BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH --------------------
KHƯƠNG THỊ NHÀN
GI¶I PH¸P tµi chÝnh cho ®µo t¹o nghÒ
CHÊT L¦îNG CAO ë VIÖT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH --------------------
KHƯƠNG THỊ NHÀN
GI¶I PH¸P tµi chÝnh cho ®µo t¹o nghÒ
CHÊT L¦îNG CAO ë VIÖT NAM
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
Mã số
: 62.34.02.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. ĐỖ ĐÌNH THU
2. PGS, TS. DƯƠNG ĐỨC LÂN
HÀ NỘI - 2016
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN Khương Thị Nhàn
ii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan .....................................................................................................................i
Mục lục .............................................................................................................................ii
Danh mục các chữ viết tắt.................................................................................................v
Danh mục các bảng..........................................................................................................vi
Danh mục các hình..........................................................................................................vii
MỞ ĐẦU..........................................................................................................................1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU...............................................................6
Chương 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH CHO
ĐÀO TẠO NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO .................................................................11
1.1. ĐÀO TẠO NGHỀ TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN....................11
1.1.1. Khái niệm về đào tạo nghề và các trình độ đào tạo nghề .........................11
1.1.2. Vị trí của đào tạo nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân........................13
1.1.3. Vai trò của đào tạo nghề trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ..........15
1.2. ĐÀO TẠO NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO ..............................................................18
1.2.1. Khái niệm và nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề chất lượng cao ..........18
1.2.2. Hệ thống tiêu chí xác định đào tạo nghề chất lượng cao ..........................22
1.3. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH CHO ĐÀO TẠO
NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO................................................................................25
1.3.1. Khái niệm giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao ...............25
1.3.2. Nội dung chủ yếu của giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất
lượng cao ............................................................................................26
1.4. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ VIỆC SỬ DỤNG CÁC GIẢI PHÁP TÀI
CHÍNH CHO ĐÀO TẠO NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO VÀ BÀI HỌC
CHO VIỆT NAM...................................................................................................36
1.4.1. Kinh nghiệm quốc tế về giải pháp tài chính trong đào tạo nghề ...............36
1.4.2. Một số bài học kinh nghiệm về giải pháp tài chính cho đào tạo
nghề chất lượng cao rút ra cho Việt Nam ..............................................47
Kết luận Chương 1 .........................................................................................49
iii
Chương 2: THỰC TRẠNG GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH CHO ĐÀO TẠO NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆT NAM............................................................50 2.1. TỔNG QUAN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ Ở VIỆT NAM ...........................................50 2.1.1. Quản lý Nhà nước về đào tạo nghề ........................................................50 2.1.2. Mạng lưới cơ sở đào tạo nghề................................................................51 2.1.3. Quy mô đào tạo nghề ............................................................................52 2.1.4. Chất lượng đào tạo nghề........................................................................54 2.1.5. Một số hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong hoạt động đào
tạo nghề...............................................................................................61
2.2. THỰC TRẠNG GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH CHO ĐÀO TẠO NGHỀ
CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆT NAM ...................................................................64 2.2.1. Khái quát nguồn lực tài chính cho hoạt động đào tạo nghề giai
đoạn 2007-2014...................................................................................64
2.2.2. Thực trạng về đầu tư sử dụng nguồn lực tài chính cho đào tạo nghề
chất lượng cao .....................................................................................75
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH CHO ĐÀO TẠO
NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 - 2014................96 2.3.1. Kết quả đạt được...................................................................................96
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế.....................................................96 2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế......................................................................98 Kết luận Chương 2 ....................................................................................... 101
Chương 3: GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH CHO ĐÀO TẠO NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆT NAM ...................................................................................102 3.1. ĐỊNH HƯỚNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ
CHẤT LƯỢNG CAO..........................................................................................102 3.1.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội trong và ngoài nước tác động đến đào tạo
nghề đến năm 2020............................................................................ 102
3.1.2. Định hướng và mục tiêu phát triển đào tạo nghề chất lượng cao ở
Việt Nam đến năm 2020 .................................................................... 104
3.2. DỰ BÁO NHU CẦU NGUỒN NHÂN LỰC QUA ĐÀO TẠO NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO VÀ VỐN ĐẦU TƯ CHO ĐÀO TẠO NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO ĐẾN NĂM 2020 .............................................................108
3.2.1. Dự báo nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề chất lượng cao đến
năm 2020 .......................................................................................... 108 3.2.2. Dự báo nhu cầu tài chính cho đào tạo nghề đến năm 2020 .................... 113
iv
3.3. GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH CHO ĐÀO TẠO NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO
Ở VIỆT NAM ......................................................................................................114
3.3.1. Đầu tư tập trung cho một số trường để hình thành hệ thống các
trường nghề chất lượng cao ................................................................ 114
3.3.2. Tiếp tục thực hiện đầu tư theo nghề trọng điểm .................................... 116
3.3.3. Đổi mới cơ chế phân bổ, giao dự toán chi thường xuyên ngân sách
nhà nước hàng năm cho đào tạo nghề theo hướng chuyển sang cơ
chế đấu thầu, đặt hàng hay giao nhiệm vụ theo kết quả đầu ra .............. 121
3.3.4. Triển khai hiệu quả việc thí điểm đào tạo các nghề trọng điểm cấp
độ khu vực ASEAN và quốc tế........................................................... 122
3.3.5. Triển khai hiệu quả cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp
công lập trong lĩnh vực đào tạo nghề................................................... 126
3.3.6. Tăng cường xã hội hóa nguồn lực tài chính cho hoạt động đào tạo
nghề chất lượng cao ........................................................................... 129
3.4. ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP................................................142
3.4.1. Ổn định quản lý Nhà nước về đào tạo nghề và nâng cao nhận thức
của các cấp các ngành, doanh nghiệp và xã hội về đào tạo nghề
chất lượng cao. .................................................................................. 142
3.4.2. Thực hiện tốt công tác dự báo về đào tạo nghề, phân luồng học
sinh sau tốt nghiệp trung học cơ sở ..................................................... 143
3.4.3. Tăng cường công tác kiểm tra giám sát các hoạt động đào tạo nghề
nói chung và tài chính cho đào tạo nghề nói riêng theo mục tiêu và
kết quả đầu ra .................................................................................... 145
3.4.4. Tăng cường hoạt động kiểm soát, đánh giá chất lượng đào tạo nghề........ 146
Kết luận Chương 3 ....................................................................................... 154
KẾT LUẬN..................................................................................................................155
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ................................................................................157
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................158
PHỤ LỤC.....................................................................................................................162
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBQLDN Cán bộ quản lý đào tạo nghề
CĐN Cao đẳng nghề
CNH, HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hóa
CSDN Cơ sở đào tạo nghề
CTMTQG Chương trình mục tiêu quốc gia
ĐMKTKT và TC, TCCL Định mức kinh tế - kỹ thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng
GD-ĐT Giáo dục - đào tạo
GVDN Giáo viên đào tạo nghề
HĐND Hội đồng nhân dân
ILO Tổ chức lao động quốc tế
KH-ĐT Kế hoạch và Đầu tư
KT-XH Kinh tế - xã hội
LĐTBXH Lao động - Thương binh và Xã hội
NCS Nghiên cứu sinh
NNLCLC Nguồn nhân lực chất lượng cao
NSNN NSNN
ODA Hỗ trợ phát triển chính thức
SCN Sơ cấp nghề
TCN Trung cấp nghề
TTDN Trung tâm dạy nghề
UBND
Ủy ban nhân dân
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu Nội dung Trang
Bảng 1.1: Chi phí trung bình một năm của doanh nghiệp chi cho một học
viên ngành cơ điện tử ................................................................................ 40
Bảng 1.2: Chi phí hỗ trợ một số ngành nghề được đánh giá yêu thích tại Đức .......... 41
Bảng 2.1: Hệ thống cơ sở dạy nghề chia theo tỉnh/thành phố (tính đến ngày
31/12/2014) ............................................................................................... 51
Bảng 2.2: Quy mô tuyển sinh giai đoạn 2007-2014................................................... 53
Bảng 2.3: Nguồn NSNN cho đào tạo nghề giai đoạn 2007-2014............................... 66
Bảng 2.4: Nguồn ngoài NSNN cho đào tạo nghề giai đoạn 2007-2014 ..................... 71
Bảng 2.5: Kết quả huy động kinh phí cho dự án “Tăng cường năng lực đào
tạo nghề” giai đoạn 2006-2010 từ NSTW ................................................. 76
Bảng 2.6: Tổng hợp tình hình thực hiện dự án “Tăng cường năng lực dạy
nghề” giai đoạn 2006-2010 ....................................................................... 78
Bảng 3.1: Nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề theo cấp trình độ ............................. 110
Bảng 3.2: Nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề theo vùng kinh tế............................. 111
Bảng 3.3: Nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề theo khối ngành/lĩnh vực................. 111
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu Nội dung
Trang
Hình 1.1: Hệ thống giáo dục của Việt Nam ........................................................... 15
Hình 1.2: Cơ cấu nguồn vốn cho đào tạo nghề ban đầu (các trường nghề) ............. 37
Hình 1.3: Các khoản chi phí của một học sinh trong năm ...................................... 39
Hình 1.4: Cơ cấu chi đào tạo ................................................................................. 40
Hình 2.1: Mô hình phân cấp quản lý dạy nghề ở Việt Nam.................................... 50
Hình 2.2: Hệ thống cơ sở dạy nghề (số liệu đến 31/12/2014) ................................. 52
Hình 2.3: Tình hình tuyển sinh giai đoạn 2007-2014 ............................................. 54
Hình 2.4: Cơ cấu nguồn lực tài chính cho đào tạo nghề giai đoạn 2007-2014 ........ 65
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, được sự
quan tâm của các cấp, các ngành và toàn xã hội, đào tạo nghề đã được phục hồi,
từng bước được đổi mới và phát triển. Quy mô đào tạo nghề được mở rộng, đa dạng
hoá các loại hình, hình thức đào tạo, bước đầu điều chỉnh cơ cấu cấp trình độ đào
tạo, đổi mới nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, nâng cấp cơ sở vật chất,
thiết bị đào tạo nghề được chú trọng, đa dạng hoá và tăng cường nguồn lực dành
cho đào tạo nghề, chất lượng đào tạo nghề đã chuyển biến tích cực, từng bước đáp
ứng được yêu cầu đội ngũ lao động kỹ thuật có tay nghề nghề phục vụ cho phát
triển kinh tế - xã hội và xuất khẩu lao động. Trong một thời gian ngắn, Chính phủ
đã phê duyệt một loạt các Đề án về dạy nghề (Chiến lược phát triển dạy nghề, Đề án
hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008-2015; Đề án hỗ trợ phụ
nữ học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2010-2015; Đề án dạy nghề cho bộ đội xuất
ngũ; Dự án “Đổi mới và phát triển dạy nghề” thuộc CTMTQG việc làm và dạy
nghề; Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; Đề án phát triển
trường nghề chất lượng cao đến năm 2020…).
Tuy nhiên, đào tạo nghề vẫn còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu
của thị trường lao động, nhu cầu học nghề của xã hội và hội nhập quốc tế. Những
yếu kém đó là: đào tạo nghề chủ yếu vẫn theo hướng cung; chất lượng đào tạo nghề
còn thấp; quy mô đào tạo nghề còn nhỏ, nhất là đào tạo nghề chất lượng cao; cơ cấu
ngành, nghề đào tạo chưa phù hợp với cơ cấu ngành nghề của thị trường lao động;
chưa đáp ứng được nhu cầu lao động qua đào tạo nghề cho các ngành kinh tế mũi
nhọn, ngành kinh tế trọng điểm và xuất khẩu lao động.
Trong những năm qua, mặc dù các nguồn lực đầu tư cho đào tạo nghề đã
có bước chuyển tích cực: NSNN đầu tư cho đào tạo nghề trong tổng chi cho giáo
dục - đào tạo đã tăng liên tục. Từ khi có Luật Dạy nghề đến nay, chi NSNN cho
đào tạo nghề tăng 3,2 lần, trong đó chi thường xuyên tăng 2,6 lần, chi đầu tư
tăng 3,6 lần và chi CTMTQG tăng hơn 4 lần. Tuy nhiên, việc huy động và đầu tư
nguồn lực cho đào tạo nghề chất lượng cao ở nước ta trong thời gian qua còn bộc
2
lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập và chưa đáp ứng được yêu cầu cả về quy mô,
phương thức đầu tư và công tác quản lý, làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả
sử dụng ngân sách và yêu cầu đào tạo nghề chất lượng cao.
Xuất phát từ lý do trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Giải pháp tài chính
cho đào tạo nghề chất lượng cao ở Việt Nam” với mong muốn đưa ra một số giải
pháp tài chính có tính khoa học và thực tiễn nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc
hiện nay về đào tạo nghề chất lượng cao, góp phần thực hiện thành công Chiến lược
phát triển dạy nghề và các Đề án phát triển dạy nghề Việt Nam đến năm 2020; nâng
cao chất lượng dạy nghề góp phần tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu
cầu nguồn nhân lực cho xã hội phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đây là một vấn đề mới và là vấn đề thời sự đang được quan tâm trong lĩnh vực lao
động việc làm ở nước ta.
2. Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, mục đích nghiên cứu của
luận án về đề tài này là tìm kiếm được giải pháp có tính khoa học và thực tiễn nhằm
giải quyết những điểm hạn chế, bất cập hiện nay về giải pháp tài chính cho đào tạo
nghề chất lượng cao, qua đó sẽ tạo động lực để thúc đẩy dạy nghề nước ta phát triển
theo mục tiêu Chiến lược đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Những nhiệm vụ cụ thể để thực hiện mục đích nghiên cứu là:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về đào tạo nghề, về đào tạo nghề
chất lượng cao và giải pháp tài chính cho cho đào tạo nghề chất lượng cao.
- Tổng kết kinh nghiệm của một số nước về đầu tư tài chính cho đào tạo
nghề; rút ra được một số bài học kinh nghiệm có giá trị có thể nghiên cứu áp dụng
cho Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng về đào tạo nghề, chất lượng đào tạo nghề;
giải pháp tài chính áp dụng cho đào tạo nghề chất lượng cao ở Việt Nam. Trên cơ sở
đó, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng nêu trên.
- Đề xuất các giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao phù hợp với
những thay đổi về hoàn cảnh kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế thời gian tới.
- Đưa ra những điều kiện để có thể thực hiện các giải pháp đề xuất trong đề
tài nghiên cứu.
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận án: là những vấn đề lý luận và thực tiễn
về các giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của luận án: Trên cơ sở vận dụng lý luận, kinh nghiệm
quốc tế để khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về giải pháp tài chính cho đào
tạo nghề chất lượng cao ở Việt Nam từ năm 2007 (kể từ khi Luật Dạy nghề có hiệu
lực thi hành) đến năm 2014; từ đó đưa ra các giải pháp tài chính cho đào tạo nghề
chất lượng cao để phù hợp với những thay đổi về hoàn cảnh kinh tế - xã hội trong
nước và quốc tế đến năm 2020.
Giải pháp tài chính bao gồm khâu huy động và sử dụng nguồn lực tài chính
cho các cấp đào tạo, tuy nhiên ở Luận án này, tác giả tập trung vào giải pháp đầu tư
nguồn lực tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao ở trình độ trung cấp nghề và
cao đẳng nghề với sản phẩm đầu ra là người lao động có kỹ năng nghề cao, có khả
năng hoàn thành một phần hay toàn bộ một công việc phức tạp mà lao động giản
đơn không làm được.
Từ ngày 01/7/2015, Luật Giáo dục nghề nghiệp bắt đầu có hiệu lực nên thuật
ngữ đào tạo nghề không còn phù hợp, song theo Nghị định số 48/2015/NĐ-CP ngày
15/5/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật giáo dục nghề
nghiệp thì Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Giáo dục - Đào tạo cùng
đồng thời thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp. Do đó,
luận án này tập trung nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp được Chính phủ
giao cho Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quản lý nhà nước (đào tạo nghề).
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án sử dụng tổng hợp các phương
pháp nghiên cứu; trong đó lấy phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm
phương pháp luận cơ bản, đồng thời kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học
cụ thể như tổng hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh, qui nạp, diễn dịch... để làm sáng
tỏ vấn đề cần nghiên cứu. Trong số các phương pháp nêu trên, thì phương pháp tổng
hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh và phương pháp diễn dịch, quy nạp là các phương
pháp chủ đạo để giúp tác giả hoàn thành luận án.
4
Phương pháp tổng hợp, thống kê, được sử dụng để xử lý các số liệu thu thập
được từ nhiều nguồn khác nhau: Các tỉnh, thành phố; Vụ NSNN- Bộ Tài chính,
Tổng cục Dạy nghề. Ngoài ra, thông tin còn được thu thập trên các phương tiện
thông tin đại chúng như các tạp chí khoa học, sách chuyên khảo, internet...
Phương pháp đối chiếu, so sánh: sau khi thu thập số liệu từ các nguồn khác
nhau, tác giả tiến hành đối chiếu, so sánh để chọn được các thông tin có độ tin cậy
phục vụ cho nghiên cứu, đánh giá phù hợp với đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Những phân tích định lượng đã giúp cho việc đánh giá và đưa ra kết luận có
căn cứ khoa học và tin cậy hơn.
Phương pháp qui nạp, diễn dịch: dựa trên những số liệu, thông tin thực tế thu
thập được, tác giả tiến hành phân tích thực trạng đầu tư tài chính cho đào tạo nghề
chất lượng cao ở Việt Nam; từ đó rút ra nhận xét về kết quả thực hiện, những hạn
chế, nguyên nhân còn tồn tại. Trên cơ sở những kết luận rút ra từ phương pháp quy
nạp, luận án đưa ra các giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao ở Việt
Nam để phù hợp những thay đổi về hoàn cảnh KT-XH trong nước và quốc tế đến
năm 2020 góp phần tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Luận án đã hệ thống hóa, phân tích và phát triển thêm
nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về đào tạo nghề, đào tạo nghề
chất lượng cao và các giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao, kinh
nghiệm quốc tế về giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao và bài
học cho Việt Nam.
Ý nghĩa thực tiễn: Luận án đã đi sâu phân tích đánh giá thực trạng giải pháp
tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao ở Việt Nam. Điểm nổi bật về ý nghĩa thực
tiễn của luận án về đề tài này chính là ở những kết quả của việc chỉ ra được những
mặt được, mặt chưa được và nguyên nhân của những hạn chế trong giải pháp tài
chính cho đào tạo nghề chất lượng cao ở Việt Nam. Đây là những luận cứ quan
trọng để tác giả đưa ra các quan điểm và giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất
lượng cao ở nước ta trong thời gian tới.
6. Kết cấu chung của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án được chia làm 3 chương:
5
Chương 1: Lý luận cơ bản về giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất
lượng cao.
Chương 2: Thực trạng giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao ở
Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao ở Việt Nam.
6
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Quá trình đổi mới phát triển nền kinh tế dẫn đến các chính sách, cơ chế tài
chính cho GD-ĐT nói chung và đào tạo nghề nói riêng cũng đã và đang từng bước
được đổi mới và hoàn thiện nhằm huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội
và nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển lĩnh vực này. Trong thực tế, đã có nhiều
công trình nghiên cứu về quản lý tài chính cũng như giải pháp tài chính cho GD-ĐT
và cho đào tạo nghề theo các quy mô và cấp độ khác nhau như:
- Đối với vai trò, vị trí của đào tạo nghề trong nền kinh tế thị trường, đã có
một số công trình nghiên cứu được tập hợp trong cuốn sách “Đổi mới căn bản, toàn
diện GD-ĐT Việt Nam” [2]. Trong phần II của cuốn sách - “Đổi mới và phát triển
dạy nghề ở Việt Nam”, các nhà khoa học, nhà quản lý đã nghiên cứu, phân tích
những quan điểm của Đảng, đánh giá những chính sách của Nhà nước về phát triển
dạy nghề ở nước ta và đưa ra các luận điểm về vai trò, vị trí của đào tạo nghề đối
với phát triển kinh tế xã hội, là vấn đề quan trọng hàng đầu trong đổi mới căn bản
toàn diện giáo dục Việt Nam. Trong đó, trọng tâm là đổi mới quản lý nhà nước và
hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo động lực phát triển đào tạo nghề; đẩy mạnh xã hội
hóa và mở rộng hợp tác quốc tế; huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước cùng
với việc tăng đầu tư từ NSNN để thực hiện đổi mới và phát triển đào tạo nghề.
Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập sâu, hệ thống hóa
những vấn đề mang tính lý luận về đào tạo nghề, đào tạo nghề chất lượng cao và các
yếu tố tác động tới đào tạo nghề chất lượng cao.
- Đối với giải pháp tài chính, ngân sách dạy nghề nói riêng và GD-ĐT nói
chung, có một số công trình nghiên cứu như:
+ Báo cáo của Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) về “Cấp tài chính cho
dạy nghề Việt Nam” (2007) [32] đã tiến hành thực hiện tìm hiểu thực tế nhằm
đánh giá thực trạng cấp tài chính cho đào tạo nghề và đề xuất các hoạt động tiếp
theo cần thực hiện để hướng đến một hệ thống cấp tài chính bền vững cho đào tạo
nghề. Mặt được của bản báo cáo này là đã trình bày tổng quan về thực trạng cấp
tài chính cho Đào tạo nghề ở Việt Nam ở các cơ sở đào tạo nghề công lập, các cở
sở đào tạo nghề tư nhân, các cơ sở đào tạo nghề thuộc doanh nghiệp; đề cập tới
các chính sách phù hợp của Chính phủ đối với đổi mới cơ chế cấp tài chính cho
7
đào tạo nghề; báo cáo cũng đưa ra nột số vấn đề và các giải pháp lựa chọn về tài
chính dạy nghề và khẳng định việc tiếp tục xây dựng hệ thống tài chính chỉ là một
phần việc trong toàn bộ quá trình đổi mới đào tạo nghề, và cơ chế tài chính mới sẽ
chỉ mang lại tác động mong đợi khi nó được thực thi cùng với việc đổi mới các
thành tố khác của hệ thống.
+ Nghiên cứu của các chuyên gia công bố tại Hội nghị khu vực về đào tạo
nghề tại Việt Nam tháng 10 năm 2012 do Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức và Bộ
LĐTBXH tổ chức có một số bài viết nêu tài chính bền vững cho đào tạo nghề là
một yếu tố quan trọng để thực hiện chức năng của các hệ thống đào tạo nghề [33].
Đặc biệt là mối quan hệ trực tiếp giữa việc đảm bảo nguồn lực tài chính đầy đủ cho
đội ngũ giáo viên đào tạo nghề có năng lực, cơ sở vật chất học nghề… và chất
lượng đầu ra được kỳ vọng để thực hiện đào tạo nghề theo các tiêu chuẩn nghề.
Việc nâng cao chất lượng đầu ra thường hàm ý là việc tăng thêm các yêu cầu về tài
chính. Ở Việt Nam và nhiều nước ASEAN khác, việc tăng thêm các yêu cầu về tài
chính cũng xuất phát từ công tác mở rộng hệ thống đào tạo nghề do gia tăng dân số
và nhu cầu đang tăng lên về nhân lực có chất lượng. Trước bối cảnh gia tăng cạnh
tranh đối với những nguồn lực tài chính công có hạn cũng như các yêu cầu tài chính
cho việc mở rộng số lượng và nâng cao chất lượng đào tạo nghề theo nhu cầu khiến
việc đảm bảo tài chính bền vững cho đào tạo nghề trở thành một thách thức chính
và là vấn đề then chốt của các nỗ lực phát triển đào tạo nghề. Về mặt này, việc giải
quyết các yêu cầu tài chính đối với đào tạo nghề hướng cầu là một vấn đề rất quan
trọng. Nó bao gồm thông tin về chi phí thực tế, các nguồn phát sinh chi phí chính và
các chi phí giới hạn theo tính khả thi. Một vấn đề quan trọng khác đó là huy động
các nguồn tài trợ bổ sung cho tài chính công, tập trung chủ yếu vào các khoản đóng
góp của các doanh nghiệp và các học viên (từ cha mẹ) với vai trò là các bên tham
gia và những người hưởng lợi. Vấn đề cốt yếu thứ ba đó là quản lý và phân bổ nguồn
vốn, tập trung vào tính minh bạch, trách nhiệm giải trình cũng như hiệu suất và hiệu
quả của nguồn vốn thông qua cơ chế phân bổ dựa trên sự thực hiện.
+ Luận án của tác giả Đặng Văn Du (2004), Học viện Tài chính với đề tài
“Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo đại học” [7]. Luận án
chọn vấn đề nghiên cứu nhằm giải quyết những bức xúc trong sử dụng tài chính như
8
là một trong những công cụ để thúc đẩy sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học
công lập. Luận án ủng hộ cho việc triển khai “áp giá dịch vụ” đối với cấp giáo dục
đại học; bởi nó vừa là con đường tạo nguồn tài chính quan trọng cho các cơ sở giáo
dục đại học, vừa buộc người tiêu dùng phải quan tâm đến góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo. Tuy nhiên, do những đặc thù của đào tạo đại học so với đào tạo nghề
nên có một số nghiên cứu của Luận án khi vận dụng ở lĩnh vực đào tạo nghề là
không phù hợp.
+ Luận án của tác giả Bùi Tiến Hanh (2007), Học viện Tài chính với đề tài:
“Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam” [16]. Luận án
đã luận giải và khẳng định sự cần thiết khách quan phải thực hiện xã hội hóa giáo
dục ở nước ta trong tiến trình tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Và để thực
hiện xã hội hóa giáo dục thành công, thì một trong những đầu vào rất quan trọng
cần phải quan tâm hoàn thiện là cơ chế quản lý tài chính. Những vấn đề lý luận về
cơ chế quản lý tài chính đối với xã hội hóa giáo dục ở nước ta cũng đã được tác giả
của bản luận án này luận giải một cách khá đầy đủ và chặt chẽ. Từ các vấn đề lý
luận đã nêu, luận án đã đi sâu phân tích đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính
đối với xã hội hóa giáo dục ở nước ta những năm trước 2006 và chỉ rõ những điểm
mạnh, điểm yếu của chính cơ chế này. Trên cơ sở thực trạng và gắn kết với những
yêu cầu, những quan điểm đổi mới cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo dục
những năm tiếp theo kể từ năm 2007, luận án đã đề xuất một hệ thống các giải pháp
có tính khả thi cho việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo
dục Việt Nam giai đoạn 2007- 2010 và định hướng đến 2015.
+ Luận án của tác giả Phạm Văn Ngọc (2007), Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh với đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Đại học quốc gia
trong tình hình đổi mới quản lý tài chính công ở nước ta hiện nay” [21]. Các nghiên
cứu trên đây đã hệ thống hoá một số vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng và dựa vào
đặc điểm, tính chất hoạt động của các trường đại học, luận án đề xuất các giải pháp
về cơ chế quản lý tài chính ở tầm vĩ mô, vi mô đối với các trường đại học nhằm
hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong các trường đại học ở Việt Nam như cơ chế
tạo nguồn tài chính; cơ chế quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính;
quản lý tài sản; kiểm tra, kiểm soát tài chính và xây dựng và tăng cường hệ thống
9
quản trị đối với các trường đại học. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu về lý luận, thực
trạng và giải pháp đề cập sâu tới nội hàm của cơ chế quản lý tài chính, đặc biệt là
các phương pháp, hình thức và những công cụ được thiết lập ra để quản lý, giám sát
các nguồn lực tài chính trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng nhằm đạt mục
tiêu quản lý.
+ Luận án của tác giả Trương Anh Dũng (2014), Học viện Tài chính với đề
tài "Đổi mới cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển đào tạo nghề đến năm 2020” [9]. Luận án đưa ra cơ sở lý luận cơ bản và thực trạng về cơ chế quản lý tài
chính cho đào tạo nghề. Luận án cũng đã đánh giá được các nguồn lực cũng như cơ
chế quản lý tài chính cho đào tạo nghề trong thời gian qua để đưa ra các giải pháp
nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính cho đào tạo nghề để phát triển dạy nghề
nói chung thời gian tới mà chưa đề cập sâu đến đào tạo nghề chất lượng cao. Ngoài
ra, hướng tiếp cận của luận án tập trung về cơ chế quản lý tài chính đối với nguồn
vốn trong nước (NSNN cấp và thu sự nghiệp) mà chưa đề cập đến nguồn kinh phí
cho đào tạo nghề nước ngoài (tài trợ, vay ODA…).
+ Luận án của tác giả Nguyễn Thu Hương (2014), Đại học kinh tế quốc dân
với đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các chương trình đào tạo
chất lượng cao trong các trường Đại học công lập tại Việt Nam” [19]. Luận án đã đề
xuất một bộ tiêu chí để xác định các chương trình đào tạo chất lượng cao, trên cơ sở
đó đưa ra quan điểm về đổi mới cơ chế quản lý tài chính phù hợp.
+ Đề tài cấp Bộ do Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề (2014) [42], Tổng
cục dạy nghề với đề tài “Một số giải pháp đầu tư đồng bộ phát triển nghề trọng
điểm”. Đề tài tập trung nghiên cứu khung phương pháp luận xác định nghề trọng
điểm bao gồm hệ thống các tiêu chí, chỉ tiêu, quy trình và phương pháp triển khai
đầu tư đồng bộ các nghề trọng điểm và đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi
về đầu tư đồng bộ phát triển các nghề trọng điểm phù hợp với bối cảnh và điều kiện
của Việt Nam.
Tuy nhiên, các công trình nêu trên không đưa ra được những vấn đề mang
tính lý luận về giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao, bao gồm khái
niệm và các nội dung chủ yếu của giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng
cao; chưa nêu được cụ thể kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về giải
10
pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao và bài học kinh nghiệm rút ra cho
Việt Nam.
Ngoài các công trình nghiên cứu trên đây, còn có một số công trình nghiên cứu
về tài chính đào tạo nghề ở cấp độ Luận văn thạc sĩ và các nghiên cứu ở các địa
phương cụ thể. Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu, hay một đề tài nào được
thực hiện một cách hệ thống và có bài bản về giải pháp tài chính cho đào tạo nghề đặc
biệt là cho đào tạo nghề chất lượng cao ở Việt Nam. Do vậy, nghiên cứu sinh đã chọn
đề tài “Giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao ở Việt Nam” để nghiên
cứu và làm luận án tiến sĩ kinh tế. Đào tạo nghề chất lượng cao có thể thực hiện ở các
cấp trình độ của các nghề đào tạo, tuy nhiên luận án này tác giả tập trung nghiên cứu
sâu về các giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao ở trình độ cao đẳng
nghề và trung cấp nghề với sản phẩm đầu ra là người lao động có kỹ năng nghề
cao, có khả năng hoàn thành một phần hay toàn bộ một công việc phức tạp mà lao
động giản đơn không làm được.
Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu có liên quan về lý luận của giải pháp
tài chính nói chung và giải pháp tài chính cho giáo dục đào tạo và đào tạo nghề nói
riêng, Luận án đã hệ thống hoá và làm rõ ràng hơn những lý luận về quan niệm, nội
dung, vai trò và các nhân tố ảnh hưởng tới đào tạo nghề chất lượng cao; Luận án đã
bổ sung những lý luận về các giải pháp, hình thức thực hiện trong quá trình tạo lập,
phân phối và sử dụng tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao nhằm góp phần
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Luận án đã nghiên cứu và tổng kết kinh
nghiệm về đầu tư tài chính dạy nghề của một số quốc gia trên thế giới và rút ra
những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và
nguyên nhân của các giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao ở Việt
Nam, từ đó đề xuất được giải pháp tài chính có tính khoa học và thực tiễn nhằm hỗ
trợ dạy nghề phát triển theo mục tiêu Chiến lược phát triển đào tạo nghề Việt Nam
đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Những kết quả nghiên cứu trên đây là những đóng
góp của Luận án cho khoa học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng.
11
Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH CHO ĐÀO TẠO NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO
1.1. ĐÀO TẠO NGHỀ TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN
1.1.1. Khái niệm về đào tạo nghề và các trình độ đào tạo nghề
1.1.1.1. Khái niệm về đào tạo nghề
Hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới đang tồn tại nhiều định nghĩa về đào
tạo nghề (dạy nghề). Sau đây là một số định nghĩa mà các nhà nghiên cứu giáo dục
đưa ra:
- Dưới hình thức đào tạo nghề tại cơ sở sản xuất, William Mc.Gehee (1979)
định nghĩa: Đào tạo nghề là những quy trình mà các công ty sử dụng để tạo thuận
lợi cho việc học tập có kết quả các hành vi đóng góp vào mục đích và các mục tiêu
của công ty;
- Max Forter (1979) đưa ra khái niệm là đào tạo nghề phải đáp ứng hoàn
thành 4 điều kiện:
+ Gợi ra những giải pháp ở người học;
+ Phát triển tri thức, kỹ năng và thái độ;
+ Tạo ra sự thay đổi trong hành vi;
+ Đạt được những mục tiêu chuyên biệt;
- Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: đào tạo nghề là cung cấp cho
người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới
công việc nghề nghiệp được giao.
- Theo Điều 5 Luật dạy nghề: dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang
bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể
tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học.
Như vậy, theo tác giả đào tạo nghề là quá trình trang bị cho người học một
cách có hệ thống về kiến thức, kỹ năng kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp đối với công
việc hiện tại và trong tương lai. Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu
cơ với nhau là dạy nghề và học nghề. Dạy nghề là quá trình giảng viên truyền bá
những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ
năng kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp. Học nghề là quá
12
trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt
được một trình độ nghề nghiệp nhất định;
1.1.1.2. Các trình độ đào tạo nghề
Theo Luật Dạy nghề (2006) đào tạo nghề có 3 cấp trình độ, bao gồm:
a. Sơ cấp nghề
- Mục tiêu: Đào tạo nghề trình độ sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người
học nghề năng lực thực hành một số nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một
số công việc của một nghề, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật,
tác phong công nghiệp, có sức khỏe, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi
tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình
độ cao hơn.
- Thời gian: thực hiện từ 3 tháng đến dưới một năm.
- Đối tượng tuyển sinh: đầu vào ở tất cả các trình độ, cần gì học đó, theo nhu
cầu người học và nhu cầu thị trường lao động.
- Cơ sở đào tạo nghề trình độ sơ cấp: Các Trung tâm đào tạo nghề; các
trường Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề có đăng ký trình độ đào tạo nghề sơ cấp;
Doanh nghiệp; Hợp tác xã; cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ khác; Trường Trung
cấp chuyên nghiệp; Trường Cao đẳng; Trường Đại học và các cơ sở giáo dục khác
có đăng ký hoạt động đào tạo nghề trình độ sơ cấp.
b. Trung cấp nghề
- Mục tiêu: Đào tạo nghề trình độ trung cấp nghề nhằm trang bị cho người
học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề;
có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; có
đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức
khỏe, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm,
tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn.
- Thời gian, đối tượng:
+ Đối tượng tuyển sinh đã tốt nghiệp THCS, thời gian đào tạo 3 năm;
+ Đối tượng tuyển sinh đã tốt nghiệp THCS và có chứng chỉ nghề cùng nghề
đào tạo, đã tham gia sản xuất từ 3 năm trở lên, thời gian đào tạo từ 1,5 đến 2 năm.
+ Đối tượng tuyển sinh đã tốt nghiệp THPT, thời gian đào tạo từ 1 - 2 năm.
13
- Cơ sở đào tạo nghề trình độ trung cấp:
+ Trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề
+ Trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học nếu có
nhu cầu đào tạo nghề trình độ trung cấp nghề thì đăng ký hoạt động đào tạo nghề tại
Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.
c. Cao đẳng nghề
- Mục tiêu: Đào tạo nghề trình độ cao đẳng nghề nhằm trang bị cho người
học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề,
có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo,
ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống phức
tạp trong thực tế; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong
công nghiệp, có sức khỏe, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có
khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao.
- Thời gian, đối tượng:
+ Đối tượng tuyển sinh có bằng tốt nghiệp THPT, thời gian đào tạo 3 năm;
+ Đối tượng tuyển sinh có bằng trung cấp nghề hoặc trung cấp chuyên
nghiệp, thời gian đào tạo từ 1 đến 1,5 năm;
+ Đối tượng tuyển sinh có bằng trung cấp nghề, đã tham gia sản xuất đúng
nghề đã học từ 3 năm trở lên, thời gian đào tạo 1 năm.
- Cơ sở đào tạo nghề trình độ cao đẳng:
+ Trường cao đẳng nghề
+ Trường cao đẳng, trường đại học có đăng ký hoạt động đào tạo nghề trình
độ cao đẳng nghề tại Bộ LĐTBXH
Phát triển hệ thống đào tạo nghề với 3 cấp trình độ đào tạo nhằm đáp ứng
nhu cầu lao động kỹ thuật theo cơ cấu hợp lý và sự thay đổi của kỹ thuật, công
nghệ mới trong sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và đẩy nhanh
quá trình hội nhập trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực với các nước trong
khu vực và thế giới.
1.1.2. Vị trí của đào tạo nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân
Hệ thống giáo dục Việt Nam là một chỉnh thể thống nhất bao gồm các bậc
giáo dục cơ bản từ giáo dục mầm non, tiểu học, trung học, cao đẳng, đại học và sau
14
đại học với rất nhiều hình thức và loại hình sở hữu đa dạng. Luật giáo dục năm
2005 quy định hệ thống giáo dục hiện nay bao gồm:
(1) Giáo dục mầm non: có nhà trẻ và mẫu giáo
Đây là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đặc biệt, giáo dục
mẫu giáo là cầu nối giữa gia đình và giáo dục nhà trường ở bậc tiểu học.
(2) Giáo dục phổ thông: nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức,
trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con
người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn
bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng
và bảo vệ tổ quốc.
(3) Giáo dục nghề nghiệp: nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp, lao
động sản xuất và dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào
tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có
sức khoẻ để tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo
việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
(4) Giáo dục đại học và sau đại học: nhằm đào tạo người học có phẩm chất
chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành
nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây
dựng và bảo vệ tổ quốc.
(5) Giáo dục thường xuyên: Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm
vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết,
nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc
sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội.
Như vậy đào tạo nghề là một bộ phận hợp thành của hệ thống giáo dục quốc
dân. Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp thì Giáo dục nghề nghiệp sẽ bao gồm các
trường cao đẳng, trung cấp và các trung tâm giáo dục nghề nghiệp. Tuy nhiên, theo
quy định tại Nghị định 48/2015/NĐ-CP ngày 15/5/2015 quy định chi tiết một số
điều của Luật Giáo dục nghề nghiệp của Chính phủ, quản lý Nhà nước về đào tạo
nghề vẫn giữ như hiện trạng nên sơ đồ về hệ thống giáo dục quốc dân tác giả vẫn
giữ theo hiện trạng đến nay.
15
GD ĐỊNH HƯỚNG HÀN LÂM
GD ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Đại học - Sau đại học
Cao đẳng nghề
Cao đẳng
THỊ
TRƯỜNG
LAO
Trung cấp nghề
Trung cấp chuyên nghiệp
Trung học phổ thông
ĐỘNG
Sơ cấp nghề
Trung học cơ sở
Tiểu học
Mẫu giáo Nhà trẻ
Hình 1.1: Hệ thống giáo dục của Việt Nam
1.1.3. Vai trò của đào tạo nghề trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
1.1.3.1. Đào tạo nghề góp phần tăng trưởng kinh tế
Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng
trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: (i) áp dụng công
nghệ mới, (ii) phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và (iii) nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực. Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững
chính là những con người được đào tạo, đặc biệt là nhân lực có kỹ năng nghề cao.
Trong bối cảnh các nguồn lực tự nhiên và nguồn lực khác là hữu hạn và ngày càng
có nguy cơ cạn kiệt, thì nguồn nhân lực có chất lượng chính là vũ khí mạnh mẽ nhất
để giành thắng lợi trong cạnh tranh giữa các nền kinh tế.
16
Hơn nữa lao động (vốn con người) được hình thành và phát triển thông qua
đào tạo và tích lũy trong sản xuất. Như vậy, chất lượng đào tạo càng tốt thì vốn con
người càng cao, do đó lại càng tác động tới tăng trưởng kinh tế.
Việc đánh giá vai trò của đào tạo nghề đối với tăng trưởng kinh tế qua yếu tố
năng suất lao động được tính bằng cách so sánh sự khác biệt về lượng sản phẩm hay
thu nhập mà người lao động làm ra trong cùng một đơn vị thời gian trước và sau khi
họ tham gia một khoá đào tạo với chi phí nhất định cho khoá đào tạo đó.
1.1.3.2. Đào tạo nghề là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực
Theo Liên Hiệp Quốc: Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức
của toàn bộ cuộc sống con người thực hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển
kinh tế xã hội trong một cộng đồng [61].
Yếu tố con người, vốn con người đã trở thành một yếu tố quan trọng trong
tăng trưởng kinh tế. Nhờ có nền tảng giáo dục-đào tạo, trong đó có đào tạo nghề,
người lao động có thể nâng cao được kiến thức và kĩ năng nghề của mình, qua đó
nâng cao năng suất lao động, góp phần phát triển kinh tế. Như vậy có thể thấy,
giáo dục đào tạo nghề là một thành tố và là thành tố quan trọng nhất, có ý nghĩa
quyết định phát triển nguồn nhân lực. Muốn có nguồn nhân lực chất lượng cao, có
khả năng cạnh tranh cao trên thị trường lao động, song song với các cơ chế chính
sách sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, cần phải tăng cường đầu tư nâng cao
chất lượng giáo dục - đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng. Đào tạo nghề là
một trong những giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thể hiện ở các nội
dung sau:
- Thứ nhất, Nguồn nhân lực chất lượng cao là những con người được đầu tư
phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo (nói
cách khác, đó chính là năng lực thực hiện của nguồn nhân lực). Năng lực thực hiện
này chỉ có thể có được thông qua giáo dục - đào tạo và tích lũy kinh nghiệm trong
quá trình làm việc. Tuy nhiên, ngay cả việc tích lũy kinh nghiệm này cũng phải dựa
trên một nền tảng là giáo dục- đào tạo nghề nghiệp cơ bản. Như vậy, có thể thấy,
vai trò quyết định của giáo dục- đào tạo nghề nghiệp đối với việc hình thành và phát
triển năng lực thực hiện của con người. Nhờ có đào tạo nghề, người lao động có thể
nâng cao được kiến thức và kĩ năng nghề của mình.
17
- Thứ hai, vai trò của giáo dục- đào tạo nghề nghiệp đối với chất lượng
nguồn nhân lực xuất phát từ khía cạnh lợi ích cá nhân của con người (con người lao
động). Lý thuyết về vốn nhân lực hiện đại cho rằng “tất cả các hành vi của con
người đều xuất phát từ những nhu cầu lợi ích kinh tế cho chính các cá nhân hoạt
động tự do trong thị trường mang tính cạnh tranh. Các dạng biểu hiện khác đều bị
cho là không thuộc phạm vi hoặc sự biến dạng của lý thuyết này” (Fitzimons, 1999).
Nội dung chính của lý thuyết trên cho rằng, các cá nhân đầu tư vào giáo dục
và đào tạo nghề nhằm tích luỹ những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, những cái
có thể mang lại lợi ích lâu dài sau đó và đó là nhân tố cơ bản cho sự phát triển bền
vững. Chính sự đầu tư này, dưới giác độ xã hội, tạo ra chất lượng nguồn nhân lực
(và vốn nhân lực cá nhân và nhiều cá nhân) và do đó, cũng mang lại lợi ích kinh tế
quốc dân, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Nhà kinh tế học Becker đã đưa ra bằng
chứng về mối tương quan giữa trình độ học vấn, trình độ nghề nghiệp và thu nhập:
học vấn và kỹ năng nghề càng cao, thu nhập càng tăng và ngược lại. Khảo sát của
Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề cũng cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp của những
người qua đào tạo nghề thấp hơn nhiều so với lao động phổ thông, thậm chí còn
thấp hơn cả tỷ lệ thất nghiệp của những người tốt nghiệp đại học (Mạc Văn Tiến và
cộng sự, 2006). Đây chính là động lực để con người đầu tư vào giáo dục - đào tạo
và đào tạo nghề đồng thời có đã tác động tích cực làm cho chất lượng nguồn nhân
lực được nâng lên.
- Thứ ba, giáo dục - đào tạo nghề tạo ra sự “tranh đua” xã hội (theo nghĩa
tích cực của từ này) và trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động,
những người học vấn thấp, kỹ năng, tay nghề thấp hoặc không có nghề khó có thể
cạnh tranh được so với những người có trình độ, có kỹ năng nghề cao. Khi đó, họ sẽ
trở thành nhóm người “yếu thế”, phải làm những việc thu nhập thấp, thậm chí
không kiếm được việc làm, trở thành người thất nghiệp dài hạn và nhận trợ cấp xã
hội. Nhưng dù sao, những trợ cấp đó chỉ mang tính tức thời, giúp họ “cầm cự” được
trong cuộc sống thường nhật, tạo cơ hội cho họ quay trở lại thị trường lao động.
Nhưng nếu những người này không tự tạo cho họ năng lực, nâng cao “vốn nhân
lực” của mình thì sớm hay muộn, họ cũng lại bị “bật” ra khỏi thị trường lao động.
Muốn thoát khỏi vòng luẩn quẩn này, buộc những người đó, bằng cách này hay
18
cách khác phải nâng cao “vốn nhân lực” của mình và cách hiệu quả nhất là đầu tư
vào giáo dục, đào tạo nghề.
- Thứ tư, vai trò của đào tạo nghề đối với nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực được thể hiện thông qua chính nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Nhu cầu của
nền kinh tế công nghiệp đòi hỏi phải phát triển đội ngũ lao động có kiến thức, có kỹ
năng nghề nghiệp cao, có khả năng làm chủ được các phương tiện, máy móc, làm
chủ được công nghệ. Quá trình công nghiệp hóa dài hay ngắn, ngoài các yếu tố về
cơ chế, chính sách và thể chế còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của đội ngũ lao
động kỹ thuật này. Đây có thể nói là nhu cầu khách quan của nền kinh tế, đòi hỏi
Chính phủ các nước phải đầu tư cho đào tạo nghề.
Trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, đòi hỏi quy mô và cơ cấu
giáo dục - đào tạo nghề và qua đó, quy mô và cơ cấu nhân lực kỹ thuật khác nhau.
Nếu như ở thời kỳ phát triển thấp, cơ cấu giáo dục - đào tạo theo trật tự ưu tiên sẽ là
giáo dục phổ thông- giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học (và cơ cấu nhân lực
sẽ là lao động phổ thông- công nhân kỹ thuật bậc thấp và bậc trung- lao động kỹ
thuật bậc cao và lao động quản lý); thì ở thời kỳ nền kinh tế phát triển cao (nhất là
trong nền kinh tế tri thức), cơ cấu trên sẽ là giáo dục đại học- giáo dục nghề nghiệp
và giáo dục phổ thông (và cơ cấu nhân lực sẽ là lao động kỹ thuật bậc cao và lao
động quản lý - công nhân kỹ thuật bậc trung và bậc thấp- lao động phổ thông) hoặc
trong thời kỳ…Ngược lại, giáo dục - đào tạo nghề lại là động lực thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đào tạo nghề, ngoài các vai trò trên còn đóng vai trò quan trọng trong các
lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội và đặc biệt là giải quyết các vấn đề xã hội như
xóa đói giảm nghèo, giảm tệ nạn xã hội… Vì vậy, đào tạo nghề không chỉ hoàn
thiện con người mà còn tác động trực tiếp tới sự phát triển kinh tế - xã hội.
1.2. ĐÀO TẠO NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO
1.2.1. Khái niệm và nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề chất lượng cao
1.2.1.1. Khái niệm
Chất lượng đào tạo nghề là để chỉ chất lượng người lao động được đào tạo
nghề theo mục tiêu và chương trình đào tạo xác định trong các lĩnh vực ngành nghề
khác nhau, biểu hiện một cách tổng hợp nhất ở mức độ chấp nhận của thị trường lao
19
động, của xã hội đối với kết quả đào tạo. Chất lượng dạy nghề còn phản ánh kết quả
đào tạo của các cơ sở dạy nghề, của cả hệ thống dạy nghề. Chất lượng dạy nghề
biến đổi theo thời gian và theo không gian dưới tác động của các yếu tố đảm bảo
chất lượng.
Chất lượng cao được tính bằng giá trị chuyển đổi thông qua hình thức trả
lương hay thu nhập cao hơn của người lao động; chất lượng cao đòi hỏi phải được
các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp quốc tế và các nước phát triển trong khu vực và
thế giới công nhận chất lượng.
Tính đến nay, chưa có một định nghĩa hay một khái niệm đầy đủ thế nào là
đào tạo nghề chất lượng cao. Nhiều quan điểm cho rằng, đào tạo nghề chất lượng
cao có yêu cầu về nội dung chương trình, về phương thức đào tạo, về đối tượng
người học cao hơn việc đào tạo đại trà. Cũng có quan điểm cho rằng, đào tạo nghề
chất lượng cao là đào tạo đáp ứng nhu cầu của xã hội với mức thu học phí cao.
Ngoài ra, có quan điểm cho rằng đào tạo nghề chất lượng cao là đào tạo cho người
học tham gia các khóa đào tạo dài hạn (trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề) hay
đào tạo nghề chất lượng cao có thể hiểu là những người lao động qua đào tạo nghề,
có khả năng thực hiện các công việc để tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đạt chuẩn
quốc gia ở bậc trình độ kỹ năng được đào tạo, đánh giá.
Như vậy, theo tác giả đào tạo nghề chất lượng cao có thể được hiểu là quá
trình đào tạo cho các đối tượng người học có nhu cầu học tập để sau khi được đào
tạo, các cá nhân có đủ những năng lực (kiến thức, kỹ năng, thái độ và năng lực giải
quyết vấn đề) với nội dung, phương thức tổ chức đào tạo được thiết kế theo yêu cầu
nhằm đáp ứng các chuẩn đầu ra tương ứng với từng cấp trình độ đào tạo của từng
nghề. Tuy nhiên, ở luận án này tác giả tập trung chủ yếu vào giải pháp tài chính cho
đào tạo nghề mà chất lượng đào tạo đạt được mức độ cao ở trình độ trung cấp nghề
và cao đẳng nghề với sản phẩm đầu ra là người lao động có kỹ năng nghề cao, có
khả năng hoàn thành một phần hay toàn bộ một công việc phức tạp mà lao động
giản đơn không làm được. Theo đó, chất lượng cao được xem xét ở cả chiều rộng và
chiều sâu, nghĩa là một mặt có giải pháp tăng cường chất lượng cho đào tạo nghề
nói chung, mặt khác sẽ thí điểm đột phá ở một số lớp của một số nghề trọng điểm
cấp độ khu vực và quốc tế của các chương trình chuyển giao từ nước ngoài với giáo
20
viên và các điều kiện cơ sở vật chất thiết bị của các nước tiên tiến trên thế giới và
khu vực như Úc, Đức, Malaysia…
1.2.1.2. Nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề chất lượng cao
a. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề
Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng
tới đào tạo nghề chất lượng cao. Năng lực thực hành và trình độ sư phạm của giáo
viên giúp cho học viên có thể nắm bắt được nội dung của chương trình và thực
hành theo hướng dẫn của giáo viên. Do đó, phát triển đội ngũ giáo viên đủ về số
lượng, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, đạt tiêu chuẩn trình độ
đào tạo, có nghiệp vụ sư phạm dạy nghề và kỹ năng nghề, có trình độ tin học sử
dụng được công nghệ tin học trong giảng dạy và trình độ ngoại ngữ cần thiết để
phục vụ nghiên cứu tài liệu của nước ngoài trong giai đoạn hiện nay là hết sức
quan trọng; Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên theo hướng chuẩn
hoá về số lượng, chất lượng; Thực hiện chế độ định kỳ đào tạo, bồi dưỡng nâng
cao năng lực cho đội ngũ giáo viên về chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề, trình
độ và kỹ năng sư phạm.
b. Chương trình, giáo trình dạy nghề
Chương trình, giáo trình dạy nghề là một trong những yếu tố cơ bản quan
trọng quyết định đến chất lượng dạy nghề, đặc biệt là đào tạo nghề chất lượng cao.
Để chất lượng dạy nghề đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động thì chương
trình khung, chương trình dạy nghề phải được xây dựng theo một phương pháp
khoa học, dựa trên kết quả của việc phân tích nghề, phân tích công việc theo vị trí
làm việc và các nhiệm vụ của từng nghề; dựa vào Bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề
quốc gia đã được xây dựng và ban hành; tham khảo, tiếp cận các sản phẩm của các
Dự án, tài liệu của nước ngoài. Đồng thời phải được thường xuyên cập nhật, bổ
sung, sửa đổi theo yêu cầu của sản xuất kinh doanh trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, sát với yêu cầu của thị trường lao động và đảm bảo
việc quản lý thống nhất góp phần đảm bảo chất lượng dạy nghề giữa các trường
dạy nghề trên phạm vi toàn quốc. Đặc biệt, phải xác định những kiến thức, kỹ
năng và thái độ cơ bản, cần thiết của nghề đưa vào chương trình cho phù hợp. Chú
21
trọng kỹ năng thực hành và hành nghề, có sự tham gia sâu của doanh nghiệp sử
dụng lao động.
c. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề
Trong hệ thống giáo dục, nhất là dạy nghề, phương tiện dạy học, máy móc
thiết bị và cơ sở vật chất, nguồn tài chính là điều kiện quan trọng góp phần quyết
định chất lượng dạy và học. Việc đảm bảo cơ sở vật chất, tài chính phục vụ dạy
nghề nhằm đảm bảo cung cấp đủ máy móc thiết bị và nguyên vật liệu cho đào tạo;
đảm bảo đầy đủ nguồn tài chính cho việc xây dựng cơ sở vật chất và các hoạt động
khác phục vụ cho quá trình dạy học; đảm bảo lớp học, xưởng thực hành, phòng thí
nghiệm, thư viện, đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập; từng bước chuẩn hoá và hiện
đại hoá cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề cho từng nghề, từng cấp trình độ đào tạo để
góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng dạy nghề;
d. Tiêu chuẩn đầu vào của người học
Có thể nói đây là một trong những nhân tố quan trọng góp phần quyết định
đến chất lượng của sản phẩm đầu ra trong đào tạo nghề chất lượng cao. Nếu như các
điều kiện về giáo viên, chương trình và cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu nhưng người
học không có khả năng tiếp thu thì việc đào tạo nghề chất lượng cao khó đạt được
kết quả và cũng khó đạt được các tiêu chí trong thời gian khóa học quy định. Do đó,
xác định tiêu chuẩn đầu vào của người học để sau khóa đào tạo theo chương trình
đào tạo nghề đã được phê duyệt, người học đạt được các yêu cầu về kiến thức, kỹ
năng, thái độ nghề nghiệp và có năng lực tự chủ giải quyết công việc đáp ứng nhu
cầu xã hội là hết sức quan trọng.
e. Các chính sách của Nhà nước
Có thể nói đây là nhân tố bên ngoài quá trình đào tạo nhưng có ảnh hưởng vô
cùng quan trọng đối với đào tạo nghề chất lượng cao. Nhà nước ở từng thời kỳ phát
triển kinh tế xã hội cụ thể mà có chính sách cụ thể cho đào tạo nghề nói chung và
cho đào tạo nghề chất lượng cao nói riêng. Chính sách đó bao gồm cả kế hoạch tài
chính vi mô cũng như vĩ mô cho đào tạo nghề chất lượng cao.
Ngoài ra phương pháp đào tạo, việc quản lý đào tạo, trình độ phát triển kinh tế
xã hội, tốc độ phát triển giáo dục đào tạo và nguồn lực tài chính cũng là những nhân
tố khách quan ảnh hưởng đến vô cùng quan trọng tới đào tạo nghề chất lượng cao.
22
1.2.2. Hệ thống tiêu chí xác định đào tạo nghề chất lượng cao
Trên cơ sở nghiên cứu Quyết định 761/QĐ-TTg ngày 23/5/2014 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển các trường nghề chất lượng cao; các
Quyết định của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành các tiêu
chí, tiêu chuẩn kiểm định trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề và các tài
liệu nghiên cứu khác, tác giả đề xuất áp dụng các tiêu chí để thực hiện đào tạo nghề
chất lượng cao ở Việt Nam như sau:
1.2.2.1. Tiêu chí về học sinh, sinh viên
a. Tiêu chí về thể lực của người học
Sức khỏe của nguồn nhân lực là trạng thái thoải mái về thể chất cũng như
tinh thần của con người. Để phản ánh điều đó có nhiều tiêu chí biểu hiện như: Tiêu
chuẩn đo lường về chiều cao, cân nặng, các giác quan nội khoa, ngoại khoa, thần
kinh, tâm thần, tai, mũi, họng…
b. Tiêu chí về trí lực của người học
- Trình độ đầu vào: đảm bảo đủ điều kiện theo quy định chung của Bộ
LĐTBXH đối với người tham gia học nghề trình độ cao đẳng và trung cấp. Đối với
người học các nghề trọng điểm cấp độ khu vực và quốc tế của các chương trình
chuyển giao từ nước ngoài yêu cầu có thêm trình độ tiếng Anh tối thiểu bậc 2 theo
khung năng lực ngoại ngữ của Việt Nam (tương đương CEFR là A2 và TOEIC là
225-400 điểm)
- Trình độ sau đào tạo: là kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc.
+ Kỹ năng nghề: Học sinh, sinh viên tốt nghiệp hệ trung cấp nghề đạt bậc
2/5, hệ cao đẳng nghề đạt bậc 3/5 của tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia;
+ Có trình độ tin học đạt tiêu chuẩn IC3 hoặc tương đương trở lên;
+ Có trình độ ngoại ngữ tiếng Anh đạt 300 điểm TOEIC hoặc tương đương
trở lên. Trong đó, học sinh, sinh viên tốt nghiệp các nghề trọng điểm theo chương
trình đào tạo được chuyển giao từ nước ngoài có trình độ ngoại ngữ tiếng Anh đạt
450 điểm TOEIC hoặc tương đương trở lên
+ Được các tổ chức giáo dục, đào tạo có uy tín của khu vực ASEAN hoặc
quốc tế công nhận văn bằng, chứng chỉ.
23
- Về năng lực sáng tạo: bên cạnh được trang bị học vấn, chuyên môn nghề
nghiệp thì lao động qua đào tạo nghề CLC phải là lực lượng lao động có khả năng
sáng tạo trong công việc.
c. Tiêu chí về phẩm chất đạo đức
Phẩm chất đạo đức, nhân cách, thái độ và phong cách làm việc cũng được
xem là một tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng đào tạo. Lao động qua đào
tạo nghề CLC phải là lực lượng lao động có đạo đức nghề nghiệp, là sự yêu nghề,
say mê với công việc, có tính kỷ luật và trách nhiệm với công việc. Hơn cả là sự
mong muốn đóng góp tài năng, công sức của mình vào sự nghiệp phát triển chung
của dân tộc.
1.2.2.2. Tiêu chí về giáo viên, giảng viên
- 100% giáo viên đạt chuẩn theo Thông tư số 30/2010/TT-BLĐTBXH
ngày 29/9/2010 quy định chuẩn giáo viên, giảng viên dạy nghề gồm 16 tiêu
chuẩn của 4 tiêu chí là Phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, lối sống; Năng lực
chuyên môn; Năng lực sư phạm dạy nghề và Năng lực phát triển nghề nghiệp,
nghiên cứu khoa học (chi tiết tại Thông tư số 30/2010/TT-BLĐTBXH ngày
29/9/2010 phụ lục kèm theo)
- Có trình độ tin học IC3 hoặc tương đương trở lên
- Có trình độ ngoại ngữ tiếng Anh đạt 350 điểm TOEIC hoặc tương đương
trở lên. Trong đó, giáo viên dạy các nghề trọng điểm được chuyển giao có trình
độ ngoại ngữ tiếng Anh đạt 450 điểm TOEIC hoặc tương đương trở lên.
