LUẬN VĂN:
Một số giải pháp pt triển hệ thống
Trung tâm Giới thiệu việc làm công
ở Việt Nam đến năm 2010
Lời mở đầu
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế
hội giai đoạn 2001 2010, trong đó đã xác định: “Giải quyết việc m yếu tquyết
định để phát huy nhân tcon ni, ổn định và phát triển kinh tế, lành mạnh xã hội, đáp ứng
nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nn dân. Đến năm 2010, nước ta có khoảng
56,8 triệu người ở trong độ tuổi lao động, tăng gần 11 triệu lao động so với năm 2000. Để giải
quyết vấn đề việcm cho người lao động, phải tạo môi trường điều kiện thuận lợi cho tất
cả các thành phần kinh tế đầu tư rộng rãi trong các sở sản xuất, kinh doanh, tạo nhiều việc
làm phát triển thị trường lao động. Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cấu lao động hội
phù hợp với cấu kinh tế”. Để thể thực hiện mục tiêu gii quyết việc m đến năm 2010,
cần phải những giải pháp, trong đó phát triển các Trung tâm Giới thiệu việc m theo một
qui hoạch thống nhất là rất cần thiết. Phát triển hệ thống Trung m Giới thiệu việc làm nhằm
làm cầu nối cho người lao động người sdụng lao động thông qua tư vấn, giới thiệu việc
làm cho người lao động, cung ng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao
động, thu thập cung ứng các thông tin về thị trường lao động điều đó sẽ góp phần thực
hiện được mục tiêu giải quyết việc làm đến năm 2010
Quá trình phát triển của hệ thống Trung tâm Giới thiệu việc m của nước ta trong giai
đoạn qua vừa thực hiện mục tiêu giải quyết việc làm vừa góp phần hoàn thiện thị trường lao
động mi được hình tnh nước ta.Trong hệ thống các Trung m Giới thiệu việc làm thì
các Trung m Giới thiệu việc làm công ngày càng được củng cố và phát triển, đóng vai t
chủ đạo trong hệ thống Trung tâm Giới thiệu việc làm của cả nước. Trong giai đoạn 1998 -
2004 các Trung tâm Giới thiệu việc làm công Việt Nam đã thực hiện vn cho hơn 3000
ngàn lượt lao động; giới thiệu việc làm và cung ứng lao động cho khoảng 1500 ngàn ợt
người; cung cấp thông tin thị trường lao động cho khoảng 600 ngàn lượt người; dạy nghề cho
hơn 1000 ngàn lượt lao động… các kết quả này đã có đóng góp to lớn vào mục tiêu giải quyết
việc làm của nước ta trong giai đoạn vừa qua. Tuy nhiên, hệ thống Trung tâm Giới thiệu việc
làm công ớc ta vẫn còn nhiều tồn tại bất cập, cụ thể là: chưa qui hoạch tổng thể đ
phát triển các trung tâm của cả nước cũng như mỗi địa phương; chưa hình thành được các
trung tâm trọng điểm của mỗi vùng; việc đầu tư cho c trung tâm vừa ít, vừa giàn trải, kinh
phí hoạt động thường xuyên cho mỗi trung tâm rất khó khăn; nhiều hoạt động chính của trung
tâm chưa được quan tâm đúng mức; chưa đáp ng được nhu cầu của thị trường nhất nhu
cầu của người sử dụng lao động và người lao động.
Nếu không các giải pháp nhằm tháo g c hạn chế nêu trên thì hệ thống Trung tâm
Giới thiệu việc làm khó thể phát triển mạnh đạt được những mục tiêu Đại hội Đảng
IX đã đề ra. Nhận thức được vấn đề đó, trong thời gian thực tập tại Vụ Lao động Việc m,
Bộ Lao động Thương binh và hội, em đã quyết định lựa chọn đề tài: Mt số giải pháp
phát triển hệ thng Trung tâm Giới thiệu việc làm công Việt Nam đến năm 2010” làm
luận văn tốt nghiệp của mình.
Trong luận văn tốt nghiệp, ngoài lời mở đầu kết luận, nội dung được kết cấu thành ba
chương:
Chương I: Sự cn thiết khách quan của phát triển hệ thống Trung tâm Giới thiệu việc
làm trong nền kinh tế
Chương II: Thực trạng của hệ thng Trung tâm Gii thiệu việc làm công Việt Nam
giai đoạn 1998 – 2004
Chương III: Một số giải pháp phát trin hệ thống Trung tâm Giới thiệu việc làm công ở
Việt Nam đến năm 2010
Mục đích nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp: phân ch các nội dung hoạt động của hệ
thống Trung tâm Giới thiệu việc làm. Phân tích, đánh gthực trạng hoạt động của hệ thống
Trung tâm Giới thiệu việcm ở Việt Nam giai đoạn 1998 2004, qua đó có thể đưa ra được
các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống Trung tâm Giới thiệu việc m ở nước ta trong tương
lai.
