BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ----o0o----

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

NHẰM NÂNG CAO

CÔNG TY

SINH VIÊN THỰC HIỆN

:

MÃ SINH VIÊN

: A15565

CHUYÊN NGÀNH

:

HÀ NỘI – 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ----o0o----

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

NHẰM NÂNG CAO

Giảng viên hƣớng dẫn : Vũ Lệ Hằng Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Chuyên ngành

– N

: Cao T Trinh : A15565 : T

Hà Nội – 2014

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo, cô giáo trường Đại học Thăng Long, đặc

biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo Vũ Lệ Hằng đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này. Em cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của các cô chú, anh

chị công tác tại Công ty Cổ Phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận đã nhiệt tình

giúp đỡ em trong việc cung cấp số liệu và thông tin thực tế để chứng minh cho các kết

luận trong khóa luận của em.

Vì giới hạn kiến thức và khả năng lập luận của bản thân còn nhiều hạn chế nên

bài luận văn không tránh khỏi thiếu sót. Em kính mong sự thông cảm cũng như mong nhận được sự góp ý, bổ sung của các thầy cô và Công ty để đề tài của em được đầy đủ

và hoàn thiện hơn.

Hà Nội, ngày 25 tháng 3 năm 2014

Sinh viên

Cao Thị Trinh

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện

có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên

cứu của người khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có

nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng.

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

Cao Thị Trinh

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU

CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH

VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CỦA DOANH NGHIỆP ............ 1

1.1. Tổng quan về TSCĐ của DN ........................................................................... 1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của TSCĐ trong DN .............................. 1 1.1.1.

1.1.1.1. Khái niệm TSCĐ ................................................................................... 1

1.1.1.2. Đặc điểm TSCĐ .................................................................................... 2 1.1.1.3. Vai trò của TSCĐ ................................................................................. 3

1.1.2. Phân loại TSCĐ trong DN ....................................................................... 4

1.1.3. Kết cấu TSCĐ trong DN .......................................................................... 6

1.1.3.1 Khái niệm kết cấu TSCĐ ....................................................................... 6

1.1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu TSCĐ ........................................... 6

1.1.4. Các phương pháp tính khấu hao TSCĐ ................................................... 7

1.2. Nội dung công tác quản lý sử dụng TSCĐ tại DN ........................................ 9 Quản lý đầu tư vào TSCĐ ........................................................................ 9 1.2.1.

1.2.2. Quản lý sử dụng, giữ gìn và sữa chữa TSCĐ. ......................................... 9

1.2.3. Quản lý khấu hao TSCĐ trong DN ........................................................ 10

1.2.4. Quản lý công tác kiểm kê, đánh giá lại TSCĐ ....................................... 11

1.3. Hiệu quả sử dụng TSCĐ của DN .................................................................. 11 Khái niệm hiệu quả sử dụng TSCĐ ....................................................... 11 1.3.1.

1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ trong DN .................... 11

1.4. Một số yếu tố ảnh hƣởng tới hiệu quả sử dụng TSCĐ ............................... 13 Nhân tố chủ quan ................................................................................... 13 Nhân tố khách quan ............................................................................... 15 1.4.1. 1.4.2.

1.5. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ trong DN ................ 16 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ ..................................... 16 1.5.1. 1.5.2. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ ............................ 17

CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TSCĐ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KHOÁNG SẢN BÌNH THUẬN .................................. 19 2.1. Tổng quan về Công ty Cổ Phần Khoáng sản Bình Thuận ......................... 19 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty .................................... 19 2.1.1.

2.1.2. Cơ cấu bộ máy quản lý Công ty ............................................................. 20

2.1.3. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh ............................................. 24

2.2. Thực trạng tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ

phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận ......................................................... 25 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty ......................... 25 2.2.1.

2.2.2. Cơ cấu tài sản của Công ty. ................................................................... 30

2.3. Thực trạng quản lý và sử dụng TSCĐ tại Công ty Cổ phần Công nghiệp

Khoáng sản Bình Thuận ......................................................................................... 34 Công tác quản lý, sử dụng TSCĐ tại Công ty........................................ 34 2.3.1.

2.3.2. Đánh giá tình hình sử dụng TSCĐ tại Công ty ...................................... 35

2.3.2.1 Thực trạng kết cấu TSCĐ tại Công ty ................................................ 35 2.3.2.2 Tình hình trích khấu hao và quản lý tại Công ty ................................ 38

2.3.3. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng TSCĐ của Công ty Cổ phần

Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận .................................................................. 41

2.4. Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng TSCĐ tại Công ty Cổ phần Công

nghiệp Khoán Sản Bình Thuận .............................................................................. 45 Kết quả đạt được .................................................................................... 45 2.4.1.

2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân ........................................................................ 45

CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHIỆP KHOÁNG SẢN BÌNH THUẬN..... ........................................................................................................ 47

3.1. Định hƣớng hoạt động của Công ty Cổ phần Công nghiệp Khoáng sản

Bình Thuận ............................................................................................................... 47

3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ tại Công ty Cổ phần

Khoáng sản Bình Thuận ......................................................................................... 48 Nâng cao hiệu suất sử dụng TSCĐ ........................................................ 48 3.2.1.

3.2.2. Nâng cao tỷ suất sinh lời của TSCĐ ...................................................... 49

3.2.3. Tăng cường công tác bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên

nhằm nâng cao trình độ sử dụng và quản lý TSCĐ. ............................................. 49 3.2.4. Chủ động đầu tư mua sắm TSCĐ mới, nâng cấp TSCĐ cũ, phát huy tối đa công suất của tài sản, tăng năng lực sản xuất, thực hiện đầu tư theo chiều sâu. ………………………………………………………………………………….51

3.2.5. 3.2.6. Tìm kiếm nguồn tài trợ cho đầu tư, đổi mới TSCĐ. .............................. 52 Thanh lý, nhượng bán những tài sản đã quá cũ hoặc không còn phù hợp

với yêu cầu của sản xuất kinh doanh. .................................................................... 52 KẾT LUẬN…………………………………………………………………….. 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………….55

DANH MỤC

Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ

CBNV Cán bộ nhân viên

DT Doanh thu

ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông

GTCL Giá trị còn lại

HĐQT Hội đồng quản trị

HĐTC Hoạt động tài chính

NV Nguồn vốn

TC Tài Chính

TSCĐ Tài sản cố định

TCDH Tài sản dài hạn

TSNH Tài sản ngắn hạn

VCSH Vốn chủ sở hữu

DANH MỤC BIỂU BẢNG, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, CÔNG THỨC

Sơ Đồ Tổ Chức Công Ty Cổ Phần Công Nghiệp ......................................... 20

Bảng 2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty giai đoạn 2010-2012 ................ 26

Bảng 2.2. Cơ cấu tài sản của Công ty giai đoạn 2010-2012 ......................................... 31

Bảng 2.3. Cơ cấu TSDH của Công ty giai đoạn 2010-2012 ......................................... 33

Bảng 2.4. Cơ cấu TSCĐ của Công ty giai đoạn 2010-2012.......................................... 36

Bảng 2.5. Tình hình khấu hao TSCĐ của Công ty giai đoạn 2010-2012 ...................... 39

Bảng 2.6. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng của TSCĐ giai đoạn 2010-2012 ... 42

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Kinh tế Việt Nam những năm trở lại đây có sự phát triển và chuyển dịch đáng khích lệ. Đó là thành quả của công cuộc đổi mới nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan

liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh

tế thị trường các DN sản xuất muốn tồn tại và phát triển nhất định phải có phương án sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế. Tài sản cố định lại là một bộ phần cơ bản tạo

nên cơ sở vật chất kỹ thuật của hoạt động sản xuất kinh doanh, nó giữ vai trò quan

trọng trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm. Hơn thế nữa, trong điều kiện khoa học

kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, TSCĐ thể hiện trình độ công nghệ,

năng lực sản xuất và thế mạnh của DN. Tuy nhiên TSCĐ không phải lúc nào cũng được sử dụng hiệu quả, bởi trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, TSCĐ của

DN vì nhiều lí do mà bị hao mòn, sử dụng không hợp lý gây ra lãng phí, làm giảm

hiệu quả sản xuất kinh doanh. Xuất phát từ thực trạng trên, hơn lúc nào hết, đã đến lúc

ta phải quan tâm, đầu tư nhiều hơn nữa để đổi mới, nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ,

để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả nhất.

Công ty Cổ phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận hoạt động chủ yếu trong

các lĩnh vực khai thác, chế biến và kinh doanh Khoáng sản. Trong những năm qua,

Công ty đã quan tâm đến vấn đề hiệu quả sử dụng TSCĐ và đã đạt được những thành

công nhất định. Nhờ đó, khả năng cạnh tranh cũng như uy tín của Công ty ngày càng

được nâng cao. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, hiệu quả sử dụng TSCĐ vẫn còn thấp so với mục tiêu.

Sau một thời gian thực tập tại Công ty Cổ Phần Công nghiệp Khoáng sản Bình

Thuận, xuất phát từ thực tế tình hình sử dụng TSCĐ tại Công ty, trên cơ sở những

kiến thức đã được trang bị trong quá trình học tập tại nhà trường, em đã lựa chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ của Công ty Cổ phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận”.

2. Mục đích nghiên cứu

Một là: Trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng TSCĐ của

DN.

Hai là: Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng và quản lý TSCĐ tại Công ty Cổ phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận, đồng thời đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ của Công ty.

Ba là: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ tại Công ty Cổ

phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận.

3. Đối tƣợng và pham vi nghiên c

Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng TSCĐ của Công ty Cổ phần Công

nghiệp Khoáng sản Bình Thuận

Phạm vi nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng TSCĐ của Công ty Cổ phần Công nghiệp

Khoáng sản Bình Thuận giai đoạn 2010-2012.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Các phương pháp sử dụng trong khoá luận gồm: Phương pháp hệ thống, phương

pháp thống kê, mô tả, tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu, đánh giá dựa trên các tài liệu sưu tập, kết hợp với suy luận để làm sáng tỏ luận điểm, luận cứ nhằm giải

quyết vấn đề.

5. Kết cấu khoá luận

Nội dung khoá luận gồm 3 chương:

Chƣơng I: Những vấn đề lý luận chung về TSCĐ và hiệu quả sử dụng

TSCĐ của DN.

Chƣơng II: Thực trạng quản lý và hiệu quả sử dụng TSCĐ tại Công ty Cổ

phần Công Nghiệp Khoáng sản Bình Thuận.

Chƣơng III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ tại

Công ty Cổ phần Công Nghiệp Khoáng sản Bình Thuận.

CHƢƠNG 1.

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CỦA

DOANH NGHIỆP

1.1. Tổng quan về TSCĐ của DN

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của TSCĐ trong DN

1.1.1.1. Khái niệm TSCĐ

TSCĐ là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể và cũng có thể chỉ tồn tại

dưới hình thái giá trị được sử dụng để thực hiện một số chức năng nhất định trong quá

trình SXKD, có giá trị lớn và được sử dụng trong thời gian dài. [3, tr.58]

Theo Quyết định số 45/2013/TT- BTC ngày 25/4/2013 của Bộ - Tài Chính, các

tài sản được ghi nhận là TSCĐ phải thoả mãn đồng thời 4 tiêu chuẩn sau:

- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó.

- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ

30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) trở lên

- Có thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm trở lên.

Như vậy, những tư liệu lao động không đủ hai tiêu chuẩn quy định trên thì

không được coi là TSCĐ và được xếp vào “công cụ lao động nhỏ”, đó là tài sản lưu

động

Tuy nhiên, trong thực tế việc dựa vào hai tiêu chuẩn trên để nhận biết TSCĐ là

không dễ dàng vì những lý do sau đây:

Một là, máy móc thiết bị, nhà xưởng dùng trong sản xuất thì sẽ được coi là TSCĐ song nếu là các sản phẩm máy móc hoàn thành đang được bảo quản trong kho

thành phẩm chờ tiêu thụ hoặc là công trình xây dựng cơ bản chưa bàn giao thì chỉ

được coi là tư liệu lao động. Như vậy, vẫn những tài sản đó nhưng dựa vào tính chất, công dụng mà khi thì là TSCĐ khi chỉ là đối tượng lao động. Tương tự như vậy trong sản xuất nông nghiệp, những gia súc được sử dụng làm sức kéo, cho sản phẩm thì được coi là TSCĐ nhưng vẫn chính gia súc đó khi được nuôi để lấy thịt thì chỉ là các đối tượng lao động mà thôi.

1

Hai là, đối với một số các tư liệu lao động nếu đem xét riêng lẻ thì sẽ không

thoả mãn tiêu chuẩn là TSCĐ. Tuy nhiên, nếu chúng được tập hợp sử dụng đồng bộ

như một hệ thống thì cả hệ thống đó sẽ đạt những tiêu chuẩn của một TSCĐ. Ví dụ như trang thiết bị trong một phòng thí nghiệm, một văn phòng, một phòng nghỉ khách

sạn, một vườn cây lâu năm...

Ba là, hiện nay do sự tiến bộ của khoa học công nghệ và ứng dụng của nó vào

hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời do những đặc thù trong hoạt động đầu tư của

một số ngành nên một số khoản chi phí DN đã chi ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, nếu đồng thời đều thoả mãn cả hai tiêu chuẩn cơ bản trên và

không hình thành TSCĐ hữu hình thì được coi là các TSCĐ vô hình của DN. Ví dụ như các chi phí mua bằng sáng chế, phát minh, bản quyền, các chi phí thành lập DN...

1.1.1.2. Đặc điểm TSCĐ

TSCĐ có 3 đặc điểm chính:

TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, hình thái hiện vật bên

ngoài của TSCĐ về cơ bản vẫn giữ nguyên trong suốt thời gian tồn tại.

Trong quá trình tham gia sản xuất, hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban

đầu của TSCĐ không thay đổi. Song TSCĐ bị hao mòn dần (hao mòn hữu hình và hao

mòn vô hình) và chuyển dịch dần từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất chuyển hoá

thành vốn lao động. Bộ phận giá trị chuyển dịch này cấu thành một yếu tố chi phí sản

xuất kinh doanh của DN và được bù đắp mỗi khi sản phẩm được tiêu thụ. Hay lúc này

nguồn TSCĐ bị giảm một lượng đúng bằng giá trị hao mòn của TSCĐ đồng thời với

việc hình thành nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản được tích luỹ bằng giá trị hao mòn

TSCĐ.

Trong quá trình sử dụng, TSCĐ bị hao mòn dần về mặt giá trị. Phần hao mòn

đó sẽ được dịch chuyển vào chi phí sản xuất kinh doanh.

Giá trị hao mòn phản ánh phần giá trị đã được chuyển vào giá trị sản phẩm của TSCĐ, nhưng quan trọng vẫn là GTCL của TSCĐ, nó phản ánh phần giá trị của TSCĐ có khả năng luân chuyển vào giá trị sản phẩm hay phần còn lại của TSCĐ có khả năng sinh lợi. Các loại giá trị này phải được phản ánh trên các báo cáo tài chính

của DN.

TSCĐ là sản phẩm lao động vừa có giá trị, vừa có giá trị sử dụng nên nó cũng

được coi là một loại hàng hoá thông thường khác.

2

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, các TSCĐ của DN cũng được

coi như bất kỳ một loại hàng hoá thông thường khác. Vì vậy, nó cũng có đặc tính của

một loại hàng hoá có nghĩa là không chỉ có giá trị mà còn có giá trị sử dụng. Thông qua mua bán trao đổi, TSCĐ có thể được chuyển quyền sử dụng và quyền sở hữu từ

chủ thể này sang chủ thể khác trên thị trường tư liệu sản xuất.

1.1.1.3. Vai trò của TSCĐ

TSCĐ là những tư liệu liệu lao động chủ yếu tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của DN. Nó gắn liền với DN trong suốt quá trình tồn tại, DN có TSCĐ có

thể không lớn về mặt giá trị nhưng tầm quan trọng của nó lại không nhỏ chút nào.

Trước hết, TSCĐ phản ánh mặt bằng cơ sở hạ tầng của DN, phản ánh quy mô

của DN có tương xứng hay không với đặc điểm loại hình kinh doanh mà nó tiến hành.

Thứ hai, TSCĐ luôn mang tính quyết định đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Do đặc điểm luân chuyển của mình qua mỗi chu kỳ kinh doanh, TSCĐ

tồn tại trong một thời gian dài và nó tạo ra tính ổn định trong chu kỳ kinh doanh của

DN cả về sản lượng và chất lượng.

Thứ ba, Trong nền kinh tế thị truờng, khi mà nhu cầu tiêu dùng được nâng cao thì cũng tương ứng với tiến trình cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn. Điều này

đòi hỏi các DN phải làm sao để tăng năng suất lao động, tạo ra được những sản phẩm

hàng hoá, dịch vụ vận tải có chất lượng cao, giá thành hợp lý nhằm chiếm lĩnh thị

trường. Sự đầu tư không đúng mức đối với TSCĐ cũng như việc đánh giá thấp tầm

quan trọng của TSCĐ sẽ đem lại những khó khăn cho DN.

TSCĐ có thể không đủ năng lực để cạnh tranh với các DN khác cả về chất lượng

và giá thành. Điều đó có thể dẫn đến các DN đến bờ vực phá sản nếu lượng vốn không

đủ lớn của nó không đủ lớn để cải tạo đổi mới tài sản. Sự thiếu hụt các khả năng sản

xuất, khả năng về cung cấp dịch vụ sẽ giúp cho đối thủ cạnh tranh giành mất một phần

thị trường của DN và điều này buộc DN khi muốn giành lại thị truờng khách hàng đã phải tốn kém nhiều về chi phí tiếp thị hay phải hạ giá thành về sản phẩm và các dịch vụ cung ứng.

Thứ tư, TSCĐ còn là một một công cụ huy động vốn khá hữu hiệu. Đối với vốn

vay ngân hàng thì TSCĐ được coi là điều kiện khá quan trọng bởi nó đóng vai trò là

vật thế chấp cho món tiền vay. Trên cơ sở trị giá của tài sản thế chấp ngân hàng mới

có quyết định cho vay hay không và cho vay với lượng là bao nhiêu.

3

Đối với Công ty cổ phần thì độ lớn của Công ty phụ thuộc vào giá trị TSCĐ mà

Công ty nắm giữ. Do vậy quá trình huy động vốn cho DN bằng cánh phát hành trái

phiếu hay cổ phiếu, mức độ tin cậy của nhà đầu tư chịu ảnh hưởng khá lớn từ lượng tài sản mà Công ty hiện có và hàm lượng công ngệ có trong TSCĐ của Công ty.