1.2.2.3. Tiêu chí về chương trình, giáo trình
- 100% Chương trình, giáo trình được xây dựng, điều chỉnh theo chương
trình khung của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc biên soạn lại trong 5
năm trở lại đây; được định kỳ bổ sung, điều chỉnh dựa trên việc tham khảo các
chương trình của nước ngoài, cập nhật những thành tựu khoa học công nghệ tiên
tiến liên quan đến nghề đào tạo và các ý kiến phản hồi từ người sử dụng lao
động, người tốt nghiệp đã đi làm, nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.
- Đối với nghề trọng điểm cấp độ quốc gia các chương trình dạy nghề được
xây dựng, tiếp cận theo yêu cầu của người sử dụng lao động, người lao động; dựa
24
theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, dựa vào kết quả phân tích nghề, phân tích
công việc theo vị trí việc làm và nhiệm vụ của nghề; đồng thời mời các chuyên gia
từ các doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng, đánh giá, tiếp nhận sinh viên
sau đào tạo...
- Đối với các nghề trọng điểm cấp độ quốc tế và khu vực ASEAN được
thực hiện tổ chức đào tạo theo chương trình của nước chuyển giao đảm bảo các
yêu cầu sau:
+ Bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề của quốc gia chuyển giao phải được một tổ chức
giáo dục, đào tạo quốc tế có uy tín công nhận. Đủ nội dung cốt lõi theo bản gốc của
quốc gia chuyển giao. Sẵn sàng cùng các chuyên gia Việt Nam rà soát, bổ sung điều
chỉnh một phần kiến thức, kỹ năng cho phù hợp đặc điểm thị trường lao động của
Việt Nam.
+ Các bộ chương trình chuyển giao phải được tổ chức kiểm định quốc gia của
nước chuyển giao kiểm định và công nhận là bộ chương trình đạt chất lượng của quốc
gia; đồng thời tổ chức kiểm định chương trình của quốc gia chuyển giao phải có văn
bản khẳng định các bộ chương trình chuyển giao đạt chất lượng quốc gia của nước
chuyển giao. Hoặc một tổ chức giáo dục, đào tạo quốc tế có uy tín công nhận đạt chất
lượng kiểm định của tổ chức đó.
+ Chương trình đào tạo của một nghề (mục tiêu đào tạo, danh mục các mô đun,
phân bổ thời lượng cho từng mô đun, từng bài theo từng bậc kỹ năng nghề).
+ Giáo trình của một nghề (tài liệu cho giáo viên và cho học sinh thể hiện
mục tiêu, nội dung kiến thức, kỹ năng theo từng bài, các điều kiện thực hiện các
bài giảng).
+ Phương pháp xây dựng và đánh giá các bài kiểm tra, bài thi theo từng bài
giảng, từng mô đun.
+ Danh mục thiết bị của một nghề (danh mục máy móc, trang thiết bị cần thiết
để giảng dạy cho từng mô đun theo các bậc kỹ năng của từng nghề).
1.2.2.4. Tiêu chí về cơ sở vật chất và quản trị nhà trường.
- Trường đạt cấp độ 3 tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường cao đẳng nghề
quy định tại Quyết định số 02/2008/QĐ-BLĐTBXH của Bộ Lao động, Thương binh
25
và Xã hội ban hành Quy định hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng
trường cao đẳng nghề (phụ lục kèm theo).
- 100% nghề đào tạo đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng chương trình đào tạo.
- 100% cán bộ quản lý của trường được cấp chứng chỉ đào tạo về nghiệp vụ
quản lý dạy nghề. Các hoạt động quản lý của trường và chương trình đào tạo các
nghề trọng điểm được số hóa và mô phỏng hóa theo các công nghệ phần mềm tiên
tiến trên thế giới.
1.3. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH CHO ĐÀO TẠO
NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO
1.3.1. Khái niệm giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao
"Giải pháp tài chính" là phương thức tác động vào sự vận hành của các quan
hệ kinh tế thuộc phạm trù "cơ chế kinh tế" tương ứng, thông qua nhận thức của con
người nhằm đạt tới những mục tiêu quản lý đã xác định. Khi sử dụng khái niệm "giải
pháp tài chính" thì tài chính được xem là một "công cụ" để quản lý kinh tế với các
phương pháp, hình thức và những công cụ được thiết lập ra để quản lý, giám sát các
nguồn lực tài chính trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng nhằm đạt mục tiêu
của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định.
Để các công cụ tài chính phát huy tối đa những tác động tích cực và hạn chế
những tác động tiêu cực đến sự phát triển của sự nghiệp đào tạo nghề, cần phải lựa
chọn đúng mục tiêu, đối tượng, phương thức tác động của từng công cụ. Đồng thời,
phải sử dụng đồng bộ và tổng hợp các công cụ tài chính nhằm khơi thông các nguồn
lực của đất nước cho phát triển sự nghiệp đào tạo nghề. Việc phân phối và sử dụng
các nguồn tài chính cho phát triển kinh tế xã hội nói chung và cho đào tạo nghề nói
riêng được thể hiện thông qua hệ thống các quan điểm, chính sách, cách thức huy
động và sử dụng các nguồn tài chính của các chủ thể, trên cơ sở sử dụng các công cụ
tài chính giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa các chủ thể. Đi tìm giải
pháp tài chính cũng chính là đi tìm những cách thức, biện pháp đó. Nội dung chủ yếu
của các giải pháp tài chính là cách thức sử dụng các công cụ tài chính của các chủ thể
trong các khâu của hệ thống tài chính.
Như vậy "Giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao" được hiểu là
tổng thể các phương pháp, hình thức và công cụ về tài chính được thiết lập ra để quản
26
lý, giám sát các nguồn lực tài chính được hình thành, tạo lập, phân phối sử dụng cho
đào tạo nghề chất lượng cao nhằm đạt mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
trong mỗi thời kỳ.
1.3.2. Nội dung chủ yếu của giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất
lượng cao
1.3.2.1. Giải pháp về huy động nguồn lực tài chính
Huy động nguồn lực tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao là tổng thể các
phương pháp, hình thức và công cụ được thiết lập ra để huy động các nguồn lực tài
chính cho lĩnh vực đào tạo nghề chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho
các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đào tạo nghề chất lượng cao trong mỗi thời kỳ.
Nguồn lực tài chính cho đào tạo nghề thường được chia thành nguồn tài
chính từ NSNN và nguồn tài chính ngoài NSNN. Nội dung của giải pháp huy động
nguồn lực tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao đối với từng kênh huy động cụ
thể như sau:
a. Nguồn NSNN và vai trò của NSNN với đào tạo nghề chất lượng cao.
NSNN là quỹ tiền tệ lớn nhất của Nhà nước, đó là toàn bộ các khoản thu, chi
của Nhà nước trong dự toán đó được các cơ quan có thẩm quyền quyết định và được
thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nước. NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa
phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có tổ chức Hội đồng nhân
dân và Uỷ ban nhân dân. NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung
dân chủ, công khai, minh bạch, có phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm.
Tài chính đào tạo nghề từ nguồn NSNN được cung cấp thông qua các khoản
chi ngân sách cho hoạt động thường xuyên, xây dựng cơ bản và các chương trình
mục tiêu quốc gia... Việc đầu tư cho đào tạo nghề bằng nguồn NSNN có thể thấy rằng
trách nhiệm chủ yếu về phát triển nguồn nhân lực để phát triển quốc gia vẫn đã và
đang là việc của Nhà nước. Chính phủ cũng can thiệp trong việc phân phối đào tạo
nghề để đảm bảo công bằng xã hội cho nhóm các đối tượng yếu thế (người tàn tật,
phụ nữ, người dân tộc thiểu số, người nghèo …) và cho các ngành nghề đặc thù (nghề
nặng nhọc, độc hại, nghề mà xã hội có nhu cầu nhưng khó thực hiện xã hội hóa…).
Đầu tư NSNN cho đào tạo nghề cung cấp các cơ hội cho những người bị hạn chế về
cơ hội thoát khỏi khu vực túng quẫn, khó khăn của xã hội. Hầu hết các khoản đầu tư
27
ngân sách của Chính phủ được thực hiện ở các trường đào tạo trước khi tham gia thị
trường lao động. Một số các cơ sở đào tạo nhận được nguồn tài trợ từ ngân sách
chính phủ thông qua các khoản tài trợ, các khoản ngân sách được phân bổ, các khoản
hỗ trợ về thuế, đầu tư từ các chương trình mục tiêu với những khoản tài trợ đặc biệt,
đầu tư từ các dự án phát triển…
Vai trò của NSNN không chỉ đơn thuần là cung cấp tiềm lực tài chính để duy
trì củng cố các hoạt động đào tạo nghề mà còn có tác dụng định hướng hoạt động đào
tạo nghề phát triển theo đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước, cụ thể:
Thứ nhất, NSNN là nguồn tài chính cơ bản để duy trì và phát triển của hệ thống
đào tạo nghề theo đúng đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Thông qua cơ cấu, định mức chi ngân sách chi đào tạo nghề có tác dụng điều
chỉnh cơ cấu, quy mô đào tạo nghề toàn ngành. Trong điều kiện đa dạng hóa đào tạo
nghề thì vai trò định hướng của Nhà nước thông qua chi ngân sách để điều phối là
rất quan trọng, đảm bảo cho đào tạo nghề phát triển theo đường lối của Đảng và
Nhà nước.
Thứ hai, NSNN đóng vai trò quyết định trong việc củng cố tăng cường số
lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy. Giúp cho đội ngũ cán bộ giảng dạy có
điều kiện không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Đồng thời,
hàng năm NSNN đã tài trợ cho việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy ở trong và
ngoài nước.
Thứ ba, NSNN đầu tư cho đào tạo nghề tạo điều kiện ban đầu để xây dựng cơ
sở vật chất, mua sắm trang thiết bị. Đây là khoản chi có ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng đào tạo nghề. Điều này là cơ sở, là tiền đề để có thể thu hút được nguồn tài
chính từ phía nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội trong và ngoài nước. Thu hút các
nguồn tài chính từ lao động sản xuất, hợp đồng nghiên cứu ứng dụng khoa học công
nghệ của các cơ sở đào tạo nghề.
Thứ tư, NSNN đầu tư các mục tiêu, chương trình trong lĩnh vực đào tạo nghề,
qua đó sẽ tạo điều kiện cho các trường tăng cường cơ sở vật chất, tăng cường trang
thiết bị dạy học, tạo điều kiện bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy tại các chương
trình bồi dưỡng giáo viên và xây dựng, biên soạn chương trình, giáo trình đào tạo
28
nghề..., thí điểm tổ chức đào tạo theo các chương trình chuyển giao từ các nước tiên
tiến trên thế giới.
Thứ năm, NSNN đầu tư cho đào tạo nghề đã góp phần giải quyết những vấn
đề thuộc chính sách xã hội như: chính sách dân tộc, khu vực, con gia đình chính sách
và các đối tượng yếu thế trong xã hội...
b. Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp của các CSDN
Phát triển đào tạo nghề không chỉ đem lại lợi ích cá nhân người học nghề mà
còn đem lại lợi ích cho toàn xã hội; vì vậy ngoài nguồn tài chính từ NSNN là nguồn
tài chính chủ yếu đầu tư cho đào tạo nghề thì ở hầu hết các quốc gia đều có cơ chế
chính sách huy động các nguồn tài chính ngoài NSNN để phát triển đào tạo nghề
nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng lớn của mọi công dân và phát triển nguồn
nhân lực có chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp bao gồm:
b1. Học phí, lệ phí tuyển sinh học nghề
Đào tạo nghề là hàng hoá công cộng nhưng là hàng hoá công cộng không
thuần tuý vì không khó khăn gì trong việc xác định các đối tượng trực tiếp sử dụng
dịch vụ đào tạo nghề, những người trực tiếp sử dụng dịch vụ đào tạo nghề là những
người trực tiếp được hưởng lợi do đào tạo nghề đem lại. Vì vậy, người học phải có
trách nhiệm đóng góp thông qua phí dịch vụ đào tạo nghề để tạo lập nguồn tài chính
đầu tư cho đào tạo nghề. Tạo lập nguồn tài chính đầu tư cho đào tạo nghề thông qua
việc thu phí đào tạo nghề có tác dụng nâng cao trách nhiệm của người dân và trách
nhiệm của các cơ sở cung cấp dịch vụ đào tạo nghề trong việc đảm bảo chất lượng và
hiệu qủa đào tạo nghề, từ đó thúc đẩy đào tạo nghề phát triển về quy mô, chất lượng
và hiệu qủa.
Những tác động tích cực của chính sách thu học phí:
- Thu học phí góp phần xóa bỏ chế độ bao cấp tràn lan trong cung cấp dịch vụ
đào tạo nghề; tạo thêm nguồn tài chính đáng kể đối với các cơ sở đào tạo nghề để
tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học, nâng cao chất lượng
giáo dục, cải thiện đời sống của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý trong cơ sở đào
tạo nghề.
29
- Góp phần nâng cao nhận thức về trách nhiệm của người dân trong việc chăm
lo sự nghiệp đào tạo nghề. Hơn nữa học phí đã thể hiện được chính sách ưu tiên miễn,
giảm cho các đối tượng chính sách xã hội.
- Học phí ở các cơ sở GD - ĐT công lập nói chung và các cơ sở đào tạo nghề
công lập nói riêng đã từng bước đáp ứng được yêu cầu quản lý của Nhà nước trên
các mặt:
+ Học phí được thống nhất quy định theo thẩm quyền, thể hiện được tương
quan giữa từng bậc đào tạo.
+ Việc quy định khung học phí một mặt tạo điều kiện cho Nhà nước kiểm
soát, mặt khác đã tạo quyền chủ động cho các trường và các địa phương trong việc tự
xây dựng quy định mức thu học phí cụ thể; từ đó đảm bảo mức thu học phí phù hợp
với khả năng đóng góp của dân cư từng địa phương và phù hợp với yêu cầu phát triển
của từng ngành nghề đào tạo, hình thức đào tạo, hoàn cảnh của học sinh.
Bên cạnh đó để đảm bảo bình đẳng về cơ hội học tập cho mọi công dân, các
quốc gia đều có chính sách miễn, giảm học phí cho các đối tượng chính sách xã
hội, người nghèo...đặc biệt là chính sách tín dụng cho người học. Song song với
việc hoàn thiện chính sách thu học phí và lệ phí tuyển sinh theo giá cung ứng dịch
vụ, Nhà nước cũng hoàn thiện về chính sách tín dụng cho người học để giúp cho
các đối tượng là người nghèo cũng được tham gia học nghề, tạo cơ hội về công ăn
việc làm.
b2. Thu từ hoạt động sự nghiệp khác
Bao gồm các khoản thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tư vấn,
chuyển giao công nghệ... của cơ sở đào tạo nghề. Các khoản thu này hình thành từ
hoạt động sản xuất, thực nghiệm tại các khoa, ban đào tạo và các ngành nghề có thực
nghiệm tạo ra sản phẩm, hoặc các đơn vị được hình thành để chuyên trách hoạt động
sản xuất dịch vụ của CSDN. Liên kết với các địa phương, trường bạn, với các cơ sở
sản xuất trên cơ sở vận dụng các hình thức đa dạng hoá hình thức đào tạo - hoạt động
này thực hiện thông qua các hợp đồng đào tạo; khai thác cơ sở vật chất như ký túc xá,
giảng đường, phòng học; bàn học, cho thuê giáo trình, tài liệu, sản phẩm thực hành,
sản phẩm thí nghiệm... của từng CSDN.
30
c. Đầu tư, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
Chủ trương xã hội hoá các hoạt động đào tạo nghề đã huy động sự tham gia
đóng góp của toàn dân đối với sự nghiệp đào tạo nghề trên cả 3 mặt: nhân lực, vật lực,
tài lực. Việc đóng góp của các địa phương và nhân dân cho sự nghiệp đào tạo nghề
tăng lên đáng kể hàng năm. Qua đó mở ra tiềm năng huy động các nguồn đầu tư cho
đào tạo nghề, tạo cơ hội để các lực lượng xã hội tham gia tích cực hơn công tác đào tạo
nghề đặc biệt là doanh nghiệp với trách nhiệm là người sử dụng lao động qua đào tạo.
Về đầu tư, tài trợ của các tổ chức, cá nhân nước ngoài, đây là nguồn tài chính
quan trọng cho phát triển đào tạo nghề từ các nguồn viện trợ phát triển ODA, đầu tư
của nước ngoài và các tổ chức quốc tế.
Với chủ trương xã hội hoá đào tạo nghề, đa dạng hoá các hình thức huy động
nguồn tài chính để huy động được một nguồn tài chính đáng kể từ nguồn ngoài ngân
sách đầu tư cho đào tạo nghề. Nguồn kinh phí này đã bổ sung những thiếu hụt của
ngân sách, góp phần vào việc duy trì, ổn định và phát triển sự nghiệp đào tạo nghề.
Vai trò đó được thể hiện như sau:
Thứ nhất, các khoản thu ngoài NSNN góp phần tăng nguồn đầu tư cho sự
nghiệp đào tạo nghề để củng cố và mở rộng, tăng cường cơ sở vật chất, mua sắm
trang thiết bị, cải thiện điều kiện giảng dạy và học tập, cải thiện đời sống của cán bộ
giảng dạy và học sinh, sinh viên học nghề.
Thứ hai, thực hiện đa dạng các nguồn tài chính đầu tư cho đào tạo nghề, qua
đó phát huy trách nhiệm của cộng đồng với sự nghiệp đào tạo nghề; khai thác được
tiềm năng của các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội đầu tư cho đào tạo nghề.
Thứ ba, phát huy được tính tự chủ của các cơ sở đào tạo nghề trong việc khai
thác nguồn tài chính đầu tư cho đào tạo nghề, xoá bỏ tư tưởng trông chờ vào nguồn
ngân sách cấp. Nguồn tài chính ngoài ngân sách có tiềm năng rất lớn, nếu chúng ta có
chính sách, giải pháp huy động có hiệu quả.
Thứ tư, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở đào tạo nghề, thúc
đẩy các cơ sở đào tạo nghề nâng cao chất lượng.
1.3.2.2. Giải pháp về đầu tư, sử dụng nguồn lực tài chính
Giải pháp đầu tư, sử dụng nguồn lực tài chính cho đào tạo nghề chất lượng
cao là tổng thể các phương pháp, hình thức và công cụ được thiết lập ra để phân
31
bổ, sử dụng các nguồn lực tài chính được huy động cho lĩnh vực dạy nghề nhằm
đạt mục tiêu phát triển đào tạo nghề chất lượng cao, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực trong mỗi thời kỳ.
Việc đầu tư, sử dụng nguồn lực tài chính dạy nghề nếu xem xét dưới góc độ
tính chất của khoản chi có thể được chia làm 03 nhóm: chi thường xuyên, chi đầu tư
phát triển và chi CTMTQG.
a. Kinh phí chi thường xuyên
Kinh phí chi thường xuyên là nguồn kinh phí chủ yếu để thực hiện chỉ tiêu đào
tạo nghề. Chi thường xuyên của NSNN là các khoản chi gắn với việc thực hiện các
nhiệm vụ thường xuyên của các cơ sở đào tạo nghề thuộc phạm vi cấp phát vốn của
NSNN. Số kinh phí được cấp hàng năm phụ thuộc vào chỉ tiêu học sinh được giao
đào tạo thuộc diện NSNN cấp kinh phí. Căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
hàng năm để giao chỉ tiêu học sinh được NSNN cấp kinh phí đào tạo cho các trường
công lập, khoản kinh phí này được xác định bởi định mức chi bình quân cho 1 học
sinh và số học sinh được hưởng kinh phí ngân sách. Nguồn NSNN để đáp ứng nhu
cầu chi thường xuyên cho đào tạo nghề, thường được thể hiện qua cơ cấu các nhóm
mục chi sau:
- Nhóm thanh toán cá nhân gồm: tiền lương, tiền công, phụ cấp lương, tiền
thưởng, phúc lợi tập thể, đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công
đoàn theo quỹ lương. Nhóm chi này theo chế độ nhà nước quy định cho giáo viên và
cán bộ viên chức quản lý trong cơ sở đào tạo nghề.
- Nhóm chi về nghiệp vụ chuyên môn giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa
học như: chi mua tài liệu phục vụ giảng dạy và học tập; cho biên soạn sách giáo
khoa, giáo trình và các tài liệu khác phục vụ giảng dạy và học tập; chi mua các
phương tiện dạy học; chi mua nguyên nhiên vật liệu thực tập, nghiên cứu và hội
thảo khoa học; các khoản chi khác phục vụ cho hoạt động quản lý hành chính tại cơ
sở đào tạo nghề.
- Nhóm chi quản lý hành chính như: chi công tác phí, chi phí dịch vụ công
cộng (điện, nước, điện thoại, internet...); chi giao dịch tiếp khách và các khoản chi
khác phục vụ cho hoạt động quản lý hành chính tại cơ sở đào tạo nghề.
32
- Nhóm chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định như chi mua sắm các trang thiết
bị cho các phòng học, phòng làm việc, phòng thí nghiệm, phòng thực hành, thư viện,
công sở làm việc và các trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập và
nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo nghề.
b. Kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản
Chi đầu tư xây dựng cơ bản của NSNN cho đào tạo nghề nhằm đáp ứng nhu
cầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho từng cơ sở đào tạo nghề. Chi đầu tư xây
dựng cơ bản của NSNN cho đào tạo nghề bao gồm: chi xây dựng mới, cải tạo, nâng
cấp trường học, phòng học, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, thư viện, công sở
làm việc và các trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu
khoa học ở các cơ sở đào tạo nghề.
Chi đầu tư xây dựng cơ bản cho đào tạo nghề không chỉ cung cấp nguồn lực tài
chính để duy trì, củng cố và phát triển cơ sở vật chất, thiết bị cho đào tạo nghề mà còn
có tác dụng định hướng, điều chỉnh các hoạt động đào tạo nghề phát triển theo mục tiêu
nhất định. Do đó, với mục tiêu đào tạo nghề chất lượng cao thì việc ưu tiên đầu tư nhà
xưởng, thiết bị cho thực hành nghề trong quá trình đào tạo được đặc biệt quan tâm.
c. Kinh phí chương trình mục tiêu Quốc gia
Để thực hiện những mục tiêu cụ thể có tính cấp bách hoặc giải quyết những
tồn tại lớn trong đào tạo nghề ở những thời kỳ cụ thể nhằm tạo ra những chuyển biến
tích cực về cơ cấu, nội dung chương trình, chất lượng và hiệu qủa trong giáo dục, các
quốc gia và đặc biệt các nước đang phát triển thường sử dụng một phần nguồn tài
chính từ NSNN để thực hiện các chương trình mục tiêu giáo dục, trong đó có đào tạo
nghề. Tuỳ thuộc vào những mục tiêu cụ thể có tính cấp bách về đào tạo nghề ở từng
thời kỳ mà mỗi quốc gia lựa chọn những chương trình mục tiêu khác nhau. Các
chương trình mục tiêu cho giáo dục bao gồm về lĩnh vực đào tạo nghề thường được
thực hiện là:
- Chương trình mục tiêu tăng cường cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo nghề
- Chương trình mục tiêu nâng cao chất lượng và chuẩn hoá đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý đào tạo nghề
- Chương trình mục tiêu về đổi mới các chương trình, nội dung giáo trình
33
- Chương trình mục tiêu về đổi mới và phát triển đào tạo nghề và các chương
trình mục tiêu khác.
Với mỗi chương trình ở từng thời điểm nhất định sẽ có giải pháp tài chính phù
hợp. Các giải pháp tài chính thường được thực hiện đối với các chương trình mục tiêu
quốc gia về lĩnh vực đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề chất lượng cao bao gồm:
(1). Đầu tư nâng cao năng lực cho các cơ sở dạy nghề trọng điểm.
Trên cơ sở mạng lưới các cơ sở dạy nghề trong cả nước, các nhà quản lý phải
lựa chọn ra các cơ sở dạy nghề cần ưu tiên để hỗ trợ đầu tư đảm bảo mục tiêu phát
triển đào tạo nghề ở mỗi thời kỳ. Với nguồn lực được đầu tư từ NSNN và các nguồn
lực hợp pháp khác, các cơ sở dạy nghề chủ động trình cơ quan chủ quản kế hoạch và
thực hiện đầu tư trên cơ sở nhu cầu của đơn vị.
- Tăng cường cơ sở vật chất thiết bị bao gồm cả tăng cường công nghệ thông
tin trong quản lý dạy và học
- Đào tạo, bồi dưỡng tăng cường năng lực cho giáo viên, giảng viên và cán bộ
quản lý
- Phát triển chương trình, giáo trình; tiêu chuẩn cơ sở vật chất thiết bị
- Phát triển hệ thống kiểm định chất lượng đào tạo nghề
- Phát triển hệ thống đánh giá kỹ năng nghề quốc gia
(2). Đầu tư tập trung cho các nghề trọng điểm
Trên cơ sở danh mục nghề được ban hành, cơ quan quản lý nhà nước về đào
tạo nghề ở trung ương phối hợp với các bộ ngành, địa phương xác định các ngành
nghề cần ưu tiên đầu tư phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của ngành,
địa phương và quy hoạch cơ sở dạy nghề được đầu tư nghề trọng điểm. Theo đó,
các cơ sở dạy nghề thực hiện đầu tư các nghề đã được quy hoạch đối với nguồn
kinh phí được phê duyệt để đầu tư nghề trọng điểm theo kế hoạch của cơ quan quản
lý cấp trên.
Xuất phát từ việc nguồn lực là có hạn nên để các cơ sở dạy nghề chủ động đầu
tư các nghề dẫn tới việc đầu tư dàn trải và không đồng bộ các điều kiện đảm bảo chất
lượng nên cần phải thống nhất tập trung đầu tư theo nghề trọng điểm. Việc đầu tư
34
nghề trọng điểm cũng gồm các nội dung như việc đầu tư cho cơ sở dạy nghề trọng
điểm nhưng chỉ cho các nghề đã được quy hoạch mà thôi.
(3). Thí điểm đặt hàng đào tạo nghề
Khắc phục những hạn chế của việc giao dự toán hiện tại là chưa gắn với chỉ
tiêu đào tạo, sản phẩm đầu ra và kết quả cuối cùng nên các trường đào tạo nghề tập
trung vào những nghề dễ đào tạo, chi phí thấp. Những nghề cần cho ngành kinh tế
trọng điểm, những nghề nặng nhọc, độc hại, chi phí đào tạo cao, khó tuyển sinh,
không hấp dẫn đối với trường đào tạo nghề và người học nghề thì ít được quan tâm
dẫn tới sự thiếu hụt lao động có nghề ở những ngành, nghề này. Do đó, cần nghiên
cứu xây dựng và từng bước thực hiện chính sách đấu thầu cung cấp dịch vụ do nhà
nước đặt hàng; khuyến khích các cơ sở thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia nhằm
cải cách cơ chế giao chỉ tiêu kế hoạch đào tạo và phân bổ, cấp phát kinh phí ngân
sách hiện nay. Giá đặt hàng đào tạo nghề là giá dịch vụ đào tạo tính đúng tính đủ chi
phí đào tạo trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật.
Để từng bước thực hiện chủ trương trên đây, khi chưa có chính sách cụ thể cho
việc đặt hàng đào tạo nghề thì cần thí điểm đào tạo nghề theo cơ chế đặt hàng để sau
đó đánh giá tổng kết và ban hành chính sách cụ thể. Thí điểm đặt hàng gồm những
nội dung sau:
- Nghề đào tạo được lựa chọn thí điểm dựa trên cơ sở đề xuất của các Bộ,
ngành và phải bảo đảm các yêu cầu:
+ Là nghề để đáp ứng nhu cầu cho các ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước;
+ Là nghề nặng nhọc, độc hại, khó tuyển sinh mà nhu cầu sản xuất đang cần
tuyển dụng;
+ Là nghề mà thị trường lao động thiếu nhưng do chi phí đào tạo cao nên các
trường đào tạo nghề không muốn đào tạo.
Ưu tiên đối tượng là người có công với cách mạng, dân tộc thiểu số, người
khuyết tật, hộ nghèo, người bị thu hồi đất canh tác,
- Phương thức thực hiện: Để đảm bảo tính cạnh tranh về năng lực, kinh
nghiệm trong đào tạo nghề; chất lượng đào tạo (tỷ lệ khá, giỏi của học sinh tốt
nghiệp); hiệu quả khi học sinh tốt nghiệp ra trường và chi phí đào tạo..., phương thức
đấu thầu rộng rãi để lựa chọn cơ sở đào tạo.
35
- Đối tượng nhận đặt hàng: Là các trường đào tạo nghề (công lập, ngoài công
lập) đảm bảo đủ các điều kiện cần thiết nêu trong hồ sơ mời thầu như: có chức năng
đào tạo nghề và đã đào tạo những nghề được lựa chọn trên đây; đã có thời gian hoạt
động đào tạo từ 5 năm trở lên; đảm bảo về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, chương
trình, giáo trình theo tiêu chuẩn quy định hiện hành; được cơ quan chủ quản (nếu có)
chấp thuận cho ký hợp đồng đào tạo, đảm bảo các điều kiện khác…
- Kinh phí đặt hàng đào tạo nghề: NSNN; Học phí do học sinh đóng góp;
Nguồn khác: đóng góp của doanh nghiệp (nếu có)...
Trong đó phần học phí thu được sẽ bị thu hồi lại và khấu trừ vào phần NSNN
cấp, học bổng khuyến khích học tập cho học sinh sẽ được cấp bù từ nguồn NSNN
cho các trường.
(4). Chuyển giao các bộ chương trình; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ
quản lý đào tạo nghề ở các nước tiên tiến và thực hiện đào tạo thí điểm các nghề
trọng điểm cấp độ khu vực ASEAN và quốc tế.
Đây là con đường tiếp cận nhanh nhất trong đào tạo nguồn nhân lực có tay
nghề cao tại Việt Nam khi gia nhập cộng đồng ASEAN và TPP; các bộ chương trình
theo từng nghề được chuyển giao phải được thực hiện đồng bộ, trọn gói.
Do chưa có đủ các điều kiện cả về cơ sở vật chất cũng như đội ngũ giáo viên
và các điều kiện khác, để triển khai đại trà về đào tạo nghề chất lượng cao, cần thiết
thí điểm việc thực hiện đào tạo theo chương trình chuyển giao của các nước tiên tiến
trên thế giới nhằm học tập các khâu trong quá trình đào tạo để đảm bảo chất lượng
học sinh sinh viên sau tốt nghiệp được tổ chức kiểm định có uy tín trên thế giới đánh
giá và công nhận.
- Nghề chuyển giao: là nghề trong danh mục các nghề trọng điểm đã được
quy hoạch
- Nội dung chuyển giao: phải thực hiện đồng bộ, trọn gói, bao gồm: Tiêu
chuẩn kỹ năng nghề/ tiêu chuẩn năng lực; Chương trình đào tạo (trung cấp nghề và
cao đẳng nghề); Giáo trình (theo chương trình đào tạo); Phương pháp xây dựng và
đánh giá kết quả học tập; Danh mục máy móc, trang thiết bị.
36
- Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cho giáo viên và cán bộ quản lý:
+ Bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề và nghiệp vụ sư phạm cho giáo
viên đào tạo nghề đạt tiêu chuẩn giáo viên của nước chuyển giao chương trình để dạy
chương trình đã chuyển giao
+ Bồi dưỡng phương pháp xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề, phương pháp
xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình, đánh giá kết quả học tập của học sinh,
sinh viên... (gọi chung là bồi dưỡng chuyển giao công nghệ đào tạo)
- Đào tạo thí điểm cho học sinh của các nghề chuyển giao: trên cơ sở chương
trình chuyển giao, công nghệ đào tạo chuyển giao các cơ sở dạy nghề cần chuẩn bị
các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, giáo viên để tổ chức đào tạo thí điểm. Việc
tổ chức đào tạo từ khâu kế hoạch đến tổ chức thực hiện cần có sự giám sát và tư vấn
của bên chuyển giao chương trình và kiểm định của các tổ chức kiểm định độc lập
quốc tế.
1.4. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ VIỆC SỬ DỤNG CÁC GIẢI PHÁP
TÀI CHÍNH CHO ĐÀO TẠO NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO VÀ BÀI HỌC CHO
VIỆT NAM
1.4.1. Kinh nghiệm quốc tế về giải pháp tài chính trong đào tạo nghề
1.4.1.1. Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức
Ở Đức, việc đầu tư phát triển đào tạo nghề được coi trọng và được thực
hiện hàng năm như kinh phí thường niên. Quỹ đào tạo nghề và đào tạo tiếp tục
được hỗ trợ bởi nhiều bên, cả công và tư như: các Bộ Giáo dục và Nghiên cứu
Liên bang (BMBF), Bộ Kinh tế và Công nghệ Liên bang (BMWi), Bộ Lao động
và Xã hội liên bang (BMAS), Cơ quan Lao động Liên bang (BA), các bang khác
nhau, các Bộ đất đai việc làm, kinh tế, giáo dục hoặc văn hoá, Liên minh châu Âu,
chính quyền địa phương, các công ty, đoàn thể, các doanh nghiệp, các hiệp hội,
các tổ chức tư nhân và các cá nhân. Hệ thống tài chính cho đào tạo nghề ban đầu
(IVET) và đào tạo nghề thường xuyên khác đáng kể so với hệ thống tài chính đầu
tư cho các trường học phổ thông và các trường đại học trong khu vực, trong đó
bao gồm cả lợi ích từng nguồn tài trợ công [60]. Hình 1.2 dưới đây cung cấp một
bức tranh toàn cảnh về cơ cấu nguồn vốn cho đào tạo nghề ban đầu của các trường
nghề tại Đức.
37
Sử dụng chi phí
Nguồn chi phí
Tổ chức chịu trách nhiệm
Nhà nước CP liên bang
Chương trình phối hợp cụ thể
Chi phí và thuế trực tiếp
Các bang 80%
Một phần hoặc toàn phần quỹ cho vị trí đào tạo
Đóng góp vào bảo hiểm thấtnghiệp, ½ sốtiền do
Thành phố 20%
Chi phí cho học viên
Chi phí cho người đào tạo
Chi phí và thuế trực tiếp
Chi phí con người
Địa điểm
CQ lao động Liên bang
Chiphí đào tạo
Đóng góp
Đóng góp vào bảo hiểm thấtnghiệp, ½ số tiền do
Chi phí vật chất
Dự phòng
Chi phí cho khoá học nội bộ
Tổng giá trị đóng góp vào, năng suất
Biện pháp thị trường lao độngtích cực
Đào tạo nghề
Trợ cấp CP Liên bang
Trợ cấp cho GD&ĐTN
Doanh nghi(cid:0)p
Chi phí khác
Hỗ trợ giảng dạy
Chi phí DN
QA bảo hộ LĐ
Đóng góp của EU
EU/ESF
Phí khóa học bên ngoài
Phí quản lý đào tạo
Chi phí đào tạo khác
Tổ chức tư nhân Doanh nghiệp Các nước thành viên Châu Âu
Hình 1.2: Cơ cấu nguồn vốn cho đào tạo nghề ban đầu (các trường nghề)
38
a. Đầu tư cho đào tạo nghề ban đầu
Quỹ đào tạo tại công ty theo hệ thống đào tạo nghề kép do chính các doanh
nghiệp trợ cấp, đầu tư. Các công ty tự chủ trong mọi hoạt động đào tạo của mình về
số lượng học viên, người đào tạo, chương trình dạy thực hành, chi phí cho đào
tạo… theo luật pháp và các quy định.
Việc phân bổ tài chính được phân bổ theo các lĩnh vực khác nhau nhằm đảm
bảo đào tạo đáp ứng nhu cầu hiện tại và phát triển tương lai, các hình thức đào tạo
được đầu tư như:
Trung tâm đào tạo liên công ty;
Các chương trình đổi mới để hiện đại hóa chương trình đào tạo và phát huy
tính linh hoạt của các chương trình đào tạo.
Chi phí thường xuyên cho đào tạo và đào tạo nghề tiếp tục được cấp bởi các
cơ quan khác nhau bao gồm cả công và tư.
Hàng năm Chính phủ Đức cấp tài chính cho các trường thuộc hệ thống đào
tạo nghề kép và các trường đào tạo nghề toàn thời gian.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cụ thể là các công ty thương mại thủ công
nghiệp là những nhà cung cấp đào tạo quan trọng, tuy nhiên lại không đủ các mảng
về đào tạo theo yêu cầu của quy tắc đào tạo. Điều này chủ yếu là do sự phân chia lao
động trong quá trình sản xuất ngày càng tăng cả về chuyên môn và một vài trường
hợp tăng về tài chính hoặc thay đổi công nghệ. Chính vì sự hạn chế này các nhà cung
cấp đào tạo được bù đắp các biện pháp đào tạo bên ngoài tại các trung tâm đào tạo
nghề liên công ty (In-company vocational training centres ÜBS) hoặc có các cấu trúc
đào tạo rõ ràng. ÜBS hoạt động chủ yếu thông qua các tổ chức như các phòng công
nghiệp (chambers) hoặc các cơ quan luật pháp tư nhân không tạo ra lợi nhuận như
các thành phố và tổ chức thương mại. ÜBS được nhận quỹ tài chính từ cơ quan liên
bang về việc làm và chính quyền trung ương (vốn tài trợ từ nguồn của BMBF).
b. Đầu tư cho đào tạo nghề kép
Nhà nước và doanh nghiệp cùng có trách nhiệm đóng góp tài chính cho đào
tạo nghề để thực hiện hệ thống đào tạo nghề kép. Hệ thống đào tạo nghề kép của Đức
có thể hiểu là học ở trung tâm và thực hành ở doanh nghiệp trong suốt thời gian học
nghề từ 3 năm đến 3 năm rưỡi tùy theo nghề học. Tất cả các lý thuyết và kỹ năng cơ
bản đều được đào tạo tại trường còn ứng dụng vận hành tại doanh nghiệp. Tuy nhiên
39
ngay cả học lý thuyết ở trường hoặc trung tâm đào tạo thì lý thuyết đó cũng được
thực hành trên các modul thật hoặc bài giảng 3D trên màn hình chứ không phải lý
thuyết chay. Khi xuống doanh nghiệp, học sinh hoàn toàn thực hành các kiến thức, kỹ
năng đã được học tại trung tâm. Học sinh học nghề tại doanh nghiệp được ký hợp
đồng với doanh nghiệp, được hưởng hỗ trợ về tài chính trong quá trình học và được
nhận vào làm sau khi tốt nghiệp mà không phải thực tập nghề nữa. Cũng có thể sau
khi học người học không làm cho công ty này mà làm cho công ty khác.
Quỹ chung được đóng góp bởi các công ty công và tư nhân. Chi phí này do
BIBB phụ trách tính toán. Cụ thể trong nghiên cứu mới nhất về chi phí và lợi ích
của các doanh nghiệp trong mô hình đào tạo nghề kép năm 2007 cho thấy: tổng chi
phí cho đào tạo nghề (chi phí gộp) là 23.8 tỉ Euro, khoản chi này dùng để chi cho
người học nghề, người đào tạo, chi phí vật chất và chi phí khác, trong đó lợi ích là
18.2 tỉ Euro (sản phẩm do học viên tạo ra) và chi phí ròng là 5.6 tỉ Euro, cụ thể một
học viên học tại doanh nghiệp tại Đức nhận được một khoản tiền cho học nghề là
15.288 Euro mỗi năm: 9.490 Euro học trình học liệu, chi phí cho người đào tạo là
3.293 Euro. Chi phí thiết bị và chi phí khác lên đến 2.505 Euro. Trong khi đó, mỗi
học viên sản xuất ra sản phẩm một năm là 11.692 Euro, như vậy chi phí ròng mà
Chi phí
Chi phí vật chất
Chi phí khác
Chi phí cho học nghề
Chi phí cho người đào tạo
Lương học người học nghề
Đào tạo toàn thời gian
Địa điểm đào tạo (thiết bị, công cụ)
Dụng cụ và phương tiện dạy học
Lợi ích xã hội
Đào tạo bán thời gian
Trung tâm công ty đào tạo
Đào tạo bên ngoài
Các lớp học bên trong
một doanh nghiệp đầu tư cho một lao động mỗi năm sẽ là 3.596 Euro.
Lợi ích xã hội tự nguyện
Hình 1.3: Các khoản chi phí của một học sinh trong năm
Nguồn: BIBB, Survey about costs and benefits in 2007 of BIBB, 2007
40
Chi phí ròng = Chi phí gộp - Lợi ích
Bảng 1.1: Chi phí trung bình một năm của doanh nghiệp chi
cho một học viên ngành cơ điện tử
Đơn vị tính: Euro
Tổng cộng Cơ điện tử
15.288 16.584 Chi phí lớn
11.692 7.215 Lợi ích
3.596 9.369 Chi phí tịnh
Việc phân bổ chi phí gộp cho mỗi học viên và các loại chi phí mỗi năm và
phần trăm trong tổng chi phí lớn của nghề cơ điện tử năm 2007 như sau (hình1.4).
Hình 1.4: Cơ cấu chi đào tạo
Nguồn: BIBB, Survey about costs and benefits in 2007 of BIBB, 2007
Số lượng nghề được yêu thích mỗi năm tùy thuộc vào lựa chọn của người
học, chi phí cho mỗi nghề cũng khác nhau do tính chất mỗi nghề khác nhau, ví dụ
nghề kỹ sư đòi hỏi các khoản chi phí đầu tư cao hơn cho máy móc, người đạo tạo có
trình độ cao, chi phí trang thiết bị đắt hơn.
Các doanh nghiệp căn cứ vào chỉ tiêu và số lượng học viên đăng ký mà tính
chi phí cho đào tạo. Từ đó mà các công ty tự phân bổ chi phí cho các ngành nghề
41
mà họ đào tạo như: chi phí cho những hoạt động, chi phí cho học nghề, chi phí đào
tạo và các chi phí khác.
Ở Đức không đầu tư cho các nghề trọng điểm, mà hàng năm tùy theo sở
thích và số lượng đăng ký học nghề của học sinh mà doanh nghiệp phân bổ kinh
phí. Ví dụ như: năm 2011, có 10 ngành nghề mà được học viên yêu thích như Giáo
viên, y tá, kỹ sư, đầu bếp, kinh doanh, kỹ sư công nghệ thông tin, nhân viên bán
hàng, nhân viên văn phòng, kỹ sư công nghiệp, nhân viên khách sạn. Cụ thể: tùy
ngành nghề mà học viên được nhận chi phí hỗ trợ khác nhau:
Tính đến cuối quý 1 năm 2013, các ngành nghề được yêu thích nhất năm 2011:
Bảng 1.2: Chi phí hỗ trợ một số ngành nghề được đánh giá yêu thích
tại Đức [48]
Ngành nghề Chi phí hỗ trợ (Euro/1 tháng) Chi phí khác
Y tá 650-850
Kỹ sư 750-950 Chi phí học
nghề + chi phí đào Đầu bếp 400-650
tạo + chi phí vật Kinh doanh 650-850
lý + chi phí khác Kỹ sư CNTT 650-850
Nhân viên ngân hàng 700-900
NV Văn phòng 450-850
Đến cuối năm 2011 con số nghề yêu thích còn thay đổi phụ thuộc vào các yếu
tố như thời lượng đào tạo, trợ cấp đào tạo và ngành nghề đào tạo, nghề nào cần nhiều
thiết bị máy móc hay cần người đào tạo có trình độ cao lại cần có chi phí cao hơn.
c. Đầu tư cho đào tạo nghề tại các trường đào tạo toàn thời gian
Quỹ này chủ yếu cho các trường công lập do trích từ nguồn NSNN liên bang.
Do phân cấp giữa các bang và các thành phố dẫn đến sự phân chia tài chính cho các
trường bên trong và bên ngoài. Trong khi đó, các bang chịu trách nhiệm chi phí về
đào tạo, thành phố chịu chi phí về vật chất và đầu tư trang thiết bị từ nguồn kinh phí
của họ. Hiện nay, các bang chịu 80% chi phí cho các trường nghề bao gồm cả chi
phí cho học sinh thuộc các trường nghề toàn thời gian.
42
1.4.1.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Sau khi cải cách giáo dục, Trung Quốc đã đầu tư hơn cho giáo dục đào tạo
nghề vào những năm gần đây và họ đã chọn giáo dục đào tạo nghề là động lực để
phát triển giáo dục. Mục đích đầu tư vào giáo dục đào tạo nghề là do tăng nhu cầu
về công nhân có tay nghề, đảm bảo chất lượng và cơ sở hạ tầng. Có nhiều lý do
quan trọng mà chính phủ Trung Quốc đang chọn để đầu tư vào giáo dục đào tạo
nghề vào thời điểm này. Một trong những lý do đó liên quan tới việc làm và kinh
doanh. Hiện nay, có nhiều khu vực có lực lượng lao động thất nghiệp lớn. Điều này
càng bị ảnh hưởng trầm trọng bởi khủng hoảng tài chính quốc tế. Thêm vào đó là
những ảnh hưởng mà chính phủ Trung Quốc đang phải đối mặt, cũng có những tác
động của các cơ quan bộ chịu trách nhiệm về giáo dục đào tạo nghề khác nhau: Bộ
giáo dục và đào tạo và Bộ phát triển nguồn nhân lực và an ninh xã hội.
Trung Quốc đầu tư nhiều vào hệ thống giáo dục đại học và phổ cập giáo dục
9 năm, nhưng đầu tư vào đào tạo nghề đặc biệt là đào tạo nghề trung cấp còn ít. Tuy
nhiên để có được đội ngũ công nhân có chất lượng và tay nghề cao, đào tạo nghề
phải được quan tâm và phát triển.
Chính phủ Trung Quốc đầu tư rất lớn vào giáo dục người lớn. Năm 2006,
chính phủ đã đầu tư 17,431 tỉ nhân dân tệ. Quỹ quốc gia về giáo dục tăng hằng năm
từ 11.9% - 20.5% vào giữa năm 1997 và 2006. Quỹ cho giáo dục người lớn cũng
tăng từ 5/7 - 18.6% hằng năm so với những năm trước (một năm tăng 10.5%),
nhưng đã giảm theo tỷ lệ tổng số tiền do tốc độ tăng trưởng lớn hơn tổng quỹ quốc
gia chi cho giáo dục. Việc đầu tư cần thiết để đạt được mục đích đào tạo cho 34
triệu lao động lành nghề vào năm 2015 như tuyên bố của Bộ phát triển nguồn nhân
lực và an ninh xã hội năm 2010.
Giáo dục người lớn bao gồm giáo dục đào tạo nghề. Trung Quốc tập trung
chủ yếu vào đầu tư cho cơ sở hạ tầng giáo dục. Với cơ cấu hành chính của các
chương trình đào tạo nghề thì chính phủ không có tác động đến việc thực hiện các
chương trình của địa phương. Chính quyền giáo dục địa phương có nhiệm vụ phát
triển kế hoạch thực hiện đào tạo nghề theo bối cảnh của địa phương, thêm vào đó họ
còn xây dựng chương trình đào tạo, thuê giáo viên và đánh giá chương trình và sinh
viên. Chính phủ đóng vai trò hướng dẫn và hỗ trợ tài chính.
43
a. Đầu tư cho cơ sở hạ tầng giáo dục
Chính phủ đầu tư cho cơ sở hạ tầng giáo dục đào tạo nghề bao gồm sơ sở vật
chất, trường học, trang thiết bị dạy học cho giáo viên cho các chương trình đào tạo.
b. Hỗ trợ về tài chính
Chính phủ đầu tư vào cung cấp các gói hỗ trợ cho các nhóm công nhân khó
khăn trong tìm việc làm tiếp tục tham gia vào học tập. Nhóm dân số mục tiêu bao
gồm lao động đăng ký thất nghiệp, dân di cư nông thôn và lao động nông thôn.
Chính phủ đã xây dựng chương trình đào tạo nghề đặc biệt vào năm 2009 để hỗ trợ
cho những người bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính. Chương trình này
có mục đích hỗ trợ cho 15 triệu người trong hai năm. Chính phủ cũng xây dựng
chương trình phát triển “cơ sở đào tạo” tại nhiều trường khác nhau ví dụ các trường
công nhân kỹ thuật cơ sở, các trường cao đẳng kỹ thuật viên và cao đẳng đào tạo
nghề và các trường đại học.
c. Đảm bảo chất lượng
Chính phủ có thể đóng vai trò trọng tâm trong việc đảm bảo chất lượng trong
các chương trình day nghề trên khắp cả nước. Cũng như nhiều các cơ quan khác có
liên quan đến phân phối đào tạo, chính phủ có thể phối hợp với các tổ chức để đảm
bảo việc đào tạo được hiệu quả. Hơn nữa, chính phủ có mong muốn đảm bảo đào
tạo đáp ứng các yêu cầu vị trí việc làm cho công nhân.
1.4.1.3. Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Việc đầu tư đào tạo các nghề trọng điểm được xác định từ nhu cầu thực tế
của thị trường lao động và chiến lược phát triển quốc gia. Theo đúng quy luật thị
trường khi phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm này, nhu cầu về nguồn nhân
lực công nhân và kỹ thuật viên tăng nhanh. Để đáp ứng nhu cầu này, Chính phủ
Hàn Quốc đầu tư phát triển đào tạo nghề bậc Trung cấp, đầu tư phát triển mở rộng
các trung tâm đào tạo nghề công lập, quy định bắt buộc các doanh nghiệp lớn phải
cung cấp đào tạo bằng việc thực hiện hệ thống thuế đào tạo (thực hiện từ năm 1974
- Thông qua luật về Biện pháp đặc biệt trong đào tạo nghề). Luật này chỉ áp dụng
cho các doanh nghiệp có số công nhân 500 người trở lên trong 06 ngành kinh tế
trọng điểm được xác định. Sự thay đổi mạnh mẽ về việc thay đổi các quy định chính
sách - từ việc trợ cấp hoàn toàn cho hệ thống đào tạo nghề sang việc yêu cầu các
doanh nghiệp phải có trách nhiệm thực hiện đào tạo. Tuy nhiên do quy định này
44
không xem xét đến các điều kiện thực tế của các doanh nghiệp - khả năng thực hiện
đào tạo của mỗi doanh nghiệp, nên ban đầu đã gặp phải sự phản đối kịch liệt từ các
doanh nghiệp liên quan.
Đến năm 1976, chính phủ đã đưa ra một văn bản quy định khác nhằm đưa ra
giải pháp hiệu quả hơn. Đó là quy định về hệ thống thuế đào tạo doanh nghiệp - yêu
cầu tất cả các công ty tuyển dụng hơn 300 lao động trong các ngành công nghiệp
chiến lược phải cung cấp đào tạo tại doanh nghiệp cho lao động với số lượng
khoảng 10% tổng số nhân viên. Nếu doanh nghiệp không thực hiện được việc đào
tạo này thì thực hiện đào tạo ủy thác (thuê công ty khác cùng đào tạo) hoặc phải nộp
tiền vào Quỹ hỗ trợ đào tạo nghề một khoản tiền tương đương với chi phí đào tạo
đó. Kể từ đó, đào tạo tại doanh nghiệp đóng vai trò nổi bật trong việc đáp ứng nhu
cầu nhân lực có kỹ năng và kỹ thuật tại Hàn Quốc. Vào năm 1979, hơn 90.000 nhân
viên đã được đào tạo thông qua các chương trình đào tạo tại doanh nghiệp. Năm
1978, các doanh nghiệp thực hiện chương trình đào tạo chiếm khoảng 70% tất cả
các doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thực hiện đào tạo. Phần còn lại lựa chọn đóng
thuế đào tạo. Cho tới năm 1992, việc này áp dụng với các doanh nghiệp có số công
nhân từ 150 trở lên.
Ở Hàn Quốc, những nghề được xác định là nghề cần được ưu tiên phát triển
là những nghề thuộc các nhóm đối tượng sau:
Những nghề thiếu hụt lao động trong các nghề thiết yếu đối với đất nước;
Các nghề đang thiếu hụt lao động trong các ngành công nghiệp chiến lược
của đất nước;
Các nghề khác do Bộ lao động công bố cần phải bồi dưỡng nhân lực vì nhu
cầu cho các nghề này đang tăng.
Chi phí đào tạo được tính toán làm cơ sở cho việc đầu tư đào tạo các nghề
trọng điểm
Học phí được tính toán theo công thức sau:
= × × × Học phí đào tạo Chỉ số thay đổi Số giờ đào tạo Chi phí đào tạo theo đơn vị tiêu chuẩn cho từng ngành công nghiệp Số lượng học viên hoàn thành khóa học
Chi phí nhà ở cho sinh viên: 8.500 Won/ngày nếu thời gian đào tạo dưới 1 tháng,
và 212.500 Won/tháng nếu thời gian đào tạo là 1 tháng trở lên (chi phí năm 2008).
45
Trợ cấp đào tạo: phụ cấp đi lại (50.000 Won/tháng), trợ cấp tiền ăn (chỉ được
chi trả khi khóa học kéo dài bằng hoặc hơn 5 tiếng/ngày, và bằng hoặc hơn 100
tiếng/tháng) và trợ cấp cho các lĩnh vực công nghiệp ưu tiên (khuyến khích học sinh
trung học phát triển kỹ năng bằng các trợ cấp trị giá 100.000 won).
1.4.1.4. Kinh nghiệm của Malaysia
Năm 2010, Malaisia bắt đầu thực hiện Chương trình Cải cách Kinh tế - the
Economic Transformation Programme (ETP), tập trung vào 12 lĩnh vực kinh tế
chính sau (National Key Economic Areas - NKEAs) [50]:
1. Dầu, khí và năng lượng;
2. Dầu cọ;
3. Dịch vụ tài chính;
4. Du lịch;
5. Dịch vụ kinh doanh;
6. Điện tử;
7. Bán buôn và bán lẻ;
8. Giáo dục;
9. Y tế;
10. Nội dung và cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc;
11. Nông nghiệp;
12. Thung lũng Klang.
Trong đó giáo dục được coi là chìa khóa cho sự thành công của Chương
trình, đặc biệt là đào tạo nghề. Theo đó, nhiều sáng kiến đã được đưa ra để nâng cao
chất lượng giáo dục và đào tạo nghề và đảm bảo các chương trình phù hợp với nhu
cầu và yêu cầu doanh nghiệp như cấp thêm vốn cho Quỹ Phát triển Kỹ năng
(Perbadanan Tabung Pembangunan Kemahiran - PTPK), tạo cơ hội cho người học
tham gia vào các chương trình đào tạo nghề ở các CSĐT tư nhân.
Để hỗ trợ Chương trình cải cách kinh tế, Malaysia đã thực hiện các dự án
khởi điểm trong đó có Dự án khởi điểm về mở rộng quy mô các cơ sở đào tạo nghề
tư nhân. Bảy sáng kiến về đào tạo kỹ năng chủ chốt trên cơ sở các ngành kinh tế
trọng điểm quốc gia đã được đưa ra là: Tăng cường liên kết chặt chẽ với doanh
nghiệp trong đào tạo; hài hòa hóa đào tạo kỹ năng bằng cách cải cách thể chế; tăng
hỗ trợ tài chính; tiến hành chiến dịch nâng cao nhận thức; Đấy mạnh liên thông
46
nghề nghiệp; Tăng số lượng giảng viên có trình độ và hỗ trợ các nhà cung cấp đào
tạo trong việc thu hút sinh viên nước ngoài.
Để tăng cường liên kết với doanh nghiệp, các cơ quan công nghiệp hàng đầu
đã xác định định hướng phát triển đào tạo nghề trong từng lĩnh vực kỹ năng. Các
biện pháp hài hòa đào tạo kỹ năng bao gồm việc thành lập Hội đồng Công nghệ
Malaysia và tăng cường sự sẵn có Quỹ Phát triển kỹ năng để tăng khả năng tiếp cận
đối với các khóa đào tạo chất lượng trong cơ sở đào tạo hoạt động tốt. Nhiều nỗ lực
khác nhau đã được thực hiện để cung cấp các con đường liên thông chuyên môn
trong đào tạo nghề bằng cách cho phép những người có chứng nhận kỹ năng
Malaysia có thể tiếp tục chọn học các chương trình đào tạo cử nhân. Để tăng số
lượng giảng viên đào tạo nghề có trình độ, Malaysia tập trung đào tạo nhân lực
trong các ngành công nghiệp có trình độ và kinh nghiệm để trở thành giáo viên đào
tạo nghề. Nhiều nỗ lực đang được tiến hành để quảng bá thị trường kỹ năng
Malaysia ra toàn thế giới là xem xét lại các quy định và thủ tục liên quan để thu hút
sinh viên nước ngoài tham gia vào hệ thống đào tạo nghề của Malaysia.
“Chương trình đào tạo cho các nghề trọng điểm quốc gia”(NOCC) được coi
là tài liệu đào tạo cho các công ty và các cơ sở đào tạo bao gồm đào tạo thực hành
và lý thuyết về thay đổi công nghệ để tạo ra nguồn lao động tri thức (k-workers).
NOCC là một dạng tài liệu đào tạo mới, khác với các tài liệu đào tạo trong hệ thống
đào tạo dựa trên các tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia hiện hành vì được phát triển
theo định hướng quá trình làm việc. Phạm vi của NOCC bao gồm quá trình giảng
dạy và đào tạo, là cơ sở để chuẩn bị tài liệu giảng dạy và các nhu cầu khác, là một
tiêu chuẩn cho các thành tích và chất lượng kỹ năng của người học nghề trong hệ
thống đào tạo kép NDTS, và là tài liệu tham khảo cho việc chuẩn bị các bài tập và
các nhiệm vụ công việc (LWA). NOCC được xem như một sáng kiến đào tạo quốc
gia mới khi mà nó có khía cạnh mới so với hệ thống đào tạo dựa trên các tiêu chuẩn
kỹ năng quốc gia hiện hành tại Malaysia nhờ tập trung vào việc phát triển lao động
tri thức, ứng dụng các phương pháp cung cấp đào tạo và phương pháp luận mới như
NOCC và LWA, cũng như việc thực hiện đào tạo và đánh giá theo định hướng quá
trình thực hiện công việc. Do đó, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong sự phát
triển của đào tạo kỹ năng theo hệ thống đào tạo kép của Malaysia [51].
47
Hơn nữa, Malaysia, một trong những nước có thành tựu phát triển kinh tế tốt
nhất khu vực Đông Nam Á đã áp dụng phương pháp phân bổ ngân sách dựa trên kết
quả (Outcome Based Approach-OBA). Để đảm bảo cho OBA thành công, 4 sáng
kiến đã được đề xuất trong triển khai kế hoạch và điều hành của Chính phủ để đảm
bảo hiệu quả trong đầu tư công, gắn kết chặt chẽ giữa chi tiêu ngân sách và kết quả
đạt được. 4 sáng kiến đó gồm: (1) Áp dụng hệ thống phân bổ ngân sách dựa trên kết
quả. Với hệ thống này, nhu cầu về kinh phí đầu tư và chi phí vận hành cho mỗi
chương trình được lồng ghép làm một. (2) Áp dụng kế hoạch 2 năm cuốn chiếu trong
kế hoạch 5 năm: Phương pháp này giúp cho Chính phủ có thể cam kết thực hiện các
mục tiêu/chương trình trong phạm vi và khả năng nguồn lực; có thể điều chỉnh một
cách linh hoạt hơn khi có cơ hội. Các dự án, chương trình được phân bổ ngân sách cho
một chu kỳ 2 năm để đảm bảo tính liên hoàn giữa kế hoạch và triển khai thực hiện. (3)
Gắn kết cách tiếp cận tổng hợp trong công tác kế hoạch: Tăng cường công tác phối
hợp giữa các cơ quan trong giai đoạn đầu chuẩn bị kế hoạch để đảm bảo rằng các
nguồn lực được bố trí hợp lý, hiệu quả. Cách tiếp cận tổng hợp đòi hỏi các thành phần
liên quan phải kiểm tra một cách toàn diện các khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường,
chi phí và lợi ích trước khi lựa chọn dự án. (4) Thường xuyên giám sát, đánh giá kết
quả: Đây là khâu quan trọng nhất trong OBA. Hệ thống thông tin quản lý được củng
cố để tạo điều kiện cho việc giám sát, đánh giá và báo cáo. Công tác đánh giá được
coi là mắt xích quan trong nhất trong chu trình lập kế hoạch, triển khai và đánh giá.
