bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o tr−êng ®¹i häc b¸ch khoa hµ néi ---------------------------------------
H µ t h
Þ t h u t h ñ y
Hµ thÞ thu thñy
Q u ¶ n t r
Þ
i
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m ph¸t triÓn thÞ tr−êng tiªu thô s¶n phÈm cho c«ng ty cæ phÇn xuÊt nhËp khÈu thñ c«ng mü nghÖ tØnh nam ®Þnh (artexport nam ®Þnh)
k n h d o a n h
luËn v¨n th¹c sÜ
Chuyªn ngµnh qu¶n trÞ kinh doanh
2 0 1 0 - 2 0 1 2
Hµ Néi – N¨m 2012
bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o tr−êng ®¹i häc b¸ch khoa hµ néi ---------------------------------------
Hµ thÞ thu thñy
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m ph¸t triÓn thÞ tr−êng tiªu thô s¶n phÈm cho c«ng ty cæ phÇn xuÊt nhËp khÈu thñ c«ng mü nghÖ tØnh nam ®Þnh (artexport nam ®Þnh)
luËn v¨n th¹c sÜ Chuyªn ngµnh qu¶n trÞ kinh doanh ng−êi h−íng dÉn khoa häc : Ts. Phan DiÖu h−¬ng Hµ Néi – N¨m 2012
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
MỤC LỤC
MỤC LỤC .............................................................................................................. 1
LỜI CAM ĐOAN .................................................................................................... 5
LỜI CẢM ƠN ......................................................................................................... 6
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ .................................................................... 7
LỜI MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH
NGHIỆP ................................................................................................................ 11
1.1. KHÁI NIỆM VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
CỦA DOANH
NGHIỆP……………………………………………………………………………11
1.1.1. Khái niệm và phân loại thị trường ........................................................ 11
1.1.2. Khái niệm về thị trường tiêu thụ sản phẩm............................................ 14
1.2. KHÁI NIỆM VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN
PHẨM……………………………………………………………………………...16
1.2.1. Khái niệm về phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm ............................ 16
1.2.2. Nội dung của phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm ............................ 16
1.2.3. Nội dung của hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm............ 18
1.3. VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN
PHẨM ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP .......................................................................... 23
1.4. HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN
PHẨM……………………………………………………………………………...25
1.4.1. Chỉ tiêu định lượng ............................................................................... 25
1.4.2. Chỉ tiêu định tính .................................................................................. 28
1.5. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP .................................... 28
1.5.1. Nhân tố khách quan .............................................................................. 28
- 1 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
1.5.2. Nhân tố chủ quan .................................................................................. 31
1.6. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH
NGHIỆP……………………………………………………………………………33
1.6.1. Phương pháp so sánh giản đơn ............................................................. 33
1.6.2. Phương pháp so sánh có đối chiếu ........................................................ 33
1.6.3. Phương pháp biểu diễn bằng đồ thị các loại .......................................... 33
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 ........................................................................................ 35
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU
THỤ SẢN PHẨM CỦA ARTEXPORT NAM ĐỊNH ............................................ 36
(2009 – 2011) ........................................................................................................ 36
2.1. TỔNG QUAN VỀ ARTEXPORT NAM
ĐỊNH…………………………………….................................................................36
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Artexport Nam Định ................. 36
2.1.2. Mục tiêu, lĩnh vực hoạt động của Artexport Nam Định ......................... 37
2.1.3. Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của Arteport Nam Định ...................... 38
2.1.4. Một số kết quả hoạt động kinh doanh của Artexport Nam Định ............ 41
2.2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA
ARTEXPORT NAM ĐỊNH (2009-
2011)……………………………………………………………………………….43
2.2.1. Đặc điểm sản phẩm của Artexport Nam Định ....................................... 43
2.2.2. Đặc điểm thị trường của Artexport Nam Định ...................................... 46
2.2.3. Kết quả tiêu thụ sản phẩm của Artexport Nam Định giai đoạn 2009 –
2011 ............................................................................................................... 48
2.3. PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN
PHẨM CỦA ARTEXPORT NAM ĐỊNH (2009 –
2011)……………………………………….............................................................49
2.3.1. Phân tích hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước
của Artexport Nam Định (2009 – 2011) ......................................................... 49
- 2 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
2.3.2. Phân tích hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu của Artexport Nam
Định (2009 – 2011) ........................................................................................ 55
2.3.3. Đánh giá tổng hợp hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của
công ty (2009 – 2011) .................................................................................... 58
2.4. PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG PHÁT
TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ CỦA ARTEXPORT NAM
ĐỊNH………………………….................................................................................60
2.4.1. Các nhân tố khách quan ........................................................................ 60
2.4.2. Các nhân tố bên trong ........................................................................... 65
2.5. PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU
THỤ CỦA CÁC ĐỐI THỦ CẠNH TRANH VỚI ARTEXPORT NAM
ĐỊNH……………………………………………………………………………….68
2.5.1. Phân tích công tác phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của các đối thủ
cạnh tranh ....................................................................................................... 69
2.5.2. Đánh giá công tác phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của các đối thủ
cạnh tranh ....................................................................................................... 70
2.5.3. So sánh đánh giá hoạt động phát triển thị trường của Artexport Nam
Định với đối thủ cạnh
tranh…………………………………………………………………………...72
2.6. ĐÁNH GIÁ NHỮNG THÀNH CÔNG VÀ TỒN TẠI CỦA ARTEXPORT
NAM ĐỊNH TRONG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN
PHẨM (2009 –
2011)…………………………………………………………………………….....73
2.6.1. Những thành công trong công tác phát triển thị trường tiêu thụ sản
phẩm…………………………………………………………………………..73
2.6.2. Những tồn tại trong hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm . 75
2.7. NHẬN DẠNG CÁC NGUYÊN NHÂN CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG
TÁC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ CỦA ARTEXPORT NAM
ĐỊNH………….........................................................................................................76
- 3 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
2.7.1. Nguyên nhân khách quan ...................................................................... 76
2.7.2. Nguyên nhân chủ quan ......................................................................... 78
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 ........................................................................................ 80
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
TIÊU THỤ SẢN PHẨM CHO ARTEXPORT NAM ĐỊNH .................................. 81
3.1. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
TRONG THỜI GIAN
TỚI………………………………………………………………............................81
3.1.1. Một số quan điểm cơ bản phát triển ngành thủ công mỹ nghệ của Việt
Nam ............................................................................................................... 81
3.1.2. Sự phát triển của thị trường hàng hóa thủ công mỹ nghệ trong thời gian
tới ................................................................................................................... 82
3.2. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CỦA ARTEXPORT NAM
ĐỊNH TRONG 5 NĂM
TỚI……………………………………………………………………....................84
3.2.1. Mục tiêu phát triển thị trường tiêu thụ của Artexport Nam Định ........... 84
3.2.2. Định hướng phát triển của Artexport Nam Định giai đoạn 2011 - 2015 85
3.3. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU
THỤ SẢN PHẨM CHO ARTEXPORT NAM
ĐỊNH……………………………………………….................................................86
3.3.1. Triển khai mở thêm đại lý ..................................................................... 86
3.3.2. Đẩy mạnh công tác quảng cáo .............................................................. 90
3.3.3. Một số giải pháp định hướng khác ........................................................ 93
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 ...................................................................................... 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................................. 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 107
- 4 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả của đề tài: ‘‘Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường tiêu thụ sản
phẩm cho Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ tỉnh Nam Định
(Artexport Nam Định)’’ xin cam đoan : Luận văn này là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, được tập hợp từ nhiều tài liệu, tự thu thập các thông tin liên hệ thực tế
trong công tác quản lý để đưa ra các giải pháp với mong muốn góp phần nhỏ bé
của mình vào hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phảm của Công ty cổ
phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ tỉnh Nam Định.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của luận văn.
Tác giả
Hà Thị Thu Thủy
- 5 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian làm việc nghiêm túc, luận văn thạc sỹ của tôi đã được hoàn
thành dưới sự hướng dẫn tận tình của TS. Phan Diệu Hương. Tôi xin bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS. Phan Diệu Hương trong suốt quá trinh thực hiện đề
tài đã nhiệt tình chỉ bảo phương hướng nghiên cứu và truyền đạt cho tôi những kinh
nghiệm, kiến thức quý báu để tôi hoàn thành tốt đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy, cô giáo trong khoa Kinh tế và
Quản lý – trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, đóng góp ý
kiến giá trị cho luận văn của tôi.
Bên cạnh đó, tôi xin chân thành cảm ơn Viện đào tạo sau Đại học – Trường
Đại học Bách Khoa Hà Nội, ban giám đốc và cán bộ, nhân viên Công ty cổ phần
xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ tỉnh Nam Định đã tạo điều kiện cho tôi nghiên
cứu và cung cấp số liệu đầy đủ, kịp thời để tôi hoàn thành luận văn thạc sỹ này.
Tác giả
Hà Thị Thu Thủy
- 6 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ
STT Tên bảng Trang
Bảng 2.1. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Artexport 41 1
Nam Định
2 Bảng 2.2. Tổng hợp doanh thu một số đại lý, cửa hàng trong nước 45
3 Bảng 2.3. Một số khách hàng nội địa truyền thống của Artexport 46
Nam Định
4 Bảng 2.4. Một số đối tác nước ngoài truyền thống của Artexport 48
Nam Định
5 Bảng 2.5. Kết quả tiêu thụ sản phẩm 49
6 Bảng 2.6. Doanh thu tiêu thụ sản phẩm nông sản 50
của Artexport Nam Định ở thị trường miền Bắc
7 Bảng 2.7. Số lượng đại lý các loại 51
8 Bảng 2.8. Tình hình điều tra thị trường ở một số địa phương 52
9 Bảng 2.9. Thống kê chi phí quảng cáo – khuyến mại năm 2011 53
10 Bảng 2.10. Mức giá sản phẩm len (áp dụng từ tháng 6/2011) 54
11 Bảng 2.11. Kết quả tiêu thụ sản phẩm mây tre đan ở khu vực châu Á 55
12 Bảng 2.12. Số lượng kiểu dáng sản phẩm mây tre 56
13 Bảng 2.13. Số lượng catalog và chi phí gửi đến các doanh nghiệp 57
nước ngoài
14 Bảng 2.14. Thị phần trong nước của Artexport Nam Định 59
15 Bảng 2.15. Tình hình ký kết hợp đồng các năm 2009 - 2011 60
16 Bảng 2.16. Số nhân viên của Artexport Nam Định 66
17 Bảng 2.17. Kim ngạch xuất khẩu theo nước của Tocontap Hà Nội 70
18 Bảng 2.18. Doanh số của các công ty Trung Quốc 71
19 Bảng 2.19. Thị phần doanh thu của các doanh nghiệp kinh doanh 72
hàng thủ công mỹ nghệ trong nước
- 7 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
20 Bảng 2.20. Doanh thu từ hoạt động xuất khẩu của Artexprort Nam 74
Định
Bảng 3.1. Thống kê vị trí mở thêm các cửa hàng, đại lý 88 21
Bảng 3.2. Ước tính kết quả của giải pháp mở thêm đại lý 90 22
Bảng 3.3. Bảng giá quảng cáo trên Google hiển thị tại vị trí thông 92 23
thường
24 Bảng 3.4. Dự kiến kết quả của biện pháp đẩy mạnh công tác quảng 93
cáo
25 Bảng 3.5. Dự tính kết quả của giải pháp đầu tư nâng cao chất lượng 95
cán bộ phòng Kế hoạch thị trường và phòng Kinh doanh
Hình 1.1. Quy trình tiến hành phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm 18 26
Hình 1.2. Xây dựng chiến lược phát triển thị trường từ trên xuống 21 27
Hình 1.3. Xây dựng chiến lược phát triển thị trường từ dưới lên 22 28
Hình 2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Artexport Nam Định 40 29
Hình 2.2. Doanh thu của Artexport Nam Định giai đoạn 2009 - 2011 42 30
Hình 2.3. Kênh phân phối sản phẩm của Artexport Nam Định 44 31
Hình 2.4. Diễn biến CPI các năm 2009, 2010 62 32
Hình 2.5. Thị phần của Artexport Nam Định 73 33
- 8 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành nghề truyền thống Việt Nam vốn được biết đến từ lâu với những hình
thức đa dạng và phong phú, tạo ra nhiều sản phẩm vừa có giá trị phục vụ đời sống
con người vừa chứa đựng những giá trị văn hoá lịch sử. Mặc dù trải qua những trình
độ phát triển kinh tế khác nhau song các ngành nghề truyền thống ấy luôn luôn tồn
tại trong cuộc sống của mọi dân tộc Việt Nam. Cuộc sống hiện đại, nhưng nhu cầu
về các mặt hàng nông sản, mặt hàng thủ công mỹ nghệ trong nước vẫn rất lớn. Hơn
thế nữa, thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là một thị trường hấp dẫn với
các đơn vị sản xuất và kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ. Hiện nay thủ công mỹ
nghệ là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu đem về cho đất nước nhiều ngoại tệ nhất.
Đây là một trong những điều thuận lợi cho các đơn vị sản xuất và kinh doanh mặt
hàng thủ công mỹ nghệ nói chung và công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ
nghệ tỉnh Nam Định (Artexport Nam Định) nói riêng.
Tuy là một doanh nghiệp hoạt động trong ngành đã lâu, nhưng thị phần của
Artexport Nam Định còn rất nhỏ bé so với nhu cầu lớn của thị trường. Bên cạnh đó,
công ty phải đối diện với sự cạnh tranh lớn từ các đối thủ. Muốn nâng cao được vị
thế, đứng vững được trên thị trường, Artexport Nam Định cần phải mở rộng thị
phần của mình. Từ đó, mục tiêu đặt ra cho Artexport Nam Định là phát triển thị
trường tiêu thụ sản phẩm. Đây cũng chính là mục tiêu quan trọng hàng đầu mà các
doanh nghiệp cần quan tâm. Nó đảm bảo sự lưu thông hàng hóa của doanh nghiệp,
đảm bảo hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, tác giả đã chọn đề tài: ‘‘Một
số giải pháp nhằm phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm cho công ty cổ phần
xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ tỉnh Nam Định (Artexport Nam Định)’’.
2. Mục đích nghiên cứu - Tổng hợp các tài liệu và cơ sở phương pháp luận về thị trường tiêu thụ sản
phẩm và phát triển thị trường tiêu thụ sản phầm.
- 9 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
- Phân tích và đánh giá thực trạng thị trường tiêu thụ sản phẩm của
Artexport Nam Định 2009 – 2011.
- Nhận dạng các nguyên nhân ảnh hưởng tiêu cực đến việc phát triển thị
trường tiêu thụ sản phẩm của công ty 2009 – 2011.
- Đề xuất các giải pháp mang tính khả thi nhằm phát triển thị trường tiêu thụ
sản phẩm cho Artexport Nam Định.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng thị trường tiêu thụ sản phẩm của
Arteport Nam Định; hoạt động phát triển thị trường tiêu sản phẩm của công ty và
các đối thủ cạnh tranh.
- Phạm vi nghiên cứu: Phân tích, nghiên cứu thực trạng phát triển thị trường
tiêu thụ sản phẩm của Artexport Nam Định và các đối thủ cạnh tranh giai đoạn
2009 – 2011.
4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng lý luận và phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp các
phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp các số liệu sơ cấp và thứ cấp,
đồng thời kết hợp với tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn ở địa phương để nghiên
cứu, giải quyết vấn đề đặt ra của đề tài.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về thị trường tiêu thụ sản phẩm và phát triển
thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích thực trạng phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của
Artexport Nam Định (2009 – 2011)
Chương 3: Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển thị trường tiêu sản phẩm
cho Artexport Nam Định
- 10 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN
PHẨM VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA
DOANH NGHIỆP
1.1. KHÁI NIỆM VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN
PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm và phân loại thị trường
1.1.1.1. Khái niệm thị trường
Xã hội càng phát triển thì sự chuyên môn hóa lao động và phân công lao
động càng rõ rệt. Đó chính là nguồn gốc của thị trường. Chuyên môn hoá sản xuất
làm cho sản phẩm sản xuất ra ngày càng nhiều khi đó sản phẩm sản xuất ra không
tiêu dùng hết sẽ dùng để mua bán và trao đổi để lấy hàng hoá khác. Phân công lao
động xã hội khiến cho một nhóm người chuyên làm ra một loại sản phẩm mà nhu
cầu của con người lại nhiều, khi đó họ tìm cách trao đổi với nhau. Ban đầu là trao
đổi bằng hiện vật, sau đó khi tiền xuất hiện thì quá trình trao đổi dễ dàng hơn và thị
trường hình thành. Có nhiều quan điểm nói về thị trường, nhưng khi nói về thị
trường người ta thường nói đến mua và bán, cung và cầu. Dưới đây xin đề cập đến
một vài khái niệm về thị trường.
Thị trường là một phạm trù kinh tế, được nghiên cứu nhiều trong các học
thuyết kinh tế. Thị trường gắn liền với nhu cầu trao đổi của con người, ở đâu có sự
trao đổi hàng hoá là ở đó hình thành nên thị trường. Theo quan niệm trước đây, thị
trường được hiểu là cái chợ Quan niệm này cho rằng thị trường là nơi gặp nhau
giữa người bán và người mua, thị trường là nơi diễn ra các quan hệ mua bán hàng
hoá. Cùng với sự tiến bộ của loài người và sự phát triển của khoa học kỹ thuật,
quan niệm về thị trường theo nghĩa cổ điển đã không còn phù hợp nữa. Các quan
hệ mua bán đã trở nên đa dạng, phong phú, phức tạp hơn rất nhiều.
Theo Davidbegg: “Thị trường là sự biểu hiện thu gọn của quá trình thông
qua các quyết định của các gia đình về tiêu dùng mặt hàng nào, các quyết định
của công ty về sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và cho ai, đều dung hoà bằng
- 11 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
sự điều chỉnh giá cả [8]’’. Xét trong phạm vi của doanh nghiệp cụ thể thì việc
phân tích thị trường như trên là cần thiết song vẫn chưa đủ để doanh nghiệp có thể
tổ chức tốt quá trình kinh doanh của mình. Nếu chỉ dừng lại ở việc mô tả thị
trường trên giác độ phân tích của nhà kinh tế, doanh nghiệp khó có khả năng mô
tả chính xác và cụ thể đối tượng tác động và các yếu tố chi tiết có liên quan. Đặc
biệt, khó hoặc thậm chí không thể đưa ra được các công cụ điều khiển kinh doanh
có hiệu quả.
Theo nhà Kinh tế học Samuelson: “Thị trường là một quá trình trong đó
người mua và người bán cùng một thứ hàng hoá tác động qua lại với nhau để xác
định giá cả và số lượng hàng hoá [9]’’. Trên thực tế, nền kinh tế hiện đại đang
hoạt động theo nguyên tắc phân công lao động. Điều này có nghĩa là trong đó mỗi
người chuyên sản xuất một thứ gì đó, nhận tiền thanh toán rồi mua những thứ cần
thiết bằng số tiền đó. Như vậy là nền kinh tế hiện đại có rất nhiều thị trường: thị
trường tài nguyên, thị trường sức lao động, thị trường tiền tệ, thị trường hàng hóa
dịch vụ,… Như vậy, quan niệm về thị trường ngày nay của Samuelson đã nêu một
cách đầy đủ và chính xác hơn, làm rõ được bản chất thị trường. Thị trường không
chỉ bao gồm các mối quan hệ mà còn bao gồm các tiền đề cho các mối quan hệ và
hành vi mua bán. Từ đó, có khái niệm về thị trường như sau: Thị trường là một
quá trình trong đó người mua và người bán cùng một thứ hàng hoá tác động qua
lại với nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá.
Như vậy theo quan niệm này, thị trường của doanh nghiệp trước hết là
những khách hàng có tiềm năng tiêu thụ, có nhu cầu cụ thể về hàng hoá, dịch vụ
trong một thời gian nhất định và chưa được thoả mãn.
Thứ hai, yếu tố quan trọng làm đối trọng với cầu trên thị trường là cung về
hàng hoá, dịch vụ do các cá nhân, doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân tạo
nên, chính sự tác động qua lại với nhau giữa cung và cầu về hàng hoá tạo nên quy
luật cung cầu chi phối hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường.
Thứ ba, thành phần không thể thiếu được tham gia trên thị trường của
doanh nghiệp là các hàng hoá, sản phẩm cụ thể, đối tượng để mua bán trao đổi.
- 12 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Một khi trên thị trường có nhiều người mua, nhiều người bán và nhiều hàng
hoá tương tự nhau về chất lượng, giá cả tất yếu nảy sinh sự cạnh tranh. Đó là sự
cạnh tranh về chất lượng sản phẩm, về phương thức giao dịch mua bán hàng hoá,
thanh toán, cạnh tranh giữa người mua với người mua; cạnh tranh giữa người bán
với người mua; cạnh tranh giữa người bán với người bán và giữa những người mua
với nhau. Cạnh tranh là bộ máy điều chỉnh trật tự thị trường, là yếu tố quan trọng
kích thích tính tích cực, tính đa dạng và nâng cao chất lượng hàng hoá cho phù
hợp với nhu cầu thị trường.
1.1.1.2. Phân loại thị trường
Có nhiều tiêu chí để phân loại thị trường. Có thể phân loại thị trường theo
các tiêu thức sau:
+ Căn cứ vào phạm vi hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường có:
- Thị trường thế giới là thị trường nằm ngoài biên giới quốc gia bao gồm
những nước nằm ngoài lãnh thổ. Ví dụ thị trường Châu Âu, Châu Phi, Trung
Đông.
- Thị trường khu vực: thị trường khu vực đối với nước ta như các nước
công nghiệp mới (NICs) bao gồm Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapo và
các nước Đông Nam Á khác như: Indonêxia, Thái Lan.
- Thị trường trong nước: Thị trường toàn quốc là thị trường ngành hàng bao
gồm tất cả các tỉnh, thành phố của một nước.
- Thị trường địa phương: thị trường trong phạm vi của một địa phương nào
đó.
+ Căn cứ vào vai trò của thị trường đối với doanh nghiệp:
- Thị trường chính: thị trường trọng tâm, chiếm phần lớn tỷ trọng trong
doanh thu của doanh nghiệp.
- Thị trường bổ sung: thị trường chiếm phần nhỏ tỷ trọng trong doanh thu
của doanh nghiệp.
- 13 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
+ Căn cứ vào mục đích hoạt động của doanh nghiệp có thể phân loại thị
trường thành thị trường đầu vào và thị trường đầu ra
- Thị trường đầu vào: Là thị trường liên quan đến khả năng và các yếu tố
ảnh hưởng đến nguồn cung cấp các yếu tố kinh doanh của doanh nghiệp. Thị
trường đầu vào bao gồm: thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường hàng hoá
dịch vụ. Thông qua việc mô tả thị trường đầu vào của doanh nghiệp, doanh nghiệp
sẽ nắm rõ được tính chất đặc trưng của thị trường như cung (tức là quy mô, khả
năng đáp ứng), cạnh tranh (mức độ khốc liệt), giá cả (cao, thấp, và biến động giá)
để từ đó có thể đưa ra các quyết định kinh doanh đúng đắn.
- Thị trường đầu ra (thị trường tiêu thụ): Là thị trường liên quan trực tiếp
đến vấn đề tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Bất cứ một yếu tố nào dù rất nhỏ
của thị trường này đều có thể ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau đến khả năng
thành công hay thất bại trong tiêu thụ. Đặc biệt là tính chất của thị trường tiêu thụ
là cơ sở để doanh nghiệp hoạch định và tổ chức thực hiện các chiến lược, sách
lược, công cụ điều khiển tiêu thụ.
1.1.2. Khái niệm về thị trường tiêu thụ sản phẩm
1.1.2.1. Khái niệm về thị trường tiêu thụ sản phẩm
Thị trường của doanh nghiệp phân loại theo tiêu thức mục đích hoạt động bao
gồm thị trường đầu vào và thị trường đầu ra. Thị trường đầu ra chính là thị trường
tiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, quyết định sự phát triển của doanh
nghiệp và quyết định mọi sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thị trường đầu ra
quyết định đến khả năng thành công hay thất bại trong tiêu thụ của doanh nghiệp.
Đặc điểm và tính chất của thị trường tiêu thụ là cơ sở để doanh nghiệp hoạch định
và tổ chức thực hiện các chiến lược cụ thể điều khiển tiêu thụ sản phẩm.
Từ đó, có khái niệm về thị trường tiêu thụ sản phẩm như sau:“Thị trường
bao gồm tất cả các khách hàng hiện tại và tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong
muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu hay
mong muốn đó [10]”.
- 14 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Như vậy quy mô của thị trường tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc vào một số
người có nhu cầu và có những tài nguyên được người khác quan tâm, và sẵn sàng
đem lại những tài nguyên đó để đổi lấy cái mà họ mong muốn.
1.1.2.2. Phân loại thị trường tiêu thụ sản phẩm
Theo tài liệu [3], có các tiêu chí phân loại thị trường tiêu thụ sản phẩm như sau:
* Theo tiêu thức sản phẩm
Theo tiêu thức này, doanh nghiệp thường xác định thị trường tiêu thụ theo
ngành hàng (dòng sản phẩm) hay nhóm hàng mà họ kinh doanh và bán ra trên thị
trường. Tuỳ theo mức độ nghiên cứu người ta có thể mô tả ở mức độ khái quát cao
hay cụ thể. Ví dụ, doanh nghiệp kinh doanh bia có thể phân loại thị trường sản
phẩm của mình thành thị trường bia chai, thị trường bia lon. Doanh nghiệp sản
xuất máy tính có thể phân loại thị trường thành thị trường máy tính để bàn, thị
trường máy tính xách tay,…
* Theo tiêu thức địa lý
Theo tiêu thức này, doanh nghiệp thường xác định thị trường tiêu thụ theo
phạm vi khu vực địa lý mà họ có thể vươn tới để kinh doanh. Tùy theo mức độ
rộng hẹp có tính toàn cầu khu vực hay lãnh thổ có thể xác định thị trường của
doanh nghiệp. Theo tiêu thức này, thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
gồm:
- Thị trường thế giới
- Thị trường trong nước
- Thị trường địa phương
* Theo tiêu thức nhu cầu của khách hàng
Theo tiêu thức này, doanh nghiệp mô tả thị trường của mình theo các nhóm
khách hàng mà họ hướng tới để thoả mãn, bao gồm cả khách hàng hiện tại và
khách hàng tiềm năng. Về lý thuyết, tất cả những người mua trên thị trường đều có
thể trở thành khách hàng của doanh nghiệp và hình thành nên thị trường của doanh
nghiệp. Nhưng trong thực tế thì không phải vậy: nhu cầu của khách hàng rất đa
- 15 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
dạng, họ cần đến những sản phẩm khác nhau để thoả mãn nhu cầu, trong khi
doanh nghiệp chỉ có thể đưa ra thoả mãn họ một hoặc một số sản phẩm nào đó. Để
thoả mãn nhu cầu, khách hàng có thể có nhiều cách thức mua sắm khác nhau trong
khi doanh nghiệp chỉ có thể lựa chọn và đáp ứng tốt một hoặc một số yêu cầu về
cách thức mua sắm và sử dụng nào đó của khách hàng. Điều đó dẫn tới một thực
tế là hình thành nên thị trường - những nhóm khách hàng mà doanh nghiệp có thể
chinh phục.
