intTypePromotion=1
ADSENSE

Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

21
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết trình bày một số bất cập trong đào tạo đại học ở nước ta hiện nay; một số khuyến nghị và giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo đại học ở nước ta trong thời gian tới. Để nắm chi tiết hơn nội dung nghiên cứu, mời các bạn cùng tham khảo bài viết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập

  1. Nghiªn cøu, trao ®æi Khoa häc Lao ®éng vµ X· héi - Sè 24/Quý III- 2010 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP PGS.TS. Lê Thanh Hà Phó Hiệu trưởng Đại học Lao động – Xã hội Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02 được quy định cứng trong các chương trình tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về đổi khung còn lớn (trên 50% tổng thời lượng) mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học nên các trường còn gặp nhiều khó khăn Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 đã chỉ rõ: trong việc xây dựng chương trình đào tạo “Đổi mới giáo dục đại học phải bảo đảm đặc thù của mình. Điều này có ảnh hưởng tính thực tiễn, hiệu quả và đồng bộ; lựa không thuận lợi đến việc tạo dựng thương chọn khâu đột phá, lĩnh vực ưu tiên và cơ hiệu đào tạo. sở trọng điểm để tập trung nguồn lực tạo Việc xây dựng chương trình đào tạo của bước chuyển rõ rệt. Việc mở rộng quy mô các trường đại học rất ít khi có sự tham gia phải đi đôi với nâng cao chất lượng; thực của người sử dụng lao động. Khi mở ngành hiện công bằng xã hội phải đi đôi với bảo đào tạo mới, một số trường gần như “sao đảm hiệu quả đào tạo; phải tiến hành đổi chép” chương trình đào tạo của trường mới từ mục tiêu, quy trình, nội dung đến khác. Ngoài ra, một số trường khi xây phương pháp dạy và học, phương thức dựng chương trình đào tạo còn dựa vào đánh giá kết quả học tập; liên thông giữa khả năng của đội ngũ giảng viên hiện có các ngành, các hình thức, các trình độ đào hay khả năng thuê giảng viên giảng dạy. tạo; gắn bó chặt chẽ và tạo động lực để Vì những lý do trên nên nhiều sinh viên tiếp tục đổi mới giáo dục phổ thông và sau khi tốt nghiệp đã vừa thừa vừa thiếu giáo dục nghề nghiệp”. Chủ chương này kiến thức và khó tìm được việc làm đúng thể hiện yêu cầu tất yếu phải nâng cao chất ngành đào tạo. lượng đào tạo đại học ở nước ta trong thời Các chương trình đào tạo của hầu hết gian tới để đảm bảo yêu cầu hội nhập. các trường đều có ghi rõ mục tiêu. Tuy I. Một số bất cập trong đào tạo đại nhiên, mục tiêu đào tạo của các chương học ở nước ta hiện nay trình cùng khối ngành còn chưa rõ ràng, cụ 1. Chương trình đào tạo thể và khá giống nhau. Ngoài ra, chương Các chương trình đào tạo của các trình đào tạo của một số trường còn chép trường đại học ở nước ta hiện nay đều gần như y nguyên mục tiêu đào tạo được được xây dựng trên chương trình khung do ghi trong chương trình khung của Bộ Giáo Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Ưu dục – Đào tạo. điểm của nó là giúp chương trình đào tạo Rất ít trường dành sự quan tâm đặc biệt của các trường đạt được sự tương thích về cho việc sửa đổi nội dung chương trình đào các kiến thức cốt lõi, tạo thuận lợi cho việc tạo các ngành học trong quá trình đào tạo liên thông giữa các trường, nhất là liên để phù hợp hơn với nhu cầu của thị trường thông dọc. Tuy nhiên, do phần kiến thức 15