1.1.2. Phân loại TSCĐ trong DN

Phân loại TSCĐ là việc phân chia toàn bộ tài sản cố định hiện có của DN theo

những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho những yêu cầu quản lý của DN. Việc

phân loại TSCĐ được đúng đắn, kịp thời, đầy đủ sẽ tạo tiền đề cho việc hạch toán kế toán, thống kê và kế hoạch hoá biện pháp kỹ thuật sản xuất trong các DN. Thông

thường có một số tiêu thức phân loại chủ yếu sau:

Phân loại theo hình thái biểu hiện và công dụng kinh tế.

Theo phương pháp này thì TSCĐ được chia làm 2 loại: TSCĐ hữu hình và

TSCĐ vô hình.

TSCĐ hữu hình: Là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể do DN sử dụng cho hoạt động kinh doanh, phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ

hữu hình.

TSCĐ hữu hình có thể chia thành các nhóm sau:

Nhà cửa vật kiến trúc:là TSCĐ của DN được hình thành sau quá trình thi công

xây dựng như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xã, cầu cống, đường sắt, cầu tầu, cầu cảng…

Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động

kinh doanh của DN như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, dây chuyền công

nghệ, những máy móc đơn lẻ…

Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện vận tải gồm

phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ, đường bộ, đường không, đường ống và

các thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, hệ thống điện, đường ống nước…

Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của DN như máy vi tính phục vụ công tác quản lý, thiết bị điện tử, thiết bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng, máy hút ẩm, hút bụi, chống mối

mọt…

Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm: là các loại cây lâu năm như vườn cà phê, vườn chè, vườn cao su, vườn cây ăn quả, thảm cỏ, thảm cây

4

xanh…, súc vật làm việc và/ hoặc cho sản phẩm như đàn voi, đàn ngựa, đàn trâu, đàn

bò…

TSCĐ vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị, do DN quản lý và sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh

doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn TSCĐ vô hình. TSCĐ vô hình chỉ được thừa nhận khi xác định được

giá trị của nó, thể hiện một lượng giá trị lớn đã được đầu tư có liên quan

trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của DN. Thông thường, TSCĐ gồm

các loại sau: Quyền sử dụng đất có thời hạn, nhãn hiệu hàng hoá, quyền phát hành, phần mềm máy vi tính, bản quyền, bằng sáng chế

Việc phân loại này giúp cho người quản lý thấy được cơ cấu đầu tư vào TSCĐ

theo hình thái biểu hiện, là căn cứ để quyết định đầu tư dài hạn hoặc điều chỉnh cơ cấu

đầu tư cho phù hợp và có biện pháp quản lý phù hợp với mỗi loại TSCĐ

Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng.

Theo phương pháp này thì TSCĐ của DN được chia thành hai loại:

TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh: Bao gồm tất cả các TSCĐ được dùng phục vụ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN ở các bộ phận

trực tiếp sản xuất kinh doanh, bộ phận quản lý DN.chẳng hạn như kho tàng,

cửa hàng, nhà xưởng, máy móc thiết bị, giá trị quyền sử dụng đất…

TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi xã hội,an ninh quốc phòng: Là những TSCĐ không mang tính chất sản xuất do DN quản lý sử dụng cho các hoạt

động phúc lợi, sự nghiệp và các hoạt động đảm bảo an ninh quốc phòng.

Với việc phân loại này sẽ giúp cho người quản lý TSCĐ thấy được kết cấu

TSCĐ theo mục đích sử dụng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và tính

khấu hao TSCĐ. Từ đó có những biện pháp quản lý phù hợp với mỗi loại TSCĐ

Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng.

Căn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ, có thể chia TSCĐ của DN ra làm các loại

sau:

TSCĐ đang dùng: Đây là những TSCĐ của DN sử dụng cho các hoạt động

sản xuất kinh doanh, phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng của DN.

TSCĐ chưa cần dùng: Là những TSCĐ của DN cần thiết cho hoạt động của DN song hiện tại chưa được sử dụng, đang trong quá trình dự trữ, cất giữ để sử dụng sau này.

5

TSCĐ không cần dùng và chờ thanh lý: Là những TSCĐ không cần thiết hay không phù hợp với hoạt động của DN hoặc đã hư hỏng cần được

nhượng bán, thanh lý để giải phóng mặt bằng, thu hồi vốn đầu tư.

Với cách phân loại này sẽ giúp cho người quản lý nắm được tổng quát tình hình

sử dụng TSCĐ trong DN. Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp sử dụng tối đa các TSCĐ hiện có trong DN, giải phóng nhanh các TSCĐ không cần dùng và chờ thanh lý để thu

hồi vốn .

1.1.3. Kết cấu TSCĐ trong DN

1.1.3.1 Khái niệm kết cấu TSCĐ

Kết cấu TSCĐ của DN là tỷ lệ giữa nguyên giá của một loại TSCĐ nào đó so

nguyên giá TSCĐ của DN tại một thời điểm nhất định. Kết cấu TSCĐ giữa các DN

trong các ngành kinh tế khác nhau. Thậm chí, trong cùng một ngành kinh tế cũng khác

nhau.

1.1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu TSCĐ

Kết cấu TSCĐ chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau đây:

Tính sản xuất và đặc điểm quy trình công nghệ:

Các DN thuộc ngành công nghiệp khai thác vật kiến trúc, ngành công nghiệp cơ khí chế tạo thì tỷ trọng máy móc thiết bị thường chiếm tỷ trọng

lớn.

Các DN thuộc ngành công nghiệp nhẹ như công nghệ thực phẩm, công nghệ chế biến sữa, dầu ăn, chế biến hoa quả thì nhà cửa chiếm tỷ trọng lớn.

Các DN thuộc ngành công nghiệp nặng như công nghiệp điện thì phần lớn

TSCĐ là thiết bị động lực và thiết bị dẫn truyền.

Trình độ trang bị kỹ thuật.

Đối với DN có trình độ sản xuất cao thì máy móc thiết bị thường chiếm tỷ trọng

lớn, nhà cửa chiếm tỷ trọng thấp. Còn các DN có trình độ kỹ thuật thấp thì ngược lại.

Loại hình tổ chức sản xuất.

DN có trình độ sản xuất cao, tổ chức sản xuất theo dây chuyền thì máy móc thiết

bị sản xuất chiếm tỷ trọng lớn, nhà cửa chiếm tỷ trọng nhỏ, công cụ vận chuyển trong nội bộ chiếm tỷ trọng thấp. Ngược lại đối với DN có trình độ kỹ thuật sản xuất thấp, không tổ chức sản xuất theo lối dây chuyền thì máy móc thiết bị lại chiếm tỷ trọng thấp, công cụ vận chuyển trong nội bộ chiếm tỷ trọng cao.

6

Quy mô doanh nghiệp lớn hay nhỏ.

Trong các DN lớn, tỷ lệ máy móc thiết bị thường cao hơn so với các DN nhỏ, tỷ

lệ dụng cụ, nhà cửa thường thấp hơn các DN nhỏ, do đó các DN lớn thường có thể tiết kiệm số vốn đầu tư và nhà cửa và dụng cụ.

Trong công tác quản lý sử dụng TSCĐ của DN, phân tích kết cấu TSCĐ giúp ta thấy rõ được cơ cấu đầu tư, tình hình sử dụng TSCĐ, trình độ trang bị kỹ thuật cho

sản xuất. Từ đó, DN chủ động điều chỉnh kết cấu TSCĐ, từ đó nâng cao hiệu quả sử

dụng TSCĐ của DN.

1.1.4. Các phương pháp tính khấu hao TSCĐ

Trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, do chịu tác động bởi

nhiều nguyên nhân khác nhau nên TSCĐ bị hao mòn dần. Hao mòn TSCĐ là sự giảm

dần về mặt giá trị sử dụng và giá trị hoặc giảm giá trị của TSCĐ.

Khấu hao TSCĐ là sự phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải thu hồi của

TSCĐ trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ đó. Vì thế, khấu hao TSCĐ là

một yếu tố chi phí và được tính vào giá thành sản phẩm. [3, tr.66].

Mục đích của khấu hao TSCĐ là nhằm thu hồi vốn để tái sản xuất ra TSCĐ. Nếu

doanh nghiệp tổ chức quản lý và sử dụng tốt thì tiền khấu hao còn có tác dụng tái sản

xuất mở rộng TSCĐ.

Thông thường người ta sử dụng các phương pháp tính khấu hao sau đây:

Phương pháp khấu hao đường thẳng: là phương pháp khấu hao chung nhất, được sử dụng phổ biến để tính khấu hao cho các loại TSCĐ có hình thái vật

chất. Theo phương pháp này, mức khấu hao và tỷ lệ khấu hao được tính ở

mức không đổi hàng năm. Theo phương pháp này, số tiền khấu hao hàng năm

được xác định như sau:

Tỷ lệ khấu hao hàng năm: (Tk)

100% Tk =

Mức khấu hao hàng năm: (Mk)

Mk =

Trong đó:

NG: Nguyên giá TSCĐ

7

T : Thời gian sử dụng hữu ích TSCĐ

Tk : Tỷ lệ khấu hao theo phương pháp đường thẳng

Mk : Mức khấu hao hàng năm

Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh: Là phương pháp này chỉ áp dụng đối với những TSCĐ mới đầu tư (chưa qua sử dụng), hay TSCĐ là máy móc thiết bị, dụng cụ đo lường thí nghiệm, và được áp dụng với

những DN thuộc các lĩnh vực có công nghệ đòi hỏi phải thay đổi, phát triển

nhanh

Các bước tiến hành xác định tính khấu hao:

Bước 1: Xác định thời gian sử dụng của TSCĐ

Bước 2: Xác định mức trích khấu hao hàng năm.

x

Mức trích khấu hao Giá trị còn lại của Tỷ lệ khấu hao = TSCĐ nhanh hàng năm

Trong đó:

Giá trị còn lại = Nguyên giá - Số khấu hao luỹ kế

x

Tỷ lệ khấu hao Tỷ lệ khấu hao theo đường Hệ số điều = nhanh thẳng chỉnh

Hệ số điều chỉnh: Xác định theo thời gian sử dụng của TSCĐ mới.

Thời gian sử dụng (năm) Hệ số điều chỉnh

T < 4 1,5

T> 4 > 6 2

t > 6 2,5

Giá trị chênh lệch TSCĐ

Mức khấu hao hàng năm = Thời gian sử dụng còn lại TSCĐ

Phương pháp khấu hao theo sản lượng: Là phương pháp áp dụng cho những TSCĐ có tính chất mùa vụ và là những TSCĐ trực tiếp liên quan đến việc sản

8

xuất ra sản phẩm. Vì vậy, TSCĐ được trích khấu hao theo số lượng, khối

lượng sản phẩm

Mức khấu hao bình Mức khấu hao phải Sản lượng hoàn = x quân trên một đơn vị trích trong tháng thành trong tháng sản lượng

Tổng số khấu hao phải trích trong thời sử dụng Mức khấu hao bình

quân trên một đơn vị =

sản lượng Sản lượng tính theo công suất thiết kế

1.2. Nội dung công tác quản lý sử dụng TSCĐ tại DN

1.2.1. Quản lý đầu tư vào TSCĐ

Việc đầu tư vào TSCĐ bao gồm các quyết định mua sắm, xây dựng, sữa chữa,

nâng cấp TSCĐ đạt được yêu cầu về thời gian hữu ích của chi phí bỏ ra và giá trị của

TSCĐ đó. Khi DN quyết định đầu tư vào TSCĐ sẽ tác động đến hoạt động kinh doanh

ở hai khía cạnh đó là, chi phí mà DN phải bỏ ra trước mắt và lợi ích mà DN thu được

trong tương lai. Chi phí của DN sẽ tăng lên do chi phí đầu tư phát sinh, đồng thời phải

phân bổ chi phí khấu hao (tuỳ theo thời gian hữu ích). Còn lại ích đem lại là việc nâng cao năng lực sản xuất, tạo ra được sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao trên thị

trường.

Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, sản xuất và tiêu thụ chịu sự tác động

nghiệt ngã của quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Do vậy, vấn đề đặt ra cho các

DN là khi tiến hành đầu tư TSCĐ là phải tiến hành tự thẩm định, tức là so sánh giữa

chi tiêu và lợi ích để lựa chọn phương án tối ưu.

Đây là một nội dung rất quan trọng trong công tác quản lý sử dụng TSCĐ vì nó

là công tác khởi đầu khi TSCĐ được sử dụng tại DN. Nếu công tác quản lý này không tốt, không có sự phân tích kỹ lưỡng trong việc lựa chọn phương án đầu tư xây dựng

mua sắm sẽ làm cho TSCĐ không phát huy được tác dụng để phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh được hiệu quả.

1.2.2. Quản lý sử dụng, giữ gìn và sữa chữa TSCĐ.

Trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, TSCĐ vì nhiều nguyên nhân mà bị hỏng hóc, hao mòn. Vì vậy, ngoài việc giữ gìn, DN còn phải tiến hành bảo 9

dưỡng, sửa chữa nhằm đảm bảo năng lực sản xuất bình thường của TSCĐ. Như vậy

việc giữ gìn TSCĐ là một biện pháp quan trọng để sử dụng TSCĐ có hiệu quả.

Sữa chữa TSCĐ phải tiến hành có kế hoạch. Việc sửa chữa TSCĐ nói chung chia ra làm sửa chữa lớn và sửa chữa thường xuyên. Trong khi sửa chữa phải thay đổi

phần lớn phụ tùng của TSCĐ thuộc phạm vi của sửa chữa lớn. Đặc điểm của công tác

sửa chữa lớn là có phạm vi rộng, thời gian dài, cần phải có thiết bị kỹ thuật và tổ chức

chuyên môn sửa chữa lớn. Sửa chữa thường xuyên là sửa chữa có tính chất hàng ngày

để giữ gìn công suất sử dụng đều đặn của TSCĐ. Sửa chữa thường xuyên chỉ có thể giữ được trạng thái sử dụng đều đặn của TSCĐ chứ không thể nâng cao công suất của

TSCĐ lên hơn mức chưa sửa chữa được.

Muốn giữ gì TSCĐ được bền bỉ và lâu dài, DN còn phải bảo dưỡng cho TSCĐ

nữa. Bảo dưỡng thiết bị máy móc là có nhiều ưu điểm như khả năng ngăn ngừa trước

sự hao mòn quá đáng và tình trạng hư hỏng bất ngờ cũng như chủ động chuẩn bị đầy

đủ khiến cho tình hình sản xuất không bị gián đoạn đột ngột. Tuỳ theo điều kiện cụ

thể mà mỗi doanh nghiệp thực hiện chế độ sửa chữa với các mức độ khác nhau.

1.2.3. Quản lý khấu hao TSCĐ trong DN

Khi sử dụng TSCĐ, doanh nghiệp cần quản lý khấu hao một cách chặt chẽ vì có

như vậy mới có thể thu hồi được vốn đầu tư ban đầu. Các doanh nghiệp thường thực

hiện việc lập kế hoạch KBTSCĐ hàng năm.Thông qua kế hoạch khấu hao, doanh

nghiệp có thể thấy nhu cầu tăng giảm vốn cố định trong năm kế hoạch, khả năng tài

chính để đáp ứng nhu cầu đó.Vì kế hoạch khấu hao là một căn cứ quan trọng để doanh

nghiệp xem xét, lựa chọn quyết định đầu tư đổi mới TSCĐ trong tương lai.

Để lập được kế hoạch khấu hao TSCĐ, doanh nghiệp thường tiến hành theo trình

tự nội dung sau:

Xác định phạm vi TSCĐ phải tính khấu hao và tổng nguyên giá TSCĐ phải

tính khấu hao đầu kỳ kế hoạch.

Xác định giá trị TSCĐ bình quân tăng giảm trong kỳ kế hoạch và nguyên giá

bình quân TSCĐ phải trích khấu hao trong kỳ.

Xác định nguyên giá tài sản tăng trong kỳ.

Xác định nguyên giá tài sản giảm trong kỳ.

Xác định mức khấu hao bình quân hàng năm.

10

1.2.4. Quản lý công tác kiểm kê, đánh giá lại TSCĐ

Trong doanh nghiệp, việc kiểm kê tài sản nói chung và TSCĐ nói riêng là công

tác quan trọng trong việc quản lý sử dụng TSCĐ tại doanh nghiệp. Căn cứ vào tài liệu của đợt kiểm kê để có tài liệu đối chiếu giữa số thực tế với số trên sổ sách, qua đó xác

định nguyên nhân gây ra số chênh lệch, xác định người có trách nhiệm về tình hình

mất mát, hư hỏng, cũng như phát hiện những đơn vị, cá nhân giữ gìn, sử dụng tốt

TSCĐ, đồng thời báo cáo lên cấp trên về tình hình đã phát hiện ra để có những kiến

nghị và giải quyết.

Ngoài việc kiểm kê TSCĐ, doanh nghiệp còn tiến hành việc đánh giá lại TSCĐ.

dung của việc đánh giá lại TSCĐ là việc xác định thống nhất theo giá hiện hành của TSCĐ. Có như vậy thì mới xác định được hợp lý mức khấu hao nhằm hạch toán và

tính giá thành sản phẩm được đúng đắn và như vậy việc tính toán các hiệu quả về tài

chính mới được chính xác

1.3. Hiệu quả sử dụng TSCĐ của DN

1.3.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng TSCĐ

Mỗi DN tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như: Tối đa hoá lợi

nhuận, tối đa hoá DT, tối đa hoá hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo DN, song tất

cả các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hoá giá trị tài sản

cho các chủ sở hữu. Để đạt được mục tiêu này, tất cả các DN đều phải n lực khai

thác triệt để và sử dụng có hiệu quả tài sản của mình, đặc biệt là TSCĐ

Hiệu quả sử dụng TSCĐ của DN được coi là một thuật ngữ để chỉ mối quan hệ

giữa kết quả thực hiện các mục tiêu và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong

điều kiện nhất định. Như vậy, hiệu quả phản ánh kết quả thực hiện các mục tiêu hành

động trong quan hệ với chi phí bỏ ra và hiệu quả được xem xét trong bối cảnh hay

điều kiện nhất định, đồng thời cũng được xem xét dưới quan điểm đánh giá của chủ

thể nghiên cứu. [3, tr 80].