Theo cách phân loại này có thể phân thành: khách hàng truyền thống, khách
hàng mới, hoặc có thể phân loại theo giới tính, thu nhập,…
Cuối cùng, để kết hợp cả ba tiêu thức trên doanh nghiệp cần xác định được
thị trường tiêu thụ trọng điểm cho doanh nghiệp mình: Xác định thị trường trọng
điểm là quá trình phân tích thị trường từ khái quát đến cụ thể nhằm xác định được
các nhóm khách hàng với nhu cầu cụ thể về sản phẩm và cách thức thoả mãn nhu
cầu của họ.
1.2. KHÁI NIỆM VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
1.2.1. Khái niệm về phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
Xuất phát từ khái niệm về thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp:
Thị trường tiêu thụ sản phẩm là một hay nhiều nhóm khách hàng bao gồm cả khách
hàng tiềm ẩn với các nhu cầu tương tự nhau, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao
đổi để thỏa mãn nhu cầu đó, ta có khái niệm về phát triển thị trường tiêu thụ sản
phẩm như sau:
“Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm là một quá trình nghiên cứu thị
trường xác định nhu cầu của thị trường và dùng các biện pháp để đưa sản phẩm từ
nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng một cách có hiệu quả [3]”.
1.2.2. Nội dung của phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
Phát triển thị trường là một trong những yếu tố không thể thiếu được trong các
chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Bản chất của phát triển thị trường là sự
mở rộng mối quan hệ giữa khách hàng và doanh nghiệp. Mối quan hệ giữa khách
- 16 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
hàng và doanh nghiệp là mối quan hệ mua bán. Như vậy theo quan niệm này thì
phát triển thị trường tiêu thụ bao gồm phát triển thị trường theo chiều rộng và phát
triển thị trường theo chiều sâu.
1.2.2.1. Phát triển thị trường theo chiều rộng
Phát triển thị trường theo chiều rộng có nghĩa là doanh nghiệp cố gắng mở
rộng thị trường, tăng thị phần sản phẩm bằng các khách hàng mới. Phương thức này
được doanh nghiệp sử dụng trong các trường hợp:
- Thị trường hiện tại của doanh nghiệp đang có xu hướng bão hoà.
- Sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường hiện tại còn thấp.
- Rào cản về chính trị, luật pháp quá lớn đối với doanh nghiệp trên thị trường
hiện tại.
- Doanh nghiệp có đủ tiềm lực để mở rộng thêm thị trường mới, tăng doanh
thu, lợi nhuận.
Phát triển thị trường theo chiều rộng có thể được tiến hành theo 3 cách:
- Cách 1: Phát triển theo tiêu thức địa lý: Quy mô thị trường của doanh nghiệp
được mở rộng theo vùng địa lý.
- Cách 2: Phát triển theo tiêu thức sản phẩm: Doanh nghiệp thường đưa ra
những sản phẩm mới có tính năng phù hợp với khách hàng ở thị trường mới thoả
mãn được tốt nhất nhu cầu của họ. Các doanh nghiệp khi mở rộng thị trường thường
áp dụng chính sách đa dạng hoá sản phẩm theo nhu cầu của khách hàng.
- Cách 3: Phát triển theo tiêu thức khách hàng: Doanh nghiệp kích thích,
khuyến khích các nhóm khách hàng mới tiêu thụ sản phẩm của mình, đó có thể là
khách hàng của đối thủ cạnh tranh, có thể là khách hàng tiềm năng của doanh
nghiệp.
Muốn thực hiện được điều đó, doanh nghiệp cần phải nhanh nhạy trong việc
nắm bắt nhu cầu của khách hàng và hành vi mua hàng của họ, điểm mạnh, điểm yếu
của đối thủ cạnh tranh để có được chiến lược công ty hiệu quả nhất.
- 17 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
1.2.2.2. Phát triển thị trường theo chiều sâu
Phát triển thị trường theo chiều sâu là doanh nghiệp cố gắng tăng khả năng
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường hiện tại. Phát triển thị trường
theo chiều sâu thường được các doanh nghiệp sử dụng khi:
+ Thị trường hiện tại có nhiều tiềm năng để phát triển mà doanh nghiệp chưa
khai thác hết.
+ Sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường hiện tại là khá lớn.
+ Sản phẩm của doanh nghiệp có uy tín trên thị trường.
Phát triển thị trường theo chiều sâu cũng được tiến hành theo 3 cách:
- Cách 1: Phát triển theo tiêu thức địa lý: Doanh nghiệp cố gắng bán thêm
hàng hoá vào thị trường hiện tại bằng việc sử dụng các công cụ marketing chiêu dụ
khách hàng, đánh bật đối thủ cạnh tranh và có thể tiến tới độc chiếm thị trường.
- Cách 2: Phát triển theo tiêu thức khách hàng: là việc doanh nghiệp nỗ lực
bán thêm sản phẩm của mình vào nhóm khách hàng đã có của doanh nghiệp, biến
nhóm khách hàng đó trở thành khách hàng thường xuyên và trung thành của mình.
- Cách 3: Phát triển theo tiêu thức sản phẩm: Doanh nghiệp cải tiến mẫu mã
sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc đa dạng hoá sản phẩm và tăng cường
các dịch vụ kèm theo.
1.2.3. Nội dung của hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
Hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm được tiến hành theo quy
trình dưới đây:
Hình 1.y
Nghiên cứu thị trường
Lập chiến lược phát triển thị trường Thực hiện chiến lược phát triển thị trường Đánh giá kết quả việc thực hiện chiến lược
Hình 1.1. Quy trình phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
- 18 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
1.2.31. Nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường là bước đầu tiên của phát triển thị trường là nghiên cứu
thị trường. Mục tiêu của quá trình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động
thương mại được xác định và tìm kiếm, phân tích lựa chọn các thông tin phục vụ
quá trình ra quyết định kinh doanh gồm các bước:
- Nghiên cứu thị trường theo chiều rộng: Nhằm đảm bảo nhận dạng toàn
diện cơ hội xuất hiện trên thị trường để không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh.
Thường áp dụng với nghành hàng mới ra nhập thị trường, thâm nhập thị
truờng hay khi doanh nghiệp đánh giá lại chính sách marketing của mình trong thời
gian nhất định. Nội dung chủ yếu của nghiên cứu thị trường là cần phải xác định
được:
- Loại nhu cầu của khách hàng sẽ được chọn để đáp ứng
- Giới hạn địa lý, không gian
- Loại hàng cung ứng
Như vậy nghiên cứu thị trường cần làm rõ:
Quy mô thị trường: Quy mô thị trường lớn hay nhỏ, thị trường lớn thì triển
vọng phát triển ngành hàng ngày càng cao. Quy mô thị trường phụ thuộc vào nhu
cầu của khách hàng đối với sản phẩm.
Sự vận động của thị trường: Sự vận động của thị trường nói lên phương
hướng phát triển của thị trường, từ đó xác định phương hướng phát triển của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp phải phân tích sự vận động của thị trường qua thời gian để
thấy được xu hướng phát triển thị trường.
Các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường của doanh nghiệp như: Các yếu tố
bên ngoài doanh nghiệp để xác định cơ hội và nguy cơ của doanh nghiệp, các yếu tố
bên trong doanh nghiệp cho ta thấy điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp, từ đó
doanh nghiệp đề ra chiến lược kinh doanh phù hợp.
- 19 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Phương pháp thường chọn để nghiên cứu thị trường rộng là phương pháp
nghiên cứu “tại bàn”. Phương pháp này là thu thập số liệu phân tích trên sách, báo,
internet, số kiệu điều tra thực tế. Phương pháp này vừa rẻ, tiết kiệm lại dễ thực hiện.
- Nghiên cứu thị trường theo chiều sâu: Xác định chính xác cơ hội kinh
doanh của doanh nghiệp hay nói cách khác là xác định chính xác nhu cầu của người
tiêu dùng từ đó đề ra các biện pháp phát triển thị trường.
Nghiên cứu thị trường theo chiều sâu cần xác định:
Nhu cầu cụ thể của nhóm khách hàng lựa chọn để đáp ứng nhu cầu khách
hàng. Nhu cầu có thể thay đổi do thói quen tập tính của người tiêu dùng.
Sản phẩm của doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu đó.
Cách thức đưa sản phẩm của doanh ngiệp tơi người tiêu dùng.
Do vậy, doanh nghiệp cũng cần phải nghiên cứu thói quen tập tính của khách hàng:
Thói quen mua sắm, động cơ mua sắm, thái độ mua, và biểu hiện của khách hàng
đối với sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng.
Phương pháp chủ yếu để nghiên cứu là phương pháp quan sát, phỏng vấn trực
tiếp. Phương pháp này không tiết kiệm, tốn thời gian, nhưng hiệu quả lại cao vì biết
được nhu cầu thục sự của khách hàng.
1.2.3.2. Xây dựng chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
Để tiêu thụ hàng hoá tốt doanh nghiệp cần phải thoả mãn tốt nhất nhu cầu của
khách hàng, đáp ứng đúng thời điểm, đúng địa điểm, đúng nhu cầu. Do vậy, doanh
nghiệp cần phải xây dựng chiến lược phát triển thị trường một cách cụ thể.
Xây dựng chiến lược phát triển thị trường rất quan trọng đến sự phát triển của
doanh nghiệp tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của doanh nghiệp mà doanh nghiệp áp
dụng phương pháp cách thức xây dựng chiến lược phát triển thị trường cho phù hợp
với doanh nghiệp mình.
- 20 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Xây dựng chiến lược phát triển thị trường đảm bảo cho doanh nghiệp có sự
chuẩn bị để đưa hàng hóa của mình tiến vào thị trường. Xây dựng chiến lược phát
triển thị trường cần xác định được:
- Mục tiêu thị trường cần hướng tới của doanh nghiệp
- Sản phẩm mà doanh ngiệp đưa ra để đáp ứng được thị trường mục tiêu đó
- Kế hoạch cụ thể về phát triển thị trường.
- Xác định được phương pháp tiếp cận thị trường mục tiêu.
Các phương pháp xây dựng chiến lược phát triển thị trường
Lãnh đạo doanh nghiệp (Chiến lược cấp công ty)
Phòng tiêu thụ thị trường (chiến lược cấp phòng)
Lãnh đạo các chi nhánh (chiến lược cấp đơn vị trực thuộc)
+ Xây dựng chiến lược phát triển thị trường từ trên xuống
Hình 1.2. Xây dựng chiến lược phát triển thị trường từ trên xuống
Theo phương pháp này lãnh đạo doanh nghiệp xây dựng chiến lượcphát triển
thị trường cấp công ty sau đó phổ biến các chiến lược này xuống phòng tiêu thụ thị
trường. Phòng thị trường xây dựng các chiến lược phát triển thị trường cấp phòng,
phổ biến các chiến lược này tới các chi nhánh.
- 21 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Ưu điểm: Xây dựng chiến lược phát triển thị trường theo phương pháp này
đảm bảo tính thống nhất, cụ thể từ trên xuống dưới, từ cấp lãnh đạo đến các phòng
ban rồi đến các chi nhánh của doanh nghiệp.
Nhược điểm: Xây dựng chiến lược theo phương pháp này không sát với
thực tế kinh doanh của doanh nghiệp. Do các lãnh đạo doanh nghiệp chỉ căn cứ vào
báo cáo kinh doanh, không sát với thực tế.
Lãnh đạo doanh nghiệp (chiến lược cấp công ty)
Phòng tiêu thụ thị trường (chiến lược cấp phòng)
Lãnh đạo các chi nhánh (chiến lược cấp đơn vị trực thuộc)
+ Xây dựng chiến lược phát triển thị trường từ dưới lên
Hình 1.3. Xây dựng chiến lược phát triển thị trường từ dưới lên
Theo mô hình này các đơn vị trực thuộc gửi chiến lược cho cấp trên trực tiếp,
các bộ phận chức năng xây dựng chiến lược, gửi lên cho cấp lãnh đạo công ty
phương pháp này mang tính sát thực với thực tế của đơn vị hơn so với phương pháp
xây dựng chiến lược từ trên xuống
Ưu điểm: Sát với thực tế kinh doanh hơn phương pháp xây dựng chiến lược
phát triển thị trường từ trên xuống.
Nhược điểm : khó mang tính hệ thống, tính thống nhất không cao.
+ Phương pháp hỗn hợp
- 22 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Phương pháp hỗn hợp là sự kết hợp của hai phương pháp trên, phương pháp
này tận dụng được ưu điểm và khắc phụ được nhược điểm của cả hai phương pháp
trên.
1.2.3.3. Thực hiện chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
Thực hiện chiến lược phát triển thị trường là bước đưa sản phẩm của doanh
nghiệp ra thị trường. Thực hiện chiến lược phát triên thị trường cũng là khâu quan
trọng nhất trong phát triển thị trường. Vì đây là giai đoạn kiểm chứng kế hoạch,
chiến lược đề ra có đúng đắn hay không, doanh nghiệp cần phải sửa chữa ở điểm
nào hay không.
Thực hiện chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Xây dựng các kế hoạch phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm trong ngắn
hạn. Các kế hoạch phải xác định được: Thị trường mục tiêu, khách hàng mục tiêu,
khu vực địa lý.
- Phân bổ, tổ chức hợp lý các nguồn lực cho chiến lược phát triển thị trường:
Nguồn lực về tài chính, nguồn lực về nhân sự và các nguồn lực khác phục vụ cho
chiến lược phát triển thị trường của doanh nghiệp
- Thiết lập các hệ thống thông tin để điều chỉnh các hành động phù hợp với
biến động của thị trường.
1.3. VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ
SẢN PHẨM ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
Hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm có vai trò hết sức quan trọng
trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Sản phẩm làm ra phải được bán trên
thị trường hay tiêu thụ được thì doanh nghiệp mới thu hồi được vốn để thực hiện
quá trình sản xuất, tái mở rộng và phát triển doanh nghiệp.
Thứ nhất, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm góp phần tăng lợi nhuận mà
lợi nhuận bao giờ cũng là mục tiêu quan trọng của kinh doanh. Lợi nhuận sẽ thu
được càng lớn nếu như mục tiêu của sản xuất sản phẩm đi đúng hướng, đáp ứng nhu
- 23 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
cầu thị trường, khả năng thanh toán dứt điểm, ít có hàng tồn kho và được các bạn
hàng, các đại lý trong kênh tiêu thụ ủng hộ, góp sức. Như vậy việc mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu cơ bản của sản
xuất kinh doanh mục tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận làm tăng khả năng tận dụng các cơ
hội hấp dẫn trên thị trường và cũng là nguồn hình thành các quỹ của doanh nghiệp
dùng để kích thích lợi ích cán bộ công nhân viên để họ quan tâm gắn bó với hoạt
động của doanh nghiệp.
Thứ hai, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm giúp cho doanh nghiệp quay
vòng được vốn. khi phát triển được thị trường tiêu thụ được sản phẩm nhanh thì
vòng quay của vốn sẽ nhanh và ngược lại khi tiêu thụ chậm thì vòng quay của vốn
sẽ chậm. Tiêu thụ nhanh sẽ tiết kiệm được vốn.
Thứ ba, trên thực tế khi phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm ngày càng mở
rộng thì tiềm lực của doanh nghiệp ngày càng lớn, và có chỗ đứng trên thị trường.
Vì thế, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm trong cơ chế thị trường còn là sự tự
khẳng định về uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, tạo cho doanh nghiệp một vị
thế vững chắc khi mà trên thị trường đang có sự cạnh tranh gay gắt.
Thứ tư, về mặt xã hội doanh nghiệp mở rộng được thị trường tức là mở rộng
mối quan hệ xã hội. Khi tiêu thụ ngày càng nhiều sản phẩm của doanh nghiệp cũng
đồng nghĩa với sản phẩm của doanh nghiệp đã mang lại càng nhiều lợi ích cho
người tiêu dùng và cho xã hội. Đời sống của người dân ngày càng được cải thiện và
nâng cao một phần nhờ vào sản phẩm của doanh nghiệp. Do vậy phát triển thị
trường tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò hết sức quan trọng cho cả doanh nghiệp và xã
hội.
- 24 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
1.4. HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
1.4.1. Chỉ tiêu định lượng
Theo các tài liệu [3], [5], [8], để đánh giá hoạt động phát triển thị trường tiêu
thụ sản phẩm của doanh nghiệp, có thể sử dụng một số chỉ tiêu dịnh lượng dưới
đây:
* Chỉ tiêu doanh số bán hàng trong một khu vực thị trường
Chỉ tiêu này thể hiện số lượng sản phẩm tiêu thụ được của doanh nghiệp
trong kỳ.
Khi so sánh với kỳ kế hoạch hoặc so sánh với năm trước, doanh số bán hàng
càng lớn thể hiện tốc độ tăng trưởng về tiêu thụ của doanh nghiệp càng cao. Điều đó
nghĩa là doanh nghiệp đã phát triển được thị trường tiêu thụ ở khu vực đó. Trong
mối quan hệ tương quan so sánh với đối thủ cạnh tranh, doanh số bán hàng của
doanh nghiệp cao hơn chứng tỏ hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp tốt hơn dối thủ
của mình.
* Chỉ tiêu doanh thu tiêu thụ trong một khu vực thị trường
Chỉ tiêu doanh thu tiêu thụ là tổng giá trị sản phẩm tiêu thụ được của doanh
nghiệp trong kỳ.
Doanh thu tiêu thụ = Qi x Pi
Trong đó: Qi : Khối lượng sản phẩm i tiêu thụ
Pi : Đơn giá sản phẩm i được tiêu thụ
Khi so sánh với kỳ kế hoạch hoặc so sánh với năm trước, doanh thu tiêu thụ
càng lớn thể hiện tốc độ tăng trưởng về tiêu thụ ở khu vực đó của doanh nghiệp
càng cao. Trong mối quan hệ tương quan so sánh với đối thủ cạnh tranh, doanh thu
tiêu thụ của doanh nghiệp cao hơn chứng tỏ hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp tốt
hơn dối thủ của mình.
- 25 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
* Chỉ tiêu tốc độ tiêu thụ sản phẩm tại một khu vực thị trường
C1
Tốc độ tiêu thụ sản phẩm = ------------ x 100 %
C0
Trong đó: C1 : Doanh thu tiêu thụ năm gốc
C0 : Doanh thu tiêu thụ năm báo cáo
Tốc độ tiêu thụ càng lớn nghĩa là mức độ tiêu thụ sản phẩm hay tốc độ
mở rộng thị trường tiêu thụ càng cao.
* Chỉ tiêu tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu
N1
Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu = --------------
N0
Trong đó: N0 : Tổng kim ngạch xuất khẩu năm gốc
N1: Tổng kim ngạch xuất khẩu năm báo cáo
Đối với doanh nghiệp có thị trường xuất khẩu, thì chỉ tiêu tốc độ tăng kim
ngạch xuất khẩu là một trong những chỉ tiêu hữu ích để đánh giá mức độ mở rộng
thị trường đặc biệt là thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp. Tốc độ tăng kim
ngạch xuất khẩu càng lớn, mức độ phát triển thị trường xuất khẩu càng nhanh.
* Chỉ tiêu thị phần của doanh nghiệp
Thị phần của doanh nghiệp được hiểu theo nghĩa thị phần tuyệt đối và thị
phần tương đối. Trong đó:
- Thị phần tuyệt đối là phần doanh thu của doanh nghiệp so được tiêu thụ
trên thị trường(Ftuyệt đối).
Doanh số bán ra của doanh nghiệp
Ftuyệt đối = ------------------------------------------------ x 100%
Tổng doanh số bán ra của toàn ngành
- 26 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
- Thị phần tương đối được xác định trên cơ sở thị phần tuyệt đối của doanh
nghiệp so với thị phần tuyệt đối của doanh nghiệp lớn nhất trên thị trường
Doanh số bán ra của doanh nghiệp
Ftương đối = ------------------------------------------------ x 100%
Tổng doanh số bán ra của toàn ngành
Doanh nghiệp có thị phần tương đối và tuyệt đối cao chứng tỏ có mức cạnh
tranh lớn trên thị trường.
* Mức độ tiêu thụ sản phẩm mới
Công thức:
Giá trị sản phẩm mới tiêu thụ trong kỳ
Mức độ tiêu thụ
sản phẩm mới = ------------------------------------------------ x 100%
Giá trị sản phẩm tiêu thụ trong kỳ
Mức độ tiêu thụ sản phẩm mới là tiêu chuẩn để đánh giá hoạt động phát triển
thị trường tiêu thụ sản phẩm theo chiều rộng.
* Số lượng thị trường theo địa bàn được mở rộng so với trước
∆tt = Số lượng thị trường năm báo cáo – Số lượng thị trường năm gốc
Trong đó: ∆tt: Số lượng thị trường được mở rộng thêm
Số lượng thị trường theo địa bàn được mở rộng so với trước càng lớn thì số
lượng cũng như được mở rộng theo địa lý càng nhanh.
* Số lượng nhóm khách hàng mới doanh nghiệp đặt được quan hệ bán hàng so
với trước
∆kh = Số lượng khách hàng năm báo cáo – Số lượng khách hàng năm
gốc
Trong đó: ∆kh: Số lượng khách hàng đặt được quan hệ thêm
Số lượng khách hàng đặt đươc quan hệ thêm của doanh nghiệp càng lớn thì
mức độ phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp càng cao.
- 27 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
1.4.2. Chỉ tiêu định tính
Bên cạnh các chỉ tiêu định lượng, hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp còn được đánh giá thông qua các chỉ tiêu định tính sau:
* Sự nổi tiếng của nhãn hiệu sản phẩm trên thị trường
Doanh nghiệp có thể thông qua các cuộc phỏng vấn khách hàng, các cuộc
thăm dò dư luận khách hàng, các cuộc bình chọn sản phẩm…để xác định uy tín
của doanh nghiệp trên thị trường, sự nổi tiếng nhãn hiệu hàng hoá của doanh
nghiệp mình. Đó cũng là một cách để đánh giá hoạt động tiêu thụ của doanh
nghiệp.
* Độ an toàn trong kinh doanh
Độ an toàn trong kinh doanh cao, hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
càng ổn định.
1.5. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP
1.5.1. Nhân tố khách quan
Các nhân tố khách quan chính là các nhân tố tác động từ bên ngoài doanh
nghiệp. Các nhân tố này có tác động trực tiếp tới phát triển thị trường tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp. Đó chính là môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh
hưởng tới khả năng phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Gồm
các nhân tố sau:
* Các nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô
- Các yếu tố văn hoá xã hội
Yếu tố văn hoá xã hội là yếu tố mà bất kỳ doanh nghiệp nào khi thâm nhập
vào thị trường đều phải nghiên cứu. Trong đó yếu tố văn hoá đầu tiên cần quan tâm
là văn hoá tiêu dùng của khách hàng vì đây là yếu tố quyết định đến việc mua hàng
và lợi ích khi tiêu dùng hàng hoá của khách hàng. Tại các địa phương khác nhau
văn hoá tiêu dùng cũng rất khác nhau. Sau khi nghiên cứu văn hoá tiêu dùng sẽ gợi
ý cho doanh nghiệp nên kinh doanh mặt hàng gì, ở thị trường nào?
- 28 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Bên cạnh việc nghiên cứu về văn hoá tiêu dùng, doanh nghiệp cũng không thể
bỏ qua quy mô dân số của thị trường, độ tuổi, cơ cấu gia đình, các tổ chức xã hội,
thu nhập của dân cư, các yếu tố này giúp cho doanh nghiệp phân chia thị trường
thành các đoạn và chọn ra những đoạn phù hợp nhất để khai thác và thu lợi nhuận.
- Môi trường chính trị, pháp luật
Yếu tố chính trị, pháp luật có tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của
các doanh nghiệp. Môi trường chính trị trong nước và nước ngoài ổn định là điều
kiện thuận lợi để cho doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh. Yếu tố luật
pháp cũng chi phối nhiều đến khả năng mở rộng thị trường của các doanh nghiệp.
Trong khi tham gia vào hoạt động thương mại trong nước và quốc tế, các nhà
doanh nghiệp cần lưu ý đến:
+ Các quy định và luật pháp của Việt Nam về hoạt động xuất nhập khẩu như
thuế, thủ tục hải quan, quy định về mặt hàng xuất khẩu, quản lý ngoại tệ.
+ Các hiệp ước và hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia.
+ Quy định về xuất nhập khẩu của các nước mà Việt Nam có quan hệ làm ăn.
+Các vấn đề pháp lý và tập quán quốc tế liên quan đến mua bán hàng hoá
quốc tế như Incoterm 2000, luật bảo hiểm quốc tế, vận tải quốc tế, ...
- Môi trường kinh tế: bao gồm các yếu tố như tốc độ phát triển kinh tế, lạm
phát, tỷ giá hối đoái, thuế quan. Đây là các yếu tố chủ yếu tác động đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Nền kinh tế của một quốc gia tăng trưởng hay giảm
sút sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, khả năng tiêu dùng của dân cư, qua đó tác
động đến khả năng mở rộng hay thu hẹp thị trường của doanh nghiệp. Thực tế cho
thấy nhu cầu nhập khẩu của Mỹ giảm nhiều khi nước này lâm vào khủng hoảng sau
thảm hoạ 11-9. Trong khi lạm phát và sự ổn định tỷ giá ảnh hưởng trực tiếp đến
hiệu quả kinh doanh và khả năng thành công của từng chiến lược, từng thương vụ
cụ thể, thì hệ thống thuế sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh bằng giá cả.
- Các nhân tố tự nhiên: Các nhân tố này cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp:
- 29 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
+ Thời tiết : Yếu tố thời tiết có ảnh hưởng nhiều đến phát triển ngành, đặc biệt
là đối với doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh mặt hàng thủ công mỹ nghệ.
+ Khoảng cách địa lý giữa doanh nghiệp và bạn hàng sẽ ảnh hưởng trực tiếp
đến chi phí vận tải, thời gian thực hiện hợp đồng, thời điểm ký kết hợp đồng và do
vậy nó cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn nguồn cung ứng, mặt hàng được mua,
khối lượng xuất khẩu trong từng chuyến.
- Các yếu tố cơ sở hạ tầng và công nghệ
Các yếu tố cơ sở hạ tầng và công nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản
xuất và kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ như hệ thống giao thông vận tải ảnh
hưởng đến khâu vận chuyển hàng hóa của doanh nghiệp, quyết định không nhỏ về
thời gian giao, nhận hàng hóa của doanh nghiệp, là một trong những mối quan tâm
hàng đầu của các doanh nghiệp.
* Các nhân tố thuộc về môi trường tác nghiệp
- Khách hàng: Khách hàng là người trực tiếp ảnh hưởng tới thị trường tiêu thụ
của doanh nghiệp. Khách hàng chính là thị trường của doanh nghiệp, khách hàng
thường xuyên thay đổi thói quen tiêu dùng, tập quán sinh hoạt, thu nhập, thị hiếu,...