  2. Nghiªn cøu, trao ®æi Khoa häc Lao ®éng vµ X· héi - Sè 24/Quý III- 2010 lao động và nhu cầu hội nhập quốc tế. môn học, nội dung đào tạo thiếu tính Nguyên nhân chính của vấn đề này chính chuyên sâu và chất lượng đào tạo giảm. là tâm lý ngại đổi mới, tâm lý bảo thủ hoặc 2. Tổ chức đào tạo chưa đủ các nguồn lực cần thiết (nhân lực, vật lực, tài lực) để thực hiện sự đổi mới. Hiện nay, hầu hết các trường đại học đều thực hiện hai loại hình đào tạo là chính Một vấn đề khác cần nhấn mạnh là khi quy và vừa làm vừa học. Ngoài ra, một số xác định địa điểm làm việc của sinh viên trường còn tổ chức thêm các hình thức sau khi ra trường, các trường đại học khác như đào tạo liên thông, từ xa. Theo thường đặt ra yêu cầu khá cao, chẳng hạn, quy định thì dù đào tạo theo hình thức nào sinh viên tốt nghiệp phải vừa có thể làm thì chất lượng đào tạo đều như nhau. Tuy việc ở các doanh nghiệp, vừa có thể làm nhiên, trên thực tế, chất lượng đào tạo của việc ở các tổ chức chính phủ và tổ chức các loại hình đào tạo phi chính quy còn có NGO, các viện nghiên cứu, các trường đại nhiều điều cần xem xét. Tình trạng này là học,… nên dẫn đến tình trạng là môn học do thời gian đào tạo thực tế và nội dung nào cũng thấy cần thiết phải đưa vào đào tạo của các chương trình đào tạo phi chương trình đào tạo. Đến khi thống nhất chính quy thường bị rút ngắn. Mặt khác, được tên các môn học cần phải đưa vào yêu cầu của đề kiểm tra, thi hết môn… đối chương trình đào tạo, việc xác định thời với các loại hình đào tạo này cũng thường lượng môn học cũng gặp phải rào cản. Các thấp hơn so với đào tạo chính quy; việc coi bộ môn đều cho rằng môn học mình đảm thi, chấm thi cũng “dễ dãi” hơn. nhận là rất cần thiết và nhất thiết phải được dành số tiết (hoặc tín chỉ) cao mới có thể Việc đổi mới phương pháp dạy và học đảm bảo chất lượng đào tạo. Điều đó dẫn đã được các trường đại học thực hiện từ rất đến việc “thỏa hiệp” trong việc xây dựng lâu. Tuy nhiên, hoạt động này ở nhiều chương trình đào tạo mà hậu quả của nó đôi trường vẫn còn mang tính hình thức và khi là một số chương trình đào tạo có tổng mới chỉ đổi mới được cách thức chứ không số đơn vị học trình (hoặc tín chỉ) quá cao. phải phương pháp dạy học. Nhờ được trang bị nhiều thiết bị điện tử hỗ trợ cho Bên cạnh đó, có trường lại xuất phát từ dạy học, một số giảng viên đã thay thế việc quan điểm là phải làm sao cho sinh viên ghi bảng và đọc chép bằng việc nhìn màn của mình ra trường sớm để “chớp cơ hội” hình và đọc lại cho sinh viên chép. Phương việc làm. Do vậy, số đơn vị học trình (hoặc pháp giảng dạy như vậy đã làm hạn chế tín chỉ) được để ở mức cận dưới (nghĩa là đáng kể tính chủ động, sáng tạo của sinh chương trình đào tạo hệ đại học chỉ còn viên. Theo số liệu điều tra của Trung tâm khoảng 180 đơn vị học trình). Điều này, đảm bảo chất lượng đào tạo và nghiên cứu theo một số trường là “tiết kiệm” được chi phát triển giáo dục vào năm 2005 đối với 6 phí trả cho giảng vượt giờ và “tiết kiệm” trường đại học lớn nước ta14, có đến 89,5% nhân lực, là một trong các giải pháp để sinh viên thừa nhận rằng thỉnh thoảng hoặc tăng thu nhập cho giáo viên. Điều đó dẫn đến việc cắt giảm thời lượng của một số 14 Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo dục đại học - Chất lượng và đánh giá, 2005 (trang 247). 16
