoá đơn, bản kê chi tiết để cơ quan hải quan kiểm tra thủ tục giấy tờ.

- Xuất trình hàng hoá: hàng hoá nhập khẩu phải được sắp xếp trật tự,

thuận tiện cho việc kiểm tra, mọi chi phí liên quan đến việc đóng mở hàng hoá,

chủ hàng phải chịu. Yêu cầu việc xuất trình hàng hoá phải đảm bảo trung thực.

- Thực hiện các quyết định của hải quan: nghĩa vụ của chủ hàng là phải

chấp hành mọi quyết định của hải quan về việc: nộp thuế trong vòng 30 ngày

nếu hàng hoá được nhập, hoặc nộp phạt nếu hàng hoá sai quy định, tịch thu

nếu hàng hoá nằm trong danh mục cấm nhập của Nhà nước.

3.6. Kiểm tra hàng hoá nhập khẩu và giao nhận với tàu.

Hàng nhập khẩu về qua cửa khẩu sẽ được kiểm tra kỹ càng, mỗi cơ

quan tuỳ theo chức năng của mình mà tiến hành công việc kiểm tra đó. Nếu

phát hiện những tổn thất, thiếu hụt, mất mát hay đổ vỡ cơ quan chức năng sẽ

lập biên bản rõ ràng. Người nhập khẩu với tư cách là một bên đứng tên vận

đơn thư dự kháng nếu nghi ngờ hoặc thực sự thấy hàng có tổn thất, yêu cầu

lập biên bản giám định.

Theo quy định của Nhà nước về việc giao dịch hàng với tàu, các cơ

quan vận tải, ga cảng có trách nhiệm nhận hàng hoá trên các phương tiện vận

tải vào ga cảng, bảo quản hàng hoá đó trong quá trình xếp dỡ, lưu kho, lưu bãi

30

và giao cho đơn vị nhập khẩu theo lệnh của đơn vị ngoại thương đã xuất khẩu

hàng hoá đó. Thông báo cho các đơn vị nhập khẩu ngày tàu về cảng.

3.7. Thanh toán.

Đây là khâu trọng tâm, cuối cùng của tất cả các giao dịch, kinh doanh

trong Thương mại Quốc tế.

Nếu hợp đồng quy định thanh toán bằng L/C, đơn vị mở L/C gửi giấy

xin mở tín dụng khoản nhập khẩu đến ngân hàng ngoại thương cùng với hai

uỷ nhiệm chi: một uỷ nhiệm chi để ký quỹ theo quy định về việc mở L/C và

một uỷ nhiệm chi nữa để trả thủ tục phí cho ngân hàng ngoại thương, đơn vị

kinh doanh nhập khẩu phải kiểm tra chứng từ và nếu thấy chứng từ hợp lệ thì

trả tiền cho ngân hàng, sau đó nhận chứng từ đi lấy hàng.

Nếu hợp đồng nhập khẩu quy định thanh toán tiềnhàng bằng phương

thức nhờ thu thì sau khi nhận được chứng từ ở ngân hàng ngoại thương đơn vị

kinh doanh nhập khẩu được kiểm tra chứng từ trong một thời gian nhất định,

nếu trong thời gian này đơn vị kinh doanh nhập khẩu không có lý do chính

đáng để từ chối thanh toán thì ngân hàng coi như yêu cầu đòi tiền là hợp lệ.

Quá thời hạn quy định cho việc kiểm tra chứng từ, mọi tranh chấp giữa bên

bán và bên mua về thanh toán tiền hàng sẽ được trực tiếp giải quyết giữa các

bên đó hoặc qua cơ quan trọng tài.

Chú ý: chứng từ thanh toán cần được lập hợp lệ, chính xác và được

nhanh chóng giao cho ngân hàng nhằm thu hồi vốn nhanh.

3.8. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại.

Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, nếu chủ hàng nhập khẩu phát hiện

thấy hàng nhập khẩu bị tổn thất, đổ vỡ, thiếu hụt, mất mát thì cần lập hồ sơ

khiếu nại ngay để khỏi làm mất thời cơ khiếu nại.

Đối tượng khiếu nại là người bán nếu hàng hoá có chất lượng hoặc số

lượng không phù hợp với hợp đồng, có bao bì không thích đáng, thời hạn giao

hàng bị vi phạm, hàng giao không đồng bộ.

31

Đối tượng khiếu nại là người vận tải nếu hàng hoá bị tổn thất trong quá

trình chuyên chở hoặc nếu sự tổn thất đó do người vận tải gây ra.

Đối tượng khiếu nại là Công ty bảo hiểm nếu hàng hoá- đối tượng của

bảo hiểm bị tổn thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ hoặc lỗi của người thứ ba gây

nên, nếu những rủi ro này đã được mua bảo hiểm.

Đơn khiếu nại phải kèm theo những bằng chứng về việc tổn thất (như

biên bản giám định, COR, ROROPC hay CSC...), hoá đơn, vận đơn đường

biển, đơn bảo hiểm (nếu khiếu nại Công ty bảo hiểm)...

Nếu việc khiếu nại là có sơ sở, chủ hàng xuất khẩu phải giải quyết bằng

một trong những phương pháp sau:

- Giao hàng còn thiếu.

- Giao hàng tốt thay thế hàng kém chất lượng.

- Sửa chữa hàng hỏng.

- Giảm giá hàng mà số tiền giảm giá được trang trải bằng hàng hoá giao

vào thời hạn sau đó.

Nếu việc khiếu nại không được giải quyết thoả đáng, hai bên có thể

kiện nhau tại hội đồng trọng tài (nếu có thoả thuận trọng tài) hoặc tại toà án.

32

CHƯƠNG II

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY DỊCH VỤ DU LỊCH VÀ THƯƠNG MẠI TST

I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY.

1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty.

Công ty Dịch vụ Du lịch và Thương mại TST - Tourism Service and

Trade Company là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Tổng Công ty Đầu

tư Phát triển Công nghệ và Du lịch (DETETOUR), được thành lập theo Nghị

định 388 của Thủ tướng Chính phủ và được Bộ Thương mại cấp giấy phép

xuất nhập khẩu trực tiếp số: 5.271.012/GP ngày 22 tháng 1 năm 1994.

Công ty Dịch vụ du lịch và Thương mại TST là một doanh nghiệp quốc

doanh hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực dịch vụ xã hội mà chủ yếu là xuất

nhập khẩu và dịch vụ du lịch. Công ty là đơn vị hạch toán kinh doanh độc lập,

có tư cách pháp nhân, được mở tài khoản tại ngân hàng trong và ngoài nước,

được sử dụng con dấu riêng theo mẫu quy định.

Doanh nghiệp được thành lập và bắt đầu phát triển, hoạt động kinh

doanh trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, quyết liệt của cơ chế thị trường, vậy

mà Công ty vẫn duy trì được hoạt động và tồn tại trong lúc cả nước ta đã có

nhiều doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và nhiều loại hình doanh

nghiệp khác nhau làm ăn thua lỗ đi đến giải thể, phá sản.

Do yêu cầu phát triển của Công ty, trong quá trình phát triển đã hình

thành một số tổ chức như: Liên doanh với nhà máy sản xuất thuốc là Bến

Thành với Công ty Ba Son, thành lập Chi nhánh của Công ty tại Thành phố

Hồ Chí Minh, liên doanh nhà khách tại Đồ Sơn, mở thêm trung tâm sửa chữa

và bảo hành xe gắn máy, kinh doanh khách sạn Nam Đế. Do tổ chức mới

được hình thành nên Công ty đặt ra phương châm vừa hoạt động vừa rút kinh

nghiệm để dần dần vươn lên.

33

Đại hội Đảng lần thứ VIII với những chính sách đổi mới đã mở ra một

thời kỳ mới, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, Nhà nước chủ

trương chuyển nền kinh tế sang hoạt động theo cơ chế thị trường, đẩy mạnh

giao lưu văn hoá trong nước và Quốc tế, khuyến khích các doanh nghiệp phát

triển đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.

Trong hoàn cảnh mới, Công ty TST với đường lối hợp lý đã tạo được

mối quan hệ tốt từ Trung ương đến địa phương và được các cơ quan chủ quản

ủng hộ, được Tổng công thức, từ các đồng chí lãnh đạo đến các cơ quan chức

năng luôn tạo điều kiện giúp đỡ, bảo đảm cho hoạt động của Công ty như về

vốn, cho phép mở rộng thêm ngành nghề, tạo điều kiện cho Công ty kinh

doanh rộng hơn, đa dạng hơn.

Đến này Công ty đã có một đội ngũ cán bộ nhân viên được tuyển chọn,

80% quân số có trình độ đại học và trung cấp chuyên môn có khả năng hoàn

thành tốt nhiệm vụ được giao. Công ty đã tạo được mối quan hệ tốt với các

nước như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Pháp, Singapore, Mỹ, ý, Đức...

Đầu tư mở rộng hợp tác liên doanh và nâng cấp các cửa hàng bán lẻ, tiến hành

các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu để thu ngoại tệ, áp dụng các biện

pháp hữu hiệu để tổ chức nguồn hàng xuất nhập khẩu, định giá mua bán trên

cơ sở căn cứ vào thị trường, thu thập thông tin, tham gia triển lãm hội chợ...

để từ đó thực hiện tốt nhiệm vụ kinh doanh: bảo toàn và phát triển vốn kinh

doanh, từng bức nâng cao cơ sở vật chất của Công ty, dần dần nâng cao mức

sống cho cán bộ công nhân viên, tăng nhanh kim ngạch xuất nhập khẩu,

hướng nhập khẩu vào những nguồn hàng có nhiều triển vọng và mang lại

nhiều lợi nhuận.

2. Cơ cấu, chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của Công ty.

2.1. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty.

Công ty Dịch vụ du lịch và Thương mại TST

Tên giao dịch là: Tourism Service and Trade Company.

34

Địa chỉ: 1A Láng Hạ - Ba Đình - Hà Nội - Việt Nam.

Công ty trực thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc

gia được Bộ Thương mại cấp giấy phép XNK trực tiếp số 1.251.012/GP ngày

22 tháng 1 năm 1994, phê duyệt điều lệ và tổ chức hoạt động của Công ty

Dịch vụ Du lịch và Thương mại (TST).

Công ty thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập, có tư cách pháp

nhân, chịu trách nhiệm về kinh tế, nhân sự, về các hoạt động và tài sản của

mình. Công ty hoạt động theo luật pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam, luật doanh nghiệp và các điều lệ của Bộ Thương mại.

Chức năng hoạt động kinh doanh của Công ty:

Mục đích thông qua các hoạt động của Công ty, thông qua các lĩnh vực

hoạt động kinh doanh XNK và đầu tư liên doanh liên kết với các bạn hàng

trong và ngoài nước theo luật pháp Việt Nam để phát triển sản xuất, khai thác

vật tư, nguyên vật liệu, hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội

và tạo nguồn hàng xuất khẩu, góp phần phát triển nền kinh tế quốc dân.

Nhiệm vụ và quyền hạn của Công ty:

Xây dựng và thực hiện các kế hoạch dài hạn, ngắn hạn về sản xuất kinh

doanh xuất nhập khẩu, gia công, lắp rát, kinh doanh thương mại, dịch vụ

thương mại, du lịch, liên doanh liên kết đầu tư... trong và ngoài nước theo

đúng pháp luật hiện hành của Nhà nước và hướng dẫn của Bộ Thương mại.

Xây dựng các phương án kinh doanh và dịch vụ, phát triển theo kế

hoạch và mục tiêu chiến lược của Công ty.

Tổ chức nghiên cứu nâng cao năng suất lao động, áp dụng tiến bộ khoa

học kỹ thuật, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm phù hợp với

thị hiếu của khách hàng.

Chấp hành pháp luật Nhà nước, thực hiện chế độ chính sách về quản lý

và sử dụng tiền, vốn, vật tư, tài sản, nguồn lực, thực hiện hạch toán kinh tế,

bảo toàn và phát triển vốn, thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước.

35

Thực hiện đầy đủ cam kết đã ký với các tổ chức kinh tế trong và

ngoài nước.

Quản lý toàn diện, đào tạo và phát triển đội ngũ công nhân viên theo

pháp luật, chính sách hiện hành của Nhà nước và phân cấp quản lý của Bộ để

thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Công ty. Chăm lo đời sống, tạo

điều kiện lao động cho người lao động và thực hiện vệ sinh môi trường, thực

hiện phân phối lao động.

Bảo vệ doanh nghiệp, bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự an ninh chính

trị và trật tự an toàn xã hội theo quy định của pháp luật, thuộc phạm vi quản

lý của Công ty.

Công ty có quyền hạn sau:

- Kinh doanh theo mục đích thành lập của Công ty và theo ngành nghề

đã đăng ký kinh doanh.

- Chủ động trong sản xuất, kinh doanh, trong ký kết hợp đồng kinh tế

với bạn hàng trong nước và nước ngoài về liên doanh hợp tác đầu tư, nghiên

cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đúng chế độ chính sách của Nhà nước.

- Được giao và quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, tài sản,

nguồn lực. Được huy động các nguồn vốn khác theo pháp luật hiện hành để

thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Công ty.

- Được tiếp thị quảng cáo, tham gia triển lãm, hội chợ, tham gia hội

thảo của các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước.

- Được quyền chủ động tổ chức bộ máy quản lý mạng lưới sản xuất

kinh doanh, dịch vụ phù hợp với nhiệm vụ được giao và có hiệu quả cao.