Do vậy, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu hành vi mua sắm của khách hàng để từ
đó có chính sách phù hợp phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm.
- Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp: Cạnh tranh là động lực của sự phát
triển và cũng thúc đẩy doanh nghiệp phát triển. Trong phát triển thị trường tiêu thụ
sản phẩm cạnh tranh có tác động lớn tới thị trường của doanh nghiệp. Đối thủ cạnh
tranh mạnh về tiềm lực và dịch vụ tốt hơn thì sẽ chiếm lĩnh thị trường của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi để có chiến lược kinh doanh phù
hợp với đối thủ. Doanh nghiệp phải nghiên cứu các chính sách thị trường của đối
thủ cạnh tranh. Từ đó đề ra các biện pháp cạnh tranh phù hợp.
- Khách hàng cung ứng: các doanh nghiệp chịu tác động từ các tổ chức cung
cấp vật tư, thiết bị, nguồn nguyên liệu đầu vào, nguồn lao động,….
- 30 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
- Đối thủ tiểm ẩn: đối thủ mới tham gia kinh doanh trong ngành có thể là yếu
tố làm giảm lợi nhuận của hãng do họ đưa vào khai thác các năng lực sản xuất mới.
- Sản phẩm thay thế: sức ép do có sản phẩm thay thế là hạn chế tiềm năng
lợi nhuận của ngành do mức giá cao nhất bị khống chế. Nếu không chú ý tới các sản
phẩm thay thế tiềm ẩn, doanh nghiệp có thể bị tụt lại với các thị trường nhỏ bé.
1.5.2. Nhân tố chủ quan
Các nhân tố chủ quan chính là các nhân tố bên trong doanh nghiệp nói lên tiềm
lực thực tế của doanh nghiêp như các tiềm lực về tài chính, nhân sự, uy tín của
doanh nghiệp, … Tiềm lực của doanh nghiệp phản ánh các yếu tố mang tính chất
chủ quan của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể kiểm soát được các tiềm lực của
doanh nghiệp có thể thay đổi trong quá trình sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp có
quy mô càng lớn thì thị trường của doanh nghiệp ngày càng được mở rộng và phát
triển. Do vậy, thị trường của doanh nghiệp là thước đo sự phát triển của doanh
nghiệp. Các nhân tố đó là:
- Nguồn lực tài chính của doanh nghiệp: nguồn lực tài chính của doanh
nghiệp là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới chính sách thị trường của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính mạnh và một chính sách thị trường hợp lý thì
doanh ngiệp mới có thị trường. Có tiềm lực tài chính doanh nghiệp mới có nhiều cơ
hội tiếp xúc với khách hàng thông qua các hội nghị, hội trợ, và đủ lực để duy trì sản
xuất kinh doanh. Từ đó doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của
mình.
- Nguồn nhân lực của doanh nghiệp: Trong cơ chế thị trường hiện nay
nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất quyết định mọi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn mở rộng thị trường và tiêu thụ sản phẩm thì phải
có đội ngũ nhân sự để thực hiện công việc này. Đội ngũ nhân sự phải giỏi về
chuyên môn, nghiệp vụ và có năng lực mới có thể phát triển tốt thị trường. Doanh
nghiệp có tiềm lực mạnh về nhân sự là doanh nghiệp có đội ngũ nhân sự có trình độ
- 31 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
chuyên môn cao, có kiến thức, có kinh nghiệm, nhiệt tình, sáng tạo. Vì vậy các
doanh nghiệp hiện nay luôn cố gắng để nâng cao tiềm lực về nhân sự.
- Thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp: Thương hiệu và uy tín của doanh
nghiệp tạo lên sức mạnh của doanh nghiệp. Một thương hiệu mạnh có nghĩa là
thương hiệu đó có sức mạnh trên thị trường. Sức mạnh của thương hiệu thể hiện ở
khả năng và tác động của nó trên thị trường. Nó tác động tới sự lựa chọn và mua
hàng của khách hàng, khách hàng thường mua hàng của những hãng đã có thương
hiệu và uy tín trên thị trường.
Các doanh nghiệp đã có thương hiệu trên thị trường thì sẽ thúc đẩy được tiêu
thụ sản phẩm. Doanh nghiệp có thương hiệu sản phẩm mạnh thì sẽ mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm nhanh hơn.
- Các yếu tố về giá cả và chất lượng sản phẩm:
Muốn phát triển thị trường doanh nghiệp cần nghiên cứu sản phẩm mà mình
có ý định kinh doanh và giá của sản phẩm đó trên thị trường. Doanh nghiệp phải
đưa ra thị trường một sản phẩm có chất lượng phù hợp với người tiêu dùng và một
giá cả hợp lý. Doanh nghiệp phải đưa ra được giá cả cạnh tranh được trên thị
trường.
Giá thường phản ánh cung cầu của hàng hoá trên thị trường. Giá giảm thì
thường cầu về hàng hoá đó sẽ tăng lên. Do vậy, giá cao hay thấp sẽ ảnh hưởng tới
khối lượng hàng hoá bán ra. Doanh nghiệp phải có chính sách giá phù hợp với cung
cầu.
Người tiêu dùng thường quan tâm nhiều tới chất lượng của sản phẩm. Nên
chất lượng của sản phẩm thường quyết định mức tiêu thụ trên thị trường và khả
năng mở rộng thị trường của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải đưa ra những sản
phẩm có chất lượng tốt và phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng và phát triển thị
trường tiêu thụ được sản phẩm.
- 32 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
1.6. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP
1.6.1. Phương pháp so sánh giản đơn
* Nội dung của phương pháp: So sánh các đại lượng, chỉ tiêu đánh giá hoạt
động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp cùng loại với nhau,
nhưng khác nhau về thời gian, hoặc không gian để đưa ra được kết luận về hoạt
động mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
* Ứng dụng của phương pháp: Phương pháp so sánh giản đơn được ứng dụng
để so sánh, đối chiếu giữa các chỉ tiêu định lượng được.
Khi áp dụng phương pháp này, phải kết hợp so sánh nhiều chỉ tiêu với nhau thì
mới có thể đưa ra được kết luận chung chính xác.
1.6.2. Phương pháp so sánh có đối chiếu
* Nội dung của phương pháp: Phương pháp so sánh có đối chiếu cũng
giống phương pháp so sánh giản đơn, đó là phương pháp này cũng so sánh các đại
lượng, chỉ tiêu đánh giá hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp cùng loại với nhau, nhưng khác nhau về thời gian, hoặc không gian để đưa
ra được kết luận về hoạt động mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên,
phương pháp so sánh có đối chiếu yêu cầu trong quá trình so sánh, người phân tích
phải liên hệ với tình hình sản xuất của doanh nghiệp.
* Ứng dụng của phương pháp: Phương pháp so sánh có đối chiếu được ứng
dụng để so sánh, đối chiếu giữa các chỉ tiêu định lượng được.
Khi áp dụng phương pháp này, cũng phải kết hợp so sánh nhiều chỉ tiêu với
nhau thì mới có thể đưa ra được kết luận chung chính xác.
1.6.3. Phương pháp biểu diễn bằng đồ thị các loại
* Nội dung của phương pháp: Biểu diễn các chỉ tiêu về tình hình tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp qua các thời kỳ khác nhau hoặc của các doanh nghiệp khác
nhau trên cùng một đồ thị thích hợp, từ đó đưa ra kết luận về tình hình phát triển thị
trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp bằng cách phân tích trực quan đồ thị.
- 33 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
* Ứng dụng: Phương pháp biểu diễn bằng đồ thị các loại được ứng dụng để
phân tích các chỉ tiêu định lượng.
Ngoài ra, còn có thể sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp hệ
thống chỉ số, phương pháp chuyên gia,…
- 34 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương thứ nhất của luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về thị
trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
là một quá trình nghiên cứu thị trường nhằm xác định nhu cầu của thị trường và
dùng các biện pháp để đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng một cách có
hiệu quả. Doanh nghiệp có thể phát triển thị trường tiêu thụ theo chiều rộng và theo
chiều sâu. Hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp chịu
tác động của các yếu tố từ môi trường bên ngoài cũng như các yếu tố nội lực của
doanh nghiệp. Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng chiến lược phát triển thị
trường tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp cần chú trọng đặc biệt đến các nhân tố
này.
Các chỉ tiêu đánh giá kết quả của hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản
phẩm bao gồm các chỉ tiêu định tính và các chỉ tiêu định lượng. Các chỉ tiêu định
lượng như doanh số tiêu thụ, tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tỷ lệ hoàn thành kế hoạch
tiêu thụ sản phẩm, số lượng thị trường mới được mở rộng theo địa bàn… Các chỉ
tiêu định tính như vị thế của doanh nghiệp, độ nổi tiếng của sản phẩm, chất lượng
của chính sách xúc tiến bán hàng... Áp dụng các phương pháp thích hợp sẽ giúp
doanh nghiệp đánh giá được mức độ thành công trong công tác tiêu thụ sản phẩm,
từ đó có được các chiến lược thích hợp để mở rộng thị trường của mình.
Trên cơ sở lý luận về thị trường tiêu thụ sản phẩm, luận văn sẽ tiến hành
nghiên cứu, đánh giá về thực trạng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Artexport Nam
Định trong chương 2.
- 35 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA ARTEXPORT NAM ĐỊNH
(2009 – 2011)
2.1. TỔNG QUAN VỀ ARTEXPORT NAM ĐỊNH
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Artexport Nam Định
Thành lập từ những năm miền Bắc vừa được giải phóng, đất nước ta bắt đầu
bắt tay vào công cuộc kiến thiết đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi
phục lại nền kinh tế.
Ra đời tháng 4 năm 1966 với tên gọi xí nghiệp Dệt Đũi Nam Định, sau đổi
thành xí nghiệp thảm len đay xuất khẩu tỉnh Nam Định vào năm 1973. Giai đoạn
1961-1975 cũng là giai đoạn củng cố và phát triển loại hình doanh nghiệp thương
mại theo mô hình xã hội chủ nghĩa, thực hiện cơ chế quản lý tập trung cao độ.
Từ năm 1973-1993 xí nghiệp với vai trò là một doanh nghiệp quốc doanh đã
thực hiện nhiệm vụ của mình là phân phối hàng hóa theo địa lý và định lượng. Chế
độ hạch toán kinh doanh mang tính chất hình thức, song đã góp phần đáng kể vào
việc hoàn thành mục tiêu của chính sách kinh tế nước ta thời kỳ này.
Đến tháng 4 năm 1993 thực hiện quyết định của UBND tỉnh Nam Định đổi
tên xí nghiệp thành “Công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ tỉnh Nam Định”.
Xuất phát từ một xí nghiệp sản xuất đay cói thuần túy, công ty đã nghiên cứu thị
trường cung cầu trong nước, quốc tế và quyết định khai thác ngành hàng thủ công
mỹ nghệ. Một mặt do đặc điểm sản xuất kinh doanh mặt hàng này vốn đầu tư ít mà
lợi nhuận cao. Mặt khác trong thời kỳ thập niên 70-80 xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ đạt được nhiều thành tựu rực rỡ.
Bước sang thập niên 90, sau khi mất thị trường Đông Âu và Liên Xô năm
1991, hàng thủ công mỹ nghệ đã trải qua bao gian truân vất vả trong cơ chế mới.
Tuy nhiên các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này đã tổ chức lại sản xuất
kinh doanh, chuyển đổi thị trường, tìm và xây dựng lại quan hệ bạn hàng. Nhờ đó
liên tục hai năm 1999-2000, nhóm hàng này được liệt vào danh sách 10 mặt hàng
- 36 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
xuất khẩu tăng trưởng cao nhất. Để hòa nhập vào nền kinh tế thị trường đó, ngày 1-
1-2000 thực hiện quết định số 2/95 UBND tỉnh Nam Định chuyển doanh nghiệp
nhà nước công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ tỉnh Nam Định thành “Công ty
cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Nam Định (gọi tắt là Artexport Nam
Định)”. Với số vốn điều lệ 11 tỷ đồng, 100% vốn điều lệ là của các cán bộ Đảng
viên, công nhân viên đóng góp.
2.1.2. Mục tiêu, lĩnh vực hoạt động của Artexport Nam Định
2.1.2.1. Mục tiêu
Mục tiêu tổng quát của công ty trong những năm tới là “Đến năm 2015 công
ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ tỉnh Nam Định phải thực sự phát triển
lớn mạnh, với trang thiết bị hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến và có đủ khả năng
cạnh tranh với các mặt hàng cùng loại trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu ra khu
vực cũng như trên thế giới”.
2.1.2.2. Lĩnh vực hoạt động
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ tỉnh Nam Định hoạt động
chủ yếu trong các lĩnh vực:
- Tổ chức sản xuất các mặt hàng thảm len và áo len xuất khẩu.
- Kinh doanh các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, mây - tre đan xuất khẩu.
- Tổ chức sản xuất, gia công các mặt hàng nông sản như: Dưa bao tử dầm
giấm, ớt dầm giấm, cà chua đóng lọ...
- Nhập khẩu nguyên vật liệu, vật tư, máy móc, thiết bị và các phương tiện
phục vụ cho sản xuất kinh doanh theo quy định hiện hành của bộ Thương mại và
nhà nước.
Như vậy, lĩnh vực kinh doanh chính của công ty là mặt hàng thủ công mỹ
nghệ và các mặt hàng nông sản đóng lọ. Đây là các mặt hàng thuộc các làng nghề
truyền thống nên thường chứa đựng trong nó những yếu tố văn hoá đặc sắc của từng
dân tộc. Mỗi dân tộc có một nền văn hoá riêng thể hiện qua sắc thái của mỗi sản
- 37 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
phẩm, chính điều này tạo nên sự độc đáo, khác biệt giữa các sản phẩm thủ công mỹ
nghệ ở các quốc gia khác nhau. Vì đặc tính này nên công ty có thể khai thác khía
cạnh đặc biệt của sản phẩm để phát triển thị trường tiêu thụ. Tuy nhiên, vì là các
mặt hàng mây tre đan và hàng nông sản nên dễ bị hư hỏng và chịu ảnh hưởng nhiều
vào thời tiết.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của Arteport Nam Định
2.1.3.1. Ban lãnh đạo
- Hội đồng quản trị: Là cơ quan thường trực của đại hội cổ đông, do đại hội
cổ đông bầu ra và được đại hội cổ đông uỷ quyền cho quản lý toàn bộ tài sản và các
hoạt động kinh doanh của công ty trong phạm vi chức năng quyền hạn của mình,
những vấn đề ngoài chức năng và quyền hạn phải trình đại hội cổ đông quyết định.
Hội đồng quản trị không điều hành bộ máy sản xuất kinh doanh của công ty nên
được tổ chức gọn nhẹ, bao gồm những người có trình độ chuyên môn cao và trình
độ quản lý giỏi.
Hội đồng quản trị của Artexport Nam Định gồm có năm uỷ viên. Số uỷ viên
này do đại hội công nhân viên chức của công ty bầu ra. Nhiệm vụ của hội đồng
quản trị:
- Hội đồng quản trị thay mặt đại hội cổ đông đóng vai trò người chủ trong
việc quản trị công ty, với chức năng nhiệm vụ chính là: chuẩn bị dự thảo và xem xét
tất cả các văn bản, nghị quyết thuộc thẩm quyền giải quyết của đại hội cổ đông để
trình đại hội cổ đông quyết định. Ngoài ra, hội đồng quản trị còn được đại hội cổ
đông giao cho chấp hành một số nhiệm vụ và quyền hạn như:
+ Duyệt các kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm của công ty do giám
đốc điều hành xây dựng và đệ trình.
+ Phân tích hoạt động kinh tế, đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh hàng tháng, quý, năm của công ty...
Giám đốc điều hành của công ty: Ông Bùi Quang Cảnh
- 38 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Nhiệm vụ và quyền hạn chính là:
- Trình chủ tịch hội đồng quản trị và đại hội cổ đông những phương hướng
nhiệm vụ phát triển công ty và kế hoạch hàng năm của công ty.
- Trực tiếp và toàn quyền điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt
động nhân sự, tổ chức hành chính của công ty.
- Báo cáo đều đặn hàng tháng, quý, năm kết quả kinh doanh của công ty với
chủ tịch hội đồng quản trị.
2.1.3.2. Các phòng, đơn vị chức năng
Giúp việc cho ban Giám đốc là các phòng, đơn vị chức năng. Các phòng,
đơn vị chức năng của Artexport Nam Định gồm: Phòng tổ chức hành chính
Phòng kế toán tài vụ
Phòng kế hoạch thị trường
Phòng kinh doanh
Phòng tổ chức hành chính: có chức năng quản lý nhân sự, tiền lương. Nhiệm
vụ của phòng Tổ chức hành chính là làm công tác hành chính, tổ chức cán bộ, bảo
vệ, lao động, tiền lương…
Phòng kế toán tài vụ: có nhiệm vụ tham mưu giúp việc giám đốc, quản lý
các chứng từ, hồ sơ về tài chính.
Phòng kế hoạch thị trường: chịu trách nhiệm khai thác tìm kiếm thị trường,
lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, hoàn thiện các chứng từ xuất nhập khẩu
Phòng kinh doanh: Tham mưu cho Tổng giám đốc các nghiệp vụ hoạt động
kinh doanh, lập kế hoạch thu mua nguyên liệu đáp ứng việc sản xuất, chào hàng,
giới thiệu cho khách hàng các sản phẩm mới của công ty, theo dõi đôn đốc việc
thực hiện kinh doanh của công ty.
Công ty có 2 phòng kinh doanh:
- 39 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Phòng kinh doanh 1: chuyên kinh các mặt hàng thảm len, quần áo, mũ len,
các mặt hàng thêu ren xuất khẩu.
Phòng kinh doanh 2: chuyên kinh doanh các mặt hàng mây tre đan, hàng gỗ
mỹ nghệ, đay cói và các mặt hàng nông sản.
Ngoài ra công ty còn các chi nhánh ở các tỉnh thành phố trong nước như: chi
nhánh ở Lạng Sơn,Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu. Các chi nhánh này có
nhiệm vụ bán và giới thiệu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như thảm len, hàng mây
tre đan, sơn mài và nông sản.
Các phân xưởng sản xuất của công ty bao gồm: Phân xưởng sản xuất thảm len,
quần áo len, phân xưởng sản xuất hàng nông sản. Các phân xưởng sản xuất có
nhiệm vụ: Thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch do công ty giao, tự chủ trong công việc;
tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh đảm bảo số lượng và chất lượng các mặt
hàng sản xuất ra.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần Artexport Nam Định được thể hiện
Hội đồng quản trị
Ban giám đốc
Phòng quản lý
Phòng kinh doanh
Phòng kế toán tài vụ
Phòng kinh doanh 1
Phòng kinh doanh 2
Phòng tổ chức hành chính
Phòng kế hoạch thị trường
ở hình dưới đây:
Hình 2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Artexport Nam Định
- 40 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
2.1.4. Một số kết quả hoạt động kinh doanh của Artexport Nam Định
Dưới đây là một số chỉ tiêu về sản xuất kinh doanh của Artexport Nam Định
Bảng 2.1.Kết quả hoạt động kinh doanh của Artexport Nam Định
Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
1. Doanh thu BH và cung cấp 108.972.712 128.856.391 193.648.784
dịch vụ
2. Các khoản giảm trừ doanh thu 0 265.625 407.338
3. Doanh thu thuần về bán hàng 108.972.712 128.590.766 193.241.446
và cung cấp dịch vụ
4. Giá vốn hàng bán 96.959.468 112.859.760 167.698.472
5. Lợi nhuận gộp về bán hàng và 12.013.244 15.731.006 25.542.974
cung cấp dịch vụ
6. Chi phí tài chính 769.280 1.960.300 4.326.909
7. Chi phí bán hàng 209.190 325.250 597.789
8.Chi phí quản lý doanh nghiệp 3.423.746 4.108.593 5.585.874
9. Tổng lợi nhuận kế toán trước 7.800.028 9.576.533 15.565.872
thuế
10. Chi phí thuế TNDN hiện hành 0 1.340.715 2.179.222
11. Lợi nhuận sau thuế thu nhập 7.800.028 8.235.818 13.386.650
doanh nghiệp
(Nguồn: Phòng Kế toán tài vụ của Artexport Nam Định năm 2009 - 2011)
Từ bảng số liệu trên, có thể thấy tổng doanh thu có sự chênh lệch khá lớn
giữa các năm, điều đó là do phụ thuộc nhiều vào các đơn đặt hàng. Doanh thu bán
- 41 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
hàng năm 2011 tăng lên so với năm 2009 là 627.923.643 triệu đồng tức là tăng lên
50,3%,
Năm 2009 là năm thứ 6 công ty hoạt động theo luật doanh nghiệp và điều lệ
công ty cổ phần. Lợi nhuận cũng tăng khá nhiều từ năm 2009 đến năm 2011. Cụ thể
là tăng 92,7% tương ứng với giá trị tuyệt đối là 7.232.374 triệu đồng.
Các chỉ số đó cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như khâu tổ chức
của Artexport Nam Định đã tốt hơn.
200t 180t 160t 140t 120t 100t 80t 60t 40t 20t t
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Hình 2.2. Doanh thu của công ty giai đoạn 2009 – 2011
Qua bảng 2.1 và hình 2.2 thì năm 2009 doanh thu của công ty đạt gần 109 tỷ
đồng, đến năm 2007 doanh thu tăng lên và đạt 129 tỷ đồng tức tăng 18,25% so với
cùng kỳ. Mặc dù chịu tác động của nhiều yếu tố cả vĩ mô và vi mô nhưng năm 2008
doanh thu của công ty tiếp tục tăng và đạt trên 193 tỷ đồng tăng 50,28% so với năm
2007. Có được kết quả như vậy trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang suy thoái
là do công ty đã có chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp và nhờ có hệ thống
phân phối hàng hóa toàn cầu mà khách hàng đã xây dựng lên rất hợp lý và đặc biệt
là do cơ chế làm việc của khách hàng đã thay đổi bằng cách phát triển tập trung có
chiều sâu vào những nhà cung cấp có tiềm năng phát triển mà công ty cổ phần xuất
nhập khẩu thủ công mỹ nghệ tỉnh Nam Định là một trong số đó.
- 42 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
2.2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
CỦA ARTEXPORT NAM ĐỊNH (2009-2011)
2.2.1. Đặc điểm sản phẩm của Artexport Nam Định
Artexport Nam Định vừa là một doanh nghiệp sản xuất vừa là doanh nghiệp
kinh doanh các mặt hàng tổng hợp. Công ty sản xuất và kinh doanh các mặt hàng áo
len, thảm len – cói - đay, hàng thêu ren, hàng nông sản, hàng thủ công mỹ nghệ.
* Chủng loại sản phẩm:
- Quần áo len: Công ty nhập nguyên liệu từ công ty cổ phần len Hà Đông,
Vĩnh Thịnh, Bình Lợi và len Trung Quốc (nhập khẩu sợi acrylic) về để dệt quần áo
len.
- Thảm len, đay, cói: Công ty thu mua nguyên liệu từ các vùng nguyên liệu
lân cận và có uy tín ở khu vực phía Bắc: Cói Ninh Bình, đay Hưng Yên... Sau đó tự
sản xuất tại xưởng hoặc đặt hàng thuê các cơ sở sản xuất tư nhân làm sản phẩm.
- Hàng thủ công mỹ nghệ: hàng thủ công mỹ nghệ của công ty chủ yếu là các
mặt hàng mây tre đan, hàng gỗ mỹ nghệ như hàng lưu niệm, đồ dùng gỗ mỹ nghệ,...
- Hàng nông sản công ty nhập lọ thủy tinh, nắp lọ của Trung Quốc để đóng
hộp các mặt hàng rau quả chế biến, sản phẩm nông sản hầu hết được sản xuất tại chi
nhánh Lạng Sơn vì gần vùng nguyên liệu và nơi tiêu thụ chính là Trung Quốc.
* Chất lượng và kiểu dáng sản phẩm:
Để chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao, công ty đã tổ chức một
bộ phận chuyên thiết kế sản phẩm để chào bán cho các khách hàng. Hiện nay công
ty có hơn 50 mã hàng đã và đang xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.Về chất lượng
của sản phẩm: nhìn chung chất lượng sản phẩm của công ty đã đáp ứng được yêu
cầu của khách hàng. Tuy nhiên sản phẩm chưa đa dạng về chủng loại cũng như
phong phú về kiểu dáng.
* Giá cả của sản phẩm: Về mặt giá cả của sản phẩm, ban đầu công ty quyết
định thu hút sự quan tâm chú ý của khách hàng bằng chính sách giá cạnh tranh.
- 43 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Mức giá rẻ hơn đã giúp công ty thu hút được một lượng khách hàng lớn trong nước
làm quen và yêu thích sản phẩm của công ty. Đối với thị trường nước ngoài, công ty
áp dụng chính sách giá cạnh tranh cho hàng bán buôn theo phương thức đơn đặt
hàng của nước ngoài nhằm tăng thị phần thị trường.
* Kênh phân phối của sản phẩm
Chi nhánh
Đại lý
Artexport Nam Định Cửa hàng Ngườ i tiêu dùng
Công ty trung gian
Hình 2.3. Kênh phân phối sản phẩm của Artexport Nam Định
Đối với mỗi doanh nghiệp việc tổ chức và quản lý tiêu thụ sản phẩm là một
chức năng quan trọng có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp.
Hình 2.3 thể hiện quá trình phân phối sản phẩm từ nhà sản xuất đến người
tiêu dùng cá nhân. Từ kênh phân phối của công ty được thể hiện ở hình trên cho
thấy việc đưa sản phẩm đến với khách hàng của công ty được thực hiện dưới hai
hình thức trực tiếp và gián tiếp. Kênh bán hàng gián tiếp thường được áp dụng đối
với khách hàng có nhu cầu lớn là các công ty như: Công ty cổ phần XNK Bartotex
(Hà Nội), công ty cổ phần Phượng Thành,... Qua tìm hiểu cho thấy lượng hàng bán
ra hằng năm qua kênh này chiếm tỷ trọng lớn khoảng 75%. Ngoài ra, Công ty còn
sử dụng kênh tiêu thụ trực tiếp thông qua chi nhánh của mình và các cơ sở khám
chữa bệnh trên địa bàn tỉnh Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Lạng Son.... Số
lượng sản phẩm bán ra ở kênh này chiếm khoảng 25%.