Trước đây, Chính phủ Malaysia thiên về đánh giá từ bên ngoài để đảm bảo tính
công bằng. Tuy nhiên, việc đánh giá từ bên ngoài cũng có những hạn chế do không
đủ số liệu. Hơn nữa, nhận thấy rằng, các nhà thực thi chương trình/chính sách cũng
rất cần tham gia tới cả công đoạn đánh giá, bởi họ biết rất rõ cái gì làm được, cái gì
không, điểm mạnh, điểm yếu v.v.. Vì vậy, Chính phủ đã thể chế hóa tự đánh giá nội
bộ (Internalised self-evaluation).
1.4.2. Một số bài học kinh nghiệm về giải pháp tài chính cho đào tạo nghề
chất lượng cao rút ra cho Việt Nam
Đào tạo nghề với đặc thù là đầu tư lớn về cơ sở vật chất thiết bị, chi phí tốn
kém về nguyên nhiên vật liệu thực hành (70-80% chương trình đào tạo là thực
hành), đối tượng học chủ yếu là người nghèo, đối tượng yếu thế không có điều kiện,
48
khả năng học lên bậc học cao hơn; tâm lý xã hội ưa văn bằng, khoa cử (không muốn
học nghề) nên khả năng đóng góp thấp; không hấp dẫn các nhà đầu tư (vì nguồn thu
ít, đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm…) nên xã hội hóa nguồn lực đầu tư rất khó khăn so
với các bậc học khác, vì vậy NSNN vẫn phải đóng vai trò chủ đạo trong đầu tư cho
đào tạo nghề để thực hiện chủ trương phổ cập nghề cho người lao động, đào tạo
nghề trình độ cao đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước.
Từ kinh nghiệm quốc tế về đầu tư ngân sách công cho đào tạo nghề, trong
bối cảnh chi NSNN cho đào tạo nghề còn hạn hẹp, để nâng cao hiệu quả đầu tư cho
đào tạo nghề, những bài học mà Việt Nam có thể tham khảo là:
- Thứ nhất, đẩy mạnh công tác xã hội hóa nguồn lực cho đào tạo nghề
nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực ngoài NSNN cho đào tạo nghề, đặc biệt là
đào tạo nghề chất lượng cao. Đồng thời tăng cường phát triển các cơ sở đào tạo
nghề tư thục.
- Thứ hai, tăng cường quyền tự chủ cho các CSDN công lập trong việc xác
định kế hoạch, nhiệm vụ; cơ cấu tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính để các đơn vị
được chủ động huy động các nguồn lực thực hiện nhiệm vụ, nâng cao chất lượng
cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công;
- Thứ ba, xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ
đào tạo nghề được giao đối với các CSDN; xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật làm
cơ sở xác định giá dịch vụ sự nghiệp công để thay đổi việc xây dựng dự toán theo
khoản mục ngân sách hiện nay bằng phương thức quản lý chi tiêu dựa trên kết quả
đầu ra thông qua cơ chế đấu thầu, đặt hàng hay giao nhiệm vụ; Ưu tiên đầu tư từ
NSNN cho các nghề nặng nhọc độc hại, nghề phục vụ phát triển kinh tế tế mũi nhọn
và các nghề khó thực hiện xã hội hóa.
- Thứ tư, chuyển đổi hình thức đầu tư từ cơ chế bình quân chủ nghĩa (dàn trải
theo chiều rộng) sang cơ chế đầu tư trọng tâm, trọng điểm (tập trung theo chiều
sâu); đầu tư tập trung và đồng bộ các điều kiện đảm bảo chất lượng các nghề trọng
điểm, các trường nghề chất lượng cao để nâng chất lượng đào tạo của một số nghề
lên ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.
49
Kết luận Chương 1
Chương 1 của Luận án đã hoàn thành cơ bản một số nội dung sau:
Một là, đã hệ thống hoá những lý luận cơ bản về đào tạo nghề, trong đó làm
rõ khái niệm dạy nghề, vai trò dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân. Khẳng
định đào tạo nghề là yếu tố quyết định nhất tới lực lượng sản xuất trực tiếp trong
nền kinh tế, tới chất lượng nguồn nhân lực, góp phần tăng trưởng kinh tế và giải
quyết các vấn đề xã hội.
Hai là, hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về đào tạo nghề chất lượng cao,
trong đó làm rõ khái niệm đào tạo nghề chất lượng cao. Luận án phân tích các nhân
tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá đào tạo nghề chất lượng cao.
Ba là, hệ thống hóa những vấn đề lý luận về giải pháp tài chính cho đào tạo
nghề chất lượng cao, làm rõ khái niệm, nội dung chủ yếu của giải pháp tài chính cho
đào tạo nghề chất lượng cao từ khâu huy động, tạo lập nguồn tài chính đến khâu phân
phối, sử dụng nguồn tài chính. Phân tích các nội dung, nhân tố ảnh hưởng qua đó
hình thành luận cứ cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp tài chính cho
đào tạo nghề chất lượng cao ở Việt Nam trong thời gian tới.
Bốn là, Luận án tập trung khảo cứu kinh nghiệm của nước ngoài về giải pháp
tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao. Từ kinh nghiệm quốc tế, Luận án đã tổng
kết và rút ra những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng cho đào tạo nghề ở Việt
Nam, đặc biệt là trong bối cảnh chi NSNN cho đào tạo nghề còn hạn hẹp.
Những vấn đề được nghiên cứu, trình bày trong chương này là cơ sở lý luận để
nghiên cứu, đánh giá thực trạng về đào tạo nghề chất lượng cao và giải pháp tài chính
cho đào tạo nghề chất lượng cao ở Việt Nam trong thời gian vừa qua, đồng thời là
nền tảng để đề xuất những giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao ở Việt
Nam trong thời gian tới.
50
Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH CHO ĐÀO TẠO NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆT NAM
2.1. TỔNG QUAN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ Ở VIỆT NAM
2.1.1. Quản lý Nhà nước về đào tạo nghề
Từ năm 1998, Chính phủ phân công Bộ LĐTBXH quản lý lĩnh vực dạy nghề.
Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ cũng phân công Tổng cục Dạy nghề thuộc Bộ
LĐTBXH, thực hiện chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội quản lý nhà nước về đào tạo nghề, bao gồm các lĩnh vực: mục tiêu, chương
trình, nội dung, kế hoạch, chất lượng đào tạo nghề, kỹ năng nghề, tiêu chuẩn giáo viên,
cán bộ quản lý đào tạo nghề, quy chế thi, tuyển sinh, hệ thống văn bằng, chứng chỉ,
danh mục nghề đào tạo, cơ sở vật chất và thiết bị đào tạo nghề; tổ chức thực hiện nhiệm
vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực đào tạo nghề theo quy định của pháp luật.
Mô hình phân cấp quản lý dạy nghề ở Việt Nam như sau:
Hình 2.1: Mô hình phân cấp quản lý dạy nghề ở Việt Nam
Nguồn: Tổng cục Dạy nghề
51
2.1.2. Mạng lưới cơ sở đào tạo nghề
Bảng 2.1: Hệ thống cơ sở dạy nghề chia theo tỉnh/thành phố
(tính đến ngày 31/12/2014)
Trường Cao đẳng nghề
Trường trung nghề
Trung tâm đào tạo nghề
Loại hình
Loại hình
Loại hình
TT
Tên tỉnh, thành phố
Tổng số Công lập
Tư thục
Tổng số Công lập
Tư thục
Tổng số Công lập
Tư thục
Vốn đầu tư nước ngoài
Vốn đầu tư nước ngoài
Vốn đầu tư nước ngoài
I
21
19
2
32
17
15
202
161
41
II
68
47
20
1
99
53
46
237
134
103
III
37
26
11
63
49
14
237
169
68
Trung du miền núi phía Bắc Đồng bằng sông Hồng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung IV Tây Nguyên V Đông Nam Bộ
5 28
5 19
0 9
11 48
7 30
4 18
72 122
47 48
25 74
VI
14
11
3
37
33
4
126
92
34
Đồng bằng sông Cửu Long Tổng
173
127
45
1
290
189
101
996
651
345
Nguồn: Tổng cục dạy nghề
Tính đến 31/12/2014, mạng lưới cơ sở đào tạo nghề có:
- Trường Cao đẳng nghề: hiện có 173 trường Cao đẳng nghề, trong đó: 127
trường công lập, 45 trường ngoài công lập và 1 trường có vốn đầu tư nước ngoài;
Phân theo vùng kinh tế: Đại bộ phận các trường CĐN được tập trung ở khu vực
kinh tế phát triển như vùng Đồng bằng Sông Hồng (chiếm 39%), vùng Bắc Trung Bộ
và DH Miền Trung (chiếm 21%) và vùng Đông Nam Bộ (chiếm 16%); Trong khi đó,
một số vùng có số lượng trường CĐN còn quá ít như Tây Nguyên (chiếm 2%);
- Trường Trung cấp nghề (TCN): hiện có 290 trường Trung cấp nghề, trong
đó: 189 trường công lập và 101 trường ngoài công lập;
Phân theo vùng kinh tế: Đại bộ phận các trường TCN cũng được tập trung ở
khu vực kinh tế phát triển như vùng Đồng bằng Sông Hồng (chiếm 34%), vùng Bắc
Trung Bộ và DH Miền Trung (chiếm 22%) và vùng Đông Nam Bộ (chiếm 17%);
- Trung tâm dạy nghề (TTDN): Hệ thống các trung tâm dạy nghề đã phát
triển mạnh, đặc biệt là các trung tâm dạy nghề cấp huyện. Hiện có 996 TTDN (bao
gồm 651 TTDN công lập, 345 TTDN ngoài công lập);
52
Hình 2.2: Hệ thống cơ sở dạy nghề (số liệu đến 31/12/2014)
Nhìn chung, mạng lưới cơ sở dạy nghề bước đầu đã phát triển theo quy hoạch
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đa dạng về loại hình và từng bước đáp ứng được nhu cầu nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhu cầu học nghề để tìm việc làm và tự tạo việc làm của người lao động. Đã xoá được tình trạng trắng
trường nghề ở cấp tỉnh; hệ thống các trường dạy nghề quân đội và ở một số ngành kinh tế mũi nhọn phát triển mạnh; số lượng cơ sở dạy nghề ngoài công lập tăng nhanh.
2.1.3. Quy mô đào tạo nghề So với năm 2007 thì tuyển sinh dạy nghề năm 2014 tăng 40%, trong đó CĐN và đặc biệt TCN có xu hướng giảm dần (năm 2014 giảm 52% so với năm 2007), tuyển sinh SCN và dạy nghề dưới 3 tháng tăng 59%. Cơ cấu ngành nghề đào tạo đã từng bước được điều chỉnh theo cơ cấu ngành nghề trong sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ; đã mở thêm nhiều nghề đào tạo mới mà thị trường lao động có nhu cầu và các nghề phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và giải quyết việc làm cho người lao động.
Tính riêng số đăng ký tuyển sinh năm 2014 được thống kê từ 137 trường CĐN
là 145.147 người (bao gồm đào tạo cả trình độ TCN và CĐN) phân theo 177 nghề đào tạo. Trong tổng số 177 nghề đăng ký tuyển sinh, 27 nghề có trên 1000 sinh viên chiếm 79,6%, 150 nghề còn lại số sinh viên chỉ chiếm 20,4%. Các nghề thuộc nhóm nghề Công nghệ kỹ thuật cơ khí (Hàn, Cắt gọt kim loại, Công nghệ ô tô, Công nghệ chế tạo vỏ tàu thủy) có tổng số tuyển sinh lớn nhất với hơn 28.000 sinh viên; tiếp theo là nhóm nghề Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông có hơn 10.000 sinh viên và nhóm nghề Công nghệ thông tin (Lập trình máy tính, Kỹ thuật sửa chữa, lắp ráp
máy tính, Quản trị mạng máy tính…) với số lượng hơn 9.000 sinh viên.
53
Bảng 2.2: Quy mô tuyển sinh giai đoạn 2007-2014
Đơn vị tính: người
Tổng cộng
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Tuyển sinh
Kế hoạch Thực tế
Thực tế
Thực tế
Thực tế
Thực tế
Thực tế
Thực tế
Thực tế
Thực tế
Kế hoạch
Kế hoạch
Kế hoạch
Kế hoạch
Kế hoạch
Kế hoạch
Kế hoạch
Kế hoạch
Cộng
13.080.000 13.448.998 1.320.000 1.436.500 1.460.000 1.538.000 1.770.000 1.707.600 1.410.000 1.745.527 1.820.000 1.773.491 1.820.000 1.492.579 1.900.000 1.732.016 1.580.000 2.023.285
11%
7%
21%
11%
-20%
2%
29%
2%
0%
-16%
4%
16%
-17%
17%
% tăng hàng năm
- CĐN
800.000
611.093
40.000
29.500
70.000
56.260
110.000
89.000
110.000
96.570
110.000
79.737
110.000
84.151
120.000
87.887
130.000
87.988
75%
91%
14%
58%
25%
9%
10%
-17%
0%
6%
9%
4%
8%
0%
% tăng hàng năm
- TCN
1.880.000 1.388.501
280.000
276.000
290.000
201.740
260.000 198.600
200.000
180.509
210.000
141.629
210.000 129.189
280.000
128.229
150.000
132.605
4%
-27%
-10%
-2%
-23%
-9%
5%
-22%
0%
-9%
33%
-1%
-46%
3%
% tăng hàng năm
- SCN
10.400.000 11.449.404 1.000.000 1.131.000 1.100.000 1.280.000 1.400.000 1.420.000 1.100.000 1.468.448 1.500.000 1.552.125 1.500.000 1.279.239 1.500.000 1.515.900 1.300.000 1.802.692
Nguồn: Tổng cục dạy nghề
54
Việc tăng nhanh qui mô đào tạo nghề trong những năm qua đã góp phần tăng
nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 13,3% năm 1998 lên 19,2% năm 2005 và
49% năm 2014. Đối tượng đào tạo nghề được mở rộng, nhiều mô hình đào tạo nghề
mới được áp dụng có hiệu qủa như đào tạo nghề cho nông dân, cho lao động ở
những vùng bị thu hồi đất do chuyển đổi mục đích sử dụng, đào tạo nghề cho người
tàn tật, cho thanh niên dân tộc thiểu số, bộ đội xuất ngũ, đào tạo nghề cho lao động
các khu công nghiệp, khu chế xuất, đào tạo nghề phục vụ cho xuất khẩu lao động.
Tuy nhiên, quy mô tuyển sinh đào tạo nghề nhất là quy mô tuyển sinh đào
tạo nghề trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề vẫn còn thấp so với yêu cầu của thị
trường lao động. Tổng quan về tình hình thực hiện chỉ tiêu đào tạo nghề giai đoạn
2007-2014 được thể hiện tại Hình 2.3.
Hình 2.3: Tình hình tuyển sinh giai đoạn 2007-2014
Nguồn: Tổng cục Dạy nghề
2.1.4. Chất lượng đào tạo nghề
Đào tạo nghề đã phục hồi và có bước phát triển mạnh, từng bước đáp ứng
nhu cầu nhân lực cho phát triển KT-XH theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế, góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Đã thiết lập hệ thống pháp luật tương đối đồng bộ và thống nhất về đào tạo
nghề; hình thành hệ thống đào tạo nghề chính quy với 3 cấp trình độ (sơ cấp nghề,
TCN, CĐN) và đào tạo nghề thường xuyên. Mạng lưới CSDN mở rộng, phân bố tương
55
đối hợp lý ở các ngành kinh tế, địa phương, vùng, miền. Các điều kiện đảm bảo chất
lượng được cải thiện nên chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề có bước chuyển biến tích
cực, đào tạo nghề đó gắn với sử dụng lao động. Kỹ năng nghề của học sinh tốt nghiệp
các CSDN đó được nâng lên. Theo Báo cáo đào tạo nghề năm 2014 [43]:
- 80% - 85% số lao động qua đào tạo nghề được sử dụng đúng trình độ đào
tạo; 30% có kỹ năng nghề từ khá trở lên. Ở một số nghề (nghề hàn, nghề dịch vụ
nhà hàng, nấu ăn, thủy thủ tầu biển, thuyền trưởng, và một số nghề thuộc lĩnh vực
viễn thông…), kỹ năng nghề của lao động Việt Nam đó đạt chuẩn quốc tế. Lao
động qua đào nghề tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân và
đó đảm nhận được các vị trí công việc phức tạp mà trước đây phải do chuyên gia
nước ngoài thực hiện; khoảng 70% học sinh tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm
ngay sau khi tốt nghiệp, ở một số nghề và một số CSDN tỷ lệ này đạt trên 90%.
- Trên 85% học sinh tốt nghiệp các Cơ sở đào tạo nghề vào làm việc có kỷ luật
lao động, tác phong công nghiệp từ mức trung bình trở lên, trong đó tốt chiếm 50%;
- Kết quả học tập của học sinh có những tiến bộ rõ rệt: tỷ lệ học sinh tốt
nghiệp đạt trên 96%, trong đó tỷ lệ học sinh học nghề có kiến thức chuyên môn
nghề tốt nghiệp loại khá trở lên tăng từ 40% năm học 2006-2007 lên 60% năm học
20013-2014.
- Việt Nam đã mười lần tham gia Hội thi tay nghề ASEAN và 4 lần tham dự
Hội thi tay nghề thế giới với kết quả mà đoàn học sinh Việt Nam đạt được trong các
hội thi ngày càng cao hơn: Việt Nam đã 03 lần đạt giải nhất, 02 lần đạt giải nhì, 01 lần
đạt giải 3 toàn đoàn. Việt Nam cũng đã 05 lần tham gia Hội thi tay nghề thế giới, số
lượng chứng chỉ tay nghề xuất sắc đạt được của lần sau cao hơn lần trước, kết quả toàn
Đoàn luôn ở nửa trên của tổng số các nước tham gia. Đặc biệt năm 2015, lần đầu tiên
Việt Nam có thí sinh đạt huy chương đồng ở nghề Giải pháp phần mềm công nghệ
thông tin. Kết quả này đã phần nào đó phản ánh chất lượng đào tạo nghề ở nước ta
đang từng bước tiếp cận với trình độ đào tạo nghề trong khu vực và trên thế giới.
- Học sinh tốt nghiệp trường đào tạo nghề đã từng bước đáp ứng nhu cầu thị
trường lao động. Ở một số lĩnh vực như bưu chính viễn thông, dầu khí học sinh tốt
nghiệp các trường đào tạo nghề đã có trình độ tương đương khu vực và quốc tế,
56
thay thế được công nhân nước ngoài. Khoảng 95% học sinh học nghề tìm được việc
làm ngay sau khi tốt nghiệp (ở các trường thuộc doanh nghiệp và ở một số nghề như
nghề Hàn, điện tử công nghiệp, tỷ lệ này đạt 100%).
Theo báo cáo của 63 sở LĐTBXH tại Tài liệu Hội nghị đánh giá công tác
tuyển sinh học nghề, tổ chức thi tốt nghiệp năm 2014; phương hướng, nhiệm vụ
tuyển sinh và định hướng tổ chức thi tốt nghiệp năm 2015 của Tổng cục Dạy nghề
nghề [35], tính trung bình, năm 2014 tỷ lệ học viên có việc làm đúng nghề ngay
sau khi tốt nghiệp đạt 68,7% (Năm 2013 đạt 78,7%); trong đó tỷ lệ học viên cao
đẳng nghề ra trường có việc làm đạt 62,5%, trung cấp nghề đạt 61,8%. Nhiều
trường có những nghề đạt tỷ lệ trên 90% học viên có việc làm ngay sau khi tốt
nghiệp. Năm 2013, tỷ lệ HSSV cao đẳng nghề và trung cấp nghề có việc làm sau
khi tốt nghiệp tương ứng đạt 76,2% và 82,5%. Tỷ lệ HSSV trình độ cao đẳng nghề
và trung cấp nghề có việc làm sau khi tốt nghiệp năm 2014 thấp hơn so với năm
2013 do năm 2014 tình hình kinh tế có nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp bị phá
sản, giải thể hoặc cắt giảm lao động.
Một số nghề có số lượng HSSV có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp chiếm tỷ
lệ cao (đối với các nghề có số lượng học viên tốt nghiệp lớn hơn 500 người): Kỹ
thuật khai thác mỏ hầm lũ (94%), Kỹ thuật cơ điện mỏ hầm lò (94%), Hàn (91%),
Công nghệ dệt (87%), Công nghệ hóa nhuộm (85%); Kỹ thuật xây dựng (86%),
Lâm sinh (82%); May thời trang (81%), Kỹ thuật dược (81%); Nguội sửa chữa máy
công cụ (79%); Nghiệp vụ nhà hàng (77%).
Một số nghề xã hội có nhu cầu lớn, học xong có tỷ lệ có việc làm cao nhưng ít
người học (những nghề có số học viên tốt nghiệp ít hơn 500 người và tỷ lệ việc làm
>80%): Kỹ thuật xây dựng mỏ hầm lò (98%), Sửa chữa thiết bị luyện kim (97%), Sửa
chữa, vận hành tàu cuốc (96%); Khảo sát địa hình (95%); Trồng cây ăn quả (95%);
Nguội lắp ráp cơ khí (94%); Sửa chữa cơ khí động lực (94%); Trắc địa công trình (94%);
Vận hành, sửa chữa thiết bị lạnh (92%); Sửa chữa, lắp đặt thiết bị cơ khí xi măng (92%);
Xử lý nước thải công nghiệp (90%); Quản lý khai thác công trình thủy lợi (90%).
Chất lượng đào tạo được nâng dần do các điều kiện đảm bảo chất lượng được
cải thiện cụ thể qua chất lượng giáo viên, cán bộ quản lý; chương trình giáo trình và
cơ sở vật chất thiết bị.
57
2.1.4.1. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo nghề
2.1.4.1.1. Đội ngũ giáo viên
a. Về số lượng, cơ cấu ngành nghề
Cùng với việc thành lập thêm các trường dạy nghề, tăng qui mô đào tạo nghề
hàng năm, số lượng giáo viên trong các trường dạy nghề đã tăng đáng kể (từ 35.962
người năm 2007 lên 57.297 người ở năm 2012, với mức tăng trung bình hàng năm
khoảng 4.000 người). Tỷ lệ học sinh/giáo viên đã được rút ngắn, giảm từ 40 học
sinh/1 giáo viên ở năm 2007-2008 so với 26 học sinh/1 giáo viên ở năm học 2012-
2013. Như vậy, nếu so với định mức bình quân 15 học sinh/1 giáo viên thì về số
lượng đội ngũ giáo viên trong các trường dạy nghề hiện nay mới chỉ đáp ứng được
khoảng 70% nhu cầu.
b. Về chất lượng
Theo số liệu thống kê đội ngũ giáo viên trong các trường đào tạo nghề năm
2012 của Tổng cục Dạy nghề nghề cho thấy:
* Về trình độ được đào tạo: có 432 người (chiếm 0,8%) có trình độ tiến sỹ;
7.248 người (chiếm 12,6%) có trình độ thạc sỹ; 49,8% có trình độ đại học; 8,5% trình
độ cao đẳng; 6,6% có trình độ trung cấp; và 21,6% có trình độ công nhân kỹ thuật và
trình độ khác.
* Về trình độ tay nghề của giáo viên dạy thực hành: Trong số 46.059 giáo
viên dạy thực hành nghề thì chỉ có 19.010 giáo viên (41%) đạt chuẩn; 24.422 người
(chiếm 53%) đã xác định rõ về bậc trình độ tay nghề, số còn lại (47%) chưa xác
định, công nhận.
* Về trình độ sư phạm kỹ thuật: Với đặc điểm đầu vào của đội ngũ giáo
viên trong các trường đào tạo nghề chiếm tới 70% chưa qua đào tạo ban đầu về sư
phạm kỹ thuật nên mới chỉ có 61,9% giáo viên đạt chuẩn về nghiệp vụ sư phạm.
* Về trình độ ngoại ngữ và tin học:
Tại các trường đào tạo nghề, giáo viên có trình độ ngoại ngữ từ trình độ B trở
lên (chủ yếu là Anh văn) chiếm 50,39%, trong đó trình độ A chiếm 15%, trình độ B
chiếm 32%, trình độ C chiếm 12% và có trình độ từ cao đẳng ngoại ngữ trở lên
chiếm 4,6%.
58
Về trình độ tin học, có gần 100% giáo viên có trình độ từ tin học cơ sở trở
lên, trong đó trình độ A chiếm 22%, trình độ B chiếm 62%, trình độ C chiếm 6%
và có trình độ từ cao đẳng tin học trở lên (chủ yếu là số giáo viên dạy tin học)
chiếm gần 10%.
Như vậy, đội ngũ giáo viên đào tạo nghề đã có sự phát triển đáng kể về số
lượng, đại bộ phận giáo viên đào tạo nghề tâm huyết với nghề nghiệp, có ý chí vươn
lên, tích cực học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và nghiệp vụ.
Các cơ sở đào tạo nghề, các cấp quản lý đào tạo nghề đã chú trọng và đẩy mạnh
công tác đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuẩn hóa, cập nhật kỹ thuật, công
nghệ mới và đổi mới phương pháp đào tạo nghề cho đội ngũ giáo viên đào tạo nghề.
Nhờ đó, trình độ, năng lực của đội ngũ giáo viên đào tạo nghề cũng được nâng lên.
Chất lượng của đội ngũ giáo viên đào tạo nghề về cơ bản đáp ứng được yêu cầu
đảm bảo chất lượng đào tạo nghề trong giai đoạn hiện tại. Tuy nhiên, so với yêu cầu
phát triển toàn diện của sự nghiệp đào tạo nghề, đặc biệt là yêu cầu đối với giáo
viên đào tạo các nghề trọng điểm được chuyển giao từ các nước tiên tiến thì còn
nhiều vấn đề bất cập.
2.1.4.1.2. Cán bộ quản lý ở các trường đào tạo nghề, trung tâm đào tạo nghề
a. Về số lượng
Tính đến 31/12/2014, tổng số cán bộ quản lý dạy nghề là 11.652 người, trong
đó: cán bộ của các Phòng Dạy nghề thuộc Sở Lao động - Thương binh và xã hội là
290 người; cán bộ phụ trách công tác dạy nghề thuộc Phòng Lao động - Thương
binh và Xã hội cấp huyện là 1000 người; cán bộ phụ trách công tác quản lý dạy
nghề của các Bộ, ngành là 120 người; cán bộ quản lý của các trường cao đẳng:
3.772 người, trường trung cấp: 2.730 người; trung tâm dạy nghề: 3.740 người.
b. Về trình độ đào tạo
- Ở các trường dạy nghề: Trình độ trên đại học (chủ yếu là thạc sỹ) chiếm
8,7%; trình độ đại học, cao đẳng 79,7%; trình độ khác 11,6%; Tỷ lệ đó qua các khóa
đào tạo, bồi dưỡng về quản lý giáo dục- đào tạo là 34,7%.
- Ở các trung tâm dạy nghề: Trình độ trên đại học: 7,4%; trình độ đại học:
70,9%; trình độ cao đẳng: 1,7%. Tỷ lệ đó qua các khóa đào tạo, bồi dưỡng về quản
lý giáo dục- đào tạo là 18,9%.
59
Đại bộ phận cán bộ quản lý chịu ảnh hưởng của cơ chế quản lý cũ, thiếu tính
năng động, sáng tạo trong cơ chế thị trường. Vì vậy, nhìn chung năng lực tổ chức,
quản lý đào tạo của đội ngũ cán bộ quản lý trong các trường đào tạo nghề, trung tâm
đào tạo nghề còn bất cập so với yêu cầu đặt ra.
2.1.4.1.3. Cán bộ quản lý đào tạo nghề ở các tỉnh, thành phố
Tính đến hết năm 2014, đã có 62/63 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
thành lập phòng quản lý đào tạo nghề; 01 sở bố trí phòng đào tạo nghề là bộ phận
của phòng ban khác.
Về số lượng: tổng số cán bộ quản lý đào tạo nghề ở các Sở Lao động -
Thương binh và Xã hội là 290 người. Trong các năm qua, các Sở đều đó có bổ sung
về số lượng nhưng không đáng kể. Ở nhiều tỉnh, thành phố, số cán bộ quản lý đào
tạo nghề quá ít, chưa tương xứng với số lượng các cơ sở đào tạo nghề cũng như
chức năng nhiệm vụ quản lý.
2.1.4.2. Chương trình, giáo trình đào tạo nghề
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành dạy nghề giai đoạn 2007-
2014 là tập trung cải cách chương trình và tài liệu đào tạo nghề theo hướng chuẩn
hóa và hiện đại hóa nhằm từng bước tiếp cận với chuẩn nghề của khu vực và thế
giới. Để thực hiện nhiệm vụ này, từ năm 2003, Bộ LĐTBXH đã ban hành Quyết định
số 212/2003/QĐ-BLĐTBXH về nguyên tắc xây dựng và tổ chức thực hiện chương
trình đào tạo nghề, đó ban hành chương trình, giáo trình 4 môn học chung (chính trị,
giáo dục quốc phòng, pháp luật và giáo dục thể chất). Trên cơ sở Quyết định và được
sự hỗ trợ về kinh phí từ dự án Giáo dục kỹ thuật và Dạy nghề, từ CTMTQG, nhiều
chương trình và tài liệu giảng dạy đó được xây dựng theo hướng tiếp cận phương pháp
tiên tiến trên thế giới - phương pháp phân tích nghề DACUM. Các chương trình lựa
chọn hình thức kết hợp giữa môn học và mô-đun. Đây là hình thức vừa thể hiện được
tính hiện đại của thế giới lại vừa phù hợp với thực tế và yêu cầu của Việt Nam. Kết quả
cụ thể:
- Thực hiện đổi mới cấu trúc chương trình đào tạo nghề từ tách biệt giữa lý
thuyết và thực hành sang đào tạo theo mô đun tích hợp kiến thức chuyên môn, kỹ
năng thực hành và thái độ nghề nghiệp.
60
- Đã xây dựng và ban hành 189 bộ Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; 265
bộ chương trình khung trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề; 79 chương trình
đào tạo nghề trọng điểm quốc gia để đưa vào sử dụng. Chương trình đào tạo nghề
được xây dựng xuất phát từ thực tiễn sản xuất, dựa trên cơ sở các tiêu chuẩn kỹ
năng nghề hoặc chuẩn năng lực thực hiện theo phương pháp phát triển chương
trình tiên tiến của thế giới, gắn với vị trí làm việc của người lao động hoặc dựa
vào tiêu chuẩn kỹ năng nghề với sự tham gia của các doanh nghiệp, tăng thời
lượng thực hành (khoảng 70%), tăng thời gian thực tập tại doanh nghiệp. Chương
trình đào tạo được định kỳ điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thực
tiễn sản xuất, kinh doanh.
- Đã nhập 20 bộ chương trình đạt tiêu chuẩn quốc tế (08 bộ chương trình từ
Malaysia, 12 bộ chương trình từ Úc). Đồng thời lựa chọn một số trường được quy
hoạch là trường nghề chất lượng cao, tổ chức đào tạo thí điểm để rút kinh nghiệm
đào tạo trong các trường còn lại theo các tiêu chuẩn quốc tế, khu vực.
Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định kể trên nhưng chương trình,
giáo trình đào tạo nghề vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu: chưa được cập nhật thường
xuyên, việc tham gia của doanh nghiệp trong việc xây dựng, sửa đổi chương trình
chưa còn hạn chế...
2.1.4.3. Cơ sở vật chất
Đại bộ phận các trường đào tạo nghề có diện tích mặt bằng nhỏ, đặc biệt là
các trường đào tạo nghề địa phương và các trường đào tạo nghề ngoài công lập.
Hiện chỉ có 37% số trường có diện tích từ 2ha trở lên, còn 63% số trường có diện
tích dưới 2 ha, trong đó số trường có diện tích quá nhỏ (dưới 0,5 ha) chiếm tới 41%
Chất lượng phòng học, nhà xưởng của các trường đào tạo nghề tuy có được
cải thiện trong những năm qua, nhưng nhìn chung chưa tốt, trừ một số trường mới
được đầu tư, nhất là các trường được đầu tư từ các dự án nước ngoài. Hiện tại vẫn
còn khoảng 31% số phòng học và 50,7% số xưởng thực hành là nhà cấp 4, nhà tạm.
Mặt bằng nhà xưởng nhỏ, không đủ diện tích tiêu chuẩn lắp đặt thiết bị và bố trí đủ
vị trí thực hành cho sinh viên; chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn về thiết kế xây
dựng như tiêu chuẩn chiếu sáng, phòng cháy chữa cháy, thông gió, tải trọng…Thư
61
viện ở nhiều trường đào tạo nghề còn nghèo nàn, chưa được đầu tư; một số trường
không có thư viện, số ít có thư viện điện tử; Ký túc xá của các trường hiện trung
bình mới đủ chỗ cho 15% học viên hệ chính quy tập trung; Nhiều trường không có
diện tích dành cho các hoạt động văn hoá, thể thao.
* Trang thiết bị cho dạy và học
Có khoảng 50% số trang thiết bị được sản xuất trước năm 1995, trong đó còn
6% số thiết bị được sản xuất từ trước năm 1975 và đa số chỉ đạt ở mức công nghệ trung
bình (64,3%), chỉ khoảng trên 20% được coi là hiện đại. Có một số nghề đào tạo đã
được trang bị khá hiện đại như kỹ thuật điện; vận hành thiết bị điện; kỹ thuật xây dựng;
vận hành máy nâng chuyển; vận chuyển đường sắt; khai thác bưu điện; kỹ thuật viễn
thông; sản xuất rượu bia, nước giải khát; chế biến sản phẩm cây công nghiệp; tin học...
nhưng bên cạnh đó còn nhiều nghề mà trang thiết bị sử dụng cho thực hành nghề rất lạc
hậu như nghề in; vận hành thiết bị hoá; luyện kim, sửa chữa thiết bị chính xác...
Nói tóm lại, trang thiết bị cho dạy và học nghề của nhiều nghề, trường đào
tạo nghề còn thiếu về số lượng và lạc hậu về chất lượng, nhất là các trường của địa
phương. Chỉ một số ít nghề ở một số trường có dự án đầu tư vốn ODA và các
trường được đầu tư tập trung từ dự án “Tăng cường năng lực đào tạo nghề” và Dự
án “Đổi mới và phát triển đào tạo nghề” thì trang thiết bị đã được cải thiện, trong đó
có một số nghề có thiết bị khá hiện đại, đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế.
Các điều kiện đảm bảo chất lượng được cải thiện đáng kể nên chất lượng đào
tạo nghề đã bước đầu đáp ứng được nhu cầu đa dạng về trình độ của thị trường lao
động, một bộ phận đã đủ sức thay thế lao động nước ngoài trong một số dây chuyền
sản xuất áp dụng công nghệ tiên tiến. Học sinh tốt nghiệp đạt trên 96% (trong đó
khá giỏi trên 32%), khoảng 70% học sinh sau tốt nghiệp tìm được việc làm hoặc tự
tạo việc làm; ở một số nghề, tại một số cơ sở đào tạo nghề thuộc doanh nghiệp tỷ lệ
này đạt trên 90%.
2.1.5. Một số hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong hoạt động đào
tạo nghề
2.1.5.1. Hạn chế
- Mạng lưới cơ sở dạy nghề đã phát triển nhưng chưa đều (giữa các vùng, các
ngành, địa phương) và chưa đáp ứng được yêu cầu:
62
+ Số lượng trường dạy nghề tuy đã phát triển mạnh nhưng chậm hình thành
được các trường chất lượng cao, có trình độ tiếp cận với trình độ đào tạo của các
nước tiên tiến trong khu vực;
+ Năng lực đào tạo tại một số cơ sở còn hạn chế; trong cùng một địa phương
có nhiều trường đào tạo cùng ngành nghề dẫn tới công tác tuyển sinh khó khăn và
đầu tư kém hiệu quả.
- Quy mô tuyển sinh đào tạo nghề hàng năm tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng
được nhu cầu lao động qua đào tạo nghề nhất là lao động kỹ thuật có tay nghề
cao cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực. Hơn nữa, quy mô đào
tạo nghề chưa đáp ứng được nhu cầu học nghề để lập nghiệp của người lao động
và góp phần phân luồng sau trung học cơ sở; quy mô đào tạo nghề trình độ cao
trong một số ngành nghề sử dụng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến còn nhỏ bé (hiện
chiếm 15%).
Các trường dạy nghề của các doanh nghiệp là những trường mạnh, có nhiều
kinh nghiệm trong đào tạo nghề và có khả năng đào tạo với quy mô lớn nhưng do
thay đổi cơ chế chính sách tài chính là Nhà nước cắt bỏ hỗ trợ kinh phí đào tạo nên
các trường đang có xu hướng giảm mạnh quy mô đào tạo.
- Cơ cấu nghề đào tạo mặc dù đã được quan tâm điều chỉnh cho phù hợp với
nhu cầu của các ngành kinh tế và thị trường lao động nhưng đến nay cơ cấu nghề
đào tạo vẫn chưa hợp lý.
- Chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH
và hội nhập quốc tế do những điều kiện đảm bảo chất lượng chưa được đầu tư, phát
triển một cách đồng bộ.
- Giáo viên tăng chưa phù hợp với phát triển quy mô, chưa đồng bộ và tỷ lệ
đạt chuẩn mới đạt 70% đặc biệt là còn nhiều hạn chế về chất lượng, cụ thể:
+ Thiếu về số lượng, không đồng bộ về cơ cấu ngành nghề đào tạo, đặc biệt
là thiếu nghiêm trọng giáo viên cho các nghề mới, thiếu giáo viên giỏi vừa có trình
độ chuyên môn kỹ thuật vừa có trình độ kỹ năng nghề cao.
+ Một bộ phận không nhỏ giáo viên đào tạo nghề có trình độ tay nghề thấp,
thiếu hiểu biết, kinh nghiệm thực tế sản xuất, chưa tiếp cận được với kỹ thuật, công
nghệ sản xuất mới, hiện đại dẫn đến việc đưa những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ
63
mới vào quá trình đào tạo nghề cũng hạn chế và làm ảnh hưởng đến chất lượng,
hiệu quả của đào tạo nghề.
+ Còn bất cập, hạn chế về năng lực sư phạm, đặc biệt là kỹ năng đào tạo
nghề nhất là ở khối các trường đào tạo nghề thuộc các địa phương, các trường đào
tạo nghề mới thành lập, các trường đào tạo nghề ngoài công lập và khối các trung
tâm đào tạo nghề.
+ Yếu về ngoại ngữ và tin học nên đội ngũ giáo viên trong các trường đào
tạo nghề đang bị hạn chế khả năng nghiên cứu, tham khảo tài liệu, khai thác, sử
dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại vào quá trình đào tạo nghề để nâng
cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề cũng như điều kiện cần có để đi tham quan,
học tập nâng cao trình độ ở nước ngoài khi có cơ hội.
- Chương trình đào tạo nghề chưa thường xuyên được cập nhật, bổ sung, sửa
đổi cho phù hợp với kỹ thuật công nghệ mới.
- Cơ sở vật chất, thiết bị của cơ sở đào tạo nghề trong những năm qua tuy đã
được quan tâm đầu tư nhưng cũng chỉ mới cải thiện được một bước. Trang thiết bị
còn lạc hậu so với trang thiết bị công nghệ trong sản xuất nên có ảnh hưởng đến
chất lượng đào tạo.
- Đào tạo nghề vẫn chưa gắn chặt với thị trường lao động: Mặc dù các cơ sở
đào tạo nghề đã có nhiều cố gắng trong việc đào tạo nghề theo nhu cầu thị trường lao
động nhưng thực tế cho thấy cơ cấu ngành nghề đào tạo lao động có kỹ thuật vẫn chưa
thực sự gắn với cơ cấu ngành nghề của thị trường lao động.
- Chưa có sự tham gia của doanh nghiệp trong quá trình đào tạo nghề. Việc
tham gia của doanh nghiệp vừa chia sẻ chi phí đào tạo với NSNN vừa cho học sinh
được tiếp cận, nắm bắt những tiến bộ khoa học tiên tiến tại doanh nghiệp.
2.1.5.2. Nguyên nhân của hạn chế
- Do đặc thù đào tạo nghề chủ yếu là dạy thực hành nên yêu cầu đầu tư trang
thiết bị, vật tư cho thực hành rất lớn, trong khi đó nguồn lực đầu tư (nhất là tại các
địa phương) của các cấp, các ngành cho đào tạo nghề còn quá thấp, không tương
ứng với mức tăng về quy mô đào tạo nên các điều kiện đảm bảo chất lượng chưa
đáp ứng được yêu cầu dạy và học. NSNN đầu tư cho đào tạo nghề trong những năm
gần đây mới chỉ đạt 7-8% trong tổng chi NSNN cho giáo dục đào tạo. Nhiều trường
64
đào tạo nghề đã có quyết định thành lập nhưng vốn đầu tư còn hạn chế, đầu tư
không dứt điểm nên chậm được đưa vào hoạt động hoặc nếu có hoạt động thì quy
mô đào tạo còn nhỏ, chưa đáp ứng được yêu cầu. Hơn nữa, đầu tư cho đào tạo nghề
việc thu hồi vốn sẽ chậm nên chưa thu hút được các nhà đầu tư.
- Nhận thức về đào tạo nghề của các cấp, các ngành chưa được định hướng
vào phát triển đào tạo nghề nên đầu tư nguồn lực cho đào tạo nghề còn ít, tâm lý xã
hội còn nặng về khoa bảng bằng cấp;
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và chính sách về đào tạo nghề có
được cải thiện tuy nhiên còn thiếu đồng bộ, chưa tạo được động lực mạnh mẽ để
thúc đẩy các cơ sở đào tạo nghề, giáo viên đào tạo nghề và người học nghề.
- Một số cơ sở dạy nghề chưa quan tâm đúng mức đến việc đổi mới nội
dung, chương trình, phương pháp đào tạo để nâng cao chất lượng đào tạo; việc
chuyển đào tạo nghề từ năng lực sẵn có của CSDN sang đáp ứng nhu cầu xã hội và
thị trường lao động cũng chậm.
- Còn thiếu chính sách tạo động lực khuyến khích người học, người dạy và
người sử dụng lao động như chính sách đầu tư, học phí, tiền lương, khuyến khích tư
nhân và doanh nghiệp…tham gia hoạt động đào tạo nghề.
- Tổ chức bộ máy quản lý về đào tạo nghề ở cấp tỉnh chưa tương xứng với
chức năng nhiệm vụ được giao. Chưa hình thành được hệ thống thông tin về nhu cầu
lao động qua đào tạo nghề của thị trường lao động làm cơ sở cho việc hoạch định kế
hoạch đào tạo nghề của các cấp, các ngành, cơ sở đào tạo nghề; cho việc lựa chọn
nghề học của người lao động. Chưa có chính sách đủ mạnh (tuyển dụng, sử dụng, tiền
lương và môi trường làm việc…) để tạo động lực cho người dạy và người lao động
qua đào tạo nghề…
2.2. THỰC TRẠNG GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH CHO ĐÀO TẠO NGHỀ CHẤT
LƯỢNG CAO Ở VIỆT NAM
2.2.1. Khái quát nguồn lực tài chính cho hoạt động đào tạo nghề giai đoạn
2007-2014
Với sự quan tâm của các cấp, các ngành, sự nỗ lực, cố gắng của cơ quan
quản lý nhà nước về đào tạo nghề và các CSDN, sự thay đổi về nhận thức của mọi
65
tầng lớp nhân dân trong xã hội, các nguồn lực đầu tư cho đào tạo nghề đã có bước
chuyển tích cực. Nguồn lực đầu tư cho đào tạo nghề đã bước đầu phát triển theo xu
hướng xã hội hoá. Cơ cấu bình quân nguồn tài chính đầu tư cho đào tạo nghề trong
giai đoạn 2007-2014 là: NSNN chiếm 60%; Đóng góp của người dân thông qua học
phí chiếm 18%; Thu từ dịch vụ sự nghiệp của các CSDN chiếm 14%; Đầu tư, tài trợ
8%
14%
18%
60%
NSNN
Học phí
Thu sự nghiệp của các CSDN
Đầu tư, tài trợ của các tổ chức, cá nhân
của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước chiếm 8% (Hình 2.4).
Hình 2.4: Cơ cấu nguồn lực tài chính cho đào tạo nghề giai đoạn 2007-2014
Nguồn: Tổng cục dạy nghề
2.2.1.1. Nguồn ngân sách nhà nước
Theo quy định hiện hành, nguồn vốn ODA là nguồn NSNN, tuy nhiên, để dễ
tổng hợp và phân tích tác giả đã đưa vào nguồn ngoài NSNN, nguồn NSNN chỉ còn
bao gồm ngân sách trong nước cho ba nội dung chi chủ yếu: chi thường xuyên, chi
chương trình mục tiêu và chi xây dựng cơ bản.
Tình hình huy động và sử dụng vốn từ NSNN giai đoạn 2007-2014 cho đào
tạo nghề như sau:
66
Bảng 2.3: Nguồn NSNN cho đào tạo nghề giai đoạn 2007-2014
Giai đoạn 2007-2014
Tổng số
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
TT
Nội dung
Thực tế
Thực tế
Thực tế
Thực tế
Thực tế
Thực tế
Thực tế
Thực tế
Thực tế
Kế hoạch
Kế hoạch
Kế hoạch
Kế hoạch
Kế hoạch
Kế hoạch
Kế hoạch
Kế hoạch
Kế hoạch
I GDP (tỷ đồng)
15.931.201
1.280.256
1.459.756
1.526.667
1.942.826
2.177.778
2.286.383
2.561.739
2.695.796
Tốc độ tăng hàng năm (%)
14%
5%
27%
12%
5%
12%
5%
II Tổng chi NSNN (tỷ đồng)
4.886.337
367.132
407.143
458.000
616.345
601.227
693.290
736.500
1.006.700
Tốc độ tăng hàng năm (%)
12%
35%
-2%
15%
6%
37%
11%
III Tổng chi GD ĐT (tỷ đồng)
919.794
91.600
104.771
120.098
132.995
144.589
174.480
69.832
81.429
% so tổng chi NSNN
20%
17%
20%
19%
20%
17%
19%
20%
Tốc độ tăng hàng năm (%)
12%
14%
15%
11%
9%
221%
17%
IV Chi cho Đào tạo nghề (tỷ đồng) 111.762
72.147 7.970
4.443 8.650
5.585 10.260
6.670 13.064
8.811 15.160
9.800 16.655
10.746 17.350
11.784 22.653
14.308
% so Tổng chi GD- ĐT
8%
6%
7%
7%
8%
8%
8%
8%
8%
Tốc độ tăng hàng năm (%)
9%
26%
19%
19%
27%
32%
16%
11%
10%
10%
4%
10%
31%
21%
1 Chi thường xuyên (tỷ đồng)
56.580
29.482 4.320
2.202 4.750
2.945 5.700
3.538 6.270
3.691 8.000
3.450 8.800
3.901 9.240
4.537 9.500
5.218
% so Tổng chi NSNN cho DN
41%
54%
50%
55%
53%
56%
53%
48%
42%
53%
35%
53%
36%
53%
39%
42%
36%
2 Chi CTMT (tỷ đồng)
18.718
14.170 1.050
500 1.100
700 1.200
1.000 3.094
2.968 2.350
2.350 2.565
2.565 2.556
2.556 4.803
1.531
% so Tổng chi NSNN cho DN
20%
13%
11%
13%
13%
12%
15%
24%
34%
16%
24%
15%
24%
15%
22%
21%
11%
3 Chi XDCB (tỷ đồng)
28.495 2.600
1.741 2.800
1.940 3.360
2.132 3.700
2.152 4.810
4.000 5.290
4.280 5.554
4.691 8.350
7.559
% so Tổng chi NSNN cho DN
39%
33%
39%
32%
35%
33%
32%
28%
24%
32%
41%
32%
40%
32%
40%
37%
53%
Nguồn: Tổng cục dạy nghề
67
a. Kinh phí thường xuyên: Là nguồn kinh phí chủ yếu để thực hiện chỉ tiêu
đào tạo nghề, theo cơ chế hiện nay nguồn kinh phí này chỉ cấp để thực hiện chỉ tiêu
đào tạo “chính quy dài hạn”, chỉ tiêu đào tạo “ngắn hạn” hầu như không được nhà
nước hỗ trợ kinh phí.
Kinh phí chi thường xuyên từ NSNN cho đào tạo nghề trong những năm qua
tuy có được tăng lên nhưng mức chi trên đầu học sinh còn quá thấp, chỉ có khoảng
80% chỉ tiêu dài hạn được bố trí ngân sách đào tạo (chỉ tiêu có ngân sách) với mức
kinh phí chỉ đảm bảo được từ 50-60% định mức hiện hành của Bộ Tài chính (4,3 triệu
đồng/học sinh/năm, thực tế cho thấy định mức này đã quá lạc hậu so với yêu cầu thực
tế). Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đào tạo nghề.
Số liệu chi thường xuyên cho đào tạo nghề được tổng hợp như sau:
= x x x Chi thường xuyên năm N HS tuyển mới năm N Tỷ lệ NS đảm bảo Hệ số để tính học sinh có mặt bình quân Định mức chi cho đào tạo nghề
- Giai đoạn 2007-2014: tỷ lệ ngân sách đảm bảo tính bình quân 70%.
- Hệ số để tính học sinh có mặt bình quân là 1,5
Trên cơ sở cách tính như trên, tổng số chi thường xuyên cho đào tạo nghề
giai đoạn (2007-2014) là 29.482 tỷ đồng chiếm 40% tổng chi NSNN cho đào tạo
nghề. Kinh phí chi thường xuyên cho dạy nghề tăng khá nhanh và liên tục từ 2.202
tỷ đồng năm 2007 lên 5.218 tỷ đồng năm 2014 (tăng 2,4 lần trong 8 năm). So với
tốc độ tăng chỉ tiêu tuyển sinh học nghề trong giai đoạn này (chỉ tăng khoảng 30%)
thì dường như có sự bất hợp lý khi kinh phí chi thường xuyên cho dạy nghề tăng
nhanh hơn nhiều như vậy. Tuy nhiên, trên thực tế thì do những năm trước đây
NSNN cấp cho chi thường xuyên dạy nghề quá thấp (giai đoạn 2001-2006 bình
quân chỉ khoảng 1,6 triệu đồng/năm/học sinh quy đổi, tương đương khoảng 30%
định mức chi phí theo Công văn số 562/TC/HCSN ngày 03/3/1998 của Bộ Tài
chính), đến giai đoạn 2007-2014 tuy có tăng lên (bình quân khoảng 4 triệu
đồng/năm/học sinh quy đổi) nhưng so với yêu cầu về đảm bảo chi phí đào tạo nghề
để nâng cao chất lượng dạy nghề thì vẫn còn chưa đáp ứng được. Trong khi đó, thời
gian gần đây do chính sách tiền lương của giáo viên, cán bộ quản lý cũng đã có sự
68
thay đổi đáng kể góp phần vào tăng tổng ngân sách chi thường xuyên cho dạy nghề
trong thời gian này.
b. Kinh phí Chương trình mục tiêu quốc gia
Trong những năm qua, CTMTQG là một trong những nội dung chi quan
trọng giúp lĩnh vực dạy nghề có bước phục hồi và phát triển mạnh mẽ về mạng lưới
CSDN và các điều kiện đảm bảo để đào tạo nghề chất lượng cao. Thông qua
CTMTQG một loạt các giải pháp tài chính để tăng cường năng lực đào tạo nghề,
chuẩn bị các điều kiện để thực hiện đào tạo nghề chất lượng cao được triển khai, cụ
thể để thực hiện các mục tiêu sau đây:
- Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo nghề cho các trường CĐN,
TCN và TTDN;
- Phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo nghề, kiểm định viên
đào tạo nghề, đánh giá viên đào tạo nghề;
- Phát triển chương trình đào tạo nghề, xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề,
ngân hàng đề thi, hệ thống tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đào tạo nghề;
- Hỗ trợ đào tạo nghề trình độ sơ cấp và đào tạo nghề thường xuyên cho đối
tượng là lao động nông thôn, thanh niên dân tộc thiểu số và người tàn tật;
- Thực hiện thí điểm đào tạo nghề theo cơ chế đặt hàng.
Trong suốt giai đoạn 2007-2014, chi CTMTQG cho dạy nghề đều có sự gia
tăng liên tục từ 1.050 tỷ lên 2.556 tỷ đồng. Trong đó, giai đoạn 2007-2009 và 2011-
2014 có tốc độ tăng tương đối ổn định. Riêng năm 2010 có sự tăng đột biến so với
năm 2009 (tăng gần 2,6 lần, nguyên nhân do năm 2010 là năm đầu tiên thực hiện
Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” và được bổ sung 1.894
tỷ để thực hiện Đề án này).
Kết quả đầu tư các CSDN đã mang lại hiệu quả trực tiếp và cụ thể, các
CSDN được đầu tư trong giai đoạn 2007-2014 đã đáp ứng được các điều kiện để
nâng cấp lên bậc cao hơn.
Thông qua kinh phí CTMTQG, đã có gần 10.000 lượt giáo viên đào tạo
nghề trong cả nước được bồi dưỡng chuẩn hóa và nâng cao trình độ và 150 giáo
viên được đào tạo theo chương trình tiếp cận trình độ quốc tế, đây là những giáo
69
viên hạt nhân và sẽ nhân rộng ra các giáo viên khác trong cả nước. Đã xây dựng
và ban hành khoảng 200 chương trình khung đáp ứng kịp thời nhu cầu giảng dạy
của các CSDN; tổ chức xây dựng 80 bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Để đáp
ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong đào tạo nghề, bằng nguồn kinh phí Dự án đã tổ
chức xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình, sách bài tập, sách hướng dẫn
giảng dạy và tổ chức tập huấn cho giáo viên để giảng dạy tiếng Anh cho học sinh
học nghề bằng chương trình định hướng theo chuẩn Toeic. Để đảm bảo hiệu quả
và chất lượng trong đào tạo nghề, bằng nguồn kinh phí Dự án đã tổ chức xây dựng
tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đào tạo nghề, đào tạo đội ngũ kiểm định viên và
tổ chức thí điểm kiểm định chất lượng đào tạo nghề cho một số CSDN. Kết quả
kiểm định đã có ý nghĩa rất lớn đối với các trường trong việc khẳng định vị trí và
thương hiệu của mình trong thị trường đào tạo phát triển nguồn nhân lực thời kỳ
hội nhập. Kết quả thí điểm cơ chế đặt hàng đào tạo nghề gắn với tạo việc làm đã
đem lại hiệu quả rõ rệt với tỷ lệ 70% học viên tốt nghiệp có việc làm ổn định trong
các nhà máy của các tập đoàn, tổng công ty, đặc biệt đối tượng ưu tiên được đặt
hàng là lao động nông thôn bị thu hồi đất, đối tượng chính sách, người dân tộc
thiểu số, bộ đội xuất ngũ, lao động nữ chưa có việc làm, lao động thuộc các làng
nghề, vùng chuyên canh.
Trong 5 năm (2010-2014), thông qua kinh phí Dự án Đào tạo nghề cho lao
động nông thôn đã có 2.360.000 lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề, tỷ lệ học
xong có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ nhưng năng suất, thu nhập cao hơn
đạt 79%, góp phần quan trọng giúp người dân có nghề để tự tạo việc làm và làm
công ăn lương ngay tại địa phương.
Tuy nhiên, so sánh cơ cấu các khoản chi cho dạy nghề trong giai đoạn
2007-2014 thì thấy rằng, tỷ trọng nguồn lực CTMTQG cho dạy nghề có xu hướng
giảm, trong khi chi thường xuyên cho dạy nghề thì không đổi và chi đầu tư XDCB
có xu hướng tăng khá nhanh. Cơ cấu chi này phản ảnh thực trạng tài chính cho
dạy nghề giai đoạn 2011-2014 đang tập trung cho đầu tư tăng cường cơ sở vật chất
cho các CSDN mới được nâng cấp và mới được thành lập. Tuy nhiên, CTMTQG
70
với vai trò là nguồn lực tài chính quan trọng để củng cố và phát triển các yếu tố
đảm bảo chất lượng đào tạo (thiết bị dạy nghề, chương trình, giáo viên, kiểm định
và đánh giá chất lượng…) thì sự sụt giảm mạnh về cơ cấu của khoản chi này trong
tổng chi tài chính cho dạy nghề về lâu dài sẽ là không tốt cho yêu cầu nâng cao
chất lượng đào tạo.
c. Kinh phí xây dựng cơ bản
Chi đầu tư xây dựng cơ bản do Bộ Kế hoạch - Đầu tư bố trí trên cơ sở đề
nghị của các Bộ, ngành, địa phương, thực hiện theo quy định hiện hành về quản lý
vốn XDCB tập trung.
Qua số liệu trong Bảng 2.3 cho thấy, số chi xây dựng cơ bản trong 8 năm qua
(2007-2014) là 28.495 tỷ đồng chiếm 39% tổng chi NSNN cho đào tạo nghề. Ngân
sách bố trí năm sau cao hơn năm trước. Vốn đầu tư XDCB cho lĩnh vực dạy nghề
được NSNN bố trí tăng hàng năm. Từ năm 2007 đến năm 2014, vốn đầu tư đã tăng
4 lần. Vốn đầu tư XDCB tập trung được NSNN giao hàng năm chiếm từ 35% (năm
2007) đến 52% (năm 2014) trong tổng chi NSNN cho dạy nghề, trong đó chủ yếu là
phần chi đầu tư XDCB để nâng cấp các trường TCN lên trường CĐN (trong giai
đoạn này có tới 160 trường CĐN đã được thành lập trên cơ sở nâng cấp từ trường
TCN) và xây dựng các TTDN cấp huyện (trong giai đoạn này đã thành lập mới
được 150 TTDN cấp huyện).
Như vậy, cùng với kinh phí CTMT, kinh phí XDCB đã giúp cải thiện về tình
hình trường lớp, nhà xưởng… từng bước nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Tuy
nhiên nguồn kinh phí này cần phải được chú trọng đầu tư hơn nữa.
71
2.2.1.2. Nguồn khác
Bảng 2.4: Nguồn ngoài NSNN cho đào tạo nghề giai đoạn 2007-2014
Đơn vị tính: tỷ đồng
Giai đoạn 2007-2014
TT
Nội dung
Tổng
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
số
Nguồn huy động khác ngoài NSNN
12.840 1.021 1.066 1.103 1.790 1.801 1.725 1.997 2.338
4,43
3,41 62,29
0,61 (4,18) 15,73 17,09
Tốc độ tăng hàng năm
% so với tổng kinh phí NSNN đầu
20
18
16
20
18
16
17
17
tư cho Đào tạo nghề
496
593
693 1.242 1.256 1.293 1.549 1.678
I Dân đóng góp (chủ yếu là học phí)
8.799
Cao đẳng nghề
2.704
58
111
175
422
419
442
538
539
Trung cấp nghề
2.361
124
162
163
379
372
339
404
418
Sơ cấp nghề
3.734
314
320
355
441
466
512
606
721
Thu hoạt động sxkd dịch vụ tại
86
95
104
114
126
139
152
168
II
983
các CSDN
Đầu tư tài trợ của các tổ chức, cá
99
119
139
155
126
129
155
168
III
1.089
nhân trong nước
Đầu tư tài trợ của các tổ chức, cá
340
260
167
278
293
165
141
325
IV
1.969
nhân nước ngoài
Nguồn: Tổng cục dạy nghề
a. Học phí, lệ phí
Từ năm 1998 đến 2009, việc thu và sử dụng học phí trong các cơ sở giáo dục
công lập được thực hiện trên cơ sở khung học phí quy định tại Quyết định số
70/1998/QĐ-TTg ngày 31/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư liên tịch
số 54/1998/TTLT/Bộ GD&ĐT-BTC ngày 31/8/1998 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
và Bộ Tài chính.
Từ năm 2010 đến 2015, học phí học nghề được thực hiện theo quy định tại
Nghị định số Nghị định 49/2010/NĐ-CP quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi
72
phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống
giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015. Theo đó:
- Học phí và lệ phí tuyển sinh là khoản tiền của gia đình người học hoặc
người học phải nộp để góp phần bảo đảm chi phí cho các hoạt động đào tạo nghề.
Học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở đi học nghề được miễn 50% học phí. Ngoài học
phí và lệ phí tuyển sinh, người học hoặc gia đình người học không phải đóng góp
khoản tiền nào khác.