Kết quả

Hiệu quả sử dụng TSCĐ =

TSCĐ sử dụng trong kỳ

Ý nghĩa: Giá trị này càng lớn càng tốt.

1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ trong DN

Hiệu suất sử dụng TSCĐ.

11

Chỉ tiêu này là phản ánh một đồng TSCĐ tham gia tạo bao nhiêu đồng DT thực

hiện trong kỳ. Chỉ tiêu này càng cao thì DN sử dụng TSCĐ càng hiệu quả.

DT thực hiện trong kỳ

Hiệu suất sử dụng TSCĐ =

Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ

Tỷ suất sinh lời của TSCĐ

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng

lợi nhuận.Tỷ suất sinh lợi càng cao thì hiệu quả sử dụng TSCĐ của DN càng cao.

Lợi nhuận sau thuế của DN

Tỷ suất sinh lời của TSCĐ =

Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ

Hệ số đổi mới TSCĐ trong kỳ.

Chỉ tiêu này cho biết trong tổng số TSCĐ hiện có cuối kỳ, thì có bao nhiêu

TSCĐ mới được trang bị, bổ sung trong năm. Nếu chỉ số này càng cao, thì chứng tỏ

trong năm DN đã đầu tư đổi mới, mua sắm TSCĐ.

Giá trị tăng TSCĐ trong kỳ

Hệ số đổi mới TSCĐ trong kỳ =

Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ

Hệ số hao mòn TSCĐ.

Chỉ tiêu này phản ánh tình hình TSCĐ trong DN. Nếu hệ số hao mòn của TSCĐ

càng gần tới 1, chứng tỏ TSCĐ của DN đã quá cũ, DN phải chú trọng đến việc đổi

mới và hiện đại hoá TSCĐ và ngược lại nếu hệ số hao mòn càng nhỏ hơn 1 bao nhiêu, chứng tỏ TSCĐ của DN đổi mới càng nhiều.

12

Khấu hao luỹ kế trong kỳ

Hệ số hao mòn của TSCĐ =

Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ

Suất hao phí của TSCĐ so với doanh thu

Chỉ tiêu này cho thấy, để có một đồng doanh thu thì cần bỏ vào sản xuất kinh

doanh bao nhiều đồng nguyên giá TSCĐ.

Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ

Suất hao phí của TSCĐ =

Tổng DT trong kỳ

1.4. Một số yếu tố ảnh hƣởng tới hiệu quả sử dụng TSCĐ

Để đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ, ngoài việc tính toán và phân tích các chỉ

tiêu trên, DN cũng cần hiểu rõ các nhân tố tác động tới hiệu quả sử dụng TSCĐ. Trên

cơ sở đó, DN sẽ đưa ra các chiến lược và kế hoạch phù hợp với từng giai đoạn để có

thể phát huy hiệu quả sử dụng tài sản một cách tối đa giúp cho DN đạt được những

mục tiêu đã đề ra.

1.4.1. Nhân tố chủ quan

Trình độ cán bộ quản lý và tay nghề của công nhân

Có thể nói, con người là nhân tố quan trọng trong bất cứ hoạt động nào. Trong

hoạt động sản xuất kinh doanh cũng vậy, con người đóng vai trò quyết định đến hiệu

quả hoạt động nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản nói riêng, đặc biệt là trình độ cán

bộ quản lý và tay nghề người công nhân.

Trước hết, về trình độ cán bộ quản lý: Trình độ cán bộ quản lý thể hiện ở trình

độ chuyên môn nhất định, khả năng tổ chức, quản lý và ra quyết định. Nếu cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, khả năng tổ chức, quản lý tốt đồng thời đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp với tình hình của DN và tình hình thị trường thì hiệu quả sử dụng TSCĐ cao, mang lại nhiều lợi ích cho DN. Nếu

khả năng tổ chức, quản lý kém, quyết định sai lầm thì TSCĐ sẽ không được sử dụng một cách hiệu quả dẫn đến DN có thể thua lỗ, thậm chí phá sản. Như vậy, trình độ cán bộ quản lý đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng

TSCĐ trong DN. Do đó, yêu cầu đối với bộ phận này là rất cao, họ cần có chuyên

13

môn nghiệp vụ vững vàng, có tinh thần trách nhiệm cao, năng động, sáng tạo nhằm

đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời cho DN.

Thứ hai, về trình độ tay nghề của công nhân: Bộ phận công nhân là bộ phận trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ, trực tiếp tiếp xúc với khách hàng nên là nhân tố

trực tiếp sử dụng tài sản của DN. Đối với công nhân sản xuất có tay nghề cao, có khả

năng tiếp thu công nghệ mới, phát huy được tính sáng tạo, tự chủ trong công việc, có ý

thức giữ gìn và bảo quản tài sản trong quá trình vận hành thì tài sản sẽ được sử dụng

hiệu quả hơn đồng thời sẽ tạo ra sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao, hạ giá thành góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho DN. Ngược lại, nếu trình độ tay nghề người

công nhân thấp, không nắm bắt được các thao tác kỹ thuật, ý thức bảo quản máy móc kém sẽ dẫn đến tình trạng sử dụng lãng phí nguyên vật liệu, giảm tuổi thọ của máy

móc làm tăng giá thành, giảm chất lượng sản phẩm. Điều đó có thể làm giảm DT và

lợi nhuận của DN dẫn đến hiệu quả sử dụng tài sản giảm.

Tổ chức sản xuất - kinh doanh

Một quy trình sản xuất kinh doanh hợp lý sẽ khắc phục được tình trạng chồng

chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các khâu, góp phần tiết kiệm nguồn lực, tăng năng

suất lao động, giảm chi phí bất hợp lý, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử

dụng TSCĐ, hiệu quả hoạt động của DN.

Bên cạnh đó, một DN có chiến lược kinh doanh tốt, có nhiều giải pháp thực hiện

chiến lược phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của DN trong từng thời kỳ và phù hợp với

nhu cầu thị trường thì hiệu quả sử dụng TSCĐ sẽ cao.

Ngoài ra, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ cũng đóng vai trò quan trọng

trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ của DN. Nếu DN tiếp cận kịp thời với sự

tiến bộ của khoa học, công nghệ để đổi mới trang thiết bị thì sẽ giảm được hao mòn vô hình của TSCĐ, nâng cao chất lượng, đổi mới sản phẩm, hạ giá thành và nâng cao sức

cạnh tranh cho DN.

Ngành nghề kinh doanh của DN

Nhân tố này tạo ra điểm xuất phát cho DN cũng như định hướng nó trong suốt quá trình tồn tại. Ngành nghề kinh doanh của DN quyết định sản phầm mà DN làm ra

là cái gì, ngoài ra nó còn phụ thuộc vào tính năng và tác dụng của TSCĐ của DN đầu tư.Với ngành nghề kinh doanh đã chọn sẽ ảnh hưởng tới việc quyết định của DN cũng như cơ cấu TSCĐ được đầu tư như thế nào, mức độ hiện đại hoá chúng ra sao. Vì vậy,

14

việc quyết định ngành nghề kinh doanh cũng gần như là việc quyết định sản phẩm mà

TSCĐ sẽ đầu tư là gì.

1.4.2. Nhân tố khách quan

Môi trường kinh tế

Nhân tố này thể hiện các đặc trưng của hệ thống kinh tế trong đó các DN tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh như: chu kỳ phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh

tế, hệ thống tài chính tiền tệ, tình hình lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, các chính sách tài

chính tín dụng của Nhà nước.

Nền kinh tế nằm trong giai đoạn nào của chu kỳ phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế sẽ quyết định đến nhu cầu sản phẩm cũng như khả năng phát triển các hoạt

động sản xuất kinh doanh của các DN.

Hệ thống tài chính tiền tệ, lạm phát, thất nghiệp và các chính sách tài khoá của

chính phủ có tác động lớn tới quá trình ra quyết định sản xuất kinh doanh và kết quả

hoạt động của DN. Nếu tỷ lệ lạm phát cao thì hiệu quả sử dụng tài sản thực của DN sẽ

khó có thể cao được do sự mất giá của đồng tiền. Ngoài ra, chính sách tài chính tiền tệ

cũng tác động lớn đến hoạt động huy động vốn cũng như hiệu quả sử dụng vốn, tài

sản của DN.

Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa, DN còn chịu tác động của thị trường quốc

tế. Sự thay đổi chính sách thương mại của các nước, sự bất ổn của nền kinh tế các

nước tác động trực tiếp đến thị trường đầu vào và đầu ra của DN.

Như vậy, những thay đổi của môi trường kinh tế ngày càng có tác động mạnh

đến hoạt động sản xuấtkinh doanh của DN, tạo cho DN những thuận lợi đồng thời cả

những khó khăn. Do đó, DN phải luôn đánh giá và dự báo những thay đổi đó để có thể

đưa ra những biện pháp thích hợp nhằm tranh thủ những cơ hội và hạn chế những tác động tiêu cực từ sự thay đổi của môi trường kinh tế.

Các chính sách và cơ chế quản lý nền kinh tế

Trên cơ sở pháp luật kinh tế và các biện pháp kinh tế, nhà nước tạo môi trường và hành lang pháp lý hướng dẫn cho các DN sản xuất kinh doanh. Bất kỳ một sự thay đổi nào trong chế độ, chính sách hiện hành đều chi phối các mảng hoạt động của DN.

Đối với việc quản lý và sử dụng TSCĐ thì các văn bản về đầu tư, tính khấu hao, ... sẽ quyết định khả năng khai thác TSCĐ.

15

Sự tiến bộ của khoa học công nghệ

Khoa học công nghệ là một trong những nhân tố quyết định đến năng suất lao

động và trình độ sản xuất của nền kinh tế nói chung và của từng DN nói riêng. Sự tiến bộ của khoa học công nghệ sẽ tạo điều kiện cho các DN nâng cao năng lực sản xuất,

giảm bớt chi phí, tăng khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, tiến bộ khoa học công nghệ cũng có thể làm cho TSCĐ của DN bị hao mòn vô hình nhanh hơn. Có những máy

móc, thiết bị, quy trình công nghệ… mới chỉ nằm trên các dự án, các dự thảo, phát

minh đã trở nên lạc hậu trong chính thời điểm đó.

Như vậy, việc theo dõi cập nhật sự phát triển của khoa hoc công nghệ là hết sức cần thiết đối với DN khi lựa chọn phương án đầu tư để có thể đạt được hiệu quả cao

nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

Đối thủ cạnh tranh

Đây là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tồn tại, phát triển của DN. Nhân tố

cạnh tranh bao gồm các yếu tố và điều kiện trong nội bộ ngành sản xuất có ảnh hưởng

trực tiếp đến quá trình kinh doanh của DN như khách hàng, nhà cung cấp, các đối thủ

cạnh tranh, các sản phẩm thay thế…Các yếu tố này sẽ quyết định tính chất, mức độ

cạnh tranh của ngành và khả năng thu lợi nhuận của DN.

Yếu tố khác

Bên cạnh những nhân tố trên thì còn có nhiều nhân tố khác có thể ảnh hưởng

trực tiếp đến hiệu quả sử dụng TSCĐ mà được coi là những nhân tố bất khả kháng

như thiên tai, địch hoạ,... Mức độ tổn hại về lâu dài hay tức thời là hoàn toàn không

thể biết trước, chỉ có thể dự phòng trước nhằm giảm nhẹ ảnh hưởng mà thôi.

1.5. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ trong DN

1.5.1. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ

Nền kinh tế thị trường hiện nay đang phát triển ngày càng đa dạng hơn với nhiều loại hình DN khác nhau. Các DN cạnh tranh gay gắt nhằm mục đích tìm cho mình một chỗ đứng vững chắc trên thị trường, tuy nhiên sự cạnh tranh đó luôn diễn ra trong khuôn khổ của pháp luật. Các DN bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không can

thiệp vào hoạt động của DN nhưng Nhà nước tạo điều kiện và hành lang pháp lý cho các DN tham gia. Hiện nay, DN Nhà nước không còn chiếm vị trí độc tôn như trước kia và cũng không còn nhận sự bao cấp của Nhà nước. Song cũng nhờ đó các DN được toàn quyền chủ động trong việc sử dụng vốn và tài sản của mình vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật. Trong điều kiện như vậy, sự tồn tại và 16

phát triển của DN phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và

uy tín cũng như thế mạnh của DN trên thị trường. Vì vậy, việc các DN luôn muốn tìm

ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận là một điều tất yếu. Một trong những biện pháp cần thiết DN phải làm là nâng

cao hiệu quả sử dụng TSCĐ, thúc đẩy mở rộng sản xuất phát triển, tăng quy mô sản

xuất, từ đó tăng lợi nhuận.

Đối với các DN nói chung, và các DN kinh doanh khoáng sản nói riêng thì

TSCĐ là một bộ phận quan trọng để sản xuất ra các sản phẩm, dịch vụ của mình thì DN cần có cơ sở vật chất, phương tiện vận tải. Hơn nữa, trong tổng tài sản của các DN

kinh doanh khoáng sản thì TSCĐ luôn chiếm một tỷ trọng lớn và nó ảnh hưởng mạnh mẽ trực tiếp tới năng lực sản xuất, năng lực kinh doanh của chính DN. Do đó việc

nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ là rất cần thiết, nhất là trong nền kinh tế thị trường

cạnh tranh ngày càng khốc liệt

1.5.2. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ

Về nguyên tắc,để nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ thì DN cần tìm ra các biện

pháp nhằm tác động đến quá trình đầu tư, sử dụng và quản lý TSCĐ sao cho các chỉ

tiêu hiệu quả của TSCĐ được biểu hiện tốt nhất. Có 2 nhóm biện pháp sau:

Nhóm các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ về mặt kỹ thuật.

Cơ sở của nhóm biện pháp này là phải khai thác sử dụng triệt để công suất của

các loại TSCĐ, tránh việc sử dụng lãng phí sử dụng không hết công suất thiết kế của

máy móc thiết bị.Thông thường, các biện pháp này được áp dụng ngay trong quá trình

đầu tư TSCĐ và trong quá trình sử dụng TSCĐ. Chúng bao gồm các biện pháp sau:

Xây dựng thẩm định, lựa chọn các phương án đầu tư TSCĐ tối ưu nhất. Tổ chức thực hiện và quản lý tốt quá trình đầu tư TSCĐ để đảm báo đúng tiến

độ đầu tư hình thành TSCĐ và tiết kiệm chi phí trong quá trình đầu tư.

Trong khai thác vốn tài trợ cho TSCĐ, phải quán triệt nguyên tắc: nguồn vốn ngắn hạn đầu tư cho tài sản lưu động, còn nguồn vốn dài hạn đầu tư cho TSCĐ. Không được lạm dụng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư cho TSCĐ để tránh cho DN bị rơi vào tình trạng thiếu khả năng thanh toán.

Tăng cường công tác quản lý TSCĐ, đẩy mạnh việc phân cấp quản lý TSCĐ. Đồng thời đưa các chính sách, quy định trong sử dụng và bảo quản TSCĐ nhằm khai thác tối đa, hợp lý, tránh việc khai thác không hết hoặc quá mức công suất thiết kế của TSCĐ. Mặt khác DN cũng phải có những

17

bịên pháp nhằm hạn chế các tác động xấu từ điều kiện tự nhiên tới hiệu quả

sử dụng TSCĐ.

Xây dựng và thực hiện tốt qui trình sử dụng bảo quản, bảo dưỡng và sửa chữa TSCĐ nhằm nâng cao năng lực phục vụ của TSCĐ, ngăn ngừa và hạn

chế tình trạng TSCĐ bị hư hỏng trước thời hạn sử dụng.

Khai thác triệt để công suất, công dụng của TSCĐ hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng TSCĐ bị ứ đọng, mất mát, bị giảm giá trị trước những tác

động của các nhân tố bên trong và ngoài DN.

Nâng cao chất lượng lao động cả về trình độ và tinh thần làm việc của cán bộ công nhân viên cũng có tác động tốt tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng

TSCĐ về mặt kỹ thuật. Bởi lẽ người sử dụng có trình độ và hiểu biết thì

máy móc mới được sử dụng đúng và hiệu quả hơn “của bền tại người”. Sự bền bỉ của máy móc ngoài tính năng kỹ thuật ban đầu của bản thân , nó còn

phụ thuộc vào trình độ của người trực tiếp sử dụng nó.

Đánh giá đúng giá trị TSCĐ, tính đúng, tính đủ hao mòn TSCĐ, thực hiện khấu hao nhanh kết hợp với việc khai thác triệt để công suất công dụng của

TSCĐ để thu hồi vốn nhanh. Việc làm này giúp cho DN vó điều kiện

nhanh chóng đổi mới TSCĐ để tránh tụt hậu, nâng cao chất lượng sản

phẩm và sức cạnh tranh trên thị trừơng.

Nhóm các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ về mặt kinh tế.

Nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ về mặt kinh tế là góp phần tiết kiệm chi phí

đầu tư, sử dụng TSCĐ và tăng DT cũng như lợi nhuận của DN. Quan trọng hơn cả, là

đưa ra được các biện pháp để khi sử dụng thiết bị máy móc đó không gây ra những

tiếng ồn quá mức, không làm ô nhiễm môi trường ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm

cũng như người lao động và toàn xã hội.

Việc nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ về mặt kinh tế có mối quan hệ mật thiết đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ về mặt kỹ thuật. Bởi vì khi nâng cao

được các đặc tính kỹ thuật, năng suất của máy móc thiết bị… thì đó là cơ sở để DN có thể giảm chi phí, hạ giá thành, tăng DT, tăng lợi nhuận, và sức cạnh tranh. Cũng từ đó

DN có điều kiện quan tâm hơn đến các công tác xã hội và người lao động, hạn chế được các tác hại do việc sử dụng TSCĐ đó gây ra, đồng thời cũng nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ về mặt kinh tế.

18

CHƢƠNG 2.

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TSCĐ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KHOÁNG SẢN BÌNH THUẬN

2.1. Tổng quan về Công ty Cổ Phần Khoáng sản Bình Thuận

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty

Giới thiệu về Công ty

Tên Công ty: Công ty Cổ phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận.

Tên viết bằng tiếng nước ngoài: Binh Thuan Mineral Industry Joint Stock

Company.

Tên viết tắt: KSA

Vốn điều lệ đăng ký: 154.425.590.000 đồng (Một trăm năm mươi bốn tỷ,

bốn trăm hai mươi lăm triệu, năm trăm chín mươi nghìn đồng).