- 44 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Bảng 2.2. Tổng hợp doanh thu của một số đại lý và cửa hàng trong nước
(Đơn vị: Triệu đồng)
So sánh năm 2010 với
Tỉnh Đại lý, Năm 2009 Năm 2010 năm 2009
cửa hàng Số tuyệt Tỷ lệ (%)
đối
Đại lý Việt Anh 122,30 123,70 1,40 101,14 Hà Nội
Cửa hàng Nhật Thu 29,16 35,48 6,32 121,67
151,46 159,18 7,72 105,10
54,20 44,38 -9,82 81,87 Hà Nam Đại lý Quy Lưu
32,65 53,11 20,46 162,65 Đại lý Hóa Việt
30,72 41,26 10,54 134,30 Cửa hàng Mỹ Phúc
117,57 138,74 21,17 118,00
45,23 45,23 0,00 100,00 Đại lý Thúy Vi Nam
43,11 52,09 8,98 120,83 Định Đại lý Mai Hoa
39,22 49,89 10,67 127,20 Cửa hàng Kim Bình
27,53 49,01 21,48 178,02 Đại lý Hoà Khôi
33,21 46,03 12,82 138,61 Đại lý Phước Mây
188,30 242,25 53,95 128,65
29,00 37,25 8,25 128,45 Đại lý Hiếu Hiền Ninh
Bình 28,03 36,97 8,95 131,92 Cửa hàng Hà Tấn
27,65 35,15 7,51 127,14 Cửa hàng Thự Sơn
84,68 129,17 109.38 24,70
35,00 41,03 6,03 117,24 Lạng Sơn Đại lý Mai Trang
30,29 38,22 7,93 126,18 Cửa hàng Khánh Vi
65,29 79,25 13,96 121,38
121,5 120,01 Tổng 607,29 728,79
(Nguồn: Phòng Kinh doanh của Artexport Nam Định năm 2009 - 2011)
- 45 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Bảng số liệu trên cho thấy hầu hết các đại lý, cửa hàng đều có doanh thu tiêu
thụ tăng lên. Điều này cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty có hiệu
quả khá tốt. Nam Định là thị trường lớn của công ty. Doanh thu tiêu thụ từ khu vực
này khá cao. Doanh thu năm 2010 là 242,25 triệu đồng, tăng 28,65% so với năm
2009. Tuy nhiên doanh thu từ một số đại lý, cửa hàng còn chưa cao. Ví dụ như ở
khu vực Lạng Sơn. Khu vực này có một đại lý và một cửa hàng, tuy nhiên doanh
thu của năm 2009 là 65,29 triệu đồng và năm 2010 là 79,25 triệu đồng. vì vậy, công
ty cần có những chiến lược thích hợp đối với từng khu vực thị trường.
2.2.2. Đặc điểm thị trường của Artexport Nam Định
Theo khu vực địa lý, thị trường của Artexport Nam Định gồm có thị trường
trong nước và thị trường nước ngoài.
* Thị trường trong nước :
Thị trường trong nước bao gồm:
+ 01 chi nhánh tại Lạng Sơn
+ 01 chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh
+ 01 chi nhánh tại Vũng Tàu
+ 04 Tổng đại lý tại Nam Định và 34 Đại lý tại các tỉnh, thành phố khác
Bảng 2.3. Một số khách hàng nội địa truyền thống
của Artexport Nam Định
Tên khách hàng/ doanh Mặt hàng Số tiền (VNĐ) nghiệp
CTY CP Phượng Thành Gối mây 90.000.000
Dưa chuột muối, Ơt dầm Barotex 95.037.500 dấm
HTX Minh Tân Măng ớt 3.640.000
(Nguồn: Phòng kế hoạch – thị trường của Artexport Nam Định năm 2011)
- 46 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Hiện nay, sản phẩm của công ty chủ yếu được tiêu thụ ở thị trường miền
Bắc, đặc biệt ở khu vực có thu nhập trung bình. Ở miền Nam sản phẩm của công ty
đang dần trở nên phổ biến và chi nhánh của công ty tại thành phố Hồ Chí Minh
đang khẩn trương xúc tiến việc mở rộng thị trường nhiều tiềm năng này.Khách hàng
trong nước tiêu thụ chủ yếu các mặt hàng nông sản, quần áo len. Đối với mặt hàng
thủ công mỹ nghệ, thì chủ yếu là tiêu thụ các sản phẩm thủ công mỹ nghệ đơn giản,
không yêu cầu cao về chất lượng cũng như kiểu dáng, chủng loại. Khách hàng trong
nước cũng chủ yếu là những đối tượng có thu nhập trung bình. Tuy nhiên, thị
trường trong nước lại quan nhiều đến độ tiện lợi khi sử dụng cũng như giá cả phù hợp.
* Thị trường xuất khẩu:
Thị trường xuất khẩu bao gồm:
+ Thị trường châu Âu: Nga, Ukraine, Đức, Hungary, Ba Lan,...
+ Thị trường châu Á: Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản,...
Thị trường nước ngoài đòi hỏi rất cao về chất lượng trên các mặt: sản phẩm
phải đảm bảo chính xác về các thông số kỹ thuật, vệ sinh công nghiệp, đóng gói
đúng quy cách, mẫu mã đa dạng, giao hàng đúng thời hạn. Thị trường châu Âu đặc
biệt quan tâm đến quy cách và thời gian giao hàng. Đối với thị trường châu Âu,
Artexport Nam Định chủ yếu xuất khẩu quần áo len, thảm len theo đơn đặt hàng.
Thị trường châu Âu cũng tiêu thụ khá nhiều các sản phẩm mây tre mỹ nghệ của
công ty. Trong khi đó, thị trường Nhật Bản lại ưa chuộng những sản phẩm độc đáo,
mang tính truyền thống và có giá trị sử dụng cao như bình hoa, giỏ mây.s
Khách hàng của công ty phần lớn là các công ty thương mại bán buôn, bán lẻ
ở nước ngoài. Với khách hàng nước ngoài, công ty xác định đoạn thị trường sẽ chọn
là khách hàng có mức thu nhập trung bình và tương đối dễ dãi trong tiêu dùng.
Chiến lược lâu dài là chinh phục tầng lớp dân cư có thu nhập cao ưa thích sản phẩm
đẹp, chất lượng tốt, giá cả cạnh tranh. Việc phục vụ tốt khách hàng truyền thống
trong hiện tại cũng sẽ tạo ra cơ hội cho công ty ra nhập thị trường mới do uy tín mà công ty có được.
- 47 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Bảng 2.4. Một số đối tác nước ngoài truyền thống
của Artexport Nam Định
Tên khách hàng/ doanh Số tiền Mặt hàng nghiệp (USD)
ASG – PLCo, LD (Poslan) Nông sản (Cà dầm dấm...) 19.967
Antoan SP2.0.0 Nông sản (Rau cải xanh giống Nhật) 49.967
Intertechic LTD (Ukraine) Thảm len, gốm, mây tre, thảm cói 19.949
ZAOH And M Co. LTD Dưa bao tử dầm dấm 4.997 (Russia)
(Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường của Artexport Nam Định năm 2011)
Trên thị trường xuất khẩu, lượng sản phẩm tiêu thụ ở nước ngoài hàng năm
thường đem lại cho công ty lượng doanh thu chiếm trên 60% tổng doanh thu. Thị
trường xuất khẩu đã và đang đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty. Hiện nay thị trường này tương đối ổn định và có
xu hướng mở rộng. Các khách hàng chủ yếu của công ty trong những năm qua là
các công ty: Golden Steps, Foottech (Đài Loan), Yengbong, Renew (Hàn Quốc),
Novi (Đức) và một số công ty khác như Melcosa, Bian...Đây là các bạn hàng
thường xuyên của công ty và là các nhà buôn lớn chuyên chuyển sản phẩm của
công ty đến tiêu thụ tại các thị trường châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc; thị trường
châu Âu như Pháp, Đức, các nước Đông Âu.
2.2.3. Kết quả tiêu thụ sản phẩm của Artexport Nam Định giai đoạn 2009 –
2011
Kết quả tiêu thụ sản phẩm của công ty giai đoạn 2009 – 2011 được thể hiện ở
bảng sau:
- 48 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Bảng 2.5. Kết quả tiêu thụ sản phẩm
( ĐVT: Tr. đồng)
Mặt hàng Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Nông sản 1.344 1.833 2.433
Thêu ren, len 1.499 1.020 1.784
Mây tre mỹ nghệ 2.399 2.869 3.518
(Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường của Artexport Nam Định năm 2009- 2011)
Nhìn vào bảng số liệu trên, ta thấy kết quả tiêu thụ sản phẩm theo cơ cấu mặt
hàng có sự biến động lớn. Mặt hàng mây tre mỹ nghệ là mặt hàng có đóng góp lớn
vào kết quả tiêu thụ sản phẩm. Tỷ trọng doanh thu tiêu thụ của mặt hàng này trong
các năm 2010, 2011 đều trên 45%. Tiếp theo là mặt hàng nông sản, với tỷ trọng tiêu
thụ lần lượt là 32% và 31,4%. Mặt hàng thêu ren và hàng len là mặt hàng có tỷ
trọng tiêu thụ thấp nhất, với tỷ trọng doanh thu tiêu thụ trong các năm 2010 là
17,8% và 23%. Bên cạnh đó ta cũng thấy doanh thu tiêu thu tiêu thụ các mặt hàng
đều tăng lên. Tuy nhiên có mặt hàng thêu ren, doanh thu tiêu thụ của năm 2010 lại
sụt giảm so với năm 2009. Điều này ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ sản phẩm
chung của Artexport Nam Định.
2.3. PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ
SẢN PHẨM CỦA ARTEXPORT NAM ĐỊNH (2009 – 2011)
2.3.1. Phân tích hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước
của Artexport Nam Định (2009 – 2011)
2.3.1.1. Kết quả phát triển thị trường tiêu thụ trong nước của Artexport Nam
Định (2009 – 2011)
Thị trường miền Bắc là thị trường trọng tâm của sản phẩm nông sản. Trong
các năm vừa qua, công ty đã áp dụng nhiều biện pháp để đẩy mạnh doanh thu tiêu
thụ ở thị trường trường này. Đối với thị trường miền Bắc, doanh nghiệp áp dụng
chính sách phát triển thị trường theo chiều sâu đối với sản phẩm nông sản. Kết quả
- 49 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
của hoạt động phát triển thị trường tiêu sản phẩm nông sản được thể hiện thông qua
bảng sau:
Bảng 2.6. Doanh thu tiêu thụ sản phẩm nông sản
của Artexport Nam Định ở thị trường miền Bắc
(ĐVT: tr.đồng)
Tên sản phẩm Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Măng ớt 487 686 908
Tương ớt 300 312 297
Dưa chuột muối 765 835 1228
Tổng 1552 1833 2433
(Nguồn: Phòng Kế hoạch thị trường của Artexport Nam Định năm 2010 - 2011)
Dựa vào bảng số liệu trên ta thấy, sản phẩm dưa chuột muối là sản phẩm có
tỉ trọng trong doanh thu cao nhất (chiếm 43,69%), và tỷ lệ tăng doanh thu tiêu thụ là
cao nhất. Năm 2011, doanh thu tiêu thụ mặt hàng dưa chuột muối tăng lên so với
năm 2010 là 47,07%. Tiếp theo là sản phẩm măng ớt cũng có tỷ lệ tăng mức tiêu thụ
khá cao, tỷ lệ này của năm 2011 so với năm 2010 là 32,36%. Điều này cho thấy thị
trường tiêu thụ miền Bắc của hai loại sản phẩm này được mở rộng. Tuy nhiên thị
trường tiêu thụ của sản phẩm tương ớt lại giảm đi. Doanh thu tiêu thụ của sản phẩm
này năm 2011 giảm đi so với năm 2010 là 4,81%.
Trong những năm gần đây công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ
tỉnh Nam Định đã không ngừng mở rộng các thị trường của mình, từ thị trường chủ
yếu là Hà Nội đến các tỉnh phía Bắc và phía Nam. Thị phần của công ty được mở
rộng đáng kể. Hiện nay công ty đã mở thêm nhiều chi nhánh tại các tỉnh để tăng
cường quản lý và mở rộng các kênh phân phối như: Chi nhánh tại Lạng Sơn, chi
nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh, chi nhánh Vũng Tàu. Các chi nhánh này có chức
năng và nhiệm vụ như một phòng kinh doanh, có thể quyết định hoạt động bán hàng
cho tổng công ty và quản lý tốt hơn các kênh phân phối hỗ trợ các đại lý bán hàng
tốt hơn, tiêu thụ nhanh hơn cho công ty, kích thích thị trường. Hiện nay với chính
sách không ngừng mở rộng thị trường và thị phần của mình Artexport Nam Định đã
- 50 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
cử thêm nhiều đoàn cán bộ thị trường đi khảo sát những thị trường mới ở trong
nước, nhất là đi đặt các điểm đại lý có khả năng phân phối lớn làm đại diện cho
công ty.
Bảng 2.7. Bảng số lượng đại lý các loại
Thị Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
trường Nông Len, Mây Nông Len, Mây Nông Len, Mây
sản thêu tre sản thêu tre sản thêu tre
ren ren ren
10 Hà Nội 8 2 7 3 7 13 3 9
18 Nam Định 14 3 13 3 13 23 5 15
12 Thái Bình 12 2 5 2 5 14 3 6
2 Lạng Sơn 2 1 1 1 1 4 1 1
8 Tp Hồ Chí 6 4 7 5 7 10 5 8
Minh
5 Vũng Tàu 5 5 7 5 7 6 5 9
55 Tổng 47 16 40 19 40 70 22 48
(Nguồn: Phòng Kế hoạch thị trường của Artexport Nam Định năm 2009 - 2011)
Bảng số liệu trên cho thấy tại các khu vực thị trường trong nước hầu hết số
lượng đại lý các mặt hàng đều gia tăng. Đặc biệt là mặt hàng nông sản, số lượng đại
lý tăng lên khá cao, tỷ lệ tăng lên là 45%. Tiếp theo là mặt hàng mây tre, tỷ lệ đại lý
tăng lên là 20%. Trong khi đó mặt hàng thêu ren, số lượng đại lý tăng lên thấp hơn.
Tỷ lệ tăng lên chỉ là 15%. Qua đó, ta thấy hầu hết các khu vực thị trường đều được
mở rộng.
2.3.1.2. Hoạt động nghiên cứu thị trường
Đối với khu vực thị trường trong nước, để tìm hiểu thông tin về các mặt
hàng, công ty cử cán bộ của phòng kinh doanh và phòng kế hoạch thị trường đi đến
các đại lý để điều tra. Để thực hiện điều tra, công ty sử dụng phương pháp bảng hỏi.
Nội dung bảng hỏi do cán bộ ở phòng kế hoạch thị trường xây dựng. Nội dung bao
gồm các câu hỏi tìm hiểu thái độ của khách hàng về chất lượng, giá cả, các dịch vụ
- 51 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
vận chuyển,... của công ty. Cụ thể, trong năm 2011, công ty đã tiến hành điều tra
các đại lý ở Nam Định, Thái Bình, Lạng Sơn.
Chi phí cho 1 cuộc điều tra bao gồm:
+ Chi phí chuẩn bị bảng hỏi: 1.000.000đ
+ Chi phí đi lại, ăn ở cho đoàn đi điều tra: 200.000đ (tăng thêm 500.000 với
mỗi 30km)
+ Chi phí phụ cấp cho cán bộ điều tra (2 cán bộ/đoàn): 100.000/đại lý
+ Chi phí quà khuyến mãi cho đại lý: 50.000đ/đại lý
Bảng 2.8. Tình hình điều tra thị trường ở một số địa phương
Số đại lý Số đại lý được Tỷ lệ (%) Địa phương
điều tra
7 7 100 Nam Định
5 4 80 Thái Bình
3 2 67 Lạng Sơn
15 13 87 Tổng
(Nguồn: phòng kế hoạch thị trường của Artexport Nam Định năm 2011)
Như vậy, với tỷ lệ từ 67% trở lên, tỷ lệ số đại lý được điều tra ở các địa phương
này là khá cao. Nhờ vậy, công ty có được thông tin khá đầy đủ về thị trường ở các
tỉnh Nam Định, Thái Bình, Lạng Sơn. Từ đó giúp cho việc đánh giá thị trường
chuẩn xác hơn, tạo ra sự chuyển biến tích cực trên thị trường giúp doanh số bán
hàng của công ty ngày một tăng.
2.3.1.3. Các hoạt động xúc tiến thương mại
Trong những năm gần đây Artexport Nam Định đã chú trọng hơn tới việc xúc
tiến thương mại, phát triển thị trường đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm. Điều đó thể hiện
ở bảng chi phí cho các chương trình quảng cáo - khuyến mại thúc đẩy phát triển thị
trường tiêu thụ sản phẩm.
- 52 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Bảng 2.9.Thống kê chi phí quảng cáo- khuyến mại năm 2011
STT Nội dung chi phí Tổng chi phí (đồng)
1 Báo chí 114.398.400
2 Đài phát thanh 178.805.240
3 Hội chợ triển lãm 262.244.029
4 Tài trợ 106.243.485
Tổng chi phí 661.691.154
(Nguồn: Phòng Kế hoạch – thị trường của Artexport Nam Định năm 2011)
Theo bảng trên ta thấy chi phí dành cho quảng cáo khá cao so với tổng chi phí
dành cho hoạt động quảng cáo, xúc tiến thương mại. Chi phí dành cho hoạt động
quảng cáo trên đài phát thanh và báo chí chỉ là 293.203.640 đồng, chiếm 44%. Tuy
nhiên, hoạt động quảng cáo mới chỉ dừng lại ở việc quảng cáo trên báo chí và đài
phát thanh, trong khi đó, quảng cáo trên truyền hình hay Internet vẫn chưa được
công ty lưu ý. Trong thời gian tới, công ty cần chú trọng hơn vào hoạt động quảng
cáo để nâng cao hoạt động tiêu thụ sản phẩm, nhằm mục tiêu phát triển thị trường
tiêu thụ.
Tuy nhiên bên cạnh đó, Artexport Nam Định lại khá tích cực tham gia các
hội chợ triển lãm thương mại. Trong các năm 2009 – 2011, công ty đã tham gia các
hội chợ triển lãm thương mại sau:
- Hội chợ xuân 2009 ở Nam Định (18/1/2010 – 24/1/2009)
- Hội chợ xuân 2010 ở Nam Định (6/2/2010 – 13/2/2010)
- Hội chợ xuân 2011 ở Nam Định ( 23/1/2011 – 30/1/2011)
- Hội chợ làng nghề 2011 ở Thái Bình ( 18/6/2011 – 26/6/2011)
Như vậy, công ty tham gia khá tích cực và đều đặn các hội chợ. Tuy nhiên,
phạm vi tham gia còn khá hẹp, công ty nên tham gia hội chợ ở nhiều địa phương
khác nữa để mở rộng thị trường tiêu thụ của mình.
- 53 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Đối với mặt hàng len và nông sản, công ty có chiến dịch mở các chương
trình quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, dùng thử sản phẩm tại các chợ ở Nam Định,
Thái Bình, Lạng Sơn. Cụ thể là công ty đã tiến hành được 5 chương trình giới thiệu
và dùng thử sản phẩm tại các chợ ở 3 tỉnh thành này trong năm 2011. Mỗi chương
trình kéo dài trong vòng 5 ngày.
Chi phí cho việc tổ chức gian hàng dùng thử tại các chợ:
- Chi phí thuê gian hàng: 3000.000đ
- Chi phí thiết kế gian hàng: 1000.000đ
- Chi phí bán hàng tại chỗ (4 nhân viên/gian hàng): 5.000.000đ
- Tổng chi phí: 9.000.000/gian hàng
Ngoài ra, nhận thấy, khu vực nông thôn và miền núi là thị trường tiềm năng
với mặt hàng len nên công ty tích cực phát triển thị trường ở khu vực này. Chính
sách mà công ty thực hiện là áp dụng mức giá cạnh tranh đối với khách hàng ở các
khu vực này. Dưới đây là bảng giá về mức giá bán buôn đối với sản phẩm quần áo
len của doanh nghiệp này.
Bảng 2.10. Mức giá sản phẩm len
(Áp dụng từ tháng 6/2011)
(ĐVT: Nghìn đồng)
Sản phẩm Thị trường chung Thị trường nông thôn,
miền núi
Áo len trẻ em số 1 32 28
Áo len trẻ em số 2 35 31
Áo len nữ dáng ngắn 90 80
Áo len nữ dáng dài 100 90
Áo khoác len 120 110
(Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường của Artexport Nam Định năm 2011)
- 54 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Như vậy để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm len đến khu vực nông
thôn, Artexport Nam Định đã có chính sách giảm giá đối với các mặt hàng. Tỷ lệ
giảm giá là khá cao, trung bình tỷ lệ giảm giá ở khu vực nông thôn so với các khu
vực khác là 8%. Chính sách giảm giá này nhằm thu hút khách hàng mới, gia tăng
lượng tiêu thụ sản phẩm.
2.3.2. Phân tích hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu của Artexport Nam
Định (2009 – 2011)
2.3.2.1. Kết quả phát triển thị trường xuất khẩu của Artexport Nam Định (2009 –
2011)
Đối với thị trường xuất khẩu, Artexport Nam Định tập trung phát triển theo
chiều sâu. Công ty chủ yếu xuất khẩu hàng len và hàng mây tre mỹ nghệ. Các đơn
hàng len của công ty phần lớn là hàng làm theo đơn đặt hàng của nước ngoài. Trong
thời gian qua hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm mây tre khá hiệu
quả, hiện nay thị trường xuất khẩu của công ty đã được mở rộng với gần 40 quốc
gia trên khắp các Châu lục, đặc biệt là ở hai khu vực Châu Á - Thái Bình Dương,
Tây Âu và Bắc âu. Hoạt động xuất khẩu mây tre đan trong thời gian qua đã đạt
được nhiều kết quả khả quan, đặc biệt ở thị trường châu Á. Kết quả tiêu thụ sản
phẩm mây tre ở thị trường châu Á đều có tốc độ tăng khá tốt qua các năm:
Bảng 2.11. Kết quả tiêu thụ sản phẩm mây tre đan ở khu vực Châu Á
(ĐVT: tr.đồng)
Khách hàng Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Cá nhân 129 159 203
Đại lý 290 380 584
Doanh nghiệp 381 481 997
Tổng 790 1020 1784
( Nguồn:Phòng Tài chính kế toán của Artexport Nam Định năm 2011)
- 55 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Dựa vào bảng trên ta thấy, doanh thu xuất khẩu sản phẩm mây tre đan vào
khu vực châu Á có tỷ lệ tăng khá cao. Năm 2011 tăng so với năm 2010 là 74%, tức
là tăng 764 triệu đồng. Đây chính là kết quả của hoạt động phát triển thị trường theo
chiều sâu đối với khu vực châu Á.
Hơn thế nữa, để phát triển thị trường theo tiêu thức sản phẩm, công ty liên
tục nâng cao chất lượng sản phẩm, cũng như cải tiến mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm.
Dưới đây là bảng thống kê về số lượng kiểu dáng một số sản phẩm mây tre:
Bảng 2.12. Số lượng kiểu dáng sản phẩm mây tre
(ĐVT: kiểu dáng)
STT Tên sản phẩm Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Gối mây 4 5 9 1
Giỏ mây 8 12 17 2
Hộp đựng đồ mây 9 11 18 3
Bình hoa 12 15 17 4
Chụp đèn 3 6 9 5
(Nguồn: Phòng kinh doanh của Arteport Nam Định năm 2009 - 2011)
Như vậy, Artexport Nam Định khá tích cực trong việc thay đổi, đa dạng hóa
kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm. đây là hoạt động hết sức cần thiết đối với mục tiêu
phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty.
2.3.2.2. Hoạt động nghiên cứu thị trường
Hoạt động nghiên cứu thị trường do phòng kế hoạch thị trường đảm nhiệm.
Đối với thị trường nước ngoài, hoạt động nghiên cứu thị trường chủ yếu là nghiên
cứu thông qua các tài liệu sách báo, thu thập thông tin trên Internet và các phương
tiện truyền thông khác. Nói chung các số liệu còn ít do phòng tổng hợp thực hiện
mới chỉ mang tính chất chung chung, chưa nghiên cứu được cụ thể chi tiết, đặc tính,
yêu cầu riêng của từng loại khách hàng.
Bên cạnh đó, hàng năm doanh nghiệp cũng cử đoàn cán bộ của phòng kế
hoạch thị trường đi khảo sát thị trường nước ngoài, thường là đi đến các hội chợ
- 56 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
triển lãm quốc tế. Tuy nhiên, hoạt động này mới chỉ dừng lại ở một số nước châu Á
như: Nhật Bản, Trung Quốc. Hơn thế nữa, do trình độ ngoại ngữ của cán bộ chưa
cao nên cũng ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động nghiên cứu thị trường.
2.3.2.3. Các hoạt động xúc tiến thương mại
- Trong thời gian qua, doanh nghiệp chú trọng phát triển thị trường tiêu thụ
theo chiều sâu đối với sản phẩm len, thêu ren ở thị trường xuất khẩu. Nguyên nhân
là do ở thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp đã có sẵn một số khách hàng truyền
thống. Các sản phẩm này chủ yếu là làm theo đơn đặt hàng có mẫu mã sẵn của
khách hàng nước ngoài. Với thị trường nước ngoài, thì thời gian là nhân tố quan
trọng nhất, nên công ty luôn cố gắng hoàn thành thời gian đúng với hợp đồng đã ký
kết. Bên cạnh đó, công ty cũng có những ưu đãi thích hợp đối với khách hàng
truyền thống như công ty ASG (Poslan), Intertechic (Ukraine), ZAOH anh M
(Russia) ưu tiên về mặt giá cả, thời gian,... Cụ thể, chiết khấu thương mại của các
công ty này thường là 15 – 17% (cao hơn mức chiết khấu là 10% với các công ty
khác).
- Để tiếp thị cho sản phẩm của mình, Artexport Nam Định lựa chọn phương
thức là gửi catolog đến các công ty nước ngoài. Trên catalog của mình, công ty
cung cấp những thông tin cần thiết từ kích cỡ, màu sắc, số lượng, bao gói, thời hạn
cung cấp, giá cả, hình thức thanh toán. Số lượng catolog công ty đã gửi đến các
doanh nghiệp nước ngoài trong các năm 2009 – 2011:
Bảng 2.13. Số lượng catolog và chi phí gửi đến doanh nghiệp nước ngoài
Khu vực Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Số lượng Chi phí Số lượng Chi phí Số lượng Chi phí
(quyển) (tr.đ) (quyển) (tr.đ) (quyển) (tr.đ)
Châu Á 159 2,5 170 2,7 203 3,2
Tây Âu 380 5,6 484 7,1 584 8,4
Bắc Âu 481 7,1 897 13,2 997 14,6
Tổng 1020 15,2 1551 23 1784 26,2
(Nguồn: Phòng kinh doanh của Artexport Nam Định năm 2009 - 2011)
- 57 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Có thể nói, sử dụng catolog là một phương pháp khá thích hợp để giới thiệu
sản phẩm của công ty tới khách hàng, đặc biệt là khách hàng ở xa. Thông qua
catolog, khách hàng có thể biết chi tiết về các sản phẩm của công ty: kiểu dáng,
thông số. Hơn nữa, chi phí cho việc in ấn catolog và gửi qua đường bưu điện lại khá
thấp, phù hợp với một doanh nghiệp nhỏ như Artexport Nam Định.