- Đối với đào tạo nghề công lập: mức thu học phí thực hiện theo nguyên tắc
chia sẻ chi phí đào tạo giữa Nhà nước và người học. CSDN công lập thực hiện
chương trình chất lượng cao được thu học phí tương xứng để trang trải chi phí đào
tạo. Bộ trưởng Bộ Tài chính phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thủ
trưởng cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo nghề để quy định mức thu học phí, lệ
phí tuyển sinh đối với các cơ sở giáo dục công lập trực thuộc trung ương. Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh quy định mức thu học phí, lệ phí tuyển sinh đối với các cơ sở giáo
dục công lập thuộc cấp tỉnh trên cơ sở đề nghị của UBND cùng cấp.
- CSDN ngoài công lập được tự quyết định mức học phí. Các CSDN phải
công khai cho từng năm học và dự kiến cả khóa học đồng thời phải thực hiện Quy
chế công khai đối với CSDN theo quy định.
- Mức trần học phí đối với TCN, CĐN công lập quy định theo 15 nhóm nghề
đào tạo khác nhau. Học phí học đối với sơ cấp nghề và đào tạo nghề thường xuyên:
được thu theo thỏa thuận với người học nghề.
- Căn cứ vào trần học phí từng năm học, đặc điểm và yêu cầu phát triển của
ngành đào tạo, hình thức đào tạo, hoàn cảnh của học sinh, sinh viên, Thủ trưởng các
CSDN thuộc Trung ương quản lý, quy định học phí cụ thể đối với từng loại đối
tượng, từng trình độ đào tạo. Học phí đối với các CSDN và của các doanh nghiệp
nhà nước: căn cứ vào chi phí đào tạo, các CSDN chủ động xây dựng mức học phí
cho các nhóm ngành theo nguyên tắc đảm bảo bù đắp chi phí đào tạo trình Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội cho phép. Mức học phí phải công khai cho từng năm
học và dự kiến cả khóa học để người học biết trước khi tuyển sinh.
- Học phí đào tạo theo phương thức giáo dục thường xuyên không vượt quá
150% mức học phí chính quy cùng cấp học và cùng nhóm ngành nghề đào tạo.
73
- Học phí đào tạo theo tín chỉ: mức thu học phí của một tín chỉ được xác
nhận căn cứ vào tổng thu học phí của toàn khóa học theo nhóm ngành đào tạo và số
tín chỉ đó theo công thức dưới đây:
Tổng học phí toàn khóa Học phí tín chỉ = Tổng số tín chỉ toàn khóa
Tổng học phí toàn khóa = mức thu học phí 1 sinh viên/1 tháng x 10 tháng x
số năm học.
- Học phí của chương trình đào tạo chất lượng cao: Các CSDN thực hiện
chương trình chất lượng cao được chủ động xây dựng mức học phí tương xứng để
trang trải chi phí đào tạo trình Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho phép và
phải công khai mức học phí cho người học biết trước khi tuyển sinh.
- Học phí đối với người nước ngoài học ở các cơ sở giáo dục Việt Nam do
các cơ sở giáo dục quyết định.
Theo thống kê, hàng năm ước tỷ lệ số học sinh, sinh viên học nghề được
miễn, giảm học phí là khoảng 25%, trong đó giai đoạn 2001-2009 có tỷ lệ miễn
giảm thấp hơn (khoảng 18%), giai đoạn từ năm 2010 đến nay thực hiện chính sách
học phí mới theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP (trong đó có chính sách giảm 50%
học phí cho học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở đi học nghề) thì số học sinh, sinh
viên được miễn giảm học phí đã tăng lên rõ rệt, chiếm khoảng 30%.
Tuy vậy, do mức thu học phí tăng nên nguồn thu học phí học nghề vẫn tăng
mạnh trong giai đoạn 2007-2014 (từ 496 tỷ năm 2007 lên khoảng 1.678 tỷ năm 2014,
tăng gần 3,4 lần). Nguồn thu học phí tăng hàng năm và phần lớn được sử dụng để bù
đắp các hoạt động đào tạo, một phần tích lũy để tái đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị đã góp
phần tích cực trong việc tăng cường năng lực đào tạo của các CSDN.
b. Thu hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ tại các cơ sở dạy nghề
Thực tế nguồn thu từ hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ... tại các cơ sở
đào tạo nghề ở Việt Nam hiện nay là không lớn. Một phần do cơ sở vật chất của các
cơ sở đào tạo nghề còn nhiều hạn chế nên việc tận dụng để tăng cường nguồn thu là
không đáng kể. Hơn nữa các cơ sở đào tạo nghề vẫn còn thiếu năng động trong việc
chủ động khai thác nguồn thu cho đơn vị mình. Tâm lý vẫn còn trông chờ vào sự
74
bao cấp của Nhà nước. Tuy nhiên trong những năm gần đây, thực hiện cơ chế tự
chủ tài chính theo NĐ43/ của Chính phủ nên nhiều cơ sở đào tạo nghề đã có nhiều
cố gắng trong việc khai thác nguồn thu cho đơn vị mà chủ yếu là liên kết với các
trường bạn, với các cơ sở sản xuất trên cơ sở vận dụng đa dạng hoá hình thức đào
tạo và khai thác cơ sở vật chất như ký túc xá, giảng đường, phòng học; bàn học, cho
thuê giáo trình, tài liệu, sản phẩm thực hành, sản phẩm thí nghiệm... của từng cơ sở
đào tạo nghề. Vì vậy, nguồn thu hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ... tại các cơ
sở đào tạo nghề đã từng bước được nâng lên có số thu năm sau cao hơn năm trước
với tỷ lệ bình quân 35%/năm. Tổng số thu được từ hoạt động này giai đoạn 2007-
2014 là 983 tỷ đồng, trong đó số thu từ liên kết đào tạo chiếm 70%. Số liệu chi tiết
qua các năm xem Bảng 2.4
c. Nguồn tài chính từ đầu tư, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước
Do đầu tư vào đào tạo nghề vẫn chưa thu hút được các nhà đầu tư nên trong
những năm qua, nguồn huy động từ kênh cá nhân và tổ chức trong nước là rất yếu.
Các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay chưa thực
hiện đóng góp kinh phí đào tạo nghề với trách nhiệm là “người sử dụng lao động đã
qua đào tạo nghề”. Hiện tại, mới chỉ có các Tổng công ty nhà nước thực hiện đóng
góp kinh phí đào tạo nghề thông qua kinh phí hỗ trợ cho các trường trực thuộc ước
tính khoảng 120 tỷ đồng/năm, đảm bảo 50% định mức cho số chỉ tiêu đào tạo chính
quy dài hạn. Ngoài ra, số kinh phí đầu tư tăng cường cơ sở vật chất thiết bị do các
doanh nghiệp đầu tư khoảng 100 tỷ đồng trong 5 năm qua, trong đó của các Tổng
công ty 91 khoảng 50 tỷ đồng. Từ năm 2005, thực hiện Chỉ thị 18/2005/CT-TTg
ngày 31/5/2005 về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ nên
các doanh nghiệp phải tự trang trải chi phí cho các trường trực thuộc nên số kinh
phí từ nguồn này tăng lên. Do kinh phí ở các tổng công ty hiện nay còn nhiều khó
khăn nên với quyết định này của Chính phủ thì các trường đào tạo nghề thuộc các
tổng công ty nhà nước thực sự gặp khó khăn. Tuy nhiên, từ năm 2011, một loạt các
trường thuộc các tổng công ty do quá khó khăn nên xin được về trực thuộc các
Bộ/ngành/địa phương nên kinh phí từ nguồn này lại có xu hướng giảm.
Như vậy, nguồn huy động từ đầu tư, tài trợ của các tổ chức cá nhân trong
nước chủ yếu hiện nay là do số đóng góp của các Tổng công ty nhà nước, với số
75
đóng góp bình quân mỗi năm là 130 tỷ đồng trong giai đoạn 2007-2014, số còn lại
là huy động từ các tổ chức cá nhân khác.
d. Nguồn tài chính từ đầu tư, tài trợ của các tổ chức cá nhân nước ngoài
Với quan điểm phát huy nội lực và tận dụng mọi khả năng viện trợ, trong
nhiều năm qua Việt Nam đã tranh thủ được sự trợ giúp của các tổ chức Quốc tế cho
sự nghiệp đào tạo nghề thông qua các dự án đầu tư, hỗ trợ. Theo số liệu của Tổng
cục Dạy nghề nghề mới chỉ thống kê được một số dự án thông qua công tác quản lý
điều hành như:
- Dự án "Giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề" (vốn của ADB): 121 triệu USD
đầu tư nâng cao năng lực cho 15 trường trọng điểm, là dự án lớn nhất từ trước tới
nay đầu tư cho đào tạo nghề. Đến nay, dự án đã chuẩn bị kết thúc và được đánh giá
là có hiệu quả cao, góp phần thay đổi lớn “bộ mặt” của lĩnh vực đào tạo nghề.
- Dự án “Tăng cường kỹ năng nghề”: 70 triệu USD
- Dự án “Thành lập 5 trường cao đẳng nghề Việt Nam - Hàn Quốc”: 35 triệu USD
- Dự án “Đầu tư phát triển các trường nghề chất lượng cao”: 35 triệu USD
- Dự án “Chương trình đào tạo nghề”: 19 triệu USD
Ngoài ra, trong 10 năm qua còn một số dự án nhỏ có giá trị khoảng 20 triệu
USD: cung cấp tài liệu giảng dạy và thiết bị cho xưởng sửa chữa xe máy của 60 đơn
vị đào tạo nghề trong toàn quốc do công ty Honda-Nhật Bản tài trợ; nâng cao năng
lực cho 2 trường đào tạo nghề CNKT Cơ điện Quy Nhơn, trường trung học Công
nghiệp Hà Nội và trường đào tạo nghề Việt Hàn, Nghệ An; Xây dựng trung tâm đào
tạo nghề chất lượng cao tại trường LILAMA2; Đào tạo nghề theo nhu cầu nhằm giảm
nghèo tại Đồng bằng sông Cửu Long; các dự án hỗ trợ kỹ thuật như tư vấn hệ thống...
Tổng số nguồn vốn từ các dự án hợp tác quốc tế đã giải ngân trong 5 năm
qua khoảng 110 triệu USD (gần 2.000 tỷ đồng). Các dự án hợp tác quốc tế đã và
đang tác động có hiệu quả trong việc nâng cao năng lực của hệ thống.
2.2.2. Thực trạng về đầu tư sử dụng nguồn lực tài chính cho đào tạo nghề
chất lượng cao
2.2.2.1. Đầu tư nâng cao năng lực cho cơ sở đào tạo nghề trọng điểm
Dự án “Tăng cường năng lực dạy nghề” là dự án số 7 thuộc CTMT quốc gia
Giáo dục và đào được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 07/2008/QĐ-
76
TTg ngày 10/01/2008 với tổng kinh phí dự tính là 5.500 tỷ đồng với các nội dung
chính là: Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo nghề cho các trường cao
đẳng nghề, trường trung cấp nghề và trung tâm đào tạo nghề; phát triển đội ngũ giáo
viên và cán bộ quản lý đào tạo nghề, kiểm định viên đào tạo nghề, đánh giá viên
đào tạo nghề; phát triển chương trình đào tạo nghề, xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng
nghề, ngân hàng đề thi, hệ thống tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đào tạo nghề; hỗ
trợ đào tạo nghề trình độ sơ cấp và đào tạo nghề thường xuyên cho đối tượng là lao
động nông thôn, thanh niên dân tộc thiểu số và người tàn tật; thực hiện thí điểm đào
tạo nghề theo cơ chế đặt hàng.
So với Dự án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số
07/2008/QĐ-TTg thì kinh phí thực hiện Dự án trong 5 năm 2006-2010 chỉ đạt
83,6% (4.600/5.500 tỷ đồng), nếu tính cả nguồn huy động từ ngân sách địa phương
và nguồn khác thì đạt 97,8% (5.380/5.500 tỷ đồng).
Bảng 2.5: Kết quả huy động kinh phí cho dự án
Đơn vị tính: Triệu đồng
“Tăng cường năng lực đào tạo nghề” giai đoạn 2006-2010 từ NSTW
Dự án “Tăng cường năng lực đào tạo nghề” giai đoạn 2006-2010
TT
Nội dung
Tổng cộng
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Tổng cộng (A+B+C)
4.600.000 500.000 700.000 1.000.000 1.200.000 1.200.000
A Các CSDN thuộc Bộ/ngành
1.412.900 138.300 190.800 312.900 388.200 382.700
B Các CSDN thuộc Tổng công ty 91
22.000
10.000
12.000
C Các CSDN thuộc địa phương
3.165.100 351.700 497.200 687.100 811.800 817.300
1 Vùng Trung du miền núi phía Bắc
738.170
84.100 105.500 146.130 195.920 206.520
2 Vùng Đồng bằng sông Hồng
506.150
54.000
84.200 112.310 130.720 124.920
3
756.550
86.500 119.400 172.870 185.140 192.640
Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ
4 Vùng Tây Nguyên
241.260
29.300
35.200
50.120
61.770
64.870
5 Vùng Đông Nam Bộ
228.300
32.500
44.300
52.280
57.610
41.610
6 Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
694.670
65.300 108.600 153.390 180.640 186.740
Nguồn: Tổng cục dạy nghề
77
Kết quả thực hiện dự án Tăng cường năng lực dạy nghề được thể hiện ở
bảng 2.6.
Trong đó:
- Kinh phí đầu tư tăng cường CSVC, trang thiết bị đào tạo nghề bao gồm hai
mục: mua sắm trang thiết bị đào tạo nghề và xây dựng CSVC. Đây là phần chi chủ
yếu của dự án, chiếm 81,64% tổng chi của dự án (3.543.142 triệu đồng) nhằm đạt
được mục tiêu của dự án là tăng cường CSVC thiết bị cho 425 cơ sở dạy nghề (126
trường cao đẳng và trung cấp nghề; 299 TTDN). Theo đó, đã khắc phục dần tình
trạng dạy chay học chay, thiếu phòng học, thiếu nhà xưởng, thiếu thiết bị thực hành
và xuống cấp về CSVC, đổi mới căn bản trang thiết bị đào tạo nghề theo hướng
chuẩn hóa, hiện đại hóa đáp ứng nhu cầu các ngành kinh tế mũi nhọn của vùng và
địa phương.
- Kinh phí còn lại chiếm 18,36% tổng chi của dự án (796.848 triệu đồng),
gồm các khoản kinh phí xây dựng chương trình, giáo trình; kinh phí đào tạo, bồi
dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý đào tạo nghề và kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề ngắn
hạn, nhằm từng bước bổ sung chỉnh lý chương trình, giáo trình và từng bước chuẩn
hóa đội ngũ giáo viên bước đầu đáp ứng được nhu cầu học nghề và đào tạo nghề,
đồng thời hỗ trợ đào tạo nghề trình độ sơ cấp và đào tạo nghề thường xuyên cho đối
tượng là lao động nông thôn, thanh niên dân tộc thiểu số và người tàn tật, thực hiện
thí điểm đào tạo nghề theo cơ chế đặt hàng.
78
Bảng 2.6: Tổng hợp tình hình thực hiện dự án
“Tăng cường năng lực dạy nghề” giai đoạn 2006-2010
Đơn vị tính: triệu đồng
Trong đó
1. Kinh phí đầu tư tăng cường CSVC, thiết bị
TT
Địa phương
Thực hiện 2006-2010
4. Kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề ngắn hạn
Kế hoạch 2006- 2010
1.2. Xây dựng CSVC
2. Kinh phí xây dựng chương trình, giáo trình
1.1. Mua sắm trang thiết bị đào tạo nghề
3. Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý đào tạo nghề
49.645
43.502 703.701
Cả nước
4.600.000 4.339.990 2.530.825 1.012.317
894.479
784.156
31.550
30.984
8.212
39.577
A
1.434.900
Bộ, ngành Trung ương
980.766
18.661
35.290 664.125
B Địa phương
3.165.100 3.445.510 1.746.668
1
707.560
725.359
267.604
300.276
7.322
5.814 144.343
Trung du miền núi phía bắc
2
536.760
623.269
346.743
142.827
2.219
19.969 111.511
Đồng bằng sông Hồng
3
756.550
905.602
478.843
250.259
5.751
6.275 164.475
Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung
4 Tây nguyên
241.260
268.500
103.397
117.551
1.190
1.052
45.310
5 Đông Nam bộ
228.300
179.375
152.059
2.950
808
119
23.439
6
694.670
743.405
398.022
166.904
1.371
2.062 175.046
Đồng bằng sông Cửu Long
Nguồn: Tổng cục dạy nghề
Nhìn chung, kết quả của thực hiện của hai Dự án mang lại là rất lớn và có
hiệu quả rõ rệt tác động đến sự phát triển của cả hệ thống đào tạo nghề trong giai
đoạn 2007-2010, bước đầu tăng cường điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo nghề
phục vụ cho việc đào tạo nghề chất lượng cao, cụ thể:
- Mạng lưới cơ sở đào tạo nghề được củng cố và phát triển mạnh mẽ với số
trường tăng 1,8 lần (từ 236 trường đào tạo nghề lên 427 trường Cao đẳng nghề,
Trung cấp nghề), quy mô tuyển sinh học nghề dài hạn tăng gấp 1,5 lần, số Trung
tâm đào tạo nghề tăng gấp 2,37 lần, quy mô tuyển sinh đào tạo nghề ngắn hạn tăng
1,4 lần.
79
- Cơ sở vật chất được cải thiện, trang thiết bị đào tạo nghề từng bước được
đầu tư một cách đồng bộ, phù hợp với thực tế sản xuất. Đội ngũ giáo viên đào tạo
nghề tăng nhanh, số lượng giáo viên đào tạo nghề đạt chuẩn và có khả năng dạy tích
hợp (cả lý thuyết và thực hành) ngày càng tăng.
- Tổ chức xây dựng tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đào tạo nghề, đào tạo
đội ngũ kiểm định viên và tổ chức thí điểm kiểm định chất lượng đào tạo nghề cho
một số cơ sở đào tạo nghề.
- Chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề có bước chuyển biến tích cực với
khoảng 70% học sinh tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm ngay sau khi tốt nghiệp.
Tuy nhiên, bên cạnh đó còn rất nhiều tồn tại trong quá trình thực hiện dự án,
đó là một số địa phương có biểu hiện cục bộ, tùy tiện trong phân bổ và sử dụng kinh
phí được Trung ương hỗ trợ nên vẫn xảy ra tình trạng phân bổ không theo hướng
dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; phân bổ dàn trải, không đúng đối
tượng thụ hưởng và nội dung sử dụng kinh phí Dự án; bên cạnh đó do mục tiêu và
quan điểm đầu tư của Dự án trong giai đoạn này là đầu tư trọng điểm cho các
trường, các trường lại có nhu cầu đầu tư cho nhiều nghề, trong khi kinh phí được
phân bổ còn hạn hẹp dẫn tới tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu vốn để phát triển đồng
bộ các yếu tố đảm bảo chất lượng cho từng nghề. Với tất cả các nội dung đầu tư, từ
tăng cường cơ sở vật chất đến phát triển chương trình, đào tạo bồi dưỡng giáo
viên… đều do các trường đề xuất, thiếu nội dung gì thì đầu tư cho nội dung đó và
kinh phí thì có hạn dẫn đến tình trạng đầu tư dàn trải ở các nghề khác nhau cho các
nội dung khác nhau nên mỗi nghề đều dang dở, chưa đảm bảo đồng bộ các điều
kiện đảm bảo chất lượng đào tạo.
2.2.2.2. Đầu tư tập trung theo nghề trọng điểm
Khắc phục những hạn chế từ đầu tư theo trường trọng điểm như phân tích ở
trên, giải pháp tài chính đầu tư theo nghề trọng điểm đã được Bộ Lao động Thương
binh và Xã hội thực hiện từ nguồn kinh phí của dự án “Đổi mới và phát triển đào
tạo nghề” giai đoạn 2011-2015. Đây là giải pháp quan trọng để đào tạo nghề chất
lượng cao, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, một trong những điểm
nghẽn tăng trưởng, phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đưa
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020.
80
Theo Quyết định 2331/QĐ-TTg ngày 20/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ
về ban hành danh mục các chương trình mục tiêu quốc gia năm 2011, dự án “Đổi
mới và phát triển đào tạo nghề” là 1 trong 6 dự án của Chương trình mục tiêu quốc
gia Việc làm và Đào tạo nghề với mục tiêu hỗ trợ phát triển hệ thống đào tạo nghề
có năng lực đào tạo lao động kỹ năng nghề cao, từng bước tạo đột phá về chất lượng
đào tạo nghề; hỗ trợ phát triển đồng bộ khoảng 130 nghề trọng điểm ở cấp độ quốc
gia, khu vực và quốc tế, hình thành 40 trường chất lượng cao; góp phần nâng tỉ lệ
lao động qua đào tạo nghề từ 26,5% năm 2008 đạt 40% vào năm 2015.
Tổng kinh phí thực hiện giai đoạn 2011-2015 là 20.236 tỷ đồng. Cơ cấu
nguồn vốn, gồm: vốn ngân sách trung ương là 10.336 tỷ đồng; vốn ODA là 4.552 tỷ
đồng; ngân sách địa phương 3.445 tỷ đồng và các nguồn khác là 1.903 tỷ đồng để
triển khai thực hiện nhiệm vụ thông qua các hoạt động:
a. Xây dựng hệ thống quản lý thông tin và cơ sở dữ liệu về đào tạo nghề
Với mục tiêu thiết lập hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu về đào tạo nghề để
phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về đào tạo nghề; kinh phí dự kiến 80 tỷ đồng.
b. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo nghề
Tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo nghề cho 271 trường cao đẳng
nghề, trường trung cấp nghề và một số cơ sở dạy nghề đặc thù khác. Trong đó ưu
tiên đầu tư các trường đạt đẳng cấp của các nước phát triển trong khu vực ASEAN
và quốc tế, trường chuẩn quốc gia, các trường ở các vùng kinh tế động lực, trường
của các tỉnh thuộc Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây Bắc, căn cứ địa cách mạng, hoặc
tỉnh khó khăn; Kinh phí dự kiến 15.026 tỷ đồng
c. Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo nghề
Phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý đào tạo nghề đạt chuẩn, đảm
bảo về chất lượng, đủ về số lượng và đồng bộ về cơ cấu, đáp ứng nhu cầu đào tạo
nghề phục vụ quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước; Kinh phí dự kiến
3.308 tỷ đồng.
d. Phát triển chương trình khung, chương trình và giáo trình đào tạo nghề
Phát triển chương trình khung, chương trình, giáo trình, phần mềm mô phỏng
và các loại học liệu khác cho các nghề phổ biến để đào tạo nghề theo các cấp trình
độ đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, đảm bảo liên thông trong đào tạo, đạt
81
cấp độ của các nước tiên tiến trong khu vực ASEAN và quốc tế; đánh giá, phân loại
đầu vào với học sinh, sinh viên theo chương trình chuẩn tiếng Anh TOEIC; chuẩn
hoá công nghệ thông tin trong các trường trung cấp nghề, cao đẳng nghề với kinh
phí dự kiến 1.110 tỷ đồng.
e. Phát triển hoạt động kiểm định chất lượng đào tạo nghề
Với mục tiêu xây dựng hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng
chương trình dạy nghề và chương trình, tài liệu đào tạo kiểm định viên, cán bộ tự
kiểm định chất lượng chương trình dạy nghề; thực hiện tự kiểm định chất lượng cơ
sở dạy nghề và chương trình dạy nghề của các cơ sở dạy nghề; Kinh phí dự kiến
285 tỷ đồng.
f. Phát triển hệ thống đánh giá kỹ năng nghề quốc gia
Phát triển hệ thống đánh giá kỹ năng nghề quốc gia; xây dựng và ban hành
tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; xây dựng ngân hàng đề thi kỹ năng nghề quốc
gia; kinh phí thực hiện hoạt động: 427 tỷ đồng.
Theo các báo cáo giải trình và các Quyết định phê duyệt nghề trọng điểm
[40] thì việc thực hiện nghề trọng điểm được Bộ Lao động Thương binh Xã hội
thực hiện như sau:
* Tiêu chí lựa chọn nghề trọng điểm theo các cấp độ
Việc lựa chọn nghề trọng điểm theo các cấp độ được thực hiện theo nguyên
tắc phù hợp với phương hướng phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, chủ yếu;
phương hướng phát triển kinh tế xã hội vùng; phương hướng phát triển nguồn nhân
lực kỹ thuật cao theo ngành - lĩnh vực và vùng kinh tế. Cụ thể:
Đối với nghề trọng điểm cấp quốc gia
- Phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và thị trường lao động trong
và ngoài nước;
- Phù hợp với chiến lược phát triển ngành, vùng, chú trọng đến ngành kinh tế
mũi nhọn, vùng kinh tế trọng điểm để phục vụ phát triển công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước;
- Nghề có sản phẩm xuất khẩu mà Việt Nam có lợi thế;
Đối với nghề trọng điểm cấp khu vực ASEAN:
- Thuộc danh mục nghề trọng điểm quốc gia;
82
- Là nghề phổ biến của các nước trong khu vực ASEAN, mang tính cạnh
tranh cao, có khả năng hội nhập vào thị trường lao động trong khu vực ASEAN;
- Là nghề tạo ra sản phẩm xuất khẩu sang các nước trong khu vực ASEAN;
- Nghề đòi hỏi phải đạt trình độ khu vực, nghề phục vụ nhu cầu lao động của
các doanh nghiệp FDI trong khu vực;
Đối với nghề trọng điểm cấp quốc tế:
- Thuộc danh mục nghề trọng điểm khu vực ASEAN;
- Là nghề phổ biến của các nước phát triển trên thế giới, mang tính cạnh
tranh cao, có khả năng hội nhập vào thị trường lao động trên thế giới;
- Là nghề đòi hỏi phải đạt trình độ quốc tế;
- Nghề tạo ra sản phẩm xuất khẩu sang các nước trên thế giới;
- Nghề phục vụ nhu cầu lao động của các doanh nghiệp FDI của các nước
trên thế giới;
* Tiêu chí lựa chọn trường có nghề trọng điểm để đầu tư
- Tiêu chí lựa chọn trường có nghề trọng điểm để đầu tư đạt cấp khu vực ASEAN
+ Là trường cao đẳng nghề công lập thuộc các Bộ, cơ quan Trung ương,
địa phương;
+ Có nghề đang đào tạo ở trình độ cao đẳng nghề thuộc danh mục nghề trọng
điểm khu vực;
+ Thuộc vùng kinh tế trọng điểm hoặc trung tâm của các vùng kinh tế khác;
+ Đã kiểm định chất lượng đào tạo nghề đạt cấp độ 3. Các điều kiện đảm bảo
chất lượng đào tạo nghề của nghề được lựa chọn là tốt nhất so với các trường cao
đẳng cùng nghề đó trong vùng;
+ Ưu tiên lựa chọn các trường dự án ODA đã, đang và dự kiến đầu tư trong
giai đoạn tới.
+ Được các Bộ, cơ quan Trung ương, địa phương đề xuất.
- Tiêu chí lựa chọn trường có nghề trọng điểm để đầu tư đạt cấp quốc tế
+ Thuộc danh mục các trường được lựa chọn để đầu tư đạt đẳng cấp khu vực;
+ Có nghề đang đào tạo thuộc danh mục nghề trọng điểm quốc tế;
+ Các điều kiện bảo đảm chất lượng nghề của nghề được lựa chọn là tốt nhất
so với các trường chất lượng cao cùng đào tạo nghề đó;
83
+ Ưu tiên lựa chọn các trường dự án ODA đã, đang và dự kiến đầu tư trong
giai đoạn tới.
+ Được các Bộ, cơ quan Trung ương, địa phương đề xuất.
- Tiêu chí lựa chọn trường có nghề trọng điểm quốc gia
+ Là các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề công lập thuộc các Bộ, cơ
quan Trung ương, địa phương không thuộc danh mục các trường đạt đẳng cấp quốc
tế và khu vực
+ Nghề được lựa chọn đầu tư thuộc danh mục nghề trọng điểm cấp quốc gia,
đang đào tạo ở trình độ trung cấp nghề hoặc cao đẳng nghề;
+ Phù hợp với phương hướng phát triển nhân lực của ngành, vùng, địa phương;
+ Được các Bộ, ngành Trung ương, địa phương đề xuất.
* Kết quả lựa chọn đầu tư nghề trọng điểm và trường có nghề trọng điểm
Trên cơ sở các căn cứ và các tiêu chí lựa chọn nghề, trường trọng điểm đã nêu
ở trên Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã lựa chọn trường và nghề trọng điểm
như sau:
- Theo cấp độ: Tổng số các nghề lựa chọn là 139 nghề, trong đó:
+ 26 nghề trọng điểm quốc tế (chiếm 19% số nghề được lựa chọn).
+ 33 nghề trọng điểm khu vực ASEAN (chiếm 24% số nghề được lựa chọn);
+ 129 nghề trọng điểm cấp quốc gia (chiếm 93% số nghề được lựa chọn và
chiếm khoảng 30% tổng số nghề trong danh mục nghề đào tạo hiện nay)
- Theo ngành, lĩnh vực:
+ Lĩnh vực Nông nghiệp và chế biến, dịch vụ trong lĩnh vực Nông nghiệp: 29
nghề (chiếm 21%)
+ Lĩnh vực công nghiệp, xây dựng: 64 nghề (chiếm 46%)
+ Lĩnh vực thương mại, dịch vụ: 46 nghề (chiếm 33%)
- Theo Vùng, miền: về cơ bản, tất cả 63 tỉnh thành phố đều có ít nhất 01
trường được lựa chọn để đầu tư đào tạo nghề trọng điểm, cụ thể:
+ Vùng Trung du miền núi phía Bắc: 14 tỉnh, 41 trường (34 công lập; 7 ngoài
công lập); 04 nghề cấp độ quốc tế, 11 nghề cấp độ ASEAN và 41 nghề trọng điểm
quốc gia.
84
+ Vùng Đồng bằng sông Hồng: 11 tỉnh, 107 trường (76 công lập; 31 ngoài
công lập); 23 nghề cấp độ quốc tế, 24 nghề cấp độ ASEAN và 87 nghề trọng điểm
quốc gia.
+ Vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải Miền Trung: 14 tỉnh, 80 trường (71 công
lập, 9 ngoài công lập); 19 nghề cấp độ quốc tế, 20 nghề cấp độ ASEAN và 54 nghề
trọng điểm quốc gia.
+ Vùng Tây Nguyên: 5 tỉnh, 12 trường (12 công lập, 0 ngoài công lập); 03
nghề cấp độ quốc tế, 09 nghề cấp độ ASEAN và 23 nghề trọng điểm quốc gia.
+ Vùng Đông Nam Bộ: 6 tỉnh, 50 trường (38 công lập; 12 ngoài công lập); 18
nghề cấp độ quốc tế, 22 nghề cấp độ ASEAN và 43 nghề trọng điểm quốc gia.
+ Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: 13 tỉnh, 41 trường (40 công lập, 01
ngoài công lập); 9 nghề cấp độ quốc tế, 9 nghề cấp độ ASEAN và 34 nghề trọng
điểm quốc gia.
g. Thực trạng kết quả đầu tư nghề trọng điểm
Tổng kinh phí phân bổ cho Dự án từ NSTW giai đoạn 2011-2015 để tập
trung đầu tư cho các nghề trọng điểm là 6.563 tỷ đồng, bằng 63,5% kế hoạch cả giai
đoạn 2011-2015, trong đó:
Vốn sự nghiệp là 6.316 tỷ đồng, chiếm 96%, đạt 68,5% kế hoạch được duyệt.
Vốn đầu tư là 247 tỷ đồng, chiếm 4%, đạt 22% kế hoạch được duyệt.
Ngân sách từ các dự án vốn ODA giai đoạn 2011-2014 là 924 tỷ đồng, đạt
20% so với kế hoạch; ngân sách địa phương và nguồn vốn khác (khoảng 20% từ
học phí và thu hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ) là 1.270 tỷ đồng đạt 24% so
với kế hoạch để thực hiện hỗ trợ phát triển đồng bộ khoảng 140 nghề trọng điểm ở
cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế. Ngoài ra chưa kể đến phần vốn đầu tư xây
dựng cơ bản do Bộ Kế hoạch đầu tư cấp cho các Bộ ngành địa phương để đầu tư cơ
sở vật chất cho các cơ sở đào tạo nghề.
Việc đầu tư nghề trọng điểm đã thực được những kết quả theo từng hoạt
động như sau:
* Đối với xây dựng hệ thống quản lý thông tin và cơ sở dữ liệu về đào tạo nghề
- Đào tạo, chuyển giao công nghệ phần mềm, cơ sở dữ liệu theo chuẩn quốc
gia cho các cơ sở đào tạo nghề, các Bộ, ngành, địa phương trên phạm vi cả nước,
xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về Đào tạo nghề; khai thác thông tin, báo cáo từ cơ
85
sở dữ liệu quốc gia phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, hoạch định chính
sách về đào tạo nghề.
- Xây dựng phần mềm đào tạo nghề chung theo chuẩn quốc gia để cung cấp
cho các cơ sở đào tạo nghề trong cả nước. Ứng dụng công nghệ thông tin trong
quản lý, hoạt động dạy và học nghề. Ưu tiên triển khai tại 26 trường được lựa chọn
thành trường chất lượng cao đến năm 2015 và 14 trường được lựa chọn thành
trường chất lượng cao đến năm 2020.
* Đối với tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo nghề
- Theo đối tượng là trường được hỗ trợ đầu tư: Hỗ trợ đầu tư cho 45 trường
được lựa chọn đầu tư thành trường nghề chất lượng cao vào năm 2020; Hỗ trợ đầu
tư cho 226 trường có nghề trọng điểm; Hỗ trợ đầu tư cho 05 trường ĐH SPKT và
11 khoa sư phạm nghề tại một số trường cao đẳng nghề.
- Theo đối tượng là nghề trọng điểm: Hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị
cho 139 nghề trọng điểm cấp quốc tế của 55 trường nghề công lập; Hỗ trợ đầu tư cơ
sở vật chất, thiết bị cho 155 lượt nghề trọng điểm cấp khu vực của 79 trường nghề
công lập; Hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị cho 540 lượt nghề trọng điểm cấp
quốc gia của 271 trường nghề công lập và một số cơ sở dạy nghề đặc thù; Đầu tư
thành lập thêm 14 khoa sư phạm đào tạo nghề.
* Đối với việc xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo nghề
- Xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên
+ Đào tạo được 5.821 giáo viên trong nước, đạt 20% kế hoạch phê duyệt,
kinh phí thực hiện là 120,6 tỷ đồng, trung bình mỗi giáo viên là 14,3tr đồng/ khóa
đào tạo, cụ thể:
Đào tạo kỹ năng nghề là 3.945 người (trung ương thực hiện 1.341 người; địa
phương thực hiện 2.604 người) đạt 29% kế hoạch.
Đào tạo nghiệp vụ sư phạm được 1.296 người đạt 9% kế hoạch.
+ Đào tạo tại nước ngoài cho 876 người đạt 80% kế hoạch, trong đó: Trung
ương thực hiện là 667 giáo viên đạt (217 người tại Malaysia; 200 tại Úc và 250 tại
Pháp, Đức…); Địa phương thực hiện: 209 người (trong đó 142 người tại Malaysia;
56 người tại Hàn Quốc và 11 người tại Đức).
86
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý đào tạo nghề
Ước đào tạo được 3.380 cán bộ quản lý, kinh phí thực hiện là 26.176 triệu
đồng, trong đó: Đào tạo ở nước ngoài được 120 người đạt 38%; Đào tạo trong nước
cho cán bộ quản lý đạt chuẩn các cấp độ là 3.010 người đạt 54% kế hoạch; Đào tạo
cán bộ quản lý thiết bị đào tạo nghề là 250 người đạt 29% kế hoạch.
* Đối với phát triển chương trình khung, chương trình và giáo trình đào tạo nghề
- Phát triển chương trình: Tổ chức tiếp nhận 20 bộ chương trình cấp độ
ASEAN và quốc tế theo QĐ số 371/QĐ-TTg đạt 60% kế hoạch; Xây dựng và ban
hành chương trình đào tạo nghề, giáo trình và bộ đề thi tốt nghiệp (trình độ TCN và
CĐN) cho 154 nghề trọng điểm cấp độ quốc gia vượt 18% so với kế hoạch; Xây
dựng và ban hành chương trình khung trình độ cao đẳng nghề, trình độ trung cấp
nghề cho 55 nghề đạt 55% so với kế hoạch; Sửa đổi, bổ sung chương trình khung
cho 13 nghề đạt 26% so với kế hoạch; Riêng nội dung xây dựng chương trình tiếng
Anh chuyên ngành theo nhóm nghề trọng điểm cấp độ khu vực và quốc tế không
thực hiện được do phải chờ chuyển giao 34 bộ chương trình từ nước ngoài cấp độ
khu vực ASEAN, quốc tế theo Quyết định số 371/QĐ-TTg để trên cơ sở đó mới đề
xuất xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình dạy tiếng Anh chuyên ngành cho
các nhóm nghề. Bên cạnh đó, chưa có cơ chế tài chính để giao cho các đơn vị chủ
trì xây dựng, hơn nữa kinh phí xây dựng bộ chương trình, giáo trình là lớn nên
không thể giao nhiệm vụ cho các trường mà phải thông qua phương thức đấu thầu
để lựa chọn đơn vị chủ trì xây dựng.
Một số hoạt động triển khai chậm so với tiến độ dự kiến do chưa được bố trí
đủ kinh phí tương xứng với nhiệm vụ, chỉ tiêu về số lượng theo kế hoạch của Dự án
để triển khai như: Xây dựng và ban hành chương trình, giáo trình và bộ đề thi tốt
nghiệp các nghề trọng điểm cấp độ quốc gia; Xây dựng và ban hành chương trình
khung trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề; Chỉnh sửa, bổ sung chương trình
khung đào tạo nghề; danh mục thiết bị đào tạo nghề. Bên cạnh đó, kinh phí tập
trung, ưu tiên việc chuyển giao 34 bộ chương trình từ nước ngoài cấp độ khu vực
ASEAN, quốc tế theo Quyết định số 371/QĐ-TTg để tổ chức đào tạo thí điểm, sau
đó sẽ tổ chức đào tạo nhân rộng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề nói chung
và các nghề đã chuyển giao đạt trình độ các nước phát triển trong khu vực ASEAN
và trên thế giới; hình thành đội ngũ lao động lành nghề có tay nghề cao, góp phần
87
nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hợp tác quốc tế về đào tạo nghề. Đồng
thời thúc đẩy nhanh việc hợp tác với các nước ASEAN để tiến tới công nhận kỹ
năng nghề giữa các nước, hướng tới Cộng đồng ASEAN vào năm 2015.
- Đào tạo thí điểm các nghề trọng điểm cấp độ ASEAN và quốc tế: Việc tổ
chức đào tạo thí điểm chậm triển khai do thủ tục; năm 2016 bắt đầu thực hiện đào
tạo học sinh của 8 nghề chuyển giao từ Malaysia và 12 nghề chuyển giao từ Úc.
* Đối với xây dựng, ban hành danh mục thiết bị đào tạo nghề, định mức kinh
tế kỹ thuật; Tiêu chuẩn CSVC
Đến hết năm 2015, xây dựng ban hành 220 bộ danh mục thiết bị đào tạo
nghề, đạt 100%; Xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật cho 20 nghề đạt 67%; kinh
phí thực hiện là 114 tỷ đồng; Riêng hoạt động xây dựng tiêu chuẩn cơ sở vật chất
không thực hiện được do trước khi thực hiện phải có quy chuẩn xây dựng trường
nghề do Bộ Xây dựng ban hành nhưng đến nay Bộ xây dựng chưa ban hành nên
phải chờ.
* Đối với phát triển hoạt động kiểm định chất lượng đào tạo nghề
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho 1.177 kiểm định viên chất lượng đào tạo
nghề, vượt 18% kế hoạch.
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho 2.615 cán bộ tự kiểm định chất lượng, vượt
31% kế hoạch.
- Tổ chức kiểm định chất lượng cho 177 cơ sở đào tạo nghề, đạt 89% kế hoạch.
- Tổ chức thí điểm kiểm định chất lượng chương trình đào tạo để xây dựng
hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn và quy trình kiểm định chương trình đào tạo cho 79
nghề, đạt 76% kế hoạch
- Thí điểm xây dựng mô hình hệ thống quản lý chất lượng đào tạo nghề cho
32 cơ sở đào tạo nghề, đạt 80% kế hoạch
- Riêng nội dung kiểm định chương trình đối với nghề trọng điểm quốc gia
trước khi đào tạo chưa thực hiện do bản chất của hoạt động này là thực hiện một
quy trình quản lý chất lượng (kiểm định lần đầu) trước khi các trường tổ chức tuyển
sinh các nghề trọng điểm, đào tạo các chương trình trọng điểm quốc gia chưa được
triển khai.
88
Tổng cục Dạy nghề nghề cũng đã lựa chọn một trong các trường đã đạt kết
quả kiểm định chất lượng đào tạo nghề ở cấp độ 3 để tiến hành thử nghiệm hệ
thống kiểm định chất lượng chương trình đào tạo năm 2012 và năm 2013. Tính
đến nay, Tổng cục Dạy nghề nghề đã sử dụng kết quả kiểm định chất lượng là một
trong những tiêu chí lựa chọn các trường để tập trung đầu tư xây dựng trường chất
lượng cao.
* Đối với phát triển hệ thống đánh giá kỹ năng nghề quốc gia
Đây là hoạt động bố trí kinh phí thực hiện thấp nhất trong 6 hoạt động, chỉ
đạt 29% kế hoạch kinh phí được phê duyệt, đồng thời chỉ tiêu nhiệm vụ đạt cũng
thấp, cụ thể:
- Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia cho 59 nghề đạt
57% do việc xây dựng và ban hành theo quy định do các Bộ chủ trì thực hiện nên
phụ thuộc vào tiến độ của các Bộ chủ trì thực hiện. Riêng năm 2014, 2015 thực hiện
theo Luật Việc làm nên chờ nghị định ban hành để thực hiện.
- Cập nhật, bổ sung 14 bộ TCKNNQG cho phù hợp với thực tiễn của công
nghệ, sản xuất kinh doanh, đạt 9% do chưa thực hiện cập nhật, sửa đổi, bổ sung các
bộ TCKNNQG đã ban hành cho phù hợp với những đổi thay của hoạt động sản
xuất, kinh doanh với yêu cầu hội nhập khu vực và thế giới do chưa có những quy
định của pháp luật về vấn đề này và việc ban hành TCKNNQG chậm nên không
thực hiện sửa đổi, cập nhật.
- Xây dựng mới được 83 bộ ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm và đề thi thực
hành, đạt 75% do việc biên soạn ngân hàng đề thi phụ thuộc vào nghề đó đã có
TCKNNQG hay chưa và việc triển khai đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc
gia. Trong khi đó, TCKNNQG được xây dựng sớm nhưng chậm ban hành làm ảnh
hưởng tới kế hoạch xây dựng ngân hàng đề thi. Quy trình biên soạn phức tạp, đòi
hỏi thời gian dài. Hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ KNNQG vẫn ở giai đoạn đầu,
chưa thể mở rộng nên chưa đẩy mạnh xây dựng ngân hàng đề thi.
- Cập nhật, bổ sung 5 ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm và đề thi thực hành đạt
13% kế hoạch do số lượng ngân hàng đề thi mới được xây dựng và ban hành chậm.
- Đào tạo, bồi dưỡng 1.924 đánh giá viên kỹ năng nghề, đạt 64% kế hoạch.
Mặc dù nhu cầu cần số lượng đánh giá viên lớn, song do việc đánh giá mới triển
89
khai ở giai đoạn đầu với quy mô nhỏ, nên chỉ tiến hành đào tạo khi đánh giá mà
chưa triển khai đào tạo với quy mô lớn nhằm tránh lãng phí.
- Đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho 8.315 giáo viên đào tạo
nghề và người lao động (đạt 17% so với chỉ tiêu được giao tại QĐ 1501). Do chưa
có quy định bắt buộc doanh nghiệp, người sử dụng lao động, người lao động phải
tham gia vào hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, nên việc
tham gia vào hoạt động này còn hạn chế. Ngoài ra hệ thống quản lý về việc đánh
giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia chưa hoàn thiện cũng như việc cung cấp
thông tin, tuyên truyền, quảng bá chưa được rộng rãi. Nhận thức của doanh nghiệp
và người lao động chưa đúng mức về về ý nghĩa và tầm quan trọng của hoạt động
đánh giá kỹ năng nghề trong việc cung cấp nguồn nhân lực kỹ thuật phục vụ phát
triển bền vững kinh tế- xã hội.
2.2.2.3. Thí điểm đặt hàng đào tạo nghề
Ngoài cơ chế cấp chi thường xuyên cho đào tạo nghề, từ năm 2006 Bộ
LĐTBXH đã triển khai thí điểm đào tạo nghề theo cơ chế đặt hàng. Ngày
14/3/2008, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 39/2008/QĐ-TTg ban hành
quy chế đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng
NSNN, theo đó đào tạo nghề là đối tượng đầu tiên được đề cập tới. Quyết định số
1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào
tạo nghề cho lao động nông thôn” có quy định: Đặt hàng dạy nghề cho lao động
nông thôn thuộc diện hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn bị thu
hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế; Thông tư số 112/2010/TTLT/BTC-
BLĐTBXH ngày 30/6/2010 của liên Bộ Tài chính hướng dẫn việc đặt hàng đào tạo
nghề thực hiện thông qua hợp đồng đặt hàng với các cơ sở tham gia đào tạo nghề
cho lao động nông thôn, theo đó: Đối với hợp đồng đặt hàng do Bộ, ngành Trung
ương thực hiện thì căn cứ vào kế hoạch, Đề án đã được phê duyệt; các Bộ, ngành
liên quan xác định đối tượng là lao động nông thôn thuộc ngành, lĩnh vực quản lý
để xác định chỉ tiêu đặt hàng đào tạo nghề hàng năm; đơn giá đặt hàng đào tạo nghề
do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ (cơ quan được phân bổ dự toán ngân
sách để thực hiện nhiệm vụ đặt hàng đào tạo nghề) quy định sau khi có ý kiến bằng
văn bản của Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và phải được xác
định trên cơ sở các định mức kinh tế kỹ thuật; định mức chi phí hiện hành do cơ
90
quan có thẩm quyền ban hành; thời gian triển khai, hoàn thành; khối lượng, chất
lượng đào tạo nghề. Đối với hợp đồng đặt hàng do địa phương thực hiện thì căn cứ
vào Đề án được UBND cấp tỉnh phê duyệt, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
xác định đối tượng là lao động nông thôn có nhu cầu đào tạo nghề để xác định chỉ
tiêu đặt hàng đào tạo nghề hàng năm trình UBND cấp tỉnh phê duyệt kế hoạch đặt
hàng đào tạo nghề; mức chi phí đặt hàng đào tạo cho từng nghề do Chủ tịch UBND
cấp tỉnh quy định phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.
Theo số liệu báo cáo của Vụ Kế hoạch - Tài chính, Tổng cục Dạy nghề nghề,
giai đoạn 2006-2014, Tổng cục Dạy nghề nghề đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa
phương thực hiện đặt hàng đào tạo nghề cho khoảng 23.770 chỉ tiêu, cụ thể như sau:
(1) Từ Dự án Tăng cường năng lực đào tạo nghề
a. Giai đoạn 2006-2008
Thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước về “Nghiên cứu xây
dựng và từng bước thực hiện chính sách đấu thầu cung cấp dịch vụ do nhà nước đặt
hàng; khuyến khích các cơ sở thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia” nhằm cải
cách cơ chế giao chỉ tiêu kế hoạch đào tạo và phân bổ, cấp phát kinh phí ngân sách.
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư xây dựng và phê duyệt Đề án thí điểm đào tạo nghề theo cơ chế đặt hàng.
Nghề đào tạo được lựa chọn thí điểm dựa trên cơ sở đề xuất của các Bộ,
ngành và phải bảo đảm các yêu cầu sau:
+ Là nghề để đáp ứng nhu cầu cho các ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước;
+ Là nghề nặng nhọc, độc hại, khó tuyển sinh mà nhu cầu sản xuất đang cần
tuyển dụng;
+ Là nghề mà thị trường lao động thiếu nhưng do chi phí đào tạo cao nên các
trường đào tạo nghề không muốn đào tạo.
Trên cơ sở đó, Đề án đã lựa chọn 5 nghề để thí điểm đặt hàng ở trình độ
CNKT bậc 3/7 (thời gian đào tạo là 18 tháng) với số lượng cụ thể như sau:
+ Nghề Khai thác mỏ: khoảng 500 học sinh
+ Nghề Hàn: khoảng 1.100 học sinh
+ Nghề Cán, kéo kim loại: khoảng 200 học sinh
+ Nghề Vận hành máy xúc đào: khoảng 600 học sinh
+ Nghề Mộc dân dụng: khoảng 300 học sinh
91
Phương thức thực hiện: là đấu thầu rộng rãi để lựa chọn cơ sở đào tạo.
Đối tượng tham gia đấu thầu: Là các trường đào tạo nghề (công lập, ngoài
công lập) đảm bảo đủ các điều kiện cần thiết như: có chức năng đào tạo nghề và đã
đào tạo những nghề được lựa chọn trên đây; đã có thời gian hoạt động đào tạo từ 5
năm trở lên; đảm bảo về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, chương trình, giáo trình
theo tiêu chuẩn quy định hiện hành; được cơ quan chủ quản (nếu có) chấp thuận cho
ký hợp đồng đào tạo, đảm bảo các điều kiện khác…
Kết quả đấu thầu: 13 cơ sở đã trúng thầu (trong đó: 6 trường thuộc Bộ, 7
trường thuộc doanh nghiệp), ký 17 hợp đồng đặt hàng với tổng giá trị là 20,7 tỷ
đồng để đào tạo nghề cho 2.853 học sinh trình độ CNKT bậc 3/7, thời gian đào
tạo 18 tháng.
Kết quả đào tạo: tổng số học sinh tốt nghiệp ở các nghề là 2.570 học sinh,
giảm 283 học sinh so với hợp đồng đặt hàng. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp có việc làm
tối thiểu đạt 90%.
b. Giai đoạn 2008-2009
Trên cơ sở kết quả thực hiện của Đề án thí điểm đặt hàng đào tạo nghề giai
đoạn 2006-2008, Bộ LĐTBXH đã phối hợp với Bộ Tài chính thống nhất phương án
đặt hàng đào tạo nghề từ nguồn kinh phí Dự án với mức đơn giá tối đa NSNN chi
cho một nghề là 6,8 triệu đồng/học sinh/năm (chưa bao gồm tiền học phí và chi phí
hỗ trợ của doanh nghiệp tiếp nhận học sinh tốt nghiệp)
Trên cơ sở các hồ sơ đề xuất tham gia đào tạo nghề theo cơ chế đặt hàng của
các cơ sở đào tạo nghề đã thẩm định và lựa chọn các cơ sở đáp ứng yêu cầu trình Bộ
phê duyệt để tổ chức ký hợp đồng đặt hàng đào tạo nghề.
58 hợp đồng đặt hàng đào tạo nghề đã được ký với 23 nghề ở 18 cơ sở đào
tạo nghề thuộc 08 Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước.
Tổng số chỉ tiêu đã đặt hàng là: 8.710 chỉ tiêu, trong đó: cao đẳng nghề là
1.435 chỉ tiêu, trung cấp nghề là: 7.035 chỉ tiêu và sơ cấp nghề là: 240 chỉ tiêu.
Đối tượng tuyển sinh: là công dân Việt Nam đã tốt nghiệp Trung học phổ
thông hoặc tương đương và trong độ tuổi lao động theo thứ tự ưu tiên sau:
+ Lao động thuộc các hộ bị thu hồi đất canh tác do đô thị hoá hoặc do xây dựng
các công trình công cộng, khu công nghiệp, khu chế xuất và các dự án khác về an ninh
quốc phòng vì lợi ích quốc gia có nhu cầu học nghề để chuyển đổi nghề nghiệp;
92
+ Lao động thuộc đối tượng hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách
mạng theo quy định của pháp luật;
+ Lao động thuộc các dân tộc thiểu số; các xã đặc biệt khó khăn theo quyết
định của Thủ tướng Chính phủ;
+ Lao động nữ chưa có việc làm;
+ Lao động thuộc các làng nghề nằm trong dự án khôi phục, phát triển làng
nghề truyền thống mà dự án không có khoản kinh phí riêng cho đào tạo nghề;
+ Lao động thuộc vùng chuyên canh có nhu cầu chuyển đổi nghề; lao động
thuộc hộ nghèo.
+ Bộ đội xuất ngũ;
+ Lao động khác có nhu cầu học nghề.
(2) Từ nguồn kinh phí Dự án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn” giai
đoạn 2010-2015
Tại điểm b khoản 2 mục I Điều 1 Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày
27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Đào tạo nghề cho lao động
nông thôn đến năm 2020", tổ chức thí điểm đặt hàng đào tạo nghề cho khoảng
12.000 lao động thuộc diện hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn bị
thu hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế, tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề tối
thiểu đạt 80%. Bộ LĐTBXH đã phối hợp với Bộ Tài chính thống nhất phương án
đặt hàng đào tạo nghề từ nguồn kinh phí Dự án với mức đơn giá tối đa NSNN chi
cho một nghề là 6,8 triệu đồng/học sinh/năm (chưa bao gồm tiền học phí và chi phí
hỗ trợ của doanh nghiệp tiếp nhận học sinh tốt nghiệp). Trên cơ sở các hồ sơ đề
xuất tham gia đào tạo nghề theo cơ chế đặt hàng của các cơ sở đào tạo nghề đã thẩm
định và lựa chọn các cơ sở đáp ứng yêu cầu trình Bộ phê duyệt để tổ chức ký hợp
đồng đặt hàng đào tạo nghề với 39 hợp đồng của 38 nghề ở 26 cơ sở đào tạo nghề
thuộc các Bộ, ngành trung ương, địa phương, Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước và
doanh nghiệp. Tổng số chỉ tiêu đã đặt hàng là: 12.207 chỉ tiêu, trong đó: cao đẳng
nghề là 4.361 chỉ tiêu, trung cấp nghề là: 7.846 chỉ tiêu trên cơ sở cam kết tiếp nhận
học sinh sau đào tạo của các doanh nghiệp.
- Đối tượng đào tạo nghề gồm:Lao động nông thôn thuộc hộ nghèo; Lao
động nông thôn là người dân tộc thiểu số; Lao động nông thôn bị thu hồi đất canh
tác có khó khăn về kinh tế; Con thương liệt sỹ, thương binh, bệnh binh nặng.
93
- Qua kết quả kiểm tra, giám sát, đến 31/12/2014, đã có 3.573 học sinh tốt
nghiệp (891 cao đẳng nghề, 2.682 trung cấp nghề); trong đó, có 3.435 học sinh tốt
nghiệp đã được các doanh nghiệp tiếp nhận bố trí việc làm đúng nghề đào tạo (đạt
tỷ lệ 96,13%); số còn lại dự kiến năm 2015 hoàn thành việc đào tạo, bố trí việc làm
theo cam kết của các doanh nghiệp.
* Đánh giá tình hình thực hiện đặt hàng đào tạo nghề
- Đối tượng tham gia học nghề và các nghề thực hiện thí điểm đặt hàng dạy
nghề phù hợp với tinh thần tự chủ của Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015,
ngân sách nhà nước chỉ chi trả và đặt hàng những dịch vụ đào tạo cho một số ngành
nghề trọng điểm, nghề đáp ứng nhu cầu cho các ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước;
nghề nặng nhọc, độc hại, khó tuyển sinh mà nhu cầu sản xuất đang cần tuyển dụng;
nghề mà thị trường lao động thiếu nhưng do chi phí đào tạo cao nên các trường dạy
nghề không muốn đào tạo. Ưu tiên đối tượng là người có công với cách mạng, dân tộc
thiểu số, người khuyết tật, hộ nghèo; người bị thu hồi đất canh tác.
- Kinh phí thí điểm đặt hàng đào tạo nghề giai đoạn 2008-2013 gồm 3 nguồn
chủ yếu là: từ nguồn NSNN cấp cho cả khoá đào tạo được xác định dựa trên đơn giá
NSNN hỗ trợ đối với từng nghề cụ thể; Doanh nghiệp sử dụng lao động hỗ trợ thêm tối
thiểu bằng 25% phần kinh phí NSNN cấp, các trường nhận đặt hàng đào tạo nghề có
trách nhiệm báo cáo doanh nghiệp chủ quản hoặc doanh nghiệp thành viên (nơi trực
tiếp sử dụng lao động) để xác định cụ thể số kinh phí hỗ trợ; Học phí được thu theo quy
định hiện hành của Nhà nước được sử dụng để bổ sung nguồn kinh phí đào tạo cho các
lớp nhận đặt hàng theo quy định về chế độ quản lý học phí hiện hành nhằm đảm bảo
chất lượng và hiệu quả đào tạo. Nhìn chung kinh phí cho các lớp đào tạo đặt hàng là
cao so với mặt bằng kinh phí đào tạo nghề nói chung nhưng vẫn chưa được tính đúng,
tính đủ chi phí đào tạo trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật và giá dịch vụ công.
- Trên 90% học sinh tốt nghiệp ra trường đều có việc làm phù hợp với nghề
đào tạo và có thu nhập ổn định, đặc biệt là các nghề Hàn, Điện công nghiệp thì nhu
cầu của các doanh nghiệp là rất cao và các nghề này thì 100% học sinh tốt nghiệp
có việc làm.
- Qua tổng hợp báo cáo của trường về ý kiến phản hồi của doanh nghiệp tiếp
nhận học sinh tốt nghiệp thì hầu hết các doanh nghiệp đều đánh giá cao chất lượng học
sinh các lớp đặt hàng và phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Do trước khi đào tạo
94
nhà trường đã làm việc với các doanh nghiệp để xác định nhu cầu tuyển dụng và yêu
cầu của doanh nghiệp, đồng thời trong quá trình đào tạo có sự tham gia của doanh
nghiệp ở một số khâu đào tạo như: xây dựng chương trình, thực hành, thực tập,...
- Hầu hết học sinh được tuyển dụng vào làm việc đều tiếp cận ngay được với
công việc, tỷ lệ nhỏ học sinh phải bồi dưỡng bổ sung kiến thức.
- Mức thu nhập bình quân của học sinh từ 5 - 10 triệu đồng/tháng tùy thuộc
vị trí công việc, được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
thất nghiệp và các chế độ khác theo quy định của Nhà nước. Ngoài ra, còn được doanh
nghiệp hỗ trợ nhà ở, ăn ca, sinh hoạt văn hóa, tinh thần...
Nói chung, đào tạo nghề theo cơ chế đặt hàng là một hướng đi mới, phù hợp với
chủ trương, chính sách của Nhà nước và yêu cầu đổi mới cơ chế giao chỉ tiêu kế hoạch,
ngân sách cho GD-ĐT nói chung và đào tạo nghề nói riêng. Tuy nhiên, đặt hàng đào
tạo nghề thời gian qua mới chỉ dừng ở mức độ thí điểm, chưa triển khai đại trà được do
thiếu những điều kiện có tính chất căn bản, lâu dài như chưa có khung giá dịch vụ
trong lĩnh vực đào tạo nghề; chưa có định mức kinh tế kỹ thuật; chưa có tiêu chuẩn
đánh giá hồ sơ dự thầu, tiêu chuẩn lựa chọn nhà cung cấp đối với dịch vụ sự nghiệp
công trong lĩnh vực đào tạo nghề; chưa có mẫu hồ sơ đấu thầu dịch vụ sự nghiệp công
trong từng lĩnh vực đào tạo nghề…
2.2.2.4. Chuyển giao các bộ chương trình; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và
cán bộ quản lý đào tạo nghề ở các nước tiên tiến và thực hiện đào tạo thí điểm các
nghề trọng điểm cấp độ khu vực ASEAN và quốc tế
Ngày 28/2/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 371/QĐ-TTg
phê duyệt Đề án Chuyển giao các bộ chương trình; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán
bộ quản lý đào tạo nghề; đào tạo thí điểm các nghề trọng điểm cấp độ khu vực
ASEAN, quốc tế giai đoạn 2012-2015 với các nội dung chủ yếu sau:
- Tiếp nhận và chuyển giao 34 bộ chương trình cấp độ quốc tế từ nước ngoài
- Đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài về kỹ năng nghề, nghiệp vụ sư phạm và
chuyển giao công nghệ đào tạo cho 1000 giáo viên đào tạo nghề; 100 giảng viên hạt
nhân của các trường đại học sư phạm kỹ thuật để thực hiện đào tạo nhân rộng cho giáo
viên dạy các nghề trọng điểm quốc tế, khu vực ASEAN; bồi dưỡng về nghiệp vụ quản
lý và tiếng Anh cho 320 cán bộ quản lý đào tạo nghề; nhận chuyển giao 11 bộ chương
95
trình, tài liệu bồi dưỡng cho giáo viên đào tạo nghề (trong đó 10 bộ chương trình bồi
dưỡng kỹ năng nghề của 10 nghề và 01 bộ chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư
phạm); thí điểm bồi dưỡng trong nước cho 300 giáo viên đào tạo nghề đạt chuẩn dạy
các chương trình đào tạo được chuyển giao của nước ngoài.