Vốn điều lệ thực góp: 154.425.590.000 đồng (Một trăm năm mươi bốn tỷ, bốn trăm hai mươi lăm triệu, năm trăm chín mươi nghìn đồng).Tương ứng

với 15.442.559 cổ phiếu phổ thông.

Trụ sở chính: Khu phố 11, Phường Bình Tân, Thị xã Lagi, Tỉnh Bình

Thuận.

CN TP. HCM: B2-03 Nam Thiên 2, Hà Huy Tập, P.Tân Phong, Q. 7,

Tp.HCM

Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh: Số 3600802882 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Bình Thuận cấp lần đầu ngày 22/04/2010, thay đổi lần thứ 07

ngày 05/09/2012.

Công ty Cổ phần Công nghiệp và Khoáng sản Bình Thuận tiền thân là Công ty

TNHH Thương mại – Xây dựng Bảo Thư, được thành lập theo Giấy chứng nhận

đăng ký kinh doanh số 4702002159 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Đồng Nai cấp lần đầu ngày 18/04/2006 với mức vốn điều lệ là 5.760.000.000 đồng.

Năm 2009 Công ty chuyển đổi mô hình hoạt động sang hình thức Công ty Cổ phần theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 3600802882 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Đồng Nai cấp ngày 05/11/2009 với số vốn điều lệ được đăng ký là 56.880.000.000 đồng.

Tiếp đó, Công ty chuyển đổi trụ sở chính từ Tỉnh Đồng Nai về Tỉnh Bình Thuận

và đổi tên thành Công ty Cổ phần Khoáng sản Bình Thuận Hamico – được Sở Kế

19

hoạch và Đầu tư Tỉnh Bình Thuận cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số

3600802882 lần đầu vào ngày 22/04/2010 với mức vốn điều lệ đăng ký là

86.668.000.000 đồng và thay đổi lần thứ 02 vào ngày 25/05/2010 với mức vốn điều lệ điều chỉnh lên thành 128.688.000.000 đồng.

Nhằm tạo điều kiện cho Công ty xây dựng riêng một thương hiệu mạnh, phục vụ

định hướng phát triển lâu dài, Đại hội đồng cổ đông thường niên 2011 đã thống nhất

đổi tên Công ty thành Công ty Cổ phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận (KSA).

2.1.2. Cơ cấu bộ máy quản lý Công ty

2.1 Sơ Đồ Tổ Chức Công Ty Cổ Phần Công Nghiệp

Cơ cấu bộ máy quản lý của Công ty chi tiết được thể hiện theo sơ đồ dưới đây:

Khoáng Sản Bình Thuận

ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ BAN KIỂM SOÁT

BAN TỔNG GIÁM ĐỐC

Khối KH đầu tƣ & Pháp chế

Khối Kinh doanh

Phòng Đầu tư

& Quản lý dự án

Khối Hành chính nhân sự

Khối Tài chính – Kế toán

Phòng Nghiên cứu &

Phòng kinh doanh

Phòng Tài Chính

phát triển

Phòng Hành Chính

Phòng quản lý dự

Phòng Kế Toán

Phòng quan hệ công

án

Phòng Nhân Sự

chúng

Phòng pháp chế

20

Đại hội đồng cổ đông

Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty, quyết

định những vấn đề thuộc nhiệm vụ và quyền hạn được Điều lệ Công ty và Pháp luật liên quan quy định. Đại hội đồng cổ đông có các quyền và nhiệm vụ như thông qua,

sửa đổi, bổ sung Điều lệ.Thông qua kế hoạch phát triển Công ty, thông qua Báo cáo tài chính hàng năm, báo cáo của HĐQT, Ban kiểm soát và của Kiểm toán viên.Quyết

định số Thành viên HĐQT.Bầu, miễn nhiệm bãi nhiệm Thành viên HĐQT, Ban kiểm

soát.

Hội đồng quản trị

Hội đồng quản trị là cơ quan quản trị của Công ty có 05 thành viên, có toàn

quyền nhân danh Công ty để quyết định các vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi

của Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền Đại hội đồng cổ đông, HĐQT có các

quyền như quyết định cơ cấu tổ chức, bộ máy, chiến lược đầu tư, phát triển của Công

ty trên cơ sở các mục đích chiến lược do ĐHĐCĐ thông qua.Quyền bổ nhiệm, cách

chức, giám sát hoạt động của Ban Tổng Giám đốc.Kiến nghị sửa đổi bổ sung Điều lệ,

báo cáo tình hình kinh doanh hàng năm, Báo cáo tài chính, quyết toán năm, Phương

án phân phối lợi nhuận và phương hướng phát triển, kế hoạch phát triển sản xuất kinh

doanh và ngân sách hàng năm trình ĐHĐCĐ.

Ban kiểm soát

Ban k s do ĐHĐCĐ bầu ra gồm 03 thành viên, thay mặt cổ đông để kiểm

soát mọi hoạt động quản trị và điều hành sản xuất kinh doanh của Công ty. Ban k

s chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ và Pháp luật về những công việc thực hiện theo

quyền và nghĩa vụ như:

Kiểm tra sổ sách kế toán và các Báo cáo tài chính của Công ty, kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của các hoạt động sản xuất kinh doanh và tài chính

Công ty.

Trình ĐHĐCĐ báo cáo thẩm tra các Báo cáo tài chính của Công ty, đồng

thời có quyền trình bày ý kiến độc lập của mình về kết quả thẩm tra.

Yêu cầu HĐQT triệu tập ĐHĐCĐ bất thường trong trường hợp xét thấy

cần thiết.

Ban Tổng Giám đốc

Tổng Giám đốc do HĐQT bổ nhiệm, chịu sự giám sát của HĐQT và chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ, HĐQT và trước Pháp luật về việc thực hiện các quyền và

21

nhiệm vụ được giao. Các Giám đốc Khối có trách nhiệm hỗ trợ Tổng Giám đốc điều

hành các mảng hoạt động của Công ty theo chức năng và nhiệm vụ của từng Khối,

báo cáo trực tiếp với Tổng Giám đốc. Tổng Giám đốc là người đại diện theo Pháp luật của Công ty. Ban Tổng Giám đốc có nhiệm vụ:

Tổ chức điều hành, quản lý mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty theo nghị quyết của ĐHĐCĐ, quyết định của HĐQT, Điều lệ Công ty và

tuân thủ Pháp luật.

Xây dựng và trình HĐQT các quy chế quản lý điều hành nội bộ, kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch tài chính hàng năm và dài hạn của Công ty.

Ký kết, thực hiện các hợp đồng theo quy định của Pháp luật.

Báo cáo HĐQT về tình hình hoạt động, kết quả sản xuất kinh doanh, chịu trách nhiệmtrước ĐHĐCĐ, HĐQT và Pháp luật về những sai phạm gây tổn

thất cho Công ty.

Các phòng chức năng

Khối Hành Nhân sự chính

Khối hành chính nhân sự có các nhiệm vụ và chức năng sau:

Xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy Công ty, xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề cho CBNV.

Thực hiện chính sách, chế độ tiền lương và các chế độ khác đối với người

lao động.

Xây dựng nội quy, quy chế, quy định quản lý nội bộ trong Công ty.

Tham mưu cho Tổng Giám đốc việc bố trí, sắp xếp lao động các phòng ban, chi nhánh và xí nghiệp của Công ty cho phù hợp với tính chất công

việc, phù hợp với Luật lao động được nhà nước ban hành.

Quản lý, lưu trữ hồ sơ của CBNV, giải quyết những vấn đề phát sinh về quyền lợi cũng như chính sách của người lao động trong quá khứ và hiện tại.

Phòng thực hiện chức năng và điều hành mọi hoạt động theo sự chỉ đạo,

quản lý trực tiếp của Ban Tổng Giám đốc Công ty.

Khối Tài chính – Kế toán

Khối Tài chính – Kế toán có các nhiệm vụ và chức năng sau:

22

Tổng hợp, ghi chép lại các số liệu, tình hình tài chính của Công ty. Báo cáo trực tiếp lên Ban Tổng Giám đốc thông qua tình hình tài chính giúp Tổng

Giám đốc chỉ đạo hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.

Thực hiện chế độ báo cáo theo định kỳ, thực hiện tốt các yêu cầu kiểm

toán, thanh tra tài chính của các cấp có thẩm quyền.

Phản ánh chính xác, trung thực, đầy đủ, kịp thời, rõ ràng và dễ hiểu toàn diện các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trên nguyên tắc kế

toán độc lập về nghiệp vụ.

Khối Kế hoạch Đầu tư và Pháp chế

Tổ chức quản lý, cân đối và phân bổ nguồn tài chính cho các dự án và các Công ty thành viên. Theo dõi và đánh giá hiệu quả tài chính của từng hạng

mục phân bổ vốn. Hoạch định chiến lược tài chính cho DN trong từng thời

kỳ, duy trì khả năng thanh khoản, đảm bảo an toàn tài chính ở mức cao

nhất cho hệ thống.

Tổ chức xây dựng quy trình quản lý, sản xuất của toàn bộ Công ty mẹ và các Công ty thành viên theo các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế phù hợp.

Chịu trách nhiệm chuẩn hóa toàn bộ các hồ sơ pháp lý của Công ty như

hợp đồng kinh tế, hợp đồng lao động… Theo dõi và xử lý toàn bộ các vấn

đề liên quan đến pháp lý của Công ty.

Khối Kinh doanh và Quản lý dự án

Tổ chức xây dựng các kế hoạch kinh doanh và tham mưu cho HĐQT cũng như Ban Tổng Giám đốc định hướng phát triển trong trung và dài hạn của

Công ty. Trên cơ sở kế hoạch kinh doanh của từng phòng ban, từng đơn vị,

phòng sẽ lập kế hoạch kinh doanh tổng thể trong từng quý, từng năm để

trình Ban Tổng Giám đốc xem xét phê duyệt.

Tổ chức lập đề án, đánh giá hiệu quả và xây dựng, thực hiện các dự án trong hạng mục đầu tư của Công ty từ giai đoạn chuẩn bị cho đến khi dự án đi vào hoạt động.

Quản lý và đánh giá hiệu quả thực tế của từng dự án khi đi vào hoạt động, báo cáo và tham mưu trực tiếp cho Ban Tổng Giám đốc phê duyệt theo từng giai đoạn triển khai.

23

2.1.3. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh

Với ngành nghề kinh doanh đã đăng ký tại Giấy chứng nhận đăng ký kinh

doanh, hiện nay, Công ty Cổ phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận đang sản xuất và cung cấp những sản phẩm dịch vụ chủ yếu như sau:

Khai thác, chế biến và kinh doanh Khoáng sản

Công ty cổ phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận chuyên cung cấp và kinh

doanh chế biến các sản phẩm Khoáng sản phi kim như: cát cải tạo, cát xây dựng, cát

silic, cát silic được xử lý (cát đúc, cát lọc nước), tập hợp, chế biến kaolin, tất cả các

loại đất sét, khoáng chất, than đá… Công ty không chỉ tập trung đầu tư khai thác Khoáng sản ở Việt Nam, mà còn ở các nước Đông Nam Á khác,với định hướng trở

thành một Công ty khai thác mỏ hàng đầu trong khu vực.

Thị trường tiêu thụ:

Cung cấp làm nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp chếtạo thủy tinh, thủy tinh lỏng, kính công nghiệp trong và ngoài nước; dùng cho các

thiết bị lọc nước tinh khiết với kích thước hạt siêu nhỏ.

Cát xây dựng dùng làm nguyên vật liệu trong xây dựng công trình các loại; cát nhiễm mặn dùng để san lấp, tạo lập quỹ đất trong nước cũng như

xuất khẩu sang những nước trong khu vực như Singapore, Trung Quốc,…

Đầu tư và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, cảng biển

Cho thuê bãi chứa nông sản, hàng hóa, nguyên vật liệu, phân bón, gạch …

Xây dựng hạ tầng các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trên địa bàn t

ỉnh.

Xây dựng cụm công nghiệp sửa chữa, đóng mới tàu thuyền, xà lan và

container.

Các công trình đang triển khai: Cụm Công nghiệp Chế biến Khoáng sản Thắng Hải tại Xã Thắng Hải, Huyện Hàm Tân, Tỉnh Bình Thuận; Kho nông sản Phước Bình tại Xã Phước Bình, Long Thành, Đồng Nai.

Các công trình sẽ triển khai: Khu chuyển tải Lagi - tại bãi bồi ven biển thuộc bờ kè tả ngạn Sông Dinh, Thị xã Lagi, Huyện Hàm Tân, Tỉnh Bình Thuận; Cụm công nghiệp tàu thủy Ba Đăng tại Xã Tân Hải, Thị xã Lagi, Tỉnh Bình Thuận.

24

San lấp mặt bằng và phát triển quỹ đất ven biểnCông ty cổ phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận chuyên về dịch vụ san lấp giải phóng mặt

bằng. Giải phóng bàn giao mặt bằng xây dựng công trình dân dụng, công cộng. Với đội ngũ nhân viên nhiệt tình, giàu kinh nghiệm cộng với các thiết

bị máy móc chuyên dụng chuyên nghiệp, hiện đại. CÔNG TY luôn luôn đặt tiêu chí chất lượng và hoàn thành bàn giao công trình đúng thời gian cho

khách hàng là tiêu chí hàng đầu.Tạo lập quỹ đất từ hoạt động nạo vét, khai

thông luồng lạch; san lấp mặt bằng và xây dựng cơ sở hạ tầng.

Công trình đang triển khai: Nạo vét luồng lạch sông Dinh thuộc phường Bình Tân, Thị xã Lagi, Bình Thuận; nạo vét luồng lạch sông Phan và cửa

sông Ba Đăng tại xã Tân Hải, Thị xã Lagi, Bình Thuận.

Kinh doanh vật liệu xây dựng

Nguồn khai thác: Hiện tại Công ty đang thực hiện thu mua thương mại với các

nhà cung cấp có chủ quyền mỏ khai thác đất sét các loại. Công ty đang tiến hành thăm

dò, tiến tới xin cấp phép tự khai thác các mỏ đất sét có trữ lượng lớn, đã nằm trong quy hoạch của Bộ Tài Nguyên Môi Trường tại Tỉnh Đồng Nai hoặc Bình Thuận.

Sản phẩm sau chế biến: đất sét trắng dạng cục, độ ẩm 6% với hàm lượng

Al2O3 khoảng 19%.

Thị trường tiêu thụ: Làm nguyên liệu cho ngành sản xuất vật liệu xây dựng

như sản xuất gạch Tuynel, gạch không nung, gốm sứ

2.2. Thực trạng tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần

Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận

2.2.1. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

Để đánh giá kết quả kinh doanh của DN và có những giải pháp đúng đắn, ta căn

cứ vào tình hình tài chính, DT ,lợi nhuận của DN. Trong giai đoạn 2010-1012 Công ty Cổ phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận đã đạt được một số kết quả sau:

25

Bảng 2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty từ năm 2010-2012

2011/2010

2012/2011

Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Đơn vị tính: Triệu đồng

Chỉ tiêu

giá trị

%

giá trị %

1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

97.163

61.115

52.098

(36.048)

-37,10%

(9.017)

-14,75%

2. Các khoản giảm trừ doanh thu

1.267

11.838

8.589

10.571

834,33%

(3.249)

-27,45%

3. Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ

95.896

49.277

43.509

(46.619)

-48,61%

(5.768)

-11,71%

4. Giá vốn hàng bán

41.802

25.068

18.793

(16.734)

-40,03%

(6.275)

-25,03%

5. Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ

54.094

24.209

24.716

(29.885)

-55,25%

507

2,09%

475

74,45%

1.163

50

638

1.113

4,49%

6. Doanh thu hoạt động tài chính

1.354

1057,81%

1.434

2.916

128

1.482

96,76%

7. Chi phí hoạt động tài chính

2.916 1.849 6.377 14.737

1.354 796 (3.942) (27.618)

1057,81% 50,96% -30,56% -68,80%

1.434 (509) (2.582) 2.214

128 1.562 12.901 40.141

1.482 2.358 8.959 12.523

96,76% -21,59% -28,82% 17,68%

- Trong đó: Chi phí lãi vay 8. Chi phí bán hàng 9. Chi phí quản lý doanh nghiệp 10 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh

7.945 5.875 2.070 16.807 4.289 0

(51.579) (4.374) (47.205) (74.823) (18.760) 0

-90,69% -42,40% -101,39% -86,30% -85,64% 0

2.649 (68) 2.717 4.931 1.144 0

56.875 10.317 46.558 86.699 21.905 0

5.296 5.943 (647) 11.876 3.145 0

50,02% -1,14% -419,94% 41,52% 36,38% 0%

11. Thu nhập khác 12. Chi phí khác 13. Lợi nhuận khác 14. Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 15. Chi phí thuế TNDN hiện hành 16. Chi phí thuế TNDN hoãn lại

3,787

64.794

43,37%

17. Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp

8.731

12.518

(56.063)

-86,52%

(nguồn: Báo cáo tài chính năm 2010-2012)

26

Chúng ta sẽ đi phân tích một số chỉ tiêu quan trọng để hiểu rõ hơn về tình hình

hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

DT thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ:

DT thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ là những khoản DT từ bán hàng và cung

cấp dịch vụ trừ đi các khoản giảm trừ DT. Vì vậy, trong phần này, ngoài phân tích DT thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ, chúng ta cũng cần xem xét hai chỉ tiêu có liên

quan, đó là, DT bán hàng cung cấp dịch vụ và các khoản giảm trừ DT. Đối với Công

ty Cổ phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận, thì DT từ chỉ tiêu này thu được chủ

yếu là bán hàng. Bởi ngành nghề chủ yếu của Công ty là khai thác, chế biến, và kinh doanh Khoáng sản.

Năm 2011, DT thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ của Công ty là 49.277 triệu, ,

tức là giảm 46.619 triệu so với năm 2012 tương đương với giảm 48,61%. Nguyên

nhân là do DT bán hàng năm 2010 là 97.163 triệu, nhưng năm 2011 giảm chỉ còn

61.115 triệu. Thị trường tiêu thụ chủ yếu của Công ty là cung cấp các nguyên vật liệu

đầu vào cho các ngành công nghiệp như chế tạo thuỷ tinh hoặc cung cấp cát cho các

ngành xây dựng. Trong năm 2011, ngành xây dựng gặp một số khó khăn,thị trường

bất động sản đóng băng, nhiều công trình xây dựng, nhà ở bị ứ đọng. Mặt khác những

hoạt động quảng cáo, quảng bá sản phẩm của Công ty không được chú trọng nhiều, vì

vậy Công ty mất đi một lượng khách hàng nhất định. Hơn nữa khoản giảm trừ doanh

thu của Công ty năm 2011 là 11.838 triệu chủ yếu là hàng bán bị trả lại. Vì vậy DT

thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ giảm mạnh trong năm 2011. Trong năm 2012,

nhóm chỉ tiêu này giảm nhẹ xuống còn 43.509 triệu. Tức là giảm 5.768 triệu tương

đương 11,71% so với năm 2010. Nguyên nhân giảm DT thuần bán hàng năm 2012

chủ yếu là do hàng bán bị trả lại là 8.589 triệu.