  3. Nghiªn cøu, trao ®æi Khoa häc Lao ®éng vµ X· héi - Sè 24/Quý III- 2010 thường xuyên chép lại hoàn toàn lời giảng trong điều kiện các trường đang tiến hành của giảng viên. Tình trạng thụ động của hoạt động sinh viên đánh giá giảng viên. sinh viên còn được thể hiện ở việc tham Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả gia phát biểu trên lớp. Cũng trong cuộc học tập của sinh viên có hai chức năng điều tra này, 72,1% sinh viên nói rằng chính là (1) cho điểm xếp loại và (2) thúc hiếm khi hoặc không bao giờ chủ động đẩy, hỗ trợ, định hướng cho người học. phát biểu. Ngoài ra, một điểm quan trọng Nhiều trường đại học mới coi trọng chức khác trong việc tổ chức đào tạo đại học năng thứ nhất của kiểm tra, đánh giá. Việc hiện nay là việc thời gian lên lớp của sinh kiểm tra, đánh giá kết quả học tập sinh viên vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thời viên vẫn theo đáp án rập khuôn nên cũng lượng của từng môn nên chưa khuyến góp phần hạn chế đi sự độc lập, sáng tạo khích nhiều được hoạt động tự học. Mặc của sinh viên. dù số giờ học dành cho sinh viên thảo luận và trình bày ở các trường đại học đã tăng Một bất cập khác có liên quan đến cả lên đáng kể trong thời gian gần đây song nội dung chương trình cũng như việc tổ việc hướng dẫn thảo luận, trình bày và chức đào tạo ở bậc đại học chính là việc định hướng cho sinh viên vẫn chưa đạt quá trú trọng đến kiến thức hàn lâm mà coi được kết quả mong muốn. Nguyên nhân nhẹ kiến thức thực tế và kỹ năng làm việc. chủ yếu dẫn đến vấn đề này là do gần đây, Sinh viên chủ yếu mới được học qua sách nhiều trường phát triển quá “nóng”, phải vở, tài liệu, ít có cơ hội được thực hành tuyển thêm nhiều giảng viên trẻ và cho nên sau khi ra trường thường mất một phép những giảng viên còn thiếu các kiến khoảng thời gian dài để làm quen với thực thức, kỹ năng, kinh nghiệm cần thiết giảng tế. Nhiều sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi dạy đại học. Những giảng viên này chủ yếu nhưng không biết cách viết đơn xin việc; được học ở dạng thụ động nên hoặc vẫn giảng sinh viên tốt nghiệp ngành kế toán nhưng dạy theo cách thụ động, hoặc nếu bị buộc không biết phân biệt hoá đơn giả và hoá phải dạy theo phương pháp lấy người học làm đơn thật; sinh viên được 10 điểm môn học trung tâm thì giảng với chất lượng thấp. kinh tế vi mô những không biết cách tính toán đường cầu trong thực tế của một hàng Một vấn đề khác cũng cần nhấn mạnh là hoá nào đó… những người làm công tác đào tạo chưa có biện pháp hữu hiệu để khuyến khích và 3. Giảng viên thậm chí là buộc sinh viên tự học tập, Mặc dù triết lý giáo dục hiện đại coi nghiên cứu. Trong Hội nghị tổng kết đào người học là trung tâm nhưng ai cũng thừa tạo đại học được tiến hành tháng 10/2009 ở nhận rằng “người dạy” có vai trò quan Trường Đại học Lao động – Xã hội, cựu trọng đối với chất lượng đào tạo đại học. sinh viên đại học đã nhấn mạnh, họ cần Tuy nhiên chất lượng của giảng viên đại được tạo sức ép cao và sức ép liên tục học hiện nay vẫn còn nhiều bất cập. Một trong học tập. Song trên thực tế, các giảng thực tế hiển nhiên là tỷ lệ giảng viên có viên lại ít khi tạo sức ép cho sinh viên bởi trình độ cao (tiến sỹ, PGS, GS) và tỷ lệ tâm lý sợ bị sinh viên phản đối, nhất là giảng viên có thâm niên giảng dạy cao 17
