BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
* * *
GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG CẤP II VÀ III QUA MÔN ĐỊA LÝ
ĐỀ TÀI CẤP BỘ SỐ : B93 - 30 -14
Chủ nhiệm đề tài : PTS - Phạm Xuân Hậu
Nhóm thực hiện : Khuất Huy Thành
Đào Ngọc Cảnh
Trần Thị Tuyết
Tạ Thị Ngọc Bích
TP. HCM : 1995
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I - TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Ngay từ khi xuất hiện trên trái đất, con ngƣời đã gắn bó với thiên nhiên. Do nhu cầu sinh
tồn, con ngƣời đã chủ động khai thác tài nguyên thiên nhiên để duy trì cuộc sống của mình. Qua
quá trình tác động, con ngƣời khai thác, cải tạo tài nguyên thiên nhiên đem lại lợi ích lớn, song
do khai thác không có kế hoạch, phƣơng tiện thủ công đã gây ra những hậu quả không lƣờng
làm tổn hại đến tài nguyên và môi trƣờng.
Khi lực lƣợng sản xuất chƣa phát triển, các tác động vào môi trƣờng còn đơn giản, hạn
hẹp, hậu quả gây ra không rõ lắm. Nhƣng khi lực lƣợng sản xuất phát triển, sự tác động vào môi
trƣờng mạnh mẽ hơn, qui mô rộng lớn hơn. Đặc biệt từ khi nền khoa học kỹ thuật phát triển nhƣ
vũ bão, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra mạnh mẽ, sự gia tăng dân số quá nhanh
đã dần đƣa tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, môi trƣờng sinh thái bị "khủng hoảng" nghiêm
trọng, điều đó đặt ra cho mỗi quốc gia trên thế giới và cả cộng đồng là phải làm gì, làm thế nào
để ngăn chặn thực trạng trên, cứu lấy cuộc sống của nhân loại trên hành tinh.
Nhiều cuộc hội thảo quốc tế đã đƣợc tổ chức để bàn bạc, tìm cách giải quyết, nhiều quốc
gia trên thế giới đã ban bố những đạo luật nhằm cứu vãn, ngăn chặn nguy cơ suy thoái môi
trƣờng, làm thế nào để đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao cuộc sống cho con
ngƣời mà không làm tổn hại đến môi trƣờng là trách nhiệm của mỗi quốc gia và cả cộng đồng.
Ngày nay chúng ta có thể tiến hành hàng loạt các biện pháp thực hiện, song biện pháp
nâng cao dân trí về lĩnh vực tài nguyên môi trƣờng, trang bị những kiến thức căn bản, cần thiết
về bảo vệ môi trƣờng cho mọi ngƣời, mọi lứa tuổi thông qua trƣờng học là biện pháp rất cần
thiết và có thể đem lại hiệu quả cao. Đây cũng là mục tiêu chủ yếu của chƣơng trình giáo dục
môi trƣờng quốc tế (IEEP) của UNESCO và UNEP (United Nation Environment Programme),
ngoài nhiệm vụ nghiên cứu môi trƣờng về các mặt, cơ quan này còn giúp các quốc gia xây
dựng chƣơng trình và đào tạo cán bộ về bảo vệ môi trƣờng của tất cả các cấp trong ngành giáo
dục của nƣớc mình từ mẫu giáo đến đại học và trên đại học.
1
Ở nƣớc ta trong những năm gần đây, việc giáo dục môi trƣờng đã bắt đầu đƣợc đƣa vào
nhà trƣờng bằng hình thức này hay hình thức khác (có thể tích hợp, lồng ghép vào bài giảng các
môn học, báo cáo chuyên đồ...) nhƣng chƣa đạt đƣợc hiệu quả cao, vì đội ngũ giáo viên và học
sinh các cấp chƣa nhận thức đầy đủ về khái niệm và vai trò của giáo dục môi trƣờng trong
trƣờng học. Mặt khác giáo viên ở các trƣờng chƣa xác định đƣợc việc lồng ghép, tích hợp nội
dung vào các môn học nhƣ thế nào để giảng dạy giáo dục môi trƣờng có hiệu quả.
Giáo dục môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng ở cấp II và III có thể thông qua nhiều môn
học, mỗi môn có những ƣu thế riêng, nhƣng nếu xét về những nội dung cần cung cấp cho học
sinh về khái niệm môi trƣờng, những thành phần của môi trƣờng, tác động của môi trƣờng đến
sản xuất xã hội, vai trò của con ngƣời trong việc khai thác, cải tạo làm thay đổi môi trƣờng thì
môn địa lý là thuận lợi nhất. Vì vậy tôi đã chọn và thực hiện đề tài: "Giáo dục môi trƣờng cho
học sinh phổ thông cấp II và III qua môn địa lý ".
II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI.
Trên cơ sở mục đích giáo dục môi trƣờng trong nhà trƣờng phổ thông, kết hợp với
những nội dung có thể khai thác để giáo dục môi trƣờng trong môn địa lý ở cấp II và III, làm
cho học sinh hiểu rõ, nắm chắc hệ thống những khái niệm về môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng.
Từ đó thông qua các bài giảng địa lý cụ thể, giáo viên khai thác nội dung có liên quan đến môi
trƣờng, truyền đạt cho học sinh hiểu đƣợc mối quan hệ giữa môi trƣờng và cuộc sống, ảnh
hƣởng của sự ô nhiễm môi trƣờng đến sinh hoạt của con ngƣời, từ đó tự xây dựng cho mình ý
thức bảo vệ môi trƣờng ngay trong gia đình, địa phƣơng mình cơn trú và của cả cộng đồng...
III. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI.
Do đặc điểm của môn học, đề tài chỉ nghiên cứu khai thác nội dung môi trƣờng cho học
sinh cấp II và III qua các bài giảng địa lý cụ thể trong chƣơng trình sách giáo khoa địa lý hiện
hành và một số nội dung thực tiễn khi đƣa học sinh đi thực địa ở ngoài trời.
2
IV. CÁC QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU.
Sự hình thành và phát triển của các thành phần tự nhiên trên trái đất luôn diễn ra trong
mối quan hệ khăng khít chặt chẽ với nhau. Sự phân hóa giữa các khu vực dẫn đến sự khác nhau
về khả năng khai thác tài nguyên và môi trƣờng. Tuy nhiên trên mỗi phạm vi lãnh thổ ít nhiều
đều đã và đang hoặc sẽ diễn ra sự tác động của con ngƣời trong qua trình phát triển. Mối quan
hệ giữa con ngƣời và môi trƣờng diễn ra thƣờng xuyên, khi con ngƣời tác động vào các yếu tố
tự nhiên, sẽ làm thay đổi cơ bản môi trƣờng. Vì vậy khi khai thác những nội dung trong bài địa
lý không thể không đề cập đến mối quan hệ đó và những tác động qua lại của các mối quan hệ
diễn ra ngay trên đất nƣớc, địa phƣơng của mình đang sống.
Mối quan hệ giữa con ngƣời và môi trƣờng cũng nhƣ tác động qua lại (tốt và không tốt)
phải đƣợc khai thác qua nội dung từng bài giảng, từng chƣơng, mục phù hợp với đặc trƣng của
địa lý, thông qua đó làm cho học sinh hăng say với môn học địa lý hơn, hỏi vì địa lý đã cung
cấp cho họ những hiểu biết tổng hợp về cuộc sống và những vấn đề đang diễn ra xung quanh
cuộc sống, từ đó mà học sinh nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trƣờng.
V. CÁC PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
V. l. Phương pháp nghiên cứu hệ thống.
Theo lý thuyết hệ thống, có thể coi giáo dục môi trƣờng là một hệ thống trong đó bao
gồm nhiều yếu tố: Chƣơng trình, sách giáo khoa, giáo viên và học sinh. Giữa các yếu tố của hệ
thống này có liên quan chặt chẽ, khăng khít với nhau. Vì thế, để xác định đƣợc nội dung và hình
thức giáo dục môi trƣờng cần khai thác những nội dung phù hợp với chƣơng trình sách giáo
khoa, thực hiện đúng mục đích giảng dạy để học sinh hiểu và tiếp thu đƣợc những nội dung cần
thiết.
V.2. Phương pháp quan sát.
Thông qua việc quan sát các sự vật, hiện tƣợng địa lý đang diễn ra hàng ngày, những
hoạt động sản xuất, sinh hoạt để học sinh thấy đƣợc mối quan hệ qua lại giữa con ngƣời và môi
trƣờng, từ đó
3
khơi dậy ý thức cho học sinh chủ động học tập, tìm hiểu, thực tế. Từ đó tìm phƣơng pháp giáo
dục môi trƣờng cho hiệu quả.
V.3. Phương pháp trao đổi so sánh
- Qua nội dung các bài giảng địa lý với thực tế, giáo viên và học sinh có thể trao đổi về
những khái niệm môi trƣờng, so sánh hiện trạng môi trƣờng ở địa phƣơng này với địa phƣơng
khác, so sánh hình thức giáo dục này với hình thức giáo dục khác, giữa môn này với môn khác,
từ đó hiểu sâu hơn, đầy đủ hơn về ảnh hƣởng của môi trƣờng với cuộc sống, thấy rõ hơn trách
nhiệm phải bảo vệ môi trƣờng.
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG I : NỘI DUNG - KIẾN THỨC GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG QUA
MÔN HỌC ĐỊA LÝ CHO HỌC SINH CẤP II VÀ II Ở NƢỚC TA.
I. Việc đưa giáo dục môi trường vào nhà trường
Giáo dục môi trƣờng hiện nay đang là chiến lƣợc toàn cầu đƣợc tất cả các quốc gia trên
thế giới hƣởng ứng.
Hội nghị liên hợp quốc về môi trƣờng tại Slockholm năm 1972 ( Thụy Điển ) đã kêu gọi
chính phủ các nƣớc và tất cả các dân tộc cùng cố gắng bảo vệ và cải thiện môi trƣờng sống của
con ngƣời, vì lợi ích to lớm của loàn thế giới loài ngƣời hôm nay và mai sau, và đề nghị
UNESCO đẩy mạnh và tăng cƣờng giáo dục môi trƣờng lại các trƣờng trung học và đại học.
Tháng 10.1975 tại Beogracl, đã diễn ra hội nghị quốc tố về giáo dục bảo vệ môi trƣờng.