Giá vốn hàng bán

Đây là chỉ tiêu chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu tổng chi phí của Công ty. GVHB của Công ty năm 2011 là 25.068 triệu, giảm 16.734 triệu tương ứng giảm 40,03% so với năm 2010. GVHB năm 2012 là 18.793 triệu, giảm 6.275 triệu tương ứng giảm 25,03% so với năm 2011. Trong 2 năm 2012 và 2011, nguyên nhân chính

giảm GVHB là do lượng hàng bán ra của Công ty giảm khiến cho giá trị mua và chi phí mua giảm đi. Ngoài ra GVHB là nhân tố mà Công ty khó có thể chủ động,vì nhiều lý do như là đơn đặt hàng nhiều hay ít, nguyên liệu đầu vào mà Công ty mua được nó còn phụ thuộc vào sự biến động của thị trường. Do đó, Công ty cần phải tính toán thật kỹ về thời điểm sản lượng đặt hàng, lượng hàng tồn kho, chi phí vận

27

chuyển như thế nào cho hợp lý để không làm chi phí này tăng cao làm ảnh

hưởng đến lợi nhuận của Công ty

Doanh thu từ hoạt động tài chính

Theo báo cáo tài chính, DT từ hoạt động này chủ yếu là do lãi từ tiền gửi và cho

vay. Năm 2011 là 1.113 triệu, tăng 475 triệu tương đương với 74,45%. Năm 2011 là 1.163 triệu, tăng 50 triệu, tương đương với 4,49%. DT từ hoạt động tài chính thấp hơn

nhiều so với DT bán hàng và cung cấp dịch vụ cho thấy Công ty không quan tâm

nhiều đến lĩnh vực đầu tư tài chính bên ngoài mà chỉ tập trung vào mảng kinh doanh

chính của mình. Điều này giúp Công ty không chịu nhiều rủi ro và giúp tập trung cho những chiến lược kinh doanh của mình.

Chi phí hoạt động tài chính

Chi phí từ hoạt động này chủ yếu là chi phí lãi vay. Qua bảng ta thấy, chi phí

hoạt động tài chính của Công ty tăng mạnh trong giai đoạn 2010-2012. Năm 2011 chi

phí hoạt động tài chính là 1.482 triệu, tăng 1.354 triệu, tương đương tăng 1057,81%

với năm 2010, năm 2012 chi phí này là 2.916 triệu đồng tức là tăng 1.434 triệu tương

đương tăng 97% so với năm 2011. Điều này cho thấy chi phí hoạt động tài chính của

Công ty có xu hướng tăng nhanh. Điều này chứng tỏ Công ty đã sử dụng nhiều khoản

vay trong 3 năm qua. Nguyên nhân chung của sự tăng nhanh chi phí HĐTC là do chi

phí lãi vay trong các năm đếu rất cao, dẫn đến chi phí HĐTC tăng theo. Trong năm 2010 Công ty đã vay vốn từ các ngân hàng để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và mua

mới cũng như lắp đặt các dây chuyền sản xuất mới, lãi suất tại thời điểm đó khá cao

đã khiến chi phí này ở mức cao.

Chi phí bán hàng

Chi phí bán hàng năm 2011 là 2.358 triệu, tăng 796 triệu tương đương tăng

50,96%. Chi phí bán hàng của công ty bao gồm: Chi phí quảng cáo, chi phí trả hoa

hồng cho đại lý, kênh phân phối. Thế nhưng có điều bất hợp lý ở đây là, trong khi doanh thu bán hàng cung cấp dịch vụ giảm năm 2011 so với năm 2010 thì chi phí lại tăng. Điều này chứng tỏ DN đầu tư bán hàng vẫn chưa hợp lý, chi phí bỏ ra thì nhiều nhưng doanh thu thu vào lại ít. Năm 2012 chi phí bán hàng là 1.849 triệu, giảm 509

triệu, tương đương giảm 21,59 %. Sang năm 2012, công ty đã chú trọng hơn về chỉ tiêu nay, đã biết điều tiết chi phí bỏ ra hợp lý hơn mà vẫn thu được doanh thu nhất định.

Chi phí quản lý DN

28

Chi phí quản lý DN là chi phí rất quan trọng,nó phản ánh tình hình hoạt động

của DN có hiệu quả hay không. Chi phí này bao gồm các chi phí điện nước, thuê tài

sản, khấu hao, lương, các khoản dự phòng. Chi phí quản lý DN của Công ty giảm khá đều vào các năm. Chỉ tiêu này giảm từ 12.901 triệu năm 2010 xuống còn 8.959 triệu

vào năm 2011. Giảm 3.942 triệu, tương đương với 30,56%. Năm 2012 giảm đi 5.282

triệu xuống còn 6.377 triệu, tương đương giảm 28,82 %. Nguyên nhân chung cho sự

giảm trong 3 năm này là do, công ty đã cắt giảm đi chi phí về đồ dùng, dụng cụ phục

vụ cho bộ phận quản lý và các chi phí về điện nước, chi phí tổ chức hội nghị,sự kiện cũng được kiểm soát, thắt chặt hơn hơn. Trong điều kiện thị trường kinh tế khó khăn,

việc cắt giảm được chi phí là một điều cần thiết. Công ty phải luôn đề ra các giải pháp để có thể giảm được tối đa chi phí mà vẫn muốn có lợi nhuận cao.

Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh

Qua bảng 2.1 ta thấy lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh năm 2010 là

40.141 triệu. Năm 2011 là 12.523 triệu, giảm 68,8% so với năm 2010. Nguyên nhân

có sự giảm mạnh giữa năm 2011 và năm 2010 là do hoạt động kinh doanh cát san lấp

sang thị trường nước ngoài hiện đang tạm ngưng lại theo quy định của Nhà nước.

Trong năm 2010, Công ty có thế mạnh về khai thác cát nhiễm mặn để san lấp các

công trình và tự san lấp, lấn biển tạo lập các quỹ đất ven biển. Nhưng hoạt động nạo

vét và khai thác cát dùng để san lấp của Công ty gặp nhiều khó khăn trong năm 2011,

khi các dự án lớn đều hoãn khởi công hoặc chỉ triển khai cầm chừng. Hoạt động san

lấp, lấn biển để tạo lập quỹ đất ven biển cũng bị đình trệ vì quỹ đất tạo ra không tiêu

thụ được.Khách hàng chính của Công ty là các Công ty bất động sản cũng đang gặp

rất nhiều khó khăn.

Sang năm 2012, nhóm DT này tăng nhẹ lên tới 14.373 triệu, tương đương tăng 17,68 % so với năm 2011. Nguyên nhân là do công ty đã nỗ lực tiết giảm các chi phí,

đặc biệt là chi phí giá vốn, chi phí quản lý doanh nghiệp cũng được cân đối tiết giảm

để phù hợp với tình hình khó khăn trước mắt.

Thu nhập khác

Năm 2011, thu nhập khác của công ty có giá trị là 5.296 triệu, giảm 51.579 triệu

so với năm 2010, tương đương giảm 90,96%. Theo báo cáo tài chính, nguồn thu nhập này của công ty chủ yếu là tiền thu được từ thanh lý TSCĐ hữu hình và tiền thu được từ bán quyền sở hữu đất. Điều này cũng lý giải vì sao thu nhập khác của công ty lại tăng giảm qua 3 năm như vậy. Năm 2011, công ty chú trọng hơn về TSCĐ, các máy móc thiết bị được quan tâm nhiều hơn, vì vậy mức độ hao mòn giảm đi, số lượng

29

TSCĐ cần thanh lý cũng giảm đi. Năm 2012 tăng nhẹ 2.649 triệu lên tới 7.945 triệu,

tương đương tăng 50,02% so với năm. Nguyên nhân tăng là do thu nhập khác chủ yếu

từ bán quyền sở hữu đất là 7.189 triệu.

Chi phí khác

Năm 2011, chi phí khác của công ty là 5.943 triệu, giảm 4.374 triệu so với năm 2010, tương đương giảm 42,40%. Theo báo cáo tài chính, chi phí khác của công ty

chủ yếu từ GTCL của TSCĐ đã thanh lý và nguyên giá của tài sản đất nhượng bán.

Năm 2011 giảm so với năm 2010, là do GTCL của TSCĐ giảm từ 2.643 triệu xuống

còn 578 triệu và nguyên giá tài sản đất nhượng bán giảm từ 7.513 triệu xuống còn 4.744 triệu. Năm 2012, chi phí khác của công ty giảm nhẹ 68 triệu xuống còn 5.875

triệu, tương đương giảm 1,14%. Mặc dù năm 2012 có thêm khoản chi phí tiền phạt

phá hợp đồng thuê văn phòng 429 triệu, nhưng GTCL của TSCĐ đã thanh lý giảm từ

587 triệu năm 2011 xuống còn 160 triệu năm 2012, nên chi phí khác vẫn giảm một

chút.

Lợi nhuận sau thuế.

Năm 2010, LN sau thuế của công ty là 64.794 triệu, sang năm 2011 là 8.731

triệu, giảm 56.063 triệu tương đương giảm 86,52 %. Năm 2011, nền kinh tế thế giới

đang trong tình trạng khủng hoảng, lạm phát gia tăng, vì vậy mọi ngành nghề lĩnh vực

đều có ảnh hưởng ít nhiều. Ngành Khoáng sản cũng bị ảnh hưởng không nhỏ, bởi nguồn tiêu thụ chính các sản phẩm Khoáng sản là các công ty xây dựng. Công ty Cổ

phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận mặc dù đã cố gắng nỗ lực nhưng lợi nhuận

cũng giảm đáng kể. Nguyên nhân là do các công trình xây dựng bị trì trệ ứ đọng, thị

trường bất động sản đóng băng, dẫn đến một số lượng lớn các nguyên vật liệu dành

cho xây dựng, công nghiệp bị ứ đọng không bán được. Nhưng sang năm 2012, lợi

nhuận sau thuế tăng lên 12.518 triệu, tức là tăng 3.787 triệu, tương đương với 43,37%.

Nguyên nhân là do, trong năm 2012 hoạt động chiếm tỷ trọng doanh thu cao nhất là xuất khẩu cát (chiếm 47,7% doanh thu thuần) của Công ty gặp nhiều thuận lợi, hoạt động này tăng đáng kể so với năm 2011. Đối với nhân viên đây là một điều đáng mừng, LN sau thuế năm sau cao hơn năm trước sẽ giúp nhân viên và ban lãnh đạo

trong công ty cảm thấy lạc quan hơn về tương lai của công ty mình.

2.2.2. Cơ cấu tài sản của Công ty

Bảng dưới đây sẽ cho ta thấy cơ cấu tài sản của Công ty thay đổi như thế nào

trong giai đoạn 2010 – 2012.

30

Bảng 2.2. Cơ cấu tài sản của Công ty giai đoạn 2010-2012

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2011/2010

Năm 2012/2011

Chỉ tiêu

giá trị

tỷ trọng

giá trị

tỷ trọng

giá trị

tỷ trọng

giá trị

%

giá trị

%

TSNH

166.502

52,1%

149.509

41,5%

138.297

39,3%

(16,993)

-10,21%

(11,212)

-7,50%

TSDH

152.892

47,9%

210.405

58,5%

213.383

60,7%

57,513

37,62%

2,978

1,42%

Tổng Tài sản

319.394

100%

359.914

100%

351.680

100%

40,520

12,69%

(8,234)

-2,29%

Đơn vị tính : Triệu đồng

(Nguồn: Báo cáo tài chính giai đoạn 2010-2012)

31

Nhìn vào bảng về cơ cấu tài sản trên ta thấy, tài sản của Công ty biến đổi rõ rệt

qua các năm, cụ thể hơn là TSNH và TSDH. TSNH giảm khá đều qua các năm. Năm

2010, TSNH có giá trị là 166.502 triệu, chiếm tỷ trọng 52,1%. Nhưng tới năm 2011 lại giảm đi 16.933 triệu, chỉ còn 149.509 triệu ,tương đương giảm 10,21%. Năm 2012

giảm 11.212 triệu so với năm 2011 tương đương 7.5%. TSNH của công ty bao gồm :

Tiền và các khoản tương đương tiền,các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, phải thu

ngắn hạn, hàng tồn kho, và các tài sản ngắn hạn khác. Theo bảng cân đối kế toán ngày

31/12/2011 của công ty cho thấy, nguyên nhân chính làm giảm TSNH là do, tiền và các khoản tương đương tiền giảm từ 20.411 triệu xuống còn 12.234 triệu, và năm

2012 giảm còn 11.167 triệu. Nguyên nhân giảm là do, trong 2 năm 2011 và 2012, công ty không ưu tiên đầu tư vào các chứng khoán ngắn hạn có thời gian thu hồi

không quá 3 tháng.

Tỷ trọng TSNH giảm đều qua 3 năm 2010 tới 2012, điều đó có nghĩa là TSDH

tăng đều qua các năm. Bảng dưới đây sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn về cơ cấu của

TSDH trong Công ty Cổ phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận.

32

Bảng 2.3. Cơ cấu TSDH của Công ty năm 2010-2012

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

2011/2010

2012/2011

chỉ tiêu

tỷ trọng

giá trị

tỷ trọng giá trị

tỷ trọng giá trị

%

giá trị

%

giá trị -

1. Các khoản phải thu dài hạn

-

-

-

-

-

-

-

-

-

2. TSCĐ

128.363

83,96%

158.863

75,5%

202.449

94,9%

30.500

23,8%

43.586

27,4%

3. Bất động sản đầu tư

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

4. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 5. Tài sản dài hạn khác

23.700 828

15,50% 0,54%

50.102 1.439

23,8% 0,7%

10.114 819

4,7% 0.4%

26.402 611

111,4% 73,8%

(39.988) (620)

-79,8% -43,1%

Đơn vị tính: Triệu đồng.

(Nguồn:Báo cáo tài chính giai đoạn 2010-2012)

33

Đầu tiên, chúng ta nhìn vào chỉ tiêu chiếm nhiều tỷ trọng nhất trong TSDH, đó là

TSCĐ. Năm 2010, TSCĐ có giá trị 128.363 triệu, chiếm tỷ trọng 83,96%. Năm 2011

tăng 30,500 triệu lên tới 158.863 triệu, chiếm tỷ trọng 75,5%. Và đỉnh điểm năm 2012 chiếm tỷ trọng cao nhất trong 3 năm là 94,9 %. TSCĐ tăng lên tới 202.499 triệu,

tương đương với 27,4 %. TSCĐ của Công ty tăng đều qua từng năm. Nguyên nhân do

đặc thù của Công ty là kinh doanh trong ngành Khoáng sản nên tài sản của Công ty

phần lớn là TSCĐ và không ngừng gia tăng qua từng năm.

Chúng ta tiếp tục xem xét chỉ tiêu thứ hai, đó là các khoản đầu tư tài chính dài hạn. Đây là chỉ tiêu có tỷ trọng đứng thứ 2 trong cơ cấu TSDH của Công ty. Năm

2010, chỉ tiêu này có giá trị 23.700 triệu, chiếm 15,5% tỷ trọng TSDH. Năm 2011 tăng lên tới 50.102 triệu, tăng 26.402 triệu, tương đương 111,4% so với năm 2010,

chiếm tỷ trọng 23,8% tổng TSDH. Nguyên nhân là do năm 2011, Công ty đã đầu tư

vào các công ty con, góp vốn vào các cơ sở kinh doanh và đầu tư vào công ty liên kết

với tổng số tiền là 48.902 triệu. Sang năm 2012, chỉ tiêu khoản đầu tư tài chính đã

giảm mạnh xuống 39.988 triệu, tương đương 79,8 %, xuống còn 10.114 triệu, dẫn đến

tỷ trọng chỉ còn chiếm 4,7% tổng TSDH. Nguyên nhân là do số tiền đầu tư vào các

công ty liên kết giảm.

2.3. Thực trạng quản lý và sử dụng TSCĐ tại Công ty Cổ phần Công nghiệp

Khoáng sản Bình Thuận

TSCĐ là một bộ phận tài sản chủ yếu phản ánh năng lực sản xuất kinh doanh và

trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật của một DN. TSCĐ là bộ phận cần thiết để giảm

nhẹ sức lao động và nâng cao trình độ công nhân. Do đó, TSCĐ có ý nghĩa quyết định

đến hoạt động sản xuất kinh doanh.

2.3.1. Công tác quản lý, sử dụng TSCĐ tại Công ty

Cơ cấu đổi mới, thay thế TSCĐ

Theo báo cáo tài chính trong 3 năm 2010, 2011, 2012, tổng giá trị TSCĐ mua sắm xây dựng mới tương ứng là 1.925 triệu,4.324 triệu, 38.553 triệu. Như vậy qua 3 năm ta thấy, hàng năm Công ty có quan tâm đến việc đổi mới máy móc thiết bị, mua

sắm, xây dựng mới một số TSCĐ khác nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và hoạt

động quản lý của Công ty đồng thời để thay thế một số thiết bị máy móc đã lỗi thời, lạc hậu, hư hỏng. Hàng năm Công ty lên kế hoạch mua sắm, đầu tư mới TSCĐ theo nhu cầu và mức độc cần thiết đối với từng loại TSCĐ

Tình hình quản lý sử dụng, giữ gìn và sữa chữa TSCĐ

34

Do quy mô TSCĐ của Công ty rất lớn nên mặc dù đã phân cấp quản lý đến từng

nhà máy, xí nghiệp, phân xưởng nhưng vấn đề quản lý sử dụng TSCĐ vẫn còn gặp

nhiều khó khăn. Công ty đã cố gắng phát huy khả năng quản lý, ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn, bảo quản và nâng cao hiệu quả vận hành máy móc nhưng kết quả

còn nhiều hạn chế. Hàng năm, ngoài việc đầu tư, mua sắm mới TSCĐ, Công ty còn

phải bỏ ra một khoản vốn đáng kể cho việc duy trì, bảo dưỡng, sửa chữa lại các

TSCĐ.