  4. Nghiªn cøu, trao ®æi Khoa häc Lao ®éng vµ X· héi - Sè 24/Quý III- 2010 đang ngày càng giảm đi mà nguyên nhân đầu ra, theo đó, để thiết kế chương trình chính là sự rời bỏ của một số giảng viên có đào tạo theo chuẩn đầu ra, các trường cần trình độ cao hoặc có tiềm năng phát triển thu thập thông tin về những kiến thức, kỹ tốt để sang chỗ làm việc mới có thu nhập năng và thái độ đạt được của sinh viên sau cao hơn và sự phát triển quá nóng của các khi được đào tạo từ các nhóm đối tượng có trường dẫn đến một số trường phải tuyển ồ liên quan, gồm: người sử dụng lao động, ạt giảng viên. Một thực tế khác cũng cần sinh viên (sinh viên đang học và sinh viên đã đề cập đến là khi tuyển giảng viên mới, đi làm), giảng viên, gia đình sinh viên, … nhiều sinh viên giỏi dự kiến tuyển đã Cũng cần có quy định rõ, mục tiêu của không lựa chọn việc ở lại trường mà đi tìm từng chương trình đào tạo cần được viết cụ kiếm cơ hội việc làm ở nơi khác bởi lý do thể, rõ ràng và nhất thiết phải thể hiện thu nhập thấp. Ngoài ra, cũng do thu nhập được tính đặc thù của mỗi chương trình thấp nên một số giảng viên không chú tâm đào tạo so với các chương trình khác thuộc nhiều vào việc nâng cao chất lượng giảng cùng khối ngành. dạy của những giờ học được trả lương theo Đối với các trường: quy định. Hơn nữa, hầu hết giảng viên đại - Nên thiết lập các kênh cần thiết để học phải làm thêm, dạy thêm nên không có giúp cho việc cập nhật thông tin phản hồi nhiều thời gian để sưu tầm, nghiên cứu từ phía người sử dụng lao động, sinh viên tài liệu để nâng cao trình độ và chất đang học, sinh viên đã tốt nghiệp ra lượng giảng dạy. trường,… về chương trình đào tạo của nhà II. Một số khuyến nghị và giải pháp trường. Từ đó xác định những kiến thức, để nâng cao chất lượng đào tạo đại học kỹ năng, thái độ cần điều chỉnh, sửa đổi, ở nước ta trong thời gian tới cập nhật và bổ sung trong chương trình 1. Về chương trình đào tạo đào tạo. Các phương pháp có thể sử dụng Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: là điều tra xã hội học hoặc mở Hội nghị, - Nên giảm bớt phần kiến thức bắt buộc Hội thảo về điều chỉnh chương trình đào tạo trong chương trình khung để tạo điều kiện với sự tham gia của các bên liên quan v.v… chủ động hơn cho các trường. Có thể đổi - Nên cập nhật trong các chương trình mới việc xây dựng chương trình khung đào tạo quốc tế và sự thay đổi của các theo hướng quy định về chuẩn kiến thức, chương trình này, xác định những nội dung kỹ năng để được công nhận tốt nghiệp còn có thể đưa vào chương trình đào tạo của chương trình đào tạo cụ thể sẽ do các trường mình để tăng tính hội nhập. trường tự xây dựng. - Nên xây dựng quan điểm và chiến - Cần có quy định bắt buộc về sự tham lược đào tạo riêng của trường, từ đó tạo ra gia của người sử dụng lao động khi các chương trình và nội dung đào tạo mang sắc trường đại học xây dựng chương trình đào thái riêng. Không nên đặt ra quá nhiều mục tạo của mình. tiêu cho một chương trình đào tạo. - Trong tương lai gần, nên quy định việc - Nên xây dựng chế độ khuyến khích thiết kế, xây dựng chương trình đào tạo hữu hiệu kể cả vật chất và tinh thần cho phải được thực hiện dựa trên các chuẩn việc viết, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung giáo 18