Hội nghị đã công bố hiến chƣơng về bảo vệ môi trƣờng. Trƣớc tình hình đỏ, tổ chức văn hóa xã
hội ( UNESCO ) của liên hiệp quốc đã đƣa ra một chƣơng trình cụ thể về giáo dục môi trƣờng
trong nhà trƣờng nhƣ :
- Cho học sinh thấy mối quan hệ tƣơng hỗ giữa các thành phần tự nhiên.
- Sự mãi cân bằng trong tự nhiên và tác hại của chúng với đời sống sản xuất và sinh
hoạt.
- Thấy sự cần thiết phải bảo vệ môi trƣờng.
4
Đặc biệt trong hội nghị thƣợng đỉnh về trái đất tại Rio De Janeiro (Brazin) 1992 đã xác định
chiến lƣợc hành động cho loài ngƣời về môi trƣờng và phát triển ở thế kỷ 21. Trong đó có
hành động xem xét lại về giáo dục môi trƣờng và đƣa nội dung giáo dục môi trƣờng vào
chƣơng trình giáo dục cho tất cả các lớp ở mọi cấp. Đây cũng là một trong những mục tiêu chủ
yếu của chƣơng trình giáo dục môi trƣờng quốc tế( IEEP ) của UNESCO và UNEP.
Ngày nay nhiều quốc gia trên thế giới đã ban bố những đạo luật, những quyết định
nhằm cứu vãn nguy cơ suy thoái môi trƣờng. Tuy nhiên những quyết định của các cấp chỉ có
hiệu quả khi các tầng lớp nhân dân có nhận thức đầy đủ về vai trò của mỗi trƣờng với cuộc
sống, và tác hại của việc môi trƣờng bị hủy hoại, bị ô nhiễm, ảnh hƣởng đến cuộc sống hàng
ngày của họ và cả thế hệ mai sau.
Việc giáo dục cho mỗi ngƣời và cả cộng đồng là hết sức cần thiết và cấp bách. Giáo
dục có thể bằng nhiều cách khác nhau, song một trong những biện pháp có thể đem lại kết quả
lâu dài là giáo dục nhận thức về môi trƣờng và ý thức bảo vệ môi trƣờng cho thế hệ sẽ làm chủ
tƣơng lai của đất nƣớc, những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trƣờng (từ mẫu giáo đến đại
học).
II. Giáo dục môi trường trong nhà trường ở các nước
Các nƣớc trên thế giới còn rất khác nhau về cách phân chia cấp học và tên gọi của cấp
học. Cách phân cấp và tên gọi tuy có khác nhau nhƣng chung lại cả ba bậc học ở phổ thông
đƣợc chia làm ba giai đoạn thời gian ( tƣơng đƣơng ba cấp ).
Cấp đầu thu nhận những học sinh từ 5-6 tuổi, học 5-6 năm gọi là cấp tiểu học, rồi tiếp
theo là cấp trung học ( cấp II và III ), ở mỗi cấp học có nội dung giáo dục môi trƣờng khác
nhau theo nhận thức của từng cấp.
II. 1. Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông
Từ trƣớc thập kỉ 60 đến những năm đầu của thập kỉ 70 hầu hết các nƣớc chƣa chú trọng
đến công tác giáo dục môi trƣờng trong các trƣờng phổ thông. Đến những năm cuối của thập
kỉ 70 sau khi có kế hoạch hoạt động của tổ chức UNESCO, UNDP, thì việc giáo dục môi
trƣờng cho học sinh mới bắt đầu đƣợc đẩy mạnh.
5
Hầu hết các nƣớc này đều tiến hành giáo dục môi trƣờng từ mẫu giáo, tiểu học đến trung
học, chƣơng trình soạn thảo cho phục vụ giảng dạy theo hệ thống từ thấp tới cao .
Hầu hết các nƣớc không sử dụng thành môn riêng khi giáo dục môi trƣờng cho học sinh
mà dùng hình thức lồng ghép, tính hợp vào các môn học, các bài giảng khi giảng bài của môn
học đó cho học sinh phổ thông với các phƣơng pháp kết hợp giữa giáo dục chính khóa với giáo
dục ngoại khóa, thực hành, thực tập ngoài thiên nhiên nhằm phù hợp với tâm sinh lý, nhận thức
của học sinh
II.2. Trong các trường Trung học chuyên nghiệp – dạy nghề Cao đẳng và Đại học.
Phân tích các nội dung trong chiến lƣợc đƣa giáo dục môi trƣờng vào các trƣờng chuyên
nghiệp, đại học của EMMLIN ( 1984 ), những nội dung này là cơ sở cho việc xây dựng chƣơng
trình giảng dạy môi trƣờng ở các trƣờng đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy
nghề.
Kinh nghiệm của các nƣớc khi giáo dục môi trƣờng, họ rất coi trọng vai trò của giáo
viên. Những yêu cầu đặt ra là giáo viên cần phải đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng, nâng cao kiến thức
về môi trƣờng thƣờng xuyên, thông qua đó, đội ngũ sinh viên, là những giáo viên tƣơng lai cũng
phải đƣợc bồi dƣỡng nhƣ vậy, mặt khác còn phải trang bị cho họ một phƣơng pháp giảng dạy
thích hợp để khi ra trƣờng họ thực hiện giáo dục có hiệu quả.
Về hình thức giáo dục môi trƣờng ở các trƣờng đại học, cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp và dạy nghề có thể bằng nhiều cách khác nhau chẳng hạn nhƣ :
- Có thể xây dựng nội dung giáo dục môi trƣờng đƣa thành một môn riêng, khi đƣa vào
chƣơng trình có thể là bắt buộc hoặc tự chọn cho từng chuyên ngành phù hợp.
- Cũng có thể thực hiện việc lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục môi trƣờng vào các
bài học cụ thể của các tiết dạy, bài dạy, của từng môn học cùng với quá trình truyền đạt kiến
thức chuyên môn cơ bản.
Về phƣơng pháp giáo dục môi trƣờng ở bậc đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp
- dạy nghề, các nƣớc cho rằng cần sử dụng nhiều phƣơng pháp nhằm phát huy năng lực cá nhân,
tự tìm hiểu, phát
6
hiện, phân tích mối quan hệ của những diễn biến về môi trƣờng khi học tập và khi tham quan
thực tế ngoài thiên nhiên, khi thực hành, thí nghiệm hoặc thông qua các sinh hoạt báo cáo
chuyên đề, làm bài lập cuối khóa, luận văn tốt nghiệp...
II.3. Kinh nghiệm giáo dục môi trường trong nhà trường ở một số nước trên thế giới
Kinh nghiệm ở các nƣớc khi thực hiện chƣơng trình giáo dục môi trƣờng cho mọi ngƣời
sẽ thực hiện qua trình kết hợp giữa việc giáo dục trong nhà trƣờng, trong các tổ chức xã hội,
điều trƣớc hết là :
- Nhà nƣớc phải coi việc giáo dục môi trƣờng cho mọi ngƣời là một nhiệm vụ quan
trọng trong chiến lƣợc bảo vệ môi trƣờng của quốc gia, từ đó nhà nƣớc phải thành lập các cơ
quan chức năng chuyên môn về môi trƣờng, và trong các cơ quan này ngoài bộ phận nghiên
cứu, còn phải có bộ phận chuyên về giáo dục môi trƣờng .
- Giáo dục môi trƣờng cần tiến hành thực hiện cho mọi tầng lớp nhân dân nhƣng chú
trọng vào các đối tƣợng phụ nữ, thanh niên, lực lƣợng học sinh là lực lƣợng chủ yếu của xã hội,
là thế hệ tƣơng lai của đất nƣớc. Ngay từ năm 1975 tổ chức UNESCO đã tập hợp đƣợc 130
nƣớc tham gia vào chƣơng trình rộng lớn về môi trƣờng ( IEEP ), nhiều cuộc thảo luận về giáo
dục môi trƣờng ở Tbilixi (1977 ), Matxcơva (1987) đã định hƣớng cho vấn đề giáo dục môi
trƣờng. Từ năm 1983 đã có nhiều cuốn sách và những báo cáo về kinh nghiệm giảng dạy môi
trƣờng ở các nƣớc. Tổ chức UNESCO đã thực hiện, cho ra đời một số dụng cụ, phƣơng tiện
phục vụ cho giáo dục môi trƣờng nhƣ sách hƣớng dẫn, tranh ảnh, phim... năm 1989, tổ chức
hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã triển khai tại 19 nƣớc một chƣơng trình nghiên cứu về
giáo dục môi trƣờng, cùng với các cuộc hội thảo để giáo viên trao đổi kinh nghiệm giảng dạy
nội dung giáo dục môi trƣờng:
+ Ở Liên Xô trước đây, ngƣời ta đƣa chƣơng trình giáo dục môi trƣờng vào chƣơng
trình địa lý từ lớp 5 đến lớp 10, một hệ thống kiến thức gồm nhiều thuật ngữ, những khái niệm
về môi trƣờng, bảo vệ môi trƣờng, bảo vệ tự nhiên, chẳng hạn nhƣ bảo vệ khí quyển, chống ô
nhiễm khí quyển, bảo vệ nguồn nƣớc, chống ô nhiễm nguồn nƣớc, sự thay đổi khí hậu do việc
cải tạo môi trƣờng càng lên các lớp cao hơn, các khái niệm trừu tƣợng càng đƣợc đƣa ra để học
sinh nâng cao nhận thức. Chẳng hạn nhƣ ở lớp 8 những khái niệm thuật ngữ đòi hỏi học
7
sinh phải tự suy nghĩ về những vấn đề nhƣ: Tác động của con ngƣời vào tự nhiên, những hậu
quả của sự tác động không đúng qui luật nhƣ thế nào? các phƣơng pháp đấu tranh sinh học, các
quá trình vôi hóa và các biện pháp khai thác đất mặn, đất bạc màu thoái hóa, các biện pháp khô
hóa đầm lầy, các biện pháp cải lạo rừng, chống xói mòn, lở đất, việc bảo vệ các địa tổng thể và
dự báo bảo vệ tự nhiên... Hay ở lớp 9 nhiều nội dung, thuật ngữ có liên quan đƣợc đƣa ra nhƣ:
Việc phục hồi, tái tạo sản xuất, đến việc bảo vệ tự nhiên trong các điều kiện kinh tế khác nhau,
việc dự báo địa lý, quá trình đô thị hóa và cân bằng sinh thái...
+ Ở Ba Lan: Là một nƣớc sớm đƣa nội dung bảo vệ môi trƣờng vào chƣơng trình các
môn học ở trƣờng phổ thông. Trong lớp học từ lớp 1 đến lớp 5, những kiến thức môi trƣờng,
bảo vệ môi trƣờng dạy chủ yếu là qua các môn học nhƣ: Địa lý, sinh vật, ngữ văn, mỹ thuật.