Quản lý và sử dụng đội ngũ lao động, áp dụng các hình thức trả công lao động

khoán khen thưởng để làm đòn bẩy tăng năng suất lao động theo đúng pháp

luật và chế độ của Nhà nước quy định, sự phân cấp quản lý của Bộ Thương mại.

2.2. Cơ cấu, tổ chức bộ máy quản lý của Công ty.

36

Đứng đầu Công ty là Giám đốc, Giám đốc điều hành Công ty theo chế

độ một thủ trưởng và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của Công ty trước

pháp luật, Bộ Thương mại và tập thể công nhân viên của Công ty. Giám đốc

Công ty được tổ chức máy quản lý và mạng lưới kinh doanh phù hợp với

nhiệm vụ của Công ty và phân cấp quản lý của Bộ.

Giúp việc cho Giám đốc là một phó Giám đốc mà Công ty lựa chọn và

đề nghị Tổng Giám đốc bổ nhiệm.

Kế toán trưởng chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Công ty, có

trách nhiệm giúp Giám đốc Công ty tổ chức thực hiện toàn bộ công tác kế

toán thống kê, thông tin kinh tế, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của

Công ty theo qui định hiện hành của Nhà nước.

Nhiệm vụ của các phòng ban chức năng do Giám đốc quy định cụ thể

Các tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (chi nhánh, xí nghiệp, trung tâm,

kho trạm, cửa hàng) thực hiện chế độ hạch toán kinh tế phụ thuộc vào Công

ty, được sử dụng con dấu riêng theo quy định của Nhà nước.

Giám đốc Công ty quy định quy chế tổ chức và hoạt động đối với từng

đơn vị phụ thuộc theo phân cấp quản lý của Bộ. Thủ trưởng các đơn vị phụ

thuộc dưới sự chỉ đạo của Giám đốc Công ty có trách nhiệm điều hành theo

đúng luật lệ của Công ty và pháp luật của Nhà nước.

Công ty có bốn phòng ban chính, các chi nhánh và một số liên doanh

như sau:

- Phòng hành chính có chức năng tham mưu cho Giám đốc về tổ chức

nhân sự, chế độ chính sách đồng thời tổng hợp tình hình chung của Công ty,

báo cáo thông tin chính xác kịp thời về khâu tổ chức hành chính quản trị giao

dịch Quốc tế.

- Phòng kế hoạch có chức năng nhiệm vụ quản lý tài chính, quản lý bảo

toàn và phát triển vốn hoạt động, tiền tệ của Công ty, đồng thời có nhiệm vụ

37

thu thông tin về tài sản, công nợ, vốn phục vụ công tác quản lý kinh doanh

của Công ty.

- Phòng kinh doanh có chức năng mở rộng kinh doanh, tìm kiếm khách

hàng, tổ chức thực hiện công tác Marketin, thực hiện nghiệp vụ xuất nhập

khẩu uỷ thác cho các đơn vị có nhu cầu.

- Phòng du lịch có chức năng dẫn khách du lịch Quốc tế ra vào Việt

Nam theo các tour mà Công ty ký hợp đồng. Tổ chức thực hiện nghiên cứu,

đánh giá thị trường du lịch, tổ chức và xây dựng các dịch vụ kèm theo, đáp

ứng đầy đủ các nhu cầu của khách du lịch.

- Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh do một phó Giám đốc Công ty

phụ trách có nhiệm vụ, chức năng là xuất nhập khẩu máy móc, thiết bị,

nguyên vật liệu phục vụ sản xuất (thiết bị phục vụ các ngành nông công

nghiệp, hàng tiêu dùng...). Chi nhánh được xem như một bộ phận cơ sở của

Công ty có khả năng tự kinh doanh, hạch toán lỗ lãi dưới sự chỉ đạo, hỗ trợ

của Công ty Dịch vụ Du lịch và Thương mại (TST) tại Hà Nội.

- Khách sạn Nam Đế: tuy mới chỉ đi vào hoạt động từ đầu năm 1996,

song khách sạn thường xuyên khai thác được 46,3% số phòng. Hoạt động

kinh doanh của khách sạn Nam Đế là phục vụ khách nghỉ ngơi, phục vụ các

cuộc hội thảo, hội nghị. Trong thời gian tới, Công ty chủ trương mở rộng hoạt

động khách sạn với nhiều dịch vụ vui chơi phong phú hơn.

Ngoài ra, Công ty còn có các liên doanh tham gia là:

- Ba Son Fitflex (Singapore) tập trung nghiên cứu chế tạo gioăng, sản

xuất ống thuỷ lực cung cấp cho Quốc phòng.

- Liên doanh thuốc Fine (Pháp): có chức năng giới thiệu, quảng cáo và

bán hàng tại Hà Nội và một số vùng lân cận.

- Điều hoà nhiệt độ (Malayxia- Nhật) có chức năng chủ yếu cung cấp

trang thiết bị cho văn phòng làm việc và một số đồ gia dụng phục vụ cho

người tiêu dùng.

38

- Trung tâm bảo hành và sửa chữa xe gắn máy (Thái- Nhật): hiện nay

bắt đầu đi vào hoạt động bảo hành, bảo dưỡng xe gắn máy.

- Liên doanh nhà khách ở Đồ Sơn: với cơ sở vật chất và hệ thống phòng

hiện đại, đội ngũ nhân viên phục vụ trẻ đẹp, tay nghề giỏi luôn sẵn sàng phục

vụ quý khách những ngày nghỉ sảng khoái. Liên doanh đang dần dần thu hút

khách đến nghỉ ngơi ngày một đông.

(cid:153) Sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động của Công ty.

BAN GIÁM ĐỐC CÔNG TY

Phòng du lịch Phòng kế toán Phòng kinh doanh Phòng h(cid:31)nh chính Chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh

Thuốc lá Fine Bason Fitflex Khách sạn Nam Đế Trạm dịch vụ Honda Thái- Nhật Điều ho(cid:31) nhiệt độ Malayxia- Nhật

Liên doanh khách sạn tại Đồ Sơn Trung tâm bảo h(cid:31)nh v(cid:31) sửa chữa xe gắn máy

39

3. Phân tích khái quát về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của

Công ty

3.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty trong những năm

gần đây.

Biểu 1 : Phản ánh kết quả kinh doanh của Công ty Dịch vụ Du lịch

và Thương mại TST qua hai năm 1999 - 2000.

Đơn vị : triệu đồng

Thực hiện

Thực hiện

So sánh

Các chỉ tiêu

năm 1999

năm 2000

Chênh lệch Tỷ trọng (%)

1. Tổng doanh thu

79.506,361

91.183,754

11.677,393

114,68

2. Tổng số thuế nộp

15.299,958

18.159,35

2.859,392

118,69

Thuế xuất nhập khẩu

12.491,5

14.183,7

1.692,2

113,55

3. Doanh thu thuần

64.206,403

73.024,404

8.818,001

113,76

4. Giá vốn hàng bán

63.068,503

71.751,404

8.682,901

113,76

111,87

1.137,9

1.273

135,1

5. Lợi tức gộp

112,00

1.102,5

1.234,3

131,8

6. Tổng chi phí

119,00

498,83

593,72

99,98

- Chi phí bán hàng

106,11

603,67

640,58

36,91

- Chi phí quản lý DN

1,38

1,35

-0,03

7. Tỷ suất phí

109,32

35,4

38,7

3,3

8. Lợi tức ròng

97,2

1,43

1,39

-0,04

9. Tỷ suất lợi nhuận

* Phân tích :

Căn cứ vào số liệu trong bảng phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh

của Công ty Dịch vụ Du lịch và Thương mại (TST) ở trên, ta có thể rút ra một

số kết luận như sau :

- Nhìn một cách tổng quát thì tình hình kinh doanh của côngty là tốt.

Tổng doanh thu thực hiện năm 2000 là tăng 114.68% so với năm 1999.

40

Kết quả của tổng doanh thu tăng kéo theo các chỉ tiêu tiếp theo cũng

tăng theo :

- Tổng số thuế nộp tăng : 18.69%. Trong đó, thuế xuất nhập khẩu tăng

13.55% so với tiền tăng là 1.692.200.000đồng. Riêng về thuế lợi tức, Công ty

trực thuộc Trung tâm Khoa học Công nghệ và Môi trường quản lý vì vậy

được ưu tiên miễn thuế lợi tức mà chỉ phải nộp thêm một khoản đóng góp cho

Trung tâm gọi là khoản nộp cấp trên.

- Doanh thu thuần tăng : 13.73%

- Giá vốn tăng : 13.76%

- Tổng chi phí tăng : 12%

- Lợi tức ròng tăng : 9.32%

Đi sâu vào xem xét cốt lõi của vấn đề, ta nhận thấy :

Về tỷ suất phí giảm 0.03% chứng tỏ tình hình quản lý chi phí của Công

ty rất tốt. Bên cạnh đó tốc độ tăng của tổng chi phí (12%) thấp hơn tốc độ

tăng của tổng doanh thu (14.68%) càng chứng minh điều đó. Tổng chi phí

tăng là do hai yếu tố :

- Chi phí bán hàng tăng 19% ứng với số tiền tăng là : 94.890.000đồng

- Chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 6.11% ứng với số tiền tăng là

36.910.000đồng.

Tổng chi phí tăng không phải là xấu bởi nó ứng với sự phát triển của

hoạt động kinh doanh, mà trên thực tế trong năm 2000 Công ty TST đã nâng

tổng doanh thu lên 91.183.754.000.000đồng.

Tuy nhiên bên cạnh những mặt đạt được, công ty cần phải chú ý đến

một số vấn đề : trước hết là nói đến chỉ số tỷ suất lợi nhuận, sở dĩ phải nhấn

mạnh tỷ suất lợi nhuận của công ty là do năm 2000 so với năm 1999 lợi

nhuận thu được từ một đồng vốn bỏ ra ở năm 2000 này giảm 30.000 đồng tức

là chỉ số này giảm 2.8%. Đó là do năm 2000 giá vốn hàng bán là tăng

41

13,76%. Vấn đề là tốc độ tăng của tổng doanh thu lại không cao hơn tốc độ

tăng của giá vốn hàng bán là mấy. Điều này chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn

của Công ty chưa cao. Để khắc phục tình trạng này, Doanh nghiệp cần phải

có các biện pháp nhằm giảm bớt chi phí, tăng mức lưu chuyển hàng hoá, mức

lưu chuyển vốn, tìm cách giảm bớt vốn hàng bán bằng cách tìm kiếm và phát

hiện những nguồn hàng đảm bảo thuận lơị về giá cả cũng như chất lượng.

Mặt khác kết quả cuối cùng, lợi tức ròng của Công ty năm 2000 là

38.700.000 đồng tăng về số tuyệt đối là 3.300.000 đồng, về số tương đối là

9,32%. Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, tốc độ tăng của lợi tức ròng thấp hơn

hẳn so với tốc độ tăng của các chỉ tiêu khác. Mục tiêu cuối cùng của tất cả các

doanh nghiệp đã, đang và sẽ kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đều có

thể nói chính xác, ngắn gọn là lợi nhuận. Nếu như các mặt chi tiêu khác như :

Tổng doanh thu, tổng giá vốn, tổng chi phí đều tăng mà chỉ tiêu lợi nhuận

không tăng hoặc tăng ít không đủ đảm bảo cho sự mở rộng và phát triển của

doanh nghiệp, thì sớm hay muộn doanh nghiệp cũng đi đến sụp đổ. Đây cũng

là một vấn đề mà Công ty Dịch vụ Du lịch & Thương mại (TST) đang phải

đối mặt, nếu tình trạng này còn tồn tại trong thời gian tiếp theo thì hậu quả sẽ

là : doanh nghiệp không mở rộng được quy mô kinh doanh, hoạt động đình

trệ... nhất là Công ty lại đang hoạt động kinh doanh trong điều kiện thị trường

có sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp.

Nói tóm lại, kết quả kinh doanh các mặt tuy có một số chỉ tiêu hiệu quả

đạt chưa cao, song Công ty TST đã có những cố gắng nhất định nhằm đưa

hiệu quả hoạt động kinh doanh ngày một lên cao. Trong thời gian sắp tới,

Công ty cần tiếp tục phát huy những mặt đã đạt được, nhanh chóng khắc phục

những mặt còn yếu kém, những khó khăn chủ quan và khách quan, để nâng

cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh của Công ty mình.

42

3.2. Hoạt động nhập khẩu những mặt hàng chủ yếu kinh doanh của

Công ty :

Biểu 2 : Phản ánh tình hình nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu

So sánh 2000/1999

Hàng hoá NK

1998

1999

2000

Chênh lệch

%

* Tổng giá trị NK

5350

5433

5470

37

100,68

1. Ô tô

715

527

341

-186

64.7

2. Linh kiện xe máy

2480

2326

2269

-57

97.55

3. Hoá chất

679

813

134

117.73

533

4. Nguyên liệu, vật tư

1384

1642

258

118.64

984

5. Hàng tiêu dùng

517

405

-112

78.34

638

Đơn vị : 1000USD.

Năm 1998, tổng số kim ngạch nhập khẩu của Công ty là 5350 ngàn

USD. Trong đó nhập khẩu ôtô là 715 ngàn USD, nhập linh kiện xe máy là

2480 ngàn USD, nhập hoá chất 533 ngàn USD, nhập khẩu nguyên vật liệu vật

tư là 984 ngàn USD, nhập khẩu hàng tiêu dùng là 638 ngàn USD.