- Đào tạo thí điểm 2.275 sinh viên các nghề trọng điểm cấp độ quốc tế, khu vực
ASEAN theo chương trình đào tạo đã chuyển giao.
- Giám sát, theo dõi các bộ chương trình được chuyển giao và các khóa đào tạo
thí điểm để đảm bảo chất lượng và đánh giá công nhận chất lượng đầu ra thông qua các
tổ chức kiểm định chất lượng quốc tế và các nước chuyển giao.
Tuy nhiên đến thời điểm 31/12/2015, việc thực hiện đề án theo báo cáo của Bộ
Lao động Thương binh và Xã hội là rất hạn chế. Theo đó, mới thực hiện được như sau:
- Chuyển giao được 20/34 bộ chương trình từ nước ngoài của 20 nghề cấp độ
quốc tế (08 bộ chương trình từ Malaysia năm 2012 và 12 bộ chương trình từ Malaysia
năm 2014-2015)
- Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo nghề cho 347 người tại
Úc và Malaysia.
Tổng kinh phí thực hiện là 1.250 tỷ đồng. Các nội dung còn lại theo Đề án được
phê duyệt tại Quyết định 371 đền thời điểm này chưa được triển khai do vẫn còn lúng
túng: 08 bộ chương trình đã nhận bàn giao từ Malaysia chưa được Tổ chức City
&Guilds, Vương quốc Anh kiểm định và công nhận; do tổ chức này không đáp ứng
yêu cầu của Hội đồng thẩm định giá của Bộ Tài chính về cung cấp hợp đồng tương tự,
không tự tổ chức kiểm định mà giao cho tổ chức City &Guild, Malaysia thực hiện. Đối
với bộ chương trình của 14 nghề còn lại, do chưa xác định được quốc gia, đơn vị đầu
mối ở nước ngoài đồng ý chuyển giao bộ chương trình, công nhận bằng tốt nghiệp cho
sinh viên Việt Nam. Mặt khác, Dự án AFD "Đầu tư phát triển các trường đào tạo nghề
chất lượng cao" do Chính phủ Pháp tài trợ xác nhận sẽ chuyển giao 06 bộ chương trình
từ Pháp nhưng đến nay Dự án đã xác nhận chỉ phát triển chương trình đào tạo theo cốt
lõi của Pháp nhưng không cấp bằng tốt nghiệp của Pháp cho sinh viên Việt Nam và
như vậy đã không theo quy định trong Đề án đã được Thủ tướng phê duyệt. Do đó, nội
dung đào tạo thí điểm đến thời điểm này chưa triển khai được với nghề nào.
96
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH CHO ĐÀO TẠO
NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 - 2014
2.3.1. Kết quả đạt được
Giai đoạn 2007- 2014, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã rất tích cực
thực hiện các giải pháp tài chính cho đào tạo nghề nói chung và cho đào tạo nghề
chất lượng cao nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những kết quả đạt được gồm:
Một là: Đã thiết lập được hệ thống các quy định pháp lý để có cơ sở huy
động các nguồn lực đầu tư cho phát triển dạy nghề. Nguồn lực cho dạy nghề đặc
biệt cho đào tạo nghề chất lượng cao mặc dù còn hạn chế so với yêu cầu nhưng đã
tăng đáng kể hàng năm.
Hai là: Việc đầu tư nguồn lực cho đào tạo nghề chất lượng cao đã thực hiện
có trọng tâm, trọng điểm. Đã phê duyệt được danh sách các cơ sở dạy nghề để tập
trung đầu tư để đáp ứng tiêu chí của trường nghề chất lượng cao. Đã phê duyệt nghề
trọng điểm và trường có nghề trọng điểm ở các cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế
để tập trung đầu tư.
Ba là: Đã bước đầu có định hướng về việc phân bổ kinh phí theo kết quả đầu
ra trên cơ sở tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo dựa vào định mức kinh tế kỹ thuật
thông qua việc thí điểm đặt hàng dạy nghề.
Bốn là: Đã có bước đi tắt đón đầu trong công nghệ đào tạo nghề chất lượng
cao từ các nước tiên tiến trên thế giới bằng việc chuyển giao các bộ chương trình,
đào tạo bồi dưỡng giáo viên và thí điểm đào tạo các nghề theo chương trình
chuyển giao.
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế
Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định như đánh giá ở trên song việc
thực hiện các giải pháp tài chính vẫn còn những hạn chế, cụ thể:
- Thứ nhất: Nguồn tài chính huy động cho đào tạo nghề mặc dù có tăng đáng
kể hàng năm nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao cho phát triển kinh tế xã hội nhất là trong bối cảnh quy mô tuyển sinh
tăng nhanh, do vậy chưa tạo động lực phát triển mạnh đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu
lao động có nghề cho sự nghiệp CNH, HĐH.
97
- Thứ hai: Chưa xây dựng và ban hành được hệ thống định mức kinh tế - kỹ
thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng đào tạo nghề phù hợp, làm cơ sở để triển
khai xây dựng kế hoạch và đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, chấp hành dự toán
NSNN của các CSDN. Hơn nữa, chưa ban hành danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử
dụng NSNN để trên cơ sở đó cùng với hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành khung giá dịch vụ sự nghiệp đào tạo nghề làm cơ sở cho
xây dựng chính sách và thực hiện việc đặt hàng đào tạo nghề, đặc biệt là đặt hàng đào
tạo nghề chất lượng cao.
- Thứ ba: Giao dự toán chưa gắn kết với mục tiêu hay kết quả đầu ra. Quản
lý tài chính đầu tư cho đào tạo nghề hiện nay là chủ yếu dựa trên cơ sở nguồn lực
đầu vào, chưa dựa trên kết quả hoạt động đầu ra nên hiệu quả chưa cao; chưa gắn
kết giữa kết quả sử dụng nguồn lực NSNN với kết quả, hiệu quả thực hiện nhiệm
vụ. Theo đó đã không khuyến khích tính chủ động, năng động, sáng tạo của các
CSDN trong việc huy động thêm các nguồn lực xã hội; vẫn còn tình trạng trông chờ
vào sự bao cấp của nhà nước.
- Thứ tư: Việc phân bổ kinh phí chi thường xuyên từ NSNN đối với các CSDN
vẫn mang tính bình quân theo khả năng của NSNN, không gắn với đặc thù của lĩnh vực
dạy nghề có sự chênh lệch rất lớn về chi phi đào tạo giữa các nghề (nghề thuộc lĩnh vực
kỹ thuật khác với nghề thuộc lĩnh vực du lịch, kinh tế..) nên một mặt không đáp ứng
được yêu cầu kinh phí chi hoạt động của một số trường đào tạo các nghề có chi phí đào
tạo cao, nhất là những nghề đặc thù khó tuyển sinh trong những năm gần đây; mặt khác
không tạo động lực cạnh tranh nâng cao chất lượng, hiệu quả giữa các giữa các trường.
- Thứ năm: Phân bố dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả thấp. Việc
phân bổ ngân sách cho các CSDN hiện nay còn dàn trải chưa đúng mục tiêu đối tượng.
Đặc biệt, trong phân bổ kinh phí CTMTQG yêu cầu phải đúng mục tiêu, có trọng tâm,
trọng điểm nhưng một số Bộ, ngành, địa phương phân bổ kinh phí còn dàn trải, không
đúng đối tượng, nội dung của Dự án và không theo đúng hướng dẫn chuyên môn của Bộ
LĐTBXH như: giảm mức kinh phí hoặc không phân bổ kinh phí cho các CSDN được
lựa chọn để đầu tư trọng điểm đặc biệt là các CSDN chất lượng cao để phân bổ đều cho
các CSDN khác, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của chương trình, thậm chí gây lãng phí.
98
- Thứ sáu: Việc đầu tư các nghề trọng điểm thời gian qua còn một số tồn tại:
+ Vẫn còn một số Bộ, ngành, địa phương chưa xây dựng, phê duyệt dự án đầu
tư nghề trọng điểm; Phân bổ kinh phí Dự án cho các trường chậm, chưa đảm bảo thời
gian theo quy định; một số nơi phân bổ không đúng đối tượng của Dự án nên ảnh
hưởng rất lớn tới mục tiêu của Dự án đã đề ra.
+ Có tình trạng vi phạm quy định về đấu thầu khi thực hiện đầu tư, mua sắm
thiết bị; mua sắm thiết bị chưa đúng nghề trọng điểm; mua sắm không phù hợp với
nghề đào tạo;chất lượng thiết bị được mua sắm thấp, thời gian bàn giao muộn; thiết bị
bàn giao không đúng với hồ sơ trúng thầu; đầu tư thiết bị nhưng chưa đưa vào khai
thác sử dụng; có ít học sinh; quản lý, sử dụng thiết bị được đầu tư chưa khoa học…
làm giảm hiệu quả của Dự án.
+ Thiết bị đào tạo của một số trường được mua sắm chưa đồng bộ với yêu
cầu của chương trình, danh mục thiết bị; Thiết bị chưa đồng bộ với cơ sở vật chất
do thiếu vốn đầu tư xây dựng nhà xưởng, phòng học và các hạng mục thiết yếu khác
của các trường.
+ Việc huy động các nguồn lực ngoài ngân sách Trung ương còn rất hạn chế,
tổng hợp báo cáo 2 năm 2012-2013 mới chỉ có số ít tỉnh bố trí ngân sách địa phương
hỗ trợ thực hiện Dự án ở các trường nghề số tiền là 86 tỷ đồng (bằng khoảng gần 5%
ngân sách Trung ương phân bổ).
+ Nội dung quan trọng tiên phong trong việc đào tạo nghề chất lượng cao là
việc thực hiện chuyển giao các bộ chương trình; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên; đào tạo
thí điểm các nghề trọng điểm cấp độ khu vực ASEAN, quốc tế nhưng lại là nội dung
mới, chưa có tiền lệ do đó, quá trình thực hiện có nhiều khó khăn, vướng mắc phát
sinh mà khi xây dựng Đề án chưa lường hết được nên kết quả thực hiện rất hạn chế.
2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế
2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan
- Một là: Do kinh tế suy thoái, ngân sách khó khăn nên bố trí nguồn lực cho
đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề chất lượng cao nói riêng còn hạn chế so với
yêu cầu. Ngân sách trung ương bố trí không đảm bảo theo Đề án, chương trình hay
các giải pháp tài chính đã được phê duyệt; Các Bộ, ngành, địa phương trông chờ
99
chủ yếu vào phân bổ từ ngân sách trung ương, hầu như không bố trí nguồn lực của
địa phương để thực hiện giải pháp.
- Hai là: Có những nhiệm vụ quá mới, chưa có kinh nghiệm nên lúng túng trong
triển khai, chậm tiến độ (như việc xây dựng và ban hành tiêu chí trường chất lượng
cao; các hoạt động chuyển giao chương trình, đào tạo giáo viên ở nước ngoài…).
- Ba là: Tuyển sinh đào tạo nghề những năm gần đây gặp khó khăn do quy
mô tuyển sinh đại học tăng cao, ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất, thiết
bị đào tạo nghề được đầu tư.
2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan
- Thứ nhất: thiếu những quy định pháp lý cụ thể để xác định rõ vai trò chủ
đạo của NSNN trong đầu tư phát triển dạy nghề; trách nhiệm của các cấp ngân sách
trong phát triển dạy nghề; Nguồn tài chính đầu tư từ NSNN những năm gần đây tuy
có tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu,
- Thứ hai: Chính sách học phí chưa đáp ứng yêu cầu là nguồn tài chính
quan trọng để góp phần bảo đảm chi phí đào tạo nghề; Học phí thấp, trong khi đầu
tư từ ngân sách tăng không đáng kể (thậm chí bị cắt giảm như trường hợp của các
cơ sở đào tạo thuộc doanh nghiệp nhà nước) đã gây khó khăn, ách tắc, ảnh hưởng
không nhỏ tới yêu cầu về quy mô và chất lượng đào tạo nghề. Đặc biệt là ở một số
lĩnh vực đòi hỏi chi phí đào tạo lớn, cơ hội việc làm và thu nhập cao có thể thu
học phí ở mức cao hơn nhiều nhưng không được phép thu vựơt khung quy định.
Trong khi ở một số cơ sở giáo dục nước ngoài, học phí cao còn thể hiện thương
hiệu, chất lượng đào tạo của chính cơ sở đó.
- Thứ ba: Thiếu cơ chế, chính sách để khuyến khích phát triển các hoạt động
sự nghiệp gắn với nhiệm vụ đào tạo của các CSDN, gắn đào tạo với thực tiễn hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm tạo sự năng động cho cơ sở đào tạo, đồng
thời tạo nguồn thu tài chính để phát triển hoạt động đào tạo và nâng cao thu nhập
cho cán bộ, giáo viên, học sinh của CSDN; Đơn vị chưa thực sự được tự chủ trong
việc thực hiện nhiệm vụ từ biên chế, tổ chức bộ máy và tài chính.
- Thứ tư: Các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay chưa
thực hiện đóng góp kinh phí đào tạo nghề với trách nhiệm là “người sử dụng lao động
đã qua đào tạo nghề”. Mặt khác, do chưa có chính sách để khuyến khích doanh
100
nghiệp (ưu đãi tín dụng, thuế, hỗ trợ ngân sách đào tạo…) tham gia một cách tích
cực, chủ động vào hoạt động đào tạo nghề (kể cả đào tạo nghề tại doanh nghiệp và
hoạt động phối kết hợp với cơ sở đào tạo nghề) nên chưa huy động được tối đa nguồn
lực từ phía doanh nghiệp. Ngoải ra, chính sách về hợp tác đầu tư với nứơc ngoài
trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và đào tạo nghề chưa phát huy hiệu quả do thủ tục
còn phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cơ quan nên chưa hấp dẫn các nhà
đầu tư. Hơn nữa, chưa có cơ chế huy động, sử dụng nguồn đóng góp tự nguyện của
các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho đào tạo nghề nên khi có cơ
hội được tài trợ, cho, tặng thì không dám tiếp nhận.
Ngoài ra còn có các nguyên nhân chủ quan như về nhận thức của các cấp,
các ngành về đào tạo nghề chất lượng cao còn chưa đúng và đầy đủ để chỉ đạo, điều
hành quyết liệt hơn. Quan điểm, chủ trương triển khai đào tạo nghề chất lượng cao
giai đoạn 2011-2015 là chuyển đổi phương thức đầu tư (từ trọng điểm theo trường
sang đầu tư trọng điểm và đồng bộ theo nghề) nhằm mục tiêu tạo sự đột phá về chất
lượng đào tạo; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các Quyết định phê duyệt
CTMTQG, Đề án chuyển giao các bộ chương trình; Bộ Lao động Thương binh và
Xã hội và Tổng cục dạy nghề đã có nhiều văn bản, hội nghị tập huấn hướng dẫn…
nhưng một số bộ, ngành, địa phương và cơ sở đào tạo nghề chưa nhận thức đúng
quan điểm, chủ trương trên, trong triển khai thực hiện vẫn lúng túng, chưa thực hiện
đầu tư cho các nghề trọng điểm.
Theo mục tiêu Chiến lược và lộ trình thực hiện thì giai đoạn 2011-2015 sẽ
tập trung nhiệm vụ “Hỗ trợ kỹ thuật" (chương trình, giáo viên và cán bộ quản lý,
cơ sở vật chất, thiết bị…) nhằm chuẩn bị các điều kiện cần thiết và thí điểm đào
tạo để từ 2016 mới triển khai rộng việc tổ chức tuyển sinh đào tạo theo chuẩn các
cấp độ quốc gia, khu vực ASEAN, quốc tế. Tuy nhiên nhiều cơ sở đào tạo nghề
nhận thức chưa đúng, chưa có đủ các điều kiện cần thiết đã nôn nóng đề xuất và
báo cáo tuyển sinh đào tạo theo chuẩn các cấp độ.
101
Kết luận Chương 2
Chương 2 của Luận án đã hoàn thành cơ bản một số nội dung sau:
Một là: Phân tích đánh giá thực trạng đào tạo nghề và chất lượng đào tạo nghề
ở Việt Nam. Thông qua việc phân tích những dữ liệu về phát triển dạy nghề Việt
Nam giai đoạn 2007-2014 về mạng lưới, quy mô, các điều kiện đảm bảo chất lượng
đào tạo nghề đã chỉ rõ những kết quả mà lĩnh vực đào tạo nghề đã đạt được trong thời
gian qua, góp phần quan trọng đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp cho phát
triển KT-XH theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đồng
thời, trong phần thực trạng cũng nêu bật những điểm còn tồn tại, hạn chế trong lĩnh
vực đào tạo nghề và chỉ ra những nguyên nhân cơ bản của những tồn tại, hạn chế đó.
Hai là: Luận án đã phân tích, đánh giá thực trạng các giải pháp tài chính tài
chính cho đào tạo nghề chất lượng cao ở Việt Nam thời gian qua trên các mặt: (1) Tổng
quan về nguồn lực tài chính cho đào tạo nghề; (2) Thực trạng giải pháp tài chính đầu tư
sử dụng nguồn vốn cho đào tạo nghề chất lượng cao. Trong mỗi giải pháp, Luận án đã
đi sâu phân tích và làm rõ chi tiết nội dung từng giải pháp. Đánh giá về những hạn chế
và nguyên nhân hạn chế của từng giải pháp tài chính đã thực hiện giai đoạn 2007-2014
và đánh giá chung để làm cơ sở đề xuất giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng
cao ở Việt Nam đến năm 2020.
102
Chương 3 GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH CHO ĐÀO TẠO NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆT NAM
3.1. ĐỊNH HƯỚNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHẤT
LƯỢNG CAO
3.1.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội trong và ngoài nước tác động đến đào tạo
nghề đến năm 2020
Trong những năm tới, dự báo bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi, quá trình
quốc tế hoá sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ và phân công lao động diễn ra
ngày càng sâu rộng, chất lượng nguồn nhân lực được coi là yếu tố quyết định thắng
lợi trong cạnh tranh phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Đồng thời, toàn cầu
hoá kinh tế đang là xu thế khách quan, tạo cơ hội phát triển nhưng cũng tiềm ẩn nhiều
yếu tố bất bình đẳng, khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là những nước
đang phát triển như Việt Nam. Cạnh tranh kinh tế - thương mại giữa các nước ngày
càng gay gắt, lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng
cao. Là thành viên chính thức của AFTA, WTO, TPP và ASEAN nên Việt Nam phải
thực hiện nguyên tắc “mở cửa thị trường” cho hàng hoá, dịch vụ và đầu tư nước
ngoài, trong đó có thị trường lao động. Việc mở ra khả năng di chuyển lao động giữa
các nước đòi hỏi người lao động phải có kỹ năng nghề cao, có năng lực làm việc
trong môi trường quốc tế với những tiêu chuẩn, tiêu chí do thị trường lao động xác
định. Trong bối cảnh đó, đội ngũ lao động nước ta vừa có cơ hội phát triển về số
lượng, chất lượng và tham gia vào thị trường lao động của các nước và vừa chịu
thách thức về sự cạnh tranh với lao động nước ngoài không những ở thị trường lao
động thế giới mà còn ngay ở thị trường lao động trong nước. Hơn nữa, cách mạng
khoa học phát triển với tốc độ nhanh và có bước nhảy vọt, với việc sử dụng ngày
càng nhiều công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại, nhiều ngành nghề mới xuất hiện đòi
hỏi người lao động phải thường xuyên bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề
nghiệp để có đủ năng lực thích ứng với những thay đổi nhanh trong sản xuất kinh
doanh và dịch vụ;
Sự thay đổi về cấu trúc nền kinh tế: cải cách cơ cấu nền kinh tế, chuyển sang
những ngành chế tạo và dịch vụ sử dụng công nghệ trung bình và cao. Sự tái cấu
103
trúc nền kinh tế đòi hỏi phải có những thay đổi trong giáo dục đào tạo nghề cả ở cấp
vĩ mô và trong các doanh nghiệp. Hiện trạng việc sử dụng lao động có tay nghề thấp
và tạo ra ít giá trị gia tăng ở nước ta hiện nay vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Trong ngắn
hạn, các nghề sử dụng lao động tay nghề và chi phí dịch vụ thấp giữ vị trí quan
trọng, đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tạo cơ hội việc làm cho lao động trình độ thấp.
Tuy nhiên, điều này sẽ không tiếp tục được kéo dài, với sự tác động mạnh mẽ của
yêu cầu phát triển kinh tế và năng suất lao động, nhu cầu về lao động có kỹ năng sẽ
tăng lên. Trong một tương lai gần, điều này sẽ trở thành vấn đề nghiêm trọng khi
người sử dụng lao động không thể tuyển dụng được lao động có kỹ năng cần thiết,
ảnh hưởng và kìm hãm sự phát triển kinh tế, giảm khả năng cạnh tranh của quốc gia
cũng như ảnh hưởng tới mục tiêu việc làm đầy đủ, năng suất và việc làm bền vững
cho tất cả mọi người.Bối cảnh quốc tế và trong nước hiện tại đòi hỏi chúng ta phải
phát huy lợi thế, tranh thủ thời cơ để đổi mới và phát triển đào tạo nghề theo hướng
hiện đại, đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao cả về số lượng và chất
lượng phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, xuất khẩu lao động và hội nhập kinh
tế quốc tế, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao năng xuất lao động, vì vậy đổi
mới và phát triển đào tạo nghề tạo sự đột phá về chất lượng đào tạo nghề là yêu cầu
khách quan vừa cấp bách, vừa có tính lâu dài để nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Hiện tại, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ở nước ta còn thấp (khoảng 35% năm
2014), tình trạng các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước
ngoài “khát lao động kỹ thuật” ngày càng trầm trọng. Theo đánh giá của Ngân hàng
thế giới (WB) chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm (thang
điểm 10) - xếp thứ 11 trong 12 nước ở Châu Á được tham gia xếp hạng. Đó là một
trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt
Nam liên tục giảm (Năm 2006 xếp thứ 77/125 quốc gia và nền kinh tế tham gia xếp
hạng tụt 3 bậc so với năm 2005). Nếu chất lượng nguồn nhân lực không được cải
thiện thì năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
sẽ gặp khó khăn lớn;
Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhiều lao động Việt Nam trong
nước cũng như đang làm việc tại nước ngoài bị mất việc đòi hỏi đẩy mạnh đào tạo
104
nghề tạo điều kiện cho họ có cơ hội tìm kiếm việc làm mới. Đấy cũng là xu thế chung
của các nước trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, tập trung đào tạo nguồn nhân lực
chuẩn bị các điều kiện cho giai đoạn phục hồi và phát triển sau khủng hoảng.
Theo mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đến năm 2020 nước ta
về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Phát triển nguồn nhân
lực được xác định là một trong ba giải pháp đột phá chiến lược. Về cơ cấu bậc đào
tạo vào năm 2020 thì số nhân lực đào tạo ở bậc sơ cấp khoảng gần 24 triệu người,
chiếm khoảng 54,0% tổng số nhân lực qua đào tạo của nền kinh tế; con số tương
ứng của bậc trung cấp là khoảng gần 12 triệu người (khoảng 27,0%); bậc cao đẳng:
hơn 3 triệu người (khoảng 7,0%); bậc đại học: Khoảng 5 triệu người (khoảng 11%)
và bậc trên đại học khoảng 300 nghìn người (chiếm khoảng 0,7%). Số nhân lực đào
tạo qua hệ thống đào tạo nghề khoảng 80% tổng số nhân lực qua đào tạo, nên có thể
thấy đào tạo nghề có vị trí đặc biệt, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng và
năng lực cạnh tranh nguồn nhân lực và phát triển kinh tế -xã hội.
3.1.2. Định hướng và mục tiêu phát triển đào tạo nghề chất lượng cao ở
Việt Nam đến năm 2020
3.1.2.1. Định hướng phát triển đào tạo nghề và đào tạo nghề chất lượng cao
Theo Chiến lược phát triển dạy nghề Việt Nam thời kỳ 2011-2020 được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 630/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 [29] thì
định hướng chiến lược phát triển dạy nghề Việt Nam đến năm 2020 như sau:
- Phát triển đào tạo nghề là sự nghiệp và trách nhiệm của toàn xã hội; là một
nội dung quan trọng của chiến lược, quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia, đòi hỏi
phải có sự tham gia của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương, các CSDN, cơ sở sử
dụng lao động và người lao động để thực hiện đào tạo nghề theo nhu cầu của thị
trường lao động.
- Thực hiện đổi mới cơ bản, mạnh mẽ quản lý nhà nước về đào tạo nghề,
nhằm tạo động lực phát triển đào tạo nghề theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã
hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế.
- Nâng cao chất lượng và phát triển quy mô đào tạo nghề là một quá trình, vừa
phổ cập nghề cho người lao động, đồng thời phải đáp ứng nhu cầu của các ngành,
nghề sử dụng nhân lực có tay nghề cao trong nước và xuất khẩu lao động.
105
- Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế để phát triển đào tạo nghề, tập
trung xây dựng các trường nghề chất lượng cao, trong đó ưu tiên các trường đạt
đẳng cấp quốc tế; các nghề trọng điểm cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế.
Nhận thức được những tồn tại của hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và hệ
thống giáo dục nghề nghiệp nói riêng, ngày 4/11/2013 Ban chấp hành Trung ương
khóa XI ban hành Nghị quyết số 29NQ/TW [13] về đổi mới căn bản toàn diện giáo
dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Theo đó, đối với giáo
dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm
nghề nghiệp. Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và
trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp
ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc
tế. Riêng lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp Ban chấp hành trung ương đã ban hành chỉ
thị số 37CT/TW ngày 06/6/2014 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao. Nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo nhân lực có
tay nghề cao theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng,
chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân tập trung lãnh
đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau: (1). Đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
giáo dục, nâng cao nhận thức về đào tạo nhân lực có tay nghề cao. Định hướng đào
tạo nhân lực có tay nghề cao phải trên cơ sở nhu cầu thực tế về nguồn nhân lực của
thị trường lao động, lấy tín nhiệm của thị trường lao động đối với người học sau khi
tốt nghiệp là tiêu chí để đánh giá uy tín, chất lượng của các cơ sở giáo dục nghề
nghiệp.; (2). Tăng cường công tác quản lý nhà nước về đào tạo nhân lực có tay nghề
cao, trong đó nhấn mạnh Nâng cao năng lực dự báo nguồn nhân lực có tay nghề cao
thuộc các lĩnh vực, ngành nghề, đặc biệt là đối với các ngành, lĩnh vực mũi nhọn,
công nghiệp hỗ trợ, các khu công nghiệp, khu chế xuất, các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài. Trên cơ sở đó, định hướng lựa chọn nghề nghiệp cho người học.; (3).
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ chương trình, nội dung đào tạo nhân lực có tay
nghề cao. Đổi mới phương thức đánh giá và công nhận tốt nghiệp; xây dựng các tiêu
chí đánh giá chất lượng đào tạo nhân lực có tay nghề cao của các cơ sở giáo dục nghề
nghiệp trên cơ sở kiến thức, năng lực thực hành, ý thức kỷ luật và đạo đức nghề
106
nghiệp. Có cơ chế để các tổ chức, cá nhân sử dụng lao động tham gia đánh giá chất
lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao, các nghề trọng
điểm cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế.; (4). Tăng cường xây dựng và phát triển
đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đào tạo nhân lực có tay nghề cao; (5). Đổi mới,
hoàn thiện cơ chế, chính sách, đa dạng hóa nguồn lực đào tạo nhân lực có tay nghề
cao. Theo đó, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư kinh phí cho đào tạo nhân
lực có tay nghề cao; tập trung đầu tư đồng bộ cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đủ
điều kiện thực hiện nhiệm vụ đào tạo đạt chuẩn quốc gia, khu vực, quốc tế. Phấn đấu
đến năm 2020, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao có đủ năng lực đào tạo
tương đương cấp độ khu vực và quốc tế.
Chủ động, đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho các cơ sở giáo dục nghề
nghiệp chất lượng cao, các nghề trọng điểm cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế. Nhà
nước tạo điều kiện thuận lợi để xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức, cá nhân liên kết
đào tạo với các cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín.
Có chính sách ưu đãi để doanh nghiệp đổi mới công nghệ sản xuất gắn với đào
tạo, sử dụng lao động, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức doanh nghiệp, cá nhân
sử dụng lao động, các chuyên gia quốc tế và người Việt Nam định cư ở nước ngoài
tham gia vào hoạt động đào tạo nhân lực có tay nghề cao. Thực hiện cơ chế đặt hàng
đào tạo trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng cấp độ
quốc gia, khu vực, quốc tế; (6). Chủ động hợp tác, hội nhập quốc tế, xây dựng khuôn
khổ pháp lý thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục nghề
nghiệp chất lượng cao. Hoàn thiện cơ chế hợp tác song phương và đa phương, coi
trọng việc tham gia và thực hiện các cam kết quốc tế về chất lượng đào tạo.
3.1.2.2. Mục tiêu phát triển đào tạo nghề
Theo Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 [28] và
Chiến lược phát triển dạy nghề Việt Nam thời kỳ 2011-2020 [29] đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt thì mục tiêu phát triển đào tạo nghề như sau:
a. Mục tiêu tổng quát
Tăng quy mô, mở rộng cơ cấu ngành nghề đào tạo, cơ cấu trình độ đào tạo,
nâng cao chất lượng và hiệu quả tạo chuyển biến cơ bản về đào tạo nghề để đến
năm 2020 đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh,
107
dịch vụ của thị trường lao động cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu nghề và trình độ
đào tạo để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; hình thành đội ngũ lao động lành
nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, nâng cao sức cạnh tranh của
lao động Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế; đảm bảo công bằng về cơ hội
tham gia học nghề của mọi người tạo sự chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu
nhập, giảm nghèo vững chắc, đảm bảo an sinh xã hội.
Nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ
thuật cao cho thị trường lao động; tạo sự đột phát về chất lượng dạy nghề trình độ
trung cấp nghề, cao đẳng nghề đối với các nghề trọng điểm cấp độ quốc gia, khu
vực ASEAN và quốc tế cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành,
lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, các khu công nghiệp, khu chế xuất, vùng kinh tế trọng
điểm và xuất khẩu lao động.
b. Mục tiêu cụ thể
- Giai đoạn 2016 - 2020: Đào tạo nghề cho 34,4 triệu người, trong đó: trung
cấp nghề, cao đẳng nghề là 30% (khoảng 45 nghìn sinh viên được học chương trình
đào tạo nghề tiên tiến của các nước phát triển trong khu vực và thế giới) và sơ cấp
nghề và dạy nghề dưới 3 tháng là 70% để nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt
55% vào năm 2020;
- Đến năm 2020 có khoảng: 230 trường cao đẳng nghề (80 trường ngoài công
lập, chiếm 34,8%), trong đó có 40 trường chất lượng cao; 310 trường trung cấp
nghề (120 trường ngoài công lập, chiếm 38,8%) và 1.050 trung tâm đào tạo nghề
(350 trung tâm ngoài công lập, chiếm 33,3%), trong đó có 150 trung tâm đào tạo
nghề kiểu mẫu. Một số trường cao đẳng nghề có nghề đạt trình độ tiên tiến trên thế
giới và khu vực ASEAN. Mỗi trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề còn lại có ít
nhất 3 nghề chất lượng cao.
- Đến năm 2020 có 77.000 giáo viên đào tạo nghề (trong đó có khoảng 25.000
người dạy trong các CSDN ngoài công lập), trong đó dạy cao đẳng nghề 28.000
người, trung cấp nghề 31.000 người, dạy sơ cấp nghề và đào tạo nghề dưới 3 tháng
(không bao gồm người đào tạo nghề) là 18.000 người. đào tạo nghiệp vụ sư phạm đào
tạo nghề và kỹ năng nghề cho 25.000 người để làm giáo viên đào tạo nghề; 100%
108
giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý đào tạo nghề đạt chuẩn; 40% giảng viên dạy
cao đẳng nghề có trình độ thạc sỹ và tiến sỹ; tỷ lệ giáo viên, giảng viên quy đổi/học
sinh, sinh viên quy đổi ở các trường trung cấp nghề, cao đẳng nghề là 1/15.
- Đến năm 2020 có khung chương trình trình độ cao đẳng nghề, trung cấp
nghề cho 100% nghề đào tạo; bổ sung, chỉnh sửa và ban hành 150 chương trình,
giáo trình trọng điểm quốc gia; sử dụng 70 chương trình, giáo trình cấp độ khu
vực và 35 chương trình, giáo trình quốc tế; xây dựng 200 chương trình, giáo
trình sơ cấp nghề và dưới 3 tháng để đào tạo nghề cho lao động nông thôn; 100%
nghề đào tạo trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề có chuẩn danh mục thiết bị
đào tạo nghề.
- Tất cả các nghề trọng điểm quốc gia, nghề cấp khu vực, quốc tế; các trường
chất lượng cao, trung tâm đào tạo nghề kiểu mẫu được kiểm định chất lượng. Hình
thành 3 trung tâm kiểm định chất lượng đào tạo nghề vùng ở 3 vùng và một số trung
tâm kiểm định chất lượng đào tạo nghề do tổ chức, cá nhân thành lập.
- Xây dựng khung trình độ nghề quốc gia; đến năm 2020 ban hành 400 bộ
tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và 400 ngân hàng đề thi đánh giá kỹ năng nghề
quốc gia, trong đó có 150 bộ tiêu chuẩn cho các nghề trọng điểm quốc gia và 100%
nghề được tổ chức đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho người lao
động có nhu cầu.
- Hoàn thiện hệ thống thị trường lao động, gắn kết giữa đào tạo nghề và
việc làm.
3.2. DỰ BÁO NHU CẦU NGUỒN NHÂN LỰC QUA ĐÀO TẠO NGHỀ
CHẤT LƯỢNG CAO VÀ VỐN ĐẦU TƯ CHO ĐÀO TẠO NGHỀ CHẤT LƯỢNG
CAO ĐẾN NĂM 2020
3.2.1. Dự báo nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề chất lượng cao đến
năm 2020
Mục tiêu tổng quát của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 là
nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 (tỷ trọng các
ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% trong GDP; tỷ lệ lao động nông
nghiệp còn khoảng 30% trong lao động xã hội). Để thực hiện được mục tiêu trên,
109
cần có đội ngũ lao động kỹ thuật đủ về số lượng, có kiến thức, kỹ năng nghề với cơ
cấu ngành nghề và trình độ phù hợp. Đây là thách thức lớn, đòi hỏi đào tạo nghề
phải đổi mới, phát triển và có bước đột phá về chất lượng để đáp ứng yêu cầu về
nhân lực cho đất nước trong giai đoạn này.
Theo Quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia thời kỳ 2011-2020 đã được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2011
với mục tiêu tổng quát là chỉ ra được nhu cầu về số lượng, cơ cấu và trình độ
nhân lực, đảm bảo yêu cầu nhân lực thực hiện thành công đường lối công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển nhanh những
ngành, lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế so sánh quốc tế; đồng thời nêu ra các
giải pháp phát triển nhân lực, hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao theo
chuẩn khu vực và từng bước tiến tới chuẩn quốc tế. Về mục tiêu cụ thể:
- Tăng nhanh tỷ lệ nhân lực qua đào tạo trong nền kinh tế dưới các hình
thức, trình độ khác nhau từ mức 40,0% năm 2010 lên mức 70,0% năm 2020,
trong đó tỷ lệ nhân lực qua đào tạo ngành nông, lâm ngư nghiệp tăng tương ứng
từ 15,5% lên 50,0%; ngành công nghiệp từ 78,0% lên 92,0%, ngành xây dựng từ
41,0% lên 56,0%; ngành dịch vụ tăng từ 67,0% lên 88,0%.
- Phát triển đồng bộ đội ngũ nhân lực với chất lượng ngày càng cao, đủ
mạnh ở mọi lĩnh vực, đồng thời tập trung ưu tiên những lĩnh vực Việt Nam có lợi
thế cạnh tranh.
- Xây dựng được đội ngũ giáo viên có chất lượng cao để đào tạo nhân lực
có trình độ cho đất nước.
Phương hướng phát triển, cần tăng nhanh tỷ lệ nhân lực qua đào tạo trong
toàn nền kinh tế với cơ cấu hợp lý. Tổng số nhân lực qua đào tạo năm 2015
khoảng 30,5 triệu người (chiếm khoảng 55,0% trong tổng số 55 triệu người làm
việc trong nền kinh tế) và năm 2020 khoảng gần 44 triệu người (chiếm khoảng
70,0% trong tổng số gần 63 triệu người làm việc trong nền kinh tế). Trong tổng
số nhân lực qua đào tạo, số nhân lực đào tạo qua hệ thống dạy nghề năm 2015
khoảng 23,5 triệu người (bằng 77,0%), năm 2020 khoảng 34,4 triệu (bằng
78,5%); số nhân lực đào tạo qua hệ thống giáo dục - đào tạo năm 2015 khoảng 7
triệu người (bằng 23,0%), năm 2020 khoảng 9,4 triệu (bằng 21,5%).
110
Về cơ cấu bậc đào tạo, năm 2015, số nhân lực qua đào tạo ở bậc sơ cấp
nghề khoảng 18 triệu người, chiếm khoảng 59,0% tổng số nhân lực đã qua đào
tạo của nền kinh tế; con số tương ứng của bậc trung cấp là khoảng 7 triệu người
(khoảng 23,0%); bậc cao đẳng: Gần 2 triệu người (khoảng 6,0%); bậc đại học:
Khoảng 3,3 triệu người (khoản 11,0%); và bậc trên đại học khoảng 200 nghìn
người (chiếm khoảng 0,7%). Năm 2020, số nhân lực đào tạo ở bậc sơ cấp nghề
khoảng gần 24 triệu người, chiếm khoảng 54,0% tổng số nhân lực qua đào tạo
của nền kinh tế; con số tương ứng của bậc trung cấp là khoảng gần 12 triệu
người (khoảng 27,0%); bậc cao đẳng: Hơn 3 triệu người (khoảng 7,0%); bậc đại
học: Khoảng 5 triệu người (khoảng 11%) và bậc trên đại học khoảng 300 nghìn
người (chiếm khoảng 0,7%).
Như vậy, trên cơ sở Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-
2020; số liệu dự báo của Viện Chiến lược Phát triển, Trung tâm Thông tin và Dự báo
kinh tế - xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề
thời kỳ 2011-2020 được dự báo như sau:
a. Nhu cầu nhân lực qua dạy nghề theo cấp trình độ
Bảng 3.1: Nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề theo cấp trình độ
Đơn vị tính: 1.000 người
Năm 2010 Năm 2015 Năm 2020
Tổng số 14.230 23.500 34.400
1. Cao đẳng nghề, trung cấp nghề 2.910 5.400 10.400
% so tổng số 20% 23% 30%
2. Sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng 11.320 18.100 24.000
% so tổng số 80% 77% 70%
Nguồn: Tổng cục dạy nghề
Giai đoạn 2016-2020: hàng năm số nhân lực qua đào tạo nghề cần bổ sung
khoảng 6,88 triệu người, trong đó khoảng 2 triệu người có trình độ cao đẳng nghề,
trung cấp nghề (khoảng 45 nghìn sinh viên tốt nghiệp từ chương trình đào tạo nghề
tiên tiến của các nước phát triển trong khu vực và thế giới)
111
b. Nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề theo các vùng kinh tế
Bảng 3.2: Nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề theo vùng kinh tế
Đơn vị: 1.000 người
Thời điểm
Tổng số
Tây Nguyên
Trung du miền núi phía Bắc
Đông Nam bộ
Đồng bằng Sông Hồng
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung
Đồng bằng Sông Cửu Long
Năm 2015
23.500
2.530
6.980
4.290
1.000 5.390
3.310
(1.000 người)
% lđ qua ĐTN
40%
34%
55%
36%
31%
59%
30%
Năm 2020
34.400
3.560
10.080
6.760
1.270 7.500
5.230
(1.000 người)
% lđ qua ĐTN
55%
43%
69%
51%
36%
71%
42%
Nguồn: Tổng cục dạy nghề
c. Nhu cầu lao động qua đào tạo nghề theo khối ngành/lĩnh vực
- Nhu cầu lao động qua đào tạo nghề theo khối ngành Nông, lâm, ngư
nghiệp; Công nghiệp - Xây dựng; Dịch vụ.
Bảng 3.3: Nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề theo khối ngành/lĩnh vực
Đơn vị: 1.000 người
Thời điểm Tổng số Dịch vụ Nông, lâm, ngư nghiệp Công nghiệp - Xây dựng
Năm 2015 23.500 6.500 9.600 7.400
Tỷ lệ 100% 28% 41% 31%
Năm 2020 34.400 12.000 13.700 8.700
Tỷ lệ 100% 35% 40% 25%
Nguồn: Tổng cục dạy nghề
- Nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề của một số ngành/lĩnh vực đặc thù:
+ Tổng số nhân lực ngành giao thông vận tải đến năm 2015 khoảng 550
nghìn người, trong đó, tỷ lệ nhân lực qua đào tạo khoảng 94,0%; năm 2020 tăng lên
hơn 630 nghìn người, tỷ lệ nhân lực qua đào tạo là khoảng 97,0%. Trong tổng số
112
nhân lực qua đào tạo, trình độ sơ cấp nghề khoảng 14%; trình độ trung cấp khoảng
58,0%; trình độ cao đẳng khoảng 28,0%;
+ Tổng số nhân lực ngành Du lịch năm 2015 khoảng 620 nghìn người, năm
2020 là 870 nghìn người, tỷ lệ nhân lực qua đào tạo ở hai thời điểm trên khoảng
58,0% tổng số nhân lực của ngành. Trong tổng số nhân lực qua đào tạo, trình độ sơ
cấp nghề chiếm khoảng 43,5%; trình độ trung cấp chiếm khoảng 25,5%; trình độ
cao đẳng khoảng 31%;
+ 11 tập đoàn và tổng công ty lớn có nhu cầu lao động qua đào tạo nghề ở
các cấp trình độ đến năm 2020 khoảng 800.000 người (Dệt May: 530.000; Điện lực:
151.000; Than khoáng sản: 8.000; Lắp máy: 15.000; Thép: 3.000…). Bình quân
mỗi năm cần lao động qua đào tạo khoảng 80.000 người trong đó 80% trình độ
trung cấp nghề trở lên.
Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến
năm 2030 và sự gắn kết với việc đầu tư nghề trọng điểm theo Quyết định số
854/QĐ-BLĐTBXH (đối với các cơ sở đào tạo nghề công lập)
Theo danh sách trong Quyết định số 854/QĐ-BLĐTBXH, có 121 nghề được
đầu tư đào tạo trọng điểm, trong đó có 26 nghề được đầu tư đào tạo theo tiêu chuẩn
Quốc tế, 49 nghề đào tạo theo tiêu chuẩn ASEAN, 107 nghề đào tạo theo tiêu chuẩn
Quốc gia.
Ngày 09/6/2014, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định 880/QĐ-TTg phê
duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020,
tầm nhìn đến năm 2030. Chính phủ đã xác định 3 nhóm ngành công nghiệp lựa
chọn ưu tiên phát triển, gồm: Công nghiệp chế biến chế tạo, Ngành Điện tử và viễn
thông, Năng lượng mới và năng lượng tái tạo.
Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030 là bước tiếp theo để thực hiện Chiến lược phát triển
công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. Quy hoạch tập trung
vào 10 ngành gồm có: ngành cơ khí - luyện kim; ngành hóa chất; ngành điện tử,
công nghệ thông tin; ngành dệt may-da giầy; ngành chế biến nông lâm thủy sản,
thực phẩm, đồ uống; ngành sản xuất vật liệu xây dựng; ngành khai thác và chế biến
khoáng sản; ngành điện; ngành than; ngành dầu khí.
113
Trong chiến lược phát triển công nghiệp, đã bao hàm 25/112 nghề được chọn
lọc để đầu tư đào tạo trọng điểm, chiếm 22,3%. Trong đó tập trung chủ yếu vào
nhóm ngành Đ (Ngành chế biến nông lâm thủy sản, thực phẩm, đồ uống) với 11
nghề; nhóm H (nhóm ngành Điện) với 6 nghề, nhóm C (ngành điện tử, công nghệ
thông tin) 3 nghề; còn lại là Ngành khai thác & chế biến khoáng sản, Công nghiệp
hỗ trợ, Ngành sản xuất vật liệu xây dựng và Dầu khí. Với 7/26 nghề được đầu tư
đào tạo theo chuẩn quốc tế, 10/49 nghề được đầu tư đào tạo theo chuẩn khu vực và
22/112 nghề được đầu tư theo chuẩn quốc gia.
3.2.2. Dự báo nhu cầu tài chính cho đào tạo nghề đến năm 2020
Để đổi mới và phát triển dạy nghề một cách căn bản, toàn diện, góp phần
phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ quá trình công nghiệp hoá
và hiện đại hoá đất nước, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào
năm 2020 đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn cho dạy nghề. Theo tính toán của Tổng
cục dạy nghề, Bộ LĐTBXH, nhu cầu tài chính đầu tư cho đào tạo nghề để thực hiện
các nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn 2011-2020 nói chung là khoảng 489.650 tỷ
đồng, trong đó giai đoạn 2016-2020 là 293.790 tỷ đồng.
- Chia theo nguồn tài chính gồm:
+ NSNN là khoảng 161.585 tỷ đồng, chiếm 55%.
+ Các nguồn tài chính ngoài NSNN là khoảng 132.205 tỷ đồng, chiếm 45%;
trong đó: Nguồn từ học phí là 92.545 tỷ đồng, chiếm 70%; Nguồn từ thu hoạt động
sản xuất kinh doanh dịch vụ là 10.576 tỷ đồng, chiếm 8%; Nguồn từ đầu tư tài trợ
của các tổ chức, cá nhân trong nước 11.898 tỷ đồng, chiếm 9% và Nguồn từ đầu tư
tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước 17.186 tỷ đồng, chiếm 13%.
- Chia theo tính chất của khoản chi gồm:
+ Chi thường xuyên: 205.653 tỷ, chiếm 70% nhu cầu tài chính đầu tư cho
đào tạo nghề trong giai đoạn này. Trong đó riêng chi lương và các khoản theo lương
cho giáo viên, cán bộ quản lý đào tạo nghề là khoảng 76.092 tỷ đồng, chiếm khoảng
37% chi thường xuyên.
+ Chi đầu tư phát triển gồm: 88.137 tỷ, chiếm 30% nhu cầu tài chính đầu tư
cho đào tạo nghề trong giai đoạn này và được xác định trên cơ sở nhu cầu vốn đầu
tư xây dựng mới CSDN, nhu cầu vốn đầu tư nâng cấp, mở rộng để chống xuống cấp
và đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo nghề; CTMTQG
114
cho đào tạo nghề để hỗ trợ phát triển dạy nghề, đặc biệt là dạy nghề chất lượng cao
về các nội dung: đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo nghề, phát triển
chương trình, giáo trình, phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý đào tạo nghề;
hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đối tượng chính sách xã hội...
Riêng nhu cầu nguồn lực tài chính để thực hiện Dự án “Đổi mới và nâng cao
chất lượng giáo dục nghề nghiệp” là 15.018 tỷ đồng gồm hoạt động sau:
Hoạt động 1: Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, hoạt động dạy và
học nghề: 590 tỷ đồng;
Hoạt động 2: Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề cho các nghề
trọng điểm: 9.730 tỷ đồng;
Hoạt động 3: Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề: 1.740
tỷ đồng
Hoạt động 4: Phát triển chương trình, đào tạo thí điểm, xây dựng danh mục
thiết bị dạy nghề: 1615 tỷ đồng
Hoạt động 5: Phát triển hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp:
445 tỷ đồng
Hoạt động 6: Phát triển hệ thống đánh giá kỹ năng nghề quốc gia: 505 tỷ đồng
Hoạt động 7: Hỗ trợ đào tạo trình độ cao cho lao động đi làm việc ở nước
ngoài: 93 tỷ đồng;
Hoạt động 8: Tư vấn hướng nghiệp cho học sinh, sinh viên: 300 tỷ đồng.
Như vậy, nhu cầu nguồn lực tài chính cho đào tạo nghề trong thời gian tới là
rất lớn, việc nghiên cứu, đề xuất những giải pháp tài chính để khai thác, quản lý và sử
dụng có hiệu quả nguồn vốn nêu trên là vô cùng cấp thiết.
3.3. GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH CHO ĐÀO TẠO NGHỀ CHẤT LƯỢNG CAO
Ở VIỆT NAM
3.3.1. Đầu tư tập trung cho một số trường để hình thành hệ thống các
trường nghề chất lượng cao
Như đã phân tích ở trên, với nguồn lực hạn chế thì việc lựa chọn giải pháp tài
chính phù hợp để nâng cao hiệu quả đầu tư là hết sức cần thiết. Việc lựa chọn một
số trường để tập trung đầu tư thành các trường chất lượng cao như là những đầu tầu
có đủ năng lực đào tạo đội ngũ lao động chất lượng cao trước mắt ở một số nghề
được các nước tiên tiến trong khu vực ASEAN hoặc quốc tế công nhận, góp phần
115
đổi mới căn bản, toàn diện đào tạo nghề ở Việt Nam và đáp ứng yêu cầu nhân lực
chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Qua đó, giúp học sinh
tốt nghiệp có nhiều cơ hội việc làm trong và ngoài nước trước bối cảnh Việt Nam
tham gia cộng đồng khu vực ASEAN, việc di chuyển lao động rất dễ dàng. Các
trường này sau đó sẽ chuyển giao, nhân rộng mô hình và nâng cao chất lượng đào
tạo cho toàn hệ thống.
Ngày 23/5/2014, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 761/QĐ-
TTg về Đề án phát triển các trường nghề chất lượng cao đến năm 2020. Theo đó, đã
lựa chọn 45 trường cao đẳng nghề và trung cấp nghề trong cả nước để đầu tư tập
trung, phát triển thành trường nghề chất lượng cao để đào tạo nhân lực kỹ thuật trực
tiếp trong sản xuất, dịch vụ có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp cao,
nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của người lao động và của quốc gia. Theo tác
giả, để thực hiện thành công Đề án, cần thực hiện những nội dung sau:
- Các Bộ, ngành, địa phương chủ động sớm xây dựng và bổ sung quy hoạch,
kế hoạch phát triển trường nghề chất lượng cao theo Quyết định 761/QĐ-TTg vào
trong quy hoạch, kế hoạch 5 năm và hàng năm về phát triển kinh tế - xã hội và phát
triển nhân lực của Bộ, ngành, địa phương. Tiếp theo cần thực hiện đa dạng hóa
nguồn lực, từ vốn tự có của cơ sở đào tạo, nguồn hỗ trợ của doanh nghiệp (trực tiếp
hoặc gián tiếp) và các nguồn lực khác để tập trung đầu tư theo nguyên tắc phù hợp
và hiệu quả để sớm đạt được sáu tiêu chí của trường chất lượng cao.
- Ban hành Thông tư quy định chi tiết về tiêu chí, cách thức và quy trình
đánh giá, công nhận trường nghề đạt tiêu chuẩn chất lượng cao; xây dựng và áp
dụng hệ thống quản lý chất lượng đào tạo ở các trường.
- Xây dựng phương án, lộ trình đầu tư các trường nghề chất lượng cao giai đoạn
2016-2020 trình cấp có thẩm quyền phê duyệt trên cơ sở kết quả đánh giá, phân loại
các trường theo 06 tiêu chí của trường nghề chất lượng cao.
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính
xây dựng, hoàn thiện một số cơ chế, chính sách đặc thù áp dụng riêng cho trường
nghề chất lượng cao như quyền tự chủ của các đơn vị về tổ chức bộ máy, nhân sự,
tài chính thậm chí là tự chủ về đảm bảo chất lượng đào tạo...
- Về hợp tác quốc tế: Việc xác định hợp tác quốc tế trong đào tạo nghề, nhất
là đào tạo nghề chất lượng cao là hết sức quan trọng và cần thiết; theo đó, tại Quyết
116
định số 761/QĐ-TTg ngày 23/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ cũng đã xác định cơ
chế tài chính để thực hiện Đề án phát triển trường nghề chất lượng cao đến năm
2020, ngoài nguồn Ngân sách trung ương và địa phương hỗ trợ thì việc “Đẩy mạnh
việc huy động và lồng ghép các nguồn lực tài chính từ các chương trình, dự án
ODA, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để hỗ trợ đầu tư tăng cường các
điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo của các trường nghề chất lượng cao” là một
trong những nguồn lực quan trọng để thực hiện các nội dung của Đề án.
Trong giai đoạn 2016 - 2020, cần tập trung vào các mục tiêu trọng tâm, trọng
điểm có tính chất hỗ trợ kỹ thuật (như phát triển hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề
quốc gia; chương trình, giáo trình đào tạo; đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý đào
tạo nghề; đánh giá kiểm định chất lượng đào tạo nghề; số hóa, mô phỏng hóa các
hoạt động quản lý của trường và chương trình đào tạo các nghề trọng điểm…) có
tính chất tác động sâu rộng đến toàn ngành, cũng như phục vụ trực tiếp cho việc
hình thành các trường nghề chất lượng cao. Đồng thời nhằm tạo sự đột phá về chất
lượng và phát triển quy mô đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực có tay nghề cho
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước. Vì vậy, trong giai đoạn tới đề
nghị các nhà tài trợ tham gia các hoạt động có tính chất hỗ trợ kỹ thuật nêu trên để
đào tạo nghề Việt Nam sớm được các nước tiên tiến trên thế giới và khu vực công
nhận lẫn nhau về kỹ năng nghề và trình độ đào tạo, cũng như học tập kinh nghiệm
của các nhà tài trợ trong việc triển khai, quản lý các hoạt động đào tạo trong đào tạo
nghề nói riêng và giáo dục nghề nghiệp nói chung. Đảm bảo trong những năm tới
chúng ta sẽ có được đội ngũ lao động được đào tạo có tay nghề cao, được công nhận
trong ASEAN và trên thế giới.
- Ngoài ra, có chính sách khuyến khích các cơ sở đào tạo nghề công lập và
ngoài công lập không trong danh sách ưu tiên đầu tư tại Quyết định 761, đặc biệt
các trường ngoài công lập chủ động huy động các nguồn lực đầu tư để đạt các tiêu
chí và được công nhận là trường chất lượng cao, góp phần đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao cho xã hội.
3.3.2. Tiếp tục thực hiện đầu tư theo nghề trọng điểm
Qua đánh giá tình hình thực hiện đầu tư nghề trọng điểm thời gian qua tác
giả nhận thấy đây là một giải pháp tài chính hiệu quả và vẫn là giải pháp phù hợp
cho việc đào tạo nghề chất lượng cao trong thời gian tới. Để nâng cao hiệu quả đầu
117
tư hơn nữa cho giải pháp tài chính này trong thời gian tới, theo tác giả cần phải thực
hiện những nội dung sau:
Thứ nhất, rà soát lại danh mục nghề trọng điểm và các cấp độ nghề trọng điểm
Đào tạo nghề phải phát triển trên cơ sở phát triển thị trường đào tạo, thị
trường lao động và thị trường việc làm, chịu sự điều tiết của các quy luật của thị
trường (quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh). Như vậy đào tạo
nghề phải là dịch vụ xã hội và khi đó tự thân trở về với bản chất vốn có là đáp ứng
nhu cầu xã hội. Với tư duy đó, “nghề trọng điểm” phải là nghề do thị trường lao
động quyết định, với sự định hướng, điều tiết của nhà nước, chứ không phải là
“nghề” muốn theo ý chí chủ quan. Hơn nữa, nghề trọng điểm trước hết phải được
tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo và đảm bảo được chất lượng đầu ra theo yêu cầu
của thị trường lao động đối với nghề đó.
Do đó, cần căn cứ vào yêu cầu phát triển nhân lực có tay nghề của ngành, địa
phương và dựa trên cơ sở nhu cầu thực tế về nguồn nhân lực có tay nghề cao của thị
trường lao động để rà soát các lĩnh vực ưu tiên phát triển của nền kinh tế trong thời
gian tới, chú trọng đến những lĩnh vực mới, công nghệ xanh...và phân lớp ưu tiên để
đầu tư. Các Bộ chủ quản cần chủ động lập kế hoạch và lộ trình đầu tư đồng bộ cho
các nghề trọng điểm trên cơ sở đánh giá hiệu quả đầu tư các giai đoạn trước đây
(bao gồm cả việc điều chỉnh nghề đầu tư). Không phân biệt giữa trường công và
trường tư trong lĩnh vực đầu tư, mà phải căn cứ vào hiệu quả đầu tư đối với nền
kinh tế và tới người học như thế nào, người học có dễ dàng tìm kiếm việc làm ổn
định, bền vững trong lĩnh vực nghề nghiệp được đào tạo hay không. Như vậy, Bộ
LĐTBXH phải chủ trì, phối hợp với các Bộ/ngành/địa phương rà soát và ban hành
danh mục các nghề trọng điểm cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội
trong giai đoạn tới.
Về cấp trình độ nghề trọng điểm, đề nghị bỏ cấp trình độ ASEAN, chỉ còn
tồn tại hai cấp trình độ là quốc gia và quốc tế do các nước trong khu vực ASEAN
cũng không hơn nhiều Việt Nam, hơn nữa các nước trong khu vực nói chung và
Việt nam nói riêng phải tham gia vào thị trường lao động quốc tế và phải được đánh
giá, công nhận theo tiêu chuẩn của các tổ chức kiểm định quốc tế. Do đó,để thực
hiện mục tiêu đào tạo nghề đạt đẳng cấp quốc tế theo con đường ngắn nhất, cũng
như thuận tiện cho việc công nhận bằng cấp lẫn nhau giữa Việt Nam và nước
118
chuyển giao bộ chương trình nên tiếp cận ngay tất cả các nghề cấp độ quốc tế. Mặt
khác có những nghề trùng nhau thì việc phải nhập khẩu cả quốc tế và ASEAN sẽ
mất nhiều kinh phí trong khi khả năng cân đối ngân sách là hạn hẹp.
Thứ hai, rà soát lại danh sách các cơ sở đào tạo nghề trọng điểm
Trên cơ sở các danh mục nghề trọng điểm phù hợp với tình hình phát triển
kinh tế xã hội, cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo nghề phải thực hiện sắp xếp lại
mạng lưới cơ sở dạy nghề tham gia đào tạo nghề trọng điểm hợp lý để nâng cao chất
lượng đào tạo mà giảm được chi phí đầu tư. Cần tính đến yếu tố vùng miền, dân số...
trên địa bàn. Cần có sự bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các loại hình trường,
công lập hay tư thục...Trên cơ sở tiềm lực hiện tại và tương lai của nhà trường cần
xác định nghề trọng điểm tham gia đào tạo để có định hướng và lộ trình đầu tư nghề
trọng điểm cho phù hợp. Tránh tình trạng đầu tư nghề trọng điểm nhưng không có
học sinh và ngược lại nghề có nhu cầu người học thì lại không được đầu tư.