Trong địa lý, ngoài những bài học có kiến thức môi trƣờng, còn có một số bài riêng nhƣ: "con
ngƣời và môi trƣờng" , "con ngƣời và sinh quyển" , " ý nghĩa của việc bảo vệ tự nhiên trong sự
phát triển của xã hội, văn hóa, kinh tế" , "việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên " .
+ Ở Đức: Việc đƣa giáo dục môi trƣờng ở môn địa lý thƣờng đƣa vào các bài học nội
khóa, sử dụng các phƣơng pháp trực quan bằng các phƣơng tiện hiện đại nhƣ phim ảnh qua màn
hình ti vi... Sau đó đƣa chƣơng trình kiến thức môi trƣờng vào các bài tập, bài thực hành, khảo
cứu địa phƣơng... Hay cũng có thể đƣa cho học sinh thảo luận những nội dung có liên quan
trong cuộc sống hàng ngày của các em.
+ Ở Tiệp Khắc: Việc giáo dục môi trƣờng đƣợc coi là quá trình giáo dục có mục đích
xây dựng mối quan hệ đúng đắn giữa con ngƣời và môi trƣờng. Những kiến thức này đƣợc tiến
hành từ các lớp mẫu giáo đến trung học. Hình thức chính là ngoại khóa, tuy nhiên trong chƣơng
trình và sách giáo khoa các môn địa,hóa, lịch sử, vật lý đều có đề cập đến kiến thức về bảo vệ
môi trƣờng.
+ Ở Hungari: Học sinh đƣợc học kiến thức về môi trƣờng ngay từ lớp 4, lớp 5 đến lớp
7, trong chƣơng trình, các môn có dành thời gian thích đáng cho vấn đề giáo dục môi trƣờng...
Trong môn địa lý chú trọng đến vấn đề "ảnh hƣởng của nền kinh tế đến tự nhiên", trong môn
sinh vật có bài "thực vật và vấn đề bảo vệ môi trƣờng" ,
8
"cơ thể và môi trƣờng" , " bảo vệ động thực vật ", các kiến thức giáo dục môi trƣờng đƣa vào
chủ yếu là thông qua các hoạt động ngoại khóa.
+ Ở Hoa Kỳ: Giáo dục môi trƣờng đƣợc thực hiện khá sôi nổi với tổ chức nổi tiếng là
liên đoàn quốc gia bảo vệ cuộc sống hoang dã (NWF ) đã cho giảng dạy các trƣờng 33 bài học
về môi trƣờng có thể áp dụng ngay vào thực tế.
+ Ở Pháp: Bộ giáo dục Pháp luôn luôn kết hợp với các tổ chức quốc tế, các hội đoàn,
các tổ chức địa phƣơng, các cấp chính quyền, các vƣờn quốc gia để đƣa "chƣơng trình hành
động giáo dục" ( PAE ) vào các trƣờng tiểu học và trung học. Trong chƣơng trình giảng dạy địa
lý và khoa học tự nhiên đều đƣợc mở rộng kiến thức bảo vệ môi trƣờng. Ngoài ra các vấn đề
môi trƣờng còn đƣợc trình bày dƣới hình thức các hệ sinh thái trong chƣơng trình địa lý đại
cƣơng nhƣ: Hệ sinh thái vùng đồi, hệ sinh thái đồng cỏ...
Ngày nay ngoài việc bồi dƣỡng và đào tạo dài hạn các giáo viên để giảng dạy về môi
trƣờng đã trở nên cần thiết trong các trƣờng đại học và sƣ phạm ở Pháp.
+ Ở Một số nước trong khu vực Đông Nam Á
Ở các nƣớc Thái Lan, Philipin, Singapore, Indonexia, Nam Triều Tiên, nhiều vấn đề môi
trƣờng đƣợc đặt ra tƣơng tự nhƣ ở Việt Nam, đó là nạn phá rừng, sự gia tăng dân số nhanh, ô
nhiễm môi trƣờng do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa .
Trong các nƣớc này, hầu hết các nƣớc thực hiện giáo dục môi trƣờng trong nhà trƣờng
không theo một môn riêng mà thƣờng đƣợc lồng ghép, tích hợp vào các môn học.
* Ở Thái Lan: Việc đƣa giáo dục môi trƣờng vào nhà trƣờng khá sớm, nhà trƣờng đã
chủ động xây dựng khai thác nội dung giáo dục môi trƣờng theo những chủ điểm cho từng cấp
học.
Ví dụ: Ở cấp tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 6) các chủ điểm đƣợc hệ thống từ việc giáo dục
làm sạch đẹp môi trƣờng xung quanh nhƣ nhà cửa, trƣờng học, nơi ở, mở rộng đến việc cho học
sinh ý thức cần thiết phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nhƣ đất, nƣớc, cây cối, động vật và một
số qui định bảo vệ tài nguyên...Cao hơn nữa là cho học sinh nắm đƣợc phƣơng pháp bảo vệ đất,
rừng, nƣớc...
Khi lên cấp II, các chủ đề đƣợc phân theo 2 ngành khoa học tự nhiên và nghiên cứu kinh
tế - xã hội. Các vấn đề môi trƣờng đƣợc đặt ra phạm vi rộng hơn, học sinh khi đƣợc trang bị
kiến thức sẽ thấy hiểu
9
biết đầy đủ hơn về nguyên nhân, tình trạng suy thái môi trƣờng. Biện pháp phòng và chống suy
thoái, ô nhiễm môi trƣờng…
* Ở Singapore: Giáo dục môi trƣờng trong nhà trƣờng không đƣợc dạy nhƣ một môn
học, nhƣng các môn học trong chƣơng trình đều bao hàm các nội dung có liên quan tới việc
nghiên cứu về giáo dục sinh thái và môi trƣờng.
Ở cấp tiểu học, chủ đề lớn và chủ yếu là "con ngƣời và môi trƣờng sống của con ngƣời"
trong các môn học tự nhiên. Ở cấp phổ thông trung học, học sinh có thể đƣợc học chủ đề "con
ngƣời và sinh hoạt xã hội gồm các nghiên cứu tổng thể về môi trƣờng".
* Ở Nam Triều Tiên: Mục tiêu của giáo dục bảo vệ môi trƣờng ở các trƣờng tiểu học
và trung học là giúp cho các em có những quan niệm, những khái niệm đại cƣơng về bảo vệ môi
trƣờng và những tác hại của sự ô nhiễm môi trƣờng gây ra. Những nội dung đƣợc trình bày qua
các bài học trong sách giáo khoa, hay qua các phƣơng tiện nghe nhìn hiện đại.
* Ở Inđônêxia: Đã tập trung xây dựng một hộ thống chƣơng trình về giáo dục môi
trƣờng. Mục tiêu của quốc gia này là phải đảm bảo cho thế hệ đƣợc chuẩn bị sẵn sàng, đƣợc
cung cấp đầy đủ các hiểu biết về môi trƣờng để các em có thể hăng say tham gia vào việc giữ
gìn môi trƣờng. Những nội dung giáo dục chủ yếu là nhấn mạnh vấn đề môi trƣờng trong các
chủ điểm của chƣơng trình giáo dục hiện hành mà không xây dựng thêm một môn mới. Việc
giáo dục không nhằm vào các môn học của khoa tự nhiên và xã hội...
Nhƣ vậy, việc giáo dục môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng trong những năm gần đây đã
đƣợc đƣa vào giảng dạy trong nhà trƣờng, nhƣng so với yêu cầu cần thiết của giai đoạn hiện nay
thì các nhà giáo dục ở trên thế giới cho rằng: Nhà trƣờng chƣa làm đƣợc bao nhiêu. Do đó, vấn
đề giáo dục môi trƣờng trong nhà trƣờng vẫn còn phải đi sâu, quan tâm hơn nữa thì mới mong
có kết quả .
III. Đưa giáo dục môi trường vào nhà trường ở Việt Nam
Việt Nam là nƣớc có nền kinh tế nông nghiệp phát triển chậm, quá trình công nghiệp
hoá, hiện dại hoá còn thấp nên những ảnh hƣởng của môi trƣờng với cuộc sống ít thấy thể hiện
rõ, vì vậy chúng ta chƣa chú ý nhiều về vấn đề ô nhiễm môi trƣờng , chƣa thấy rõ tầm quan
trọng và sự cần thiết phải bảo vệ môi trƣờng. Mãi cho đến thập
10
niên 80-90 cua thế kỷ 20 này, vấn đề môi trƣờng mới đƣợc đƣa vào chƣơng trình quốc sách,
cùng với vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự gia tăng dân số quá nhanh, chúng ta mới đƣa
vấn đề môi trƣờng vào hệ thống những vấn đề cần đƣợc giải quyết cấp bách của đất nƣớc.
Ngoài những biện pháp kỹ thuật đã và đang đƣợc đƣa ra để bảo vệ môi trƣờng, còn có
những văn bản pháp lý của Chính phủ, Bộ khoa học- công nghệ môi trƣờng đã ban hành nhƣ:
- Chỉ thị số 75-TT6 ngày 25 -2 -1993 của Thủ tƣớng Chính phủ về một số công tác cần
làm ngay để bảo vệ môi trƣờng.
- Chỉ thị số 317- TNKH ngày 27 - 2 - 1993 của bộ công nghệ và môi trƣờng về đẩy
mạnh các hoạt động bảo vệ môi trƣờng ở các địa phƣơng.
- Chỉ thị số 18- CTXKHKT ngày 8 - 4 - 93 của bộ công nghiệp nặng về việc xây dựng
triển khai kế hoạch bảo vệ môi trƣờng trong toàn nghành công nghiệp nặng.
III. 1- Giáo dục môi trường trong các trường phổ thông :
Vấn đề giáo dục môi trƣờng ở nƣớc ta còn quá mới mẻ, trƣớc đây việc đƣa giáo dục môi
trƣờng vào nhà trƣờng cũng không đƣợc chú ý. Từ khi thực hiện cải cách giáo dục (1986), việc
giáo dục môi trƣờng mới dần đƣợc chú ý hơn. Ngoài những hoạt động của các tổ chức đoàn thể,
các phƣơng tiện thông tin đại chúng, việc tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục môi trƣờng vào
các môn học có đƣợc ngành giáo dục chú ý hơn. Nhƣng thực tế, việc thực hiện còn rời rạc, đội
ngũ cán bộ, giáo viên chƣa đƣợc bồi dƣỡng thƣờng xuyên để nâng cao kiến thức về môi trƣờng.