Năm 1999 tổng số kim ngạch nhập khẩu của Công ty là 5433 ngàn

USD. Trong đó nhập khẩu ôtô là 527 ngàn USD, nhập linh kiện xe máy là

2326 ngàn USD, nhập hoá chất 679 ngàn USD, nhập khẩu nguyên vật liệu vật

tư là 1384ngàn USD, nhập khẩu hàng tiêu dùng là 517 ngàn USD.

Năm 2000 tổng số kim ngạch nhập khẩu của Công ty là 5470 ngàn

USD. Trong đó nhập khẩu ô tô là 341 ngàn USD giảm 35.3% so với năm

1999, nhập linh kiện xe máy là 2269ngàn USD, giảm 2.45% so với năm 1999,

nhập hoá chất 813 ngàn USD tăng 17.73% so với năm 1999, nhập khẩu

nguyên vật liệu vật tư đạt 1642 ngàn USD tăng 18.64% so với năm 1999 cuối

43

cùng là nhập khẩu hàng tiêu dùnglà 405 ngàn USD giảm 21.66% so với

năm1999.

Nhận xét :

Qua phân tích ở trên, có thể nhận thấy rằng tình hình kim ngạch nhập

khẩu tại Công ty có xu hướng biến động tăng giảm khác nhau theo từng năm.

Sở dĩ có sự biến động này là do trong mấy năm gần đây nhà nước đang dần có

những thay đổi về chính sách kinh tế đặc biệt là chính sách XNK. Đồng thời

hoàn thiện dần để sự mở cửa về kinh tế của nước ta phát triển theo hướng có

lợi nhất. Vì vậy, Công ty TST phải luôn luôn có sự điều chỉnh hoạt động

XNK của mình cho đúng đắn hợp lý, từ đó làm cho không những tổng kim

ngạch nhập khẩu tăng giảm khác nhau mà cả cơ cấu tỷ trọng các mặt hàng

NK cũng tăng giảm khác nhau. Các mặt hàng phục vụ cho sản xuất như mặt

hàng hoá chất, vật tư thiết bị cho công nghiệp, nông nghiệp có xu hướng tăng,

còn các hàng hoá như linh kiện xe máy, ô tô có xu hướng giảm. Nguyên nhân

của tình hình trên còn là do sự thay đổi nhu cầu khác nhau của mỗi loại hàng

hoá ở thị trường trong nước. Những năm gần đây, nhu cầu hàng tiêu dùng đã

được sản xuất trong nước đáp ứng tương đối đầy đủ chỉ còn một lượng rất

nhỏ cần bổ sung và thay thế. Bên cạnh đó lại có rất nhiều liên doanh sản xuất

với nước ngoài được thành lập, các doanh nghiệp khác cũng kinh doanh nhập

khẩu đẩy mạnh kim ngạch nhập khẩu làm thị trường tràn ngập hàng hoá gây

ra một sự cạnh tranh khốc liệt, giá cả hàng hoá thì biến động lớn, mất ổn định

và có xu hướng bị ép xuống. Ngược lại nhu cầu về nguyên vật liệu vật tư thiết

bị cho sản xuất công nghiệp, nông nghiệp đặc biệt là ngành xây dựng lại có

xu hướng tăng lên cùng với sự phát triển của ngành kinh tế. Vì thế giá trị và

cơ cấu những mặt hàng này trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Công ty tăng

lên theo từng năm.

Nguyên nhân của xu hướng tăng hàng hoá về nguyên vật liệu, vật tư

thiết bị, của mặt hoá chất và xu hướng giảm của tình hình NK ô tô linh kiện

44

xe máy và hàng tiêu dùng cũng là do Nhà nước có chính sách khuyến khích

nhập khẩu vật tư, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất, hạn chế nhập khẩu ô

tô, xe máy và hàng tiêu dùng.

3.3. Kết quả các hình thức nhập khẩu

a. Hình thức nhập khẩu trực tiếp.

Đây là hình thức nhập khẩu chủ yếu chiếm 80% trong các hợp đồng

nhập khẩu của công ty. Mặc dù nhập khẩu theo hình thức này đòi hỏi công ty

phải có một lượng vốn lớn trong một thời gian tương đối dài nhưng công ty

có thể huy động được ở các bạn hàng (như tiến hành các hoạt động liên

doanh, liên kết với các doanh nghiệp khác để nhập khẩu trực tiếp) hay vay

của ngân hàng. ở hoạt động này, công ty chủ động tính toán, trực tiếp tìm

nguồn hàng, ký kết thực hiện hợp đồng nhập khẩu và công ty sẽ tự bỏ vốn ra

để nhập khẩu rồi phân phối cho các đơn vị thực hiện hoặc các cửa hàng của

công ty tiêu thụ. Khi tiến hành nhập khẩu theo hình thức này phòng kinh

doanh sẽ phải nghiên cứu nhu cầu của khách hàng trong nước để biết được họ

cần nhập khẩu mặt hàng gì sau đó tiến hành xem xét nguồn hàng và thị trường

cung cấp. Sau khi lựa chọn đúng chủng loại mặt hàng cần nhập và bạn hàng

cung cấp, phòng kinh doanh sẽ tiến hành lập phương án kinh doanh và đệ

trình lên ban giám đốc để phê duyệt. Nếu phương án được chấp thuận thì

phòng kinh doanh sẽ bắt đầu tiến hành nhập khẩu. Đây là hình thức mang lại

hiệu quả cao vì lợi nhuận đạt được thường cao hơn phí uỷ thác, hơn nữa công

ty còn nắm quyền chủ động về nguồn hàng và bạn hàng trong kinh doanh.

Tuy nhiên, mức độ rủi ro của hình thức này cũng cao hơn vì có nhiều khả

năng hàng hoá nhập về không bán được hoặc phải bán với giá thấp.

b. Hình thức nhập khẩu uỷ thác.

Đây là hình thức nhập khẩu những hàng hoá mà các doanh nghiệp, đơn

vị sản xuất kinh doanh khác ở trong nước có nhu cầu, nhưng vì một lý do nào

đó, họ không có khả năng tổ chức nhập khẩu như không có hạn ngạch, không

liên hệ đầu tư được với các doanh nghiệp, bạn hàng nước ngoài, không có

kinh nghiệm nhập khẩu, nên phải uỷ thác cho Công ty Dịch vụ Du lịch và

Thương mại TST đứng ra đàm phán ký kết, thực hiện hợp đồng nhập khẩu,

45

sau đó giao hàng lại cho đơn vị uỷ thác và hưởng % hoa hồng theo thoả thuận

được ghi trong hợp đồng nhận uỷ thác.

Như vậy, sau khi nhận được đơn đặt hàng và các văn bản, tài liệu cần

thiết có liên quan từ phía các doanh nghiệp trong nước, công ty sẽ tiến hành

công tác thu thập thông tin, nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước. Trước

hết công ty sẽ tiến hành nghiên cứu, thu thập các thông tin về tình hình giá cả

của hàng hoá cùng loại ở thị trường trong nước cũng như mã số thuế, thuế

suất và phụ thu của mặt hàng đó. Sau đó, công ty sẽ tiến hành nghiên cứu thị

trường nước ngoài, lựa chọn đối tác kinh doanh, lập phương án cụ thể và tiến

tới ký kết thực hiện hợp đồng nhập khẩu. Trong quá trình này chủ đầu tư sẽ

phải chuyển tiền vào tài khoản của công ty để công ty thực hiện các nghiệp vụ

nhập khẩu. Mục đích cuối cùng là công ty phải nhập khẩu được máy móc

thiết bị theo đúng yêu cầu của chủ đầu tư và nhận được phí uỷ thác. Hiện nay

công ty vẫn áp dụng hình thức nhập khẩu uỷ thác này là do:

Thứ nhất nó giúp công ty có thêm thu nhập cho công nhân viên.

Thứ hai thời gian để có và thực hiện được một hợp đồng nhập khẩu

trực tiếp là tương đối lâu, do đó công ty có thể tiến hành nhập khẩu uỷ thác để

tạo thêm công ăn việc làm. Bên cạnh đó nhờ hoạt động này công ty sẽ duy trì

được các bạn hàng cũ, quen được những đối tác mới, có được những kinh

nghiệm làm ăn mới giúp phần nào cho hoạt động nhập khẩu trực tiếp của

công ty.

c. Phân tính kết quả các hình thức nhập khẩu

Biểu 3 : Phản ánh kết quả nhập khẩu theo hình thức

Đơn vị : 1000USD

Hình thức

1998

1999

2000

So sánh 2000/1999

NK

Số lượng Tỷ trọng Số lượng Tỷ trọng Số lượng Tỷ trọng Chênh lệch %

* Tổng giá

5350

100

5433

100

5470

100

37

100,68

trị NK

1. NK

3654

68,3

3895,5

71,7

4036,9

73,8

141,4

103,63

trực tiếp

2. NK

1696

31,7

1537,5

28,3

1433,1

26,2

-104,4

93,2

46

uỷ thác

Năm 1998 Công ty thực hiện kim ngạch nhập khẩu đạt 5350 ngàn

USD. Trong đó nhập khẩu trực tiếp là 3654 ngàn USD chiếm 68,3% trong

tổng kim ngạch nhập khẩu. Công ty nhận uỷ thác cho các đơn vị uỷ thác khác

là 1696 ngàn USD chiếm 31.7% tổng kim ngạch nhập khẩu.

Năm 1999, Công ty thực hiện kim ngạch nhập khẩu đạt 5433 ngàn

USD. Trong đó nhập khẩu trực tiếp là 3895,5 ngàn USD chiếm 71.7% giá trị,

nhập khẩu uỷ thác có tỷ trọng là 28.3% ứng với số tiền đạt được là 1537,5

ngàn USD.

Năm 2000, Công ty thực hiện kim ngạch nhập khẩu đạt 5470 ngàn

USD, tăng 0.68% so với năm 1999 với giá trị tăng 37 ngàn USD. Trong đó

nhập khẩu trực tiếp là 4036,9 ngàn USD tăng 3.63% so với năm 1999 với trị

giá tăng là 141.4ngàn USD chiếm tỷ trọng 73.8% trong tổng kim ngạch NK.

Công ty nhận uỷ thác cho các đơn vị uỷ thác là 1433.1 ngàn USD giảm 6.8%

so với năm 1999 với trị giá giảm là 104.4 ngàn USD chiếm tỷ trọng 26.2%

tổng kim ngạch nhập khẩu.

Nhận xét :

Qua phân tích số liệu ở trên, có thể nhận thấy rằng giá trị nhập khẩu

của Công ty theo hình thức nhập khẩu trực tiếp chiếm từ 60 - 70% và tăng

theo từng năm, nhập khẩu uỷ thác chiếm tỷ trọng từ 20 - 30% và giảm theo

từng năm. Nguyên nhân là do Công ty đẩy mạnh nhập khẩu theo phương thức

trực tiếp vì phương thức này mang lại hiệu quả cao hơn còn phương thức

nhập uỷ thác chỉ được hưởng lợi nhuận % hoa hồng. Vì vậy giá trị kim ngạch

nhập khẩu uỷ thác ngày càng giảm cả về khối lượng và giá trị hàng hoá.

Nguyên nhân của việc giảm giá trị nhận nhập khẩu uỷ thác là do bắt đầu từ

mấy năm trở lại đây tình hình tiêu thụ hàng hoá trên thị trường nội địa gặp

nhiều khó khăn do cạnh trạnh và do sản xuất trong nước đã phần nào thay thế

47

được các mặt hàng nhập khẩu, chính sách của Nhà nước nhằm quản lý điều

hành tác động đến công tác nhập khẩu đã gây ra nhiều thay đổi. Bên cạnh đó,

nhà nước lại ban bố ra hạn ngạch hàng hoá, xuất nhập khẩu, quy định những

mặt hàng nằm trong định hướng của mình... làm cho số lượng đơn đặt hàng

của các đơn vị sản xuất kinh doanh trong nước đối với Công ty giảm xuống.

Đồng thời nhập khẩu theo phương thức uỷ thác giảm xuống cũng là do hiệu

quả kinh doanh mà nó mang lại không cao.

Tuy nhiên sớm dự đoán được tình hình biến động của nhu cầu sản xuất

và tiêu dùng trong nước cùng với sự ảnh hưởng của các chính sách nhà nước

tới nhập khẩu, công ty đã thay đổi cơ cấu mặt hàng phù hợp, do đó tình hình

nhập khẩu của công ty đã đi vào ổn định, thu được lợi nhuận cao, phát huy hết

thế mạnh của nó đem lại một kết quả kinh doanh đáng mừng.

II. PHÂN TÍCH QUY TRÌNH NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY DỊCH VỤ DU

LỊCH VÀ THƯƠNG MẠI TST.

1. Công tác nghiên cứu thị trường:

Ngay sau khi thành lập theo nghị định 388 của thủ tướng Chính phủ,

Công ty dịch vụ du lịch và thương mại TST đã tiến hành thiết lập và dần dần

mở rộng thị trường, mạng lưới kinh doanh và mặt hàng kinh doanh.

Về thị trường kinh doanh, Công ty dịch vụ du lịch và thương mại có

một hoạt động kinh doanh chủ yếu là xuất nhập khẩu thương mại vì vậy công

ty không chỉ quan hệ và chịu ảnh hưởng của thị trường trong nước mà cả thị

trường nước ngoài. Trong những năm gần đây điều kiện quốc tế đang tạo ra

một thị trường quốc tế thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của công ty.