Thứ ba, về quản lý và sử dụng nguồn kinh phí đầu tư nghề trọng điểm
Huy động tối đa các nguồn lực tập trung để đầu tư đồng bộ cho các nghề
trọng điểm. Trước mắt, nguồn kinh phí NSNN phân bổ qua các Dự án thuộc
Chương trình mục tiêu và chương trình mục tiêu quốc gia phải là nguồn kinh phí
chủ đạo. Để phát huy tối đa hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí này, cần chú ý các nội
dung sau:
- Để tránh bị động trong triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, Thủ
tướng Chính phủ cần chỉ đạo các Bộ Tài chính, Bộ KH-ĐT sớm dự kiến số kinh phí
phân bổ cho các Dự án dạy nghề hàng năm và từng giai đoạn để Bộ LĐTBXH chủ
động đề xuất những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể và hướng dẫn các cơ quan, đơn vị
thực hiện. Đồng thời sớm ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung cơ chế quản lý,
điều hành thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia tại Quyết định 135/QĐ-
TTg theo hướng quy định rõ hơn vai trò, trách nhiệm của cơ quan quản lý Chương
trình/dự án và cơ quan thực hiện dự án ở các cấp, nhất là trong việc phân bổ, quản
lý kinh phí thực hiện Dự án. Tiếp tục thực hiện các dự án dạy nghề vốn
CTMT/CTMTQG giai đoạn 2 (2016-2020) để triển khai những mục tiêu, nhiệm vụ
của giai đoạn 2011-2015 chưa thực hiện được do thiếu nguồn lực; hỗ trợ hệ thống
đào tạo nghề chuẩn bị những điều kiện cần thiết để thực hiện có hiệu quả Chiến
119
lược phát triển đào tạo nghề và Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị
Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT trong thời kỳ mới.
- Trong điều hành ngân sách hàng năm, Bộ Tài chính cân nhắc cho phép số
dư kinh phí (từ nguồn vốn sự nghiệp) của Dự án không sử dụng hết trong năm được
chuyển năm sau tiếp tục sử dụng và thanh quyết toán. Cần sửa đổi quy định về chi
mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác đào tạo nghề thực hiện theo quy định tại
Thông tư số 68/2012/TT-BTC quy định việc đấu thầu để mua sắm tài sản nhằm duy
trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội (vì quy định hiện hành nhiều địa phương áp dụng quy định về đấu thầu
trong quản lý đầu tư xây dựng, rất phức tạp về thủ tục và quy trình thực hiện, gây
khó khăn cho các cơ sở trong thực hiện).
- Đối với các Bộ, ngành, địa phương là cơ quan thực hiện các Dự án dạy
nghề vốn CTMTQG cần phê duyệt dự án đầu tư nghề trọng điểm đảm bảo đúng nội
dung, mục tiêu, nhiệm vụ của từng dự án theo hướng dẫn. Do cân đối NSNN hạn
chế, cần tập trung cho các nhiệm vụ trọng tâm theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm
quyền, không phân bổ kinh phí phân tán, dàn trải; ưu tiên tập trung phân bổ kinh phí
cho những trường có điều kiện khai thác, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, thiết
bị được đầu tư; không đầu tư cho những CSDN xét thấy hiệu quả đầu tư thấp,
không thu hút được học sinh học nghề. Các Bộ, ngành, địa phương chủ động huy
động thêm các nguồn lực khác để đảm bảo kinh phí thực hiện các nhiệm vụ và chỉ
tiêu kế hoạch dạy nghề. Đồng thời, rà soát, kiểm tra tình hình quản lý, sử dụng cơ
sở vật chất, thiết bị đào tạo nghề đã đầu tư cho các trường. Đối với các CSDN đã
được đầu tư thiết bị dạy nghề từ những năm trước nhưng không khai thác sử dụng có
hiệu quả thì tạm dừng phân bổ kinh phí từ năm 2016 và thực hiện ngay việc điều
chuyển thiết bị đã được đầu tư sang cho các CSDN khác có khả năng tiếp nhận và khai
thác sử dụng hiệu quả hơn.
- Đối với các trường được hỗ trợ đầu tư:
+ Nghiêm túc sử dụng kinh phí để đầu tư đúng nghề trọng điểm đã được rà
soát, thẩm định và phê duyệt. Tránh tình trạng khi được cấp kinh phí đơn vị sử dụng
sai mục tiêu của Dự án, chương trình.
+ Các trường khác cần ưu tiên nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán
bộ quản lý dạy nghề đạt chuẩn quy định; tập trung nguồn lực đầu tư trước nghề
120
trọng điểm có thế mạnh, có kinh nghiệm trong đào tạo, có khả năng tuyển sinh được
tốt; tạm dừng đầu tư những nghề chưa tuyển sinh. Các trường cần tuân thủ nghiêm
chỉnh quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng nguồn kinh phí được giao; chú ý
lựa chọn những đối tác có năng lực tốt, có uy tín và kinh nghiệm trong lĩnh vực này
để đảm bảo hiệu quả đầu tư của NSNN. Bố trí, sắp xếp và quản lý, sử dụng cơ sở
vật chất, thiết bị đào tạo nghề đã được đầu tư đảm bảo khoa học, hợp lý và hiệu quả.
Thứ tư, về cơ sở vật chất
- Hoàn thiện các quy định về chuẩn tối thiểu của các nghề được đầu tư trọng
điểm theo các cấp độ, từ đó có định hướng đầu tư phù hợp. Đối với các nghề trọng
điểm quốc gia, xây dựng và ban hành tiêu chuẩn cơ sở vật chất, danh mục thiết bị
đào tạo nghề. Đối với các nghề cấp độ khu vực và quốc tế, tiếp nhận và áp dụng tiêu
chuẩn cơ sở vật chất, danh mục thiết bị đào tạo nghề của các nước tiên tiến trên thế
giới trên cơ sở chương trình đào tạo được chuyển giao.
- Trên cơ sở quy chuẩn tối thiểu theo chương trình đào tạo hoặc danh mục
nghề tối thiểu của từng nghề, các cơ sở đào tạo nghề phải đánh giá lại cơ sở vật chất
thiết bị hiện có để có phương án đầu tư cho hiệu quả, tránh lãng phí trong việc mua
sắm về nhưng lại không có nhu cầu sử dụng hoặc mua sắm những thiết bị không
phù hợp với chương trình đào tạo.
- Cần tiếp tục đầu tư, chuyển giao công nghệ mới cho các cơ sở đào tạo.
Từng bước hình thành “doanh nghiệp trong nhà trường” và “nhà trường trong doanh
nghiệp”, để tận dụng tối đa năng lực máy móc, trang thiết bị của cơ sở đào tạo và
doanh nghiệp, gắn đào tạo với việc làm và thực tiễn sản xuất, tránh đầu tư tràn lan,
kém hiệu quả.
- Để khắc phục tình trạng khai thác, sử dụng không hết công suất của tài sản,
thiết bị dạy nghề đã được đầu tư do quy mô đào tạo nhỏ, hoặc do thời gian thực
hành, thực tập chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong chương trình đào tạo, hoặc do không tuyển
sinh được…cần phải có cơ chế, chính sách để các CSDN tổ chức sản xuất, dịch vụ
gắn với đào tạo và khuyến khích doanh nghiệp cùng tham gia liên doanh, liên kết
khai thác cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề đã được đầu tư. Toàn bộ nguồn thu được
từ hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ đi chi phí hợp lý có liên quan được
đưa vào quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp phục vụ cho công tác đào tạo nghề.
121
3.3.3. Đổi mới cơ chế phân bổ, giao dự toán chi thường xuyên ngân sách
nhà nước hàng năm cho đào tạo nghề theo hướng chuyển sang cơ chế đấu thầu,
đặt hàng hay giao nhiệm vụ theo kết quả đầu ra
Qua việc thực hiện thí điểm đặt hàng đào tạo nghề cho thấy đặt hàng đào tạo
nghề sử dụng là một chính sách lớn và đúng đắn của Nhà nước nhằm từng bước đổi
mới cơ chế giao chỉ tiêu kế hoạch, ngân sách đối với các dịch vụ sự nghiệp công nói
chung và dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực đào tạo nghề nói riêng. Do chủ
động được nguồn kinh phí nên các cơ sở đào tạo nghề chủ động được kế hoạch đào
tạo, đào tạo nghề chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của người sử dụng lao động, phù
hợp với chính sách đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập,
đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công và đối mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Việc
đặt hàng đào tạo nghề sẽ tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN, tạo điều
kiện phát triển cân đối, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực của đất nước. Đào tạo
nghề theo cơ chế đặt hàng đã gắn kết giữa các Tổng công ty, doanh nghiệp (gọi tắt
là người sử dụng lao động) với các cơ sở đào tạo nghề. Người sử dụng lao động đã
cùng cơ sở đào tạo nghề: quản lý, đào tạo nghề và hỗ trợ cho học sinh trong thời
gian đào tạo nghề và nhận học sinh sau khi tốt nghiệp. Cơ sở đào tạo nghề đã đào
tạo theo nhu cầu của người sử dụng lao động, tránh lãng phí về thời gian, tài chính
cho xã hội và người học. Cơ bản học sinh sau khi tốt nghiệp có việc làm ngay và
đúng nghề đào tạo. Chất lượng học sinh sau khi tốt nghiệp đã đáp ứng được yêu cầu
của doanh nghiệp. Vì vậy, việc tiếp tục thực hiện chính sách đặt hàng đào tạo nghề
đặc biệt đào tạo nghề chất lượng cao là một việc làm bức thiết và phải cụ thể hóa
bằng một Đề án của Chính phủ. Để thực hiện tốt chính sách này, theo tác giả cần
phải triển khai các nội dung sau:
- Trước mắt cần triển khai cơ chế đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ tổ chức
đào tạo đối với các cơ sở đào tạo nghề cung ứng dịch vụ đào tạo một số ngành nghề
trọng điểm, nghề đáp ứng nhu cầu cho các ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước;
nghề nặng nhọc, độc hại, khó tuyển sinh mà nhu cầu sản xuất đang cần tuyển dụng;
nghề mà thị trường thiếu nhưng do chi phí đào tạo cao nên các trường đào tạo nghề
không muốn đào tạo.
122
- Đơn giá đấu thầu, đặt hàng hay giao nhiệm vụ phải được xây dựng trên cơ
sở định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí do cơ quan có thẩm quyền ban
hành và lộ trình tính đủ chi phí. Do đó, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cần
sớm trình ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền: danh mục dịch vụ sự nghiệp
công sử dụng NSNN; hướng dẫn xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật và ban hành
định mức kinh tế kỹ thuật của từng nghề theo thẩm quyền. Trên cơ sở đó ban hành
khung giá dịch vụ sự nghiệp trong lĩnh vực đào tạo nghề để hình thành đơn giá đấu
thầu, đặt hàng hay giao nhiệm vụ theo kết quả đầu ra.
- Sớm ban hành Nghị định quy định về cơ chế tự chủ của các đơn vị sự
nghiệp công lập trong lĩnh vực đào tạo nghề. Theo đó, có cơ chế khuyến khích đặt
hàng đào tạo nghề đối với các cơ sở đào tạo nghề tự chủ ở mức độ cao nhất.
- Hoàn thiện các quy định về đăng ký hoạt động dạy nghề; xếp hạng cơ sở
dạy nghề; kiểm định chất lượng cơ sở dạy nghề và kiểm định chương trình đào tạo
nghề để làm. Theo đó, ưu tiên đặt hàng đào tạo nghề cho các cơ sở đào tạo nghề đạt
chuẩn kiểm định cao.
- Khi chưa triển khai đại trà được hình thức đấu thầu đặt hàng thì khi cấp
ngân sách cho các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực đào tạo nghề đặc biệt là
nguồn chương trình mục tiêu hay chương trình mục tiêu quốc gia cần phải xem xét
đến chỉ tiêu tuyển sinh do đơn vị thực hiện, không xét đến bộ máy hành chính của
đơn vị do hiện nay, một số đơn vị thực hiện tuyển sinh kém nhưng bộ máy cồng
kềnh song có đơn vị tuyển sinh được và quản trị tốt với bộ máy gọn nhẹ mà vẫn cấp
ngân sách theo biên chế hành chính sẽ dẫn tới không công bằng giữa các đơn vị,
ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng đào tạo nghề.
3.3.4. Triển khai hiệu quả việc thí điểm đào tạo các nghề trọng điểm cấp độ
khu vực ASEAN và quốc tế
Như đã trình bày ở trên, việc thực hiện đào tạo theo các bộ chương trình
được chuyển giao từ các nước tiên tiến trong khu vực và quốc tế là con đường tiếp
cận nhanh nhất trong đào tạo nghề chất lượng cao, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam
gia nhập cộng đồng ASEAN và TPP nhằm học tập các khâu trong quá trình đào tạo
để đảm bảo chất lượng học sinh sinh viên sau tốt nghiệp được tổ chức kiểm định có
uy tín trên thế giới đánh giá và công nhận.
123
Khi chưa có đủ các điều kiện cả về cơ sở vật chất cũng như đội ngũ giáo viên
và các điều kiện khác để triển khai đại trà về đào tạo nghề chất lượng cao, theo tác
giả cần triển khai thí điểm việc thực hiện đào tạo theo chương trình chuyển giao của
các nước tiên tiến trên thế giới. Trước mắt là triển khai tổ chức thí điểm đào tạo đối
với 08 nghề đã chuyển giao từ Malaysia và 12 nghề đã chuyển giao từ Úc. Sau khi
hoàn thành việc thí điểm đào tạo cần đánh giá, rút kinh nghiệm để nhân rộng triển
khai đại trà.
(1) Kết quả đầu ra sau đào tạo như sau:
- Hoàn thành chương trình đào tạo, sinh viên được đánh giá kết quả đầu ra,
nếu đạt yêu cầu sẽ được cấp bằng 02 bằng: 01 bằng cao đẳng do cơ sở đào tạo của
Việt Nam và 01 bằng Diploma (hoặc Advance Diploma) do cơ sở đào tạo của Úc cấp.
- Trước khi tốt nghiệp, sinh viên phải đạt các yêu cầu về ngoại ngữ và tin học
được cơ sở đào tạo nước ngoài công nhận. Yêu cầu về ngoại ngữ tiếng Anh đạt trình
độ tối thiểu bậc 3 theo khung năng lực ngoại ngữ (tương đương CEFR là B1 và
TOEIC là 450-600 điểm).
(2) Yêu cầu về các điều kiện đảm bảo chất lượng như sau:
- Về chương trình đào tạo: Dựa trên chương trình đào tạo của 20 nghề đã
được chuyển giao, cần lập Hội đồng tư vấn chuyên gia để xem xét điều chỉnh cho
phù hợp với Việt Nam, cụ thể mỗi nghề cần được thiết kế 2 phần: các môn học
chung theo quy định của Việt Nam (để kết thúc khóa học được cấp bằng cao đẳng
của Việt Nam) và phần chuyên môn nghề là chương trình được chuyển giao từ Úc
tương ứng theo từng nghề.
- Về giáo viên, giảng viên tham gia đào tạo thí điểm: Giáo viên, giảng viên
phải đáp ứng các quy định hiện hành chung đối với người dạy nghề và đảm bảo các
yêu cầu sau:
+ Phải đạt chuẩn theo quy định của nước chuyển giao (Úc, Malaysia) hoặc
của tổ chức giáo dục, đào tạo quốc tế được Úc, Malaysia công nhận.
+ Có trình độ tiếng Anh tối thiểu đạt bậc 2 theo khung năng lực ngoại ngữ
của Việt Nam (tương đương CEFR là A2 và TOEIC là 225 - 400 điểm) để giảng
dạy năm thứ nhất; giáo viên tham gia giảng dạy từ năm thứ 2 có trình độ tiếng Anh
tối thiểu bậc 3 theo khung năng lực ngoại ngữ của Việt Nam (tương đương CEFR là
B1 và TOEIC là 450-600 điểm).
124
+ Có trình độ tin học C hoặc IC3 hoặc tương đương và ứng dụng được công
nghệ thông tin trong giảng dạy;
- Về cơ sở vật chất thiết bị: danh mục thiết bị đào tạo và nhà xưởng văn
phòng phải đáp ứng theo yêu cầu của chương trình đào tạo và số lượng sinh viên dự
kiến đào tạo.
- Điều kiện với người học: Đảm bảo đủ điều kiện theo quy định chung đối
với người tham gia học nghề trình độ cao đẳng và có trình độ tiếng Anh tối thiểu
bậc 2 theo khung năng lực ngoại ngữ của Việt Nam (tương đương CEFR là A2 và
TOEIC là 225-400 điểm)
- Ngôn ngữ giảng dạy bằng Tiếng Việt và tiếng Anh, thời gian sử dụng tiếng
Anh trong giảng dạy và học chuyên môn được tăng dần: năm thứ nhất có thời lượng
giảng dạy chuyên môn bằng tiếng Anh là 20-30%, nâng dần đến năm cuối khoảng
60-80%.
(3) Để việc thực hiện đào tạo thí điểm đạt hiệu quả, cần thực hiện những nội
dung sau:
- Xác định số lớp và học sinh đào tạo thí điểm: mỗi nghề thực hiện thí điểm
khoảng 2 lớp, mỗi lớp tối đa 25 học sinh x 20 nghề.
- Trên cơ sở yêu cầu về các tiêu chí đảm bảo chất lượng, các cơ sở dự kiến
tham gia đào tạo thí điểm rà soát để có kế hoạch đầu tư mua sắm và đào tạo bồi
dưỡng. Cần thuê chuyên gia nước ngoài (tốt nhất là nước chuyển giao chương trình)
thực hiện kiểm định các điều kiện đảm bảo chất lượng theo nội dung các trường đã
thực hiện rà soát để có sự đánh giá khách quan trước khi quyết định cho phép thực
hiện đào tạo. Ưu tiên lựa chọn trường có đủ các điều kiện nhất để thực hiện, trường
hợp còn thiếu một số ít tiêu chuẩn theo yêu cầu các trường phải trình cơ quan chủ
quản cam kết phương án đầu tư trong thời gian năm đầu (khi đang dạy môn chung
và tiếng Anh).
Khó khăn nhất trong quá trình triển khai có lẽ là trình độ tiếng Anh của cả
thầy và trò. Do đó, đối với việc thiếu điều kiện tiếng anh của cả giáo viên và học
sinh thì cần cam kết đạt trình độ tiếng Anh trước khi bắt đầu vào chuyên môn, bổ
sung trong thời gian học các môn chung. NSNN bổ sung nội dung hỗ trợ học tiếng
Anh cho người học để có được số học viên cần thiết.
125
- Thuê chuyên gia do các nước chuyển giao chương trình đề xuất có đủ năng
lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm để hướng dẫn và hỗ trợ giáo viên của từng
trường tham gia đào tạo thí điểm; đồng thời theo dõi giám sát trong suốt quá trình tổ
chức đào tạo để đảm bảo chất lượng và tham gia đánh giá công nhận kết quả đầu ra
cho sinh viên tốt nghiệp.
- Về kinh phí thực hiện các nội dung đào tạo thí điểm: do là thí điểm nên
việc thực hiện các nội dung từ khâu chuyển giao chương trình, thuê chuyên gia
kiểm định, chi phí đào tạo đều do Bộ Tài chính quyết định thông qua Hội đồng
thẩm định giá. Riêng nội dung chi phí đào tạo khi xây dựng định mức chi phí cần
dựa trên cơ sở định mức kinh tế - kỹ thuật. Tuy nhiên, hiện nay Bộ LĐTBXH chưa
ban hành được hướng dẫn xây dựng và định mức kinh tế - kỹ thuật nên cần thành
lập Hội đồng chuyên gia căn cứ chương trình đào tạo xây dựng định mức kinh tế kỹ
thuật tạm thời trình Bộ trưởng Bộ LĐTBXH ban hành.
Việc xác định chi phí đào tạo cần thực hiện tính đúng, tính đủ chi phí
theo chương trình đào tạo được chuyển giao; đảm bảo đúng mục đích, tiết
kiệm, hiệu quả.
Việc thực hiện đào tạo thí điểm thực hiện theo hình thức đặt hàng, giao
nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN quy định. Đơn giá trên
cơ sở thẩm định giá của Hội đồng thẩm định. Tuy nhiên, các trường cần được chủ
động chi tiêu trong tổng dự toán được duyệt, không cần theo định mức quy định
miễn đáp ứng yêu cầu chất lượng đào tạo và toàn bộ kinh phí thực hiện hợp đồng
không phải làm thủ tục chuyển số dư khi chưa quyết toán cuối cùng do một khóa
đào tạo sẽ kéo dài từ 2-3 năm.
Trong quá trình đào tạo, cơ quan quản lý Nhà nước là Tổng cục Dạy nghề
phải thường xuyên phối hợp với các đơn vị hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra giám sát.
Sau mỗi kỳ học, năm học, và khi kết thúc khóa học cần tổ chức sơ kết, tổng kết,
đánh giá rút kinh nghiệm cho từng nghề đào tạo nhằm hoàn thiện chương trình đào
tạo, xây dựng quy trình tổ chức đào tạo, quy chế đào tạo, quy trình và cách thức
công nhận bằng cấp đào tạo với tổ chức giáo dục, đào tạo của nước ngoài để trình
Bộ ban hành nhằm tiến tới thực hiện đào tạo nhân rộng cho các nghề trọng điểm
quốc tế khác. Theo đó, cũng cần đề xuất chính sách phù hợp cho người dạy và
người tốt nghiệp chương trình đào tạo này.
126
3.3.5. Triển khai hiệu quả cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công
lập trong lĩnh vực đào tạo nghề
Thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài
chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập (Nghị định số 43/2006/NĐ-CP), các đơn vị
đã chủ động hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, quản lý và sử dụng
kinh phí; công tác quản lý trong nội bộ được tăng cường, các nguồn lực được sử
dụng hiệu quả hơn, thúc đẩy phát triển hoạt động sự nghiệp, khai thác nguồn thu để
tăng thu, tiết kiệm chi góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo nghề. Tuy
nhiên, việc thực hiện tự chủ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP chưa được triệt để,
còn có một số bất cập hạn chế, cụ thể:
- Về thực hiện nhiệm vụ: Chưa có tiêu chí cụ thể về đánh giá mức độ hoàn
thành nhiệm vụ được giao, chưa có hệ thống đánh giá kết quả hoạt động theo kết
quả đầu ra.
- Về tổ chức bộ máy, biên chế: Các trường đều thuộc và trực thuộc một cơ
quan chủ quản, quyết định việc thành lập, chia tách, sáp nhập, giải thể các
trường; bổ nhiệm chủ tịch hội đồng trường và hiệu trưởng. Cơ quan chủ quản
còn quyết định biên chế, xếp bậc lương và trả lương cho cán bộ, giảng viên, viên
chức toàn trường.
- Về tài chính
+ Việc cấp phát của NSNN còn bình quân chưa gắn kết việc giao nhiệm vụ
cho đơn vị theo số lượng, khối lượng và chất lượng dịch vụ sự nghiệp công theo sản
phẩm đầu ra; vẫn còn tình trạng trông chờ, ỉ lại vào sự bao cấp của Nhà nước,
không khuyến khích đơn vị tăng thu, giảm chi NSNN cấp, không tạo động lực đổi
mới nâng cao chất lượng dịch vụ đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
+ Việc áp dụng khung học phí chung cho tất cả các cơ sở đào tạo nghề công
lập tạo ra sự bất bình đẳng giữa các trường tự chủ hoàn toàn và tự chủ một phần. Vì
vậy, hàng năm chênh lệch thu chi cho một suất đào tạo của các trường thường là
âm; với điều kiện là quy mô tuyển sinh không đổi, đội ngũ cán bộ, viên chức ổn
định; chưa tính đến các yếu tố lạm phát và thay đổi chính sách. Hệ quả là kinh phí
cho đầu tư hạn chế, nhỏ lẻ, dàn trải, chưa thực sự nâng cao chất lượng đào tạo một
127
cách thỏa đáng theo yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế.
+ Chưa được hạch toán đầy đủ các chi phí vào giá của sản phẩm đào tạo (chi
phí trực tiếp, chi quản lý và khấu hao tài sản cố định). Học phí đưa ra thấp hơn chi
phí cần thiết cung cấp dịch vụ nên dẫn đến Nhà nước hỗ trợ qua giá đối với tất cả
các đối tượng sử dụng dịch vụ sự nghiệp công, không phân biệt đối tượng giàu,
nghèo, có mức thu nhập khác nhau. Mặt khác do thu thấp hơn chi phí nên các đơn
vị không có điều kiện hạch toán đầy đủ chi phí và có tích lũy để tái đầu tư phát
triển, nâng cao khả năng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công.
+ Các khoản thu phí và lệ phí được xem là có nguồn gốc ngân sách và phải
nộp vào Kho bạc nhà nước để quản lý sử dụng. Điều này dẫn đến sự thiếu chủ động,
khó khăn trong việc sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài chính.
+ Việc phân cấp quản lý đầu tư, quản lý tài sản còn nhiều bất cập dẫn đến
nhiều khó khăn trong việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư cơ sở vật chất và sử
dụng hiệu quả tài sản của trường.
+ Các khoản thu sự nghiệp khác và thu khác chưa có các văn bản quy định và
hướng dẫn cụ thể để khuyến khích các đơn vị tăng cường huy động các nguồn lực.
+ Thiếu các văn bản hướng dẫn sử dụng các nguồn lực tài chính để đầu tư,
góp vốn, liên doanh liên kết.
Ngày 14/02/2015 Chính phủ ban hành Nghị định khung số 16/2015/NĐ-CP
quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập thay thế Nghị định số
43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006; theo đó yêu cầu từng lĩnh vực phải trình Thủ
tướng ban hành Nghị định hướng dẫn cụ thể. Về lĩnh vực đào tạo nghề (giáo dục
nghề nghiệp), các đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay đang đứng trước một số khó
khăn, bất cập khi đăng ký và thực hiện tự chủ do tâm lý học sinh, sinh viên và gia
đình không muốn học nghề; nguồn thu học phí thấp, nếu thu cao sẽ không có người
vào học nghề; nguồn thu dịch vụ sản xuất kinh doanh dịch vụ gắn với đào tạo có thể
tăng mạnh nhờ lợi thế về cơ sở vật chất, thiết bị, đội ngũ cán bộ, học sinh, sinh viên
có tay nghề nhưng lại chưa có cơ chế và chính sách khuyến khích đủ mạnh để tăng
nhanh nguồn thu này. Bên cạnh đó, nguồn thu từ NSNN thì hạn chế, đầu tư dàn trải
cho nhiều đơn vị. Do vậy, để giúp cho các đơn vị triển khai hiệu quả cơ chế tự chủ
128
của Chính phủ, ngoài các chính sách được quy định tại Nghị định khung 16 nói trên,
tác giả đề xuất cần sửa đổi, bổ sung chính sách về tự chủ đối với các đơn vị sự
nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (đào tạo nghề) giai đoạn tới
như sau:
a. Về cơ cấu tổ chức và bộ máy
- Đơn vị được góp vốn, liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước theo quy định của pháp luật để cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực
giáo dục nghề nghiệp, kết hợp với sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gắn với đào tạo
nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu xã hội nhưng phải phù hợp với lĩnh vực chuyên môn,
khả năng của đơn vị và đúng với quy định của pháp luật, đảm bảo tiếp tục cung cấp
dịch vụ công với chất lượng tốt hơn.
- Trường hợp thành lập cơ sở hạch toán độc lập, đơn vị phải xây dựng Đề án
báo cáo cơ quan quản lý cấp trên phê duyệt; cơ sở hạch toán độc lập phải hoạt động
theo nguyên tắc tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí
đầu tư.
b. Hỗ trợ tài chính của NSNN
- Nguồn vốn đầu tư
+ Đối với dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt nhưng chưa thực hiện,
đơn vị được huy động vốn theo phương thức trả lãi với lãi suất thỏa thuận tối đa
không quá 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại
thời điểm vay.
+ Đối với dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và đang được NSNN
bố trí vốn để thực hiện, đơn vị tiếp tục được nhà nước đầu tư theo kế hoạch.
+ Đối với dự án đã sử dụng các nguồn vốn theo quy định nhưng không đáp
ứng được tiến độ của các dự án, công trình: đơn vị được vay vốn tín dụng đầu tư
của Ngân hàng thương mại để bổ sung nguồn vốn đầu tư nhằm sớm đưa dự án, công
trình vào sử dụng; được sử dụng ngân sách chi đầu tư phát triển được giao những
năm sau trong phạm vi thời hạn thực hiện dự án theo quy định của pháp luật để trả
nợ gốc vay, lãi vay.
+ Đối với dự án đầu tư mới, đơn vị được nhà nước hỗ trợ phần chênh lệch lãi
suất giữa Ngân hàng thương mại và Ngân hàng phát triển.
129
- Nguồn vốn chi thường xuyên
+ Đối với các đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị tự
đảm bảo toàn bộ kinh phí chi thường xuyên: Được xem xét, hỗ trợ một lần kinh phí
vào năm đầu thực hiện chuyển đổi với mức tối đa bằng mức kinh phí thường xuyên
giao tự chủ cho đơn vị năm trước liền kề năm chuyển đổi.
+ Đối với những nghề chưa hoàn thiện được định mức kinh tế kỹ thuật thì
Nhà nước thực hiện hỗ trợ phần chưa kết cấu đủ vào giá theo lộ trình tính giá quy
định tại Điều 10 Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 về quy định cơ chế
tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập
+ Được Nhà nước ưu tiên đặt hàng, giao nhiệm vụ theo kết quả đầu ra đối
với các dịch vụ đào tạo các nghề sử dụng NSNN.
c. Hỗ trợ chính sách ưu đãi về thuế
- Miễn thuế đối với phần thu nhập không chia để lại để đầu tư phát triển đơn
vị sự nghiệp công.
- Miễn thuế đối với lợi nhuận thu được từ sản phẩm, dịch vụ được tạo ra từ
hoạt động đào tạo.
- Áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10%.
- Miễn lệ phí trước bạ đối với việc chuyển những tài sản thuộc quyền quản lý
và sử dụng của các đơn vị sự nghiệp công khi liên doanh liên kết.
- Được miễn thuế giá trị gia tăng các hàng hóa dịch vụ đầu vào của hoạt
động đào tạo.
- Được giảm thuế thu nhập cá nhân.
d. Cần có các văn bản quy định và hướng dẫn cụ thể
- Chính sách khuyến khích các đơn vị tăng cường huy động các nguồn lực từ
hoạt động sự nghiệp.
- Hướng dẫn sử dụng các nguồn lực tài chính để đầu tư, góp vốn, liên doanh
liên kết.
3.3.6. Tăng cường xã hội hóa nguồn lực tài chính cho hoạt động đào tạo nghề
chất lượng cao
Quan điểm xã hội hoá đầu tư đào tạo nghề giai đoạn 2016-2020 như sau:
- Phát triển sự nghiệp đào tạo nghề gắn liền với XHHDN nhằm phát huy
tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, xây dựng cộng đồng trách nhiệm của
130
toàn xã hội chăm lo sự nghiệp đào tạo nghề. Nhà nước tạo cơ hội bình đẳng để mọi
thành phần kinh tế và mọi người dân tham gia đào tạo nghề. Phát huy và khuyến
khích tối đa sự tham gia của người dân, của xã hội vào phát triển đào tạo nghề theo
hướng: lĩnh vực nào nhân dân làm được thì Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để
nhân dân làm.
- Tạo điều kiện để toàn xã hội, mọi người dân có cơ hội để học tập nghề
nghiệp suốt đời và được thụ hưởng các thành quả đào tạo nghề ở mức độ ngày càng
cao, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo, con em đồng bào dân tộc
thiểu số.
- Huy động nguồn lực của các ngành, các cấp, các tổ chức kinh tế xã hội và
cá nhân để phát triển đào tạo nghề; huy động trí tuệ, nguồn lực của toàn ngành, toàn
xã hội vào việc đổi mới nội dung, chương trình đào tạo nghề.
- Nhà nước tiếp tục tăng tỷ lệ chi ngân sách cho sự nghiệp phát triển đào tạo
nghề. Ưu tiên đầu tư vào những ngành, nghề mũi nhọn, trọng điểm đòi hỏi kỹ thuật
và công nghệ cao, những nghề đào tạo khó huy động nguồn lực từ xã hội; ưu tiên
đầu tư cho những vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người.
Như vậy, để khai thác các nguồn tài chính ngoài NSNN cho đào tạo nghề có
thể áp dụng những biện pháp vừa có tính pháp lý bắt buộc vừa khuyến khích sự tự
giác của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội. Theo tác giả, để huy động được nguồn lực
xã hội hóa tối đa cho đào tạo nghề giai đoạn tới, cần thực hiện những nội dung sau:
(1) Rà soát, sắp xếp lại hệ thống mạng lưới các cơ sở đào tạo nghề
Căn cứ vào nhu cầu phát triển nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ và thực trạng hoạt động của các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn các
Bộ, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội và Ủy ban nhân dân các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo rà soát, kiểm tra, đánh giá các cơ sở
đào tạo nghề thuộc phạm vi quản lý của ngành, địa phương theo các tiêu chí: kết
quả tuyển sinh; hiệu quả đào tạo; hiệu suất sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị; thực
trạng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo nghề. Trên cơ sở đó có phương án
sắp xếp, tái cấu trúc lại hệ thống các cơ sở đào tạo nghề theo hướng giảm đầu mối,
tăng quy mô để đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng đào tạo nghề,
cụ thể:
131
- Đối với các cơ sở công lập: có phương án chuyển giao, sáp nhập, giải thể
các cơ sở công lập đang gặp khó khăn, hoạt động không hiệu quả vào một cơ sở đào
tạo nghề có năng lực tốt hơn. Không thành lập mới thêm các cơ sở công lập; chỉ
xem xét, đề xuất thành lập mới hoặc nâng cấp từ trung cấp lên cao đẳng nghề đối
với các cơ sở cam kết tự chủ về chi thường xuyên và chi đầu tư khi được thành lập
mới hoặc nâng cấp.
- Đối với các cơ sở ngoài công lập: Hệ thống trường công hiện có không đáp
ứng được đầy đủ yêu cầu của xã hội về số lượng và chất lượng đào tạo nghề. Hơn
nữa, qua nghiên cứu cho thấy các trường ngoài công lập đã giải quyết tốt hơn các
trường công lập đối với một số yếu tố cơ bản về đào tạo nghề như đội ngũ giáo
viên, tổ chức quản lý, chương trình giáo trình... Các trường ngoài công lập thực sự
trở thành trường tự chủ về tài chính, nguồn thu đủ bù đắp chi phí, là nhân tố tích
cực để hỗ trợ nguồn NSNN trong tổng nguồn tài chính đầu tư cho đào tạo nghề. Tuy
nhiên, Nhà nước cần có những chính sách hợp lý, cụ thể để hệ thống trường ngoài
công lập phát huy được vai trò của mình, cụ thể:
+ Triển khai tích cực việc chuyển đơn vị sự nghiệp công lập sang công ty cổ
phần theo Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg ngày 22/6/2015 của Thủ tướng Chính
phủ. Các đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp, loại
hình ngoài công lập được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tài sản nhà
nước đã đầu tư theo quy định của pháp luật.
+ Thực hiện đơn giản các thủ tục hành chính trong việc thành lập các
CSDNNCL trên cơ sở quy định chặt chẽ, hướng dẫn chi tiết điều kiện thành lập,
điều kiện đăng ký hoạt động và thực hiện cơ chế hậu kiểm.
+ Hoàn thiện các quy định về mô hình, quy chế hoạt động của các CSDN
NCL, quy định chế độ tài chính và trách nhiệm của các CSDN hoạt động theo cơ chế
phi lợi nhuận và áp dụng cơ chế doanh nghiệp đối với các CSDN hoạt động theo cơ
chế lợi nhuận. Quy định điều kiện, thủ tục chuyển từ loại hình công lập sang các loại
hình NCL, thủ tục cổ phần hoá các cơ sở đào tạo nghề thuộc doanh nghiệp nhà nước.
+ Xây dựng và ban hành các chuẩn đánh giá chất lượng; hệ thống kiểm tra,
đánh giá và cấp văn bằng chứng chỉ nghề. Qua đó nhà nước quản lý được chất
lượng đào tạo nghề theo kết quả đầu ra.
132
+ Ban hành chính sách tài chính đối với các trường nghề thuộc doanh nghiệp
nhà nước nhằm khuyến khích sự tham gia, đóng góp của các doanh nghiệp cho phát
triển đào tạo nghề; gắn đào tạo nghề với nhu cầu lao động sản xuất và chương trình
phát triển của các doanh nghiệp, đồng thời đáp ứng nhu cầu lao động có nghề của
xã hội theo quan hệ cung cầu của thị trường lao động; duy trì và phát triển các cơ sở
đào tạo nghề thuộc các doanh nghiệp của mọi thành phần kinh tế nhằm đẩy mạnh
thực hiện chủ trương xã hội hoá hoạt động đào tạo nghề.
(2) Hoàn thiện chế độ thu học phí và chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên
Học phí học nghề là nguồn tài chính quan trọng để góp phần bảo đảm chi phí
cho các hoạt động dạy nghề. Trong cơ chế thị trường, yêu cầu giá cả cần tuân thủ các
quy luật của kinh tế thị trường như quy luật trao đổi ngang giá, quy luật cung cầu…
Định hướng xã hội chủ nghĩa yêu cầu giá cả phải đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo
khả năng tiếp cận dịch vụ đào tạo nghề của các đối tượng chính sách, các thành phần
yếu thế… Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế yêu cầu giá cả dần từng bước phù hợp với
thông lệ quốc tế. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển đào tạo nghề,
trong thời gian tới cơ chế học phí học nghề và chính sách hộ trợ học sinh, sinh viên
cần phải được đổi mới đảm bảo tính công bằng, hợp lý nhằm huy động có hiệu quả
sự đóng góp của nhân dân, cụ thể:
a. Đối với chế độ học phí
- Chế độ học phí được đổi mới theo hướng: mức học phí phải được xây dựng
dựa trên cơ sở tính đủ giá dịch vụ đào tạo nghề theo từng trình độ, ngành nghề đào
tạo và điều tra mức sống của các tầng lớp dân cư. Chính sách học phí hợp lý được
đánh giá là giải pháp tài chính quan trọng nhất để khai thác nguồn tài chính đầu tư
cho đào tạo nghề. Chính sách học phí phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Chính sách học phí phải gắn với chi phí đào tạo, gắn với khả năng đầu tư
từ NSNN, cần chú ý đến yếu tố trượt giá, yếu tố chất lượng.
+ Chi phí đơn vị đào tạo nghề được quyết định bởi các yếu tố bên trong, bên
ngoài cơ sở đào tạo nghề và những yếu tố khác nhau giữa các cơ sở đào tạo nghề.
Do đó, mức thu học phí của các cơ sở đào tạo nghề công lập phải căn cứ vào điều
kiện và đặc điểm của từng trường, từng ngành đào tạo để sao cho cơ sở đào tạo
nghề thực hiện tốt yêu cầu nâng cao chất lượng.
133
- Việc xây dựng giá dịch vụ đào tạo nghề phải đặt trong mối quan hệ tổng thể
giữa các yếu tố ảnh hưởng đến giá dịch vụ đào tạo nghề, bao gồm chi phí đào tạo
thực tế hợp lý; chi phí xã hội nói chung trong quá trình đào tạo một học sinh, sinh
viên học nghề; tiền lương, tiền công của một học sinh, sinh viên sau khi hoàn thành
khóa học và khả năng đóng góp của sinh viên hoặc cha mẹ họ. Đồng thời, cơ chế
tính giá dịch vụ đào tạo nghề cũng phải có tính linh hoạt, phù hợp với thực tiễn nền
KT-XH nước ta; đảm bảo thực hiện nguyên tắc chia sẻ chi phí đào tạo giữa nhà
nước và người học.
- Để tính chi phí đào tạo nghề phải trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế - kỹ
thuật trong đào tạo nghề (trên cơ sở hệ thống định mức và đơn giá của các yếu tố chi
phí, ta có thể dễ dàng tính được chi phí đào tạo một học sinh, sinh viên học nghề
trong một thời kỳ nhất định). Trường hợp chưa có hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật
thì có thể áp dụng phương pháp tính theo chi phí thực tế qua khảo sát, thống kê chi
phí thực tế của các nhóm nghề đào tạo trong các CSDN.
- Đối với CSDN ngoài công lập, học phí phải đảm bảo trang trải các chi phí
cần thiết, có tích lũy để đầu tư phát triển; đối với CSDN công lập, học phí là khoản
bổ sung cùng với NSNN và các nguồn khác để đảm bảo chi phí đào tạo. Theo lộ
trình tính giá quy định, các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tự chủ xác định
mức thu học phí đảm bảo đủ bù đắp chi phí đào tạo, dần có tích lũy.
b. Chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên
Đi đôi với việc điều chỉnh khung học phí theo xu hướng tăng thì xuất hiện
khó khăn về tài chính đối với người nghèo khi theo học. Trong xã hội có nhóm dân
cư theo học mà không có khó khăn về tài chính; có nhóm có khó khăn; có nhóm
không thể theo học vì hoàn toàn không đủ khả năng thanh toán tiền học. Do vậy,
việc tăng học phí thường có những tác động gây bất lợi cho các học sinh nghèo và
học sinh nông thôn. Vậy để mọi người đều có cơ hội học tập và học tập tốt thì điều
quan tâm của các nhà hoạch định chính sách đưa ra một số các quyết định hỗ trợ
người học để đảm bảo công bằng xã hội trong đào tạo nghề. Trong những năm gần
đây, Việt Nam đã áp dụng một số chương trình hỗ trợ để con em hộ nghèo vẫn có
thể theo học, đó là:
134
* Chính sách học bổng, trợ cấp xã hội:
Hiện tại, chế độ học bổng đang thực hiện theo Quyết định số 152/2007/QĐ-
TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư liên bộ số 23/2008/TT-LB-BGD&ĐT-
BTC-BLĐTBXH ngày 28/4/2008.
Sau gần 10 năm thực hiện trong hệ thống các trường đào tạo nghề công lập
đã nảy sinh nhiều trường hợp bất cập: chế độ học bổng chính sách vẫn còn một vài
điểm chưa khuyến khích thu hút học sinh học nghề, đặc biệt đối với một số ngành
nghề đào tạo độc hại - khó tuyển sinh; Mức học bổng và trợ cấp xã hội đã tương đối
thấp, không đủ chi tiêu dùng để đảm bảo mức sống tối thiểu cho học sinh và chậm
điều chỉnh theo tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Lấy mức lương tối
thiểu làm mốc để quy định mức học bổng không còn phù hợp mà theo tác giả thì
mức học bổng khuyến khích học tập và rèn luyện phải dựa trên khung học phí là
hợp lý. Lập luận như vậy là bởi lẽ, khi mức học phí tăng thì mức học bổng cũng
được tăng theo. Những cơ sở đào tạo nghề ngoài công lập do không được Nhà nước
cấp ngân sách, phải đầu tư nhiều cho cơ sở vật chất xây dựng cơ bản nên quy định
mức học bổng khuyến khích học tập và rèn luyện tối thiểu bằng 30% mức trần học
phí để các trường có điều kiện thực hiện, ngoài ra những học sinh, sinh viên đạt loại
giỏi, xuất sắc sẽ được hưởng mức học bổng cao hơn do hiệu trưởng quy định cụ thể,
như vậy sẽ phù hợp với cơ chế tự chủ về tài chính của nhà trường theo quy định của
Chính phủ.
* Tín dụng đối với học sinh
Về tín dụng đối với học sinh: Từ năm 1998 Thủ tướng chính phủ đã có
Quyết định số 51/1998/QĐ-TTg về việc lập quỹ tín dụng đào tạo và Quyết định số
219/1998/QĐ-NHNN về việc ban hành Thể lệ tín dụng đối với sinh viên. Chính
sách này ra đời đã mang lại rất nhiều cơ hội học tập cho học sinh, sinh viên nghèo,
con em gia đình chính sách. Sửa đổi, bổ sung chính sách này, Thủ tướng Chính phủ
đã có Quyết định số 107/2006/QĐ-TTg ngày 18/5/2006 về tín dụng đối với học
sinh, sinh viên và gần đây nhất là Quyết định số 157/QĐ-TTg ngày 29/7/2007. Theo
đó, ngày 06/6/2011 Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh mức cho vay và lãi suất cho
vay đối với học sinh sinh viên tại Quyết định số 853/QĐ-TTg.
135
Tuy nhiên đối tượng học sinh học nghề được tham gia vào việc vay vốn
chiếm tỷ lệ rất ít mà chủ yếu là sinh viên các trường đại học, cao đẳng. Để chính
sách thực sự phát huy được hiệu quả hơn nữa và đối tượng là học sinh sinh viên hệ
thống các trường đào tạo nghề tham gia được nhiều hơn nhà nước cần có chính sách
ưu đãi tín dụng từ Quỹ hỗ trợ phát triển cho đối tượng riêng là học sinh, sinh viên
các trường đào tạo nghề vì học sinh học nghề hiện nay chủ yếu là con em các gia
đình nghèo, điều kiện khó khăn. Hơn nữa cần xây dựng chính sách bảo đảm lợi ích
chính đáng, hợp pháp của các cá nhân, tập thể tham gia:
+ Về phía nhà trường: Cần tạo mọi điều kiện thuận lợi, thông tin kịp thời để
học sinh, sinh viên làm thủ tục vay vốn đúng thời gian quy định. Hướng dẫn học
sinh kê khai những thông tin cần thiết trong hồ sơ vay vốn, tránh trường hợp phải
làm lại nhiều lần. Nhà trường phải kết hợp chặt chẽ với Ngân hàng để có các biện
pháp xử lý kịp thời những học sinh, sinh viên sử dụng vốn vay sai mục đích.
+ Về phía Ngân hàng: Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ với Nhà trường và địa
phương nơi sinh viên cư trú trong quản lý sinh viên. Áp dụng chính sách thu nợ và
thu lãi phải hết sức linh hoạt và mềm dẻo, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sinh viên.
Thực hiện tỷ lệ lãi suất hợp lý, nhằm khuyến khích học sinh, sinh viên nhưng đồng
thời cũng giảm thiểu bao cấp trong cơ chế cho vay này.
- Nhà nước có chính sách trợ cấp học phí hoặc học bổng cho học sinh là đối
tượng chính sách, những người ở vùng khó khăn, những người nghèo và những người
học xuất sắc, không phân biệt học ở cơ sở đào tạo nghề công lập hay ngoài công lập.
- Nhà nước đảm bảo ngân sách để thực hiện chế độ miễn, giảm học phí cho
các đối tượng chính sách, người nghèo, người dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa,
học sinh học ở ngành nghề Nhà nước khuyến khích đào tạo, ngành nghề nặng nhọc,
độc hại khó tuyển… trong các CSDN (không kể đó là cơ sở công lập hay ngoài
công lập). Nhà nước tiếp tục hỗ trợ ngân sách để thực hiện chính sách tín dụng ưu
đãi đối với học sinh, sinh viên, đặc biệt là học sinh học nghề được vay vốn tín dụng
để trang trải các chi phí cho sinh hoạt, học tập.
- Chuyển chế độ miễn học phí đối với học sinh, sinh viên các trường sư
phạm sang chế độ ưu tiên cho vay trong cả quá trình học tập, khi ra trường nếu làm
giáo viên thì sẽ được xoá nợ.
136
(3) Tăng cường khai thác nguồn thu sự nghiệp của các CSDN
Các hoạt động sự nghiệp gắn với nhiệm vụ đào tạo của các CSDN có vai
trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng, một mặt góp phần tạo sự năng động cho cơ sở
đào tạo, gắn đào tạo với thực tiễn hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; đồng
thời tạo nguồn thu tài chính để phát triển hoạt động đào tạo và nâng cao thu nhập
cho cán bộ, giáo viên, học sinh của CSDN. Trong thời gian tới, cần hoàn thiện cơ
chế, chính sách sau đây để tăng thu tài chính từ hoạt động sự nghiệp gắn với đào
tạo của các CSDN:
- Mở rộng sản xuất gắn với việc thực tập của học sinh trong các CSDN nhằm
nâng cao kỹ năng thực hành cho học sinh và tạo nguồn thu để bổ sung kinh phí đào
tạo. Đến năm 2020 thì 100% số trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề công
lập thực hiện hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động
đào tạo nghề, phục vụ xã hội.
- Nghiên cứu, ban hành các cơ chế chính sách nhằm khuyến khích các trường
tăng cường các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gắn với đào tạo để tăng nguồn
thu sự nghiệp hỗ trợ chi phí chi thường xuyên của các CSDN, cụ thể là:
+ Cơ chế, chính sách về tín dụng đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề
+ Cơ chế, chính sách về quản lý, sử dụng trang thiết bị được đầu tư cho hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gắn với đào tạo
+ Cơ chế, chính sách tiền công, tiền lương đối với giáo viên, cán bộ và học
sinh, sinh viên trực tiếp tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gắn
với đào tạo.
+ Cơ chế, chính sách ưu đãi về thuế đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ gắn với đào tạo (được giữ lại khoản thuế phải nộp theo quy định để bổ sung
vào Quỹ phát triển sự nghiệp của CSDN).
- Quy định rõ cơ chế tài chính đối với các hoạt động liên kết đào tạo để tạo
động lực, khuyến khích các CSDN tích cực tham gia các hoạt động liên doanh, liên
kết đào tạo, qua đó tạo điều kiện nâng cao kinh nghiệm, năng lực đào tạo nghề và
tăng nguồn thu sự nghiệp cho hoạt động của CSDN:
+ Các CSDN tham gia liên kết được quyết định mức thu cụ thể theo nguyên
tắc bảo đảm đủ bù đắp chi phí hoạt động liên kết đào tạo và có tích lũy để tái đầu tư
137
và phát triển. Mức thu học phí của toàn khóa học phải được công khai với người
học trước khi tuyển sinh.
+ Các CSDN tham gia liên kết đào tạo xây dựng định mức chi trên cơ sở đáp
ứng các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo, phù hợp với nội dung của hồ sơ liên
kết đã được phê duyệt bởi cấp có thẩm quyền theo quy định tại Điều 16 Nghị định
số 73/2012/NĐ-CP ngày 26 tháng 9 năm 2012 của Chính phủ, đảm bảo yêu cầu
thiết thực, tiết kiệm, hiệu quả.
+ Các định mức thu, chi; quy định về sử dụng phần chênh lệch thu lớn hơn
chi; quy định về quản lý tài sản thuộc hoạt động liên kết... phải được phản ánh trong
quy chế chi tiêu nội bộ của cơ sở tham gia liên kết để làm cơ sở cho việc thanh,
quyết toán, kiểm tra và giám sát hoạt động tài chính.
+ Tài sản đem góp vốn liên kết đào tạo của các bên tham gia liên kết phải
được quản lý, tính hao mòn hoặc trích khấu hao theo quy định của Quyết định số
32/2008/QĐ-BTC ngày 29/5/2008 của Bộ Tài chính ban hành Chế độ quản lý,
tính hao mòn tài sản cố định trong các cơ quan nhà nuớc, đơn vị sự nghiệp công
lập và các tổ chức có sử dụng NSNN, Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày
25/4/2013 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu
hao tài sản cố định.
+ Các CSDN khi tham gia liên kết có trách nhiệm thực hiện các quy định
hiện hành về công khai tài chính.
+ Các bên tham gia liên kết đào tạo có trách nhiệm bồi hoàn kinh phí cho
người học đối với các trường hợp: Văn bằng, chứng chỉ không được cơ quan có
thẩm quyền công nhận; Vi phạm các điều kiện đảm bảo chất lượng đã cam kết và
công khai trước khi tuyển sinh; Vi phạm pháp luật dẫn đến việc cơ quan có thẩm
quyền đình chỉ hoặc chấm dứt liên kết đào tạo.
+ Hàng năm, sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp
khác theo quy định, các bên tham gia liên kết được sử dụng phần chênh lệch thu lớn
hơn chi (nếu có) theo thỏa thuận (hợp đồng) hợp tác đã ký kết.
- Đối với các hoạt động dịch vụ chuyển giao khoa học công nghệ và dịch vụ
tư vấn giáo dục đào tạo và đào tạo nghề theo hợp đồng với các tổ chức, cá nhân
trong và ngoài nước, cơ sở giáo dục, đào tạo và đào tạo nghề được quyết định các
mức thu, khoản thu cụ thể theo nguyên tắc đủ bù đắp chi phí và có tích lũy.
138
- Đánh giá mô hình hoạt động của các CSDN đã triển khai có hiệu quả chế
độ tự chủ tài chính, huy động được nhiều nguồn thu sự nghiệp trong thời gian qua,
trên cơ sở đó rút kinh nghiệm, đề xuất hoàn chỉnh các cơ chế chính sách cho phù
hợp với thực tế để nhân rộng các mô hình có hiệu quả.
(4) Tăng cường mối quan hệ trường - ngành, khuyến khích của Chính phủ để
doanh nghiệp tham gia vào đào tạo và chia sẻ kinh phí đào tạo với NSNN
Đối tượng sử dụng sản phẩm của đào tạo nghề chủ yếu là các doanh nghiệp,
do đó các doanh nghiệp phải có trách nhiệm chia sẻ chi phí đào tạo với người học
và NSNN. Theo quy định tại Khoản 5 Điều 7 Luật Giáo dục nghề nghiệp thì các
đơn vị có liên quan có trách nhiệm tuyên truyền, vận động, tạo điều kiện thúc đẩy
doanh nghiệp thực hiện quyền và trách nhiệm trong hoạt động giáo dục nghề
nghiệp. Tuy nhiên do chưa có hướng dẫn cụ thể và chế tài đủ mạnh để buộc các
doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo nghề. Để tăng cường mối quan hệ này,
theo tác giả cần thực hiện các nội dung sau:
- Nhà nước có chính sách khuyến khích (ưu đãi tín dụng, thuế, hỗ trợ ngân
sách đào tạo…) để huy động tối đa sự tham gia của doanh nghiệp, làng nghề trong
việc phát triển đào tạo nghề dưới các hình thức như tổ chức đào tạo tại doanh
nghiệp, đầu tư CSDN; liên kết với các CSDN để học sinh được thực tập nghề trong
thực tiễn sản xuất (kể cả trong việc đào tạo nâng cao tay nghề cho giáo viên).
- Khuyến khích doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tài trợ cho CSDN
thực hiện các hoạt động nghiên cứu, triển khai, hợp tác đào tạo và ứng dụng thông
qua việc cho phép doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ khoản thực chi tài
trợ, kể cả các khoản tài trợ kết hợp với quảng bá thương hiệu, hình ảnh của doanh
nghiệp bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành có liên quan. Không
áp thuế đối với khoản thu nhập mà CSDN nhận được từ các nhà tài trợ để bảo đảm
cho hoạt động của cơ sở hoặc tích luỹ dành cho đầu tư phát triển CSDN.
- Các doanh nghiệp cần phải được trừ để tính thu nhập chịu thuế theo quy
định của pháp luật đối với các chi phí liên quan đến hoạt động đào tạo, nghiên
cứu, kể cả chi mua sắm trang thiết bị kỹ thuật, giáo cụ, phương tiện cho giảng dạy,
học tập, chi tuyên truyền quảng bá, chi tài trợ cho sinh viên, chi cho hoạt động văn
hoá, xã hội,…
139
- Tiếp tục thực hiện chính sách ưu đãi về thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập
khẩu đối với dịch vụ đào tạo nghề cũng như đầu vào của đào tạo nghề như: Tài liệu,
sách, báo, tạp chí khoa học, giáo trình, sách giáo khoa và các nguồn tin điện tử về
khoa học và công nghệ; công nghệ trong nước chưa tạo ra được, trang thiết bị, máy
móc dùng cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập. Miễn tiền thuê đất, miễn
tiền sử dụng đất, miễn thuế sử dụng đất hàng năm đối với các CSDN để các cơ sở này
có điều kiện hạ mức giá học phí, đồng thời có nguồn lực đầu tư nâng cao chất lượng
đào tạo. Đối với các CSDN có vốn đầu tư nước ngoài thì không thực hiện bao cấp
tràn lan về đất đai mà cần thực hiện chế độ liên doanh, góp vốn của bên Việt Nam
bằng giá trị quyền sử dụng đất.
- Sử dụng nguồn thu NSNN từ thuế để tài trợ cho phát triển đào tạo nghề
theo hướng tăng chi từ NSNN đầu tư có trọng điểm nhằm hình thành những CSDN
chất lượng cao, cơ sở nghiên cứu thuộc các nghề đòi hỏi kỹ năng nghề cao và ngành
KT-XH then chốt đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới. Áp dụng thống nhất
chính sách thuế và ưu đãi thuế giữa CSDN công lập và ngoài công lập trên cả
phương diện đầu vào và đầu ra, hoạt động và thu nhập nhận được.
- Hình thành Quỹ theo hướng quy định bắt buộc các doanh nghiệp có sử
dụng lao động qua đào tạo nghề phải đóng góp kinh phí đào tạo (thay vì đóng góp
tự nguyện).
(5) Tăng cường huy động nguồn vốn ODA và hợp tác với nước ngoài
Thực hiện liên kết với nước ngoài về đào tạo nghề, một mặt nhằm khai thác
nguồn tài chính từ bên ngoài; mặt khác còn là con đường ngắn nhất để các chương
trình đào tạo của Việt Nam tiếp cận, hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Sự cạnh tranh, so
sánh giữa các chương trình đào tạo và giảng viên, giáo viên tất yếu dẫn đến sự đào
thải những chương trình, giáo viên không phù hợp. Qua liên kết đào tạo với nước
ngoài tạo nhiều cơ hội lựa chọn cho người học theo hướng tăng chủ động cho người
học cả về ngành nghề đào tạo lẫn mức độ chất lượng trên cơ sở tự nguyện chấp
nhận chi trả như là một quyết định đầu tư của người học. Đây có thể xem như là
một trong những giải pháp đi tắt đón đầu quan trọng trong việc tiếp thu kỹ thuật và
công nghệ tiên tiến phục vụ cho đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng tay nghề, kỹ
thuật cao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
140
Hiện nay ngành đào tạo nghề đã mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với nhiều
nước, nhiều tổ chức trên thế giới. Việc mở rộng giao lưu vừa tăng thêm kinh
nghiệm vừa tăng thêm kinh phí như: khoản viện trợ, vay nợ, các nguồn hảo
tâm...Thời gian tới, đề nghị các nhà tài trợ tham gia các hoạt động có tính chất hỗ
trợ kỹ thuật nêu trên để đào tạo nghề Việt Nam sớm được các nước tiên tiến trên thế
giới và khu vực công nhận lẫn nhau về kỹ năng nghề và trình độ đào tạo, cũng như
học tập kinh nghiệm của các nhà tài trợ trong việc triển khai, quản lý các hoạt động
đào tạo trong đào tạo nghề nói riêng và giáo dục nghề nghiệp nói chung. Đảm bảo
trong những năm tới chúng ta sẽ có được đội ngũ lao động được đào tạo có tay nghề
cao, được công nhận trong ASEAN và trên thế giới. Góp phần cải thiện năng lực
cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập.
Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế về đào tạo
nghề nhằm khai thác nguồn tài chính đầu tư cho đào tạo nghề:
* Về phía Nhà nước
Khuyến khích mở rộng và đẩy mạnh các quan hệ hợp tác về đào tạo nghề
nhằm trao đổi kinh nghiệm tốt, phù hợp với điều kiện Việt Nam và tăng cường thêm
nguồn lực phát triển đào tạo nghề. Hoàn thiện khung pháp luật và chính sách ưu đãi
đối với các cơ sở đào tạo nghề quốc tế tại Việt Nam nhằm tăng cường thu hút đầu tư
trực tiếp của nước ngoài. Tăng cường vận động các nguồn tài trợ ODA và nguồn
viện trợ không hoàn lại để nâng cao năng lực đào tạo nghề thông qua các chương
trình hợp tác quốc tế về đào tạo nghề, trong đó tập trung đầu tư để một số trường
đạt trình độ tương đương khu vực và thế giới. Tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp
quy về tiếp nhận và sử dụng nguồn tài trợ ODA. Ưu tiên dành vốn trong nước đối
ứng cho các dự án hỗ trợ phát triển đào tạo nghề theo yêu cầu của nhà tài trợ. Ưu
tiên nguồn ODA để tăng cường trang thiết bị và xây dựng cơ sở vật chất cho các
vùng khó khăn và các cơ sở đào tạo nghề trọng điểm. Khuyến khích các chủ đầu tư
nước ngoài có kinh nghiệm, tiềm lực, truyền thống và trình độ tiên tiến thành lập
các trường đào tạo nghề 100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh với các đối tác Việt
Nam để đào tạo nghề với trình độ khu vực và quốc tế tại Việt Nam theo quy định
của pháp luật.