Vì vậy, mà chƣa có những biện pháp truyền đạt nội dung có hiệu quả cao.
Ví dụ: Khi trao đổi thăm dò đội ngũ giáo viên ở Tp. Hồ Chí Minh (150 giáo viên) cho
thấy rằng: 56% chƣa đƣợc dự lớp tập huấn, bồi dƣỡng về môi trƣờng, 32% ít khi đƣợc học bồi
dƣỡng, còn chỉ có 8,5% đƣợc bồi dƣỡng thƣờng xuyên.
- Nhận thức của giáo viên về vai trò của giáo dục môi trƣờng, phƣơng thức giáo dục môi
trƣờng, biện pháp giáo dục môi trƣờng cho học sinh cũng còn những khoảng cách nhất định .
Cụ thể: Thông qua trao đổi dự giờ, phát phiếu thăm dò ở một số giáo viên (chủ yếu là
cấp hai) ở Tp. Hồ Chí Minh, Tây Ninh,
11
Sông Bé, Đồng nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Cần Thơ... Trong số 220 phiếu trả lời chúng tôi có đƣợc
kết qua sau:
+ 70% số đƣợc hỏi có nhận thức đúng mục đích của giáo dục môi trƣờng vào trƣờng cấp
III là giáo dục kiến thức và hành vi.
+ 92,5% số giáo viên đƣợc hỏi cho rằng giáo dục môi trƣờng qua môn học là phù hợp,
có thể đem lại hiệu quả cao.
+ 80% số đƣợc hỏi có ý kiến cho rằng việc giáo dục môi trƣờng qua môn địa lý sẽ giúp
học sinh mở rộng thêm kiến thức địa lý và một số môn khoa học khác.
+ 87% cho rằng "bảo vệ môi trƣờng là hành vi đạo đức của mỗi học sinh và mỗi ngƣời,
còn 2,3% còn phân vân, 10% không có ý kiến gì.
+ 79% giáo viên đƣợc hỏi đồng ý với ý kiến cho rằng "giáo viên luôn phải là ngƣời
gƣơng mẫu trong cộng đồng về giáo dục và bảo vệ môi trƣờng".
Việc giáo dục môi trƣờng đã và đang đẩy mạnh trong nhà trƣờng ở nƣớc ta, nhƣng hiện
nay phần lớn mới chỉ thực hiện qua giờ giảng lý thuyết ở trên lớp chứ chƣa có những hoạt động
thực tiễn ở địa phƣơng. Trong quá trình giảng dạy, truyền đạt kiến thức, phƣơng tiện thƣờng
xuyên sử dụng chủ yếu là sách giáo khoa, bản đồ, tranh ảnh... mà chƣa có phƣơng tiện hiện đại.
III.2. Ở các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.
Việc đƣa giáo dục môi trƣờng vào các trƣờng đại học, cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp và dạy nghề hiện nay ở nƣớc ta chƣa có sự thống nhất và đồng bộ, từ việc giáo viên tự
khai thác những kiến thức lồng ghép, tích hợp ở một số bộ môn nhƣ địa lý, sinh vật, giáo dục
công dân, tâm lý giáo dục... đến 1995, khi chƣơng trình cải cách đại học thực hiện theo chƣơng
trình mới, bƣớc đầu chúng ta đƣa bộ môn "môi trƣờng và con ngƣời" vào chƣơng trình của giai
đoạn một đại học đại cƣơng, nhƣng cũng chỉ là chƣơng trình tự chọn, nên chƣa có sự ràng buộc,
hỏi vậy chƣa có khả năng thuyết phục rộng rãi và có hiệu quả.
12
CHƢƠNG II: GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG TRONG MÔN ĐỊA LÝ
I. Những khái niệm về môi trường và bảo vệ môi trường
1.1. Những khái niệm về môi trường:
Hiện nay trong các thuật ngữ "môi trƣờng" "ô nhiễm" "tài nguyên" "sinh thái " "phát
triển lâu bền"... đƣợc sử dụng rộng rãi trong tầng lớp nhân dân, ghi nhận nhiều trong sách vở,
tài liệu, trong các phƣơng tiện thông tin đại chúng .Tuy nhiên, trong nhiều trƣờng hợp việc hiểu
và sử dụng các thuật ngữ này chƣa hoàn toàn chính xác, thậm chí đôi khi còn nhầm lẫn.
Có nhiều khi khái niệm môi trƣờng đƣợc hiểu với nội dung là môi trƣờng sống, môi
trƣờng tự nhiên, nhƣng có lúc đƣợc hiểu rộng hơn, nó bao gồm tất cả các yếu tố của hoạt động
xã hội loài ngƣời. Hiểu theo nghĩa rộng thì môi trƣờng bao gồm tất cả những gì có ở xung
quanh một đối tƣợng mà ngƣời ta nói tới và có những mối quan hệ nhất định đối với nó. Nếu
đối tƣợng đó là cơ thể sinh vật thì môi trƣờng là tất cả những gì trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh
hƣởng tới sự sinh trƣởng, phát triển và sự tồn tại của cơ thể đó. Môi trƣờng đó đồng nghĩa với
môi trƣờng sống hay môi trƣờng tự nhiên ở xung quanh cơ thể sinh vật .
Con ngƣời là một thực thể sinh vật cấp cao (đặc biệt). Do biết chế tạo và sử dụng công
cụ lao động, con ngƣời đã dần thoát khỏi sự lệ thuộc vào các qui luật sinh học, vào môi trƣờng,
mà còn có tác động trở lại môi trƣờng đó một cách mạnh mẽ. Các nhà địa lý học, tiêu biểu là
X.V Kalexnik đã gọi bộ phận tự nhiên bao quanh con ngƣời bị thay đổi bởi con ngƣời ở mức độ
này hay mức độ khác là môi trƣờng địa lý.
Trong thời đại của chúng ta hiện nay, con ngƣời không phải chỉ sống trong một loại môi
trƣờng mà trong hai môi trƣờng có quan hệ qua lại với nhau. Loại thứ nhất là môi trƣờng địa lý,
đã chịu tác động của con ngƣời. Loại môi trƣờng thứ hai hoàn toàn do con ngƣời với trình độ kỹ
thuật của mình tạo nên nhƣ các thành phố, nhà máy. Từ đó địa lý thêm một khái niệm mới là:
"môi trƣờng nhân tạo". Giữa "môi trƣờng tự nhiên" và "môi trƣờng nhân tạo" khác nhau về mặt
nguồn gốc phát sinh và phát triển. Môi trƣờng tự nhiên xuất hiện trên bề mặt trái đất không phụ
thuộc vào con ngƣời. Ngƣợc lại sự phát triển của môi trƣờng nhân tạo phụ thuộc hoàn toàn vào
sức lao động của con
13
ngƣời. Khái niệm về môi trƣờng tƣơng đối đầy đủ do UNESCO đƣa ra năm 1981 là: "Toàn bộ
các hệ thống tự nhiên và hệ thống do con ngƣời tạo ra ở xung quanh mình, trong đó con ngƣời
sinh sống và bằng lao động đã khai thác những tài nguyên tự nhiên hoặc nhân tạo, cho phép
thỏa mãn những nhu cầu của con ngƣời".
Nhƣ vậy, đối với con ngƣời, môi trƣờng không chỉ là nơi tồn tại, sinh trƣởng và phát
triển cho một thực thể sinh vật là con ngƣời mà là "khung cảnh của lao động, của cuộc sống và
sự nghỉ ngơi của con ngƣời". Nó tạo thành thể thống nhất bao gồm nhiều đối tƣởng và hiện
tƣợng tự nhiên nhƣ đất đai, địa hình, khí hậu, nƣớc, động thực vật, các khu dân cƣ, khu sản
xuất, khu bảo vệ thiên nhiên, phong cảnh, các công trình văn hóa, lịch sử...
I.2. Khái niệm về bảo vệ môi trường:
Khái niệm về bảo vệ môi trƣờng là khái niệm phức tạp và luôn luôn phát triển. Vào
những thập kỷ trƣớc đây, ý thức bảo vệ môi trƣờng mới chỉ đƣợc coi là ý thức bảo vệ tự nhiên.
Mà ngay cả thuật ngữ bảo vệ tự nhiên cũng mới chỉ đƣợc sử dụng rộng rãi vào đầu thế kỷ 20
này.
Trong thời kỳ này, khái niệm bảo vệ tự nhiên đƣợc định nghĩa là: "Ý muốn chung hƣớng
tới việc bảo tồn những di sản tự nhiên và việc chăm sóc chúng". Tuy nhiên trong từng giai đoạn
lịch sử khi hoạt động của con ngƣời còn có tính chất cục bộ thì việc bảo vệ tự nhiên chỉ đƣợc
coi nhƣ là việc bảo vệ những đối tƣợng riêng biệt của tự nhiên đã bị nghèo đi do sự phát triển
kinh tế của con ngƣời. Phù hợp với mục đích đó, biện pháp bảo vệ cũng chỉ là xây dựng những
khu bảo vệ, ra các đạo luật cấm khai thác động, thực vật quí hiếm bừa bãi, phải bảo lần những
loài quý hiếm đó....
Sau này khi sự phát triển rộng lớn, con ngƣời tác động vào tự nhiên có chiều sâu hơn,
con ngƣời lại nhận thức đƣợc rằng việc hiểu khái niệm tự nhiên trƣớc đây là chƣa đủ. Bảo vệ tự
nhiên không chỉ bảo vệ tự nhiên một cách tiêu cực, mà phải chú ý mặt tích cực của nó. Bảo vệ
tự nhiên là khai thác, sử dụng tự nhiên một cách hợp lý, làm cho nó ngày càng giàu thêm. Cần
phải chống những hiện tƣợng làm cho nó ngày càng cạn kiệt đi. Chất lƣợng của tự nhiên ngày
càng tăng, càng có lợi cho nền kinh tế, cho cuộc sống và sức khỏe của con ngƣời.
Đến nửa sau thế kỷ 20 này ngƣời ta đã dùng thuật ngữ "bảo vệ môi trƣờng" thay cho
thuật ngữ "bảo vệ tự nhiên".
14
Thực ra khái niệm bảo vệ môi trƣờng rộng hơn khái niệm bảo vệ tự nhiên, bởi vì phạm
vi của nó không phải chỉ có tự nhiên với các thành phần của nó mà còn có cả những công trình
nhân tạo ở quanh con ngƣời (nhƣ đã nêu ở trên).