Bên cạnh đó, sự kiện Mỹ bỏ cấm vận đối với Việt Nam, sự kiện nước ta tham

gia các hiệp ước liên minh thế giới, khu vực và các nước láng giềng, chính

sách đối ngoại mở rộng của nhà nước đã mở ra một thị trường rộng lớn.

Qua xem xét, ta có thể dễ dàng nhận thấy công ty có rất nhiều mối liên

hệ với bạn hàng và các nước trên thế giới, chủ yếu là các nước trong khu vực

48

Đông Nam á, đây là thị trường có triển vọng, chất lượng hàng hoá tốt, kỹ

thuật công nghệ cao, sản xuất đang phát triển mạnh. Vì vậy đây sẽ là một khu

vực thị trường trong dự án cần khai thác và phát triển hơn nữa của công ty

trong tương lai.

Về thị trường nhập khẩu, công ty luôn duy trì và phát triển các nguồn

hàng từ thị trường Đông Nam á, Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, Xingapo,

Hồng Kông, Đài Loan, thị trường Đông Âu trước đây là thị trường cung cấp

hàng hoá khá lớn cho công ty, đấy là thị trường truyền thống, làm ăn lâu dài

và đáng tin cậy. Nhưng gần đây sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu

đã làm công ty mất đi một thị trường quan trọng. Riêng về thị trường EU đây

là thị trường có triển vọng mà công ty đang từng bước thâm nhập.

Về thị trường xuất khẩu, công ty mới chỉ liên doanh liên kết với cùng

một số đối tác tổ chức xuất khẩu một số mặt hàng truyền thống sang các nước

trong khu vực như Trung Quốc, Hồng Kông, Xingapo, Thái Lan, Hàn Quốc.

Trong tương lai công ty sẽ dự kiến mở rộng thị trường du lịch của mình, tìm

kiếm những điểm du lịch mới trong nước, tổ chức những chuyến du lịch mới

ra những nước có tiềm năng về du lịch trên thế giới.

Từ khi thành lập, Công ty liên tục mở rộng danh mục các mặt hàng kinh

doanh. Lúc đầu, Công ty chỉ nhập kinh doanh một số mặt hàng như bánh kẹo,

hàng tiêu dùng, phương tiện vận tải, đến nay mặt hàng kinhd oanh của Công

ty vô cùng phong phú, Công ty mở rộng quy mô kinh doanh, nhập thêm

những mặt hàng như ôtô các loại, tủ lạnh, linh kiện điện tử tin học, xe máy,

nguyên vật liệu xây dựng... Xuất phát từ chủ trương đa dạng hoá mặt hàng,

ngành hàng, công ty nhanh chóng nắm bắt, phát triển những mặt hàng phù

hợp bắt kịp với những biến đổi của nhu cầu thị trường. Bí quyết “bán những

gì thị trường muốn mua chứ không phải thứ bạn muốn bán” cung cấp đúng

những mặt hàng mà thị trường yêu cầu đã được ban giám đốc và cán bộ công

nhân viên trong công ty thực hiện khai thác một cách triệt để.

49

Trong thời gian gần đây, cơ cấu mặt hàng kinh doanh có thay đổi các

mặt hàng phục vụ cho sản xuất, xây dựng có xu hướng tăng lên, còn các mặt

hàng phục vụ cho tiêu dùng có xu hướng giảm xuống. Nguyên nhân của sự

tăng giảm này là do dự thay đổi nhu cầu khác nhau của mỗi loại hàng hoá trên

thị trường, do sự phát triển của sản xuất trong nước đã đáp ứng một số lượng

lớn nhu cầu hàng hoá, do sự phát triển của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, hiện nay chính sách của nhà nước là giảm nhập siêu tăng

kim nghạch xuất khẩu, đối với hoạt động nhập khẩu nhà nước chỉ khuyến

khích nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ cho sản xuất và xây dựng như vật

tư thiết bị, nguyên vật liệu sản xuất cho công nghiệp, nông nghiệp. Nhà nước

hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng. Chính vì vậy công ty tập trung khai thác

các nguồn hàng vật tư, thiết bị, máy móc hiện đại có kỹ thuật tiên tiến, chỉ

nhập khẩu hàng tiêu dùng cao cấp mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng

được.

Hoạt động nghiên cứu thị trường do Phòng Kinh doanh đảm nhiệm.

Căn cứ vào các thông tin thu thập được Phòng Kinh doanh tiến hành phân tích

xác định nhu cầu thực tế của thị trường trong nước và các yếu tố có liên quan

đến mặt hàng nhập khẩu như dung lượng thị trường, các đối thủ cạnh tranh,

sự biến động thị trường, tỷ suất ngoại tệ, giá cả hiện tại trên thị trường và các

chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh mặt hàng

đó. Kết quả của phân tích cho phép Công ty lập ra kế hoạch nhập hàng có

hiệu quả nhất.

Đối với thị trường quốc tế, Công ty thường thu thập các thông tin dựa

vào các phương tiện thông tin đại chúng cập nhật hàng ngày như các tạp chí

thông tin thương mại, báo thương mại. Trong trường hợp thị trường nhập

khẩu là thị trường mới Công ty cử nhân viên ra nước ngoài để trực tiếp tiếp

cận thị trường lựa chọn đối tác giao dịch. Ngoài ra, Công ty còn tham gia các

50

hội chợ triển lãm nhằm giới thiệu các mặt hàng nhập khẩu của Công ty để

nắm bắt nhu cầu thị hiếu của khách hàng trong nước.

Nói tóm lại, công tác nghiên cứu thị trường cả trong nước và ngoài

nước đối với các loại hàng hoá nhập khẩu ở công ty đã tiến hành thường

xuyên và liên tục với nhiều nguồn thông tin khác nhau rồi từ đó có những

biện pháp xử lý thông tin một các nhanh chóng và chính xác, loại bỏ kịp thời

những thông tin nhiễu, thông tin giả để giúp cho việc dự đoán nhu cầu cho

việc lập phương án kinh doanh một cách đúng đắn hiệu qủa kinh tế cao.

Qua việc phân tích trên đây, ta thấy thị trường và những sản phẩm hàng

hoá mà công ty đang khai thác và kinh doanh hiện nay trên thị trường có rất

nhiều và phong phú. Chính vì vậy, công ty đang hoạt động trong một bối cảnh

cạnh tranh khốc liệt và rất nhiều khó khăn. Nhưng với một chiến lược kinh

doanh về thị trường, về sản phẩm… hợp lý, đúng đắn, nhanh nhạy và linh

hoạt, công ty đã và đang từng bước hoàn thiện củng cố và phát triển vị trí của

mình trong nền kinh tế

2. Lựa chọn đối tác kinh doanh.

Thông thường mỗi mặt hàng có rất nhiều các nhà cung cấp. Các nhà

cung cấp này có thể trong một quốc gia hoặc nhiều quốc gia khác nhau.

Nhiệm vụ đối với Phòng Kinh doanh là phải xem xét các yếu tố có khả năng

xảy ra khi Công ty muốn đặt mối quan hệ ngoại thương với các nhà cung cấp.

Các yếu tố này có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến hoạt động kinh doanh

của Công ty. Để trả lời câu hỏi này Phòng Kinh doanh thường tổng hợp phân

tích một số chỉ tiêu sau:

+ Mối quan hệ ngoại giao giữa 2 nước, tình hình kinh tế - chính trị.

+ Hệ thống tài chính tiền tệ, sự biến động giá cả tại nước đó.

+ Loại hình đối tác: Hãng, công ty liên doanh hay doanh nghiệp Nhà nước.

+ Khả năng về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ, uy tín.

51

Sau đó, việc chọn đối tác sẽ căn cứ vào kết quả so sánh giữa các đơn

chào hàng, cụ thể Công ty sẽ so sánh để xác định đơn chào hàng nào đáp ứng

đầy đủ các yêu cầu về mặt kỹ thuật, công nghệ, phạm vi cung cấp, giá cả, điều

kiện thanh toán, điều kiện giao hàng... Trong các đơn chào hàng thì giá cả là

vấn đề rất quan trọng. Vì vậy, Phòng Kinh doanh phải tiến hành phân tích

xem với giá đó thì hàng hoá nhập có được thị trường trong nước chấp nhận về

chất lượng giá cả hay không. Sau khi tiến hành nghiên cứu phân tích và so

sánh, Công ty sẽ đi đến quyết định cuối cùng là nên chọn đối tác nào.

3. Đàm phán và ký kết hợp đồng.

* Đàm phán:

Cũng giống như bất kỳ một hợp đồng kinh tế thông thường nào việc ký

kết hợp đồng nhập khẩu của Công ty cũng có thể là gặp gỡ trực tiếp hoặc gián

tiếp đàm phán thông qua thư từ, điện tín. Đối với những khách hàng quen

thuộc hoặc khách hàng ở xa thì Công ty thường ký theo hình thức gián tiếp có

nghĩa là Công ty sẽ lập hợp đồng, ký tên và đóng dấu sau đó gửi đến cho nhà

cung cấp. Phương thức này cho phép Công ty ký kết hợp đồng một cách

nhanh hơn và tiết kiệm được một khoản chi phí. Trên thực tế, việc lập hợp

đồng nhiều khi không phải do cán bộ Phòng Kinh doanh lập mà do chính phía

đối tác lập hợp đồng sau đó gửi sang bằng fax. Trong trường hợp này, Phòng

Kinh doanh phải xem xét kỹ lưỡng từng điều khoản ghi trong hợp đồng có

phù hợp với thoả thuận đã đạt được khi đàm phán hay không. Nếu không thấy

có sai sót thì Phòng Kinh doanh sẽ trình cho Giám đốc ký và fax lại cho bên

bán. Hợp đồng này được coi là hợp đồng chính thức giữa hai bên, chữ ký và

con dấu qua fax có giá trị pháp lý như khi ký kết trực tiếp đối với những

khách hàng có mối quan hệ làm ăn với Công ty như Thái Lan, Hàn Quốc, Đài

Loan hoặc đối với những khách hàng quen thuộc như Hàn Quốc nhưng hợp

52

đồng nhập có khối lượng lớn, phức tạp cần có sự thoả thuận kỹ lưỡng thì

Công ty sử dụng hình thức trực tiếp ký kết hợp đồng.

* Ký kết hợp đồng:

Việc ký kết hợp đồng thường do Giám đốc trực tiếp đảm nhiệm hoặc

trưởng Phòng Kinh doanh được Giám đốc uỷ quyền. Sau khi tiến hành đàm

phán trong một khoảng thời gian ngắn (thường là 7 ngày) Công ty và đối tác

sẽ gửi hợp đồng cho nhau hoặc trực tiếp ký với nhau, mở L/C. Nếu hợp đồng

không thoả mãn đối với một trong hai bên thì hai bên sẽ tiến hành trao đổi lại

cho đến khi cả hai bên cùng chấp nhận. Hợp đồng của Công ty bao giờ cũng

được ký kết dưới hình thức văn bản để tránh những tranh chấp có thể xảy ra

sau này.

Ngoài ra, do Công ty có khách hàng và có thị trường nước ngoài nên

Công ty thường ký uỷ thác để hưởng hoa hồng.

4. Thực hiện hợp đồng nhập khẩu.

Sau khi thống nhất quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên bằng việc ký kết

hợp đồng, Công ty Dịch vụ Du lịch và Thương mại TST với tư cách là nhà

nhập khẩu sẽ tiến hành thực hiện các điều khoản trong hợp đồng. Cụ thể:

* Mở L/C: Khi hợp đồng nhập khẩu quy định tiến hành thanh toán bằng

L/C thì cũng sẽ tiến hành làm đơn xin mở L/C theo mẫu in sẵn và gửi cho

Ngân hàng đại lý của mình (thường là Ngân hàng Công thương Việt Nam

hoặc Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam). Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp

ngân hàng mở L/C do bên bán yêu cầu. Nội dung của L/C phải phù hợp, ăn

khớp với nội dung của hợp đồng đã ký. Ngân hàng căn cứ vào đơn xin mở

L/C của Công ty, mở L/C và gửi bản gốc cho người bán (thường là gửi cho

ngân hàng người bán).

Thông thường, một thời gian sau khi ký hợp đồng có hiệu lực nhưng

trước khi giao hàng, Công ty phải tiến hành thanh toán một phần trị giá hợp

đồng (thường nằm trong khoảng 5 - 10% trị giá hợp đồng) và sẽ được chuyển

53

vào tài khoản của người bán. Đối với đồng tiền thanh toán thì mỗi hợp đồng

quy định một đồng tiền khác nhau, tuỳ theo tập quán buôn bán và sự lựa chọn

của các bên.

* Hiện nay, Công ty TST thường nhập khẩu theo điều kiện CIF (như

CIF Hải Phòng, CIF Đà Nẵng) và C & F nên hầu như không phải thuê tàu.

* Khi nhận được bộ chứng từ hàng hoá và vận đơn BL do bên bán gửi

đến Công ty sẽ kiểm tra kỹ nội dung của bộ chứng từ với nội dung của L/C đã

lập. Nếu thấy có sự sai sót thì lập tức thông báo lại cho bên bán và ngân hàng

mở L/C để kịp thời điều chỉnh xử lý. Bộ chứng từ hoàn chỉnh bao gồm:

+ Chứng từ giao hàng.

+ Hợp đồng.