- Hiện nay, công ty đang áp dụng hình thức phân phối tiêu thụ sản phẩm của
thông qua môi giới tại thị trường nước ngoài. Việc sử dụng môi giới nước ngoài làm
trung gian giúp cho công ty tìm kiếm bạn hàng dễ dàng hơn do họ có nhiều kinh
nghiệm và thông tin về thị trường, về khách hàng trên các thị trường đó.
- Bên cạnh đó, Artexport Nam Định đã chú trọng đến dịch vụ bán hàng: dịch
vụ vận chuyển: cam kết chuyển hàng đúng thời gian, đúng chất lượng và số lượng
để đảm bảo uy tín của công ty với khách hàng; dịch vụ đổi trả hàng khi hàng bị hư
hỏng.
2.3.3. Đánh giá tổng hợp hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của
công ty (2009 – 2011)
Trong những năm gần đây công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ
tỉnh Nam Định đã không ngừng mở rộng các thị trường của mình. Quy mô thị
trường ngày càng mở rộng và phát triển, mức độ tiêu thụ hàng năm của thị trường
không ngừng tăng trưởng.
Hiện nay công ty đã mở thêm nhiều chi nhánh tại các tỉnh để tăng cường
quản lý và mở rộng các kênh phân phối như:
+ Chi nhánh tại Lạng Sơn
+ Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh
+ Chi nhánh tại Vũng Tàu
Các chi nhánh này có chức năng và nhiệm vụ như một phòng kinh doanh, có
thể quyết định hoạt động bán hàng cho tổng công ty và quản lý tốt hơn các kênh
phân phối hỗ trợ các đại lý bán hàng tốt hơn, tiêu thụ nhanh hơn cho công ty, kích
thích thị trường.
- 58 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Ngoài ra, công ty cũng đặt thêm được mối quan hệ với một số quầy hàng ở
khu vực các chợ đối với mặt hàng nông sản và mặt hàng len:
- Chợ Mỹ Tho (Nam Định): 3 quầy hàng
- Chợ Chợ Rồng (Nam Định): 2 quầy hàng
- Chợ Bo (Thái Bình): 1 quầy hàng
Thị phần của công ty ở khu vực trong nước trong 3 năm qua đã tăng đáng kể.
Dưới đây là số liệu thống kê về thị phần ở khu vực trong nước của công ty
Artexport Nam Định
Bảng 2.14. Thị phần trong nước của Artexport Nam Định
(ĐVT: %)
Năm Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
0.952 1.058 1.064 Thị phần
(Nguồn: phòng kế hoạch thị trường của Artexport Nam Định năm 2009 – 2011)
Như vậy, trong thời gian qua, thị phần của công ty có sự gia tăng đáng kể
qua các năm. Năm 2010 tăng so với năm 2009 là 11%. Năm 2011 là năm nền kinh
tế trong nước có nhiều biến động, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, nhưng
Artexport Nam Định vẫn cố gắng nâng mức thị phần của mình lên. Tỷ lệ tăng thị
phần của năm 2011 so với năm 2010 là 0,6%. Như vậy, tuy tốc độ tăng thị phần có
chậm nhưng điều đó cho thấy việc sản xuất kinh doanh của công ty vẫn đem lại hiệu
quả.
Trên thị trường nước ngoài, do đảm bảo được uy tín với khách hàng cũng
như có các chính sách ưu đãi thích hợp nên doanh thu tiêu thụ ở khu vực này tiếp
tục tăng lên qua các năm. Với chính sách phát triển thị trường theo chiều sâu, công
ty tiếp tục củng cố và giữ vững mối quan hệ với các bạn hàng của mình. Có thể
khẳng định, ở thị trường nước ngoài công ty có những đối tác lâu dài.
Tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty liên tục gia tăng trong các năm vừa
qua. Điều này thể hiện qua số lượng hợp đồng công ty đã ký kết với các đối tác:
- 59 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Bảng 2.15. Tình hình ký kết hợp đồng các năm 2009 – 2011
So sánh thực hiện với
Năm Ký kết Thực hiện ký kết
Số lượng Tổng trị Số lượng Tổng trị Số lượng Tổng trị
HĐ (hợp giá HĐ HĐ (hợp giá HĐ HĐ (Hợp giá HĐ
đồng) (trđ) đồng) (trđ) đồng) (%)
2009 13 136,24 10 108,97 76,92 79,88
2010 16 145,67 12 128,86 75 88,4
2011 16 195,47 16 195,47 100 100
(Nguồn: Phòng Kế hoạch – Thị trường của Artexport Nam Định năm 2009 - 2011)
Kết quả trên cho thấy trong 3 năm qua, hoạt động sản xuất và tiêu thụ của
công ty đã diễn ra theo chiều hướng tích cực, doanh thu tiêu thụ tăng lên khá cao.
Điều này chứng tỏ năng lực sản xuất của công ty ngày càng ổn định và lớn mạnh.
Công ty đã đưa ra được những chính sách hợp lý. Mức tăng của doanh thu tiêu thụ
có xu hướng tăng dần chứng tỏ tính hiệu quả của quá trình quản lý sản xuất kinh
doanh. Do vậy, thị trường của công ty đã được mở rộng.
2.4. PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG PHÁT
TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ CỦA ARTEXPORT NAM ĐỊNH
2.4.1. Các nhân tố khách quan
2.4.1.1. Các nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô
- Môi trường văn hóa xã hội: Với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự thay đổi lớn về cơ cấu ngành nghề
của các tầng lớp dân cư trong tỉnh Nam Định. Tỷ lệ lao động trong lĩnh vực dịch vụ,
thương mại, công nghiệp tăng lên, tỷ lệ lao động sản xuất nông nghiệp giảm đi.
Theo thống kê của Bộ lao động, thương binh và xã hội, Tổng số lao động làm việc
trong các ngành kinh tế năm 2010 ước tính 45 triệu người. Trong đó lao động nông
nghiệp và lâm nghiệp là gần 22 triệu người chiếm 48,9% tổng số lao động làm việc
trong các ngành kinh tế. Vì đặc điểm lao động trong khu vực nông nghiệp thông
thường có thời gian rất nhàn rỗi. Thường một năm có 2 mùa vụ chính do đó họ có
- 60 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
thể làm thêm các việc làm khác vào thời gian nhàn rỗi để có thêm thu nhập. Do đó
nó rất thuận lợi cho các doanh nghiệp ngành thủ công mỹ nghệ, ngành nông sản nói
chung và Artexport nói riêng có thể tận dụng lao động nhàn rỗi nông thôn để sản
xuất hàng hóa với số lượng lao động lớn và chi phí thấp hơn so với các ngành khác.
Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu dùng hiện nay là khách hàng có xu hướng lựa chọn
những sản phẩm độc đáo, có tính thẩm mỹ và có giá trị truyền thống. Hơn nữa, sự
gia tăng số lượng những khu du lịch gần gũi với thiên nhiên, hướng về truyền thống
như các làng nghề, phố cổ,... nên nhu cầu về các sản phẩm thủ công mỹ nghệ cũng
gia tăng. Đây là yếu tố thuận lợi cho Artexport Nam Định phát triển thị trường tiêu
thụ sản phẩm của mình.
- Môi trường chính trị pháp luật: Việt Nam nói chung và tỉnh Nam Định nói
riêng có nền chính trị tương đối ổn định, có sự nhất quán về các quan điểm chính
sách của Đảng và nhà nước. Đó chính là những yếu tố hấp dẫn và thu hút sự đầu tư
ở cả trong và ngoài nước. Trong những năm qua quan hệ quốc tế giữa Việt Nam với
các nước khác trên thế giới ngày càng được mở rộng đặc biệt là sự kiện Việt Nam
trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại quốc tế WTO đã tạo cơ hội lớn
cho kinh tế phát triển. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp liên quan đến lĩnh vực
xuất nhập khẩu như Artexport Nam Định thì môi trường chính trị ổn định đã giúp
công ty thu hút được nhiều đơn đặt hàng từ nước ngoài và việc nhập khẩu nguyên
vật liệu đầu vào không gặp khó khăn.
Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO) chính thức vào ngày
11/1/2007. Từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới Artexport Nam
Định đứng trước có các cơ hội và thách thức mới. Mức thuế xuất nhập khẩu vào
nhiều thị trường trên thế giới sẽ được giảm xuống. Tuy có cơ hội lớn nhưng vẫn xen
lẫn những thách thức vì nếu không nâng cao được năng lực cạnh tranh thì sẽ không
cạnh tranh được với các hàng hóa của các nước trên Thế giới đặc biệt là hàng hóa
của các doanh nghiệp Trung Quốc.
- Môi trường kinh tế:
- 61 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Lạm phát là một yếu tố khá nhạy cảm của nền kinh tế, nó có ảnh hưởng lớn
và trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sự gia tăng lạm
phát năm 2009, 2010 cho thấy dường như Việt Nam đã đánh đổi lạm phát cho tăng
trưởng và chấp nhận một mức cao nhất định để đạt được phát triển kinh tế. Lạm
phát tăng cao ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế. Ngành thủ công mỹ nghệ
không nằm ngoài bối cảnh đó. Dưới đây biểu diễn về tốc độ tăng chỉ số giá tiêu
dùng CPI của Việt Nam trong 2 năm 2009, 2010:
Hình 2.4. Diễn biến CPI các năm 2009, 2010
(Nguồn: Vneconomy.vn)
Bên cạnh đó, sự thay đổi của tỷ giá và lãi suất có ảnh hưởng rất lớn đến các
hoạt động sản xuất kinh doanh của Artexport vì hoạt động của doanh nghiệp chủ
yếu là vay vốn từ ngân hàng. Năm 2009 - 2011, Artexport Nam Định đã gặp phải
rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vốn do lãi suất quá cao. Mức lãi suất cho vay
năm 2011 được đẩy lên đến mức 25 – 26%. Cũng như lãi suất, diễn biến tỷ giá năm
2010 - 2011 đầy biến động đã gây ra không ít khó khăn cho 1 doanh nghiệp kinh
doanh xuất nhập khẩu như Artexport Nam Định. Tỷ giá USD/VND tăng mạnh đã
làm ảnh hưởng tới chi phí đầu vào của công ty.
- Môi trường tự nhiên: những mặt hàng của Artexport có lợi thế là nguồn
nguyên liệu chính là các sản phẩm nông nghiệp như dưa chuột, ớt, măng, tre, nứa,
mây, trúc, giang, cói,… vốn là thế mạnh của Việt Nam. Tuy nhiên, nguồn nguyên
liệu do các địa phương đã khai thác bừa bãi, thiếu quy hoạch và đầu tư phát triển
nguồn nguyên liệu dẫn đến tình trạng dần cạn kiệt hậu quả là các doanh nghiệp nói
- 62 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
chung và Artexport Nam Định nói riêng phải nhập khẩu khoảng 50% mây từ Lào,
Campuchia và Indonesia… Do đó để thực sự tạo lợi thế về nguyên liệu cho ngành
thủ công mỹ nghệ cần phải có kế hoạch khai thác và trồng nguyên vật liệu hợp lý.
- Môi trường khoa học và công nghệ: Sự tiến bộ khoa học công nghệ luôn
là một yếu tố tích cực trong việc thúc đẩy nền sản xuất phát triển. Để nâng cao chất
lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Artexport
Nam Định đã đầu tư các máy móc thiết bị mới để nâng cao năng suất lao động và
khắc phục giá nhân công ngày càng tăng cao. Máy móc trang thiết bị của công ty
được đầu tư lắp đặt cho từng công đoạn sản xuất và kết cấu sản phẩm như 40 máy
cuốn hàng tre, 20 máy đánh ráp, 4 buồng phun sơn, 5 phòng máy sấy bảo ôn và 1 lò
sấy hơi. Với điều kiện công nghệ như hiện nay công ty có thế sản xuất ra các sản
phẩm với chất lượng cao có chi phí thấp đây chính là cơ hội đối với Artexport Nam
Định.
2.4.1.2. Các nhân tố thuộc về môi trường ngành
- Khách hàng: Khách hàng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến kết
quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty. Khi sản phẩm sản xuất ra phù hợp với
thị hiếu và thiết yếu đối với người tiêu dùng thì họ sẽ mua nhiều hơn, từ đó đẩy
nhanh được. Đối tượng khách hàng của công ty khá rộng, bao gồm:
+ Khách hàng là hệ thống các đại lý, các quầy thuốc: Đây là đối tượng khách
hàng mục tiêu của công ty. Họ là những nhà trung gian giới thiệu sản phẩm của
công ty tới người tiêu dùng. Trong tình hình cạnh tranh dược phẩm gay gắt như hiện
nay, đối tượng trung gian này luôn ý thức được tầm quan trọng của mình trong mối
liên hệ giữa công ty với người tiêu dùng, các khách hàng này ngày càng đòi hỏi
nhiều quyền lợi hơn cho họ, làm ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ và lợi nhuận của
doanh nghiệp.
+ Khách hàng là các doanh nghiệp: Để có thể đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản
phẩm tới các doanh nghiệp thì công ty phải tuân thủ những tiêu chuẩn hết sức chặt
chẽ về chất lượng. Trong thời gian vừa qua đối tượng khách hàng này luôn ổn định
- 63 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
và lâu dài. Do vậy, trong thời gian tới công ty cần phải duy trì mối quan hệ với các
doanh nghiệp, đồng thời tiếp tục mở rộng mối quan hệ với các doanh nghiệp khác.
+ Khách hàng là các cá nhân: Đây là nhóm khách hàng giúp công ty mở rộng
thị trường và đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy công ty luôn luôn quan
tâm và thường xuyên tiến hành các hoạt động marketing tới bộ phận khách hàng
này.
- Nhà cung ứng: Nguồn nguyên liệu đầu vào của Artexport Nam Định chủ
yếu là các sản phẩm nông nghiệp. Vì là nông sản nên nguồn nguyên liệu đầu vào
của công ty chịu ảnh hưởng khá lớn từ thời tiết. Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt
đới gió mùa, thời tiết thay đổi khá nhiều. Nguồn nguyên liệu đầu vào của công ty có
số lượng khá dồi dào và giá thành lại rẻ. Tuy nhiên, các mặt hàng hoa quả lại chịu
ảnh hưởng lớn từ tính mùa vụ. Vì vậy áp lực của nhà cung ứng đối với công ty là
khá cao.
- Sản phẩm thay thế: Sức ép cạnh tranh của các sản phẩm thay thế là khá
lớn. Đối với mặt hàng nông sản của công ty như cà muối, dưa chuột muối, ớt ngâm
dấm,… sản phẩm thay thế của các mặt hàng này là các sản phẩm tự làm. Các sản
phẩm tự làm có ưu điểm là tươi và giòn hơn sản phẩm đóng lọ. Hơn nữa, nhiều
người tiêu dùng trong nước chưa có thói quen sử dụng các sản phẩm muối đóng
hộp. Đối với mặt hàng mây tre thủ công mỹ nghệ, sản phẩm thay thế chính là các
sản phẩm hiện đại. Các sản phẩm hiện đại có ưu thế là bền, tiện dụng, và cũng rất
đa dạng, phong phú,… Artexport Nam Định cần phát triển sản phẩm của mình về
chất lượng cũng như kiểu dáng hơn nữa để đạt được mục tiêu phát triển thị trường
tiêu thụ sản phẩm.
- Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: Nền kinh tế ngày càng phát triển, cũng như
chế độ pháp luật khuyến khích hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khiến
cho ngày càng có nhiều doanh nghiệp, đơn vị sản xuất và kinh doanh mặt hàng thủ
công mỹ nghệ đã đang và sắp xuất hiện. Vì vậy, Artexport Nam Định đang phải đối
diện với sức ép lớn từ phía các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn.
- 64 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
- Đối thủ cạnh tranh: Có thể nói số lượng đối thủ cạnh tranh của Artexport
Nam Định là rất lớn. Ở thị trường trong nước, có rất nhiều đơn vị kinh doanh mặt
hàng nông sản và thủ công mỹ nghệ. Hiện nay, ở Việt Nam có nhiều doanh nghiệp
kinh doanh mặt hàng mây tre đan như Artexport Việt Nam, Tocontap Hà Nội,
Barotex Hà Nội, Artexport Thái Bình,… Điều đó đòi hỏi công ty phải phát huy tối
đa mọi điều kiện thuận lợi mà mình đã có và sử dụng chúng một cách có hiệu quả.
Ở thị trường nước ngoài, công ty lại phải cạnh tranh với một loạt các quốc gia khác
cùng khu vực Châu Á cũng kinh doanh xuất khẩu mặt hàng mây, tre đan. Các nước
có thế mạnh xuất khẩu mặt hàng này là Đài Loan, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan.
Trong cạnh tranh quốc tế, hàng của Việt Nam thường bị yếu kém về chất lượng
cũng như mẫu mã so với các nước như Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc… Trước
sức ép lớn từ phía các đối thủ cạnh tranh đặt ra yêu cầu cho Artexport Nam Định
phải nâng cao năng lực cạnh tranh để thực hiện mục tiêu phát triển thị trường tiêu
thụ sản phẩm của mình.
Tóm lại, qua phân tích đánh giá môi trường kinh doanh, nhận thấy công ty
có nhiều cơ hội tốt để phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên bên cạnh
đó, công ty cũng cần phải chuẩn bị tốt các nguồn lực để vượt qua những thách thức
từ phía bên ngoài, nhằm đạt mục tiêu phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm.
2.4.2. Các nhân tố bên trong
Các nhân tố bên bên trong thể hiện ở các nguồn lực của doanh nghiệp: nguồn
nhân lực, nguồn lực về tài chính, trang thiết bị và công nghệ,...
- Nguồn nhân lực: Theo số liệu của phòng Tổ chức hành chính, tổng số
công nhân viên của công ty hiện nay là 176 người. Nhìn chung trình độ của cán bộ
công nhân viên đã đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh hiện nay của công ty.
Bảng số liệu dưới đây thể hiện số công nhân viên của công ty theo trình độ:
- 65 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Bảng 2.16. Số nhân viên của Artexport Nam Định
Số lượng Trình độ (Người)
Thạc sỹ 3
Cử nhân kinh tế 15
Kỹ sư 5
Trung cấp chuyên nghiệp 42
Lao động kỹ thuật 95
Lao động khác 16
Tổng số 176
(Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính của Artexport Nam Định năm 2011)
Các phòng ban trong công ty nguồn nhân lực chủ yếu là cử nhân kinh tế, họ
là những người được lựa chọn rất kỹ qua những vòng phỏng vấn khắc nghiệt, hầu
hết họ là những người trẻ năng động phù hợp với lĩnh vực kinh doanh. Các phòng
kinh doanh áp dụng chế độ tuyển người theo năng lực chuyên môn, bằng cấp không
được đặt lên hàng đầu. Chế độ đãi ngộ và lương bổng họ được hưởng theo năng lực.
Các phân xưởng sản xuất tuyển dụng lao động trong tỉnh, hầu hết họ đều là những
người có tay nghề kỹ thuật cao và có tâm huyết với nghề. Người lao động được tạo
dựng một môi trường làm việc thuận lợi, tinh thần tập thể được đặt lên hàng đầu.
Ngoài lực lao động trực thuộc công ty nêu trên, công ty còn hợp đồng với hệ
thống các làng nghề dưới huyện, xã trong tỉnh Nam Định và mở rộng sang các tỉnh
lân cận như Thái Bình, Hải Phòng, Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa…Với
lực lượng lao động này chủ yếu họ sản xuất sản phẩm thô theo hình thức phi tập
trung với số lượng lao động là trên 11000 người đa số là lao động nông nhàn. Qua
số liệu nêu trên, cho thấy Công ty có một đội ngũ cán bộ và một đội ngũ lao động
lành nghề, các nhân viên có trình độ vững vàng, đã được đạo tạo chính quy từ các
- 66 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
trường đại học và qua môi trường công tác thực tiễn của bản thân. Do có được các
điều kiện như vậy, nên đã phát huy được tính năng động và khả năng tự chủ được
trong công việc của mỗi người, việc liên kết hỗ trợ nhau trong công tác và tinh thần
đồng nghiệp được củng cố vững chắc. Tuy nhiên, công ty có một số cán bộ trẻ còn
thiếu nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý kinh tế, để trưởng thành từng bước
qua sự học hỏi các đồng nghiệp có bề dày kinh nghiệm công tác cộng với sự chịu
khó học hỏi không ngừng của bản thân. làm tốt công tác này, công ty sẽ phát triển
ngày một vững chắc nhờ chính sự nỗ lực của mỗi một thành viên trong công ty góp
phần.
- Nguồn lực tài chính:
Số vốn ban đầu của công ty khi mới tiến hành cổ phần là 1,1 tỷ đồng, đa số
số vốn này đều là vốn góp của các cán bộ công nhân viên trong công ty. Để mở
rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, thiết bị, đặt thêm máy móc công ty tăng
nguồnvốn bằng cách huy động cổ đông đóng góp thông qua việc phát hành cổ phiếu
mới và vay vốn ngân hàng, các tổ chức, cá nhân ngoài công ty. Công ty còn phát
hành trái phiếu để vay vốn. Mỗi tờ trái phiếu là một bản cam kết của công ty, cam
đoan sẽ trả lại số tiền ghi trên trái phiếu vào một thời hạn nhất định và cam kết trả
lãi suất hàng năm kể từ ngay phát hành trái phiếu đến ngày trái phiếu được trả hết.
Vì thế với số vốn điều lệ chỉ là 1,1 tỷ đồng nhưng doanh thu hàng năm của công ty
đã đạt trên 10 tỷ đồng. Tuy nhiên, để đảm bảo nhu cầu mở rộng thị trường thì công
ty cần nâng cao hơn nữa về nguồn lực tài chính, vì nguồn lực tài chính là yếu tố
quan trọng hàng đầu để triển khai các hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản
phẩm.
- Trang thiết bị của công ty:
Là công ty đi tiên phong trong việc cổ phần hoá của tỉnh Nam Định, vì thế công
ty được nhà nước ưu tiên về cơ sở vật chất, trang thiết bị và các chính sách đãi ngộ
được ưu tiên. Máy móc sản xuất được nhà nước bán với giá rẻ mà chất lượng tương
đối, máy móc thiết bị sản xuất được đầu tư đổi mới qua từng năm. Trong một vài
- 67 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
năm vừa cổ phần lợi nhuận thu được sau mỗi năm các cổ đông đã đồng ý để lại đầu
tư cơ sở vật chất và trang thiết bị. Chính vì thế lợi nhuận hàng năm đều tăng.
Năm 2009 Công ty vừa nhập khẩu một số máy dệt len của Châu Âu để phục
vụ cho việc sản xuất thảm. Mặt hàng thảm len là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của
công ty. Ngoài ra một số máy se sợi, quay len cũng được đầu tư đổi mới liên tục.
Việc sản xuất của công ty không làm ảnh hưởng nhiều đến môi trường xung
quanh do máy móc dệt len không gây ra ô nhiễm nhiều mà có chăng chỉ là tiếng ồn
nhỏ, nhưng việc đó cũng đã được công ty khắc phục triệt để.
Qua đó, ta nhận thấy, Artexport Nam Định tuy có lịch sử phát triển khá lâu,
nhưng vẫn là một công ty thuộc hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tỉnh. Vì vậy,
để phát triển thị trường cũng như nâng cao vị thế cạnh tranh của mình, Artexport
Nam Định cần có những bước đi, chiến lược đúng đắn.
2.5. PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
TIÊU THỤ CỦA CÁC ĐỐI THỦ CẠNH TRANH VỚI ARTEXPORT NAM
ĐỊNH
Hiện nay, sự cạnh tranh trên thị trường của các doanh nghiệp xuất khẩu hàng
thủ công mỹ nghệ ngày càng gay gắt vì vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho
công ty là một trong những vấn đề được công ty quan tâm. Đối thủ cạnh tranh của
Artexport Nam Định được chia thành 2 nhóm chính:
Nhóm một bao gồm các đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài như Trung Quốc,
Malaysia, Indosia, Thái Lan... trong đó, các doanh nghiệp Trung Quốc là đối thủ
cạnh tranh lớn nhất. Đặc biệt Trung Quốc vừa là bạn hàng, nhà cung cấp cho công
ty, vừa là đối thủ lớn của công ty trên trường quốc tế.
Nhóm thứ hai bao gồm các công ty xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong
nước, các làng nghề mà theo thống kê của hiệp hội doanh nghiệp xuất khẩu hàng
thủ công mỹ nghệ thì hiện nay, cả nước có tới 2017 làng nghề với nhiều loại hình
sản xuất như hộ gia đình, tổ sản xuất, tổ hợp tác xã, doanh nghiêp, trong đó làng
nghề đan tre, trúc, song, mây (gọi chung là mây, tre, đan) có số lượng lớn nhất với
- 68 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
713 đơn vị, chiếm 24% tổng số làng nghề. Các làng nghề truyền thống như các làng
nghề ở Hà Nội, Hà Tây, Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định,... Bên cạnh đó còn rất
nhiều doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh mặt hàng thủ công mỹ nghệ như
Artexport Việt Nam, Barotex (Hà Nội), Artexport Thái Bình, Coalimex (thành phố
Hồ Chí Minh),...
2.5.1. Phân tích công tác phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của các đối
thủ cạnh tranh
2.5.1.1. Chính sách đối với sản phẩm
- Về chất lượng: Đối với mặt hàng thủ công mỹ nghệ thì rất nhiều làng nghề,
doanh nghiệp đã tạo được thương hiệu về mặt chất lượng cho mình. Ví dụ như, làng
gốm Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) với thương hiệu Bát Tràng Việt Nam – 1000
năm truyền thống, Hà Tây – đất trăm nghề, làng nghề mây tre đan Ninh Sở (Hà
Nội), làng nghề gỗ mỹ nghệ La Xuyên (Ý Yên, Nam Định),... các sản phẩm từ tre
nứa của công ty cổ phần thủ công mỹ nghệ Việt Hà (Nam Định), các sản phẩm thủ
công mỹ nghệ của Artexport Việt Nam,... Các sản phẩm của các đơn vị kể trên đều
có chất lượng khá tốt, tạo được sự tin cậy trên thị trường.
- Về chủng loại, mẫu mã: đồ thủ công mỹ nghệ của các đối thủ cạnh tranh rất
đa dạng, phong phú. Hàng mây tre đan của các làng nghề, doanh nghiệp có hàng
trăm chủng loại như: búp bê lưu niệm, hộp đựng giấy, mũ, nón, bàn, ghế, lọ hoa,
bình, khung tranh ảnh,... Hàng thêu ren cũng nhiều loại như: khăn trải bàn các loại,
tranh thêu ren, khăn thêu ren,... Có thể nói các đối thủ của Artexport Nam Định đầu
tư khá nhiều vào kiểu dáng và mẫu mã của sản phẩm. Ví dụ như Barotex (Hà Nội)
đã thuê các chuyên gia thiết kế cho các sản phẩm xuất khẩu của công ty nhờ đó
mẫu mã kiểu dáng mặt hàng thủ công mỹ nghệ ngày càng đa dạng và hấp dẫn hơn.