Tình hình khấu hao, kiểm kê TSCĐ của Công ty

Hiện nay, hàng năm Công ty vẫn tiến hành đều đặn việc lập kế hoạch khấu hao cho năm kế hoạch. Do nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý khấu hao

nên việc lập kế hoạch khấu hao được Công ty thực hiện một cách chặt chẽ nhằm thu

hồi được vốn đầu tư bỏ ra ban đầu. Tuy nhiên do việc tính toán còn hạn chế nên mức

độ chính xác chỉ là tương đối.

Theo định kỳ, hàng năm theo quy định của Nhà nước, Công ty tiến hành công

tác kiểm kê tài sản nói chung và TSCĐ nói riêng. Điều này cho phép Công ty có được

những số liệu chính xác về tình hình TSCĐ của mình, giúp cho Công ty quản lý sử

dụng có hiệu quả hơn

2.3.2. Đánh giá tình hình sử dụng TSCĐ tại Công ty

2.3.2.1 Thực trạng kết cấu TSCĐ tại Công ty

Để hiểu chi tiết về các bộ phận cấu thành nên TSCĐ của Công ty giai đoạn

2010-2012, chúng ta hãy xem xét số liệu ở bảng : “Cơ cấu TSCĐ của Công ty giai

đoạn 2010-12” dưới đây.

35

Đơn vị tính: Triệu đồng

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

2011/2010

chỉ tiêu

nguyên giá 12.453 1.330 175 10.494 409 45 18.456 10 18.446

tỷ trọng nguyên giá 30,6% 3,3% 0,4% 25,8% 1,0% 0,1% 45,3% 0,0% 45,3%

15.941 1.387 2.494 11.596 419 45 13.712 10 13.702

tỷ trọng 9,8% 0,9% 1,5% 7,2% 0,3% 0,0% 8,5% 0,0% 8,5%

nguyên giá 53.792 39.921 1.918 11.356 539 58 42.859 10 42.849

tỷ trọng 26,0% 19,3% 0,9% 5,5% 0,3% 0,0% 20,7% 0,0% 20,7%

giá trị 3.488 57 2.319 1.102 10 0 -4.744 0 -4.744

% 28,0% 4,3% 1325,1% 10,5% 2,4% 0,0% -25,7% 0,0% -25,7%

2012/2011 % 237,44% 2778,23% -23,10% -2,07% 28,64% 28,89% 212,57% 0.00% 212,72%

giá trị 37.851 38.534 -576 -240 120 13 29.147 0 29.147

9.839

24,1%

132.295

81,7%

110.178

53,3%

122.456

111,1%

-22.117

-16,72%

1. TSCD hữu hình -Nhà cửa,vật kiến trúc -máy móc,thiết bị -Phương tiện vận tải,dẫn truyền -Thiết bị,dụng cụ quản lý -TSCĐ khác 2. TSCĐ vô hình -Phần mềm máy tính -Quyền sử dụng đất -chi phí xây dựng cơ bản dở dang

40.748

100%

161.948

100%

206.829

100%

121.200

297,4%

44.881

27,71%

Tổng TSCĐ

Bảng 2.4. Cơ cấu TSCĐ của Công ty giai đoạn 2010-2012

(Nguồn: Báo cáo tài chính giai đoạn 2010-2012)

36

Căn cứ vào bảng trên ta thấy, tổng nguyên giá TSCĐ tăng giảm không đều qua các năm từ 2010 đến năm 2012. Nguyên nhân là do, TSCĐ hữu hình cùng tăng qua

các năm: năm 2010 là 12,453 triệu, năm 2011 tăng lên tới 15.941 triệu và năm 2012

tăng vọt lên tới 53.792 triệu, tương đương với tăng 237.44 % so với năm 2011. Thế

nhưng TSCĐ vô hình lại tăng giảm không đồng đều. Năm 2010 TSCĐ vô hình là

18.456 triệu, năm 2011 giảm xuống còn 13.712 triệu, nhưng năm 2012 lại tăng lên 42.859 triệu. Điều này dẫn đến tổng TSCĐ cũng thay đổi theo. Bây giờ chúng ta sẽ

phân tích cụ thể từng chỉ tiêu liên quan tới TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình để hiểu

rõ hơn.

Đầu tiên,chúng ta xem xét về TSCĐ hữu hình.

Nhóm nhà cửa vật kiến trúc

Năm 2011 là 1.387 triệu, tăng 57 triệu tương đương với 4,3 % so với năm 2010.

Tới năm 2012 nhóm TSCĐ này tăng mạnh lên tới 39.921 triệu tương đương với

2778,23% . Nguyên nhân của sự tăng mạnh này là do Công ty đầu tư xây dựng cơ bản, nâng cấp trụ sở chính hoàn thành. Công ty đã chú trọng đầu tư rất lớn vào nhóm TSCĐ

này nhằm cải thiện tình trạng cơ sở vật chất của đơn vị, góp phần nâng cao năng lực

sản xuất kinh doanh. Đây cũng chính là lý do khiến thiết bị, dụng cụ quản lý tăng qua

các năm. Năm 2010 thiết bị dụng cụ quản lý là 409 triệu, năm 2011 tăng nhẹ lên 419

triệu và tới năm 2012 tăng tới 539 triệu. Nhưng do nhóm TSCĐ này chiếm tỷ lệ khác

nhỏ trong TSCĐ hữu hình, chỉ dao động từ 0%-2%. Nên nó cũng không ảnh hưởng

nhiều tới TSCĐ.

Nhóm máy móc thiết bị

Năm 2011 là 2.494 triệu, tăng 1,325% so với 2010. Vào năm 2011, để đáp ứng

nhu cầu của thị trường, một lượng vốn lớn là được đầu tư để mở rộng DN, mở rộng cơ

sở sản xuất. Vì vậy một số lượng lớn thiết bị máy móc đã được nhập vào để đầu tư.

Nhưng đến năm 2012, nhóm máy móc thiết bị này giảm 23.10% là do, Công ty đã

thanh lý 1 số lượng máy móc đã cũ kỹ, lạc hậu không còn phù hợp cho quá trình sản

xuất của Công ty.

Nhóm Phương tiện vận tải, dẫn truyền

Nhóm TSCĐ này phản ánh các loại phương tiện vận tải. Vì đây là Công ty

chuyên về khai thác và kinh doanh Khoáng sản nên phương tiện vận tải đóng một vai trò rất quan trọng. Công ty luôn phải quan tâm ,chú trọng và không ngừng mua sắm đầu tư các loại phương tiện, dẫn truyền mới và hiện đại nhất, để phục vụ cho việc khai thác. Vì vậy, năm 2010 nhóm phương tiện vận tải, dẫn truyền là 10.494 triệu, thì sang năm 2011 nhóm này đã tăng lên tới 11.596 triệu. Tăng 1.102 triệu tương đương với

10,5 %. Thế nhưng sang tới năm 2012 thì nhóm này lại giảm đi 240 triệu, tức là chỉ 37

còn 11.356 triệu. Điều này cũng khá là dễ hiểu bởi vì Công ty đã thanh lý, nhượng bán một số lượng phương tiện vận tải, dẫn truyền đã khá là cũ kỹ, không còn phù hợp để

sử dụng nữa.

Bây giờ, chúng ta xét đến TSCĐ vô hình: TSCĐ vô hình những tài sản không có

hình thái vật chất ,thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoã mãn các tiêu chuẩn

của TSCĐ vô hình tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh của DN. Nhìn vào bảng 2.5 ta thấy, TSCĐ vô hình của Công ty cổ phần công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận chủ

yếu là quyền sử dụng đất. Năm 2010 quyền sử dụng đất của Công ty là 18.446 triệu.

Nhưng năm 2011 lại giảm xuống chỉ còn 13.702 triệu, giảm 25,7%. Do năm 2011 thị

trường bất động sản, nhà đất đóng băng trên diện rộng, dẫn đến giá giảm mạnh. Công ty Cổ phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận cũng bị ảnh hưởng không nhỏ.

Những tài sản liên quan tới đất bị giảm mạnh. Nhưng tới năm 2012, Công ty đã đầu tư

mua một số lượng lớn đất đai với giá trị là 33,891 triệu. Mặc dù trong năm, cũng có

thanh lý một số lượng đất đai nhưng không đáng kể.

2.3.2.2 Tình hình trích khấu hao và quản lý tại Công ty

Trong 3 năm 2010- 2012, Công ty Cổ phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận

vẫn tiến hành trích lập khấu hao theo Thông tư 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009

của Bộ trưởng Bộ Tài chính. ( Nhưng từ ngày 25/4/2013, công ty trích khấu hao theo

quyết định 45/2013/TT-BTC của Bộ Tài Chính). Theo đó, Công ty áp dụng khấu hao

TSCĐ được tính theo phương pháp đường thẳng. Thời gian khấu hao áp dụng theo quy

định tại TT203. Ưu điểm của phương pháp này là: Mức trích khấu hao đều đặn qua các

năm làm cho giá thành sản phẩm tương đối ổn định,phương pháp tính lại đơn giản và

khi hết thời hạn sử dụng TSCĐ, DN thu hồi đủ vốn. Thế nhưng, nhược điểm của nó là,

TSCĐ sử dụng không đều qua các năm nên khả năng thu hồi vốn chậm và chưa tính

toán,phản ánh được mức độ hao mòn vô hình của TSCĐ. Cụ thể như sau :

Nhà cửa,vật kiến trúc : 18-50 năm.

Máy móc và thiết bị : 8-12 năm.

Thiết bị,dụng cụ quản lý : 3-5 năm.

Phương tiện vận tải,dẫn truyền: 8-15 năm.

TSCĐ hữu hình khác : 5-10 năm.

TSCĐ vô hình thể hiện quyền giá trị sử dụng đất. Công ty không trích khấu hao

quyền sử dụng đất vì đây là quyền sử dụng lâu dài.

Dưới đây là bảng về tình hình khấu hao và giá trị còn lại của TSCĐ qua 3 năm

2010-2012

38

Bảng 2.5. Tình hình khấu hao TSCĐ của Công ty qua 3 năm 2010-2012

Nguyên giá

Giá trị hao mòn luỹ kế

Giá trị còn lại

CHỈ TIÊU

TSCĐ hữu hình 1.Nhà cửa,vật kiến trúc 2.Máy móc thiết bị 3.Phương tiện vận tải,truyền dẫn 4.Thiết bị,dụng cụ quản lý

Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 3.078 593 819 1.498 148

49.422 38.567 905 9.612 322

12.453 1.330 175 10.494 409

12.863 794 1.675 10.098 271

11.519 1.197 9 9.959 318

15.941 1.387 2.494 11.596 419

53.792 39.921 1.918 11.356 539

4.370 1.354 1.013 1.744 217

934 133 166 535 91

5.TSCĐ khác

45

45

58

9

20

42

36

25

16

Đơn vị tính: Triệu đồng

(Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty giai đoạn 2010-2012 )

39

Nhìn chung, nguyên giá và giá trị hao mòn của các TSCĐ này đều tăng qua các năm. Chúng ta sẽ đi phân tích từng chỉ tiêu để hiểu rõ hơn về tình hình khấu hao, giá

trị còn lại của TSCĐ.

Nhóm nhà cửa, vật kiến trúc

Giá trị hao mòn luỹ kế trong 3 năm từ 2010 – 2012 đều tăng qua các năm với các giá trị lần lượt là 133 triệu, 593 triệu và 1.354 triệu. Nguyên nhân giá trị hao mòn luỹ

kế tăng một phần là do nguyên giá của nhóm tài sản này tăng đều qua 3 năm.Theo báo

cáo tài chính cho thấy, năm 2011 công ty đã đầu tư 57 triệu để mua sắm. Năm 2012,

xây dựng cơ bản hoàn thành 38.533 triệu, dẫn đến nguyên giá tăng mạnh. Điều này cũng dẫn đến GTCL của TSCĐ tăng vọt vào năm 2012, lên tới 38.576 triệu. GTCL

phản ánh số vốn hiện thời của Công ty. Mặc dù năm 2011, GTCL chỉ có giá trị là 794

triệu, nhưng năm 2012 lại tăng vọt. Đây là một điều rất đáng khích lệ, vì nó ảnh hưởng

nâng cao năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phầm của Công ty.

Nhóm máy móc, thiết bị

Mặc dù đây là nhóm TSCĐ có giá trị thấp và tỷ trọng thấp trong nhóm TSCĐ,

nhưng vai trò và tầm quan trọng của nó không hề nhỏ. Công ty Cổ phần Công nghiệp

Khoáng sản Bình Thuận chuyên khai thác và chế biến khoáng sản, vì vậy, các loại máy

móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ phải luôn được chú trọng, đổi mới. Giá trị hao

mòn luỹ kế của nhóm TSCĐ này tăng khá đều qua 3 năm 2010- 2012 lần lượt là 166

triệu, 819 triệu, 1.013 triệu. Trong năm 2011, nhóm TSCĐ này khấu hao trong năm trị

giá 652 triệu, vì vậy năm 2011 tăng so với 2010. Năm 2012, khấu hao TSCĐ có giá trị

là 229 triệu, mặc dù có nhượng bán, thanh lý 35 triệu nhưng cũng không đáng kể, khấu

hao luỹ kế nhóm TSCĐ này vẫn tăng vào năm 2012. Mặc dù khấu hao luỹ kế tăng khá

đều, nhưng GTCL của nhóm TSCĐ này tăng giảm không đều, cụ thể năm 2010 là 9

triệu, năm 2011 là 1.675 triệu, năm 2012 là 905 triệu. Nguyên nhân là do nguyên giá

nhóm TSCĐ này tăng giảm không đều. Năm 2011, công ty đầu tư 2.319 triệu mua sắm

máy móc thiết bị, nhưng tới năm 2012, một số máy móc cũ kỹ lạc hậu đã được thanh

lý nhượng bán có trị giá là 576 triệu.

Nhóm TSCĐ là phương tiện vận tải, dẫn truyền

Đây là nhóm TSCĐ có tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu TSCĐ của Công ty. Như

đã nói ở trên, vì đây là Công ty về khoáng sản, nên các phương tiện vận tải giữ vị trí rất quan trọng. Giá trị hao mòn luỹ kế của Công ty tăng qua các năm, cụ thể, năm 2010 là 535 triệu, năm 2011 là 1.498 triệu và năm 2012 là 1.744 triệu. Nguyên giá của nhóm TSCĐ này khá cao, nhưng khấu hao ít, có tỷ lệ khá thấp so với nguyên giá, đây là một điều rất đáng mừng cho Công ty. Điều này dẫn đến GTCL trong 3 năm của nhóm

TSCĐ này khá cao. Trong 3 năm từ 2011-2012 lần lượt là 9.959 triệu, 10.098 triệu, 40

9.612 triệu. Điều này chứng tỏ Công ty khá quan tâm tới nhóm TSCĐ này, vì nó đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Nhóm TSCĐ là thiết bị, dụng cụ quản lý

Nhóm TSCĐ này chiếm tỷ trọng khá nhỏ trong cơ cấu TSCĐ. Giá trị hao mòn

luỹ kế của nhóm TSCĐ này tăng lần lượt qua các năm, năm 2010 là 91 triệu, năm 2011 tăng nhẹ lên 148 triệu và năm 2012 tăng lên 217 triệu. Giá trị này tăng là do,

công ty đã khấu hao tăng trong năm 2011 là 56 triệu, năm 2012 là 92 triệu. GTCL của

nhóm TSCĐ này cũng biến động nhẹ qua các năm 2010-2012 lần lượt là: 318 triệu,

271 triệu, 322 triệu. Vì đây là nhóm TSCĐ có giá trị ít và mức độ hao mòn cũng không đáng kể, nên ít được công ty quan tâm hơn.

Như vậy, trong 3 năm 2010-2012, Công ty đã thực hiện đầy đủ việc trích khấu

hao cho những những TSCĐ thuộc diện phải trích khấu hao, đồng thời xác định những

TSCĐ không thuộc diện phải trích khấu hao.Một số TSCĐ đã cũ, năng lực sản xuất

của chúng giảm tương đối nhiều. Vì vậy, trong các năm tới nếu Công ty không đầu tư mua sắm mới các TSCĐ để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, thì với năng lực sản

xuất hiện có của mình, Công ty khó có thể nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ

cung cấp cho thị trường, khó có thể nâng cao được năng lực cạnh tranh và đặc biệt sẽ

ảnh hưởng đến việc duy trì và phát triển vị thế là một Công ty có uy tín và thương hiệu

trong lĩnh vực kinh doanh Khoáng sản.