+ Giấy mở L/C của ngân hàng.

+ Phiếu hạn ngạch (nếu có).

Tuỳ từng chủng loại hàng mà Công ty gửi bộ chứng từ đến phòng cấp

giấy phép xuất nhập khẩu của Bộ Thương mại để xin giấy phép nhập khẩu

hoặc đối với những mặt hàng nhập khẩu theo mặt hàng kinh doanh của Công

ty thì làm thủ tục nhận hàng trực tiếp tại cơ quan hải quan.

* Làm các thủ tục hải quan:

Khi tàu nhập cảng Công ty tiến hành làm các thủ tục hải quan để trong

khoảng thời gian ngắn nhất có thể đưa hàng về kho. Tờ khai hải quan có dấu

của Công ty gửi cùng bộ chứng từ gồm có giấy phép nhập khẩu, hợp đồng

ngoại, hoá đơn, vận đơn giao hàng của hãng vận tải, phiếu hạn ngạch (nếu

có), phiếu đóng gói, bảng kê chi tiết để làm thủ tục nhận hàng.

Có 2 hình thức thông quan nhập khẩu:

+ Mở trực tiếp tại cửa khẩu cho hải quan kiểm tra.

+ Mở chuyển tiếp (hàng về Hải Phòng, mở tờ khai ở Hà Nội sau đó

chuyển tiếp xuống Hải Phòng và đưa hàng về Hà Nội để kiểm hoá). Nếu hàng

hoá có tổn thất, mất mát, hư hỏng không đúng với yêu cầu trong hợp đồng đã

54

đặt ra thì Công ty sẽ khiếu nại tuỳ theo mức bảo hiểm mà Công ty mùa

thường là 110% trị giá hoá đơn thương mại với điều kiện mọi rủi ro.

* Sau khi hoàn thành thủ tục hải quan Công ty sẽ nhận được thông báo

đóng thuế. Công ty luôn cố gắng đóng thuế đúng thời hạn để tránh tình trạng

bị phạt do chậm nộp thuế.

* Sau khi hoàn tất thủ tục hải quan và nhận được hàng Công ty vận

chuyển hàng về kho chờ tiêu thụ - đối với nhập trực tiếp. Còn đối với nhập

khẩu uỷ thác, có thể Công ty sẽ giao hàng ngay tại cảng cho bên uỷ thác.

55

III. MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CỦA CÔNG TY DỊCH VỤ DU LỊCH VÀ THƯƠNG MẠI TST.

1. Thành công.

Với TST, tuy mới được thành lập trong điều kiện cạnh tranh gay gắt lại

gặp phải không ít những khó khăn, biến động về tổ chức và sự thay đổi của

chính sách của Nhà nước, xong hoạt động nhập khẩu của Công ty vẫn không

ngừng phát triển cả về số lượng và mặt hàng, từ đó chiếm được một dung

lượng thị trường không những trong nước và cả nước ngoài. Doanh số từ hoạt

động kinh doanh không ngừng tăng lên theo từng năm, kéo theo đó là sự mở

rộng quy mô kinh doanh, nâng cao không ngừng đời sống cũng như thu nhập

của cán bộ công nhân viên trong Công ty.

Để có được kết quả như vậy, ta nhìn nhận Công ty trên các mặt nỗ lực sau:

- Ngay từ khi được Bộ Thương mại cấp giấy phép kinh doanh xuất

nhập khẩu trực tiếp, Công ty TST đã xác định hoạt động này là một hoạt động

kinh doanh mũi nhọn của mình. Ban Giám đốc Công ty đã tạo mối quan hệ

kinh doanh với nhiều bạn hàng trên Thế giới, với nhiều tổ chức kinh doanh

của Thái Lan, Hàn Quốc, Đài Loan, Sinhgapore... Công ty TST đã tập trung

nguồn lực của mình vào lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu đặc biệt là hoạt

động nhập khẩu bởi Ban lãnh đạo Công ty đã nhanh chóng nhận ra có một

lượng nhu cầu trong nước chưa được đáp ứng. Đồng thời bằng phương châm

kinh doanh: đối với mặt hàng chính thì đầu tư lâu dài, tạo lợi nhuận về sau,

đối với các mặt hàng khác thì tiến hành kinh doanh theo phương pháp "đánh

nhanh thắng nhanh" để tăng vòng quay vốn, đã tỏ ra phù hợp với tình hình

kinh doanh trong giai đoạn hiện nay. Vì một mặt nó đã tạo ra hiệu quả cao đối

với một số mặt hàng có ưu thế cạnh tranh (lợi nhuận siêu ngạch), mặt khác

không ngừng mở rộng mặt hàng kinh doanh sang những lĩnh vực mới. Điển

hình thành công của phương châm này là trong năm 1997, trên cơ sở sự nới

lỏng của các chính sách nhà nước kết hợp với nhu cầu đang tăng lên ở trong

56

nước, Công ty đã huy động mọi nguồn lực, đẩy nhanh tốc độ và kim ngạch

nhập khẩu những mặt hàng có sức tiêu thụ nhanh như: xe máy, linh kiện điện

tử sau đó bán buôn ngay cho các nhà kinh doanh trong nước với mục đích lấy

doanh số cao để làm tăng lợi nhuận và thu hồi vốn kinh doanh sớm.

Điểm thứ hai cần phải nhắc tới là Công ty Dịch vụ Du lịch và Thương

mại TST đã tận dụng tối đa uy tín, điều kiện và các mối quan hệ của mình để

vay vốn, xin quota xuất nhập khẩu. Chẳng hạn như việc xin quota nhập khẩu,

bao giờ Công ty cũng được duyệt cao hơn đơn vị khác nếu so với tiềm năng và

kinh nghiệm của các đơn vị này, để có được đủ số hàng hoá cung cấp cho thị

trường.

- Việc nghiên cứu của thị trường trong nước, Công ty đã thực hiện

tương đối tốt. Hàng của Công ty nhập về luôn bắt kịp và đáp ứng đúng yêu

cầu tiêu dùng về chất lượng, chủng loại và thời gian nên hàng bán được nhiều,

và đem lại lợi nhuận cao.

- Khi giao dịch với các đối tác kinh doanh nước ngoài, ngân hàng,

Công ty đã tạo được những mối quan hệ tốt, có độ tin cậy cao, uy tín do thực

hiện hợp đồng nhập khẩu một cách nhanh gọn, đúng thủ tục, không để xảy ra

sai sót dẫn đến khiếu nại hoặc phải bồi thường.

- Trong tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu, Công ty lên kế hoạch

và phân công giao trách nhiệm cho từng khâu nghiệp vụ, từng phòng ban và

cá nhân, từ đó làm cho việc điều hành và giám sát được chặt chẽ, kịp thời. Do

vậy, các mặt hàng nhập khẩu của Công ty không những đủ tiêu chuẩn chất

lượng theo hợp đồng mà còn không vi phạm những quy định của Bộ Thương

mại hay luật pháp quốc tế về ngoại thương. Khi nói đến kết quả kinh doanh

đạt được như hiện nay, không thể không nói đến những nỗ lực của tất cả

những thành viên trong Công ty Dịch vụ Du lịch và Thương mại từ các khối

văn phòng, các cửa hàng đến các đơn vị trực thuộc đã thực hiện tốt nhiệm vụ

của mình. Trong đó, bộ phận hoạt động nhập khẩu mà cụ thể là Phòng Kinh

57

doanh xuất nhập khẩu dưới sự chỉ đạo của đồng chí Trưởng phòng đã thực

hiện tốt các nghiệp vụ từ đơn giản đến phức tạp trong quan hệ với bạn hàng,

không để xảy ra sai sót hoặc rủi ro khi nhập khẩu, kịp thời tạo ra những nguồn

hàng phục vụ cho hoạt động kinh doanh của Công ty.

Kết quả mà Công ty Dịch vụ Du lịch và Thương mại đạt được trong

những năm qua còn là nhờ vào một lợi thế không nhỏ của Công ty: Công ty là

một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và

Công nghệ được Bộ thương mại có nhiều ưu đãi. Nhưng trong cơ chế thị

trường thì những ưu thế đó sẽ dần dần mất đi do các thành phần kinh tế được

tham gia một cách bình đẳng trong các quan hệ kinh tế nhất là trong quan hệ

nhập khẩu hàng hoá.

Vì vậy muốn thắng lợi trong cạnh tranh và đạt kết quả cao hơn, Công ty

phải nhanh chóng khắc phục những mặt hạn chế trong thời gian qua.

2. Hạn chế.

- Hoạt động nhập khẩu là một hoạt động đòi hỏi nghiệp vụ cao, phức

tạp vì vậy Công ty cần thiết phải có một đội ngũ cán bộ nhân viên có chuyên

môn, trình độ cao. Nhưng trong hoàn cảnh hiện nay, tình trạng lao động trong

Công ty vẫn còn thiếu một lượng lớn các cán bộ giỏi, nhân viên có trình độ cao.

- Thực tế đội ngũ cán bộ nghiên cứu thị trường trong nước hoạt động

với tính ổn định chưa cao. Công ty cũng chưa chú trọng nhiều đến tiêu thụ do

vậy mà tiêu thụ chậm dẫn đến ứ đọng vốn. Về giá cả thị trường, Công ty cần

dự đoán chính xác những biến động của nó để có quyết định nhập khẩu hạn chế

hay ngừng nhập khẩu kịp thời với tình hình biến động của nhu cầu trong nước.

- Trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu, Công ty vẫn còn bị

động về thời gian nhận hàng do nhiều yếu tố khách quan là phải qua những

bước thủ tục hay vận chuyển trong thời gian dài (15 - 20 ngày với thị trường

gần) nên nhiều khi ảnh hưởng đến kết quả cũng như hiệu quả kinh doanh.

58

- Bạn hàng mà Công ty quan hệ để mua hàng nhập khẩu phần lớn chỉ là

những hãng trung gian hoặc các trung tâm giao dịch chứ không phải là các đại

lý của các hãng sản xuất trực tiếp nên giá hàng nhập thường cao hơn, dẫn đến

lợi nhuận cũng bị giảm đáng kể đối với những lô hàng lớn. Ví dụ, xe Honda

Dream II, Công ty thường phải mua của hãng trung gian Vewchipxeng với giá

1500 USD (CIF) / 1 chiếc. Trong khi đó, nếu mua của hàng trực tiếp sản xuất

- Thái Honda chỉ là 1400 - 1450 USD.

- Chính sách của Nhà nước và Bộ Thương mại một mặt tạo điều kiện

cho Công ty. Mặt khác có lúc gây khó khăn không ít cho hoạt động nhập

khẩu. Nhiều khi việc cấp hạn ngạch không đáp ứng đủ so với năng lực của

Công ty, sự thay đổi quá nhiều và liên tục trong khoảng thời gian ngắn làm

cho định hướng kinh doanh của Công ty gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó,

việc xin giấy phép cũng còn nhiều phiền hà, rắc rối; cơ quan Hải quan còn

gây nhiều khó khăn trong việc giải quyết thủ tục nhận hàng... Công ty phải

chủ động hơn nữa trong việc khắc phục những khó khăn chung này.

59

CHƯƠNG III

MỘT SỐ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT NGHIỆP VỤ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY DỊCH VỤ DU LỊCH VÀ THƯƠNG MẠI TST

I. PHƯƠNG HƯỚNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN

TỚI.

Tiếp tục đầu tư có hiệu quả hơn nữa cho sản xuất với lưu thông hàng

hoá theo hướng hợp tác phát triển liên doanh, liên kết. Mở rộng quy mô kinh

doanh, quy mô ngành hàng theo hướng đa dạng hoá kinh doanh, đa dạng hoá

ngành hàng. Các mặt hàng xuất nhập khẩu phải hỗ trợ nhau theo hướng đồng

bộ nhu cầu sản xuất, tiêu dùng, kết hợp giữa kinh doanh xuất nhập khẩu vật

tư, nguyên liệu, thiết bị máy móc với hàng tiêu dùng, vừa tận dụng được

nguồn lực vừa phân tán rủi ro.

Bằng tất cả những biện pháp nghiệp vụ nghiên cứu thị trường, mở rộng

đầu mối tiêu thụ, để mở rộng thị trường cả trong nước và ngoài nước, tăng

nhanh kim ngạch xuất khẩu, đẩy mạnh các dịch vụ xuất nhập khẩu uỷ thác.

Nhập khẩu phải đảm bảo yêu cầu phục vụ sản xuất trong nước, đi sâu vào

mục đích cung cấp vật tư thiết bị, nguyên vật liệu cho nhu cầu trong nước,

từng bước phải tiến tới cân bằng kim ngạch xuất khẩu với kim ngạch nhập

khẩu.

Tiếp tục khai thác mạnh hơn nữa nguồn hàng nhập khẩu từ Nhật Bản

và các nước ASEAN, đồng thời thâm nhập và mở rộng thị trường EU, tìm

cách khôi phục thị trường Đông Âu. Đẩy mạnh liên doanh, liên kết sản xuất,

vừa mở rộng phương thức kinh doanh, vừa tạo được đầu mối tiêu thụ lâu dài

hàng hoá nhập khẩu của Công ty. Tiếp tục liên kết nhập khẩu nguyên liệu làm

hàng xuất khẩu và đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ dệt may.