141
* Về phía các cơ sở đào tạo nghề trong nước
Đẩy mạnh liên doanh, liên kết với các đối tác nước ngoài về đào tạo nghề và
nghiên cứu khoa học; triển khai ứng dụng nhằm mở rộng quy mô; chuẩn bị đội ngũ
cán bộ đủ năng lực đẻ thực hiện có hiệu quả các dự án; tranh thủ nguồn vốn trang bị
cơ sở vật chất phương tiện dạy học để nâng cao năng lực và khai thác nguồn tài
chính đầu tư cho đào tạo nghề của Trường. Tăng cường hợp tác quốc tế - tham gia
các dự án về giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề góp phần nâng cao trình độ đội ngũ;
xây dựng và triển khai các phương pháp hiện đại trong đào tạo nghề và nghiên cứu
khoa học; hoàn thiện hệ thống, quy trình đào tạo nghề, kết hợp nghiên cứu khoa học
và đào tạo nghề; tích luỹ kinh nghiệm tiên tiến về quản lý đào tạo nghề.
* Về phía các cơ sở đào tạo nghề có vốn đầu tư nước ngoài
- Được tự quyết định mức thu cụ thể theo nguyên tắc bảo đảm đủ bù đắp chi
phí và có tích luỹ để tái đầu tư và phát triển. Mức thu học phí của toàn khóa học
phải được công khai với người học trước khi tuyển sinh.
- Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của đơn vị và khả năng nguồn tài chính,
cơ sở đào tạo nghề có vốn đầu tư nước ngoài được tự quyết định mức chi trên cơ sở
đáp ứng các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo, phù hợp với nội dung của hồ sơ
đăng ký hoạt động đào tạo nghề đó được phê duyệt. Định mức chi phải được thể
hiện trong quy chế chi tiêu nội bộ của cơ sở giáo dục.
- Cơ sở đào tạo nghề có vốn đầu tư nước ngoài có trách nhiệm trích lập Quỹ
học bổng khuyến khích học tập tối thiểu bằng 2% tổng số thu học phí. Hàng năm,
khi quyết toán, phần kinh phí không sử dụng hết hoặc sử dụng không đúng mục
đích từ nguồn Quỹ này phải bổ sung vào chênh lệch thu lớn hơn chi của cơ sở đào
tạo nghề có vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện nghĩa vụ với NSNN. Các khoản chi
từ Quỹ học bổng khuyến khích học tập được hạch toán vào chi phí được trừ khi xác
định thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế.
- Cơ sở đào tạo nghề có vốn đầu tư nước ngoài có trách nhiệm trích lập Quỹ
phát triển khoa học công nghệ theo quy định Khoản 11 Điều 1 Luật số 32/2013/QH13
của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và các
văn bản hướng dẫn.
142
3.4. ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
3.4.1. Ổn định quản lý Nhà nước về đào tạo nghề và nâng cao nhận thức
của các cấp các ngành, doanh nghiệp và xã hội về đào tạo nghề chất lượng cao.
Những thành tựu mà ngành đào tạo nghề đạt được trong những năm vừa qua
là thực tế khách quan và thuyết phục khẳng định cho tính đúng đắn về chủ trương,
đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực đào tạo nghề.
Trong thời gian tới, với môi trường kinh tế, chính trị xã hội ổn định là tiền đề
cho việc thu hút đầu tư nước ngoài tạo đà cho nền kinh tế cất cánh, từ đó tăng nhu
cầu lao động có tay nghề cao, theo đó tăng thu nhập cho người dân và NSNN. Với
nguồn ngân sách dồi dào hơn, Nhà nước có điều kiện để thực hiện các chính sách
cần thiết để vực dậy hơn nữa ngành đào tạo nghề, một khâu quan trọng trong việc
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Nếu như sự ổn định về chính trị xã hội sẽ giúp cho việc phát triển kinh tế
đất nước thì việc phát triển đào tạo nghề cũng phụ thuộc rất lớn về sự ổn định về
quản lý Nhà nước về đào tạo nghề. Muốn phát huy được hiệu quả đầu tư cho đào
tạo nghề cũng như phát triển ngành đào tạo nghề chính là sự ổn định về quản lý
Nhà nước về đào tạo nghề. Theo Luật dạy nghề thì quản lý nhà nước về đào tạo
nghề giao cho Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, tuy nhiên theo Luật Giáo dục
nghề nghiệp số 74/2014/QH13 ngày 17/12/2014 và quy định tại Khoản 7 Điều 32
Chương V của Nghị định 48/2015/NĐ-CP ngày 15/5/2015: Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo giúp Chính phủ thống nhất thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở trung ương theo quy định sau
đây cho đến khi Chính phủ có quyết định về cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục
nghề nghiệp ở trung ương: a) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục
và Đào tạo phối hợp thực hiện các nội dung quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 4
Nghị định này theo nguyên tắc một việc liên quan nhiều hơn đến hệ thống các cơ
sở giáo dục nghề nghiệp của Bộ nào đang quản lý thì Bộ đó chủ trì, Bộ còn lại
phối hợp theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ". Việc tồn tại hai cơ quan
quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp như hiện nay sẽ rất khó khăn cho
những đơn vị triển khai thực hiện. Do đó, đề nghị Chính phủ sớm quy định rõ ràng
cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp (đào tạo nghề).
143
Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và xã hội về
đào tạo nghề
- Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò quan trọng của đào tạo nghề nói chung và
đào tạo nghề chất lượng cao trong phát triển nhân lực quốc gia, là yếu tố có tính quyết
định để nâng cao năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta trong Hội nhập quốc tế.
- Các cấp uỷ đảng, chính quyền tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và
ưu tiên đầu tư phát triển đào tạo nghề; coi đào tạo nghề là một giải pháp đột phá
để phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm và đảm bảo an sinh xã hội của
địa phương; phải coi quy hoạch, kế hoạch phát triển đào tạo nghề là nội dung quan
trọng trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của từng địa phương,
từng vùng và của cả nước.
- Nâng cao nhận thức của các doanh nhân về lợi ích của đào tạo nghề đối với
sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, từ đó chủ động tham gia, đóng góp tài
chính và tích cực tham gia vào các họat động đào tạo nghề.
- Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, hội nghề nghiệp tăng cường
tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề; tư vấn
hướng nghiệp, học nghề, việc làm và vận động các thành viên của mình tham gia
học nghề, đào tạo nghề.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động hướng nghiệp trong các trường trung học cơ
sở, trung học phổ thông và trong các cơ sở đào tạo nghề.
- Nâng cao nhận thức và thực hành văn hóa nghề trong xã hội, đặc biệt là
trong các doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo nghề.
3.4.2. Thực hiện tốt công tác dự báo về đào tạo nghề, phân luồng học sinh
sau tốt nghiệp trung học cơ sở
Đào tạo nghề cần phải dựa trên nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và thị
trường lao động. Khi xác định quy mô đào tạo cần dựa trên cơ sở dự báo nhu cầu sử
dụng lao động qua đào tạo nghề ở từng giai đoạn cụ thể và địa bàn/ngành cụ thể.
Trong khi thực hiện nhiệm vụ dự báo, phải dựa trên quy hoạch, kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội và kế hoạch sử dụng nhân lực của địa phương/ngành chứ không sử
dụng phương pháp tốc độ tăng trưởng giả định hoặc quy mô dân số để ước lượng
quy mô tuyển sinh hàng năm.
144
Cần xây dựng cơ sở dữ liệu về đào tạo nghề cả cung và cầu để thực hiện dự
báo và quản lý đào tạo nghề. Đồng thời phải định kỳ tổ chức các khảo sát, điều tra
về nhu cầu đối với các nghề ở từng trình độ đào tạo để tổ chức thực hiện phù hợp.
Thiết lập và vận hành hiệu quả hệ thống thông tin về thị trường đào tạo, thị
trường lao động và thị trường việc làm: Xây dựng hệ thống thông tin chính xác và
tin cậy về nhu cầu việc làm của thị trường lao động, bao gồm: thông tin về doanh
nghiệp, về cơ sở đào tạo nghề (cơ cấu nghề, cơ cấu trình độ, chất lượng đào tạo…),
về thị trường việc làm và các dịch vụ đào tạo nghề. Hệ thống thông tin này cung cấp
thông tin cho người lao động trong việc lựa chọn các dịch vụ học nghề, tìm kiếm
hoặc tự tạo việc làm. Hệ thống thông tin là cầu nối giữa Cung và Cầu trong thị
trường lao động và thị trường đào tạo.
Ngoài ra, cần chuyển từ mô hình đào tạo đáp ứng số lượng sang đáp ứng chất
lượng và hiệu quả theo nhu cầu xã hội. Thực hiện phân tầng chất lượng đáp ứng nhu
cầu đa dạng của các tầng công nghệ trong hoạt động sản xuất và dịch vụ. Chuyển từ
hệ thống đào tạo nghề truyền thụ kiến thức, kỹ năng, thái độ sang đào tạo theo năng
lực thực hiện, đào tạo theo chuẩn đầu ra trên cơ sở Khung trình độ quốc gia.
Về công tác phân luồng học sinh sau tốt nghiệp trung học cơ sở (THCS):
Phân luồng học sinh sau THCS là định hướng cho người học sau khi tốt nghiệp có
thể tiếp tục học lên một bậc học phù hợp với năng lực, nguyện vọng hoặc chọn lựa
một nghề thích hợp với năng lực, hoàn cảnh. Mục tiêu của Bộ Chính trị đặt ra trong
Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 5/12/2011 phấn đấu đến năm 2020 có 30% tỷ lệ học sinh
sau tốt nghiệp THCS tham gia hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tuy nhiên sau 5 năm
thực hiện công tác phân luồng học sinh sau THCS nhìn chung chưa có sự chuyển
biến, nhiều tỉnh, thành phố có số lượng học sinh tham gia học nghề chỉ đạt từ 5 đến
7%. Theo báo cáo của Bộ LĐTBXH, năm 2013 có 72 nghìn người có trình độ đại
học, thạc sĩ thất nghiệp; nếu tính cả số người tốt nghiệp đại học làm việc không
đúng nghề được đào tạo thì con số này còn cao hơn nữa tuy nhiên nhu cầu tuyển
dụng công nhân kỹ thuật ở các doanh nghiệp hiện nay là khá lớn nhưng lại thiếu
nguồn tuyển. Vì vậy, theo nhiều chuyên gia, công tác phân luồng học sinh sau
THCS đã trở nên vô cùng bức thiết và không thể chậm trễ hơn được nữa.
145
Nguyên nhân dẫn tới việc phân luồng học sinh chưa đạt được mục tiêu đề ra
là do văn hóa, nhận thức, thông tin về thị trường lao động, nhu cầu nhân lực, điều
kiện phát triển kinh tế - xã hội và việc làm của nhân dân còn nhiều hạn chế. Do đó,
việc phân luồng học sinh sau trung học cơ sở muốn đạt hiệu quả cao cần có định
hướng của cơ quan quản lý Nhà nước cấp trung ương và địa phương. Công tác phân
luồng phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu của địa phương và của cả
nước, nghĩa là đào tạo phải gắn với nhu cầu xã hội. Bên cạnh đó, những địa phương
có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, chất lượng giáo dục phổ thông còn hạn chế,
Nhà nước cần đặc biệt quan tâm, đầu tư phát triển giáo dục nghề nghiệp. Để khắc
phục những bất cập nói trên, Nhà nước cần rà soát, sửa đổi, bổ sung việc thực hiện
cơ chế, chính sách đối với người học, người dạy và người sử dụng lao động, nhằm
tạo động lực thu hút phần lớn học sinh sau tốt nghiệp THCS đi học nghề.
Nhà nước cần xây dựng hệ thống cơ quan làm công tác dự báo nhu cầu
nhân lực, nhu cầu đào tạo quốc gia, cơ cấu trình độ đào tạo theo vùng miền; cung
cấp thông tin giúp Chính phủ trong việc chỉ đạo điều hành các bộ, ngành, doanh
nghiệp để chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của
đất nước; giảm chỉ tiêu tuyển sinh vào đại học, cao đẳng, nhất là những ngành đã
thừa nhân lực.
Trước thực trạng này, các tỉnh, thành phố cần tăng cường công tác tuyên
truyền đến các cơ sở giáo dục để phụ huynh cũng như học sinh có nhận thức đúng
đắn về nghề nghiệp, chống tư tưởng trọng bằng cấp, coi thường lao động chân tay,
tạo sự đồng thuận và quyết tâm của xã hội trong việc thực hiện công tác phân luồng.
3.4.3. Tăng cường công tác kiểm tra giám sát các hoạt động đào tạo nghề
nói chung và tài chính cho đào tạo nghề nói riêng theo mục tiêu và kết quả đầu ra
Bên cạnh các cơ chế đảm bảo nêu trên, để thực hiện đào tạo nghề chất lượng
cao, cần tạo tính chủ động, khuyến khích các chủ thể tham gia hoạt động đào tạo
nghề, nâng cao trách nhiệm và vai trò của nhà nước trong việc kiểm soát và xử lý vi
phạm pháp luật về đào tạo nghề. Đồng thời, cùng với việc thanh tra phát hiện và xử
lý các vi phạm pháp luật, cần đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát để phòng ngừa
các vi phạm quy chế, quy định, pháp luật về đào tạo nghề và đào tạo nghề chất
lượng cao.
146
Kiểm tra, giám sát tài chính đầu tư cho đào tạo nghề là hoạt động theo dõi,
kiểm tra thường xuyên tình hình quản lý, sử dụng tài chính đầu tư cho đào tạo nghề
nhằm mục đích ngăn chặn những vấn đề khó khăn, những vấn đề vi phạm về tài
chính đầu tư cho đào tạo nghề trước khi nó vượt ra khỏi tầm kiểm soát.
Để phát huy hiệu quả hoạt động kiểm tra giám sát góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo nghề, cần thực hiện những nội dung sau:
- Cần xây dựng và ban hành bộ tiêu chí tiêu chuẩn chất lượng, cơ chế giám
sát, đánh giá, kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục nghề nghiệp (đào tạo nghề)
theo mục tiêu và kết quả đầu ra. Trên cơ sở bộ tiêu chí giám sát này, cơ quan quản
lý nhà nước thực hiện đánh giá kết quả thực hiện của các đơn vị.
- Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ quản lý tài chính dạy nghề,
trong đó qui định rõ chức năng nhiệm vụ của ngành LĐTBXH từ Trung ương đến
địa phương trong việc phối hợp quản lý, kiểm tra, giám sát và báo cáo về tài chính
dạy nghề với các Bộ, ngành khác ở Trung ương, của các cơ quan địa phương có
liên quan.
- Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ LĐTBXH và các Bộ, ngành khác
xây dựng quy trình chuẩn bị kế hoạch ngân sách dạy nghề hàng năm và trung hạn
đảm bảo việc trách nhiệm quản lý ngành của Bộ LĐTBXH; xây dựng các quy
định quản lý tài chính dạy nghề đối với các CSDN, quy định báo cáo về tài chính
của các CSDN làm cơ sở cho việc quản lý minh bạch và công khai tài chính của
toàn bộ hệ thống dạy nghề trong cả nước.
- Nâng cao trách nhiệm kiểm tra, giám sát đặc biệt trong quản lý tài chính
dạy nghề theo cơ chế giám sát cộng đồng, có sự phối hợp giữa ngành LĐTBXH với
các Bộ/ngành liên quan.
3.4.4. Tăng cường hoạt động kiểm soát, đánh giá chất lượng đào tạo nghề.
Để đạt được mục tiêu đã đề ra về công tác đào tạo nghề nói chung và đào tạo
nghề chất lượng cao nhằm tạo đột phá về chất lượng đào tạo nghề tạo nguồn nhân
lực chất lượng cao thông qua các hoạt động sau đây:
3.4.4.1. Đăng ký hoạt động đào tạo nghề
Có thể khẳng định rằng, đăng ký hoạt động đào tạo nghề là công cụ pháp lý
hữu ích để nhà nước kiểm soát một cách có hiệu quả các điều kiện tối thiểu cần có
147
của các cơ sở đào tạo nghề trước khi tuyển sinh học nghề, góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo nghề.
Nếu không có sự kiểm soát thông qua hoạt động đăng ký hoạt động đào tạo
nghề thì các cơ cở đào tạo nghề cứ việc tuyển sinh và đào tạo theo mong muốn của
mình và như vậy sẽ xảy ra tình trạng người học phải học nghề trong điều kiện thiếu
cơ sở vật chất, thiết bị, thiếu giáo viên đào tạo nghề.
Đối với các cơ sở đào tạo nghề mới được thành lập, thực tiễn của hoạt động
đào tạo nghề thời gian qua đã chỉ ra cho thấy hạn chế các cơ sở đào tạo nghề khi
mới được quyết định thành lập (đối với các trường công lập) và cho phép thành lập
(đối với các trường tư thục) các điều kiện đảm bảo cho hoạt động đào tạo nghề
trong Đề án thành lập mới chỉ là dạng tiềm năng có tính khả thi, nhưng khi đi vào
hoạt động thì các điều kiện tối thiểu (cơ sở vật chất thiết bị đào tạo nghề, chương
trình giáo trình đào tạo nghề và đội ngũ giáo viên đào tạo nghề...) để đảm bảo chất
lượng đào tạo nghề lại chưa có trong thực tế.
Bên cạnh đó, đối với các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng có năng lực tốt
trong việc đào tạo trình độ đại học, cao đẳng chuyên nghiệp muốn tham gia đào tạo
nghề song những yêu cầu trong tổ chức hoạt động đào tạo nghề, nhất là đòi hỏi về
trình độ kỹ năng nghề của đội ngũ giáo viên không đáp ứng yêu cầu mà vẫn tuyển
sinh và tổ chức đào tạo nghề... dẫn đến chất lượng đào tạo nghề còn thấp.
Xuất phát từ lý do trên, để kiểm soát được các điều kiện tối thiểu của đầu vào
các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở giáo dục và doanh nghiệp đảm bảo cho chất lượng
hoạt động đào tạo nghề nhà nước phải kiểm tra và cấp giấy chứng nhận đăng ký
hoạt động đào tạo nghề trước khi các cơ sở này tổ chức tuyển sinh đào tạo nghề.
Nhằm tăng cường công tác quản lý chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở đào
tạo nghề, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp, nâng cao trách nhiệm của các cơ sở đào tạo
nghề và đảm bảo cho hoạt động đào tạo nghề được thực hiện theo đúng quy định
của pháp luật, việc đăng ký hoạt động đào tạo nghề phải đảm bảo:
- Đảm bảo thực thi đúng việc xác định quy mô đào tạo nghề tối đa mà cơ sở
đào tạo nghề, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp được tuyển sinh đào tạo nghề tương ứng
các điều kiện tối thiểu theo quy định pháp luật. Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động
đào tạo nghề chỉ cấp cho cơ sở đào tạo nghề đăng ký những nghề đã có đầy đủ các
điều kiện theo quy định (cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo nghề, giáo viên đào tạo
148
nghề, chương trình, giáo trình đào tạo nghề chi tiết...); tránh tình trạng cấp giấy
chứng nhận đăng ký hoạt động đào tạo nghề trước, để sau đó cơ sở đào tạo nghề, cơ
sở giáo dục, doanh nghiệp mới hoàn thiện các điều kiện theo yêu cầu.
- Một thực tế hiện nay là các cơ sở đào tạo nghề mở rất nhiều cơ sở đào tạo
của mình tại các thành phố lớn, trung tâm đô thị, trong khi trụ sở chính lại tuyển
sinh rất ít; do vậy, theo tác giả, khi cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động đào tạo
nghề cần đảm bảo nguyên tắc cơ sở vật chất và thiết bị đào tạo nghề đặt ở đâu thì cơ
quan nhà nước có thẩm quyền chỉ cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động đào tạo
nghề tại đúng địa điểm đó. Cơ sở đào tạo nghề, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp chỉ
được quyền tuyển sinh và tổ chức hoạt động đào tạo nghề tại các địa điểm đã ghi
trong giấy chứng nhận đăng ký hoạt động đào tạo nghề. Điều này sẽ góp phần bảo
đảm phù hợp, đồng bộ với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội của cả nước, của từng ngành, vùng, địa phương, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình
độ đào tạo và phát huy hiệu quả của các cơ sở đào tạo nghề hiện có.
- Về thời hạn của Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động đào tạo nghề: Hiện
nay Giấy chứng nhận này không có thời hạn, điều này có nghĩa là các cơ sở đào tạo
chỉ cần làm thủ tục đăng ký hoạt động đào tạo nghề một lần và kể từ khi có Giấy
chứng nhận rồi thì các cơ sở cứ thực hiện tuyển sinh đào tạo theo nghề, trình độ và
quy mô đào tạo đã ghi trong Giấy chứng nhận... Nếu không có nhu cầu sửa đổi bổ
sung Giấy chứng nhận thì các cơ sở đào tạo không cần thay đổi gì. Việc quy định
này tạo ra sự ổn định cho các cơ sở đào tạo nghề và giảm bớt được thủ tục hành
chính cho các cơ sở, đáp ứng chủ trương thực hiện cải cách hành chính của Đảng và
Nhà nước. Tuy nhiên, các quy định này cũng tạo ra một bất hợp lý khác ảnh hưởng
đến chất lượng đào tạo nghề là các cơ sở đào tạo khi đã nhận được Giấy chứng nhận
đăng ký hoạt động đào tạo nghề, hàng năm sẽ tuyển sinh đào tạo nghề và trong 5
năm, 10 năm tiếp theo, thậm chí lâu hơn họ không cần bổ sung thay thế máy móc
thiết bị, trong khi qua thời gian thì điều kiện máy móc, thiết bị đào tạo nghề ngày
càng bị hư hỏng, bị khấu hao theo thời gian sử dụng, chưa kể với tốc độ phát triển
khoa học công nghệ như hiện nay thì các thiết bị đào tạo nghề sẽ nhanh chóng bị lạc
hậu. Người học tại các cơ sở đào tạo nghề đã đăng ký và nhận Giấy chứng nhận
càng lâu thì điều kiện học nghề càng không đảm bảo nếu không có quy định nào
149
hay sự kiểm tra giám sát nào của cơ quan nhà nước đòi hỏi các cơ sở đào tạo nghề
này phải bổ sung thay mới thiết bị và các điều kiện đảm bảo khác. Bên cạnh đó,
việc quy định thời hạn sẽ làm cho các cơ sở tham gia hoạt động đào tạo nghề cũng
thấy rõ trách nhiệm của mình phải thường xuyên rà soát, đầu tư mới máy móc, trang
thiết bị đào tạo nghề góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề.
3.4.4.2. Kiểm định chất lượng đào tạo nghề
Mục đích cơ bản của hoạt động kiểm định chất lượng đối với cơ sở giáo dục
nói chung và cơ sở đào tạo nghề nói riêng là xác nhận chất lượng cơ sở hoặc
chương trình đào tạo và hỗ trợ các cơ sở hoặc chương trình đó nâng cao chất lượng.
Việc hỗ trợ cơ sở giáo dục - đào tạo nâng cao chất lượng được thực hiện nhờ thông
qua việc phát triển các tiêu chí và cách thức đánh giá các điều kiện bảo đảm chất
lượng đào tạo; khuyến khích các trường tăng cường những nỗ lực trong đào tạo
thông qua việc tự nghiên cứu và tự đánh giá liên tục.
Đối với đào tạo nghề nước ta, sau một thời gian dài đào tạo nghề suy giảm
mạnh, tính từ khi tái thành lập Tổng cục dạy nghề đến nay, đào tạo nghề đã phục
hồi và từng bước phát triển mạnh mẽ, cùng với việc tăng quy mô, chất lượng đào
tạo nghề trong những năm gần đây cũng đã được nâng cao. Mặc dù vậy, đào tạo
nghề vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực trực tiếp phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa cả về số lượng và chất lượng, nhất là chất lượng. Trong bối
cảnh đó, hoạt động kiểm định chất lượng đào tạo nghề với mục đích đánh giá mức
độ thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình của cơ sở đào tạo nghề được xác định
là một trong công cụ đóng vai trò quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo nghề,
thể hiện ở các phương diện tác động dưới đây:
- Đối với cơ quan quản lý đào tạo nghề các cấp, kiểm định chất lượng đào
tạo nghề được coi là một công cụ đảm bảo đánh giá một cách khách quan về cơ sở
đào tạo nghề hoặc một chương trình đào tạo, phát hiện những nhân tố mới trong số
các cơ sở nghề đó thực hiện tốt các giải pháp cải tiến, tự hoàn thiện mình để nâng
cao chất lượng đào tạo. Hơn nữa, nếu kiểm định chất lượng nói chung và tự kiểm
tra, tự đánh giá nói riêng được tiến hành tốt thì sẽ giảm bớt đáng kể sự can thiệp của
các cơ quan Nhà nước vào quá trình hoạt động của các cơ sở đào tạo và nâng cao
được tính chủ động sáng tạo của các cơ sở đào tạo nghề.
150
- Đối với học sinh sinh viên học nghề, kiểm định chất lượng đào tạo nghề
đảm bảo độ tin cậy đối với cơ sở đào tạo hay một chương trình mà học sinh đó đã
và đang theo học. Điều quan trọng hơn là nếu được học ở những cơ sở đào tạo nghề
có uy tín và những chương trình phù hợp đó được khẳng định qua kiểm định chất
lượng thì học sinh sẽ dễ tìm được việc làm khi ra trường hoặc tiếp tục học ở trình độ
cao hơn.
- Đối với bản thân các cơ sở đào tạo nghề, kiểm định chất lượng đào tạo
nghề có vai trò như là một động lực bên trong với sự hỗ trợ, khuyến khích từ bên
ngoài giúp nhà trường nâng cao năng lực hoạt động của mình để tiến tới xây dựng
một trường đào tạo có chất lượng cao. Việc các cơ quan kiểm định áp dụng các tiêu
chuẩn kiểm định chất lượng sẽ tránh được những tác động bên ngoài có hại tới uy
tín của cơ sở đào tạo. Hay nói cách khác thông qua kiểm định chất lượng đào tạo
nghề, thì uy tín và danh tiếng của một cơ sở đào tạo nghề sẽ được xã hội biết đến và
thừa nhận.
- Đối với người sử dụng lao động, kết quả kiểm định chất lượng đào tạo nghề
giúp họ yên tâm tuyển dụng học sinh tốt nghiệp các trường và học các chương trình
đã được kiểm định chất lượng và được cấp giấy chứng nhận "chất lượng".
Như vậy, việc hình thành, vận hành và phát triển hệ thống kiểm định chất
lượng đào tạo nghề là một trong những biện pháp hữu hiệu để nâng cao và đảm bảo
chất lượng đào tạo các nghề trọng điểm quốc gia, khu vực ASEAN và quốc tế. Để
thực hiện tốt các giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao ở Việt Nam
theo các nội dung đã được phê duyệt, theo tác giả cần sớm triển khai thực hiện:
- Xây dựng các chuẩn quản lý, đảm bảo chất lượng:
Hoạt động kiểm định chất lượng đào tạo nghề vận hành trên cơ sở các tiêu
chuẩn đã được nhà nước ban hành đồng thời Chiến lược phát triển đào tạo nghề thời
kỳ 2011- 2020 đã nêu rõ các cơ sở đào tạo nghề phải đảm bảo chuẩn đầu vào, đầu
ra. Như vậy, phải sớm xây dựng và ban hành áp dụng hệ thống quản lý chất lượng
tại các cơ sở đào tạo nghề; đồng thời xây dựng các chuẩn áp dụng cho kiểm định
chất lượng cho công tác quản lý và đảm bảo chất lượng (hệ thống tiêu chí, tiêu
chuẩn kiểm định chất lượng, chuẩn đầu vào, chuẩn đầu ra, chuẩn quản lý cơ sở đào
tạo nghề...).
151
- Phát triển các tổ chức kiểm định chất lượng đào tạo nghề độc lập nhằm
đẩy nhanh công tác đánh giá và công nhận kết quả kiểm định chất lượng đào tạo
nghề đối với các cơ sở đào tạo nghề, đặc biệt đối với các trường có nghề trọng điểm
quốc gia, khu vực ASEAN và quốc tế:
Theo Chiến lược phát triển đào tạo nghề thời kỳ 2011 - 2020, số lượng cơ
sở đào tạo nghề và chương trình đào tạo nghề cần kiểm định mới và kiểm định lại
hàng năm tăng lên rất nhanh, do đó đối tượng kiểm định chất lượng đào tạo nghề
rất lớn. Việc phát triển các tổ chức kiểm định chất lượng đào tạo nghề độc lập là
tất yếu và công tác này sẽ do cả cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo nghề trực
tiếp thực hiện đối với các đối tượng đặc biệt như trường chất lượng cao, trung tâm
đào tạo nghề kiểu mẫu, các nghề đạt chuẩn quốc gia, Asean và quốc tế, cũng như
sẽ do các tổ chức khác thực hiện theo hình thức dịch vụ sự nghiệp đối với các nội
dung tư vấn, đánh giá theo yêu cầu...
Bên cạnh đó, bố trí tăng cường nhân lực cho cơ quan tham mưu, quản lý hoạt
động kiểm định chất lượng đào tạo nghề để thực hiện có hiệu quả các nội dung quản
lý nhà nước về tổ chức kiểm định và công nhận kết quả kiểm định chất lượng đào
tạo nghề; quản lý các tổ chức kiểm định chất lượng đào tạo nghề do tổ chức và cá
nhân thành lập và triển khai các hoạt động dịch vụ sự nghiệp để triển khai các hoạt
động sự nghiệp dịch vụ về tư vấn, đánh giá chất lượng đào tạo nghề.
- Xã hội hóa công tác đào tạo, bồi dưỡng về kiểm định chất lượng đào tạo nghề:
Theo quy định hiện hành, các cơ sở đào tạo nghề phải định kỳ tổ chức kiểm
định chất lượng đào tạo nghề hàng năm, đồng thời, việc xây dựng và vận hành hệ
thống quản lý chất lượng của các cơ sở đào tạo nghề cũng phải được đẩy mạnh, đòi
hỏi công tác đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn các cơ sở đào tạo nghề về kiểm định
chất lượng đào tạo nghề và quản lý chất lượng đào tạo nghề trong giai đoạn mới cần
được tăng cường. Đồng thời, với nhiệm vụ đặt ra cũng cần đội ngũ kiểm định viên
chất lượng đào tạo nghề đảm bảo về số lượng và chất lượng.
Các cơ sở đào tạo nghề chịu trách nhiệm triển khai tự kiểm định chất lượng
đào tạo nghề của cơ sở mình, do đó, các cơ sở đào tạo nghề phải chủ động tổ chức
các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tự kiểm định hoặc cử cán bộ tham gia các lớp đào
tạo, bồi dưỡng về kiểm định chất lượng đào tạo nghề.
152
Đồng thời, với việc thành lập các tổ chức kiểm định do các tổ chức, cá nhân
độc lập sẽ dẫn đến việc các tổ chức này cũng phải chủ động cử cán bộ của mình
tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng để triển khai các đoàn kiểm định chất lượng
đào tạo nghề theo quy định.
Chính vì các lý do trên, về cơ bản, để đẩy mạnh công tác đào tạo bồi dưỡng
kiểm định viên là cán bộ các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan nghiên cứu về giáo
dục, giáo viên, giảng viên có kinh nghiệm; các cán bộ tự kiểm định chất lượng đào
tạo nghề là thành viên hội đồng tự kiểm định của cơ sở đào tạo nghề, giảng viên,
giáo viên phụ trách công tác tự kiểm định của các khoa, đơn vị thuộc cơ sở đào tạo
nghề thì công tác đào tạo, bồi dưỡng về kiểm định chất lượng đào tạo nghề phải
được xã hội hóa. Cơ quan quản lý nhà nước về kiểm định chất lượng đào tạo nghề
sẽ chịu trách nhiệm ban hành chương trình, tài liệu đào tạo kiểm định chất lượng
đào tạo nghề và quản lý, đảm bảo chất lượng đào tạo nghề, công nhận kết quả đào
tạo và trực tiếp tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho kiểm định viên chất lượng đào tạo
nghề. Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng khác liên quan tới kiểm định chất lượng đào tạo
nghề, quản lý và đảm bảo chất lượng đào tạo nghề khác sẽ trở thành hoạt động dịch
vụ sự nghiệp.
3.4.4.3. Đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Mục tiêu phấn đấu tới năm 2020, Việt Nam cơ bản đạt là nước công nghiệp
hoá và hiện đại hoá, để thực hiện thành công mục tiêu trên, nhu cầu về lao động,
đặc biệt lao động kỹ năng cũng sẽ gia tăng. Vấn đề cấp thiết được đưa ra để giải
quyết tình trạng thiếu lao động kỹ năng là bên cạnh việc đẩy mạnh đào tạo nghề
trình độ cao, thiết lập một mối liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp thì cần phát triển
hệ thống đánh giá, công nhận kỹ năng nghề cho người lao động nhằm mục tiêu giúp
người lao động có được kỹ năng phù hợp với các công việc nhất định của thị trường
lao động. Việc song hành phát triển đào tạo nghề chất lượng cao và đánh giá, công
nhận kỹ năng có ý nghĩa quan trọng bởi mối liên hệ giữa chúng, bởi sự phát triển
liên tục và phức tạp của những thay đổi trong công nghệ đòi hỏi người lao động
phải có bằng chứng chứng minh rõ ràng khả năng lao động của người lao động để
bước vào thị trường lao động.
Xu hướng rõ ràng trong phát triển kinh tế của nhiều quốc gia là đưa vấn đề
đào tạo (cả chính quy và không chính quy) và vấn đề đánh giá, công nhận kỹ năng
153
nghề theo sau để đồng bộ với yêu cầu kỹ năng của các ngành công nghiệp. Điều này
sẽ tối đa hóa việc sử dụng tài nguyên quốc gia và đảm bảo giữ chi phí đào tạo trong
giới hạn cho phép. Việc thiết lập hệ thống đánh giá, công nhận kỹ năng nghề quốc
gia sẽ thúc đẩy việc hình thành các bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Dựa vào
đó, các ngành kinh tế và các cơ sở giáo dục, đào tạo nghề sẽ sử dụng một bộ tiêu
chuẩn kỹ năng nghề thống nhất ở tầm quốc gia trong việc xây dựng mục tiêu đào
tạo, tiêu chí đánh giá và sử dụng lao động của mình, từ đó sẽ tối ưu hóa được việc
sử dụng nguồn lực quốc gia cũng như đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ giữa đào tạo
và tuyển dụng, sử dụng lao động có tay nghề, đồng thời cũng cho phép phát hiện ra
những “lỗ hổng” về mặt kỹ năng, từ đó đưa ra giải pháp khắc phục kịp thời. Và một
điều quan trọng là hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia không
chỉ là công nhận kỹ năng và cấp chứng chỉ cho người đạt được mà còn đưa ra
những yêu cầu về đào tạo cho người học để đạt được năng lực đó.
Để đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề cho người lao động theo tiêu chuẩn
kỹ năng nghề quốc gia theo các mục tiêu của hoạt động 6 nêu trên, hình thành đội
ngũ lao động trình độ cao, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, theo tác
giả cần sớm triển khai một số nhiệm vụ sau đây:
- Xây dựng và ban hành sớm một khung trình độ quốc gia (NQF) và khung
trình độ kỹ năng nghề quốc gia mà thực chất là một khung phân loại và đăng ký
trình độ tay nghề theo một bộ tiêu chuẩn quốc gia/tiêu chí cho các cấp, bậc đào tạo
nghề/kỹ năng nghề thu nhận được, và khung này phải đảm bảo được các yếu tố về
(i) sự thỏa thuận về các tiêu chuẩn chứng minh được năng lực hoặc sự hoàn thành
trong các công việc thực hành/hoặc sự thấu hiểu các nguyên lý lý thuyết liên quan
đến công việc hoặc quá trình thực hiện; (ii) thừa nhận một hệ thống công nhận hoặc
cấp chứng chỉ về hoàn thành năng lực cá nhân thông qua (iii) một hệ thống tiêu chí
về cấp chứng chỉ trình độ kỹ năng nghề tin cậy được thừa nhận cho phép sự tiến bộ
của cá nhân thông qua hệ thống giáo dục và đào tạo bằng sự công nhận hoặc liên
thông giữa các trình độ.
- Phát triển các bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia trên cơ sở danh mục
nghề thống nhất theo hệ thống phân loại nghề quốc gia; trong đó lưu ý tới các nghề
trọng điểm quốc gia, khu vực và quốc tế, đặc biệt là các nghề được ưu tiên đầu tư
154
tập trung; đồng thời thường xuyên rà soát, cập nhật, bổ sung đáp ứng những thay
đổi, tiến bộ và yêu cầu của ngành công nghiệp làm cơ sở cho việc phát triển chương
trình đào tạo đồng nhất với những tiêu chí đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề
quốc gia và tiêu chí tuyển dụng lao động.
- Thiết lập một cơ quan nhà nước chuyên trách nhằm quản lý, giám sát đảm
bảo chất lượng và tuân thủ chặt chẽ việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc
gia. Cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm hướng dẫn, tổ chức thực hiện, giám sát, lưu
trữ các thông tin liên quan đến tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và đánh giá, cấp
chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho người lao động làm việc tại Việt Nam bao
gồm cả lao động là người nước ngoài.
Kết luận Chương 3
Chương 3 của Luận án đã hoàn thành một số nội dung cơ bản sau:
- Nêu định hướng và mục tiêu phát triển đào tạo nghề nói chung và đào tạo
nghề chất lượng cao ở Việt Nam đến năm 2020 phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã
hội nước ta đến năm 2020;
- Xác định nhu cầu nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực qua đào tạo
nghề chất lượng cao đến năm 2020; xác định nhu cầu tài chính cho đào tạo nghề
chất lượng cao trong giai đoạn 2016-2020 để thực hiện Chiến lược phát triển nhân
lực Việt Nam và Chiến lược phát triển dạy nghề Việt Nam giai đoạn 2011-2020;
- Từ thực trạng về các giải pháp tài chính cho đào tạo nghề của Việt Nam
thời gian qua, đặc biệt là những tồn tại và hạn chế trong việc thực hiện các giải pháp
tài chính của Nhà nước và kinh nghiệm trong nước, quốc tế nhằm đưa ra các giải
pháp tài chính cũng như hoàn thiện các giải pháp phù hợp nhất trong bối cảnh của
đào tạo nghề chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay và điều kiện thực hiện các giải
pháp có hiệu quả.
155
KẾT LUẬN
Đổi mới và phát triển dạy nghề một cách mạnh mẽ, toàn diện, góp phần phát
triển nhanh nguồn nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ nhằm tăng cường
năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế, góp phần thực hiện
thành công mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020
đang là một nhiệm vụ trọng tâm của Chiến lược phát triển nhân lực quốc gia.
Trong điều kiện tổng nguồn tài chính của nước ta để phát triển dạy nghề
còn khiêm tốn, NCS chọn đề tài: “Giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất
lượng cao ở Việt Nam” để nghiên cứu thực hiện Luận án tiến sĩ kinh tế với kỳ
vọng tìm kiếm những cách thức tốt hơn trong việc đầu tư sử dụng nguồn lực vốn
rất hạn hẹp cho đào tạo nghề, làm động lực để thúc đẩy dạy nghề ở nước ta phát
triển trong thời gian tới góp phần tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao
năng lực cạnh tranh quốc gia.
Với thái độ làm việc nghiêm túc và tập trung của NCS, Luận án đã có được
những thành công cơ bản, như:
Thứ nhất, phát triển và làm rõ thêm về vị trí, vai trò của đào tạo nghề đối với
phát triển kinh tế - xã hội; phát triển và bổ sung thêm lý luận nhằm làm rõ khái
niệm, nội dung của đào tạo nghề chất lượng cao; giải pháp tài chính cho đào tạo
nghề chất lượng cao và các nhân tố ảnh hưởng tới giải pháp tài chính cho đào tạo
nghề chất lượng cao.
Thứ hai, nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm về giải pháp tài chính cho đào
tạo nghề chất lượng cao của một số quốc gia trên thế giới và rút ra những bài học
kinh nghiệm có giá trị đối với Việt Nam.
Thứ ba, luận án đã đi sâu phân tích đánh giá thực trạng giải pháp tài chính
cho đào tạo nghề chất lượng cao ở Việt Nam; chỉ ra được những mặt được, mặt
chưa được và nguyên nhân của giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao
từ trong giai đoạn 2007-2014.
Thứ tư, trên cơ sở lý luận về giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng
cao, kinh nghiệm nước ngoài và thực trạng ở Việt Nam, luận án đã nêu định hướng
và mục tiêu phát triển đào tạo nghề chất lượng cao của Đảng và Nhà nước, dự báo
156
nhu cầu nguồn nhân lực qua đào tạo nghề chất lượng cao và nhu cầu nguồn tài
chính cho đào tạo nghề chất lượng cao từ đó đề xuất 06 giải pháp tài chính cho đào
tạo nghề chất lượng cao trong thời gian tới.
Thứ năm, luận án đề xuất các điều kiện để thực hiện giải pháp, gồm các điều
kiện về việc Nhà nước phải tiếp tục ổn định chính trị - xã hội và ổn định quản lý
Nhà nước về đào tạo nghề; Thực hiện tốt công tác dự báo về đào tạo nghề, đào tạo
nghề chất lượng cao, phân luồng học sinh sau tốt nghiệp trung học cơ sở.
Luận án được hoàn thành dưới sự dẫn dắt và chỉ bảo tận tình của các thầy
hướng dẫn, các nhà khoa học của Học viện Tài chính và Tổng cục Dạy nghề, Bộ
LĐTBXH; sự hỗ trợ tích cực của các lãnh đạo, giảng viên bộ môn Quản lý tài chính
công, của các cán bộ, chuyên viên khoa Sau đại học của Học viện Tài chính trong
suốt thời gian NCS theo học và viết luận án. Xin bày tỏ lời cám ơn chân thành tới
các tập thể, cá nhân đã giúp tôi hoàn thành bản luận án này.
Mặc dù tác giả của bản luận án đã nỗ lực rất cao, nhưng vấn đề các giải pháp
tài chính cho dạy nghề chất lượng cao là nội dung mới và khá phức tạp; các đơn vị
cũng vừa thí điểm vừa tổng kết đánh giá; tài liệu, số liệu tham khảo để tổng kết lý
luận và đánh giá thực trạng giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao ở
Việt Nam thời gian qua không có nhiều. Bên cạnh đó, kiến thức tích lũy và kinh
nghiệm nghiên cứu của tác giả cũng còn nhiều hạn chế; do đó luận án khó tránh
khỏi những khiếm khuyết nhất định. Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô,
các nhà khoa học và những người có quan tâm tới mảng đề tài này.
Xin trân trọng cảm ơn./.
157
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Khương Thị Nhàn (2011), "Giải pháp huy động nguồn lực tài chính cho hoạt động
đào tạo nghề tại Việt Nam", Tạp chí Tài chính, số 3 (557), tr.33-37.
2. Khương Thị Nhàn (2015), “Giải pháp đầu tư tài chính trong đào tạo nghề tại
Việt Nam", Tạp chí Tài chính, Kỳ 2, số 619, tr.14-16.
3. Khương Thị Nhàn (2015), “Đẩy mạnh cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp
giáo dục dạy nghê công lập", Tạp chí Tài chính, Kỳ 2, số 621, tr.14-15.
4. Khương Thị Nhàn (2015), “Các giải pháp tăng cường xã hội hóa nguồn lực cho hoạt
động đào tạo nghề tại Việt Nam”, Tạp chí Khoa học đào tạo nghề, số 26, tr.12-18.
158
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Tài liệu tham khảo tiếng Việt
1. Ban Khoa giáo Trung ương (2002), Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới
- Chủ trương, thực hiện, đánh giá, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
2. Ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng cục Dạy nghề nghề, Viện nghiên cứu phát
triển Phương Đông (2012), Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Đề án đổi mới cơ chế tài chính của giáo dục
và đào tạo Việt Nam giai đoạn 2008-2012, Hà Nội.
4. Bộ trưởng Bộ LĐTBXH (2011), Báo cáo quá trình chuẩn bị và kết quả lựa
chọn danh mục nghề trọng điểm & trường được lựa chọn nghề trọng điểm để
hỗ trợ đầu tư kèm theo tờ trình lãnh đạo Tổng cục ngày 01/07/2011, QĐ phê
duyệt nghề trọng điểm 826, 854, 1477, 960.
5. Đỗ Minh Cương, Mạc Văn Tiến (2004), Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt
Nam - Lý luận và thực tiễn, NXB Lao động -Xã hội, Hà Nội.
6. Phạm Tất Dong (2011), Xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao, http://dvhnn.org.vn/vi/news/Dien-dan-day-va-hoc/Xay-dung-
con-nguoi-va-phat-trien-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-282).
7. Đặng Văn Du (2004), Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho
đào tạo đại học, Luận án tiến sĩ.
8. Nguyễn Hữu Dũng (chủ biên) (2008), Đào tạo và quản lý nhân lực, NXB Từ
điển Bách Khoa, Hà Nội.
9. Trương Anh Dũng (2014), Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát
triển đào tạo nghề ở Việt Nam đến năm 2020, Luận án tiến sĩ.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt
Nam lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
159
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11
năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế, Hà Nội.
14. Trần Thị Thu Hà (1993), Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý hệ thống ngân
sách, hệ thống giáo dục quốc dân, Luận án tiến sĩ, Hà Nội.
15. Phạm Minh Hạc (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
16. Bùi Tiến Hanh (2007), Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo
dục ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ.
17. Chu Hảo, Nhân lực chất lượng cao không đồng nghĩa học vị cao,
http://www.doanhtri.vn/article/chuyen-muc-chuyen-gia/nhan-luc-chat-luong-
cao-khong-dong-nghia-hoc-vi-cao.aspx, 03/02/2012 11:43 GMT+7
18. Học viện Tài chính (2009), Giáo trình Quản lý tài chính công, Hà Nội.
19. Nguyễn Thu Hương (2014), Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các
chương trình đào tạo chất lượng cao trong các trường Đại học công lập tại
Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
20. Khoa Tài chính công - Học Viện Tài chính (2012), Kỷ yếu Hội thảo Hội thảo
khoa học bàn về Cơ chế quản lý NSNN, Hà Nội.
21. Phạm Văn Ngọc (2007), Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Đại học quốc
gia trong tình hình đổi mới quản lý tài chính công ở nước ta hiện nay, Luận án
tiến sĩ.
22. Hoàng Thị Thúy Nguyệt (2006), Các giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển
sự nghiệp y tế ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ.
23. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật NSNN (số
01/2002/QH11), Hà Nội.
24. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Giáo dục,
Hà Nội.
25. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Luật Đào tạo
nghề, Hà Nội.
26. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Giáo dục, Hà Nội.
160
27. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật Giáo dục
nghề nghiệp, Hà Nội.
28. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Hà Nội.
29. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 630/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 về việc
phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề Việt Nam thời kỳ 2011-2020, Hà Nội.
30. Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định số 371/QĐ-TTg ngày 28/2/2013 về việc phê duyệt Đề án "Chuyển giao các bộ chương trình; đào tạo, bồi dưỡng
giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo nghề; đào tạo thí điểm các nghề trọng điểm các cấp độ khu vực ASEAN, quốc tế" giai đoạn 2012 - 2015, Hà Nội. 31. Thủ tướng Chính phủ (2014), Quyết định số 761/QĐ-TTg ngày 23/5/2014 về
việc phê duyệt Đề án phát triển các trường nghề chất lượng cao đến năm 2020, Hà Nội.
32. Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) (2007), Cấp tài chính cho dạy nghề Việt
Nam, Báo cáo Dự án, Hà Nội.
33. Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2012), Báo cáo Hội nghị khu vực về đào tạo nghề tại Việt Nam, Hà Nội.
34. Tổng cục Dạy nghề nghề năm 2006 và 2010, Điều tra Thị trường lao động. 35. Tổng cục Dạy nghề nghề (2014), Tài liệu Hội nghị đánh giá công tác tuyển
sinh học nghề, tổ chức thi tốt nghiệp năm 2014; phương hướng, nhiệm vụ
tuyển sinh và định hướng tổ chức thi tốt nghiệp năm 2015, Hà Nội.
36. Nguyễn Huy Trung (2006), Xung quanh vấn đề xây dựng nguồn nhân lực chất
lượng cao, Lao động và Xã hội.
37. Ủy ban Tài chính, ngân sách của Quốc hội (2011), Lập ngân sách và các thiết
chế ngân sách, Hà Nội.
38. Ủy ban Tài chính, ngân sách của Quốc hội và Bộ Tài chính (2012), Kỷ yếu Hội
thảo Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, Hà Nội.
39. Viện Nghiên cứu Khoa học đào tạo nghề (2012), Báo cáo đào tạo nghề Việt
Nam năm 2011, Hà Nội.
40. Viện Nghiên cứu Khoa học đào tạo nghề (2013), Báo cáo đào tạo nghề Việt
Nam năm 2012, Hà Nội.
41. Viện Nghiên cứu Khoa học đào tạo nghề (2014), Báo cáo đào tạo nghề Việt
Nam năm 2013, Hà Nội.
161
42. Viện Nghiên cứu Khoa học và Đào tạo nghề (2014), Một số giải pháp đầu tư
đồng bộ phát triển nghề trọng điểm, Đề tài cấp Bộ.
43. Viện Nghiên cứu Khoa học đào tạo nghề (2015), Báo cáo đào tạo nghề Việt
Nam năm 2014, Hà Nội. www.nhantainhanluc.com. 44.
* Tài liệu tham khảo tiếng Anh 45. ADB and MOLISA Vietnam (1999), TA 3063-VIE. Capacity Building in Vocational and Technical Education Project. ASHTON BROWN ASSOCIATES limited.
46. Employment Insurance White Paper 2009: Introduction to the Employment
Insurance Plan of the Republic of Korea, page 114, 115.
47. Gasskov, Vladimir (2000), Managing Vocational Training Systems, A handbook for Senior Administrators. Geneva: International Labour Office.
48. GIZ (2003), Dealing with Fincancing of Vocational Education. 49. http://www.bildung-news.com/bildung-und-karriere/ausbildung-und-
lehre/beliebteste-ausbildungsberufe-2011/
50. http://malaysiafactbook.com/Economic_Transformation_Programme 51. http://www.unevoc.unesco.org/tvetipedia.0.htmltx_drwiki_pi1BkeywordD=M
alaysiahttp://www.tvet-online.asia/issue/1/mustapha_rahmat_tvet1 52. ILO (1950), Vocational Training (Adults) Recommendation (No. 88). 53. Jutta Franz (2007), Cấp tài chính cho dạy nghề Việt Nam, Hà Nội, T12/2007. 54. Kau Winand (1999) Costs and Benefits of Vocational Education and Training
at the Microeconomic level.
55. Key Reforms in Revitalising Technical and Vocational Education and Training
in Malaysia
56. Kirkpatrick, D.L (1995), Evaluating training programs. San Francisco. 57. National People's Congress of the People's Republic of China (1996),
Vocational Education Law.
58. OECD (1998), Who pay for training? Some policy approaches to financing
vocational training. European Journal.
59. UNEVOC (1996), Financing Technical and Vocational Education: Modalities
and Experiences. Berlin (UNESCO).
60. VET in Europe - Country Report Germany 10th edition, November 2012 61. WB. World Development Indicators. - London: Oxford, 2000. 62. William McGehee, Paul W. Thayer (1967), Training in Business and Industry. Wiley.
162
PHỤ LỤC
Phụ lục 01
Hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề phân theo ngành
Đơn vị tính: triệu won, %
87 (0.0)
120 (0.1)
Nông nghiệp, lâm và ngư nghiệp
215 (0.1)
250 (0.1)
367 (0.1)
398 (0.1)
375 (0.1)
437 (0.1)
Mỏ
54 (0.0)
48 (0.0)
Sản xuất
87,746 (48.5)
95,747 (48.3)
112,847 (47.7)
129,557 (43.6)
151,503 (44.4)
151,867 (39.7)
171,080 39.5)
134,023 (38.6)
Điện, gas và nước
6,837 (3.8)
6,458 (3.3)
6,733 (2.8)
7,999 (2.7)
9,540 (2.8)
10,334 (2.7)
10,162 (2.3)
7,229 (2.1)
Xây dựng
9,914 (5.5)
12,964 (6.5)
15,246 (6.4)
22,168 (7.5)
21,552 (6.3)
20,934 (5.5)
20,331 (4.7)
18,277 (5.3)
11,187 (6.2)
9,994 (5.0)
10,271 (4.3)
15,583 (5.2)
18,804 (5.5)
36,710 (9.6)
46,132 (10.7)
37,002 (10.7)
15,932 (8.8)
17,730 (8.9)
22,310 (9.4)
25,901 (8.7)
27,937 (8.2)
37,864 (9.9)
47,971 (11.1)
31,159 (9.0)
42,514 (23.5)
33,359 (16.8)
36,095 (15.4)
43,682 (14.7)
42,646 (12.5)
57,130 (14.9)
58,338 (13.5)
46,068 (13.3)
Bán buôn và bán lẻ, nhà hàng và khách sạn Giao thông, lưu trữ và thông tin Bảo hiểm tài chính và bất động sản
Dịch vụ giáo dục và khác
6,567 (3.6)
21,824 (11.0)
32,778 (13.9)
51,723 (17.4)
68,575 (20.1)
67,344 (20.1)
78,551 (18.1)
40,349 (11.6)
Tổng cộng
180,838 (100.0)
198,243 (100.0)
236,495 (100.0)
269,864 (100.0)
340,924 (100.0)
382,581 (100.0)
432,942 (100.0)
346,763 (100.0)
Nguồn: 1) Bảo hiểm thất nghiệp (2005), Bộ Lao động và việc làm.
2) Số liệu thống kê bảo hiểm thất nghiệp (mỗi năm), dịch vụ thông tin việc làm Hàn Quốc.
Ngành 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
163
Phụ lục 02 Hỗ trợ kinh phí theo nghề đào tạo [58]
Đơn vị tính: triệu won, %
1999
2000
2001
2002
2003
2004
Nghề
Tất cả
66,458 (100.0)
140,385 (100.0)
167,103 (100.0)
170,032 (100.0)
180,797 (100.0)
197,946 (100.0)
928 (1.4)
1,604 (1.1)
1,948 (1.2)
1,731 (1.0)
2,340 (1.3)
294 (0.1)
Nông nghiệp, lâm và ngư nghiệp và Khai thác khoáng sản
Dệt may
Hóa học và công nghiệp gốm sứ
Kim loại
Máy móc và thiết bị
Xây dựng
Điện
Điện tử
Thông tin và truyền thông Thiết bị giao thông vận tải Ứng dụng công nghiệp
Thủ công
Dịch vụ
Quản lý văn phòng
Tài chính và Bảo hiểm
Điều trị y tế
Môi trường
Đào tạo theo trình độ
177 (0.1) 1,413 (0.7) 709 (0.4) 21,483 (10.9) 7,210 (3.6 9,213 (4.7) 6,333 (3.2) 12,053 (6.1) 2,331 (1.2) 2,143 (1.1) 149 (0.1) 4,956 (2.5) 76,573 (38.7) 19,882 (10.0) 463 (0.2) 371 (0.2) 32,194 (16.3)
Khác
-
463 (0.7) 775 (1.2) 309 (0.5) 3,860 (5.8) 2,483 (3.7) 1,732 (2.6 1,710 (2.6) 6,862 (10.3) 482 (0.7) 221 (0.3) 48 (0.1) 991 (1.5) 42,555 (64.0) 2,757 (4.1) 173 (0.3) 76 (0.1) 11 (0.0) 23 (0.0)
467 (0.3) 1,054 (0.8) 921 (0.7) 8,322 (5.9) 6,491 (4.6) 3,720 (2.7) 2,773 (2.0) 16,807 (12.0) 1,009 (0.7) 333 (0.2) 69 (0.0) 1,952 (1.4) 86,811 (61.8) 7,592 (5.4) 210 (0.1) 191 (0.1) 1 (0.0) 57 (0.0)
205 (0.1) 1,466 (0.9) 590 (0.4) 13,115 (7.8) 7,108 (4.3) 5,120 (3.1) 5,385 (3.2) 20,805 (12.5) 1,488 (0.9) 981 (0.6) 208 (0.1) 2,286 (1.4) 89,123 (53.3) 12,688 (7.6) 387 (0.2) 160 (0.1) 1,908 (1.1) 2,132 (1.3)
90 (0.1) 820 (0.5) 396 (0.2) 15,819 (9.3) 6,994 (4.1) 5,964 (3.5) 8,215 (4.8) 12,891 (7.6) 2,584 (1.5) 923 (0.5) 44 0.0 2,575 (1.5) 78,851 (46.4) 13,306 (7.9) 538 (0.3) 204 (0.1) 12,386 (7.3) 5,646 (3.3)
48 (0.0) 1,385 (0.8) 341 (0.2) 19,495 (10.8) 5,464 (3.0) 6,886 (3.8 6,689 (3.7) 13,952 (7.7) 2,767 (1.5) 1,318 (0.7) 130 (0.1) 3,537 (2.0) 70,138 (38.8) 17,167 (9.5) 886 (0.5) 425 (0.2) 25,703 (14.2) 2,126 (1.2)
164
Phụ lục 03
Thống kê so sánh các ngành được đầu tư trọng điểm theo
Quyết định 880/QĐ-TTg và Quyết định số 854/QĐ-BLĐTBXH
Nhóm trong Quyết định
TT
Tên nghề trọng điểm
Quốc tế
Khu vực
Quốc gia
880/QĐ-TTg
TT trong QĐ 854/QĐ- TTg
Tổng số
10
22
7
1
7
Công nghệ chế biến chè
x
Đ Ngành chế biến nông lâm thủy sản, thực phẩm, đồ uống
2
10
Công nghệ ô tô
x
x
x HT l Công nghiệp hỗ trợ
3
11
x
Công nghệ sản xuất sản phẩm từ cao su
Đ Ngành chế biến nông lâm thủy sản, thực phẩm, đồ uống
4
12
x
Công nghệ sản xuất bột giấy và giấy
Đ Ngành chế biến nông lâm thủy sản, thực phẩm, đồ uống
5
13
x
Công nghệ sản xuất đường mía
Đ Ngành chế biến nông lâm thủy sản, thực phẩm, đồ uống
6
14
x
Công nghệ sản xuất ván nhân tạo
Đ Ngành chế biến nông lâm thủy sản, thực phẩm, đồ uống
7
15
Công nghệ sinh học
x
x
x
Đ Ngành chế biến nông lâm thủy sản, thực phẩm, đồ uống
8
16
x
x
x
C Ngành điện tử, công nghệ
Công nghệ thông tin (ứng dụng phần mềm)
thông tin
9
18
x
Cơ điện lạnh thủy sản
H Ngành điện
10
19
x
Cơ điện nông thôn
H Ngành điện
11
20
Cơ điện tử
x
x
H Ngành điện
12
21
x
Chạm khắc đá
G Ngành khai thác và chế
biến khoáng sản
x
13
24
Chế biến cà phê - ca cao
Đ Ngành chế biến nông lâm thủy sản, thực phẩm, đồ uống
165
TT
Tên nghề trọng điểm
Quốc tế
Khu vực
Quốc gia
Nhóm trong Quyết định 880/QĐ-TTg
TT trong QĐ 854/QĐ- TTg
x
14
25
Chế biến mủ cao su
Đ Ngành chế biến nông lâm thủy sản, thực phẩm, đồ uống
x
15
26
Chế biến thực phẩm
Đ Ngành chế biến nông lâm thủy sản, thực phẩm, đồ uống
16
27
x
x
Chế biến và bảo quản thủy sản
Đ Ngành chế biến nông lâm thủy sản, thực phẩm, đồ uống
x
x
H Ngành điện
17
30
Điện công nghiệp
x
x
H Ngành điện
18
31
Điện dân dụng
x
H Ngành điện
19
32
Điện tàu thủy
x
x
20
33
Điện tử công nghiệp
x
C Ngành điện tử, công nghệ
thông tin
x
21
34
Điện tử dân dụng
C Ngành điện tử, công nghệ
thông tin
x
22
38
Đúc, dát đồng mỹ nghệ
G Ngành khai thác và chế
biến khoáng sản
x
23
42
x
x
Kỹ thuật chế biến món ăn
Đ Ngành chế biến nông lâm thủy sản, thực phẩm, đồ uống
24
86
x
E Ngành sản xuất vật liệu
Sản xuất gốm, sứ xây dựng
xây dựng
25
105
x
K Ngành dầu khí
Vận hành thiết bị chế biến dầu khí
166
Phụ lục 04
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Số: 30/2010/TT-BLĐTBXH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2010
THÔNG TƯ
Quy định chuẩn giáo viên, giảng viên dạy nghề
Căn cứ Luật Dạy nghề ngày 29 tháng 11 năm 2006; Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009;
Căn cứ Nghị định 186/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội;
Căn cứ Nghị định số 70/2009/NĐ-CP ngày 21 tháng 8 năm 2009 của Chính
phủ, quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về dạy nghề;
Căn cứ Quyết định 09/2005/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ
nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010”;
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chuẩn giáo viên, giảng viên
dạy nghề như sau:
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng 1. Thông tư này quy định chuẩn giáo viên, giảng viên dạy nghề, bao gồm các
yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực nghề nghiệp.