Do đó ngày nay, khái niệm bảo vệ môi trƣờng là cả hộ thống bao gồm: Việc bảo vệ môi
trƣờng tự nhiên, trong đó diễn ra cuộc sống của con ngƣời, các loại sinh vật khác và cả việc bảo
vệ môi trƣờng sản xuất, văn hóa để phục vụ cho hoạt động lao động và nghỉ ngơi, giải trí của
con ngƣời. Chúng ta cần chấp nhận cách hiểu khái niệm này để khi khai thác nội dung bài giảng
có thuận lợi và hiệu quả hơn trong giáo dục bảo vệ môi trƣờng.
Việc đƣa nội dung giáo dục bảo vệ môi trƣờng vào chƣơng trình sách giáo khoa phổ
thông, cần phải liên hệ với từng bộ môn cụ thể, bởi vì: Khái niệm môi trƣờng ngày càng đƣợc
mở rộng, bản thân khái niệm bảo vệ môi trƣờng đã chứa đựng trong đó nhiều mối quan hệ bên
trong và bên ngoài phức tạp, cho nên khái niệm bảo vệ môi trƣờng trong chƣơng trình học phải
là một khái niệm liên bộ môn và hết sức tổng hợp. Ở mỗi môn học, khái niệm bảo vệ môi
trƣờng đƣợc phát triển theo những khía cạnh riêng biệt, thể hiện những mối quan hệ giữa môi
trƣờng và đối tƣợng của môn học. Việc hình thành khái niệm bảo vệ môi trƣờng nhƣ vậy không
chỉ thuộc phạm vi một bộ môn nào mà cần sự tham gia của nhiều bộ môn.
Dựa vào chƣơng trình cải cách giáo dục của từng bộ môn, nội dung giáo dục môi trƣờng
phải đƣợc đƣa vào theo một số nguyên tắc sau:
- Phải tôn trọng đặc thù của từng bộ môn, những nội dung giáo dục môi trƣờng phải là
những nội dung có sẵn trong chƣơng trình của bộ môn đó.
- Những kiến thức đƣa vào phải có hệ thống, tránh trùng lặp lãng phí thời gian, nội dung
phải vừa với nhận thức của học sinh, không làm ảnh hƣởng đến việc tiếp thu kiến thức bài học
bộ môn chính.
- Nội dung bảo vệ môi trƣờng đƣa vào nhà trƣờng phải ƣu tiên phản ánh những thực tiễn
về môi trƣờng tự nhiên của đất nƣớc và ngay cả nơi các em đang sống.
Việc đƣa giáo dục môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng vào nhà trƣờng các cấp cần kết hợp
chặt chẽ giữa chƣơng trình, sách giáo khoa và phƣơng pháp dạy của giáo viên.
15
- Giáo dục bảo vệ môi trƣờng đƣa vào các môn học nói chung phải là hệ thống các khái
niệm ở các mặt sau:
+ Các khái niệm về đặc điểm và cấu trúc của môi trƣờng, về những mối quan hệ bên
trong, những quy luật về sự ổn định và biến đổi của môi trƣờng do các mối quan hệ khác tác
động vào.
+ Những khái niệm về sự tác động vào môi trƣờng theo hai hƣớng tích cực và tiêu cực
+ Các tác động của môi trƣờng làm thay đổi các điều kiện sống và sinh hoạt của các sinh
vật nói chung và con ngƣời nói riêng.
II. Nội dung giáo dục môi trường qua môn địa lý.
Trong các môn học ở nhà trƣờng, môn địa lý có nhiều thuận lợi để liên hành khai thác
nội dung giáo dục môi trƣờng thông qua việc lồng ghép, tích hợp vào bài giảng chính khóa.
Đại hội địa lý quốc tế lần thứ 23 họp ở Matxcova đã chọn tiêu đề "Cách mạng khoa học
kỹ thuật và ngành địa lý" cho các báo cáo, bởi vì những yêu cầu mới của cách mạng khoa học
kỹ thuật đã làm (hay đổi nhiệm vụ của khoa học địa lý. Cách mạng khoa học kỹ thuật đã mở ra
thời kỳ phát triển công nghiệp theo chiều rộng, dẫn đến tác động lớn vào môi trƣờng tự nhiên
nhƣ:
- Sự khai thác tài nguyên thiên nhiên ngày càng có qui mô lớn hiện đại.
- Nhịp độ sản xuất và tiêu dùng tăng nhanh làm mất cân bằng tự nhiên và môi trƣờng.
- Sự biến đổi sâu sắc về phƣơng diện lý, hóa của các thành phần tự nhiên trái đất diễn ra
mạnh mẽ.
- Sự tăng nhanh quá trình đô thị hóa làm cho hậu quả đa dạng diễn ra với môi trƣờng
xung quanh.
Chính từ đó mà phải đặt ra vấn đề bảo vệ môi trƣờng, bảo đảm sự tồn tại và phát triển
của loài ngƣời trên trái đất. Những vấn đề đặt ra cho khoa học địa lý những nhiệm vụ lớn lao:
+ Phải nghiên cứu toàn diện những tác động của xã hội với môi trƣờng tự nhiên xung
quanh.
+ Tăng cƣờng phát hiện đánh giá khối lƣợng tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho sự phát
triển của xã hội.
16
+ Phát triển và thực hiện kế hoạch phân bố hợp lý sản xuất theo lãnh thổ, phân bố dân cƣ
phù hợp để giảm bớt sự tổn hại đến môi trƣờng, góp phần nâng cao chất lƣợng môi trƣờng.
+ Lập kế hoạch tổng thể khai thác, cải tạo môi trƣờng tự nhiên một cách hợp lý, đảm bảo
nâng cao chất lƣợng và điều kiện sống của con ngƣời.
Tất cả những nội dung này cần phải đƣa vào giáo dục cho học sinh, cho thế hệ tƣơng lai
của đất nƣớc qua môn địa lý. Tuy nhiên, để phù hợp với tính chất và trình độ của các đối tƣợng
học sinh, kiến thức phải đƣợc lồng ghép, tích hợp vào từng bài theo hệ thống thì hiệu quả giáo
dục mới đạt đƣợc theo mong muốn.
III. Việc đưa nội dung môi trường và giáo dục môi trường vào chương trình
sách giáo khoa phổ thông
Khái niệm môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng, nó chứa đựng trong đó các mối quan hệ
bên trong và bên ngoài. Vì vậy, ở mỗi môn học, khái niệm môi trƣờng, bảo vệ môi trƣờng phải
đƣợc khai thác theo các khía cạnh riêng biệt của từng môn học. Việc hình thành những khái
niệm nhƣ vậy không chỉ phụ thuộc vào môn học nào mà nó có sự tham gia của nhiều môn học.
Theo chƣơng trình cải cách giáo dục của các bộ môn hiện nay, thì việc đƣa giáo dục bảo vệ môi
trƣờng vào nhà trƣờng các cấp cần phải dựa trên những kiến thức sẵn có trong chƣơng trình bộ
môn để khai thác, lồng ghép, tích hợp cho phù hợp. Kiến thức đƣa vào phải có hệ thống từ thấp
đến cao, từ đơn giản đến phức tạp phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh từng cấp học,
không làm ảnh hƣởng đến khả năng nhận thức của học sinh, không ảnh hƣởng đến thời lƣợng
qui định cho môn học. Những kiến thức đó phải đƣợc cập nhật hóa, có thể liên hệ ngay với thực
tế cuộc sống đang diễn ra nơi các em học, sinh sống, vui chơi giải trí...
IV. Giáo dục môi trường và bảo vệ môi trường cho học sinh cấp II và III qua
môn Địa lý
Chƣơng trình giảng dạy địa lý cấp II và III ở nƣớc ta hiện nay đƣợc soạn thảo theo các
nội dung cho từng lớp học, cấp học, nó bao gồm: Địa lý tự nhiên đại cƣơng, địa lý kinh tế các
nƣớc trên thế giới,
17
địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam và cả phần địa lý địa phƣơng, tỉnh huyện...
- Địa lý tự nhiên đại cƣơng nghiên cứu các qui luật tự nhiên trên cơ sở những hoạt động
theo qui luật tự nhiên của các thành phần cấu trúc trái đất (địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ
nhƣỡng, sinh vật...). Từ những khái niệm có tính qui luật của các thành phần tự nhiên đã đƣợc
xác định, các quốc gia trên thế giới thực hiện việc nghiên cứu, nắm bắt những qui luật đó trên
lãnh thổ quốc gia mình để khai thác, sử dụng vào mục đích phục vụ cho lợi ích của con ngƣời.
Các thành phần tự nhiên đó luôn luôn tồn tại phát triển, đó cũng chính là môi trƣờng sống của
sinh vật (Trong đó con ngƣời là tầng lớp động vật cao đẳng).
- Phần địa lý kinh tế - xã hội của các nƣớc nói chung và Việt Nam nói riêng, khi nghiên
cứu về tổ chức lãnh thổ sản xuất xã hội, không thể không đề cập đến các hình thức, biện pháp,
họat động của con ngƣời trên lãnh thổ nói chung và tác động đến từng thành phần của môi
trƣờng nói riêng. Sự tác động đó làm cho các thành phần của môi trƣờng biến đổi theo hai
hƣớng: Tiêu cực và tích cực.
Rõ ràng việc giảng dạy địa lý và giáo dục môi trƣờng, bảo vệ môi trƣờng có mục đích
khác nhau, nhƣng lại có cùng đối tƣợng nghiên cứu, tác động. Vì vậy, những kiến thức địa lý
cũng chính là những kiến thức môi trƣờng và việc giáo dục bảo vệ môi trƣờng cũng chính là
giảng dạy địa lý cho học sinh cấp II và III.
Quá trình giáo dục môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng qua môn địa lý cần đƣợc khai thác
cụ thể vào từng bài trong chƣơng trình địa lý cấp II và III hiện hành ở Việt Nam.
CHƢƠNG III: KHAI THÁC NỘI DUNG KIẾN THỨC MÔI TRƢỜNG VÀ
BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG SÁCH GIÁO KHOA ĐỊA LÝ CẤP II VÀ III
Ở VIỆT NAM.
Theo phân chia hiện nay của ngành giáo dục Việt Nam:
- Cấp II (còn gọi là cấp trung học cơ sở) từ lớp 6 đến lớp 9.
- Cấp III (còn gọi là phổ thông trung học) từ lớp 10 đến lớp 12.