60

Thay đổi cơ cấu mặt hàng hợp lý: Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ trước

đến nay là ôtô, xe máy nhưng đây chỉ là những mặt hàng có tính chất tạm tời

khi Công ty mới đi vào hoạt động và trong thời gian tới, sản xuất trong nước

sẽ thay thế nhập khẩu. Vì vậy, chiến lược kinh doanh của Công ty trong tương

lai là trước mắt vẫn khai thác hai mặt hàng này nhưng phải chuyển đổi dần

dần sang nhập khẩu vật tư, nguyên liệu, máy móc thiết bị. Nhập khẩu hàng

tiêu dùng cũng phải giảm xuống hơn nữa, chỉ nhập những mặt hàng thiết bị

văn phòng cao cấp do vẫn có nhu cầu lớn. Bên cạnh đó, tìm kiếm, phát hiện

những nhu cầu mới về hàng hoá nảy sinh mà sản xuất trong nước chưa đáp

ứng được để có sự bổ sung kịp thời, nắm bắt một cách nhanh chóng thời cơ

nhằm thu lợi nhuận cao.

Bố trí sắp xếp mạng lưới tiêu thụ nhập khẩu, tăng thêm những điểm bán

lẻ đi sâu vào thị trường trọng điểm từng vùng, từng ngành, vừa đẩy mạnh tiêu

thụ hàng nhập khẩu vừa cung cấp được thông tin cơ bản về thị trường. Để từ

đó, Công ty có thể nghiên cứu, phân tích lập kế hoạch chính xác, phù hợp.

Đây là cơ sở vững chắc để chiếm lĩnh và mở rộng thị trường.

Tạo điều kiện cho các cán bộ công nhân viên trong Công ty nâng cao

trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ. Tổ chức các cuộc nghiên cứu, khảo sát thị

trường trong nước và ngoài nước để tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty trong

công tác quản lý và điều hành kinh doanh. Thông qua đòn bẩy kinh tế, khoán

cụ thể để khuyến khích cán bộ công nhân viên chủ động hoàn thành nhiệm vụ,

các đơn vị trực thuộc, cửa hàng, trạm sửa chữa bảo hành... thực hiện các biện

pháp thưởng phạt vật chất cụ thể để nâng cao trách nhiệm và khuyến khích

người lao động.

Mục tiêu lâu dài của Công ty là mở rộng quy mô kinh doanh với chiến

lược cụ thể là đa dạng hoá kinh doanh, đa dạng hoá mặt hàng, xác định rõ mặt

hàng chủ lực trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cho phù hợp với nhu cầu hiện

thời của thị trường, không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh trên cơ sở coi

61

trọng hoạt động xuất nhập khẩu, luôn luôn đảm bảo kết hợp chặt chẽ giữa nhu

cầu thị trường với tiềm năng của Công ty để có những điều chỉnh kế hoạch

cho phù hợp, từ đó, góp phần vào nội dung yêu cầu tăng trưởng chung của các

ngành kinh tế. Tình hình trong nước, tuy mức lạm phát không cao nhưng giá

cả hàng hoá không ổn định, quản lý thị trường còn lỏng lẻo, nhu cầu hàng hoá

cũng không ổn định. Chính vì vậy, để hoàn thành nhiệm vụ kinh doanh của

Công ty trong thời gian tới, Công ty Dịch vụ Du lịch và thương mại TST cần

phải có những biện pháp khắc phục khó khăn, đẩy mạnh hoạt động kinh

doanh một cách có hiệu quả, cụ thể và thiết thực.

II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG

NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY TST.

1. Một số giải pháp kỹ thuật nghiệp vụ:

1.1. Giải pháp mở rộng thị trường.

Thị trường tiêu thụ có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển của

Công ty, nó quyết định hàng hoá nhập khẩu của Công ty có tiêu thụ được hay

không. Để tăng kim ngạch nhập khẩu ngoài việc thay đổi cơ cấu hàng hoá

nhập khẩu cho phù hợp với nhu cầu sản xuất, tiêu dùng, Công ty phải tìm các

biện pháp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, khai thác tối đa các nhu cầu

hàng hoá. Có như vậy, Công ty mới có thể tồn tại và phát triển trong tình hình

cạnh tranh quyết liệt hiện nay.

Muốn mở rộng thị trường tiêu thụ hàng nhập khẩu, Công ty phải thực

hiện các bước cơ bản sau:

Nắm bắt chính xác nhu cầu thị trường trong nước về từng mặt hàng

nhập khẩu cụ thể mà Công ty đang có kế hoạch kinh doanh. Trong kinh doanh

hàng nhập khẩu không thể tách rời mặt hàng với thị trường, đây là hai mặt của

một vấn đề. Khó khăn lớn nhất của Công ty hiện nay là cạnh tranh với các

hãng nước ngoài có tiềm lực mạnh. Vì vậy, hàng hoá nhập khẩu phải phù hợp

62

với sản xuất và tiêu dùng trong nước, việc này đối với khả năng của Công ty

không phải là khó bởi để tìm hiểu nhu cầu thị trường thì Công ty có lợi thế

hơn nhiều so với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Tuy nhiên, trong quá

trình nghiên cứu thị trường, Công ty vẫn còn có những hạn chế, chưa xác định

chính xác nhu cầu thị trường cho từng mặt hàng mà chỉ dự đoán được xu

hướng biến động chung. Đây là một vấn đề rất khó khăn, để khắc phục tình

trạng này, Công ty vẫn phải xây dựng cơ cấu mặt hàng một cách chắc chắn

theo xu hướng chung của nó. Trong tương lai, Công ty cần khai thác có hiệu

quả các lợi thế trong điều kiện trao đổi và phân công lao động quốc tế, tạo ra

mặt hàng nhập khẩu mới, có khả năng thay thế và bổ xung. Trong quá trình

nghiên cứu thị trường, Công ty phải xác định rõ thị trường trọng điểm và thời

cơ hấp dẫn. Đối với Công ty hiện nay, thị trường trọng điểm chính là thị

trường hàng hoá vật tư, nguyên liệu, máy móc, thiết bị cho công nghiệp, nông

nghiệp, làm hàng xuất khẩu.

Khai thác thêm nhu cầu bằng cách liên doanh, liên kết để cung cấp vật

tư, nguyên liệu cho các đơn vị sản xuất kinh doanh trong nước. Vấn đề mở

rộng thị trường tiêu thụ, tăng kim ngạch nhập khẩu trong điều kiện khó khăn

hiện nay thì việc liên doanh, liên kết với các đơn vị sản xuất để tạo mối quan

hệ mua bán lâu dài và vững chắc, tạo ra những đơn đặt hàng lớn, là điều hết

sức cần thiết. Đây là một phương thức kinh doanh có tính chắc chắn và ổn

định. Chẳng hạn như trong những năm qua, Công ty đã tạo lập được mối quan

hệ liên doanh, liên kết với Nhà máy hoá chất Việt Trì, Nhà máy xà phòng Hà

Nội và trở thành bạn hàng cung cấp nguyên liệu hoá chất thường xuyên và có

uy tín. Bên cạnh đó, Công ty không những liên doanh với các đơn vị sản xuất

trong nước mà còn liên kết với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu

tạo nên sự tương hỗ và phân chia lĩnh vực kinh doanh, giảm bớt sự cạnh tranh

không cần thiết đáng có.

63

Tăng cường dịch vụ nhập khẩu và các dịch vụ khác. trong những năm

qua, kim ngạch nhập khẩu giảm một phần là do giá trị khâu nhập khẩu uỷ thác

giảm, Công ty phải kết hợp các hình thức liên doanh, liên kết nêu trên cùng

với uy tín sẵn có đối với các bạn hàng trong nước về khả năng nhập khẩu, để

khai thác tối đa nhu cầu, tăng cường dịch vụ nhận nhập khẩu uỷ thác và các

dịch vụ nhập khẩu khác để góp phần mở rộng thị trường, đẩy mạnh và tăng

kim ngạch nhập khẩu. Ngoài ra, Công ty muốn chiến thắng trong cạnh tranh

cần đẩy mạnh các dịch vụ kèm theo khi bán hàng nhập khẩu. Bởi vì khách

hàng luôn muốn mua bán một cách thuận tiện, nhanh chóng trong những điều

kiện có lợi nhất. Chẳng hạn như, Công ty có thể bán hàng và vận chuyển theo

yêu cầu của khách hàng như bán hàng tại địa chỉ khách hàng yêu cầu, áp dụng

các phương thức bán hàng khác nhau như: bán trả góp, bán chịu... Đầu tư sửa

chữa, nâng cấp các cửa hàng của Công ty trên các khu vực thị trường, mở

rộng ra các thị trường mới, đảm bảo phục vụ khách hàng mọi lúc mọi nơi một

cách tốt nhất.

Tăng khả năng cạnh tranh của Công ty trên thương trường: như đã phân

tích, trong quá trình hoạt động kinh doanh, Công ty đã gặp không ít trở ngại

trong cạnh tranh. Cạnh tranh là tất yếu khách quan trong cơ chế thị trường,

chiến lược cạnh tranh có thể dẫn đến thắng lợi hay thất bại của Công ty. Vì

vậy, muốn đứng vững trong cạnh tranh, cùng với các chính sách bổ xung

khác, Công ty phải xây dựng cho mình một chiến lược cạnh tranh năng động,

đảm bảo thích nghi môi trường bên trong với môi trường bên ngoài, thích

nghi với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh và điều kiện cạnh tranh, điều kiện

vật chất, khoa học kỹ thuật. Bên cạnh đó, Công ty phải có được những thông

tin chính xác về đối thủ cạnh tranh, nghiên cứu xem đối thủ cạnh tranh đang

kinh doanh mặt hàng nào, so sánh mặt hàng kinh doanh của họ với mặt hàng

kinh doanh của mình về chủng loại, về giá cả, về thời gian... Tìm hiểu về kế

hoạch kinh doanh của đối thủ cạnh tranh, chính sách giá cả của họ như thế

64

nào? Phải luôn tìm hiểu kỹ những lợi thế, những điểm yếu của họ để từ đó

đưa ra những chiến lược kinh doanh đúng đắn nhằm chiến thắng đối thủ cạnh

tranh. Đồng thời, Công ty cũng cần có mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh để

phân chia thị trường, nhằm khai thác triệt để mọi ưu thế của Công ty.

Áp dụng chính sách giá bán hàng nhập khẩu linh hoạt: Giá cả là một

yếu tố quan trọng mà bất cứ nhà kinh doanh nào cũng cần phải tính đến các

quyết định về giá cả tác động đến khối lượng bán, doanh thu và lợi nhuận, khi

định giá quá cao sẽ làm mất khách hàng, giảm khối lượng bán, giảm khả năng

cạnh tranh... Khi định giá quá thấp sẽ làm cho khách hàng có cảm giác nghi

ngờ về chất lượng hàng hoá của Công ty. Vì vậy, việc xác định giá cả cho

hàng hoá nhập khẩu là việc hết sức khó khăn. Trong tình hình hiện nay, giá cả

những loại hàng hoá nhập khẩu biến động hết sức phức tạp trên thị trường.

Công ty đã có những biện pháp định giá phù hợp nhưng vẫn có nhiều hạn chế

như thay đổi giá nhiều khi không theo quy luật thị trường, có khi đặt ra lợi

nhuận quá cao bằng cách định giá cao hơn đối thủ cạnh tranh dẫn đến làm cho

hàng hoá khó tiêu thụ. Đồng thời trên thực tế, giá cả hàng nhập khẩu của

Công ty còn cao là do Công ty chưa có được mối quan hệ bạn hàng với các

doanh nghiệp sản xuất ở nước ngoài nhằm tạo ra một nguồn cung cấp tận gốc,

vì vậy Công ty cần tạo nguồn hàng thông qua kênh nhập khẩu trực tiếp, tổ

chức nhập khẩu từ các doanh nghiệp sản xuất, các đại lý. Nói tóm lại, Công ty

áp dụng chính sách giá linh hoạt, thay đổi theo từng thời điểm cụ thể, từng

khách hàng cụ thể. Phải có những chính sách ưu đãi, khuyến khích khách

hàng như giảm giá, chiếu cố giá phù hợp cho các đối tượng khách hàng. Phải

luôn xem xét và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến giá cả, cung cầu, các chi phí

vận chuyển để có biện pháp thay đổi thích hợp. Xác định giá phải bảo đảm căn

cứ theo tình hình thị trường và tình hình cạnh tranh, đảm bảo mục tiêu lợi nhuận.

Tăng cường chính sách xúc tiến quảng cáo, khai trương: Như ta đã biết,

sự cần thiết trong tiêu thụ sản phẩm là phải tiến hành xúc tiến quảng cáo bán

65

hàng. Hàng mà Công ty TST kinh doanh là những loại hàng nhập khẩu có

chất lượng cao và mẫu mã luôn thay đổi thì công tác này càng trở nên quan

trọng. Thực tế, hầu như Công ty đầu tư cho mặt hàng này rất ít, có thể nói là

không đáng kể. Trong thời gian tới, Công ty cần thực hiện tốt mặt hoạt động

này. Về nội dung quảng cáo cần phải tập trung làm cho bạn hàng và người

tiêu thụ hiểu rằng:

+ Thế mạnh của Công ty TST là kinh doanh xuất nhập khẩu thương

mại, có thị trường và mạng lưới phân phối rộng lớn, có chữ tín trong quan hệ

buôn bán, có dự định về khả năng quan hệ hợp tác và đầu tư liên doanh, liên

kết...

+ Mặt hàng kinh doanh có chất lượng đảm bảo, đúng nhãn mác, xuất

xứ sản xuất và giá cả thích hợp.