2. Thông tư này áp dụng đối với giáo viên, giảng viên dạy nghề tại các
trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề và các cơ sở khác có tham gia hoạt động dạy nghề.
Thông tư này không áp dụng đối với giáo viên, giảng viên dạy các môn
chung, các môn văn hoá tại các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề.
167
Điều 2. Mục đích ban hành chuẩn giáo viên, giảng viên dạy nghề 1. Làm cơ sở để xây dựng mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo, bồi dưỡng
nhằm nâng cao chất lượng giáo viên, giảng viên dạy nghề.
2. Giúp giáo viên, giảng viên dạy nghề tự đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lực nghề nghiệp, từ đó xây dựng kế hoạch học tập, rèn luyện phấn đấu nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
3. Làm cơ sở để đánh giá giáo viên, giảng viên dạy nghề hàng năm phục vụ
công tác quy hoạch, sử dụng, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ này.
4. Làm cơ sở để xây dựng chế độ, chính sách đối với giáo viên, giảng viên
dạy nghề.
Điều 3. Giải thích từ ngữ Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. “Chuẩn giáo viên, giảng viên dạy nghề” là hệ thống các yêu cầu cơ bản về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực nghề nghiệp mà giáo viên, giảng viên dạy nghề cần đạt được nhằm đáp ứng mục tiêu dạy nghề.
2. “Tiêu chí” là một lĩnh vực của chuẩn, bao gồm các yêu cầu có nội dung liên quan thể hiện năng lực của giáo viên, giảng viên thuộc lĩnh vực đó. Trong mỗi tiêu chí có một số tiêu chuẩn.
3. “Tiêu chuẩn” là những yêu cầu cụ thể của tiêu chí. Trong mỗi tiêu chuẩn
có các chỉ số đánh giá.
4. “Giáo viên, giảng viên dạy nghề” là giáo viên dạy trình độ sơ cấp nghề (sau đây gọi là giáo viên sơ cấp nghề), giáo viên dạy trình độ trung cấp nghề (sau đây gọi là giáo viên trung cấp nghề), giảng viên dạy trình độ cao đẳng nghề (sau đây gọi là giảng viên cao đẳng nghề).
Chương II
CHUẨN GIÁO VIÊN, GIẢNG VIÊN DẠY NGHỀ
Điều 4. Tiêu chí 1: Phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, lối sống 1. Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị a) Chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước;
b) Thường xuyên học tập nâng cao nhận thức chính trị;
c) Có ý thức tổ chức kỷ luật; có ý thức tập thể, phấn đấu vì lợi ích chung; đấu
tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật và các quy định nghề nghiệp;
168
d) Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, tích cực tham gia các hoạt động
chính trị, xã hội.
2. Tiêu chuẩn 2: Đạo đức nghề nghiệp a) Yêu nghề, tâm huyết với nghề; có ý thức giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy
tín, lương tâm nhà giáo; đoàn kết, hợp tác, cộng tác với đồng nghiệp, có ý thức xây dựng tập thể tốt để cùng thực hiện mục tiêu dạy nghề; thương yêu, tôn trọng người học, giúp người học khắc phục khó khăn để học tập và rèn luyện tốt, bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng của người học;
b) Tận tụy với công việc; thực hiện đúng điều lệ, quy chế, nội quy của đơn vị,
cơ sở, ngành;
c) Công bằng trong giảng dạy, giáo dục, khách quan trong đánh giá năng lực của
người học; thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí, chống bệnh thành tích;
d) Thực hiện phê bình và tự phê bình thường xuyên, nghiêm túc. 3. Tiêu chuẩn 3: Lối sống, tác phong
a) Sống có lý tưởng, có mục đích, ý chí vươn lên, có tinh thần phấn đấu liên tục với động cơ trong sáng và tư duy sáng tạo; thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh;
b) Có lối sống lành mạnh, văn minh, phù hợp với bản sắc dân tộc và thích
ứng với sự tiến bộ của xã hội; có thái độ ủng hộ, khuyến khích những biểu hiện của lối sống văn minh, tiến bộ và phê phán những biểu hiện của lối sống lạc hậu, ích kỷ; c) Tác phong làm việc khoa học; trang phục khi thực hiện nhiệm vụ giản dị,
gọn gàng, lịch sự, không gây phản cảm và phân tán sự chú ý của người học; có thái độ văn minh, lịch sự, đúng mực trong quan hệ xã hội, trong giao tiếp với đồng nghiệp, với người học, với phụ huynh người học và nhân dân; giải quyết công việc khách quan, tận tình, chu đáo;
d) Xây dựng gia đình văn hoá; biết quan tâm đến những người xung quanh;
thực hiện nếp sống văn hoá nơi công cộng.
Điều 5. Tiêu chí 2: Năng lực chuyên môn 1. Tiêu chuẩn 1: Kiến thức chuyên môn a) Đối với giáo viên sơ cấp nghề - Có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp trở lên; có
trình độ A về tin học trở lên;
- Nắm vững kiến thức của môn học, mô-đun được phân công giảng dạy; - Có kiến thức về môn học, mô-đun liên quan;
169
- Có hiểu biết về thực tiễn sản xuất của nghề. b) Đối với giáo viên trung cấp nghề - Có bằng tốt nghiệp đại học hoặc đại học sư phạm kỹ thuật trở lên, chuyên ngành phù hợp với nghề giảng dạy; có trình độ B về một ngoại ngữ thông dụng và
có trình độ A về tin học trở lên;
- Nắm vững kiến thức nghề được phân công giảng dạy; - Có kiến thức về nghề liên quan;
- Hiểu biết về thực tiễn sản xuất và những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công
nghệ mới của nghề.
c) Đối với giảng viên cao đẳng nghề - Có bằng tốt nghiệp đại học hoặc đại học sư phạm kỹ thuật trở lên, chuyên
ngành phù hợp với nghề giảng dạy; có trình độ B về một ngoại ngữ thông dụng và có trình độ B về tin học trở lên;
- Nắm vững kiến thức nghề được phân công giảng dạy;
- Có kiến thức về nghề liên quan; - Hiểu biết về thực tiễn sản xuất và những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công
nghệ mới của nghề.
2. Tiêu chuẩn 2: Kỹ năng nghề
a) Đối với giáo viên sơ cấp nghề - Có kỹ năng nghề tương đương trình độ trung cấp nghề hoặc bậc 3/7, bậc 2/6
hoặc là nghệ nhân cấp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương trở lên;
- Thực hiện thành thạo các kỹ năng nghề quy định trong chương trình môn
học, mô-đun được phân công giảng dạy;
- Biết tổ chức lao động sản xuất, dịch vụ nghề được phân công giảng dạy; - Nắm vững kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động của nghề.
b) Đối với giáo viên trung cấp nghề - Có kỹ năng nghề tương đương trình độ cao đẳng nghề hoặc bậc 4/7, bậc 3/6
trở lên hoặc là nghệ nhân cấp quốc gia;
- Thực hiện thành thạo các kỹ năng của nghề được phân công giảng dạy; - Tổ chức thành thạo lao động sản xuất, dịch vụ nghề được phân công giảng dạy; - Nắm vững kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động của nghề. c) Đối với giảng viên cao đẳng nghề
- Có kỹ năng nghề tương đương trình độ cao đẳng nghề hoặc bậc 5/7, bậc 4/6
trở lên hoặc là nghệ nhân cấp quốc gia;
170
- Thực hiện thành thạo các kỹ năng của nghề được phân công giảng dạy;
- Tổ chức thành thạo lao động sản xuất, dịch vụ nghề được phân công giảng dạy;
- Nắm vững kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động của nghề.
Điều 6. Tiêu chí 3: Năng lực sư phạm dạy nghề
1. Tiêu chuẩn 1: Trình độ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề, thời gian tham gia
giảng dạy
a) Có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc cao đẳng sư phạm kỹ
thuật hoặc có chứng chỉ sư phạm dạy nghề phù hợp với cấp trình độ đào tạo hoặc
tương đương;
b) Có thời gian tham gia giảng dạy ít nhất 6 tháng đối với giáo viên sơ cấp
nghề, 12 tháng đối với giáo viên trung cấp nghề, giảng viên cao đẳng nghề.
2. Tiêu chuẩn 2: Chuẩn bị hoạt động giảng dạy
a) Lập được kế hoạch giảng dạy môn học, mô-đun được phân công trên cơ sở
chương trình, kế hoạch đào tạo của cả khoá học;
b) Soạn được giáo án theo quy định, thể hiện được các hoạt động dạy và học;
c) Lựa chọn được phương pháp dạy học phù hợp cho các bài học của chương
trình môn học, mô-đun thuộc nghề được phân công giảng dạy;
d) Chuẩn bị đầy đủ các phương tiện dạy học, trang thiết bị dạy nghề, nguyên,
nhiên, vật liệu thực hành cần thiết; tự làm được các loại phương tiện dạy học thông
thường.
Đối với giáo viên trung cấp nghề, giảng viên cao đẳng nghề, ngoài yêu cầu
trên còn phải chủ trì hoặc tham gia thiết kế và bố trí trang thiết bị dạy học của
phòng học chuyên môn phù hợp với chương trình của nghề phân công giảng dạy.
3. Tiêu chuẩn 3: Thực hiện hoạt động giảng dạy
a) Tổ chức dạy học phù hợp với nghề đào tạo và với từng đối tượng người
học; thực hiện đầy đủ kế hoạch giảng dạy, đúng chương trình, nội dung;
b) Thực hiện các giờ dạy lý thuyết/thực hành/tích hợp theo đúng giáo án, đảm
bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ theo quy định;
c) Biết vận dụng, phối hợp các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích
cực, sáng tạo, phát triển năng lực tự học của người học;
d) Sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học, trang thiết bị dạy nghề để
nâng cao hiệu quả giảng dạy, đảm bảo chất lượng dạy nghề; ứng dụng được công
nghệ thông tin trong giảng dạy.
171
4. Tiêu chuẩn 4: Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học
a) Lựa chọn và thiết kế được các công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
của người học về kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp với môn học, mô-đun được
phân công giảng dạy;
b) Thực hiện việc kiểm tra, đánh giá toàn diện, chính xác, mang tính giáo dục
và đúng quy định.
5. Tiêu chuẩn 5: Quản lý hồ sơ dạy học
a) Thực hiện đầy đủ các quy định về sử dụng biểu mẫu, sổ sách, hồ sơ dạy học;
b) Bảo quản, lưu trữ, sử dụng hồ sơ dạy học theo quy định.
6. Tiêu chuẩn 6: Xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy
a) Đối với giáo viên sơ cấp nghề
- Nắm được căn cứ, nguyên tắc, yêu cầu và quy trình xây dựng chương trình
dạy nghề trình độ sơ cấp;
- Có khả năng tham gia biên soạn, chỉnh lý chương trình dạy nghề trình độ sơ
cấp, chương trình bồi dưỡng nghề phù hợp với nguyên tắc xây dựng và mục tiêu của
chương trình; tham gia biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy trình độ sơ cấp nghề.
b) Đối với giáo viên trung cấp nghề
- Nắm được căn cứ, nguyên tắc, yêu cầu và quy trình xây dựng chương trình
dạy nghề trình độ trung cấp;
- Có khả năng chủ trì hoặc tham gia biên soạn, chỉnh lý chương trình dạy
nghề trình độ trung cấp, chương trình bồi dưỡng nghề phù hợp với nguyên tắc xây
dựng và mục tiêu của chương trình; chủ trì hoặc tham gia biên soạn giáo trình, tài
liệu giảng dạy trình độ trung cấp nghề.
c) Đối với giảng viên cao đẳng nghề
- Nắm được căn cứ, nguyên tắc, yêu cầu và quy trình xây dựng chương trình
dạy nghề trình độ cao đẳng;
- Có khả năng chủ trì hoặc tham gia biên soạn, chỉnh lý chương trình dạy
nghề trình độ cao đẳng, chương trình bồi dưỡng nghề phù hợp với nguyên tắc xây
dựng và mục tiêu của chương trình; chủ trì hoặc tham gia biên soạn giáo trình, tài
liệu giảng dạy trình độ cao đẳng nghề.
7. Tiêu chuẩn 7: Xây dựng kế hoạch, thực hiện các hoạt động giáo dục
a) Xây dựng được kế hoạch giáo dục người học thông qua giảng dạy và qua
các hoạt động khác;
172
b) Thực hiện việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp, thái độ nghề nghiệp thông
qua việc giảng dạy môn học, mô-đun theo kế hoạch đã xây dựng;
c) Vận dụng được các hiểu biết về tâm lý, giáo dục vào thực hiện hoạt động
giáo dục người học ở cơ sở dạy nghề;
d) Đánh giá kết quả các mặt rèn luyện đạo đức của người học theo quy định
một cách chính xác, công bằng và có tác dụng giáo dục.
8. Tiêu chuẩn 8: Quản lý người học, xây dựng môi trường giáo dục, học tập
a) Quản lý được các thông tin liên quan đến người học và sử dụng hiệu quả
các thông tin vào giáo dục, dạy học, quản lý người học;
b) Xây dựng môi trường giáo dục, học tập lành mạnh, thuận lợi, dân chủ, hợp tác.
9. Tiêu chuẩn 9: Hoạt động xã hội
a) Phối hợp với gia đình người học và cộng đồng động viên, hỗ trợ, giám sát
việc học tập, rèn luyện của người học; góp phần huy động các nguồn lực xã hội xây
dựng, phát triển cơ sở dạy nghề;
b) Tham gia các hoạt động xã hội trong và ngoài cơ sở dạy nghề, xây dựng
quan hệ giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp nhằm phát triển cơ sở dạy nghề,
cộng đồng, xây dựng phong trào học nghề lập nghiệp trong xã hội.
Điều 7. Tiêu chí 4: Năng lực phát triển nghề nghiệp, nghiên cứu khoa học
1. Tiêu chuẩn 1: Trao đổi kinh nghiệm, học tập, bồi dưỡng, rèn luyện
a) Thường xuyên dự giờ, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, giáo dục với đồng
nghiệp; tích cực tham gia hội giảng các cấp;
b) Tham gia bồi dưỡng đồng nghiệp theo yêu cầu phát triển của khoa, tổ
chuyên môn;
Đối với giáo viên trung cấp nghề, giảng viên cao đẳng nghề: Phải tham gia bồi
dưỡng nâng cao, luyện tay nghề cho học sinh, sinh viên giỏi;
c) Thường xuyên tự học tập, bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp;
d) Tham gia các khoá đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức,
kỹ năng nghề, công nghệ, phương pháp giảng dạy đáp ứng yêu cầu của dạy nghề.
2. Tiêu chuẩn 2: Nghiên cứu khoa học
Chỉ áp dụng đối với giáo viên trung cấp nghề, giảng viên cao đẳng nghề.
a) Có kiến thức, kỹ năng cơ bản về nghiên cứu khoa học và công nghệ;
b) Chủ trì hoặc tham gia đề tài nghiên cứu khoa học từ cấp cơ sở trở lên.
173
Chương III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 8. Trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội 1. Hướng dẫn đánh giá, xếp loại giáo viên, giảng viên dạy nghề theo chuẩn
giáo viên, giảng viên dạy nghề quy định tại Thông tư này.
2. Xây dựng chính sách động viên, khuyến khích giáo viên, giảng viên dạy
nghề đạt chuẩn.
3. Giao cho Tổng cục Dạy nghề tổng hợp kết quả đánh giá, xếp loại giáo viên, giảng viên dạy nghề hàng năm; trên cơ sở đó có kế hoạch xây dựng, nâng cao
chất lượng đội ngũ giáo viên, giảng viên dạy nghề.
Điều 9. Trách nhiệm của các bộ, ngành, cơ quan Trung ương của Tổ chức
chính trị - xã hội, Uỷ ban nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan Trung ương của Tổ chức chính trị - xã hội, Uỷ ban nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, kiểm tra việc tổ chức thực hiện đánh giá, xếp loại giáo viên, giảng viên dạy nghề theo hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các
quy định của Thông tư này đối với các cơ sở dạy nghề thuộc quyền quản lý, thông báo kết quả về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Tổng cục Dạy nghề); căn cứ kết quả đánh giá, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm chuẩn hoá và nâng
cao chất lượng đội ngũ giáo viên, giảng viên dạy nghề của các cơ sở dạy nghề thuộc quyền quản lý.
Điều 10. Trách nhiệm của cơ sở dạy nghề Các cơ sở dạy nghề tổ chức đánh giá, xếp loại giáo viên, giảng viên theo
hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các quy định của Thông tư này, báo cáo kết quả cho các cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp; căn cứ kết quả đánh giá, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hoặc đề xuất với cơ quan quản lý cấp
trên có giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, giảng viên dạy nghề.
Điều 11. Trách nhiệm của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, giảng viên
dạy nghề
Trên cơ sở chuẩn giáo viên, giảng viên dạy nghề quy định tại Thông tư này, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề xây dựng mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp nhằm đảm bảo chất lượng đội ngũ giáo viên dạy
nghề đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
174
Chương IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 12. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16 tháng 11 năm 2010. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc đề nghị phản ánh về Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội để xem xét, giải quyết./.
KT. BỘ TRƯỞNG THỨ TRƯỞNG Đàm Hữu Đắc
Nơi nhận: - Ban Bí thư Trung ương Đảng; - Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; - Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng; - Văn phòng Quốc hội và các Uỷ ban của Quốc Hội; - Văn phòng Chủ tịch nước; - Văn phòng Chính phủ; - Toà án nhân dân tối cao; - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; - Cơ quan TW của các đoàn thể; - HĐND, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW; - Sở LĐ-TB&XH các tỉnh, thành phố trực thuộc TW; - Cục Kiểm tra văn bản QPPL - Bộ Tư pháp; - Công báo; - Website của Chính phủ; - Lưu: VT, TCDN (10 bản).
175
Phụ lục 05
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 17 tháng 01 năm 2008
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Số: 02/2008/QĐ-BLĐTBXH
QUYẾT ĐỊNH Ban hành Quy định hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường cao đẳng nghề
BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
Căn cứ Luật Dạy nghề ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Căn cứ Nghị định số 186/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;
Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường cao đẳng nghề.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo. Điều 3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Người đứng đầu cơ quan Trung ương của các Tổ chức chính trị - xã hội có trường cao đẳng nghề trực thuộc; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chánh Văn phòng Bộ, Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị liên quan có trách nhiệm thi hành Quyết định này./. Nơi nhận:
BỘ TRƯỞNG
Nguyễn Thị Kim Ngân
- Ban Bí thư Trung ương Đảng; - Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; - Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng; - Văn phòng Quốc hội, HĐ Dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội; - Văn phòng Chủ tịch nước; - Văn phòng Chính phủ; - Toà án nhân dân tối cao; - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; - Công báo; - Website Chính phủ; - Lưu: VT, TCDN (10b).
176
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
QUY ĐỊNH
HỆ THỐNG TIÊU CHÍ, TIÊU CHUẨN KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ (Ban hành kèm theo Quyết định số 02/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 17 tháng 01 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng 1. Quy định này quy định hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng
đối với trường cao đẳng nghề.
2. Hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn này được áp dụng để kiểm định chất lượng các
trường cao đẳng nghề công lập, tư thục và đầu tư nước ngoài.
Điều 2. Giải thích từ ngữ Trong Quy định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. Tiêu chí kiểm định là các nội dung yêu cầu mà trường cao đẳng nghề phải đáp ứng để hoàn thành mục tiêu đề ra. Mỗi tiêu chí kiểm định có các tiêu chuẩn kiểm định cụ thể.
2. Tiêu chuẩn kiểm định là mức độ yêu cầu và điều kiện cần thực hiện ở một thành phần cụ thể của tiêu chí kiểm định được dùng làm chuẩn để đánh giá các điều kiện đảm bảo chất lượng. Mỗi tiêu chuẩn kiểm định có 3 chỉ số.
3. Chỉ số là mức độ yêu cầu và điều kiện về một khía cạnh cụ thể của tiêu
chuẩn kiểm định.
4. Điểm chuẩn là tổng điểm tối đa quy định cho mỗi tiêu chí kiểm định. 5. Điểm đánh giá là điểm của mỗi tiêu chuẩn kiểm định cụ thể, tùy thuộc vào mức
độ đạt được của tiêu chuẩn kiểm định đó. Điểm đánh giá được tính theo thang điểm 2.
Điều 3. Mục tiêu sử dụng hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất
lượng trường cao đẳng nghề
Hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường cao đẳng nghề được sử dụng để các trường cao đẳng nghề tự kiểm định, đánh giá và hoàn thiện các điều kiện đảm bảo chất lượng, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dạy nghề của nhà
177
trường; cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề thực hiện việc kiểm định, công nhận hoặc không công nhận các trường cao đẳng nghề đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định, nhằm công bố với xã hội về thực trạng chất lượng của nhà trường; người học và xã hội biết được thực trạng chất lượng của nhà trường và giám sát.
Điều 4. Điểm chuẩn đánh giá 1. Các tiêu chí kiểm định và điểm chuẩn cho từng tiêu chí kiểm định của trường
cao đẳng nghề, cụ thể như sau:
a) Mục tiêu và nhiệm vụ 06 điểm
b) Tổ chức và quản lý 10 điểm
c) Hoạt động dạy và học 16 điểm
d) Giáo viên và cán bộ quản lý 16 điểm
đ) Chương trình, giáo trình 16 điểm
e) Thư viện 06 điểm
g) Cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học 14 điểm
h) Quản lý tài chính 10 điểm
i) Các dịch vụ cho người học nghề 06 điểm
Tổng số điểm đánh giá tối đa cho tất cả các tiêu chí là 100. 2. Mỗi tiêu chuẩn kiểm định có điểm tối đa là 2 điểm. Tùy thuộc vào mức độ
đạt được yêu cầu mà tiêu chuẩn kiểm định đó có điểm từ 0 đến 2 điểm.
Điều 5. Xếp loại đánh giá Kết quả đánh giá cuối cùng của trường cao đẳng nghề được xếp theo ba cấp độ sau: 1. Cấp độ 1: Trường cao đẳng nghề có tổng số điểm của các tiêu chí kiểm định đạt dưới 50 điểm hoặc đạt từ 50 điểm trở lên nhưng có một trong các tiêu chí đạt dưới
50% số điểm tối đa của tiêu chí đó;
2. Cấp độ 2: Trường cao đẳng nghề có tổng số điểm của các tiêu chí kiểm định đạt từ 50 điểm đến dưới 80 điểm và các điểm đánh giá của từng tiêu chí kiểm định phải đạt từ 50% trở lên số điểm tối đa hoặc đạt 80 điểm trở lên và các điểm đánh giá
của từng tiêu chí kiểm định đạt từ 50% trở lên số điểm tối đa nhưng có một trong các tiêu chí 4, 5 và 7 đạt dưới 80% số điểm tối đa;
3. Cấp độ 3: Trường cao đẳng nghề có tổng số điểm của các tiêu chí kiểm định
đạt từ 80 điểm trở lên và các điểm đánh giá của từng tiêu chí kiểm định phải đạt từ 50% trở lên số điểm tối đa, trong đó các tiêu chí 4, 5 và 7 phải đạt từ 80% trở lên số điểm tối đa của từng tiêu chí kiểm định.
178
Chương II
TIÊU CHÍ VÀ TIÊU CHUẨN KIỂM ĐỊNH
Điều 6. Tiêu chí 1: Mục tiêu và nhiệm vụ Tiêu chí này được đánh giá bởi 3 tiêu chuẩn sau:
1. Tiêu chuẩn 1. Mục tiêu, nhiệm vụ của trường được xác định rõ ràng, cụ
thể; được cấp có thẩm quyền phê duyệt và công bố công khai.
a) Có quyết định thành lập trường và có văn bản xác định mục tiêu của trường.
b) Điều lệ của trường được xây dựng theo quy định và được cơ quan có thẩm
quyền phê duyệt.
c) Mục tiêu, nhiệm vụ được công bố công khai (trên các phương tiện thông tin,
trong các tài liệu giới thiệu về trường).
2. Tiêu chuẩn 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của trường định hướng chủ yếu vào việc đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, nhu cầu học của người học, xã hội, phù hợp với điều kiện thực tế và yêu cầu sử dụng lao động của địa phương, ngành.
a) Có quy hoạch, kế hoạch, định hướng phát triển trường gắn với chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương, ngành, được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
b) Các nghề đào tạo phù hợp với nhu cầu nhân lực của thị trường lao động và
nhu cầu của người học, xã hội.
c) Mục tiêu, nhiệm vụ của trường phù hợp với điều kiện thực tế và yêu cầu sử
dụng lao động của địa phương, ngành.
3. Tiêu chuẩn 3. Mục tiêu, nhiệm vụ của trường được định kỳ rà soát, điều
chỉnh theo hướng nâng cao chất lượng dạy nghề, phù hợp với các giai đoạn phát triển của trường, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, ngành.
a) Có văn bản quy định về việc điều chỉnh mục tiêu và nhiệm vụ của trường.
b) Các nội dung điều chỉnh mục tiêu, nhiệm vụ của trường nhằm nâng cao chất
lượng dạy nghề và đáp ứng nhu cầu nhân lực đa dạng của thị trường lao động.
c) Có các báo cáo kết quả định kỳ rà soát, điều chỉnh mục tiêu và nhiệm vụ.
Điều 7. Tiêu chí 2: Tổ chức và quản lý Tiêu chí này được đánh giá bởi 5 tiêu chuẩn sau:
1. Tiêu chuẩn 1. Trường có hệ thống văn bản quy định về tổ chức, cơ chế quản
lý và được thường xuyên rà soát, đánh giá, bổ sung, điều chỉnh.
a) Có đầy đủ các văn bản quy định về tổ chức, cơ chế quản lý theo hướng đảm
bảo quyền tự chủ và chịu trách nhiệm của các đơn vị trong trường.
179
b) Có quy chế dân chủ tạo môi trường để giáo viên (giảng viên), cán bộ quản lý, nhân viên được tham gia đóng góp ý kiến về các chủ trương, kế hoạch của trường, giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo của cán bộ, giáo viên, nhân viên, người học.
c) Các quy định về tổ chức và cơ chế quản lý của trường được rà soát, điều
chỉnh định kỳ.
2. Tiêu chuẩn 2. Có cơ cấu tổ chức hợp lý, phù hợp với quy định của Nhà nước
cũng như với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển của trường và hoạt động có hiệu quả.
a) Có Hội đồng trường hoặc Hội đồng quản trị, các hội đồng tư vấn, các đơn vị quản lý, phòng chức năng, các khoa, bộ môn trực thuộc trường phù hợp với cơ cấu ngành nghề và quy mô đào tạo của trường.
b) Có sự phân công, phân cấp hợp lý, rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ của các
đơn vị trong trường.
c) Các đơn vị trong trường hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ của đơn
vị mình và đạt hiệu quả cao.
3. Tiêu chuẩn 3. Công tác quản lý, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ
quản lý của trường.
a) Có quy hoạch giáo viên, cán bộ quản lý; có kế hoạch, chính sách, quy trình, biện pháp phù hợp để tuyển dụng giáo viên, bổ nhiệm cán bộ quản lý đáp ứng yêu
cầu về chất lượng theo quy định của Nhà nước và nhu cầu về số lượng theo cơ cấu tổ chức của trường.
b) Có kế hoạch, quy trình, phương pháp đánh giá, phân loại giáo viên, cán bộ
quản lý đáp ứng yêu cầu thực tế của trường.
c) Có chính sách khuyến khích, có kế hoạch, biện pháp thực hiện có kết quả kế hoạch ngắn hạn, dài hạn bồi dưỡng cập nhật và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý của trường.
4. Tiêu chuẩn 4. Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức xã hội,
đoàn thể có vai trò tích cực trong hoạt động của trường.
a) Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong trường làm tốt chức năng, nhiệm
vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các đơn vị sự nghiệp theo Quyết định số 97/QĐ- TW ngày 22/3/2004 của Ban Bí thư.
b) Các tổ chức xã hội, đoàn thể trong trường tập hợp được cán bộ quản lý, giáo
viên, nhân viên, người học, hoạt động theo đúng pháp luật và điều lệ của tổ chức.
c) Các tổ chức xã hội, đoàn thể trong trường hoạt động có hiệu quả, góp phần
tích cực vào việc nâng cao chất lượng dạy nghề.
180
5. Tiêu chuẩn 5. Trường thực hiện và cải tiến thường xuyên công tác kiểm tra. a) Trường thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra theo kế hoạch. b) Sử dụng kết quả kiểm tra vào quá trình nâng cao chất lượng và hiệu quả đào
tạo của trường.
c) Định kỳ cải tiến phương pháp và công cụ kiểm tra các hoạt động của trường.
Điều 8. Tiêu chí 3: Hoạt động dạy và học Tiêu chí này được đánh giá bởi 8 tiêu chuẩn sau: 1. Tiêu chuẩn 1. Công tác tuyển sinh được thực hiện theo quy chế tuyển sinh của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; đảm bảo chất lượng tuyển sinh.
a) Tuyển sinh theo quy chế tuyển sinh của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. b) Hàng năm trường có hướng dẫn riêng về công tác tuyển sinh, cụ thể hoá quy
định tuyển sinh của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
c) Đảm bảo nghiêm túc, công bằng, khách quan trong tuyển sinh. 2. Tiêu chuẩn 2. Thực hiện đa dạng hoá các phương thức tổ chức đào tạo đáp ứng yêu cầu học tập của người học; thiết lập được mối liên hệ chặt chẽ với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
a) Đa dạng hoá các phương thức tổ chức đào tạo để đáp ứng yêu cầu học tập của
người học.
b) Có sự liên kết chặt chẽ với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong quá
trình đào tạo.
c) Định kỳ thu thập ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý, giáo viên, người học về
chất lượng của các phương thức đào tạo so với mục tiêu đã đề ra.
3. Tiêu chuẩn 3. Có kế hoạch đào tạo, giám sát chặt chẽ, bảo đảm thực hiện kế hoạch đào tạo đúng tiến độ và có hiệu quả; tổ chức dạy học lý thuyết, thực hành và thực tập lao động sản xuất theo nghề đào tạo phù hợp với các yêu cầu của thực tiễn sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
a) Có kế hoạch đào tạo cho từng nghề, theo từng học kỳ, năm học; có kế hoạch đào tạo chi tiết đến từng mô-đun, môn học, cụ thể cho các giờ học lý thuyết, thực hành, thực tập lao động sản xuất.
b) Tổ chức giám sát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch đào tạo bảo đảm thực
hiện kế hoạch đào tạo đúng tiến độ, chất lượng và hiệu quả.
c) Hàng năm thu thập các ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý, giáo viên, người học
về tiến độ, kết quả thực hiện kế hoạch đào tạo.
4. Tiêu chuẩn 4. Tổ chức đào tạo liên thông. a) Có các văn bản quy định tổ chức đào tạo liên thông của trường phù hợp với quy
định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và pháp luật về dạy nghề.
181
b) Việc tổ chức đào tạo liên thông giữa ba cấp trình độ đào tạo nghề và liên thông
các nghề của trường tuân thủ các quy định đã đề ra.
c) Định kỳ đánh giá công tác tổ chức đào tạo liên thông của trường. 5. Tiêu chuẩn 5. Tổ chức dạy nghề theo mục tiêu, nội dung chương trình dạy nghề đã được phê duyệt; thực hiện phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá người học, phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu và tinh thần hợp tác của người học.
a) Các hoạt động dạy nghề được thực hiện theo mục tiêu, nội dung chương trình dạy nghề đã được phê duyệt và hàng năm rà soát, đánh giá mức độ phù hợp giữa các hoạt động dạy nghề với mục tiêu, nội dung chương trình dạy nghề đã được phê duyệt. b) Trường có các hình thức và phương pháp dạy học tích cực khuyến khích phát
triển năng lực tự học, tự nghiên cứu và tinh thần hợp tác của người học.
c) Định kỳ thu thập ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên, người học nhằm tổng kết,
đánh giá và phổ biến kinh nghiệm đổi mới phương pháp dạy và học.
6. Tiêu chuẩn 6. Thực hiện phương pháp, quy trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo hướng coi trọng đánh giá quá trình, phản hồi kịp thời cho người học, đảm bảo đánh giá nghiêm túc, khách quan, phù hợp với phương thức đào tạo, hình thức học tập và đặc thù của mô-đun, môn học.
a) Thường xuyên tổ chức các hội nghị, hội thảo về đổi mới phương pháp, quy trình
kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.
b) Thực hiện phương pháp, quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo
hướng coi trọng đánh giá quá trình và phản hồi kịp thời cho người học.
c) Có biện pháp đánh giá kết quả học tập đảm bảo nghiêm túc, khách quan,
phù hợp với phương thức đào tạo, hình thức học tập và đặc thù mô-đun, môn học.
7. Tiêu chuẩn 7. Nghiên cứu khoa học a) Có chính sách và biện pháp khuyến khích cán bộ, giáo viên nghiên cứu khoa học. b) Có các kết quả nghiên cứu khoa học được ứng dụng trong công tác quản lý,
nâng cao chất lượng dạy nghề và ứng dụng vào thực tiễn.
c) Hàng năm có các bài báo, công trình nghiên cứu khoa học đăng trên các
báo, tạp chí, các ấn phẩm khoa học quốc tế, trung ương và địa phương.
8. Tiêu chuẩn 8. Hợp tác quốc tế a) Tham gia các dự án nghiên cứu và chuyển giao công nghệ do các tổ chức quốc tế triển khai, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, ngành hoặc cả nước.
b) Có liên kết đào tạo hoặc triển khai các hoạt động hợp tác với các trường nước ngoài, các tổ chức quốc tế để trao đổi kinh nghiệm, nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ, giáo viên của trường.
182
c) Kết quả của các hoạt động hợp tác quốc tế góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, phát triển nguồn lực về tài chính, cơ sở vật chất và trang thiết bị cho trường.
Điều 9. Tiêu chí 4: Giáo viên và cán bộ quản lý Tiêu chí này được đánh giá bởi 8 tiêu chuẩn sau: 1. Tiêu chuẩn 1. Trường có đội ngũ giáo viên cơ hữu (bao gồm cả số giáo viên kiêm nhiệm được quy đổi thành giáo viên làm việc toàn thời gian) đủ về số lượng, phù hợp về cơ cấu để thực hiện chương trình dạy nghề.
a) Đảm bảo tất cả các môn học, mô-đun, nghề có đủ số lượng giáo viên đứng lớp. b) Đảm bảo tỉ lệ học sinh/giáo viên theo quy định chung. c) Đảm bảo mọi giáo viên chuyên nghiệp có số giờ giảng dạy không vượt quá 1/2 số giờ tiêu chuẩn; giáo viên kiêm chức có số giờ giảng dạy không vượt quá 1/3 số giờ tiêu chuẩn.
2. Tiêu chuẩn 2. Đội ngũ giáo viên đạt chuẩn về trình độ được đào tạo,
chuẩn về năng lực nghề nghiệp và đáp ứng yêu cầu giảng dạy của trường.
a) Toàn bộ đội ngũ giáo viên đảm bảo đạt chuẩn trở lên về trình độ được đào tạo và nghiệp vụ sư phạm theo qui định; giáo viên dạy thực hành đạt chuẩn về kỹ năng thực hành nghề theo quy định.
b) Toàn bộ đội ngũ giáo viên đảm bảo đạt chuẩn về năng lực chuyên môn,
ngoại ngữ, tin học theo qui định.
c) Có ít nhất 60% số giáo viên dạy cả lý thuyết và thực hành nghề. 3. Tiêu chuẩn 3. Giáo viên thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ và đảm bảo chất lượng. a) Giáo viên thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ giảng dạy theo thời khoá biểu của
trường và đảm bảo yêu cầu chất lượng.
b) Giáo viên tham gia nghiên cứu khoa học gắn với chuyên môn và cải tiến
phương pháp dạy học.
c) Giáo viên tham gia các hoạt động phổ biến thông tin và chuyển giao công
nghệ, áp dụng thành tựu khoa học - công nghệ vào thực tế.
4. Tiêu chuẩn 4. Có kế hoạch và thực hiện thường xuyên việc bồi dưỡng
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên.
a) Hàng năm nhà trường có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên; mỗi giáo viên có kế hoạch học tập bồi dưỡng, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
b) Giáo viên tham gia tích cực vào các hoạt động thi đua dạy tốt như hội giảng
giáo viên dạy nghề hàng năm, có sáng kiến cải tiến trong dạy học.
c) Có kế hoạch và tổ chức cho đội ngũ giáo viên đi thâm nhập thực tế hàng
năm để bổ sung kinh nghiệm nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu giảng dạy.
183
5. Tiêu chuẩn 5. Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng có trình độ, năng lực và
phẩm chất đáp ứng yêu cầu công tác quản lý của trường.
a) Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng đảm bảo các yêu cầu về tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định của Điều lệ trường cao đẳng nghề và Quy chế bổ nhiệm, công nhận, bổ nhiệm lại, công nhận lại, miễn nhiệm, thôi công nhận, từ chức hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề và giám đốc trung tâm dạy nghề.
b) Có phẩm chất đạo đức, có năng lực chuyên môn và nghiệp vụ quản lý; thực
hiện tốt quyền hạn và trách nhiệm trong quản lý trường.
c) Được cán bộ, giáo viên, nhân viên của trường tín nhiệm với mức từ 70% trở lên. 6. Tiêu chuẩn 6. Các đơn vị của trường có đầy đủ cán bộ quản lý theo quy định. a) Các đơn vị của trường có đầy đủ cán bộ quản lý đáp ứng mục tiêu, chức
năng, nhiệm vụ và phù hợp với điều kiện cụ thể của trường.
b) Đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên giúp việc đảm bảo có sự kế thừa về kinh
nghiệm, công tác chuyên môn, độ tuổi.
c) Có quy hoạch cán bộ quản lý của trường. 7. Tiêu chuẩn 7. Đội ngũ cán bộ quản lý đạt chuẩn chức danh đáp ứng yêu cầu quản lý trong trường và thường xuyên học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ về mọi mặt.
a) Đội ngũ cán bộ quản lý của trường có phẩm chất, trình độ đạt chuẩn chức
danh theo quy định của Nhà nước.
b) Đội ngũ cán bộ quản lý của trường có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ quản lý
đáp ứng được yêu cầu công tác.
c) Đội ngũ cán bộ quản lý của trường thường xuyên học tập bồi dưỡng nâng
cao trình độ về mọi mặt.
8. Tiêu chuẩn 8. Đội ngũ kỹ thuật viên, nhân viên đáp ứng được yêu cầu
công việc của trường.
a) Đội ngũ kỹ thuật viên, nhân viên của trường đủ về số lượng và cơ cấu
chuyên môn, nghiệp vụ, có năng lực phù hợp với các vị trí làm việc tương ứng.
b) Đội ngũ kỹ thuật viên, nhân viên của trường hoàn thành được các nhiệm vụ,
công việc được giao.
c) Đội ngũ kỹ thuật viên, nhân viên của trường được định kỳ bồi dưỡng nâng
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
Điều 10. Tiêu chí 5: Chương trình, giáo trình Tiêu chí này được đánh giá bởi 8 tiêu chuẩn sau:
184
1. Tiêu chuẩn 1. Chương trình dạy nghề của trường được xây dựng, điều chỉnh theo chương trình khung của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, thể hiện được mục tiêu đào tạo của trường.
a) 100% chương trình dạy nghề được xây dựng, điều chỉnh theo chương trình khung
của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc biên soạn lại trong 5 năm trở lại đây. b) Có đầy đủ chương trình dạy nghề cho các nghề mà trường đào tạo. c) Ít nhất 5 năm/lần các chương trình dạy nghề được rà soát, điều chỉnh phù
hợp với kỹ thuật, công nghệ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
2. Tiêu chuẩn 2. Chương trình dạy nghề được xây dựng có tính liên thông hợp lý giữa các trình độ đào tạo nghề; có sự tham gia của cán bộ, giáo viên và chuyên gia từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
a) Chương trình dạy nghề được thiết kế theo hướng liên thông hợp lý giữa các
trình độ đào tạo nghề và các trình độ đào tạo khác.
b) Có nhiều cán bộ, giáo viên trong trường tham gia xây dựng, bổ sung, điều
chỉnh chương trình dạy nghề.
c) Có các cán bộ ngoài trường, chuyên gia từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ tham gia xây dựng, biên soạn chương trình dạy nghề.
3. Tiêu chuẩn 3. Chương trình dạy nghề có mục tiêu rõ ràng, quy định cụ thể chuẩn kiến thức, kỹ năng; phương pháp, hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập.
a) Từng chương trình dạy nghề có mục tiêu được xác định rõ ràng, trong đó
quy định cụ thể chuẩn kiến thức, kỹ năng; phương pháp, hình thức đào tạo.
b) Có quy định về cách thức đánh giá kết quả học tập cho từng trình độ đối với
mỗi mô-đun, môn học, mỗi nghề.
c) Có các ý kiến đánh giá phản biện của giáo viên, chuyên gia từ các cơ sở sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ về chương trình dạy nghề.
4. Tiêu chuẩn 4. Chương trình dạy nghề được định kỳ bổ sung, điều chỉnh dựa trên việc tham khảo các chương trình của nước ngoài, cập nhật những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến liên quan đến nghề đào tạo và các ý kiến phản hồi từ người sử dụng lao động, người tốt nghiệp đã đi làm, nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.
a) Định kỳ bổ sung, điều chỉnh chương trình dạy nghề. b) Khi bổ sung, điều chỉnh chương trình dạy nghề có tham khảo các chương trình tương ứng của nước ngoài và cập nhật những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến liên quan đến nghề đào tạo.
c) Có các ý kiến nhận xét, đánh giá của người sử dụng lao động, người tốt
nghiệp đã đi làm về chương trình dạy nghề đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.
185
5. Tiêu chuẩn 5. Từng chương trình dạy nghề đảm bảo có đủ chương trình mô-đun, môn học, trong đó xác định rõ phương pháp và các yêu cầu về kiểm tra đánh giá kết quả học tập.
a) Mỗi chương trình dạy nghề có đầy đủ mô-đun, môn học theo mẫu định dạng
chung.
b) Mỗi mô-đun, môn học xác định rõ phương pháp và các yêu cầu về kiểm tra
đánh giá kết quả học tập.
c) Có đủ các quyết định phê duyệt, ban hành các chương trình mô-đun, môn học. 6. Tiêu chuẩn 6. Mỗi mô-đun, môn học có đủ giáo trình, tài liệu tham khảo
đáp ứng mục tiêu của mô-đun, môn học.
a) Có đủ giáo trình cho các mô-đun, môn học của chương trình dạy nghề. b) Ít nhất 5 năm/lần các giáo trình được rà soát, biên soạn lại. c) Mỗi mô-đun, môn học của chương trình dạy nghề có ít nhất 2 tài liệu tham
khảo chính.
7. Tiêu chuẩn 7. Giáo trình đáp ứng yêu cầu đổi mới về nội dung và phương
pháp dạy học.
a) Có quy trình tổ chức biên soạn, thẩm định, phê duyệt giáo trình. b) Có các văn bản phản biện, biên bản nghiệm thu của hội đồng thẩm định nhận xét về mức độ đáp ứng yêu cầu đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học của giáo trình.
c) Định kỳ thu thập những nhận xét đánh giá của giáo viên, chuyên gia từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, người học về chất lượng giáo trình đáp ứng yêu cầu đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học.
8. Tiêu chuẩn 8. Giáo trình dạy nghề cụ thể hoá yêu cầu về nội dung kiến thức, kỹ năng, thái độ trong chương trình dạy nghề, tạo điều kiện để thực hiện phương pháp dạy học tích cực.
a) Có các biên bản nghiệm thu giáo trình dạy nghề của hội đồng thẩm định nhận xét về mức độ cụ thể hoá các yêu cầu về nội dung kiến thức, kỹ năng, thái độ trong chương trình dạy nghề, tạo điều kiện để thực hiện phương pháp dạy học tích cực.
b) Định kỳ thu thập ý kiến nhận xét đánh giá của cán bộ, giáo viên, người học về chất lượng giáo trình đáp ứng các yêu cầu cụ thể hoá về nội dung kiến thức, kỹ năng, thái độ cần đạt trong chương trình dạy nghề.
c) Định kỳ thu thập ý kiến đánh giá của cán bộ, giáo viên, người học về mức
độ tạo điều kiện để thực hiện phương pháp dạy học tích cực của giáo trình.
Điều 11. Tiêu chí 6: Thư viện Tiêu chí này được đánh giá bởi 3 tiêu chuẩn sau:
186
1. Tiêu chuẩn 1. Có đủ số lượng giáo trình, tài liệu, sách báo, tạp chí phù hợp với các nghề đào tạo, đáp ứng nhu cầu sử dụng của giáo viên, cán bộ, nhân viên và người học.
a) Có đủ số lượng, chủng loại giáo trình, sách báo, tài liệu chuyên môn, báo, tạp chí chuyên ngành phù hợp với các nghề đào tạo. Trung bình có 10-15 đầu sách/người học.
b) Các loại sách chuyên môn và giáo trình chính được xuất bản hoặc biên soạn trong những năm gần đây (5 năm đối với giáo trình và từ 3-5 năm đối với sách chuyên môn, chuyên khảo, tài liệu kỹ thuật tùy thuộc vào từng nghề đào tạo).
c) Có phòng đọc thư viện bảo đảm theo tiêu chuẩn (có chỗ ngồi đáp ứng yêu cầu tối thiểu cho 15% sinh viên và 25% cán bộ, giáo viên; diện tích đảm bảo 1,8m2/chỗ đọc và 1,5m2/chỗ đọc đối với thư viện điện tử).
2. Tiêu chuẩn 2. Thư viện được tin học hoá, có các tài liệu điện tử; được nối
mạng, liên kết khai thác tài liệu giữa các đơn vị trong trường và ngoài trường.
a) Có hệ thống máy tính, thiết bị phục vụ tin học hóa công tác quản lý của thư
viện: cơ sở dữ liệu điện tử, phần mềm quản lý và tra cứu tài liệu.
b) Có mạng nội bộ (LAN), cổng nối mạng Internet; bảo đảm các hệ thống thiết bị hoạt động bình thường, thường xuyên theo chức năng và các quy định tổ chức, hoạt động của thư viện.
c) Có các thỏa thuận, hợp đồng ký kết trao đổi thông tin, tư liệu với các trường
và đơn vị khác.
3. Tiêu chuẩn 3. Có biện pháp khuyến khích người học, giáo viên, cán bộ
quản lý khai thác có hiệu quả các tài liệu của thư viện.
a) Có tổ chức giới thiệu thường xuyên, định kỳ tài liệu và sách báo mới cho
bạn đọc của thư viện.
b) Có biện pháp tư vấn, hỗ trợ bạn đọc của thư viện (tra cứu, nhân bản, trao
đổi, tóm tắt tài liệu).
c) Có tổ chức và duy trì hiệu quả hoạt động mạng lưới cộng tác viên thư viện. Điều 12. Tiêu chí 7: Cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học Tiêu chí này được đánh giá bởi 7 tiêu chuẩn sau: 1. Tiêu chuẩn 1. Địa điểm của trường thuận tiện cho việc đi lại, học tập, giảng
dạy của người học, giáo viên, cán bộ quản lý và các hoạt động khác của trường. a) Nền đất tốt, cao ráo, không bị úng, ngập; thuận tiện cho cung cấp điện, nước. b) Bảo đảm khoảng cách an toàn đối với các cơ sở công nghiệp thải ra chất độc hại (tiếng ồn, bụi bặm, chất thải độc, ô nhiễm không khí, nguồn nước); bảo đảm an toàn; yên tĩnh cho giảng dạy và học tập.
c) Phù hợp với quy hoạch chung của khu vực và mạng lưới cơ sở dạy nghề;
giao thông thuận tiện.
187
2. Tiêu chuẩn 2. Khuôn viên được quy hoạch tổng thể và chi tiết, thuận tiện
cho các hoạt động của trường.
a) Quy hoạch tổng thể mặt bằng khuôn viên hợp lý, phù hợp với công năng và các yêu cầu giao thông nội bộ, kiến trúc, cảnh quan; bảo đảm chỉ giới quy hoạch, khoảng cách và các giải pháp ngăn cách hợp lý các công trình xây dựng trong và ngoài khuôn viên; mật độ xây dựng công trình từ 20-40%; diện tích cây xanh chiếm khoảng 30-40% diện tích khu đất toàn trường.
b) Có đủ các khối công trình phục vụ nhu cầu đào tạo và các hoạt động của trường (khu hành chính, khu học tập, xưởng thực hành, khu vệ sinh, khu để xe, ký túc xá, khu thể thao, văn hóa, văn nghệ).
c) Bảo đảm quỹ đất trong khuôn viên đáp ứng nhu cầu hoạt động của trường theo quy định; có khả năng mở rộng quỹ đất trong tương lai phù hợp với chiến lược phát triển và theo quy hoạch của cơ quan có thẩm quyền.
3. Tiêu chuẩn 3. Có hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ làm việc và các hoạt
động dạy nghề, thực nghiệm, thực hành.
a) Hệ thống hạ tầng kỹ thuật của trường bảo đảm đáp ứng yêu cầu làm việc và
các hoạt động dạy nghề, thực nghiệm, thực hành.
b) Có hệ thống đường giao thông nội bộ, hệ thống điện đáp ứng nhu cầu hoạt động đào tạo, sản xuất, dịch vụ và sinh hoạt; có hệ thống cấp, thoát nước, xử lý nước thải độc hại, thông gió, phòng cháy, chữa cháy theo quy chuẩn và đáp ứng nhu cầu đào tạo, sản xuất, dịch vụ, sinh hoạt.
c) Hệ thống hạ tầng kỹ thuật được quản lý và bảo dưỡng vận hành đúng quy
trình, bảo đảm hoạt động đúng chức năng, công suất theo thiết kế.
4. Tiêu chuẩn 4. Có hệ thống phòng học, giảng đường, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, phòng học chuyên môn hóa đáp ứng quy mô đào tạo theo các nghề, trình độ đào tạo.
a) Có hệ thống phòng học, giảng đường, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành,
phòng học chuyên môn hóa đáp ứng công tác đào tạo của trường.
b) Các công trình bảo đảm quy chuẩn xây dựng và các yêu cầu về ngăn cách, vệ sinh, kiến trúc, chiếu sáng, thông gió, quy hoạch nội bộ thuận tiện cho vận chuyển, lắp đặt, vận hành thiết bị.
c) Các công trình được sử dụng đúng công năng, có quy chế sử dụng, quản lý, bảo
dưỡng thường xuyên và định kỳ để bảo đảm hoạt động bình thường.
5. Tiêu chuẩn 5. Bảo đảm các điều kiện hoạt động cho các xưởng thực hành. a) Có hệ thống điện, hệ thống cấp, thoát nước chung, riêng cho khu vực xưởng thực hành theo nhu cầu hoạt động thực hành và sinh hoạt, vệ sinh; có hệ thống thu gom rác và phế liệu, chất thải.
188
b) Trang thiết bị, dụng cụ trong xưởng thực hành được bố trí vị trí hợp lý, an toàn, thuận tiện cho việc đi lại, vận hành, bảo dưỡng và tổ chức hướng dẫn thực hành (theo cả lớp, nhóm và từng cá nhân).
c) Bảo đảm các yêu cầu về mỹ thuật công nghiệp, thẩm mỹ nghề nghiệp và sư phạm (về hình khối, mầu sắc, vật liệu); an toàn và vệ sinh công nghiệp, vệ sinh môi trường trong quá trình lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng trang thiết bị, dụng cụ trong xưởng thực hành.
6. Tiêu chuẩn 6. Đảm bảo chất lượng và số lượng thiết bị cho thực hành. a) Các thiết bị đào tạo chính đạt mức tương đương trình độ công nghệ của sản xuất, dịch vụ hiện tại. Bảo đảm chất lượng trang thiết bị, dụng cụ và tài liệu cho các hoạt động thực hành về chủng loại, công năng, các yêu cầu thông số kỹ thuật và mỹ thuật; các yêu cầu về sức khoẻ, vệ sinh và an toàn lao động.
b) Số lượng thiết bị đáp ứng đủ theo quy mô đào tạo, bảo đảm các tỷ lệ theo quy định về: người học/thiết bị thực hành chính, người học/phòng học chuyên môn hóa, người học/bộ dụng cụ, tài liệu học tập theo cá nhân hoặc theo nhóm.
c) Các thiết bị có hồ sơ xuất xứ, năm, nước sản xuất rõ ràng; được quản lý,
bảo dưỡng thường xuyên và định kỳ; bảo đảm tính đồng bộ của các trang thiết bị.
7. Tiêu chuẩn 7. Có các kho, phòng bảo quản, lưu giữ với các điều kiện bảo vệ,
bảo quản tốt các trang thiết bị, hàng hoá, vật liệu.
a) Có các khu vực bảo quản, lưu giữ chung cho toàn trường và các khu chức năng. b) Hệ thống khu bảo quản, kho có các điều kiện bảo vệ, bảo quản tốt cho các trang thiết bị, hàng hoá, vật liệu như: mái che, rào ngăn cách, khóa, chiếu sáng, thông gió, chống mốc, ẩm.
c) Có hệ thống quản lý việc cấp phát, thu nhận trang thiết bị hàng hoá, vật liệu. Điều 13. Tiêu chí 8: Quản lý tài chính Tiêu chí này được đánh giá bởi 5 tiêu chuẩn sau: 1. Tiêu chuẩn 1. Trường có đủ nguồn tài chính để thực hiện mục tiêu và
nhiệm vụ; tạo được nguồn thu hợp pháp.
a) Đảm bảo định mức kinh phí chi cho đào tạo. b) Có các nguồn thu hợp pháp từ học phí, lệ phí, liên kết đào tạo, sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ.
c) Các nguồn tài chính được quản lý và phân bổ chi tiêu đúng mục đích, đúng
quy định. Có hệ thống hồ sơ, sổ sách về quản lý tài chính theo quy định.
2. Tiêu chuẩn 2. Công tác lập kế hoạch tài chính, quản lý tài chính được
chuẩn hoá, công khai, minh bạch và theo đúng quy định.
a) Có quy chế quản lý tài chính theo quy định của Nhà nước. b) Kế hoạch tài chính hàng năm được xây dựng theo quy định và được công
bố công khai, minh bạch.
c) Có kế hoạch thực hiện việc huy động, phát triển các nguồn lực tài chính.
189
3. Tiêu chuẩn 3. Dự toán về tài chính được xác định trên cơ sở nghiên cứu kỹ về
nhu cầu chi tiêu, những thay đổi về giá cả, các nhu cầu và quy mô đào tạo sắp tới.
a) Có các hoạt động nghiên cứu, tìm hiểu nhu cầu chi tiêu, giá cả thị trường (giá
nguyên vật liệu, thiết bị, nhân công) để xây dựng dự trù về tài chính.
b) Có các nghiên cứu, dự báo về nhu cầu, quy mô đào tạo và biến động về giá cả trong 2-5 năm tới; có cơ chế điều chỉnh dự toán kế hoạch tài chính theo các biến động về giá cả thị trường.
c) Có bản dự toán tài chính phản ánh các kết quả nghiên cứu và dự báo trên. 4. Tiêu chuẩn 4. Đảm bảo sự phân bổ, sử dụng tài chính hợp lý, minh bạch,
hiệu quả cho các đơn vị và các hoạt động của trường.
a) Phân bổ tài chính hợp lý đáp ứng nhu cầu cơ bản của các đơn vị và các hoạt
động chung của trường.
b) Kế hoạch phân bổ tài chính được công bố công khai. c) Có đánh giá hàng năm về hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính. 5. Tiêu chuẩn 5. Lập dự toán, thực hiện thu chi, thực hiện quyết toán, báo cáo tài chính; quản lý, lưu trữ hồ sơ chứng từ theo chế độ kế toán - tài chính của Nhà nước.
a) Có văn bản dự toán tài chính. b) Thực hiện thu chi, quyết toán, báo cáo tài chính đúng quy định; có hồ sơ
lưu trữ chứng từ theo chế độ kế toán - tài chính của Nhà nước.
c) Định kỳ thực hiện công tác tự kiểm tra tài chính và được cơ quan có thẩm
quyền kiểm toán.
Điều 14. Tiêu chí 9: Các dịch vụ cho người học nghề Tiêu chí này được đánh giá bởi 3 tiêu chuẩn sau: 1. Tiêu chuẩn 1. Đảm bảo mọi người học có được thông tin đầy đủ về nghề
đào tạo, khoá đào tạo và các quy định khác của trường ngay từ khi nhập học.
a) Người học được cung cấp thông tin về chương trình đào tạo, kế hoạch đào
tạo, các yêu cầu về chuyên môn cần đạt được của khoá học.
b) Người học được phổ biến đầy đủ về quy chế đào tạo, quy chế thi và kiểm
tra, đánh giá, điều kiện xét tốt nghiệp.
c) Người học được phổ biến đầy đủ các nội quy, quy định của trường. 2. Tiêu chuẩn 2. Đảm bảo các điều kiện ăn, ở, chăm sóc sức khoẻ cho người học. a) Ký túc xá của trường đảm bảo các điều kiện tối thiểu (chỗ ở, điện, nước, vệ
sinh, các tiện nghi khác) cho sinh hoạt và học tập cho ít nhất 50% người học.
b) Có nhà ăn hoặc dịch vụ ăn uống phục vụ tốt cho người học. c) Có dịch vụ y tế chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ người học.
190
3. Tiêu chuẩn 3. Tổ chức thông tin thị trường lao động và giới thiệu việc
làm cho người học.
a) Thường xuyên cung cấp cho người học các thông tin về nghề nghiệp, thị
trường lao động và việc làm.
b) Trường tổ chức trợ giúp giới thiệu việc làm cho người học sau khi tốt nghiệp. c) Định kỳ tổ chức hội nghị việc làm cho người học tiếp xúc với các nhà tuyển dụng.
Chương III TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 15. Trách nhiệm của cơ quan quản lý 1. Tổng cục Dạy nghề có trách nhiệm: a) Xây dựng tài liệu hướng dẫn thực hiện, bao gồm: - Cụ thể hóa các tiêu chuẩn, chỉ số tương ứng với thang điểm 0, 1, 2 để thống
nhất trong đánh giá và cho điểm;
- Hướng dẫn cách đánh giá và cho điểm đối với từng tiêu chuẩn, chỉ số; - Xây dựng công cụ hỗ trợ cho việc đánh giá. b) Tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ quản lý dạy nghề về hệ thống tiêu chí,
tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường cao đẳng nghề.
2. Các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương của các Tổ chức chính trị - xã hội có trường cao đẳng nghề trực thuộc; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm đảm bảo những điều kiện cần thiết để các trường cao đẳng nghề phấn đấu đạt tiêu chuẩn chất lượng.
Điều 16. Trách nhiệm của các trường cao đẳng nghề Nghiên cứu hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường cao đẳng nghề, lập kế hoạch phấn đấu đạt các tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cho từng giai đoạn./.