  5. Nghiªn cøu, trao ®æi Khoa häc Lao ®éng vµ X· héi - Sè 24/Quý III- 2010 trình, chương trình giảng dạy để khuyến viên và có cơ chế khuyến khích thông qua khích sự đổi mới, hạn chế sức ỳ. Chẳng các hoạt động như thưởng điểm quá trình, hạn, điều chỉnh tăng kinh phí biên soạn, cộng điểm rèn luyện, miễn thi v.v… cho xây dựng chế độ thưởng đối với các cá sịnh viên. nhân tích cực tham gia đổi mới chương - Hoạt động kiểm tra, đánh giá phải đảm trình đào tạo v.v… bảo thực hiện được cả hai chức năng như 2. Về tổ chức đào tạo đã đề cập ở trên, trong đó tuỳ đặc điểm của Bộ Giáo dục và Đào tạo cần tăng cường mỗi môn học mà có sự kết hợp các hình các biện pháp để kiểm soát được việc tổ thức đánh giá cho phù hợp. Đặc biệt, tiêu chức, đánh giá và kiểm định chất lượng chí kiểm tra, đánh giá cần được xem xét đào tạo ở các hình thức đào tạo khác nhau trên hai mặt là tính “chính xác” và tính (chính quy, tại chức và liên thông). Công “hợp lý”. Muốn vậy, đối với các môn học khai hóa các kết quả đánh giá này để tạo chuyên ngành thì việc thi hết môn nên sức ép cho các trường buộc phải nâng cao được thực hiện dưới hình thức viết tiểu chất lượng đào tạo. luận hay trình bày kết quả nghiên cứu thực tế. Khi chấm điểm nên đặc biệt chú ý đến Đối với các trường, việc đổi mới này việc thưởng điểm cho sự sang tạo. cần được thực hiện theo hướng sau: - Nên thiết lập mạng lưới đào tạo liên - Quá trình dạy học phải được tổ chức kết giữa trường và doanh nghiệp, xây dựng trên cơ sở thực sự “coi người học là trung chương trình thực hành của sinh viên tại tâm”. Các trường đại học phải coi người học doanh nghiệp sao cho việc thực hành của là “thượng đế” và là chủ thể của nhận thức sinh viên tại doanh nghiệp có mang lại lợi nên việc tổ chức đào tạo cần đề cao tính tích ích thực tế cho doanh nghiệp. cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên. 3. Về giảng viên - Quá trình đào tạo đại học phải đảm bảo sự cân đối, hài hoà để đạt được 4 mục Để thu hút và giữ chân được nhân tài tiêu cơ bản hay bốn trụ cột của giáo dục mà làm giảng viên, chế độ tiền lương của UNICEF đã đưa ra: (1) học để biết; (2) học giảng viên đại học phải được cải cách theo để làm; (3) học để cùng chung sống và (4) hướng thể hiện đúng giá trị, quan hệ cung - học để tự khẳng định mình. cầu trên thị trường lao động và đảm bảo mức sống cho đội ngũ giảng viên đại học. - Việc đổi mới phương pháp dạy học Các trường không nên phát triển quy mô phải được thực hiện theo hướng có sự kết đào tạo quá nóng. Không nên tuyển giảng hợp của nhiều phương pháp khác nhau viên ồ ạt và phải hết sức quan tâm đến việc (thuyết trình, cùng tham gia, thảo luận/ đào tạo giảng viên, đối xử tốt với giảng tình huống…) đối với những nội dung viên và quan tâm đến việc “tạo sân” cho khác nhau. giảng viên, qua đó giúp họ có sự phát triển - Giảm bớt thời gian lên lớp và tăng nhanh về nghề nghiệp./. thêm thời gian dành cho tự học, thực hành của sinh viên. Tăng áp lực học tập cho sinh 19
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2