+ Các dịch vụ tạo thuận lợi cho khách hàng một cách tối đa như bảo

hành, sửa chữa.

Về hình thức truyền thống có thể thực hiện thông qua các trung tâm

giới thiệu, bảo hành sản phẩm, tham gia các hội trợ triển lãm trong và ngoài

nước, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các sản phẩm trong và

ngoài ngành thương mại.

Tính toán hiệu quả của quảng cáo với các chi phí bỏ ra. Có thể tiến

hành quảng cáo điểm trong thời gian nhất định để giảm chi phí.

Song song với các hình thức quảng cáo cần kết hợp với các hình thức

xúc tiến khác như nâng cấp trưng bày các điểm bán hàng một cách đẹp mắt

hấp dẫn. Xây dựng đội ngũ nhân viên bán hàng văn minh, lịch sử, tiến hành

bảo hành bao gói tất cả các sản phẩm bán ra với tem mác của Công ty để bảo

đảm uy tín.

1.2. Lựa chọn đúng đối tác.

Ngay từ khâu chọn đối tác kinh doanh, Công ty cần phải tìm hiểu kỹ

đối tác về quá trình phát triển, các lĩnh vực kinh doanh, khả năng tài chính, uy

66

tín cũng như những điểm mạnh, điểm yếu của họ. Đây là điều rất quan trọng

bởi vì nó có thể giúp Công ty tránh được làm ăn với những Công ty ma,

những trung gian môi giới hoặc những Công ty đang sắp phá sản... Từ đó mà

hạn chế được những rủi ro trong kinh doanh.

Khi lựa chọn đối tác để nhập khẩu, Công ty cần phải nghiên cứu tình

hình sản xuất, chất lượng sản phẩm, điều kiện địa lý, chính sách thương mại,

phong tục và tập quán nước đó. Cần chú ý đến các danh tiếng trên thế giới với

những mặt hàng đã được công nhận. Sau đó để chọn hãng nào cung cấp cần

phải nghiên cứu các lĩnh vực như:

- Tình hình sản xuất kinh doanh của hãng, lĩnh vực và phạm vi kinh

doanh để thấy được khả năng cung cấp lâu dài, ổn định, thường xuyên liên kết

kinh doanh.

- Khả năng về vốn, cơ sở kỹ thuật của hãng đó.

- Thái độ và quan điểm kinh doanh.

Khi chọn nhà cung cấp nên chọn nên mua những nhà cung cấp lớn

chuyên vài mặt hàng chủ lực. Công ty nên cố gắng trực tiếp liên hệ với người

sản xuất, hạn chế liên hệ thông qua các tổ chức trung gian để giảm bớt chi phí

và nâng cao độ an toàn. Đối với các thương nhân nước ngoài đến Công ty đưa

ra một số mặt hàng mà ta cần nhập, hay tự giới thiệu qua fax, qua thư, Công

ty cần phải tìm hiểu hoạt động, đánh giá đối tượng trên cơ sở phân tích như

trên. Đối với đối tượng này, Công ty có thể tìm hiểu thông qua bạn hàng trong

và ngoài nước nhưng cách tốt nhất là nhờ đại diện của ta ở nước ngoài để họ

cung cấp các thông tin cần thiết. Sau khi thăm dò và thu thập đủ các thông tin

cần thiết, dù quyết định Công ty đưa ra là mua hay không mua hàng của hãng

đó, Công ty vẫn nên trả lời một cách ngắn gọn rõ ràng bằng những thư từ điện

tín mà bên kia đã gửi để giữ uy tín kinh doanh.

1.3. Quy định chặt chẽ các điều khoản trong hợp đồng.

Khi ký kết hợp đồng Công ty cần chú ý nhiều tới điều khoản giá cả,

mẫu mã, chất lượng, bảo hành, cơ sở và điều kiện giao hàng, địa điểm giao

67

hàng bởi vì nếu không cẩn thận rất dễ bị thua thiệt. Hợp đồng cần quy định

chặt chẽ về mọi điều khoản để tránh những rắt rối về sau. Hiện nay các điều

khoản về bất khả kháng, khiếu nại, trọng tài chưa được Công ty quan tâm

đúng mức. Mặc dù cho đến nay Công ty chưa gặp phải rắc rối gì, nhưng trong

tương lai, không ai có thể đảm bảo rằng Công ty sẽ không gặp phải những vụ

tranh chấp, những trường hợp bất khả kháng theo chiều hướng bất lợi đối với

Công ty. Như vậy, để đảm bảo an toàn trong kinh doanh, Công ty cần phải

quan tâm hơn nữa tới vấn đề này.

1.4. Giải pháp đẩy mạnh công tác giao nhận hàng nhập khẩu.

* Để thực hiện tốt hợp đồng nhập khẩu, trước khi tàu cập cảng Công ty

cần làm một số việc sau:

- Yêu cầu nhà xuất khẩu cung cấp đầy đủ các giấy tờ cần thiết có liên

quan đến lô hàng nhập khẩu.

- Liên lạc với ngân hàng để mở thư tín dụng gồm việc sử dụng và thời

hạn có giá trị (nếu yêu cầu thanh toán bằng LC).

- Nếu hàng hoá nhập khẩu thuộc diện cần giấy phép, phải kiểm tra xem

giấy phép còn hiệu lực hay không.

- Phải tiến hành những công việc sơ bộ cho việc làm thủ tục hải quan,

kiểm tra biểu thuế và chuẩn bị như tờ khai hải quan.

- Phải tiến hành công việc cần thiết với các nhà chức trách tại cảng như

đăng ký trước công nhân xếp dỡ hàng hoá, diện tích bến cảng, các thiết bị bốc

dỡ và những điều kiện lưu kho.

* Công tác kiểm tra chất lượng, số lượng hàng nhập khẩu:

- Kiểm tra chất lượng là một trong những khâu quan trọng nhất trong

quá trình thực hiện hợp đồng. Chất lượng của hàng nhập khẩu ảnh hưởng trực

tiếp đến lượng hàng bán ra, doanh thu và uy tín của Công ty. Vì vậy Công ty

cần phải quan tâm hơn nữa tới hoạt động này. Trong giai đoạn tới khi Công ty

chủ trương nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất thì công tác kiểm tra

68

chất lượng cũng cần có sự sửa đổi linh hoạt hơn. Nếu như trước kia việc kiểm

tra chất lượng chỉ diễn ra khi hàng tới cảng thì bây giờ Công ty nên tiến hành

ngay từ khi xếp hàng lên tàu, đặc biệt với những hàng hoá mà Công ty đặt

theo mẫu yêu cầu thì nên tiến hành kiểm tra ngay trong quá trình sản xuất của

nhà cung cấp, việc kiểm tra này giúp Công ty nhận được hàng phù hợp với

chất lượng như đã thoả thuận trong hợp đồng tránh tình trạng hàng đến nơi

mà chất lượng không phù hợp phải trả lại, Công ty không nhận được hàng bỏ

lỡ cơ hội kinh doanh.

- Kiểm tra số lượng là một mắt xích quan trọng trong quá trình mua có

liên quan đến việc kiểm tra hiện trạng tất cả các hàng hoá được chuyển tới

Công ty. Nó chính thức hoá hoạt động nhận hàng trước khi lưu kho, vì vậy mà

công tác này cần được tiến hành khoa học hơn. Khi nhận được các chứng từ

giao hàng cùng với kiểm tra chi tiết sẽ phải đối chiếu với yêu cầu của chứng

từ mua hàng. Khi bốc hàng, dỡ hàng Công ty phải thường xuyên bám sát hiện

trường cập nhật số liệu từng ngày từng giờ hạn chế tối đa mất mát. Công ty

nên có giấy chứng nhận về trọng lượng (chứng từ lên bờ) khi chưa biết chính

xác mất mát thiệt hại và trong thời gian cho phép phải nhanh chóng kiểm tra

hàng để kịp thời cho thủ tục khiếu nại (nếu có).

* Thủ tục hải quan và thanh toán:

- Việc làm thủ tục hải quan cần phải nhanh chóng tránh để lưu kho bến

bãi gây tăng chi phí.

Yêu cầu đối với Công ty.

+ Phải chuẩn bị đầy đủ giấy tờ về lô hàng nhập khẩu như giấy phép,

hoá đơn, chứng nhận xuất xứ, vận đơn, giấy chứng nhận chất lượng.

+ Phải kê khai đầy đủ vào tờ khai hải quan và tạo điều kiện thuận lợi

nhất cho nhà chức trách kiểm tra nếu được yêu cầu.

+ Phải nộp thuế và chi phí đầy đủ.

- Thanh toán tiền hàng nhập khẩu.

69

Nếu Công ty không thực hiện đúng theo những điều kiện thanh toán thì

sẽ bị yếu thế hơn trong những cuộc thương lượng sau. Thậm chí dù là những

lý do ngẫu nhiên cũng có thể làm giảm uy tín của Công ty (tiếng xấu sẽ nhanh

chóng đồn xa). Bởi vậy khi đã nhận được hàng Công ty nên nhanh chóng làm

các thủ tục cần thiết để thanh toán cho nhà cung cấp. Trước khi thanh toán

Công ty phải kiểm tra kỹ lưỡng hoá đơn mà nhà cung cấp gửi tới xem họ có

thực hiện đúng những thoả thuận trong hợp đồng hay không. Cụ thể:

+ Số lượng hàng hoá trong hoá đơn có phù hợp với số lượng trong hợp

đồng hay không.

+ Giá các đơn vị hàng hoá trong hoá đơn có phù hợp với số lượng trong

hợp đồng hay không.

+ Các điều kiện thanh toán có phù hợp với các điều kiện đã định hay

không.

Việc thanh toán cũng phải dựa vào báo cáo kiểm tra chất lượng hàng

hoá của các bộ phận liên quan.

2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHÁC.

2.1. Thay đổi cơ cấu mặt hàng nhập khẩu của Công ty theo hướng

phục vụ các ngành sản xuất trong nước.

Trong tình hình hiện nay, việc nhập khẩu hàng hoá phục vụ tiêu dùng

không có khả năng phát triển được nữa mà phải giảm dần vì sản xuất trong

nước đã gần như thay thế được hàng nhập ngoại. Ngược lại, trước yêu cầu của

công nghiệp hoá và hiện đại hoá, sản xuất trong nước đòi hỏi phải nhập khẩu

rất nhiều vật tư, máy móc, thiết bị cần thiết có chất lượng cao, kỹ thuật tiên

tiến mà trong nước không có khả năng tự cung cấp. Vì vậy, nếu Công ty

không thay đổi cơ cấu mặt hàng nhập khẩu cho phù hợp với yêu cầu đó thì

hàng hoá của Công ty sẽ không thể tiêu thụ được hoặc có tiêu thụ được thì rất

70

chậm và như vậy Công ty không còn khả năng cạnh tranh và không thể tiếp

tục tồn tại được trên thương trường.

Mặt hàng nhập khẩu của Công ty cần phải được thay đổi về cơ cấu cho

phù hợp với nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước. Mặt hàng cần phải

được chú trọng nhất đó là nguyên liệu, vật tư, thiết bị kỹ thuật phục vụ cho

sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sản xuất hàng xuất khẩu. Đây là những

ngành kinh tế đang phát triển mạnh và có nhu cầu về nguyên liệu, vật tư, thiết

bị rất lớn để phục vụ cho việc phát triển đồng bộ các ngành sản xuất trong

nước trong hiện tại cũng như trong tương lai.

Mặt hàng truyền thống của Công ty từ trước đến nay là phương tiện vận

tải và xe máy cùng với hàng tiêu dùng như linh kiện điện tử, thiết bị nội thất,

đồ gia dụng... chỉ được coi là mặt hàng tạm thời trong thời gian đầu, nay cần

phải giảm xuống vì nhu cầu thị trường về những mặt hàng này ngày càng trở

nên bão hoà, nếu tiếp tục nhập khẩu nhiều sẽ không tiêu thụ được.

Điều chủ yếu là phải lựa chọn những mặt hàng khác nhau với xu hướng

biến động khác nhau để lập kế hoạch mặt hàng. Trong quá trình thực hiện các

kế hoạch kinh doanh, nhiều khi mặt hàng thay đổi không đúng theo kế hoạch

do nhu cầu mới nảy sinh trên thị trường, vì vậy Công ty cần luôn luôn có

những chiến lược dự phòng cho trường hợp này. Chẳng hạn như, khi mới

thành lập Công ty xác định mặt hàng kinh doanh nhập khẩu tạm thời là xe

máy, phương tiện vận tải, hàng tiêu dùng nhưng về lâu dài thì Công ty tập

trung chú ý xây dựng điều kiện để phát triển mặt hàng nguyên liệu, vật tư, thiết

bị, hoá chất cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sản xuất hàng xuất khẩu.