Chương I:
sự cần thiết khách quan của hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm trong nền kinh tế
I. Một số vấn đề cơ bản về hệ thống trung m giới thiệu việc làm
1. Một số khái niệmbản
1.1 Việc làm
1.1.1. Quan điểm của tổ chức lao động quốc tế (ILO) về việc làm
Theo quan điểm chung trên thế giới thì khái niệm việc m chỉ đề được cập đến trong mối
quan hệ với lực lượng lao động, khi đó việc làm được chia ra m hai loại: một vic m
được trả công (những người làm thuê, học việc…) và một loại việc m không được trả
công nhưng vẫn tạo ra thu nhập (giới chủ, những người m kinh tế hộ gia đình…).
Qua quá trình phân tích thì tại hội nghị Quốc tế lần thứ 13 của các nthống lao động
(ILO 1993) thì khái niệm về việc m đã được nêu ra như sau: “việc m là hoạt động
ích, không bị pháp luật cấm, có thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật. Những người việcm là
những người làm một công việc đó và được trả công, có lợi nhuận, được thanh toán bằng
hiện vật, hoặc tham gia vào một hoạt động mang tính chất tự tạo ra việc làmvì lợi ích và thu
nhập của bản thân hoặc gia đình mà không nhận tiền công và hiện vật”.
Tuỳ theo luật pháp của từng quốc gia qui định vviệc làm ntrên scó những sửa
đổi, bsung cho phù hợp nhưng vcơ bản vẫn mang đầy đnhững nội dung ILO đã
đưa ra.
1.1.2. Quan điểm về việc m của Việt Nam
Theo điều 13 của Bộ Luật Lao động nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng
định: “mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm, đều được thừa nhận là
việc làm”. Theo định nghĩa này các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm:
Tất cả các hoạt động tạo ra của cải vật chất hoặc tinh thần, không bị pháp luật cấm, được
trả công dưới dạng tiền hoặc hiện vật
Những công việc tlàm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình,
cho cộng đồng, kcả những công việc không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật.
Khái niệm y về bản là không sự khác biệt so với khái niệm về vic m ILO
đã đưa ra tại hội nghị Quốc tế lần thứ 13. Khái niệm việc làm theo Bộ Lao động đưa ra đã bao
gm một phạm vi rất rộng: từ những công việc đựơc thực hiện trong các nhà máy, công sở
đến các hoạt động hợp pháp tại khu vực phi chính quy (vốn trước đây không được coi là việc
làm), các ng việc nội trợ, chăm sóc con cái trong gia đình… đều được coi việc m.
Chính vì vy khái niệm việc làm hiện nay ta đang sử dụng đã có rất nhiều thay đổi so vi khái
niệm về việc làm mà trước đây chúng ta sử dụng trong thời kỳ bao cấp.
Người lao động được coi là có việc làm khi có người mua sức lao động họ muốn bán
và ngược lại nếu người lao động mong muốn bán sức lao động không tìm thấy ngưi mua
thì họ bị coi người không vic làm. Hoạt động mua bán sức lao động được diễn ra trên
thị trường lao động dưới nhiều hình thức trong đó có hình thức giới thiệu vic làm.
1.2. Giới thiệu việc làm
Giới thiệu việc làm là một quá trình trong đó các cơ sở giới thiệu việc làm đã có các thông
tin v chỗ m việc trống cung cấp các thông tin đó cho người lao động để người lao động
thể tìm hiểu thoả thuận về việc làm với người sdụng lao động, hoặc các sở giới
thiệu việc làm có thể cung cấp thông tin cần thiết về ni lao động cho chủ sử dụng lao động
để họ thể tiếp xúc với người lao động thể đi đến các thoả thuận v tuyển dụng lao
động khi thấy phù hợp.
Theo khái niệm trên thì hoạt động Giới thiệu việc làm thể được cụ thhoá trong các
nhiệm vụ sau:
Giới thiệu việc làm thực hiện nhiệm vcầu nối trung gian giữa người sdụng lao
động người lao động, trực tiếp btrí người tìm việc vào các công việc hiện (chỗ m
trống).