18
I. Nội dung kiến thức giáo dục môi trường và bảo vệ môi trường qua môn
Địa lý cấp II
I.1 - Ở lớp 6:
Chƣơng trình lớp 6 hiện hành, học sinh đƣợc học một giáo trình đơn giản về địa lý đại
cƣơng dƣới hình thức các khái niệm mở đầu về địa lý. Giáo trình này đề cập đến một số kiến
thức chung về bản đồ, về trái đất, về các quyển của nó (cũng là các thành phần tự nhiên của lãnh
thổ) và về các hoạt động sản xuất của con ngƣời (cũng là các hình thức tác động của con ngƣời
vào môi trƣờng tự nhiên).
Qua giáo trình này, về mặt địa lý, học sinh sẽ nắm bắt đƣợc một số khái niệm cơ bản về
địa lý tự nhiên và kinh tế, hiểu đƣợc một số mối quan hệ nhân quả giữa các sự vật và hiện tƣợng
địa lý thông thƣờng xảy ra ở xung quanh các em, nhƣng đồng thời cũng hiểu và làm quen với
các thành phần của môi trƣờng, cũng nhƣ các mối quan hệ giữa chúng. Đó cũng là cơ sở để các
em hiểu rõ hơn tại sao phải bảo vệ môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng thì phải làm những gì ?
Trong bài mở đầu: Mục đích chính của bài này là làm cho học sinh ngay từ đầu năm học
đã nắm bắt đƣợc mục đích, nội dung cũng nhƣ phƣơng pháp học lập tập giáo trình địa lý đại
cƣơng ở lớp học đầu cấp. Điều quan trọng nhất là giáo viên phải làm cho học sinh có hứng thú
với môn học mới. Về nội dung, giáo viên cần nêu lên đƣợc vai trò của con ngƣời trong việc bảo
vệ và cải tạo tự nhiên, hạn chế những mặt không thuận lợi và phát huy những mặt thuận lợi của
nó để sản xuất ra nhiều của cải cho xã hội.
Chương 3 : Cấu tạo của trái đất và địa hình.
Trong hai bài 11 và 12, khi nói đến các thiên tai xảy ra do nội lực (núi lửa và động đất),
giáo viên có thể nêu lên tình hình phòng chống (hiện tại, bảo vệ tính mạng và tài sản con ngƣời
nhƣ một khía cạnh của vấn đề giáo dục bảo vệ môi trƣờng, làm cho học sinh nắm đƣợc các quy
luật chung của môi trƣờng và đề phòng những hậu quả xấu do môi trƣờng gây ra.
Trong các bài 14, 15, 18 với những kiến thức về tài nguyên khoáng sản ở núi, đồng
bằng, cao nguyên... giáo viên có thể bổ sung về việc sử dụng hợp lý cũng nhƣ việc bảo vệ các
nguồn tài nguyên, khoáng sản, nói chung và ở nƣớc ta nói riêng.
19
Chương 4 : Lớp nƣớc trên trái đất.
Vấn đề giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong chƣơng này đƣợc đặt ra khá rõ. Đặc biệt là các
bài 24 và 29 là những bài nên đƣợc trực tiếp các vấn đề sử dụng hợp lý, bảo vệ nguồn nƣớc
biển, nguồn sinh vật biển, tác dụng của các sông ngòi đến nông nghiệp, giao thông vận tải phát
triển thủy điện... Ngoài ra các bài đọc thêm ở các bài 20, 24, 26 và 29 cũng là những bài có đề
cập đến nội dung môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng mà giáo viên cần khai thác.
Chương 5 : Lớp không khí trên trái đất.
Cũng nhƣ chƣơng IV, chƣơng khí quyển có những vấn đề môi trƣờng và giáo dục môi
trƣờng khá rõ rệt. Vì nội dung của chƣơng qua nhiều, nên vấn đề chống ô nhiễm và bảo vệ sự
trong sạch của khí quyển không thể đƣa thành một bài học chính thức mà phải đƣa dƣới dạng
bài đọc thêm bổ sung cho nội dung bài 30.
Hai bài 31 và 32 đề cập đến hai khái niệm thời tiết và khí hậu. Phần thời tiết và khí hậu
đối với sản xuất nông nghiệp có nội dung giáo dục và bảo vệ môi trƣờng. Phần này giáo viên có
thể mở rộng nội dung: Ảnh hƣởng của thời tiết và khí hậu đến các mặt sinh họat, giao thông vận
tải, các biện pháp phòng chống, cải tạo khí hậu.
Các bài từ 33 đến 41 đề cập đến các yếu tố thời tiết khí hậu (nhiệt độ, khí áp, gió mƣa...)
và các kiểu thời tiết. Khi giảng dạy, giáo viên có thể bổ sung và nói rõ thêm. Ví dụ: Trong bài
về nhiệt độ, ngoài ý đã có nhƣ: về mùa hạ, ngƣời ta thƣờng lên các núi cao để nghỉ mát, giáo
viên có thể nói thêm việc sử dụng hợp lý điều kiện nhiệt độ cao của nƣớc ta trong nông nghiệp,
việc khắc phục nhiệt độ cao trong sinh hoạt bằng các phƣơng tiện hiện đại nhƣ máy điều hòa
nhiệt độ...
Trong bài 36: Gió mùa ở nƣớc ta và các loại gió khác. Ngoài các ý gió mùa ảnh hƣởng
đến sinh hoạt của nhân dân, bão gây nhiều tổn thất đối với sản xuất và sức khỏe của con
ngƣời..., đây cũng là những vấn đề rút ra trong điều kiện thực tế môi trƣờng ở nƣớc ta. Đối với
các bài 38, 39 nói về mƣa và sự phân bố lƣợng mƣa trên trái đất cũng vậy. Cùng với các bài đọc
thêm, giáo viên có thể bổ sung thêm các ý về ảnh hƣởng của lƣợng mƣa trên trái đất cũng vậy.
Cùng với các bài đọc thêm, giáo viên có thể bổ sung thêm các ý về ảnh hƣởng của lƣợng mƣa
đối với sản xuất, sinh hoạt , về các biện pháp phòng chống biện pháp phòng chống hạn hán ,
sƣớng muối mƣa đá...
20
Chương 6 : Lớp đất trồng .
Các kiến thức trong chƣơng này hầu hết đều là những kiến thức bảo vệ môi trƣờng, 3 bài
trong toàn chƣơng không chú ý đi sâu vào các kiến thức về thổ nhƣỡng, mà chỉ đề cập đến các
kiến thức về tính chất đặc điểm của thổ nhƣỡng, về các vấn đề sử dụng cải tạo về bảo vệ thổ
nhƣỡng. Cả 3 bài này đều có nội dung thích hợp với việc giáo dục bảo vệ môi trƣờng. Bài 42
nêu lên ý bảo vệ độ phì của đất. Bài 43 nêu lên vấn đề bảo vệ đất chống các hiện tƣợng xói
mòn, rửa trôi... Còn bài 44 lại đề cập đến việc sử dụng hợp lý, cải tạo và bồi dƣỡng đất trồng ...
Chương 7: Lớp vỏ địa lý và các cảnh quan trên trái đất.
Chƣơng này có 3 bài ( 45, 46, 47 ) thì 2 bài 45 và 46 có nhiều nội dung giáo dục bảo vệ
môi trƣờng, trong bài 45, phần nói về ảnh hƣởng của con ngƣời đối với sự phân bố động thực
vật trên trái đất, thực chất là vấn đề bảo vệ các động thực vật quý hiếm ở trên thế giới nói chung
và ở Việt Nam nói riêng. Trong bài 46, khi nói về mối quan hệ giữa các thành phần của lớp vỏ
địa lý và tác động của con ngƣời trong lớp vỏ địa lý, giáo viên có thể sử dụng mở thêm ý: con
ngƣời có khả năng làm biến đổi tự nhiên một cách mạnh mẽ để nói rõ hơn vấn đề bảo vệ môi
trƣờng .
Chương 8: Con ngƣời trên trái đất và các hoạt động kinh tế
Khi nói về ảnh hƣởng của sự gia tăng dân số quá nhanh làm cho việc cung cấp lƣơng
thực, thực phẩm và bảo đảm đời sống cho nhân dân trở nên khó khăn, giáo viên có thể bổ sung
thêm: Ảnh hƣởng của sự gia tăng dân số đối với môi trƣờng .
Khi đề cập đến vấn đề loài ngƣời khai thác thiên nhiên, các hoạt động kinh tế . Con
ngƣời từ xƣa đã biết khai thác, sử dụng cải tạo tự nhiên, giáo viên có thể bổ xung thêm một số ý
nhƣ: Khai thác và sử dụng thiên nhiên hợp lý, tránh lãng phí gây những thiệt hại cho môi trƣờng
cần phải chú ý vấn đề bảo vệ thiên nhiên .
Khi nói về các hình thức nông nghiệp, cần nhấn mạnh làm cho học sinh nhận thức dƣợc
rằng: Hình thức canh tác đốt rừng, làm rẫy là hoạt động nông nghiệp ở trình độ thấp, có hại cho
môi trƣờng, còn thâm canh là hình thức sản xuất nông nghiệp đi đối với cải thiện và bảo vệ môi
trƣờng .
Trong các bài về công nghiệp, giao thông vận tải, giáo viên cần nêu lên ý nghĩa của việc
xử lý chất thải, việc chống ô nhiễm môi trƣờng nƣớc, không khí ...
21
Cuối cùng, trong bài kết luận của toàn bộ giáo trình, việc sử dụng ý thức bảo vệ môi
trƣờng cũng đƣợc củng cố thêm một lần nữa trong phần cuối của bài với các ý:
a. Cần phải biết khai thác, sử dụng thiên nhiên một cách đúng đắn có hiệu quả phục vụ
cho lợi ích con ngƣời .
b. Nếu khai thác sử dụng tự nhiên một cách bữa bãi mà không tính đến những hậu quả
xảy ra thì có thể dẫn đến việc phá hoại tự nhiên một cách nghiêm trọng, gây nhiều tai hại cho
việc xây dựng kinh tế của đất nƣớc .
Vì vậy: Chúng ta phải đối xử tốt với tự nhiên một cách đúng đắn và hãy sử dụng nó nhƣ
thế nào để có lợi nhất cho cuộc sống .
I.2.Ở lớp 7
Chƣơng trình địa lý lớp 7 phổ thông hiện nay về điạ lý các châu bao gồm cả phần địa lý
tự nhiên và phần dân cƣ kinh tế - xã hội . Do vậy, bộ môn này có nhiều khả năng giáo dục cho
học sinh ý thức bảo vệ môi trƣờng. Có thể sử dụng qua sách giáo khoa địa lý ở lớp 7 những kiến
thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng sau đây :
Đặc điểm địa lý tự nhiên, dân cƣ, sự khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên vào việc phát
triển kinh tế của các khu vực, các nƣớc khác nhau trên thế giới.