Trước đây mặt hàng thủ công mỹ nghệ của công ty chủ yếu là rổ rá, bàn ghế. Hiện
nay công ty đã mở rộng xuất khẩu nhiều loại sản phẩm khác như gốm sứ, sơn mài,
thiêu ren.
- 69 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
- Về giá cả: các làng nghề với lợi thế về mặt nhân công, nguồn nguyên liệu
lại sẵn có nên có thể cạnh tranh khá lớn về mặt giá. Các doanh nghiệp lớn như
Artexport Việt Nam, Coalimex (Thành phố Hồ Chí Minh),... do có quy mô sản xuất
lớn nên cũng đưa ra các mức giá rất cạnh tranh. Đặc biệt là trên thị trường thế giới,
các doanh nghiệp Trung Quốc vốn có thế mạnh cạnh tranh về giá. Có thể khẳng
định đây là một thách thức khá lớn đối với Artexport Nam Định.
2.5.1.2. Hoạt động xúc tiến thương mại
Đối với hoạt động xúc tiến thương mại, các doanh nghiệp tích cực tham gia
các hội chợ triển lãm. Thông qua việc tham gia các hội chợ này, các doanh nghiệp
mở rộng được bạn hàng, góp phần đưa hình ảnh của công ty trở nên quen thuộc hơn
với thị trường người tiêu dùng. Các hoạt động nhằm quảng bá sản phẩm cũng được
các doanh nghiệp tích cực phát triển. Rất nhiều doanh nghiệp có trang web để giới
thiệu về công ty như Artexport Việt Nam, Coalimex (Thành phố Hồ Chí Minh). Các
doanh nghiệp cũng tích cực mở các chi nhánh ở nhiều địa phương để mở rộng thị
trường của mình. Ví dụ Barotex (Hà Nội) có 3 chi nhánh là chi nhánh Hải Phòng,
chi nhánh Đà Nẵng, chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh.
2.5.2. Đánh giá công tác phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của các đối
thủ cạnh tranh
Với những nỗ lực trong phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm, các đối thủ
đã tạo ra được thị phần cho riêng mình. Dưới đây là một số đối thủ tiêu biểu:
- Công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm Hà Nội (Tocontap Hà Nội)
Bảng 2.17. Kim ngạch xuất khẩu của Tocontap Hà Nội
( Đơn vị : tr. USD )
Thị trường Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Đài Loan 102 143,30 152,8
Hungary 453 570 613
Mỹ 296 348 383
(Nguồn: phòng kế hoạch thị trường của Tocontap Hà Nội năm 2009 - 2011)
- 70 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Dựa vào bảng số liệu ta thấy, trên thị trường quốc tế, Tocontap tuy không phải
là công ty lớn nhưng lại là đối thủ không nhỏ với Artexport Nam Định. Doanh thu
tại các thị trường khá ổn định và có sự gia tăng qua các năm. Có thể nói, Tocontap
Hà Nội xuất hiện trên rất nhiều thị trường, điều này cho thấy công tác phát triển thị
trường theo chiều rộng của công ty khá tốt.
- Công ty xuất nhập khẩu Barotex Hà Nội (Barotex Hà Nội)
Hàng thủ công mỹ nghệ của công ty bao gồm các mặt hàng mây tre đan, gốm
sứ, sơn mài, thêu ren, mành các loại, hàng rào tre, bàn ghế. Trong đó mặt hàng mây
tre đan là mặt hàng truyền thống của công ty với tổng doanh thu hàng bán mỗi năm
chiếm 90% tổng kim giá trị các mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Năm 2009 doanh thu
mặt hàng này đã đạt 5,9 triệu USD, chiếm 93,4% giá trị doanh thu hàng thủ công
mỹ nghệ, đến năm 2010 doanh thu mặt hàng mây tre đan tiếp tục tăng lên 6,8 triệu
USD. Bên cạnh mặt hàng mây tre đan truyền thống các mặt hàng gốm sứ, sơn mài,
thêu ren cũng đang được công ty đẩy mạnh thị trường với tổng doanh thu năm 2009
đạt 91.000 USD, và tăng lên 144.000 USD năm 2010.
- Các doanh nghiệp Trung Quốc: Doanh số của các công ty Trung Quốc gia
tăng khá đều trong thời gian vừa qua. Mức tăng đó được thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng 2.18. Doanh số của các công ty Trung Quốc
tại Hoa Kỳ, EU và châu Á
(Đơn vị : tr.USD)
Thị trường Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Hoa Kỳ 2.145,50 3150 3870
EU 4.800,39 6800 8350
Châu Á 420,11 580 875
Tổng cộng 7.366,00 10.530 13.095
(Nguồn: http://www.vnexpress.net năm 2009 - 2011)
- 71 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Có thể nói trong thị trường hàng thủ công mỹ nghệ, Artexport Nam Định đối
diện với một cường độ cạnh tranh vô cùng mạnh mẽ. Số lượng đối thủ nhiều, thị
phần của các đối thủ khá rộng lớn.
2.5.3. So sánh đánh giá hoạt động phát triển thị trường của Artexport Nam
Định với đối thủ cạnh tranh
Hiệu quả của hoạt động phát triển thị trường của các công ty được thể hiện ở
thị phần về doanh thu của công ty cổ phẩn xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ
Artexport Nam Định và các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ trong nước. dưới đây
là bảng so sánh về thị phần doanh thu của Artexport Nam Định với thị phần doanh
thu của một số doanh nghiêp cùng ngành trong nước.
Bảng 2.19. Thị phần doanh thu của các doanh nghiệp
kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ trong nước
(Đơn vị tính: %)
Doanh nghiệp Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Artexport Nam Định 0,952 1,058 1,064
Công ty TNHH Tiến Động 0,606 0,649 0,560
Công ty CP SXKD xuất khẩu Vĩnh Long 2,389 2,373 1,888
Các công ty thủ công mỹ nghệ trong nước khác 96,054 95,92 96,488
(Nguồn: Cục hải quan Việt Nam năm 2009 - 2011)
Từ số liệu trên cho thấy: doanh thu, thị phần về doanh thu của Artexport
Nam Định trên thị trường là rất nhỏ. Năm 2009, Artexport Nam Định chiếm
0,952% thị phần, năm 2010 tăng 0,106% tức là chiếm 1,058% thị phần và đến năm
2010 thị phần chiếm 1,064% tăng so với năm 2011 là 0,112% và tăng so với năm
2010 là 0,006%. Trong khi đó, thị phàn của công ty cổ phần SXKD xuất khẩu Vĩnh
Long là 2,389% năm 2009 và đến năm 2011 là 1,888%. Điều này chứng tỏ khả
năng cạnh tranh của Artexport Nam Định trên thị trường là không cao. Trong thời
- 72 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
gian tới, Artexport Nam Định cần tích cực thay đổi để nâng cao năng lực cạnh
tranh, nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình.
2.6. ĐÁNH GIÁ NHỮNG THÀNH CÔNG VÀ TỒN TẠI CỦA ARTEXPORT
NAM ĐỊNH TRONG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ
SẢN PHẨM (2009 – 2011)
2.6.1. Những thành công trong công tác phát triển thị trường tiêu thụ sản
phẩm
Trong thời gian qua Artexport Nam Định đã đạt được một số thành tựu sau
trong công tác phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm:
- Công tác phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty trong những
năm vừa qua không ngừng được mở rộng. Ngoài những thị trường truyền thống như
các nước ASEAN, Đông Âu, Nam Á, công ty còn phát triển được các thị trường
mới như thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, thị trường Ukraina, Ba Lan…
- Trong những năm qua số lượng các đại lý đã không ngừng tăng lên, thị
trường ngày càng mở rộng, mức tiêu thụ ngày càng tăng lên, cụ thể, mức tăng
trưởng tiêu thụ hàng năm đạt mức 15%/.
- Thị phần của công ty tuy mức tăng có thấp nhưng vẫn có tỷ lệ tăng trưởng
nhất định. Điều đó cho thấy công ty có nhiều cố gắng trong các hoạt động phát triển
thị trường tiêu thụ sản phẩm. Biểu đồ dưới đây thể hiện mức tăng trưởng về thị
1.08
1.06
1.04
1.02
1
Năm 2009
Năm 2010
0.98
Năm 2011
0.96
0.94
0.92
0.9
0.88
Thị phần
phần của Artexport Nam Định
Hình 2.5. Thị phần của Artexport Nam Định
(Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường của Artexport Nam Định năm 2009 – 2011)
- 73 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Dựa vào hình 2.5 ta thấy, mức tăng thị phần của công ty từ năm 2009 đến năm
2010 khá nhanh (tăng 11%). Mức tăng năm 2011 có phần chậm lại, chỉ tăng 0,5%.
Đó là xu thế chung của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, công ty cũng cần có những
chiến lược thích hợp để đối diện với các thách thức để đảm bảo mục tiêu phát triển
thị trường tiêu thụ của mình. Như vậy, công ty đang phát triển rất ổn định và tương
lai sẽ còn phát triển hơn nữa nếu biết nắm bắt cơ hội thị trường và khắc phục những
nhược điểm còn tồn tại.
- Bên cạnh đó, hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ đối với thị trường xuất
khẩu của công ty cũng đạt được nhiều thành tựu khả quan. Công ty giữ vững được
quan hệ với những khách hàng, đối tác truyền thống. Doanh thu từ hoạt động xuất
khẩu của công ty gia tăng liên tục qua các năm.
Dưới đây là bảng số liệu doanh thu từ hoạt động xuất khẩu của công ty:
Bảng 2.20. Doanh thu từ hoạt động xuất khẩu của Artexport Nam Định
( Đơn vị : Triệu đồng)
STT Mặt hàng Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
1 Hàng thảm len 1.918 3.505 4.505
2 Mây tre mỹ nghệ 811.603 1.639 2.639
3 Nông sản 1.877 1032 1002
4 Quần áo len 4.956 8.242 9.242
(Nguồn: phòng Kế hoạch – Thị trường của Artexport Nam Định năm 2009 - 2011)
Dựa vào bảng số liệu trên ta thấy ở thị trường nước ngoài, số lượng hàng hóa
tiêu thụ được của năm 2010 tăng lên khá nhiều so với năm 2009. Cụ thể, mặt hàng
thảm len tăng những 87%, mặt hàng mây tre lại tăng những 102%. Điều này cho
thấy, mặt hàng len, mây tre mỹ nghệ là mặt hàng thế mạnh của công ty. Artexport
Nam Định cần chú trọng đến mặt hàng này trong công tác phát triển thị trường tiêu
thụ sản phẩm của mình. Tuy nhiên, bên cạnh đó, lại có những mặt hàng có sự sụt
giảm về tiêu thụ. Mặt hàng nông sản giảm 45%, mặt hàng thêu ren giảm 63%.
- 74 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Doanh nghiệp cần tìm hiểu nguyên nhân để sớm đưa thị phần những mặt hàng này
tăng trở lại.
- Trên cơ sở các mục tiêu đề ra và các chính sách tiêu thụ cụ thể, các hoạt
động xúc tiến bán hàng của công ty cũng hoạt động nhịp nhàng. Các hoạt động xúc
tiến này góp phần to lớn vào việc hoàn thành các chỉ tiêu công ty đề ra, đem lại hiệu
quả cao trong công tác đẩy mạnh hoạt động kinh doanh
Chính nhờ vào thành tựu đạt được của hoạt động phát triển thị trường tiêu
thụ sản phẩm đã tác động rất lớn đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty.
2.6.2. Những tồn tại trong hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
Trong những năm vừa qua mặc dù công ty đã đạt được nhiều thành công trong
phát triển thị trường tiêu thụ hoạt động này vẫn còn một số tồn tại như:
- Thứ nhất là hạn chế về công tác nghiên cứu thị trường. Công ty chủ yếu mới
chỉ nghiên cứu phát triển thị trường theo chiều rộng mà chưa chú ý đến nghiên cứu
phát triển thị trường theo chiều sâu. Ngoài việc thu thập, nghiên cứu các nguồn
thông tin tại thị trường trong nước thì hàng năm, công ty cử các đoàn cán bộ đi khảo
sát nghiên cứu thị trường, tham gia các hội chợ triển lãm hàng thủ công mỹ nghệ
trên thế giới. Qua đó công ty thu thập đựơc thông tin từ phía khách hàng, đối thủ
cạnh tranh, nắm bắt nhu cầu của thị trường từ đó điều chỉnh, lập chiến lược phát
triển thị trường. Tuy nhiên, hoạt động này của Công ty mới chỉ thực hiện ở một số
thị trường quen thuộc như Trung Quốc, Nam Á còn ở các thị trường khác hầu như
chưa thực hiện được.
- Về mặt sản phẩm, sản phẩm của công ty chưa thật sự đa dạng về chủng loại
và mẫu mã, ít nhiều đem lại hạn chế cho hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ.
Bên cạnh đó chất lượng sản phẩm chưa đồng đều do nguồn hàng của công ty nằm
rải rác trên khắp đất nước và chưa được sản xuất theo một tiêu chuẩn chất lượng
nghiêm ngặt và khâu sử lý nguyên liệu tại các làng nghề chưa được kiểm định chặt
- 75 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
chẽ. Đây là một khó khăn đối với công ty trong việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu
đặc biệt đối với các thị trường khó tính.
- Số lượng các chi nhánh trong nước của công ty còn khá ít cũng cản trở
không nhỏ cho việc cạnh tranh phát triển thị trường tiêu thụ vì điều này ảnh hưởng
trực tiếp đến việc giao tiếp với khách hàng. Hiện tại, công ty cũng chưa có chi
nhánh ở nước ngoài. Đây là mặt hạn chế cần sớm được khắc phục. Hơn thế nữa,
công ty cũng chưa có trang web giao dịch. Đây là một hạn chế rất lớn trong công
tác truyền thông marketing. Hiện nay, internet là một phương tiện giao dịch rất hữu
ích. Công ty chưa tận dụng được phương tiện này làm giảm khả năng cạnh tranh rất
lớn.
- Hoạt động xúc tiến thương mại cũng còn nhiều hạn chế. Mặc dù vậy công ty
hoạt động xúc tiến thương mại của công ty chưa thật hiệu quả mà nhiều khi còn
mang tính hình thức do chưa có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về sản phẩm đem đi trưng bày
và chào hàng. Công ty mới chỉ tham gia các hội chợ triển lãm tổng hợp mà chưa
tham gia các hội chợ chuyên ngành, điều này cũng là hạn chế của công ty trong việc
quảng bá và tiếp thị sản phẩm đặc biệt là đối với mặt hàng thủ công mĩ nghệ thì
điều đó lại càng quan trọng. Bên cạnh đó, hoạt động quảng cáo cũng chưa được
quan tâm đúng mức. Các hoạt động quảng cáo của công ty chủ yếu được thực hiện
thông qua các hoạt động bán hàng, phân phối, qua dư luận (người sử dụng tự giới
thiệu cho nhau). Còn việc quảng cáo thông qua các phương tiện truyền thông đại
chúng vẫn còn rất ít hoặc hầu như không có. Dưới đây là một vài số liệu về chi phí
quảng cáo
2.7. NHẬN DẠNG CÁC NGUYÊN NHÂN CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ CỦA ARTEXPORT
NAM ĐỊNH
2.7.1. Nguyên nhân khách quan
Trước hết, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn
chế. Đó là sự manh mún, nhỏ lẻ của các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất nên
không dễ đáp ứng các đơn hàng lớn. Thật vậy, các doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh
- 76 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam chưa có sự liên kết chặt chẽ với
nhau để nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách
hàng.
Mặt khác, kể từ khi Việt Nam hội nhập WTO, các doanh nghiệp cũng phải
đối mặt với không ít thách thức, ví dụ như sự tham gia của các tập đoàn bán lẻ
khiến bài toán giá thành luôn phải được tính đến, hàng trong nước phải cạnh tranh
gay gắt với các cường quốc về thủ công mỹ nghệ và hàng nông sản như Trung
Quốc, Thái Lan, Ấn Độ. Hội nhập quốc tế cũng khiến chu kỳ sống của sản phẩm
ngắn hơn. Thách thức này yêu cầu các doanh nghiệp phải luôn vận động, đổi mới
sản phẩm và phương thức của mình.
Trước năm 1990, khách hàng nước ngoài của công ty là Nga, Ukraine,
Hungari, Séc, Ba Lan... là những nước mà công ty có quan hệ từ khi còn là một
doanh nghiệp nhà nước được bao cấp. Sản xuất ra, được phía bạn hàng bao tiêu sản
phẩm. Quan hệ buôn bán có được là nhờ quan hệ chính trị giữa nước ta và nước
bạn. Khi nước ta chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế thị trường nhiều thành
phần có sự điều tiết của nhà nước, đặt ra nhiều thách thức trong khâu tìm kiếm thị
trường cho công ty. Đặc biệt, từ khi cuộc khủng hoảng xảy ra ở Đông Âu, hiệu quả
kinh doanh thị trường truyền thống này giảm mạnh.
Một thách thức lớn đối với Artexport Nam Định là nền kinh tế thế giới và Việt
Nam giai đoạn qua có nhiều biến động. Lạm phát cao khiến cho giá nguyên liệu đầu
vào, giá nhân công tăng cao gây ra không ít khó khăn cho doanh nghiệp. Mặt khác,
lãi suất cho vay của các ngân hàng cao và biến động không ngừng ảnh hưởng không
nhỏ đến công tác tiếp cận nguồn vốn của công ty.
Nhà nước chưa có định hướng rõ ràng và cụ thể để động viên khuyến khích
phát triển hàng thủ công mỹ nghệ. Các thủ tục vay vốn và các thủ tục xuất nhập
khẩu còn rườm rà cũng cản trở hoạt động gia công xuất khẩu của công ty, qua đó
tác động đến thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty.
- 77 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Sự cạnh tranh trong nước và khu vực trong ngành hàng thủ công mỹ nghệ
đang diễn ra gay gắt. Theo Cục Xúc tiến thương mại, hiện cả nước có khoảng trên
2.017 làng nghề với các loại hình hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp.
Riêng ở thị trường trong nước đã có rất nhiều đơn vị kinh doanh mặt hàng thủ công
mỹ nghệ này, đặc biệt có nhiều doanh nghiệp lớn, có thương hiệu, có uy tín lâu năm
là đối thủ lớn của công ty. Đối với thị trường nước ngoài, công ty phải đối diện với
các đối thủ cạnh tranh của Trung Quốc, Thái Lan, Philipin,.... đều là các doanh
nghiệp có sự cạnh tranh lớn về giá cả, chất lượng, mẫu mã.
Hơn thế nữa, mặt hàng mà Artexport Nam Định kinh doanh là hàng nông
sản, hàng mây tre đan thủ công mỹ nghệ. Tuy nhiên, mặt hàng này lại chịu tác động
rất lớn bởi yếu tố thời tiết. Cụ thể là, thời tiết của Việt Nam không ổn định, ảnh
hưởng lớn đến nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào của hàng nông sản. Còn mặt
hàng mây tre đan lại dễ bị hư hỏng trong điều kiện thời tiết của nước ta. Điều này
tác động không nhỏ đến hoạt động tiêu thụ của công ty.
2.7.2. Nguyên nhân chủ quan
Về phía công ty những khó khăn do cơ chế cũ để lại vẫn tác động đến công ty
tương đối nặng nề, số vốn tồn đọng thuộc hàng tồn kho, công nợ không thu được vẫn
còn nhiều. Hạn chế về khả năng tài chính cũng hạn chế nguồn lực cung cấp tài chính
cho hoạt động phát triển thị trường của công ty.
Mặt khác, về nguồn nhân lực, số lượng cán bộ công nhân viên cao hơn nhiều so
với nhu cầu sản xuất, kinh doanh tạo ra gánh nặng về chi phí quản lý, sản xuất kinh
doanh cho công ty. Nhiều người năng lực chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu của cơ
chế thị trường, một số người còn ỷ lại trông chờ vào sự bao cấp của cơ quan Nhà nước
thêm vào đó bộ máy quản lý và cán bộ của công ty quá đông do cơ chế cũ để lại. Trong
khi đó, hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm hiện nay lại đòi hỏi đội ngũ
nhân lực có chất lượng ngày một cao để phù hợp với sự cạnh tranh của thị trường.
Về chất lượng hàng hóa đầu ra, kỹ thuật công nghệ trong sản xuất hàng thủ
công mỹ nghệ của doanh nghiệp nói chung còn yếu. Một số sản phẩm làm ra chưa đáp
- 78 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
ứng thị trường hiện tại, không cạnh tranh được với các đối thủ về chất lượng, mẫu mã,
giá cả...
Đối với lượng hàng hóa đặt hàng ở các làng nghề, do các làng nghề sản xuất
không tập trung nên thời gian thu gom hàng hóa không được nhanh, ảnh hưởng lớn
đến thời gian thực hiện hợp đồng, cũng là một hạn chế không nhỏ cho công tác phát
triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
- 79 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương thứ 2 của luận văn đã giới thiệu tổng quan về lịch sử hình thành và
phát triển, các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, sơ đồ bộ máy tổ chức và các
nguồn lực của doanh nghiệp. Luận văn đã tiến hành phân tích thực trạng thị trường
tiêu thụ sản phẩm của Artexport Nam Định trong giai đoạn 2009 – 2011. Luận văn
cũng phân tích về hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty
trong 3 năm vừa qua. Các lĩnh vực được nghiên cứu, phân tích và đánh giá là:
- Công tác phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm theo chiều rộng và chiều
sâu.
- Các biện pháp công ty đã áp dụng
- Những thành công và tồn tại của công ty trong hoạt động phát triển thị
trường tiêu thụ sản phẩm.
Từ việc phân tích, đánh giá các lĩnh vực trên, đồng thời so sánh với các đối
thủ cạnh tranh trực tiếp, luận văn đã tìm ra được nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt
động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm. Những kết quả trên sẽ là căn cứ quan
trọng trong việc đề xuất một số giải phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm cho
Artexport Nam Định trong chương 3.
- 80 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CHO ARTEXPORT NAM ĐỊNH
3.1. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA THỦ CÔNG MỸ
NGHỆ TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1.1. Một số quan điểm cơ bản phát triển ngành thủ công mỹ nghệ của Việt
Nam
Việt Nam nhận thức rất sắc vai trò của việc phát triển ngành nghề thủ công mỹ
nghệ với đời sống xã hội. Do vậy, quan điểm của nhà nước là phải quan tâm và có
chính sách thoả đáng phát triển các ngành nghề này. Bên cạnh đó mở rộng thị
trường xuất khẩu cũng là một chính sách vô cùng thiết thực.
Ngành hàng thủ công mỹ nghệ phải được ưu tiên phát triển và được coi là một
trong những ngành hàng xuất khẩu trọng điểm của nước ta trong những năm tới.
Phát triển hàng thủ công mỹ nghệ theo hướng sản phẩm tinh xảo, đa dạng và
đậm đà bản sắc dân tộc sẽ là tiền đề để khai thác, mở rộng thị trường, nâng cao giá
trị xuất khẩu của sản phẩm.
Phát triển ngành hàng thủ công mỹ nghệ phải gắn liền với việc phát triển của
ngành hàng khác góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Để thực hiện được điều này cần phải xây dựng
được hệ thống quy hoạch phát triển ngành và liên ngành tạo ra sự liên kết chặt chẽ
giữa ngành hàng thủ công mỹ nghệ và các ngành khác. Ví dụ như phát triển ngành
hàng thủ công mỹ nghệ với sản xuất công nghiệp, du lịch. Phát triển thị trường thủ
công mỹ nghệ phục vụ khách du lịch có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Du lịch làng
nghề là một nét riêng độc đáo ở Việt Nam. Bên cạnh đó, phát triển các khu nghỉ
dưỡng theo phong cách truyền thống cũng là một ý tưởng kết hợp phát triển ngành
thủ công mỹ nghệ gắn với du lịch.
Nhà nước nhận thức rõ vai trò của mình là tổ chức tăng cường mở rộng quan
hệ quốc tế tạo môi trường xuất khẩu thuận lợi và tìm hiểu thông tin cho các doanh
- 81 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
nghiệp. Nhà nước sẽ giải quyết mọi vướng mắc về cơ chế, chính sách cho việc phát
triển thị trường trong nước cũng như xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ.
Tóm lại, phát triển ngành thủ công mỹ nghệ còn là phát triển và bảo tồn bản
sắc văn hóa của dân tộc trong thời đại hội nhập. Các làng nghề, kỹ thuật sản xuất
hàng thủ công mỹ nghệ là chúng ta được thừa hưởng lại từ cha ông. Vì thế, các sản
phẩm thủ công mỹ nghệ không chỉ mang giá trị vật chất mà còn mang giá trị tinh
thần, là biểu tượng cho truyền thống văn hóa của quốc gia. Phát triển xuất khẩu
hàng thủ công mỹ nghệ chính là góp phần quảng bá hình ảnh của văn hóa Việt Nam
với bạn bè quốc tế.
3.1.2. Sự phát triển của thị trường hàng hóa thủ công mỹ nghệ trong thời gian
tới
Ngành nghề truyền thống Việt Nam nói chung, của Nam Định nói riêng rất đa
dạng và phong phú, có lịch sử hình thành và phát triển từ lâu đời, tạo ra nhiều sản
phẩm phục vụ đời sống con người, đồng thời chứa đựng những giá trị văn hoá nghệ
thuật dân tộc phong phú. Mặc dù trải qua những trình độ phát triển kinh tế khác
nhau song các ngành nghề truyền thống ấy luôn luôn tồn tại trong cuộc sống của
mọi người dân Việt Nam. Ở thị trường Việt Nam, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
gần đây đang khởi sắc do nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng lên. Thu nhập của
người dân tăng lên kéo theo nhu cầu sử dụng các hàng hóa thủ công mỹ nghệ độc
đáo cũng gia tăng. Đặc biệt khả năng tiêu thụ các sản phẩm thủ công mỹ nghệ còn
tăng lên cùng với xu hướng tiêu dùng các sản phẩm có chất liệu thân thiện với môi
trường như mây, tre, cói,… Hơn thế nữa, sự phát triển dự án các khu nghỉ dưỡng
trong nước cũng như các khu du lịch thời gian gần đây cũng đẩy mạnh nhu cầu về
các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như bàn ghế, lục bình, đồ trang trí bằng mây, đồ
lưu niệm thủ công mỹ nghệ… Cùng với sự gia tăng về mặt số lượng thì thị trường
trong nước đang ngày càng đòi hỏi các sản phẩm có tính thẩm mỹ, đạt chất lượng
cao. Điều này đặt ra yêu cầu lớn đối với các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh
mặt hàng thủ công mỹ nghệ phải luôn đổi mới, sáng tạo nhằm đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của thị trường.