2.3.3. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng TSCĐ của Công ty Cổ phần Công

nghiệp Khoáng sản Bình Thuận

Để thấy rõ hơn hiệu quả sử dụng của TSCĐ tại Công ty cổ phần công nghiệp

Khoáng sản Bình Thuận ,ta phân tích các chỉ tiêu tiếp theo biểu hiện hiệu quả sử dụng

TSCĐ :

41

Bảng 2.6. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng của TSCĐ giai đoạn 2010-2012

2011/2010

2012/2011

STT

Chỉ tiêu

1

Tổng doanh thu Lợi nhuận sau thuế

Tỷ suất sinh lời của TSCĐ

giá trị (98.990) (56.060) 63.012 2.399 2.144 (3,48) (1,60) (0,01) 0,01

Năm 2010 giá trị 154.676 64.791 38.354 1.925 934 4,03 1,69 0,05 0,02 0,25

Năm 2011 giá trị 55.686 8.731 101.366 4,324 3,078 0,55 0,09 0,04 0,03 1,82

Năm 2012 giá trị 52.617 12.518 184.407 38.553 4.370 0.29 0.07 0.21 0.02 3.50

1,57

% -64% -86,5% 164,3% 124,6% 229,6% -86,4% -94,9% -15,0% 24,7% 634,1%

giá trị (3.069) 3.787 83.041 34.229 1.292 (0.26) (0.02) 0.17 (0.01) 1.68

% -5,5% 43,4% 81,9% 791,6% 42,0% -48,1% -21,2% 390,1% -22,0% 92,5%

2 3 Nguyên giá TSCĐ bình quân 4 Giá trị TSCĐ tăng trong kỳ 5 Khấu hao luỹ kế trong kỳ 6 Hiệu suất sử dụng TSCĐ 7 8 Hệ số đổi mới TSCĐ 9 Hệ số hao mòn TSCĐ Suất hao phí TSCĐ 10

Đơn vị tính: Triệu đồng

(Nguồn : Báo cái tài chính giai đoạn 2010-2012)

42

Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSCĐ

Năm 2010,chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSCĐ của công ty là 4,03. Chỉ tiêu ở năm

này khá cao, một đồng nguyên giá TSCĐ tham gia tạo 4,03 đồng DT thuần, điều này

chứng tỏ trong năm 2010 TSCĐ được sử dụng trong hoạt động sản xuất rất hiệu quả. Nhưng sang năm 2011, chỉ tiêu này giảm khá mạnh xuống còn 0,55, tức là giảm 86,4

% so với năm 2010. Nguyên nhân giảm mạnh là do DT thuần giảm mạnh từ 154.676

triệu năm 2010 xuống còn 55.686 triệu năm 2011, trong khi nguyên giá TSCĐ tăng từ

38.354 triệu năm 2010 lên 101.366 triệu năm 2011. Năm 2012, một đồng nguyên giá TSCĐ tham gia tạo ra 4,56 đồng DT thuần.So với 2011, chỉ tiêu này giảm 2,88 đồng

với tỷ lệ giảm 63%. Sở dĩ giảm mạnh như vậy là do sang năm 2012,tổng DT giảm đi

6% nhưng giá trị còn lại TSCĐ bình quân lại tăng 155%. Tổng DT giảm là do suy

thoái kinh tế toàn cầu về mọi ngành nghề lĩnh vực,vì vậy ngành Khoáng sản cũng

không thể tránh khỏi. Suy thoái kinh tế dẫn đến nhu cầu tiêu thụ giảm đi ,không bán được nhiều hàng dẫn đến DT bị giảm . Ngoài ra thị trường xuất khẩu còn bị cạnh tranh

từ nhiều nước khác trên thế giới, vì vậy hàng hoá bị ứ đọng. Hiệu suất sử dụng TSCĐ

có xu hướng giảm dần, thể hiện mặt hạn chế của Công ty Cổ phần Công nghiệp

Khoáng sản Bình Thuận trong việc khai thác có hiệu quả năng lực sản xuất của TSCĐ

phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh của mình. Đây cũng chính là vấn đề mà Công ty

cần quan tâm trong thời gian tới nhằm phát huy hơn nữa công suất hoạt động của máy

móc, thiết bị, phương tiện vận tải, góp phần cải thiện, nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ.

Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời TSCĐ

Một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ cũng được quan tâm đó là tỷ suất

lợi nhuận TSCĐ.Nó là một chỉ tiêu phản ánh tổng hợp hiệu quả sử dụng TSCĐ và

trình độ quản lý doanh nghiêp.Tỷ suất lợi nhuận TSCĐ phản ánh một đồng TSCĐ bình

quân khi đưa vào sản xuất thì sinh ra được cho Công ty bao nhiêu đồng lợi nhuận.Chỉ tiêu này được tính bằng tỷ số giữa lợi nhuận ròng trên tổng TSCĐ bình quân. Năm 2010, tỷ suất sinh lời TSCĐ của công ty là 1,69. Tức là cứ một đồng giá trị TSCĐ bình quân đem lại 1,69 đồng lợi nhuận. Sang năm 2011, chỉ tiêu này giảm khá mạnh xuống

còn 0,09, tức là giảm 94,9 % so với năm 2010.Nguyên nhân giảm mạnh là do lợi nhuận sau thuế giảm từ 64.791 triệu năm 2010 xuống còn 8.731 triệu năm 2011. Nguyên nhân là do năm 2010 Công ty thu được lợi nhuận cao từ việc khai thác đất nhiễm mặn để san lấp công trình ,thế nhưng sang năm 2011 thì hoạt động này gặp rất nhiều khó khăn khi các dự án lớn đều hoãn khởi công hoặc triển khai cầm chừng. Năm 2012, tỷ suất lợi nhuận TSCĐ có giảm nhẹ một chút, xuống còn 0,07, tương ứng giảm

43

21%. Mặc dù lợi nhuận trong năm 2012 có tăng lên tới 12.518 triệu, nhưng nguyên giá TSCĐ cũng tăng theo, nên tỷ suất lợi nhuận vẫn giảm.Nguyên giá TSCĐ tăng là do,

trong năm 2012 xây dựng cơ bản trong năm được hoàn thành. Vì vậy một số lượng lớn

TSCĐ, cụ thể là nhóm nhà cửa, vật kiến trúc được đưa vào sử dụng, làm tăng nguyên

giá của TSCĐ

Chỉ tiêu hệ số đổi mới TSCĐ

Chỉ tiêu này cho biết trong tổng số TSCĐ hiện có cuối kỳ, thì có bao nhiêu

TSCĐ mới được trang bị và bổ sung trong năm. Năm 2011, chỉ tiêu hệ số đổi mới

TSCĐ của công ty là 0,04, giảm 0,01 tương đương giảm 15 %. Điều này chứng tỏ trong năm 2011, công ty chưa thực sự chú trọng đổi mới, mua sắm TSCĐ. Nhưng sang

năm 2012, chỉ tiêu này tăng lên khá cao, từ 0.04 năm 2011 lên tới 0.21 năm 2012, tức

là tăng 0.17, tương đương 390%. Nguyên nhân là do, Công ty đã đầu tư mua sắm các

TSCĐ hữu hình như máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải. Đặc biệt là nguyên giá nhà

cửa, vật kiến trúc năm 2012 đã hoàn thành, làm nguyên giá TSCĐ tăng mạnh

ệ số hao mòn TSCĐ

Chỉ tiêu này phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ. Chỉ tiêu hệ số hao mòn càng

gần tới 1, chứng tỏ TSCĐ của DN đã quá cũ, DN cần phải chú trọng đến đổi mới và

hiện đại hoá TSCĐ, và ngược lại, nếu hệ số hao mòn càng nhỏ đi so với 1 bao nhiêu,

chứng tỏ nhóm TSCĐ của DN đã được đổi mới càng nhiều.Nhìn vào bảng 2.7 ta thấy,

hệ số hao mòn TSCĐ của công ty khá là thấp, không biến động là mấy. Năm 2010 là

0.02, năm 2011 là 0.03, năm 2012 là 0.02. Điều này chứng tỏ, Công ty đã đầu tư chú

trọng tới TSCĐ, cố gắng hạn chế đi sự hao mòn của các TSCĐ. Đây là một điều rất

đáng khen ngợi đối với Công ty

Chỉ tiêu suất hao phí của TSCĐ so với DT

Chỉ tiêu này chi biết trong kỳ, để tạo ra một đồng DT thì DN phải sử dụng bao

nhiều đồng TSCĐ. Với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSCĐ phân tích như trên thì hiệu

suất càng cao càng chứng tỏ DN sử dụng TSCĐ hiệu quả, thế nhưng với chỉ tiêu suất hao phí thì ngược lại, chỉ tiêu càng có giá trị cao thì DT phải bỏ ra nhiều chi phí để thu được DT. Năm 2011, suất hao phí của TSCĐ là 1,82. Như vậy, để tạo ra một đồng DT,

DN phải sử dụng 1,82 đồng TSCĐ. Tăng 631,1% so với năm 2010. Nguyên nhân tốc

độ tăng của nguyên giá TSCĐ tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng của DT. Năm 2012, suất hao phí TSCĐ là 3,5. Tăng 1,68 đồng, tương đương với với 92,5%. Báo cáo tài chính cho thấy trong năm 2012, TSCĐ trong năm tăng lên khá cao, 4.325 triệu, dẫn đến nguyên giá TSCĐ tăng lên cao. Công ty đã đầu tư, mua sắm các TSCĐ hữu hình như máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải. Đặc biệt là nguyên giá nhà cửa, vật kiến

trúc năm 2012 đã hoàn thành, làm nguyên giá tăng mạnh.

44

2.4. Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng TSCĐ tại Công ty Cổ phần Công

nghiệp Khoán Sản Bình Thuận

2.4.1. Kết quả đạt được

Tính hiệu quả trong việc quản lý, sử dụng TSCĐ ảnh hưởng quan trọng đến năng

suất lao động, giá thành và chất lượng sản phẩm, do đó tác động đến lợi nhuận, đến tình hình tài chính DN. Trong thời gian qua việc quản lý, sử dụng TSCĐ ở Công ty đạt

được một số kết quả sau:

Mặc dù còn có những khó khăn nhất định nhưng Công ty đã có phần nào quan

tâm đến công tác quản lý và sử dụng TSCĐ phục vụ quá trình hoạt động sản xuất, kinh

doanh của mình. Để đảm bảo TSCĐ được sử dụng một cách tối đa, đạt hiệu quả và

công tác quản lý được thuận lợi, Công ty đã tiến hành phân loại TSCĐ theo tình hình

sử dụng và công dụng kinh tế.

Các loại TSCĐ đều được đưa vào hoạt động đúng mục đích sử dụng, phát huy tối

đa công suất. Một số TSCĐ đã quá cũ kỹ, lạc hậu, lỗi thời, không còn phù hợp cho

hoạt động sản xuất đều được thanh lý, nhượng bán, thay mới. Đồng thời, mỗi TSCĐ

lại được Công ty tiến hành mở sổ theo dõi riêng, các nghiệp vụ về TSCĐ đều được

hạch toán tỉ mỉ, chi tiết, giúp cho việc quản lý TSCĐ được sát sao và hiệu quả, xác

định chính xác năng lực sản xuất hiện còn từng thời điểm của từng TSCĐ để có biện pháp kịp thời bổ sung hoặc sửa chữa nhằm giảm thiểu tối đa thời gian không hoạt động

của chúng.

Để đảm bảo tái đầu tư TSCĐ, Công ty còn thường xuyên tiến hành việc tính và

trích khấu hao TSCĐ.Hàng năm, Công ty tiến hành trích khấu hao theo đúng kế hoạch

nhằm bổ sung vào quỹ khấu hao, tái đầu tư cho TSCĐ

Công ty còn quy định những chế tài khen thưởng thích đáng đối với người có

thành tích trong việc bảo quản, duy trì, cải thiện năng lực hoạt động của máy móc, thiết bị cũng như những biện pháp kỷ luật đối với các hành vi gây mất mát, hư hỏng tài sản.

2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân

Mặc dù trong quá trình sử dụng TSCĐ, Công ty đã có nhiều cố gắng và đạt được những thành tựu như trên đã nêu, song trong quá trình sử dụng TSCĐ vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Để có thể nâng cao được hiệu quả sử dụng TSCĐ, trong thời

gian tới Công ty cần phải nghiêm túc xem xét, phân tích kỹ lưỡng để tìm ra nguyên nhân và các biện pháp khắc phục phù hợp.

Những hạn chế còn tồn tại trong vấn đề quản lý và sử dụng hiệu quả TSCĐ là: 45

Về công tác đầu tư TSCĐ.

Tuy công ty đã chú trọng tới công tác đầu tư, đổi mới TSCĐ,nguyên giá TSCĐ

từ năm 2010-2012 có tăng lên nhưng DT và lợi nhuận vẫn giảm, dẫn đến hiệu suất sử

dụng TSCĐ và tỷ suất sinh lời của TSCĐ giảm. Mặt khác khi tiến hành đầu tư mua

sắm TSCĐ thì công tác đánh giá lựa chọn phương án đầu tư còn nhiều hạn chế, dẫn đến tình trạng một số thiết bị được đầu tư chưa phát huy hết được hiệu quả trong quá

trình tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh.

Về công tác khấu hao,bảo trì,bảo dưỡng TSCĐ.

Do loại hình là Công ty Khoáng sản nên TSCĐ chuyên tập trung vào máy móc. Với điều kiện nắng nóng ở miền Nam có thể gây hỏng hóc và giảm thời gian sử dụng của TSCĐ. Hơn nữa hầu hết các loại máy móc xây dựng nên ít được bảo dưỡng kỹ

lưỡng. Dẫn đến sự khấu hao nhiều về máy móc thiết bị của Công ty. Trong những năm

qua, công tác này chưa được Công ty quan tâm đúng mức, do đó hiệu suất hoạt động

của TSCĐ chưa phát huy hết tối đa công suất, đây cũng là một trong những nguyên

nhân làm cho hiệu quả sử dụng TSCĐ liên tục giảm.

Công tác định kỳ tiến hành phân tích hiệu quả sử dụng TSCĐ chưa được chú

trọng, kịp thời.

Trình độ sử dụng và quản lý TSCĐ của cán bộ nhân viên:

Như đã phân tích ở trên, hiệu quả sử dụng TSCĐ của Công ty trong các năm vừa

qua liên tục giảm. Điều này cho thấy trình độ quản lý và sử dụng TSCĐ của cán bộ nhân viên còn hạn chế, chưa phát huy được năng lực sản xuất của máy móc, thiết bị,

chưa đạt được tính hiệu quả của đồng vốn bỏ ra. Công ty còn chưa thực sự chú trọng

cho công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ sử dụng TSCĐ.Người lao động

không chủ động nâng cao trình độ sử dụng những máy móc, thiết bị hiện đại mà Công

ty đã đầu tư, trang bị cho quá trình sản xuất, kinh doanh.

Việc xây dựng quy chế, chế tài khen thưởng cũng như kỷ luật, bồi thường vật

chất trong công tác sử dụng TSCĐ còn thiếu và không rõ ràng, nghiêm minh. Đối với những cá nhân, tập thể có thành tích trong bảo quản, sử dụng có hiệu quả TSCĐ, Công ty còn chưa kịp thời khen thưởng (cả về vật chất và tinh thần). Bên cạnh đó, đối với những cá nhân, tập thể thiếu trách nhiệm làm mất mát, hư hỏng, lãng phí không phát

huy hiệu quả sử dụng TSCĐ Công ty còn chưa kịp thời nhắc nhở và tiến hành kỷ luật thích đáng.

46

CHƢƠNG 3.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHIỆP

KHOÁNG SẢN BÌNH THUẬN

3.1. Định hƣớng hoạt động của Công ty Cổ phần Công nghiệp Khoáng sản Bình

Thuận

Năm 2012, nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn với nhiều vấn đề còn tồn tại đến thời điểm hiện nay như nợ xấu ngân hàng, trong đó nợ xấu lĩnh vực bất động

sản chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu tín dụng khiến cho dòng vốn lưu thông trong

nền kinh tế trở nên tắc nghẽn. Điều này kéo dài trong 2 năm qua đã khiến cho nền kinh

tế rơi vào trạng thái đình đốn, chỉ số tồn kho của nền kinh tế liên tục tăng cao và

nhanh, sức tiêu thụ giảm mạnh và ở mức rất thấp.Vì vậy, trong năm 2014 Chính phủ

sẽ phải có giải pháp để giải quyết các vấn đề trên. Để làm được điều đó Chính phủ

cần một nguồn ngân sách rất lớn do đó trong thời gian tới mục tiêu mà Chính phủ hướng đến là thu hút nhiều hơn nữa lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Nhận định dòng vốn đầu tư nước ngoài tăng lên sẽ làm cho thị trường chứng

khoán năm 2014 trở nên sôi động hơn.Vì vậy để nắm bắt cơ hội, trong năm 2014 Công

ty sẽ thực hiện phát hành thêm cổ phiếu tăng vốn điều lệ nhằm huy động nguồn vốn

đầu tư vào dự án Nhà máy chế biến Xỉ Titan Bình Thuận.

Đây là một ngành công nghiệp còn khá non trẻ ở Việt Nam tuy nhiên đất nước ta có lợi thế rất lớn về nguồn nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến sâu

Titan. Do đó, mục tiêu của Công ty Cổ phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận sẽ

là một DN tham gia sớm vào ngành công nghiệp tiềm năng này, tận dụng các lợi thế tự

nhiên sẵn có ở địa bàn đầu tư (Bình Thuận có trữ lượng Titan lớn nhất Việt Nam) để

vươn mình trở thành một DN dẫn đầu trong ngành. Nhà máy chế biến Xỉ Titan đầu

tiên đã được khởi công vào quý 2 năm 2013 và hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm

2014.

Một điểm sáng nữa trong năm 2014 của Công ty đó là hoạt động xuất khẩu cát nhiễm mặn sang các thị trường nước ngoài đã được Chính phủ cho phép hoạt động trở lại. Đây sẽ là mảng kinh doanh chủ lực trong năm 2014, hứa hẹn mang lại kết quả kinh

doanh khả quan cho Công ty.

Công ty Cổ phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận đang ngày càng khẳng định vị thế của mình trong lĩnh vực Khoáng sản. Do đó mục tiêu trong dài hạn sẽ phấn

đấu trở thành một trong những Công ty hàng đầu ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á trong lĩnh vực Sản xuất, chế biến sâu các sản phẩm Titan.

Kế hoạch kinh doanh 5 năm (2014-2018):

47

Trong năm 2014 Công ty phát hành tăng vốn để đầu tư vào dự án nhà máy Xỉ Titan Bình Thuận, công suất 30,000 tấn Xỉ/năm. DT và lợi nhuận năm 2013 chủ yếu

đến từ việc xuất khẩu cát nhiễm mặn và các hoạt động kinh doanh Khoáng sản phi kim

khác. Ng DT và lợi nhuận sẽ có bước đột phá khi nhà máy Xỉ Titan Bình Thuận

hoạt động. Đồng thời trong năm này Công ty sẽ đón đầu làn sóng đầu tư nước ngoài

vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam để tiến hành tăng vốn tiếp tục đầu tư vào dự án nhà máy Xỉ Titan Hòa Thắng, công suất 60,000 tấn Xỉ/năm.

Dự kiến đến năm 2016 –2017 DT Công ty sẽ đạt trên mốc 2,000 tỷ đồng và lợi

nhuận sau thuế cũng đạt trên 200 tỷ đồng khi hai nhà máy vận hành ổn định và cho

năng suất đạt 100% công suất thiết kế.