Những biến đổi của môi trƣờng do hoạt động của con ngƣời ở các khu vực các nƣớc:
+ Theo chiều hƣớng xấu: Môi trƣờng bị ô nhiễm, phá hủy tài nguyên bị cạn kiệt.
+ Theo chiều hƣớng tốt: Môi trƣờng đƣợc bảo vệ và cải tạo, giàu có phong phú hơn .
Những vấn đề đặt ra về việc sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng ở mỗi khu vực
mỗi nƣớc.
Giáo dục ý thức trách nhiệm góp phần vào việc bảo vệ môi trƣờng của đất nƣớc và của
hành tinh trái đất .
A - CHÂU ÂU
Bài: Vị trí điạ lý và các điều kiện tự nhiên của Châu Âu.
22
1 - Đặc điểm môi trƣờng tự nhiên Châu Âu
Châu Âu là một châu lục nhỏ, đại dƣơng và biển bao quanh, nhiều sông lớn đổ ra biển
(Enbơ, Rainơ, Xen, Loa, Ebrơ), Châu Âu gồm những nƣớc có nền công nghiệp phát triển, do
vậy cần chú ý đến sự nhiễm bẩn đại dƣơng thế giới do nƣớc thải của các khu công nghiệp và các
tàu chở dầu .
2- Mối quan hệ giữa vị trí địa lý, địa hình khí hậu, sông ngòi, động thực vật đã làm cho
Châu Âu có sự khác biệt lớn giữa các khu vực: Bắc Âu, Tây và Trung Âu, Nam Âu về cảnh
quan tự nhiên về các thành phần của nó. Vì vậy, ở mỗi khu vực có những vấn đề riêng về sử
dụng và bảo vệ môi trƣờng.
Bài: Dân cư và bản đồ chính trị Châu Âu.
- Châu Âu có mặt độ dân cơ cao nhất trong các Châu lục. Tuy nhiên sự phân bố dân cƣ
không đồng đều, tập trung ở các vùng công nghiệp và đầu mối giao thông quan trọng, hình
thành các trung tâm công nghiệp đô thị, nảy sinh vấn đề ô nhiễm môi trƣờng.
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vào các loại thấp nhất. Cứ trung bình 1000 dân thì mỗi năm
tăng thêm 6 ngƣời, trong khi đó Châu Á là 19 ngƣời , Châu Phi 30 ngƣời . Dân số ổn định là
một điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế.
Bài: Điều kiện tự nhiên của Bắc Âu. Dân cư và kinh tế các nước Bắc Âu.
Việc bảo vệ rừng của các nƣớc Bắc Âu và lợi ích kinh tế.
Rừng ở Phần Lan còn 70% diện tích lãnh thổ. Thụy Điển còn 55% diện tích. Đây là
những nƣớc sớm có luật lệ bảo vệ rừng, tỷ lệ rừng hiện nay vào loại nhiều nhất thế giới. Sản
phẩm gỗ mang lại cho Phần Lan 1/5 thu nhập quốc dân và chiếm 2/5 khối lƣợng hàng xuất khẩu
của Thụy Điển (15- 16 ).
Bài: Điều kiện tự nhiên của Tây và Trung Âu.
Sự ô nhiễm sông, ngòi khu vực do sự phát triển công nghiệp của Thụy Sỹ, Cộng hòa
Liên Bang Đức và Pháp, Hà Lan, có lƣu lƣợng giao thông vận chuyển lớn nhất châu Âu . Vì thế,
Rainơ là một trong những con sông bị nhiễm bẩn nghiêm trọng nổi tiếng thế giới.
Ảnh hƣởng của việc phá rừng đối với khí hậu, đất đai Trung Âu
Bài: Dân cư, kinh tế, chính trị các nước Tây Âu và Trung Âu
Là khu vực đông dân cƣ nhất châu Âu, nhƣng tỷ lệ gia tăng dân số lại vào loại thấp nhất
châu Âu và thế giới (Anh , Bỉ , Lúcxambua: 0,1 %; Áo, Hung: 0,0% . Khu vực Tây và Trung
Âu tập trung nhiều
23
nƣớc tƣ bản chủ nghĩa phát triển cao, công nghiệp là ngành kinh tế phát triển nhất và đạt trình
độ cao. Đồ thị phát triển mạnh (dân thành thị chiếm tỷ lệ cao: Anh 77%, Cộng Hoà Liên Bang
Đức, Hà Lan: 88% ). Nhiều vùng công nghiệp lớn: Luân đôn, Rua. Dân số ổn định nền kinh tế
phát triển cao, nhƣng hậu quả tác động đến môi trƣờng theo chiều hƣớng xấu: Nhiễm bẩn không
khí, các vùng chứa nƣớc do sự phát triển mạnh của nền công nghiệp tƣ bản chủ nghĩa và sự đô
thị hóa.
Bài: Miền đồng bằng phía bắc của khu vực Tây và Trung Âu
1. Giá trị kinh tế và tình hình sử dụng các loại đất trồng của đồng bằng.
2. Việc cải tạo đất xấu, xây dựng đê biển của nhân dân Hà Lan để chống sụt lún miền
ven biển Bắc Hải, việc sử dụng nguồn năng lƣợng gió để chạy các máy bơm tiêu nƣớc.
Bài: Miền núi già của khu vực Tây và Trung Âu.
1. Tài nguyên khoáng sản và sự phát triển công nghiệp trong khu vực.
2. Mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên và sự phát triển kinh tế khác nhau giữa các nƣớc
trong khu vực: Anh, Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng Hòa Séc và Slovakia ).
Bài: Miền núi trẻ của khu vực Tây và Trung Âu.
1. Đặc điểm môi trƣờng tự nhiên của vùng núi Anpơ và Cácpat đối với sự phát triển du
lịch của hai nƣớc Áo và Thụy sỹ.
2. Đặc điểm môi trƣờng tự nhiên vùng bình nguyên sông Đanuyp với sự phát triển nông
nghiệp của hai nƣớc Hungaria và Rumania.
Bài : Khu vực Nam Á.
1. Điều kiện tự nhiên của khu vực Nam Âu. Hậu quả của việc phá rừng đối với môi
trƣờng Nam Âu. Phần lớn diện tích là núi và cao nguyên, khí hậu cận nhiệt đới khô: Mƣa rào
vào muà đông, nóng khô vào mùa hè . Trong điều kiện rừng bị phá, đất bị rửa trôi, sƣờn đồi trơ
trụi, nƣớc sông lên nhanh gây lũ lụt.
2. Các biện pháp sử dụng và cải tạo tự nhiên: Làm ruộng bậc thang trên các sƣờn núi,
tƣới nƣớc, sử dụng đồng cỏ núi cao để chăn thả theo mùa.
Bài : Các nước Nam Âu
Ảnh hƣởng của điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên đối với sự phát triển kinh tế
khác nhau giữa Bắc và Nam Ý.
24
Bài : Điều kiện phát triển tự nhiên khu vực Đông Âu.
Sự phân hóa tự nhiên trong khu vực. Nêu thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng kinh
tế mỗi vùng. Những vùng cần cải tạo. Ví dụ về công trình cần cải tạo.
Bài : Tổng kết ôn tập về Châu Âu. Những vấn đề sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi
trường ở Châu Âu.
- Nghiêm trọng nhất là sự ô nhiễm môi trƣờng do sự phát triển của nền công nghiệp tƣ
bản chủ nghĩa và tập trung đô thị hóa, đặc biệt là các nƣớc tƣ bản phát triển của khu vực Tây và
Trung Âu.
- Sự hoang hóa, thoái hóa đất đai kèm theo những hậu quả khác của vùng Trung Âu và
Nam Âu.
- Những mặt thuận lợi: tỷ lệ tăng dân số thấp, không chịu hậu quả chiến tranh, bảo vệ
rừng (các nƣớc Bắc Âu). Xây dựng cảnh quan du lịch (Áo, Thụy Sỹ ) cải tạo tự nhiên (Hà Lan),
khai phá, cải tạo đất, chọn giống cây trồng thích hợp trên các bình nguyên Nam Âu.
B- CHÂU Á.
Bài: Đặc điểm vị trí địa lý và địa hình Châu Á
Đặc điểm khí hậu, thực vật, sông hồ Châu Á - Là một châu lục kín nhất (43,5 triệu km2) gấp 4 lần châu Âu.
- Nhiều vùng xa biển, nơi xa nhất tới 2500km.
- Núi, cao nguyên chiếm 3/4 diện tích, phần lớn thuộc loại núi cao và đồ sộ nhất thế giới.
- Vành đai uốn nếp chạy dọc phía Đông châu lục, vùng bất ổn nhất của vỏ trái đất,
thƣờng xuyên có hiện tƣợng động đất và núi lửa.
Ảnh hƣởng của vị trí điạ lý, địa hình đối với sự phân hóa khí hậu. Khí hậu phân hóa
thành hai vùng rõ rệt: Khí hậu lục địa đối với đới tài nguyên khô, hoang mạc, nửa hoang mạc
thuộc phần Tây châu lục. Cần cải tạo để sử dụng đới hoang mạc, nửa hoang mạc, thảo nguyên
khô phần Tây châu lục.
Bài: Dân cư và bản đồ chính trị Châu Á.
Châu Á là châu lục đông dân nhất, chiếm 58% dân số thế giới. Dân số tăng nhanh, nhịp
độ tăng dân số ngày càng cao, tỷ lệ gia tăng dân số hiện nay ở một số vùng Đông Nam Á, Nam
Á vƣợt quá 2% chỉ sau châu Phi. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng đói
nghèo ở nhiều nƣớc. Phần lớn các nƣớc thuộc châu Á có nền kinh tế kém phát triển, nông
nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu. Giảm tỷ lệ
25
tăng dân số là một trong những biện pháp nhằm nâng cao mức sống và bảo vệ môi trƣờng của
châu lục.
Bài: Khu vực Trung Á.
Là khu vực cao nhất và xa biển nhất của châu Á. Vị trí ở sâu trong nội địa và địa hình có
núi cao chắn gió từ các đại dƣơng làm cho khí hậu của khu vực này mang tính chất địa lục sâu
sắc. Điều kiện khí hậu nhƣ vậy nên phần lớn đất đai vùng Trung Á là thảo nguyên khô và hoang
mạc, dân cơ thƣa thớt, số lớn làm nghề chăn nuôi du mục. Sự phát triển kinh tế của đất nƣớc
Mông Cổ là một ví dụ về cải tạo và sử dụng vùng thảo nguyên hoang dã.