- 82 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Không chỉ ở thị trường trong nước mà thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ cũng phát triển không ngừng. Cùng với sự mở rộng giao lưu văn hoá, kinh tế
giữa các nước trên thế giới, hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã có mặt trên thị
trường nhiều nước. Hiện hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã có mặt tại 163 quốc
gia trên thế giới, với các thị trường truyền thống là Mỹ, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Đài Loan… Đặc biệt nước ta đã trở thành nước xuất khẩu thủ công mỹ nghệ đứng
thứ 3 thế giới, sau Trung Quốc và Indonesia. Hiện nay thủ công mỹ nghệ là một
trong 10 mặt hàng xuất khẩu đem về cho đất nước nhiều ngoại tệ nhất. Kim ngạch
xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam năm 2009 đạt 1 tỷ USD, năm 2010
đạt gần 1,5 tỷ USD. Theo dự báo của các chuyên gia thì kim ngạch xuất khẩu mặt
hàng này sẽ tiếp tục tăng do nhu cầu về các sản phẩm thủ công mỹ nghệ trên thế
giới có xu hướng tăng trong những năm tới. Mặc dù hàng thủ công mỹ nghệ của
Việt Nam có nhiều lợi thế xuất khẩu nhưng thực tế kim ngạch xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ của chúng ta còn quá nhỏ bé so với nhu cầu trên thị trường thế giới
chỉ chiếm 0,2% tổng kim ngạch xuất khẩu thế giới. Nguyên nhân do thị phần xuất
khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ bé, hầu như các doanh nghiệp mới
chỉ chú ý đến mở rộng thị trường xuất khẩu mà chưa đẩy mạnh xuất khẩu theo chiều
sâu. Trước tình hình đó việc phát triển thị trường luôn là mục tiêu quan trọng hàng
đầu đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu, thị phần càng lớn thì khối
lượng sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp càng lớn sẽ làm tăng lợi nhuận và vị thế
cạnh tranh cho doanh nghiệp. Thị trường định hướng là EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ.
Đây đều là các thị trường có nhu cầu lớn về mặt hàng thủ công mỹ nghệ, tuy nhiên
yêu cầu về mặt chất lượng cũng như tính thẩm mỹ của các mặt hàng này rất cao.
Điều đó đặt ra thách thức lớn cho các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh mặt
hàng thủ công mỹ nghệ trong nước.
Bên cạnh đó là tốc độ phát triển không ngừng của thị trường hàng thủ công mỹ
nghệ. Việt Nam hiện có khoảng 200 sản phẩm thủ công mỹ nghệ, trong đó đa phần
có lịch sử phát triển lâu đời. Khoảng 15 năm lại đây là giai đoạn phát triển nhanh
của thị trường này. Khối lượng sản phẩm làm ra đã tăng rất nhanh, mẫu mã sản
- 83 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
phẩm cũng được thiết kế đa dạng, ngày càng phù hợp hơn với đời sống hiện tại. Các
doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ lớn mạnh không
ngừng. Có khá nhiều đơn vị đạt kim ngạch xuất khẩu từ 1 triệu USD trở lên, như
công ty TNHH mây tre đan Yên Trường, Văn Minh (Hà Tây), Artexport Việt
Nam,… Thị trường thế giới cũng phát triển với tốc độ chóng mặt. Ở Indonexia, sự
ra đời của Hội đồng tiểu thủ công nghiệp quốc gia đã thúc đẩy sự phát triển của
ngành này. Theo số liệu điều tra, cho đến hiện tại, tỷ lệ lao động ở nông thôn tham
gia vào ngành tiểu thủ công nghiệp là trên 50%. Nhật Bản thì nổi tiếng với nghề
gốm, sơn mài, nghề rèn, nghề chế biến thực phẩm từ nông sản,… Phong trào “mỗi
thôn làng một sản phẩm” đã đem lại doanh thu lớn về xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ cho đất nước này. Với tốc độ phát triển nhanh, thị trường hàng thủ công mỹ
nghệ là một thị trường có mức độ cạnh tranh lớn.
Như vậy, trong thời gian, nhu cầu về mặt hàng này sẽ gia tăng nhanh chóng.
Bên cạnh đó, là nhu cầu về mặt chất lượng sản phẩm ngày càng cao. Thị trường
hàng thủ công mỹ nghệ, đặc biệt là thị trường xuất khẩu sẽ phát triển nhanh. các
doanh nghiệp tham gia thị trường này vừa có điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh sản
xuất kinh doanh nhưng cũng phải đối diện với nhiều thách thức, cạnh tranh.
3.2. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CỦA ARTEXPORT NAM
ĐỊNH TRONG 5 NĂM TỚI
3.2.1. Mục tiêu phát triển thị trường tiêu thụ của Artexport Nam Định
- Mục tiêu của công ty trong thời gian tới là đẩy mạnh xuất khẩu tăng doanh
thu và lợi nhuận cho công ty.
+ Phấn đấu đến năm 2015 chiếm 2,0% thị phần doanh thu xuất khẩu của các
doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nước.
+ Giữ khách hàng cũ và thu hút tìm kiếm khách hàng mới nhằm mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm và đáp ứng các nhu cầu về hàng hóa đối với mọi khách
hàng.
+ Xây dựng và hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng nhằm nâng cao chất
- 84 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí sản xuất giảm giá thành sản phẩm, nâng cao sức
cạnh tranh với các doanh nghiệp khác.
+ Đầu tư phát triển chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
+ Công ty lấy chữ tín với khách hàng làm phương châm hoạt động của mình,
đảm bảo mọi sản phẩm bán ra cho khách hàng thoả mãn yêu cầu về chất lượng sản
phẩm theo hợp đồng với khách hàng, đảm bảo giao hàng đúng thời hạn tiến độ, thủ
tục thanh toán, nhanh gọn, giá cả hợp lý.
- Chỉ tiêu kế hoạch năm 2013 của công ty như sau:
Tổng kim ngạch xuất khẩu: 12,5 triệu USD
Tổng kim ngạch nhập khẩu: 4 triệu USD
Doanh thu: 140 tỷ đồng
Lợi nhuận: 2 tỷ đồng
3.2.2. Định hướng phát triển của Artexport Nam Định giai đoạn 2011 - 2015
3.2.2.1. Đối với thị trường trong nước
Đối với thị trường trong nước thì Artexport Nam Định là công ty có nguồn
lực tài chính eo hẹp, công nghệ sản xuất và khâu marketing còn yếu, sản phẩm
chính của công ty không có sức cạnh tranh về chất lượng, mẫu mã. Nhiệm vụ của
công ty hiện nay là mở rộng quy mô thị trường trong nước. Để thực hiện nhiệm vụ
này thì chiến lược trước mắt của công ty là sử dụng chính sách giá thấp với mặt
hàng nông sản để thu hút khách hàng trong nước làm quen với sản phẩm, thử sử
dụng sản phẩm, dần dần đưa sản phẩm trở nên quen thuộc với thị trường miền Bắc.
Đối với mặt hàng thủ công mỹ nghệ, công ty sử dụng chính sách giá cao vì công ty
cho rằng tâm lý tiêu dùng trong nước là đồng nhất giá cả với chất lượng, đặc biệt là
với mặt hàng này. Tuy nhiên, để có được chỗ đứng ở thị trường trong nước, thu hút
khách hàng của các đối thủ cạnh tranh khác như Barotex, Licola, công ty mây tre lá
thành phố Hồ Chí Minh,... thì công ty đang tìm cách thay đổi mẫu mã, kiểu dáng,
tìm ra công dụng bổ xung, nét độc đáo riêng cho sản phẩm của mình.
- 85 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
3.2.2.2. Đối với thị trường quốc tế
Công ty đề ra chiến lược phát triển là tiếp tục củng cố quan hệ với các bạn
hàng truyền thống như Nga, Ukraine, Hungari, Séc, Ba Lan... Đây là những nước
mà công ty có quan hệ đối tác từ khi còn là một doanh nghiệp nhà nước được bao
cấp. Để củng cố mối quan hệ này, công ty phải liên tục nâng cao chất lượng sản
phẩm. Với mong muốn có được thị phần trên thị trường quốc tế, Arteport Nam
Định nhận thấy rằng công ty thực sự phải tìm ra các chuyển đổi. Bắt đầu từ mục
tiêu, chiến lược kinh doanh cho đến việc thay đổi lại cơ cấu bộ máy quản lý, cung
cách làm việc. Thông qua quá trình tìm hiểu thông tin thị trường, công ty đã xác
định được tiềm năng thị trường của một vài khu vực trọng điểm, dự báo nhu cầu về
các mặt hàng công ty đang sản xuất và kinh doanh trong vài năm tới đây. Kết quả
cho thấy, Nhật Bản là thị trường có nhu cầu về hàng thủ công mỹ nghệ của Việt
Nam khá lớn. Cơ hội cho công ty mở rộng tiêu thụ ở thị trường này là không nhỏ.
Ngoài ra còn có thị trường Châu Phi. Khu vực này tuy kém phát triển nhưng dân số
lại đông, chia thành nhiều tầng lớp. Đây là thị trường không chỉ mới với công ty mà
còn mới với nhiều công ty ở các nước khác nữa.Vì thế nếu tham gia vào thị trường
này sẽ gia tăng cơ hội sẽ cho các công ty nhỏ nói chung và cho Artexport Nam Định
nói riêng.
Tóm lại, với khách hàng nước ngoài, công ty xác định đoạn thị trường sẽ
chọn là khách hàng có mức thu nhập trung bình và tương đối dễ dãi trong tiêu dùng.
Chiến lược lâu dài là chinh phục tầng lớp dân cư có thu nhập cao ưa thích sản phẩm
đẹp, chất lượng tốt, giá cả cạnh tranh. Việc phục vụ tốt khách hàng truyền thống
trong hiện tại cũng sẽ tạo ra cơ hội cho công ty ra nhập thị trường mới do uy tín mà
công ty có được.
3.3. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU
THỤ SẢN PHẨM CHO ARTEXPORT NAM ĐỊNH
3.3.1. Triển khai mở thêm đại lý
3.3.1.1. Căn cứ của giải pháp
- 86 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Để sản phẩm sản xuất ra đến tay người tiêu dùng cuối cùng và đáp ứng được
nhu cầu sử dụng một cách hiệu quả nhất cần phải tổ chức một hệ thống kinh doanh
hợp lý. Thị trường chủ yếu mà công ty hiện tập trung khai thác vẫn là Nam Định,
Hà Nam và Thái Bình. Còn khu vực khác hiệu quả khai thác chưa được đáng kể.
Như đã phân tích ở chương 2, số lượng chi nhánh hiện nay của công ty còn khá ít,
điều này cản trở việc giao tiếp với khách hàng của công ty. Để đạt được mục tiêu
phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm, công ty cần tích cực triển khai mở rộng
mạng lưới phân phối sản phẩm bằng việc mở thêm đại lý.
3.3.1.2. Nội dung và triển khai
- Củng cố thị trường phân phối nội tỉnh: Hiện này trên thị trường tỉnh
Nam Định Artexport Nam Định là doanh nghiệp có uy tín lâu năm nên công ty cũng
có ưu thế trong thị trường nội tỉnh. Tuy nhiên, công ty không thể chủ quan mà phải
tiếp tục củng cố lại hoạt động của các đại lý và của hàng của trên địa bàn tỉnh. Biện
pháp đưa ra để củng cố thị trường phân phối nội tỉnh: đưa ra mức khoán cụ thể cho
mỗi nhân viên (1 nhân viên/ 3 đại lý). Nếu họ bán và thu về số tiền vượt chỉ tiêu đề
ra thì sẽ được thưởng số tiền tương ứng căn cứ vào % doanh số vượt. Ngược lại,
không đạt được chỉ tiêu đề ra sẽ bị phạt một số tiền tương ứng căn cứ vào % doanh
số hụt.
Hình thức này sẽ làm cho nhân viên nhiệt tình hơn, có ý thức trách nhiệm
hơn với công việc góp phần nâng cao năng suất lao động và nâng cao thu nhập cho
họ. Ngoài ra, công ty cũng cần tranh thủ sự chỉ đạo, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận
lợi của các ban ngành trong tỉnh để hoạt động kinh doanh của công ty đạt hiệu quả
cao.
- Triển khai mở thêm đại lý:
+ Hoạt động triển khai:
Giai đoạn trước khi ký kết hợp đồng với đại lý mới
Bước 1: Nghiên cứu thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu tại các khu vực.
Bước 2: Triển khai tìm kiếm ký kết hợp đồng với các đơn vị có khả năng làm đại lý
cho Công ty.
- 87 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Bảng 3.1. Thống kê vị trí mở thêm các cửa hàng, đại lý
Doanh mục Địa điểm Số lượng
Đại lý Đường Văn Cao, thành phố Nam Định 1
1 Đại lý Đường Lê Ngọc Hân, thành phố Thái Bình
1 Đại lý Đường Đinh Bộ Lĩnh, thành phố Phủ Lý
Giai đoạn sau khi ký kết hợp đồng với các đại lý mới
Bước 1: Giám sát, quản lý hoạt động kinh doanh của các đại lý mới
Hỗ trợ xúc tiến hoạt động tiêu thụ cho các đại lý. Như hỗ trợ các công cụ
quảng cáo, như biển, bạt quảng cáo, kệ đặt hàng…
Bước 2: Đánh giá hoạt động kinh doanh của các đại lý, có các phương án hoàn
thiện.
+ Mục tiêu đề ra:
Giai đoạn trước khi ký kết hợp đồng với đại lý mới
Bước 1: Lựa chọn được những khu vực cần mở thêm đại lý ở Hà Nam, Thái Bình
và đồng thời củng cố thị trường ở Nam Định.
Bước 2: Ký kết được 3 hợp đồng làm đại lý của Công ty tại Nam Định, Thái Bình
và Ninh Bình.
Giai đoạn sau khi ký kết hợp đồng với các đại lý mới
Bước 1: Thúc đẩy hoạt động tiêu thụ ở các đại lý mới, tăng doanh thu bán hàng ở
các đại lý này.
Bước 2: Hoàn thiện hoạt động kinh doanh tại các đại lý mới.
+ Ước tính chi phí và hiệu quả trong một năm
- Chi phí cho giai đoạn 1:
- 88 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Chi phí cho giai đoạn 1 bao gồm: Chi phí cho những việc liên quan đến
nghiên cứu thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu: Chi phí thu thập nguồn dữ
liệu thứ cấp và sơ cấp tại các khu vực thị trường nghiên cứu. Thu thập và xử lý
thông tin để phục vụ cho việc ra quyết định. Chi phí cho công việc triển khai tìm
kiếm những đơn vị có đủ khả năng làm đại lý, chi phí hỗ trợ cán bộ đi tìm kiếm thị
trường. Theo thống kê của phòng kế toán, thông thường chi phí cho giai đoạn này
khoảng 30 triệu đồng.
- Chi phí cho giai đoạn 2:
+ Chi phí cho giai đoạn 2 bao gồm: Chi phí hỗ trợ các đại lý về các hình thức
xúc tiến bán và quảng cáo cho sản phẩm của Công ty như biển, bạt quảng cáo, kệ
đạt hàng (mức ước tính khoảng 3.000.000 đồng/đại lý/năm).
Tổng chi phí: 3.000.000 x 3 = 9.000.000 đồng
+ Tỷ lệ chiết khấu cho các đại lý:
Dự tính đại lý mới đạt doanh thu trung bình 48 triệu đồng/tháng của năm ký
hợp đồng đầu tiên. Chi phí chiết khấu/tháng: 48 x 3,5% = 1,68 triệu đồng.
Vậy chi phí chiết khấu cho đại lý/ năm: 1,68 x 12 = 20,16 triệu đồng
Chi phí chiết khấu ước tính của 3 đại lý mới khoảng: 20,16 x 3 = 60,48 triệu đồng
+ Thông thường chi phí quản lý đối với 1 đại lý là 7 trđ/năm Chi phí quản
lý đối với 3 đại lý mới khoảng: 21 triệu đồng
Tổng chi phí cho giai đoạn 2: 9 + 21 + 60,48 = 90,48 triệu đồng
Tổng chi phí mở thêm đại lý: 30 + 90,48 = 120,48 triệu đồng
- Doanh thu ước tính:
Doanh thu bán hàng trung bình của 1 đại lý mới ước tính trong 1 tháng của
năm đầu tiên là 45 triệu đồng, doanh thu sẽ tăng dần các năm tiếp theo. Ước tính,
doanh thu trung bình của 1 đại lý là 48 triệu đồng/tháng.
Tổng doanh thu bán hàng ước tính trung bình của 1 đại lý mới trong năm ký
hợp đồng đầu tiên khoảng: 48 x 12 = 576 triệu đồng
Tổng doanh thu ước tính của 3 đại lý mới trong năm đầu tiên khoảng: 576 x
3 = 1.728 triệu đồng.
- 89 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Dưới đây là bảng kết quả ước tính của giải pháp mở thêm đại lý:
Bảng 3.2. Kết quả ước tính của giải pháp mở thêm các đại lý
(Đơn vị: VND)
STT Chỉ tiêu Giá trị
Doanh thu bán hàng của các đại lý mới 1 1.728.000.000
Khoản giảm trừ doanh thu (1% doanh thu) 2 17.280.000
3 Giá vốn hàng bán 1.560.000.000
4 Lợi nhuận gộp (1-2-3) 150.720.000
5 Tổng chi phí 120.480.000
6 Lợi nhuận trước thuế (4-5) 30.240.000
Qua bảng trên cho thấy: năm 2013, nếu Công ty đẩy mạnh công tác nghiên
cứu mở rộng thị trường thì lợi nhuận tăng thêm là 30 triệu đồng so với năm 2011.
Như vậy, sau khi thực hiện giải pháp này, tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty ở
khu vực Nam Định – Hà Nam – Thái Bình được đẩy mạnh, từ đó phát triển được thị
trường tiêu thụ sản phẩm ở khu vực này.
3.3.2. Đẩy mạnh công tác quảng cáo
3.3.2.1. Căn cứ của giải pháp
Như chương 2 đã phân tích, một trong những nguyên nhân khiến cho hoạt
động phát triển thị trường tiêu thụ còn nhiều hạn chế là do công ty chưa tập trung
đẩy mạnh giới thiệu từng nhóm sản phẩm đến khách hàng. Nhu cầu trên thị trường
rất lớn nhưng khách hàng không biết đến sản phẩm cũng như nơi phân phối để mua
các sản phẩm của công ty do công tác quảng cáo còn yếu kém. Còn việc quảng cáo
thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng hầu như không có. Đây là một
trong những điểm yếu của Artexport Nam Định trong công tác phát triển thị trường
tiêu thụ sản phẩm như đã phân tích trong chương 2. Vì vậy, tác giả đề xuất giải
pháp đẩy mạnh công tác quảng cáo. Trong thời gian tới công ty cần đầu tư hơn nữa
- 90 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
cho hoạt động này. Công tác quảng cáo được đẩy mạnh sẽ góp phần giúp công tác
bán hàng phát triển, tăng lượng hàng bán ra, tăng doanh thu và tăng lợi nhuận cho
công ty.
3.3.2.2. Nội dung của giải pháp
Có rất nhiều cách để quảng cáo sản phẩm, quảng cáo trên các phương tiện
truyền thông như báo chí, đài phát thanh, truyền hình, Internet…. Đối với một công
ty xuất nhập khẩu như Artexport Nam Định thì sử dụng phương thức quảng cáo trên
Internet là hiệu quả nhất. Cũng như các loại hình quảng cáo khác, quảng cáo trên
mạng nhằm cung cấp thông tin, đẩy nhanh tiến độ giao dịch giữa người mua và người
bán. Nhưng quảng cáo trên web khác hẳn quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại
chúng khác, nó giúp người tiêu dùng có thể tương tác với quảng cáo. Khách hàng có
thể nhấn vào trang quảng cáo để lấy thông tin hoặc mua sản phẩm cùng mẫu mã trên
quảng cáo đó. Vì vậy tác giả đề xuất biện pháp quảng cáo trên Internet.
- Nội dung quảng cáo:
+ Thành lập trang website có hình ảnh và lời giới thiệu với 2 ngôn ngữ là
tiếng Việt và tiếng Anh về các sản phẩm của công ty, trụ sở chính, các đại lý cùng
các thông tin để khách hàng có thể liên hệ với công ty.
+ Quảng bá website của công ty trên Google
- Công ty thực hiện: Công ty Creative Việt Nam (Hà Nội). Đây là công ty uy
tín trong lĩnh vực quảng cáo website và có mức giá phù hợp với nguồn lực tài chính
của công ty.
- Đối tượng hướng tới: Khách hàng trong và ngoài nước
3.3.2.3. Ước tính chi phí và lợi ích của giải pháp
- Chi phí thiết kế thiết kế trang web là 5 triệu đồng/ lần. Artexport Nam Định
dự kiến trong một năm sẽ thay đổi mẫu thiết kế 3 lần. Mỗi lẫn thay đổi là 1 triệu
đồng/lần. Vậy chi phí cho thiết kế trang web trong 1 năm của Công ty là: 5.000.000
+ 1.000.000 x 3 = 8.000.000 đồng
- Chi phí đăng ký tiên miền: 700.000 đ/năm
- Chi phí duy trì website: 200.000 x 12= 2.400.000 đồng
- 91 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
- Chi phí quản lý website: doanh nghiệp thuê một cán bộ tin học để quản lý,
cập nhật các thông tin trên website của công ty. Chi phí cho nhân viên quản lý
website (bao gồm lương, phụ cấp,…): 4.000.000 x 12 = 36.000.000 đồng
- Tiến hành quảng cáo website trên Google: vị trí hiển thị trên Google có vị
trí Vip và vị trí thông thường. Do nguồn lực tài chính của công ty còn hạn chế nên
công ty sẽ tiến hành chọn vị trí hiển thị từ khóa trang web của công ty ở vị trí thông
thường trên trang Google. Dưới đây là bảng báo giá công ty Creative đưa ra:
Bảng 3.3. Bảng giá quảng cáo Google hiển thị tại vị trí thông thường
Mô tả Gói 1 Gói 2 Gói 3 Gói 4 Gói 5 Gói 6
Số từ khóa 1-3 1-5 1-10 1-15 1-20 1-30
Phí trọn 1.400.000 1.900.000 2.800.000 4.200.000 5.300.000 8.200.000
gói/tháng
(VND)
(Nguồn: Công ty Creative năm 2011)
Công ty lựa chọn gói quảng cáo số 3: số từ khóa là 10, quảng cáo trong 3
tháng là tháng 3, tháng 7, tháng 10.
Chi phí quảng cáo trên trên Google của công ty: 3 x 2.800.000 =
7.400.000 đ
- Tổng chi phí quảng cáo trên Internet của Công ty trong 1 năm là: 11,4 + 7,4
+ 36 = 54,4 triệu đồng.
Theo thống kê của công ty, thông thường khi áp dụng một chương trình
quảng cáo như tổ chức gian hàng giới thiệu và dùng thủ sản phẩm, doanh thu của
công ty ở khu vực tổ chức gian hàng tăng lên khoảng 12%. Vì vậy, dự kiến khi áp
dụng biện pháp quảng cáo trên thì doanh thu của công ty tăng thêm 10% tức là tăng
thêm: 193.648.784 x 10% = 19.364.878,4 đồng.
Quảng cáo sẽ giúp cho người tiêu dùng nhận biết được những lợi ích và sự
khác biệt của sản phẩm với các sản phẩm khác, đồng thời giúp khách hàng hiểu biết
sâu sắc về công ty từ đó giúp họ ra quyết định mua hàng một cách nhanh chóng.
Cùng với thời gian, công ty sẽ dần khẳng định được vị thế của mình trong lòng
- 92 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
người tiêu dùng và tạo dựng được hình ảnh của mình trong tâm trí khách hàng trong
và ngoài nước. Qua đó góp phần làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho công ty.
Để thấy rõ hiệu quả của giải pháp, ta lập bảng phân tích sau:
Bảng 3.4. Dự kiến kết quả của giải pháp đẩy mạnh công tác quảng cáo
(ĐVT: đồng)
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2013 Chênh lệch
Số tiền %
1. Tổng doanh thu 193.648.784 213.013.662,4 19.364.878,4 110
2. Giá vốn hàng bán 167.698.472 180.275.857 12.577.385 107,5
17.837.526 2.841.124 118,9 4. Tổng lợi nhuận 15.032.402
16.465.580 3.078.930 123 5. LN sau thuế 13.386.650
Qua bảng 3.4 cho thấy: Năm 2013, nếu Artexport Nam Định đẩy mạnh công
tác quảng cáo thì doanh thu tăng 10% tương ứng với 19.364.878,4 đồng so với năm
2011. Khi đó lợi nhuận trước thuế của công ty sẽ tăng lên so với năm 2011 là 18,9%
tương ứng với 2.841.124 đồng. Như vậy sau khi thực hiện giải pháp 2, tình hình tiêu
thụ sản phẩm của công ty được đẩy mạnh, thông qua quảng cáo thương hiệu của sản
phẩm, hình ảnh của công ty thu hút được nhiều khách hàng. Vì vậy, quảng cáo góp
phần quan trọng thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đạt hiệu quả
cao, giúp công ty đạt được mục tiêu phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm.
3.3.3. Một số giải pháp định hướng khác
3.3.3.1. Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của phòng kế hoạch thị
trường và phòng kinh doanh
* Căn cứ của giải pháp
Như chương 2 đã phân tích, chất lượng nhân viên, đặc biệt là nhân viên kinh
doanh của công ty chưa cao. Muốn đẩy mạnh hiệu quả của hoạt động phát triển thị
trường tiêu thụ sản phẩm, cần phải nâng cao chất lượng cán bộ thị trường, cụ thể là
- 93 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
cán bộ phòng kế hoạch thị trường và cán bộ phòng kinh doanh. Trước mắt, cần đào
tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu thị
trường nước ngoài cũng như giao tiếp với khách hàng nước ngoài còn hạn chế do
trình độ ngoại ngữ chưa cao. Vì vậy, công ty cũng cần phải đào tạo để nâng cao
trình độ tiếng Anh cho cho cán bộ hai phòng này.
* Nội dung của giải pháp
- Đào tạo để trang bị kiến thức chuyên môn nghiệp vụ: cử cán bộ 2 phòng
này đi học lớp Nghiệp vụ xuất nhập khẩu và lớp Quản trị bán hàng. Đây là hai lớp
tập huấn ngắn hạn, thời gian và chi phí học phù hợp với nhu cầu về nhân lực của
công ty.
+ Lớp Nghiệp vụ xuất nhập khẩu:
Thời gian: 1 tuần (học tập trung)
Địa điểm: Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội
Số cán bộ đi học: 3 người
Chi phí: + Học phí: 1.250.000đ/ người
+ Phụ cấp (ăn ở, đi lại): 2.000.0000đ/người
+ Tổng chi phí: 2.250.000 x 3 = 6.750.000đ
+ Lớp Quản trị bán hàng:
Thời gian: 1 tuần (học tập trung)
Địa điểm: Trường Đại học Thương Mại Hà Nội
Số cán bộ đi học: 5 người
Chi phí: + Học phí: 1.050.000đ/ người
+ Phụ cấp (ăn ở, đi lại): 2.000.0000đ/người
+ Tổng chi phí: 3.050.000 x 5 = 15.250.000đ
- Đào tạo nâng cao trình độ tiếng Anh: cử cán bộ đi học lớp Tiếng Anh Tổng
quát
Thời gian: 2 tháng (giờ học: ngoài giờ hành chính, cán bộ đi học tự
lựa chọn)
- 94 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Địa điểm: Trung tâm ngoại ngữ Ocean (thành phố Nam Định)
Số cán bộ đi học: 3 người
Chi phí: + Học phí: 1.600.000đ/ người
+ Phụ cấp: 5.00.0000đ/người
+ Tổng chi phí: 2.100.000 x 3 = 6.300.000đ
- Để đảm bảo chất lượng học tập, ban đầu công ty chỉ tạm ứng 50% chi phí.