Để thực hiện việc thay đổi cơ cấu mặt hàng nhập khẩu, Công ty cần

tiến hành một số điều chỉnh có tính chất khả thi trên cơ sở điều kiện và khả

năng của mình. Việc thay đổi cơ cấu mặt hàng tuy có gây cho Công ty một số

khó khăn và bỡ ngỡ xong do khi mới bắt đầu đi vào hoạt động, Công ty đã

xác định rõ đâu là mặt hàng mang tính chất tạm thời, đâu là mặt hàng mang

71

tính chất chiến lược lâu dài, từ đó có những kế hoạch hợp lý. Cụ thể là, chẳng

hạn như với mặt hàng xe máy, ôtô Công ty luôn xác định đây chỉ là mặt hàng

tạm thời lúc bắt đầu xâm nhập thị trường, trong tương lai mặt hàng chính của

Công ty sẽ là hoá chất, vật tư, thiết bị, máy móc dùng cho công nghiệp, nông

nghiệp, sản xuất hàng xuất khẩu. Để chuẩn bị việc mua bán và tiêu thụ mặt

hàng này, Công ty đã tiến hành liên doanh liên kết với một số công ty, xí

nghiệp hoá chất trong địa bàn Hà Nội cũng ở một số tỉnh lân cận. Nhờ đó khi

bắt đầu nhập mặt hàng hoá chất, vật tư, thiết bị Công ty đã trở thành bạn hành

cung cấp nguyên vật liệu tin cậy của các công ty, xí nghiệp này. Đến lúc này,

một vấn đề mới nảy sinh là tuy đã tạo được một thị trường tiêu thụ từ các đơn

vị liên doanh liên kết, xong nếu chỉ dựa vào các bạn hàng này thì không thể

nâng cao doanh thu vì thế Công ty phải tiến hành một số biện pháp mở rộng

thị trường (như đã nêu ở phần II1).

2.2. Nâng cao công tác quản lý hoạt động kinh doanh.

Thực trạng hiện nay của Công ty là vốn ít, thiếu cán bộ chuyên môn

giỏi... trong khi đòi hỏi của cơ chế kinh doanh mới là phải không ngừng nâng

cao và mở rộng, đầu tư kỹ thuật mới vào sản xuất, lắp ráp hàng hoá, kinh

doanh phải năng động, hiệu quả, thích ứng với cơ chế thị trường. Tăng cường

cơ sở vật chất và hệ thống kinh doanh của Công ty mà thực chất là đổi mới và

nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, khắc phục những gì còn tồn tại.

a. Về vốn:

Để phát triển được nguồn vốn một cách có hiệu quả Công ty cần thực

hiện một số biện pháp sau:

- Chấp hành nghiêm chỉnh chế độ kế toán quản lý tài chính, tín dụng,

hối đoái của Nhà nước mà trước tiên là Công ty phải hoàn thành các loại thuế

phải nộp.

72

- Tính toán khả năng lỗ lãi, thời gian thu hồi vốn trong kinh doanh cũng

như dự tính trước được những rủi ro có thể xảy ra để có biện pháp phòng

ngừa.

- Kết hợp chặt chẽ sự vận động của vốn và hàng hoá lưu thông.

- Tăng nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hoá.

- Lựa chọn phương thức thanh toán thuận lợi an toàn tránh được tình

trạng ứ đọng vốn hay dây dưa trong thanh toán tiền hàng.

- Tận dụng vốn của chủ đầu tư trong nhập khẩu uỷ thác bằng cách yêu

cầu họ chuyển tiền đúng hạn. Như vậy sẽ tiết kiệm được tiền của Công ty tập

trung vào các dự án nhập khẩu tự doanh. Tuy nhiên cần áp dụng linh hoạt với

từng đối tượng bạn hàng để tăng sức mạnh trong cạnh tranh.

- Rút ngắn hợp lý quá trình thực hiện hợp đồng: tìm đối tác cung cấp,

ký kết hợp đồng, thời gian giao hàng... nhằm tăng số vòng quay vốn lưu động,

nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

- Cần quản lý tốt lượng hàng hoá dự trữ, thanh lý kịp thời những hàng

hoá ứ đọng, hàng tồn kho để giải phóng vốn.

Ngoài ra, Công ty nên giao vốn cho từng phòng, từng chi nhánh để họ

thực hiện chế độ tự hạch toán, tự cân đối đồng thời có kế hoạch giám sát,

kiểm tra chi tiết. Điều này sẽ giúp cho các phòng, các chi nhánh chủ động hơn

trong kinh doanh, đồng thời sẽ làm giảm gánh nặng quản lý cho các phòng

ban khác, tránh được sự lơi lỏng trong quản lý tài chính và thắt chặt hơn mức

độ trách nhiệm của từng thành viên đối với tài sản và nguồn vốn của Công ty.

Ngoài công việc khai thác tối đa hiệu quả nguồn vốn hiện có của Công

ty, ban lãnh đạo cần có những biện pháp năng động huy động vốn cho hoạt

động kinh doanh như:

- Tích cực đẩy mạnh quan hệ với các tổ chức tài chính như quỹ tiền tệ

quốc tế, ngân hàng phát triển Châu Á... nhằm tranh thủ các nguồn vốn ưu đãi

và những sự trợ giúp khác.

73

- Ưu tiên trích lợi nhuận thu được từ hoạt động để tăng nguồn vốn phục

vụ kinh doanh.

b) Về cơ sở vật chất.

Cần nâng cấp sửa sang cửa hàng để thu hút khách hàng, đầu tư mở rộng

hệ thống các cửa hàng, đại lý, hệ thống bảo hành...

- Mở rộng thêm các điểm bán hàng ở các khu vực có dân cư đông đúc, nhất

là ở vùng ngoại thành Hà Nội, chú ý nơi có nhu cầu gia tăng để tiêu thụ hàng hoá,

đồng thời trang bị lại các phương tiện bán hàng như: tủ hàng, quầy hàng...

- Đầu tư và tăng cường công nghệ mới cho dây chuyền lắp ráp xe máy

dạng CKD, tiến tới lắp ráp để tạo ra một lượng hàng hoá ổn định cho nguồn

hàng kinh doanh.

c) Về lao động.

- Công ty phải nhanh chóng thay đổi hoàn thiện cơ cấu cán bộ cho từng

cấp và từng chức danh. Việc đổi mới cán bộ phải tập trung trước hết vào các

khâu quản lý, các bộ phận xuất nhập khẩu, nhân viên kinh doanh trực tiếp,

tăng cường cán bộ lãnh đạo có năng lực nghiệp vụ. Giảm bớt những bộ phận

lao động không cần thiết hoặc hoạt động không có hiệu quả.

- Thường xuyên đôn đốc quản lý hoạt động của các đơn vị kinh doanh

hạch toán độc lập để không xảy ra các vi phạm chính sách đáng tiếc gây thất

thoát vốn.

3. Một số kiến nghị đối với Nhà nước và Bộ chủ quản.

Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, các

hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động của nhập khẩu nói riêng đều nằm

dưới sự kiểm soát và hướng dẫn của Nhà nước như: Các chính sách của Nhà

nước về xuất nhập khẩu có ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược, kế hoạch phát

triển kinh doanh, mặt hàng nhập khẩu, các mức thuế... Để có thể làm tốt công

tác nhập khẩu, ngoài sự nỗ lực của chính bản thân Công ty thì Nhà nước cũng

cần có những biện pháp, chính sách và cơ chế điều hành cho phù hợp, vận

dụng quan điểm chung về kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ

74

mô của Nhà nước để chủ động cung cấp vật tư, thiết bị phục vụ sản xuất, phát

triển kinh doanh, tạo điều kiện cho Công ty phát huy hết thế mạnh của mình.

Cụ thể là một số biện pháp như sau:

+ Xoá bỏ những hạn chế bằng hạn ngạch hoặc thay hạn ngạch bằng

thuế cho một số mặt hàng chọn lọc mà Nhà nước cần bảo hộ. Thuế vẫn phải

được duy trì như một công cụ thực hiện mục tiêu kinh tế nhất định. Nhưng

Nhà nước cần xây dựng một biểu thuế rõ ràng, phù hợp và đơn giản hơn mà

vẫn đảm bảo chặt chẽ về mặt pháp lý. Đồng thời đơn giản hoá các thủ tục

hành chính trong nhập khẩu tương tự như xoá bỏ thủ tục cấp giấy phép nhập

khẩu từng chuyến.

+ Giảm giá đồng tiền nội địa sau đó giữ vững ổn định. Trong thưòi gian

qua có ý kiến cho rằng: Nếu loại trừ yếu tố lạm phát của đồng Đô la Mỹ và

đồng tiền Việt Nam thì thực tế đồng tiền Việt Nam tăng lên khá mạnh. Ở giai

đoạn phát triển, đổi mới nền kinh tế, đẩy mạnh giao lưu quốc tế và đặc biệt

đẩy mạnh việc nhập khảu vật tư, nguyên liệu cần thiết cho sản xuất trong

nước, chúng ta cần áp dụng chính sách tỷ giá cho linh hoạt, lấy việc ổn định

giá thực tế làm mục tiêu để điều chỉnh giá danh nghĩa. Đây là cơ sở để xây

dựng thành công chiến lược kinh doanh, mở cửa kinh tế, khuyến khích xuất

nhập khẩu, bảo vệ sản xuất trong nước, duy trì sự phát triển kinh tế. Việc điều

chỉnh tỷ giá hối đoái phải phù hợp làm cho xuất khẩu có lãi và nhập khẩu có

hiệu quả, sẽ khuyến khích sản xuất phát triển mà không cần đến chính sách

trợ cấp trực tiếp.

+ Thi hành các chính sách vĩ mô phù hợp nhằm làm ổn định môi trường

kinh tế vĩ mô trước khi tiến hành tự do hoá thương mại, vì không có doanh

nghiệp nào làm ăn thành công trong quá trình tự do hoá thương mại với mức

lạm phát cao, vì thế đồng tiền nội địa thực tế bị lên giá dù Chính phủ thi hành

các chính sách giảm giá.

75

+ Còn đối với thuế doanh thu và thuế xuất nhập khẩu: Việc cải cách hệ

thống thuế phải nhằm sửa đổi những bất hợp lý và quá phức tạp làm cho

chính sách thuế trở nên phù họp với tình hình thực tế nhằm góp phần đẩy

mạnh sản xuất, mở rộng hoạt động nhập khẩu, tránh hiện tượng thất thu thuế.

Đồng thời, việc sửa đổi chính sách thuế phải tuân theo mô hình có tăng có

giảm, đảm bảo cân đối ngân sách. Hạ thuế suất của những mặt hàng có thuế

nhập khẩu cao hơn 60% xuống mức thuế tối đa 60%. Phần chênh lệch giữa

mức thuế nhập khẩu hiện hành với mức thuế mới được chuyển sang thuế tiêu

thụ đặc biệt như với hàng tiêu thụ trong nước.

* Một số kiến nghị đối với Bộ Thương mại:

- Đề nghị Bộ sớm xác định rõ định hướng về mô hình kinh doanh của

Công ty. Đồng thời bổ xung cho TST những ngành kinh doanh khác trong

điều kiện kinh doanh có hiệu quả, không ảnh hưởng đến hoạt động kinh

doanh của các doanh nghiệp khác trong cùng ngành.

- Bộ cần tạo điều kiện cho Công ty phát huy tối đa khả năng kinh doanh

các ngành hàng đặc biệt là các ngành hàng thiết bị, máy móc, vật tư phục vụ

cho nông nghiệp, công nghiệp, sản xuất hàng xuất nhập khẩu bằng việc cấp

hạn ngạch nhập khẩu cho phù hợp với khả năng của Công ty.

- Đề nghị Bộ cải tiến hơn nữa các thủ tục hành chính nhất là các quy

định về cơ chế xuất nhập khẩu, các quy định trong việc đăng ký hợp đồng

nhập khẩu. Cần thống nhất một phương thức, tạo điều kiện thuận lợi giúp các

doanh nghiệp hoàn thành các thủ tục hành chính nhanh gọn nhất.

- Tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ khả năng về đầu tư vốn, tìm đối tác

nước ngoài, tạo tiền đề cho việc mở rộng và tận dụng vốn đầu tư nước ngoài.

76

KẾT LUẬN

Cùng với xuất khẩu, hoạt động nhập khẩu hiện nay có một vị trí rất

quan trọng đối với nền kinh tế thế giới nói chung cũng như Việt Nam nói

riêng. Nó góp phần giải quyết tình trạng mất cân đối giữa cùng và cầu, tạo

điều kiện đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật chuyển dịch

cơ cấu thị trường theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.

Trong những năm qua công ty dịch vụ du lịch và thương mại TST được

đánh giá là một doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, chấp hành tốt chính

sách pháp luật của Nhà nước. Trong quá trình hoạt động công ty không ngừng

tự hoàn thiện mình, từng bước tháo gỡ khó khăn về vốn, cải tiến phương pháp

quản lý... Vì vậy uy tín của công ty đang ngày càng được nâng cao. Các sản

phẩm nhập khẩu của công ty luôn đảm bảo chất lượng đáp ứng được nhu cầu

thiết yếu của sản xuất và tiêu dùng mà nền kinh tế nội địa chưa thoả mãn

được. Tuy nhiên kinh doanh là quá trình tự hoàn thiện mình, vì vậy công ty

vẫn còn có những điểm yếu cần được khắc phục. Những điểm yếu này xuất

phát từ mặt hàng, thị trường, trình độ nghiệp vụ của các cán bộ kinh

doanh...Chính vì vậy với đề tài "Một số giải pháp kỹ thuật nghiệp vụ nhằm

nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tại Công ty dịch vụ du lịch và thương

mại TST" em mong muốn phần nào góp ý kiến của mình nhằm hoàn thiện

hơn nữa hoạt động kinh doanh của công ty.

Một lần nữa em xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến thầy giáo hướng dẫn

Bùi Đức Dũng và tập thể cán bộ phòng kinh doanh đã giúp đỡ em hoàn thành

luận văn của mình.

77