
Các giải pháp trồng lúa trên
đất mặn
Nghiên cứu chọn giống chịu mặn ở IRRI
1. Các biện pháp đáp ứng việc canh tác lúa trên đất mặn đã đư
ợc
áp dụng trên thế giới và có thể áp dụng ở nước ta:
Biện pháp đầu tiên có thể đáp ứng việc canh tác lúa trên đất m
ặn
là thay đổi môi trường để thích hợp cho cây lúa sinh trưởng v
à
phát triển. Biện pháp này bao g
ồm các công việc kỹ thuật chủ
yếu trong quá trình cải tạo đất giảm độ mặn, do đó đòi h
ỏi nhiều
tài nguyên đầu vào, chi phí cao nên r
ất khó đáp ứng đối với
nông dân bình thường.
Biện pháp thứ hai, đó là ch
ọn lọc giống lúa có
kh
ả năng chịu mặn hoặc thay đổi cấu trúc gen
của cây lúa để có thể thích ứng với vùng tr
ồng
nhiễm mặn. Đây là kh
ả năng có triển vọng, ít
tốn kém và là biện pháp đư
ợc chấp nhận về mặt
kinh tế và xã hội. Biện pháp này nhằm vào kh
ả năng cho cây
trồng chịu đựng áp lực mặn đến mức độ tối đa để quản lý t
ài
nguyên một cách tối ứu. Đây là căn c
ứ để phát triển những
giống cây trồng hoàn toàn thích hợp và có kh
ả năng chịu đựng
độ mặn cao, phát triển tốt trong vùng đất bị nhiễm mặn.
Ngoài 2 biện pháp trên, còn có biện pháp thứ ba có thể gọi l
à
biện pháp hỗn hợp. Vì đây là biện pháp kết hợp cả sự l
àm thay
đổi môi trường và biện phát sinh học. Biện pháp thứ ba n
ày
được cho là biện pháp đầy hữu ích, ít tốn kém và kinh t
ế, có khả
năng áp dụng nhất. Ngày nay, các chương tr
ình khai hoang bao

gồm cả hai phương pháp sinh học và hỗn hợp để khai thác v
ùng
đất nhiễm mặn phục vụ cho trồng trọt. Ví dụ như vi
ệc áp dụng
giống lúa chịu mặn kết hợp với bón thạch cao (gypsum) đ
ã làm
gia tăng hiệu quả sản xuất lúa.
Trong một nghiên c
ứu ở IRRI cho thấy: Với giống lúa chịu mặn
CSR13, khi bón k
ết hợp 25% thạch cao, cây lúa phát triển khá
trong đi
ều kiện đất nhiễm mặn. Trong khi đó, giống lúa địa
phương, không bón thạch cao đã bị chết rụi hầu như hoàn toàn.
2. Các yêu cầu cho việc phát triển giống lúa chịu mặn:
- Ph
ổ biến đổi rộng trong quỹ gen sẵn có của giống lúa: Việc lựa
ch
ọn quỹ gen để chọn tạo giống chịu mặn rất quan trọng, quyết
định sự thành công của chương trình chọn giống lúa. Việc s
ưu
t
ầm quỹ gen có phổ biến đổi rộng cung cấp một nguồn đa dạng
di truyền có ích cho các đặc tính nghiên cứu.
- Mô tả các đặc điểm của vùng mặn được canh tác: Trư
ớc khi
thiết kế bất cứ một loại cây trồng lý tưởng nào, vi
ệc quan trọng
nhất là xác định đất và các điều kiện khí hậu nông học của v
ùng
mục tiêu mà t
ừ đó cây trồng phát triển. Kiểu di truyền thích hợp
những vùng ven biển có thể phù hợp hoặc không phù h
ợp với
các loại đất có nhiều natri hoặc đất mặn trong nội địa và ngư
ợc
lại. Vì vậy, s
ự mô tả đặc điểm vị trí canh tác một cách chính xác
là một khía cạnh rất quan trọng để phục vụ cho mục tiêu đề ra.
- Sự sẵn sàng của các đặc tính giống được xác định/tiêu chu
ẩn
chọn lọc giống: Các đặc tính đư
ợc cải thiện hoặc kết hợp gen
của quỹ gen theo lý tưởng nên khác biệt càng nhiều càng t
ốt.
Các đặc điểm khác không nên thay đ
ổi quá nhiều. Mặt khác,
việc giữ lại tất cả các đặc điểm mong muốn trở nên rất khó khăn.

- K
ỹ thuật thanh lọc lập lại: Các kỹ thuật thanh lọc có tính lập lại
và tin cậy là chỗ dựa chính của bất cứ chương trình ch
ọn tạo
giống nào, đặc biệt là đ
ối với chọn tạo giống chịu áp lực hữu
sinh và vô sinh. Thông qua các k
ỹ thuật thanh lọc thay đổi với
các loài cây trồng, giai đoạn sinh trưởng và ki
ểu áp lực, cây
trồng phải chống chịu nhanh chóng, tái sản xuất được dễ dàng.
3. Nghiên cứu chọn tạo các giống lúa chịu mặn:
Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều nghiên c
ứu về
giống lúa chịu mặn phục vụ cho các tỉnh chịu ảnh hư
ởng nhiễm
mặn. Kết quả nghiên cứu từ năm 2009 đến nay đã bước đầ
u tìm
30 dòng lúa có triển vọng chịu mặn là những dòng lúa k
ế thừa,
được phát hiện chịu mặn qua nhiều lần thanh lọc trong ph
òng thí
nghiệm và nhà lư
ới. Để đánh giá khả năng chịu mặn, Viện đang
ph
ối hợp khảo nghiệm ở một số trung tâm giống của các tỉnh
như Sóc Trăng, Kiên Giang, Bến Tre, Bạc Liêu...