Sau khi kết thúc khóa tập huấn, khi các học viên phải trình chứng chỉ hoàn thành
khóa học với công ty thì mới được thanh toán 50% chi phí còn lại.
* Kết quả mong đợi từ giải pháp: Tác giả mong đợi rằng, sau khi được đi
tham gia các lớp tập huấn kể trên, các cán bộ được cử đi học sẽ có được vốn hiểu
biết các nghiệp vụ xuất nhập khẩu, kỹ năng bán hàng, kỹ năng ứng xử, giao tiếp với
khách hàng, và đặc biệt là có thể bắt đầu sử dụng tiếng Anh trong quá trình giao tiếp
với khách hàng nước ngoài, tiếp cận với các tài liệu nước ngoài,… Hơn nữa, sau khi
có trình độ cao về các nghiệp vụ này, các nhân viên được cử đi học có thể truyền lại
kinh nghiệm, hiểu biết cho các nhân viên khác của phòng ban.
Bảng dưới đây dự tính kết quả của biện pháp nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực phòng kế hoạch thị trường và phòng kinh doanh
Bảng 3.5. Dự tính kết quả của công tác đầu tư nâng cao chất lượng nhân lực
phòng kế hoạch thị trường và phòng kinh doanh
STT Chỉ tiêu Giá trị
Số nhân viên nắm vững nghiệp vụ 3 người 1
xuất nhập khẩu
2 Số nhân viên có kỹ năng giao tiếp 5 người
với khách hàng tốt
3 Số nhân viên sử dụng được tiếng 3 người
Anh trong giao tiếp
Như vậy, sau khi thực hiện biện pháp trên công ty sẽ nâng cao được chất
lượng nhân viên ở 2 phòng kế hoạch thị trường và phòng kinh doanh, từ đó có tác
- 95 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
động trực tiếp đến hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ của công ty. Trong thời
gian tới, công ty nên tập trung đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của toàn
doanh nghiệp. Bên cạnh việc đầu tư nây cao trình độ, công ty nên tiến hành đào tạo
để nâng cao văn hóa doanh nghiệp. Đây là một trong những nội dung được rất nhiều
doanh nghiệp hiện nay quan tâm. Nguồn nhân lực chất lượng cao là đòn bẩy rất lớn
đối với hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ nói riêng và hoạt động sản xuất kinh
doanh nói chung của công ty.
3.3.3.2. Tạo mối liên kết với văn phòng thương mại trong nước để phát triển thị
trường xuất khẩu
* Căn cứ của giải pháp: Đối với thị trường nước ngoài, việc nghiên cứu thị
trường cũng như quảng bá sản phẩm, tìm kiếm khách hàng với doanh nghiệp trong
nước khá khó khăn. Để tạo cơ hội tiếp cận với thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp
cần liên hệ với một tổ chức uy tín nhằm giúp doanh nghiệp liên kết với thị trường
trong và ngoài nước. Tác giả đề xuất Artexport Nam Định nên tạo mối liên hệ với
Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam. Đây là tổ chức hoạt động nhằm mục
đích xúc tiến và hỗ trợ các hoạt động thương mại, đầu tư, hợp tác khoa học – công
nghệ, tạo sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước
* Nội dung của giải pháp:
Các hoạt động liên hệ với Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam do
phòng Kế hoạch thị trường đảm nhiệm:
- Đăng ký làm hội viên của VCCI
- Tích cực thực hiện nghĩa vụ khi là thành viên của VCCI: tham gia các cuộc
hội thảo đặc biệt là các hội thảo chuyên ngành, gửi bài tới trang web của VCCI,…
- Cố gắng tham gia các cuộc triển lãm quốc tế trong lĩnh vực kinh doanh của
công ty do VCCI tổ chức
- Liên hệ để quảng bá hình ảnh trang web của doanh nghiệp trên trang web
VCCI.
* Kết quả mong đợi từ giải pháp:
Khi tham gia vào Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, Artexport
- 96 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Nam Định có nhiều cơ hội liên hệ và quảng bá hình ảnh của mình đối với khách
hàng, đặc biệt là khách hàng nước ngoài. Từ đó, tạo được nhiều mối quan hệ thương
mại, thúc đẩy doanh thu xuất khẩu của công ty gia tăng. Việc tìm kiếm được nhiều
bạn hàng mới sẽ giúp doanh nghiệp phát triển, mở rộng được thị trường tiêu thụ của
mình.
3.3.3.3. Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và tìm kiếm thị trường
* Căn cứ của giải pháp: Vấn đề tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm có vai
trò vô cùng quan trọng với doanh nghiệp, đặc biệt là với doanh nghiệp kinh doanh
xuất nhập khẩu như Artexport Nam Định. Do vậy hoạt động nghiên cứu thị trường
của các doanh nghiệp cần phải được đầu tư thích đáng. Mục tiêu của nghiên cứu thị
trường là tìm hiểu cơ hội kinh doanh, xác định khả năng bán hàng cung cấp thông
tin để cơ sở sản xuất tổ chức sản xuất. Nội dung của việc nghiên cứu thị trường bao
gồm nghiên cứu nhu cầu về chủng loại, số lượng, chất lượng sản phẩm, đối thủ cạnh
tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải nghiên cứu để tìm ra xu hướng tiêu
dùng của từng thị trường để có thể tổ chức sản xuất và xuất khẩu theo nhu cầu và thị
hiếu của thị trường. Đối với mặt hàng thủ công mỹ nghệ, việc nghiên cứu thị cần
phải tìm ra thị hiếu của khách hàng ở từng khu vực về kiểu dáng, hoa văn trang trí,
chủng loại sản phẩm để công ty có thể đưa ra những loại sản phẩm phù hợp với
từng thị trường.
* Nội dung của giải pháp: :
Để khắc phục được những bất cập trong công tác nghiên cứu thị trường hiện
nay, thời gian tới đơn vị cần tập trung vào một số vấn đề sau:
- Hoàn thiện hệ thống thông tin nội bộ:
+ Đầu tư xây dựng, nâng cấp và hoàn thiện, trang web của công ty cổ phần
xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Artexport Nam Định giúp công ty quảng bá được
thương hiệu, thu hút thêm khách hàng và thu thập thêm một vài thông tin mà khách
hàng muốn phản ánh.
+ Tổ chức tập huấn, đào tạo nhân viên để có thể sử dụng thành thạo tất cả
các phần mềm chuyên dụng được trang bị nhằm tin học hóa toàn bộ công tác quản
- 97 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
lý trong kinh doanh.
+ Tăng cường việc thu thập thông tin nội bộ qua các hội nghị cán bộ, các
cuộc họp công nhân viên, hội nghị khách hàng...
- Tăng cường thu thập thường xuyên các thông tin bên ngoài:
+ Huấn luyện cho lực lượng các phòng ban trực tiếp làm việc với khách hàng
như phòng kế hoạch thị trường, phòng quản lý chất lượng thu thập thông tin từ phía
khách hàng.
+ Áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để thu thập các thông tin đánh giá chất
lượng hàng hóa, nhằm kịp thời phát hiện các tồn tại, khiếm khuyết trong quá trình
sản xuất.
+ Để tìm hiểu về các đối thủ cạnh tranh, có thể thông qua các hình thức sau:
Mua và sử dụng thử các sản phẩm, dịch vụ của đổi thủ cạnh tranh; cử nhân viên
khảo sát trực tiếp các cửa hàng giao dịch của đối thủ cạnh tranh; tham dự lễ khai
trương, các hội nghị, các cuộc triển lãm thương mại của đối thủ cạnh tranh; tổ chức
các cuộc tiếp xúc với những công nhân viên cũ và những công nhân viên đang làm
việc, những người phân phối, những người cung ứng, khách hàng của đối thủ cạnh
tranh; sưu tầm các quảng cáo, các báo cáo tổng kết, tìm kiếm thông tin trên mạng
Internet, các Website..... đặc biệt là các báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh hàng
tháng mà đối thủ cạnh tranh gửi sở thống kê tỉnh hoặc thông qua các cục hoặc chi
cục hải quan.
+ Ngoài ra tùy theo tình hình cụ thể cũng như mức độ quan trọng và cần thiết
của thông tin, đơn vị có thể sử dụng biện pháp thuê các công ty nghiên cứu thị
trường chuyên nghiệp trực tiếp thực hiện hoặc mua các thông tin từ bên ngoài.
* Kết quả mong đợi từ giải pháp:
Nghiên cứu thị trường là bước đầu tiên thiết yếu của hoạt động phát triển thị
trường tiêu thụ sản phẩm. Trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu thị trường, các đối thủ
cạnh tranh, công ty sẽ tìm ra những cơ hội, thách thức trong kinh doanh cũng như
điểm mạnh, điểm yếu của mình từ đó xác định thị trường tiêu thụ cho doanh nghiệp.
Việc tăng cường nghiên cứu thị trường công ty không nên chỉ dựa vào các nguồn
- 98 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
thông tin có sẵn mà nên thường xuyên tham gia các hội chợ triển lãm thương mại
hoặc điều tra thị trường trực tiếp để có được những thông tin chính xác về nhu cầu
của khách hàng và tìm kiếm thêm những bạn hàng mới. Ngoài ra công ty có thể mở
văn phòng đại diện tại nước ngoài hay chào hàng trực tiếp. Như vậy hiệu quả sẽ cao
hơn do việc nắm bắt tốt hơn nhu cầu của thị trường.
3.3.3.4. Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm
* Căn cứ của giải pháp:
Để phát triển thị trường xuất khẩu cho mặt hàng thủ công mỹ nghệ thì yếu tố
chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm có vai trò vô cùng quan trọng vì đây là
mặt hàng vốn mang tính nghệ thuật cao thoả nhằm mãn nhu cầu thưởng thức cái
đẹp của khách hàng. Do đó, công ty cần có những biện pháp nâng cao tính cạnh
tranh cho mặt hàng thủ công mỹ nghệ thông qua chất lượng sản phẩm với việc nâng
cao chất lượng, đa dạng mẫu mã, chủng loại sản phẩm.
* Nội dung của giải pháp:
- Đối với mặt hàng nông sản: yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến chất lượng mặt
hàng nông sản chính là nguồn nguyên liệu. Vì vậy, công ty cần chú trọng đến khâu
nhập nguyên liệu đầu vào. Nguồn nguyên liệu phải là các cơ sở sản xuất có uy tín,
đảm bảo chất lượng nông sản nhập tươi ngon, và đặc biệt an toàn.
- Đối với mặt hàng len: đây là mặt hàng công ty trực tiếp sản xuất. Muốn nâng
cao chất lượng sản phẩm, trước hết cần chú trọng nâng cao chất lượng người lao
động. Bên cạnh đó, công ty cần đầu tư cho máy móc, dây chuyền sản xuất. Kiểu
dáng, mẫu mã của mặt hàng này cần phải được thiết kế sao cho phù hợp với xu
hướng người tiêu dùng hiện nay.
- Đối với mặt hàng mây tre đan, thủ công mỹ nghệ, hàng thêu ren: Hiện nay
các sản phẩm làm này của công ty còn đơn điệu về kiểu dáng, mẫu mã. Để nâng cao
khả năng cạnh tranh cho mặt hàng này công ty cần đa dạng hoá sản phẩm, làm
phong phú kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm. Chẳng hạn bên cạnh các sản phẩm bàn
ghế, mành tre trúc, Công ty có thể phát triển thêm các mặt hàng như giỏ hoa, mũ,
gối mây, chiếu cói…Ngoài ra để nâng cao chất lượng cho mặt hàng này công ty cần
- 99 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
quản lý tốt việc sử lý nguyên liệu tại các làng nghề, đầu tư vốn và máy móc cho họ
để thu mua và chế biến nguyên liệu được tốt hơn. Hiện nay trình độ tay nghề của
những người thợ thủ công chưa đồng đều, công ty nên cùng với các cơ sở này đào
tạo nâng cao tay nghề, tăng số lượng thợ thủ công phục vụ cho xuất khẩu.
* Kết quả mong đợi từ giải pháp:
Có thể khẳng định, chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng nhất quyết định
thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, việc doanh nghiệp tập trung
nâng cao chất lượng sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của mình. Việc
đảm bảo chất lượng sản phẩm không chỉ phụ thuộc vào khâu nguyên liệu đầu vào
hay khâu sản xuất, mà khâu kiểm tra đầu ra cũng cần được chú trọng, đảm bảo sản
phẩm của công ty khi đưa ra thị trường là sản phẩm đạt tiêu chuẩn về chất lượng.
Mặt khác, bên cạnh việc nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, thì công ty
cũng cần đa dạng hóa giá cả sản phẩm, sao cho phù hợp với từng thị trường.
3.3.3.5. Củng cố nguồn cung cấp đầu vào, tạo ổn định cho sản xuất kinh doanh
* Căn cứ của giải pháp:
Mô hình 5 áp lực của Porter đã chỉ rõ, áp lực từ phía các nhà cung cấp đối
với một doanh nghiệp là rất lớn. Có được nguồn cung cấp đầu vào ổn định và chất
lượng cao, doanh nghiệp mới duy trì được quá trình sản xuất kinh doanh, đảm bảo
thực hiện đúng các hợp đồng với khách hàng.
* Nội dung của giải pháp:
- Thứ nhất là công ty phải chọn nguồn cung đầu vào đảm bảo chất lượng vì
mặt hàng thủ công mỹ nghệ khi xuất khẩu ra nước ngoài chịu ảnh hưởng bởi thời
tiết, những biến đổi về môi trường các nước đặc biệt là các sản phẩm mây tre đan.
Vì thế trong khâu thu mua Công ty cần phải giám định chất lượng sản phẩm một
cách chặt chẽ và có yêu cầu cao đối với các cơ sở sản xuất về bảo quản hàng hoá.
- Thứ hai, do mặt hàng thủ công mỹ nghệ được mua để thoả mãn nhu cầu thẩm
mỹ nên thường được mua với số lượng ít nhưng khách hàng thích chọn mua nhiều
loại sản phẩm khác nhau nên công ty cần chọn nguồn hàng phong phú để đáp ứng
nhu cầu của thị trường, như vậy khả năng tiêu thụ sản phẩm sẽ lớn hơn.
- 100 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
- Thứ ba, nguồn hàng cung ứng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh
tranh bằng giá cả, nếu giá thu mua cao thì giá xuất khẩu sẽ cao. Vì thế, bên cạnh
việc đảm bảo chất lượng sản phẩm, công ty cũng nên tìm những nguồn cung ứng
với giá cả phải chăng, đảm bảo sự cạnh tranh cho sản phẩm của mình. Những nguồn
cung ứng giá rẻ như các làng nghề, hàng nông sản được thu mua trực tiếp từ nơi sản
xuất,....
- Thứ tư, công ty nên tiến hành mua hàng trực tiếp: tại khu vực phía Bắc các
cán bộ kinh doanh trực tiếp thăm dò, tìm kiếm, kiểm tra nguồn hàng. Còn ở khu vực
phía Nam chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh trực tiếp ký hợp đồng mua hàng.
Việc mua hàng trực tiếp sẽ giúp công ty nắm rõ được tình hình hàng hoá, tránh bị
động khi có sự cố xảy ra, thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ với các cơ sở sản xuất
lại không phải trả chi phí cho trung gian.
- Nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng tốt hơn, ngoài việc lựa chọn nguồn
hàng có chất lượng ổn định công ty cần kết nối nhu cầu của khách hàng trên thị
trường với người sản xuất, giới thiệu mẫu mã mới để hàng hoá được sản xuất phong
phú hơn, nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm.
* Kết quả mong đợi từ giải pháp:
Có nguồn cung cấp đầu vào ổn định, hàng hóa ở đầu ra của công ty sẽ đảm
bảo về mặt số lượng và chất lượng. Bên cạnh đó, việc giữ gìn chữ tín với khách
hàng cũng được công ty thực hiện khá tốt. Có thể nói việc phối hợp chặt chẽ giữa
công ty và các cơ sở sản xuất giúp cho công ty phát triển được nguồn hàng từ đó
thúc đẩy phát triển thị trường xuất khẩu cho công ty.
- 101 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Dựa trên cơ sở lý luận kết hợp với thực tiến hoạt động sản xuất kinh doanh tại
công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ tỉnh Nam Định, chương thứ 3
của luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển thị trường tiêu thụ sản
phẩm cho công ty. Các giải pháp bao gồm:
- Triển khai mở thêm đại lý
- Đẩy mạnh công tác quảng cáo
Ngoài ra, luận văn còn đưa ra một số giải pháp mang tính định hướng khác
như:
- Đầu tư nâng cao chất lượng nhân viên phòng Kế hoạch – Thị trường và
phòng Kinh doanh
- Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và tìm kiếm thị trường
- Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm
Hiệu quả sau khi thực hiện các giải pháp là thị trường tiêu thụ sản phẩm của
công ty sẽ được mở rộng cả về quy mô lẫn chiều sâu. Tuy nhiên để thực hiện các
giải pháp trên cần có sự nỗ lực cố gắng của ban lãnh đạo cũng cũng như sự phối
hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban, phân xưởng, chi nhánh của công ty. Phát triển
thị trường tiêu thụ sản phẩm chính là mục tiêu mà các doanh nghiệp đều theo đuổi.
- 102 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Thị trường luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp. Trong nền
kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
liên quan trực tiếp tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Qua phân tích tình
hình kinh doanh của công ty cổ phẩn xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ tỉnh Nam
Định, ta thấy công tác phát triển thị trường đã được công ty chú ý đúng mức và đạt
được một số kết quả đáng khích lệ. Bên cạnh việc tích cực tìm kiếm thị trường mới,
công ty cũng chú trọng củng cố các mối quan hệ truyền thống... Tuy nhiên công ty
hầu như mới chỉ dừng lại ở phát triển thị trường tiêu thụ theo chiều rộng mà chưa
chú trọng vào phát triển thị trường tiêu thụ theo chiều sâu. Các hoạt động phát triển
thị trường tiêu thụ sản phẩm từ khâu nghiên cứu đến khâu thực hiện chưa thực sự
gắn kết lại với nhau. Điều này ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh của
công ty. Để giải quyết những vướng mắc đó, công ty cần khai thác tốt các nguồn lực
của mình, liên kết giữa các bộ phận, tiến hành đồng bộ các hoạt động, nâng cao khả
năng cạnh tranh,... nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững. Với những nỗ lực
của bản thân cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước, Artexport Nam Định đang dần vượt
qua được những thử thách, khắc phục khó khăn để phát triển thị trường tiêu thụ sản
phẩm, nâng cao vị thế của mình.
Bên cạnh đó, luận văn cũng đề xuất một số kiến nghị sau với các cấp có thẩm
quyền nhằm hỗ trợ thúc đẩy sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ nói chung cũng như
cho Artexport Nam Định:
1. Tăng mức ưu đãi cho doanh nghiệp trong nước bằng hoặc cao hơn doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Hiện nay tuy vị trí của đầu tư trong nước đã được nâng cao nhưng vẫn còn
một số lĩnh vực mà doanh nghịêp trong nước chưa được đối xử bằng hoặc cao hơn
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thực tiễn này chưa phù hợp “ vốn trong
nước là quyết định, vốn ngoài nước là quan trọng ”
- Thực trạng hiện nay là các đơn vị sản xuất kinh doanh đều thiếu vốn, không
vay được vốn hoặc không đủ sức vay vốn với lãi suất cao để tổ chức sản xuất – kinh
- 103 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
doanh (mua nguyên vật liệu để sản xuất hoặc mua sản phẩm để tiêu thụ trong nước
và xuất khẩu). Do vậy để khuyến khích các doanh nghiệp này, Nhà nước nên đề ra
các chính sách ưu đãi về vốn kinh doanh như: ưu đãi về thủ tục vay vốn, ưu đãi về
lãi suất, thời hạn trả nợ,…
2. Hỗ trợ các đơn vị sản xuất kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ về xúc tiến
thương mại
- Hỗ trợ một phần chi phí thuê gian hàng khi các đơn vị tham gia hội chợ ở
nước ngoài. Việc hỗ trợ này có thể được thực hiện thông qua một Công ty quốc
doanh có nhiệm vụ tổ chức tham gia các hội chợ, triển lãm quốc tế.
- Thành lập thêm một số các trung tâm xúc tiến thương mại (chủ yếu để
khuếch trương sản phẩm) tại một số khu vực như Đức hoặc Pháp, Mỹ, Đan Mạch...
tương tự như Việt Nam Square tại Nhật. Các trung tâm này có gian hàng cho các
doanh nghiệp thuê để trưng bày chào hàng xuất khẩu với giá ưu đãi. Riêng với hàng
thủ công mỹ nghệ, Nhà nước nên cho các doanh nghiệp gửi hàng miễn phí.
3. Hỗ trợ giảm nhẹ cước phí vận chuyển, lệ phí tại cảng, khẩu
Hàng thủ công mỹ nghệ có đặc điểm là cồng kềnh, giá trị không cao như
mây, tre đan nên cần có chính sách hỗ trợ, ưu đãi, cụ thể như sau:
- Hàng thủ công mỹ nghệ chuyển từ nơi sản xuất đến các cảng khẩu để
giao hàng xuất khẩu, trên tất cả các loại phương tiện vận chuyển đều được giảm
30% hoặc 50% cước vận chuyển theo biểu giá cước hiện hành. Chủ phương tiện
vận chuyển có thể được phép tăng giá cước vận chuyển các loại hàng hoá khác
để bù lại hoặc được Nhà Nước hỗ trợ thông qua việc công nhận giảm thu trong
hạch toán thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp hàng năm.
- Giảm 50% (theo biểu giá hiện hành) tiền cước phí, bưu phí gửi hàng mẫu
là hàng thủ công mỹ nghệ cho khách hàng nước ngoài hoặc gửi mẫu hàng tham
dự hội trợ – triễn lãm nước ngoài.
4. Cung ứng nguyên vật liệu cho phát triển sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
- 104 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
Để tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất khắc phục một số khó khăn hiện nay
trong việc tiếp cận nguồn nguyên liệu khai thác ở trong nước, nhất là một số loại gỗ,
mây tre, lá..., đề nghị Nhà nước thức hiện một số chính sách biện pháp sau:
- Đối với gỗ nguyên liệu khai thác từ rừng tự nhiên sử dụng biện pháp giao
hạn mức cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ, đề
nghị ưu tiên cho các đơn vị có hợp đồng xuất khẩu gỗ mỹ nghệ. Các đơn vị này phải
quyết toán việc sử dụng gỗ nguyên liệu cho các hợp đồng để được giao hạn mức
cho các năm sau và được nhận gỗ trực tiếp từ các đơn vị khai thác gỗ.
- Đối với các loại nguyên liệu khác như song, mây, tre, lá... đề nghị Nhà nước
có chính sách hỗ trợ xây dựng các vùng trồng nguyên liệu phục vụ cho xuất khẩu để
vẫn có thể mở rộng quy mô sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ của đất nước mà vẫn
đảm bảo cân bằng môi trường, phát triển bền vững. Có thể khuyến khích nông dân
trồng những nguyên liệu này bằng cách cho họ vay vốn dài hạn hoặc thành lập các
nông trường chuyên canh, tổ chức nghiên cứu giống mới ngắn ngày năng suất cao.
5. Một số vấn đề quản lý Nhà nước
- Đối với hàng thủ công mỹ nghệ thì thị trường xuất khẩu là một thị trường
quan trọng. Tỷ giá hối đoái là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng
cao sức cạnh tranh cho xuất khẩu, trong những năm gần đây tỷ giá hối đoái đã
tăng lên, gây bất lợi cho xuất khẩu… hy vọng rằng trong thời gian tới chính sách
tỷ giá hối đoái của chúng ta sẽ linh hoạt hơn, góp phần đưa đồng Việt Nam về
giá trị thực của nó.
- Đảm bảo thông tin hai chiều kịp thời nhanh chóng và chính xác thực hiện
tốt các quy định báo cáo thống kê giữa doanh nghiệp với các cơ quan quản lý
Nhà Nước về thương mại các cơ quan quản lý cung cấp thông tin, tư vấn nghiệp
vụ về hàng hoá, thị trường cho các doanh nghiệp.
- Xem xét thành lập một tổ chức hỗ trợ phát triển ngành nghề thủ công mỹ
nghệ. Tổ chức này sẽ là một trung tâm hỗ trợ phát triển ngành nghề truyền thống.
Trung tâm sẽ có trách nhiệm hoạch định chiến lược và chính sách phát triển, đề ra
- 105 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
các dự án xây dựng vùng nguyên liệu phục vụ cho sản xuất. Đồng thời, nó còn có
nhiệm vụ tổ chức thu thập, xử lý và cung cấp thông tin từ thị trường cho các doanh
nghiệp. Hướng dẫn và kiểm tra các hoạt động xúc tiến thương mại, gắn kết các đơn
vị kinh doanh khi tham gia các hội chợ quốc tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của
các doanh nghiệp trong nước.
- 106 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy
Luận văn: Thạc sỹ QTKD
Trường ĐHBK Hà Nội
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ tỉnh Nam Định: Báo cáo
tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty qua các năm 2009,
2010, 2011.
[2] TS. Ngô Trần Ánh, Bài giảng Quản trị Marketing, Khoa Kinh tế và Quản lý,
Trường Đại học Bách Khoa
[3] GS. TS Đặng Đình Đào (2009), Kinh tế thương mại, Nhà xuất bản đại học Kinh
tế quốc dân
[4] PGS.TS Nguyễn Ái Đoàn (2006), Kinh tế học Vĩ Mô-Nhà xuất bản Bách
Khoa Hà Nội
[5] PGS. TS Hoàng Minh Đường (2010), Quản trị doanh nghiệp thương mại,
Nhà xuất bản Thống kê
[6] GS.TS. Đỗ Văn Phức (2007), Quản lý doanh nghiệp, Nhà xuất bản Bách
Khoa Hà Nội
[7] TS. Nguyễn Văn Nghiến (2007), Giáo trình hoạch định chiến lược kinh
doanh, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
[8] TS. Nguyễn Xuân Quang (2008), Marketing thương mại, Nhà xuất bản
Thống kê
[8] David Begg, Kinh tế học, Nhà xuất bản Thống kê
[9] Paul A. Samuelson, Kinh tế học, Nhà xuất bản Thống kê
[10] Philip Kotler (2009), Marketing căn bản, Nhà xuất bản đại học Kinh tế
quốc dân
[11] Tổng Cục thống kê (2008), Báo cáo số lượng làng nghề, các công ty sản
xuất kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, doanh thu xuất khẩu
- 107 - Viện Kinh tế và quản lý Học viên: Hà Thị Thu Thủy