Tổng tài sản năm 2016 – 2017 ước tính đạt trên 2.000 tỷ, vốn chủ sở hữu đạt

gần 1.000 tỷ đồng. EPS đạt 4,818 đồng/cp, ROE đạt 25%

3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ tại Công ty Cổ phần

Khoáng sản Bình Thuận

Qua xem xét tình hình sản xuất cũng như hiệu quả sử dụng TSCĐ tại Công ty Cổ

phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận trong những năm vừa qua cho thấy: Mặc

dù còn có những khó khăn nhất định, nhưng với sự cố gắng của Ban lãnh đạo cùng đội

ngũ cán bộ nhân viên nên Công ty đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Hoạt

động sản xuất kinh doanh ngày càng được mở rộng, đóng góp đáng kể cho Ngân sách Nhà nước, nâng cao đời sống của cán bộ nhân viên. Tuy nhiên, bên cạnh những kết

quả đạt được, Công ty vẫn bộc lộ một số điểm hạn chế trong công tác quản lý và sử

dụng TSCĐ

Từ việc nghiên cứu tình hình và hiệu quả sử dụng TSCĐ của Công ty Cổ phần

Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận trong những năm 2010,2011,2012 kết hợp với

những kiến thức đã được nghiên cứu tại trường, em xin đề xuất một số giải pháp chủ

yếu sau:

3.2.1. Nâng cao hiệu suất sử dụng TSCĐ

TSCĐ là tư liệu chủ yếu của DN. Nó quyết định kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi DN, bảo đảm sự phát triển bền vững và năng lực cạnh tranh của

DN trên thương trường. Do vậy, việc nâng cao hiệu suất sử dụng TSCĐ của mỗi DN có ý nghĩa thiết thực. Trong những năm vừa qua, hiệu suất sử dụng TSCĐ của Công ty có xu hướng giảm xuống. Nguyên nhân là do, tốc độ tăng của DT luôn nhỏ hơn tốc độ

tăng của nguyên giá TSCĐ đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Do đó, Công ty nên chú

trọng tới các biện pháp nhằm tăng DT thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ, phát huy hiệu quả của một đồng nguyên giá TSCĐ tham gia trong kỳ.

48

Công ty nên tăng cường các hoạt động mở rộng thị trường. Đây là một trong những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ. Đây là ngành công

nghiệp còn khá non trẻ và đang phát triển ở Việt Nam .Vì vậy tạo thuận lợi cho việc

Công ty mở rộng thị trường. Việc tìm kiếm, mở rộng thị trường sẽ là tiền đề để Công

ty tăng trưởng về quy mô sản xuất, kinh doanh. Khi đã có sự lớn mạnh về quy mô,

máy móc thiết bị sẽ hoạt động liên tục, phát huy tối đa công suất, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ.

Phòng kế hoạch là bộ phận đảm trách nhiệm vụ thực hiện, triển khai kế hoạch

thăm dò, tìm kiếm và mở rộng thị trường. Do đó, cần nâng cao năng lực hoạt động của

bộ phận này trong Công ty như bổ sung thêm nguồn nhân lực có trình độ, nâng cấp, cải tiến máy móc thiết bị, bổ sung thêm về nguồn tài chính…

Công ty cần nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ .Việc nâng cao chất lượng

sản phẩm dịch vụ của Công ty sẽ tạo điều kiện tiêu thụ sản phẩm được dễ dàng, nhanh

chóng, DT tăng. Ngược lại, những sản phẩm có chất lượng kém thì các chủ hợp đồng,

người mua hàng có thể từ chối thanh toán, hoặc không kí kết hợp đồng sẽ dẫn tới phải

hạ giá bán sản phẩm, làm giảm bớt DT.

Tính toán các chi phí, đưa ra mức giá dịch vụ hợp lý có thể cạnh tranh nhằm thu

hút khách hàng và đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ.

Tạo dựng và nâng cao uy tín, thương hiệu của Công ty trên thị trường.

3.2.2. Nâng cao tỷ suất sinh lời của TSCĐ

Để nâng cao tỷ suất sinh lời TSCĐ thì phải tăng lợi nhuận. Muốn tăng lợi nhuận

thì phải tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Trong sản xuất, kinh doanh, Công ty

nên quan tâm đến quản lý chi phí, tìm biện pháp để giảm chi phí, loại trừ những chi

phí bất hợp lý, bất hợp lệ. Hạ giá thành tạo điều kiện để đưa ra mức giá cả phù hợp, có

thể cạnh tranh, đồng thời tăng thêm lợi nhuận cho Công ty. Thực tế hiện nay, chi phí

kinh doanh hàng năm của Công ty ở mức cao, dẫn đến lợi nhuận đạt được thấp. Khi

xem xét mức độ sử dụng chi phí ta thấy trong những năm tới, Công ty nên chú trọng quan tâm đến công tác quản lý giá vốn hàng bán, mặc dù giá vốn hàng bán giảm trong giai đoạn năm 2010-2012 nhưng lại có giá trị khá cao. Ngoài ra các khoản chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền như chi phí điện, nước, văn phòng phẩm, chi

phí thuế sửa chữa TSCĐ cũng chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí quản lý DN.

3.2.3. Tăng cường công tác bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên

nhằm nâng cao trình độ sử dụng và quản lý TSCĐ.

Lao động là nhân tố tổ chức cực kỳ quan trọng, không chỉ ảnh hưởng đến hiệu

quả quản lý, sử dụng TSCĐ nói riêng mà toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của 49

DN nói chung. Đối với DN hiện nay, để đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt, hơn bao giờ hết, trình độ của cán bộ công nhân viên có yếu

tố quyết định. Trong thực tế, tài sản máy móc thiết bị càng tiên tiến, thì người lao động

phải được đào tạo cơ bản qua trường lớp để họ có thể sử dụng và quản lý chúng hiệu

quả. DN cũng cần có biện pháp nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ lao động và

triệt để khai thác nguồn lực này.

Người lao động được đào tạo, bồi dưỡng sẽ nắm vững được lý thuyết cũng như

thực tế ứng dụng trong sử dụng TSCĐ. Đồng thời, họ cũng có ý thức chấp hành tốt các

quy định nội quy của DN trong sử dụng, quản lý tài sản của Công ty.

Để nâng cao chất lượng lao động thì:

Lao động phải qua sử dụng và có tiêu chuẩn chặt chẽ.

Lao động có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, học nghề nào làm nghề đó.

DN phải tạo điều kiện cho người lao động được bổ túc, đào tạo them chuyên

môn, tay nghề, đáp ứng yêu cầu công việc.

Thực tế, trong thời gian qua trình độ quản lý, sử dụng TSCĐ của cán bộ nhân

viên Công ty còn một số hạn chế. Để khắc phục nhược điểm này, Công ty nên có

hướng giải quyết như sau:

Tuyển dụng, bổ sung cán bộ nhân viên:

Trước hết, Công ty phải có chính sách tuyển dụng hợp lý. Chính sách tuyển dụng

này phải thu hút được nguời tài, người có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm, năng lực làm việc. Ưu tiên tuyển dụng những người có học lực khá, giỏi, có trình độ tin học,

ngoại ngữ.

Tổ chức, cơ cấu đội ngũ cán bộ:

Trong quá trình làm việc, công tác, Công ty cần chú trọng phát hiện, mạnh dạn

đề bạt những cán bộ trẻ, có năng lực vào những vị trí phù hợp trên cơ sở đúng người,

đúng việc để họ lhoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, phát huy được tài năng của họ, phục vụ cho sự phát triển chung của toàn Công ty.

Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên.

Với đội ngũ cán bộ quản lý:

Tổ chức những khóa học ngắn hạn, hoặc cử người đi học ở nước ngoài để tiếp cận với trình độ quản lý tiên tiến, phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của Công ty trong nền kinh tế thị trường, đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng

vốn trong DN nói chung và TSCĐ nói riêng.

50

Với đội ngũ chuyên môn kỹ thuật, những người trực tiếp sử dụng, quản lý máy

móc, phương tiện vận tải, thiết bị văn phòng:

Công ty cần có chính sách tuyển dụng, đào tạo hợp lý, cử đi học thêm ở các

trường lớp để giúp họ nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề, tổ chức các buổi giới

thiệu về kỹ thuật mới trong tin học điện tử, huấn luyện sử dụng máy móc thiết bị đúng quy trình kỹ thuật. Bên cạnh đó, cần bố trí những người có trình độ chuyên môn cao

hướng dẫn, giúp đỡ nguời có trình độ còn yếu, nhất là những cán bộ vừa tuyển dụng,

giúp họ nhanh chóng thích nghi với máy móc thiết bị và sử dụng chúng có hiệu quả

cao nhất.

Song song với việc tạo điều kiện, khuyến khích tự học tập bồi dưỡng Công ty

cũng nên có chính sách hỗ trợ kinh phí và tạo điều kiện về mặt công việc, thời gian

cho cán bộ nhân viên nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ quản lý và sử dụng

TSCĐ. Đặc biệt nên có chính sách khen thưởng xứng đáng những người có ý thức

trong việc bảo quản TSCĐ, có sang kiến tiết kiệm trong sử dụng tài sản máy móc, thiết bị làm lợi cho tập thể, đồng thời sử phạt nghiêm minh người thiếu ý thức trách nhiệm

làm hư hỏng mất mát tài sản.

3.2.4. Chủ động đầu tư mua sắm TSCĐ mới, nâng cấp TSCĐ cũ, phát huy tối đa công suất của tài sản, tăng năng lực sản xuất, thực hiện đầu tư theo chiều

sâu.

Trong các DN, việc đầu tư đổi mới bổ sung TSCĐ là nhân tố quan trọng để bảo

toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ.

Công ty cần thường xuyên đổi mới thay thế các TSCĐ đã quá cũ kỹ, hư hỏng,

đặc biệt là máy móc thiết bị vì chúng có độ hao mòn cao. Từng TSCĐ cần được quản

lý, theo dõi chi tiết về tình hình sử dụng, mức độ hao mòn, tình trạng kỹ thuật của

chúng, qua đó để có kế hoạch đầu tư đổi mới kịp thời đảm bảo cho sản xuất được diễn

ra liên tục, đạt hiệu quả.

Bên cạnh đầu tư đổi mới TSCĐ, cũng cấn tiến hành cải tạo, xây lắp, trang bị bổ sung thêm cho TSCĐ nhằm nâng cao và phát huy tối đa công suất của tài sản, kéo dài thêm thời gian sử dụng của TSCĐ. Thực hiện tốt chế độ bảo dưỡng sửa chữa dự phòng TSCĐ.

Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt, khoa học, công nghệ phát triển nhanh chóng, Công ty cần có chính sách đầu tư vào TSCĐ theo chiều sâu, tránh đầu tư tràn lan gây thất thoát, lãng phí vốn. Cần đầu tư cho máy móc thiết bị mới có tính năng, tác dụng cao đáp ứng được đòi hỏi cao về chất lượng và tiến độ thi công công trình của chủ đầu tư.

51

Công ty cũng nên chú trọng đầu tư, bổ sung thêm máy móc thiết bị cho một số

chi nhánh.

3.2.5. Tìm kiếm nguồn tài trợ cho đầu tư, đổi mới TSCĐ.

Để có thể đầu tư mua sắm, thay thế TSCĐ, máy móc thiết bị, cần thiết phải có

nguồn vốn tài trợ cho hoạt động này. Hiện nay, TSCĐ của Công ty bao gồm: Vốn do

các thành viên góp ban đầu, vốn tự bổ sung, vốn khác. Để đáp ứng cho yêu cầu đầu tư TSCĐ, máy móc, thiết bị, trong thời gian tới Công ty cần thực hiện các biện pháp sau:

Phải sử dụng có hiệu quả quỹ khấu hao TSCĐ để tái đầu tư cho máy móc thiết bị phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh.Để tồn một lượng vốn khá lớn trong quỹ trong khi tài sản hầu như đã khấu hao hết, năng lực sản xuất còn lại thấp

là một vấn đề đáng quan tâm.Quỹ khấu hao được sử dụng hiệu quả, linh hoạt

không những có tác dụng tái sản xuất giản đơn TSCĐ mà có thể tái sản xuất

mở rộng phục vụ yêu cầu tăng quy mô sản xuất kinh doanh của Công ty.

Công ty cần tích cực huy động các nguồn tài trợ cho TSCĐ như: Vay vốn của các tổ chức tín dụng, tăng cường liên doanh, liên kết, huy động từ nguồn tiền

nhàn rỗi của cán bộ nhân viên, hoặc thông qua thị trường tài chính…

Quá trình sản xuất kinh doanh của DN chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do đó, để giảm

thiểu rủi ro và chủ động trong việc bù đắp sự thiếu hụt vốn, Công ty cần thực

hiện:

Trích lập quỹ dự phòng tài chính theo đúng chế độ quy định để bù đắp

những khoản chênh lệch từ tổn thất, rủi ro trong kinh doanh.

Mua bảo hiểm cho TSCĐ cũng là một biện pháp tốt nhằm bảo toàn vốn.

Ngày nay, khi thị trường cho thuê tài chính TSCĐ không ngừng phát triển thì

phương thức huy động vốn từ hình thức thuê mua này là rất quan trọng và tương đối

phù hợp với điều kiện của các DN Việt Nam hiện nay với một số vốn vừa và nhỏ vẫn

có thể đầu tư được máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Đây cũng là hình thức mà Công ty cũng nên chú trọng đến.

3.2.6. Thanh lý, nhượng bán những tài sản đã quá cũ hoặc không còn phù hợp với

yêu cầu của sản xuất kinh doanh.

Có thể thấy, TSCĐ của Công ty phần lớn đã hết thời gian khấu hao, nhiều tài sản

đã trở nên quá cũ, không còn đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh.

Xử lý nhanh những tài sản này là một trong những biện pháp quan trọng nhằm giải quyết tình trạng ứ đọng vốn, tăng hiệu quả sử dụng TSCĐ nói riêng và hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nói chung. Bởi đối với những tài sản đã quá cũ thì chi

52

phí hoạt động thường rất cao, trong đó chưa kể tới chi phí duy trì, bảo dưỡng. Điều này làm lợi nhuận của Công ty bị giảm sút, giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Bên cạnh đó, những tài sản đã quá cũ không những không đảm bảo an toàn trong

quá trình sử dụng mà còn làm cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, gây khó

khăn cho Công ty.

Để tiến hành thanh lý, nhượng bán những TSCĐ đó cần:

Tiến hành kiểm tra, đánh giá tình trạng hư hỏng của máy móc, thiết bị.

Lập dự trù kinh phí để sửa chữa, bảo dưỡng.

Nếu máy móc, thiết bị đã quá cũ không sửa chữa được hoặc sửa chữa với chi phí cao hoặc không còn phù hợp với yêu cầu sản xuất, thì tiến hành lập kế hoạch thanh lý, nhượng bán.

Giao cho bộ phận kỹ thuật, bộ phận tài chính, kế toán, thành lập Hội đồng

đánh giá và định giá các tài sản cần thanh lý, nhượng bán.

Thông báo thanh lý, nhượng bán.

Tổ chức bán và thu hồi vốn.

Định kỳ phân tích tình hình quản lý và sử dụng TSCĐ nhằm nâng cao hiệu quả

sử dụng TSCĐ

Cuối mỗi quý và năm, Công ty nên tiến hành kiểm điểm, phân tích đánh giá tình

hình thực hiện quy chế quản lý, sử dụng TSCĐ, nhằm phát huy những điểm mạnh,

việc làm tốt, khắc phục những điểm yếu, sửa chữa những sai sót trong quản lý và sử

dụng. Đó là biện pháp thiết thực nhất, có hiệu quả nhất để tăng cường quản lý và sử

dụng TSCĐ.

Khi phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ, Công ty có thể dựa vào các chỉ

tiêu như đã nêu ở chương 1, so sánh các chỉ tiêu hiệu quả trong kỳ báo cáo với kỳ báo

cáo trước để biết được động thái sử dụng TSCĐ.

53

KẾT LUẬN

Hiện nay nền kinh tế nước ta đang có nhiều biến động, các Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì các hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp đều phải được tiến

hành có hiệu quả. Đặc biệt là vấn đề tổ chức và nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ.Bởi

vì TSCĐ là một yếu tố vô cùng quan trọng, nó quyết định sự thành bại hay sự tồn vong

của DN. Cho nên khi tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, việc bảo toàn và sử dụng TSCĐ sao cho hiệu quả là một vấn đề hết sức cấp bách và cần thiết

đối với tất cả các DN.

Sau khoảng thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Công nghiệp Khoáng sản

Bình Thuận, em nhận thấy công tác quản lý và sử dụng TSCĐ tại Công ty nhìn chung đã đáp ứng được nhu cầu hoạt động kinh doanh, tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại cần

khác phục trong năm 2014. Với những kiến thức đã được trang bị tại trường Đại học

Thang Long và qua thời gian thực tập tại Công ty em đã mạnh dạn đưa ra những phân

tích đánh giá tình hình chung hoạt động sản xuất và thực trạng hiệu quả sử dụng tài

sản cố định của Công ty với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho Công ty.

Trong phạm vi đề tài và điều kiện nghiên cứu, thời gian nghiên cứu có hạn cũng

như khả năng tìm hiểu còn hạn chế, nên em cũng khó tránh khỏi những sai sót, khuyết

điểm trong quá trình thực hiện luận văn này.Vì vậy, em kính mong nhận được sự

thông cảm cũng như những sự bổ sung, góp ý quý giá từ các thầy, cô giáo và các anh

chị lãnh đạo trong Công ty để bài luận văn này được đầy đủ hơn và có giá trị thực tiễn

hơn, nhằm mục đích góp phần giúp đỡ nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty, hiệu

Và cuối cùng, quan trọng nhất, Em xin được gửi lời chân thành cảm ơn đến sự

quả sử dụng TSCĐ của công ty trong những năm tới.

hướng dẫn trực tiếp hết sức tận tình của cô giáo Vũ Lệ Hằng, Cô là người có bề dày

kinh nghiệm và kiến thức hết sức sâu sắc, lại hiểu biết rộng về lĩnh vực tài chính nói

chung và lĩnh vực TSCĐ nói riêng mà em đang nghiên cứu trong luận văn này, cô là

người mà em người viết vô cùng biết ơn trong quá trình hoàn thành bài viết của mình. Bên cạnh đó, em cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt thành, luôn tạo điều kiện hết sức có thể của các anh chị trong phòng tài chính của Công ty Cổ phần Công nghiệp Khoáng

sản Bình Thuận, góp phần tạo điều kiện thuận lợi để bài luận văn tốt nghiệp được hoàn thành.

Hà Nội, ngày 25 tháng 3 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Cao Thị Trinh

54

giáo 1.

ân. –

2. TS. Nguyễn Tấn Bình (2005), giáo trình Phân tích hoạt động doanh nghiệp, nhà

xuất bản Tài Chính. Tr.122-130

3.

– . Tr.58-79

4. Tài liệu về quá trình hình thành, phát triển và bản tin nội bộ của Công ty Cổ

phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận.

5. Số liệu báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán, bảng cân đối tài sản nguồn vốn,

thuyết minh báo cáo tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty

(2010-2012) của Công ty Cổ phần Công nghiệp Khoáng sản Bình Thuận.

55