Bài: Khu vực Đông Á.
- Những khó khăn về điều kiện tự nhiên của Nhật Bản.
- Những công trình cải tạo tự nhiên của Nhất Bản để trở thành một cƣờng quốc giàu và
đẹp
Bài: Khu vực Nam Á.
Điều kiện tự nhiên của khu vực Đông Nam Á. Ảnh hƣởng của khí hậu đối với sản xuất
nông nghiệp và những biện pháp cải tạo thiên nhiên trong sản xuất nông nghiệp của các nƣớc
Đông Nam Á. Ngày nay, nhiều công trình thủy lợi, hồ chứa nƣớc, kênh đào mƣơng máng đƣợc
xây dựng đã giảm bớt đƣợc phần nào sự lệ thuộc vào thiên nhiên.
Bài: Dân cư và bản đồ chính trị khu vực Nam Á. Đặc điểm dân cƣ và vấn đề môi trƣờng khu vực Nam Á. Diện tích khoảng 4 triệu km2 với dân 954 triệu, đây là một trong những vùng đông dân cƣ nhất châu Á , Nam Á có tỷ lệ gia
tăng dân số cao, thuộc các nƣớc đang phát triển, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn. Hiện nay Nam
Á là một trong những vùng đói của địa cầu. Ấn Độ là nƣớc đang phát triển nhất của khu vực, đã
có những biện pháp trong cuộc cách mạng xanh để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp.
Bài: Khí hậu thực vật Đông Nam Á.
Vấn đề canh tác và bảo vệ môi trƣờng Đông Nam Á.
Khí hậu Đông Nam Á quanh năm nóng và mƣa nhiều thuận lợi cho thực vật phát triển
mạnh. Kiểu canh tác đốt nƣơng làm rẫy hiện nay còn tồn tại ở một số vùng Đông Nam Á làm
thu hẹp mau chóng diện tích rừng nhiệt đới ở khu vực này và gây hậu quả xấu đối với môi
trƣờng.
Bài: Khu vực Tây Nam Á
Điều kiện tự nhiên Tây Nam Á và vấn đề đặt ra về bảo vệ môi trƣờng. Tây Nam Á rộng
trên 7 triệu km2, là một khu vực nhiều núi,
26
cao nguyên. Chịu ảnh hƣởng của gió mùa mậu dịch ở nửa cầu Bắc thổi từ lục địa ra, lại có nhiều
núi bao quanh nên gần nhƣ toàn bộ khu vực này có khí hậu khô hạn, phần lớn diện tích là thảo
nguyên, nửa hoang mạc và hoang mạc đá hoặc hoang mạc cát.
Nền kinh tế nông nghiệp Tây Nam Á. Đại bộ phận làm nông nghiệp trồng lúa gạo, lúa
màu... còn lại nghề chăn nuôi du mục, đƣa đàn gia súc dê cừu đi kiếm cỏ nay đây mai đó trên
các thảo nguyên và nửa hoang mạc.
Nuôi gia súc theo lối chăn thả du mục là một trong những nguyên nhân làm suy thoái đất
đai, gây nên những trận bão bụi, bão cái lớn vùng Tây Nam Á.
Vấn đề dầu mỏ ở khu vực Tây Nam Á và sự ô nhiễm môi trƣờng. Nguồn tài nguyên lớn
nhất của khu vực này là dầu mỏ. Cuộc chiến tranh dầu mỏ giữa các nƣớc trong vùng vịnh Péc-
xích đã làm thiệt hại to lớn nguồn lợi này, đồng thời làm ô nhiễm nghiêm trọng các vùng chứa
nƣớc và bầu không khí.
Tổng kết ôn tập về châu Á.
Bài: Những vấn đề về sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường ở châu Á.
Nghiêm trọng nhất là sự gia tăng dân số qua nhanh ở các nƣớc thuộc vùng Nam Á và
Đông Nam Á. Phần lớn là những nƣớc nông nghiệp có nền kinh tế chậm phát triển, còn tồn tại
lối sống du canh, du cƣ, đốt rừng làm nƣơng rẫy, diện tích rừng nhiệt đới bị thu hẹp nhanh
chóng, đất đai bị xói mòn, hoang hóa. Đây lại là khu vực có khí hậu nhiệt đới ẩm. Khi rừng bị
tiêu diệt, cân bằng sinh thái bị phá vỡ, tai họa về mặt môi trƣờng đang kêu cứu là sự khủng
hoảng sinh thái. Dân số tăng nhanh, đất trồng trọt bị thu hẹp, sự thiếu lƣơng thực, thực phẩm
dẫn đến nạn đói đang đe dọa nhiều nƣớc trong khu vực.
Trung Á, Tây Nam Á là những vùng đất khô cằn, phần lớn thuộc đới rừng thảo nguyên
khô, hoang mạc, nửa hoang mạc đất đai khô cằn, cần có biện pháp cải tạo.
C- CHÂU MỸ.
Bài: Vị trí địa lý và đặc điểm của châu Mỹ.
Đặc điểm môi trƣờng tự nhiên và tài nguyên châu Mỹ. Tình hình sử dụng các tài nguyên
đó.
27
Bài: Dân cư châu Mỹ.
- Tình hình phát triển dân số ở châu Mỹ. Sự khác nhau giữa Bắc và Nam Mỹ.
- Vai trò của ngƣời Anh Điêng trong việc sử dụng và thuần hóa các giống cây trồng và
cải tạo thiên nhiên trong việc phát triển kinh tế.
- Sự phát triển dân số ở châu Mỹ không đồng đều. Bắc Mỹ (Hoa Kỳ và Canada) tỷ lệ gia
tăng tự nhiên hàng năm thấp, khoảng 0,8%, các nƣớc còn lại tỷ lệ tăng khá cao, khoảng 2,3%.
Điều đó làm ảnh hƣởng đến sự phát triển kinh tế khác nhau giữa các nƣớc.
Bài: Bản đồ chính trị và tình hình kinh tế châu Mỹ.
Ở châu Mỹ sự phát triển kinh tế cũng không đồng đều.
Châu Mỹ Ănglôxácxông (gồm Hoa Kỳ và Canada) là khu vực kinh tế phát triển cao, trái
lại các nƣớc Mỹ - La Tinh lại là những nƣớc chậm phát triển, nền kinh tế dựa vào nền nông
nghiệp là chính. Nền nông nghiệp của các nƣớc châu Mỹ - La Tinh chủ yếu sản xuất độc canh,
chuyên môn hóa lệch lạc. Các nƣớc này trở thành nơi cung cấp nông sản, nguyên liệu và là nơi
tiêu thụ hàng hóa cho các nƣớc phát triển ( đặc biệt là Hoa Kỳ ).
Bài: Khu trung tâm của đại lục Bắc Mỹ: Hoa Kỳ.
Những vấn đề đặt ra để bảo vệ môi trƣờng của Hoa Kỳ là sự ảnh hƣởng của địa hình đối
với sự phân hóa khí hậu và tự nhiên của các khu vực.
Việc bảo vệ và phục hồi rừng ở phía đông và việc sử dụng, cải tạo khu vực nửa hoang
mạc ở phía Tây.
Bài: Tổ chức xã hội và kinh tế ở Hoa Kỳ:
- Ở các trung tâm công nghiệp và các đô thị lớn, khói và chất thải của các nhà máy làm
cho không khí và nguồn nƣớc bị ô nhiễm nặng nề.
- Ở các vùng sản xuất quảng canh trên đồng bằng lớn ( khu vực trung tâm ) hàng triệu ha
đất đã bị xói mòn và thoái hóa.
Bài: Khu Đông của châu Mỹ - La tinh:
Vùng đồng bằng Amazon rộng lớn, thấp, bằng phẳng, khí hậu xích đạo nóng ẩm quanh
năm. Toàn bộ đồng bằng đƣợc phủ kín rừng nhiệt đới ẩm với các chủng loại động, thực vật
phong phú. Rừng Amazôn cần đƣợc bảo vệ với ý nghĩa khoa học, tài nguyên sinh vật và nó còn
đƣợc coi là lá phổi của hành tinh chúng ta.
28
Tóm lại: Vấn đề sử dụng và bảo vệ môi trƣờng ở châu Mỹ là:
- Những vùng có khí hậu khắc nhiệt cần cải tạo: Khu Bắc đại lục Bắc Mỹ có mùa đông
lạnh kéo dài, băng tuyết thƣờng xuyên bao phủ. Khu trung tâm thuộc Hoa Kỳ, rừng đã bị tàn
phá, khí hậu nóng và khô. Vùng Bắc Mehicô là vùng hoang mạc, khí hậu khô khan khắc nhiệt.
- Sự ô nhiễm môi trƣờng ở những nơi đô thị và khu công nghiệp lớn, nhất là ở Hoa Kỳ.
- Tài nguyên sinh vật và ý nghĩa khoa học của việc bảo vệ vùng đồng bằng Amazôn...
D- CHÂU PHI
Bài: Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của châu Phi.
Đặc điểm địa lý tự nhiên, tài nguyên châu Phi và những vấn đề đặt ra về sử dụng bảo vệ
môi trƣờng.
Toàn bộ châu lục là những cao, sơn nguyên khổng lồ cao thấp khác nhau, xen kẽ là
những bồn địa.
- Ít núi cao và ít đồng bằng thấp.
- Khí hậu nóng và khô vào bậc nhất thế giới.
- Các hoang mạc nằm trong đới khí hậu chí tuyến: Xahara, Calahari, Namíp.
- Có nguồn khoáng sản phong phú: Vàng, kim cƣơng, kim loại phóng xạ (cô ban, uran)
đứng hàng đầu thế giới về trữ lƣợng và sản lƣợng khai thác.
- Dầu mỏ, khí đối, sắt, đồng cũng có trữ lƣợng lớn.
Bài: Dân cư và bản đồ chính trị châu Phi.
Dân số châu Phi ngày nay phát triển khá nhanh. Tỷ lệ gia tăng hàng năm là 3%, vào loại
cao nhất thế giới. Sự thống trị lâu dài của chế độ thực dân đã kìm hãm châu Phi trong đói
nghèo, lạc hậu. Đó là những nguyên nhân kìm hãm sự phát triển kinh tế ở châu Phi và dẫn tới
những nạn đói ở các nƣớc châu Phi.
Bài: Đặc điểm kinh tế châu Phi.
Tác hại của lối canh tác du canh, du mục trong nền kinh tế châu Phi.
- Điều kiện tự nhiên của châu Phi nói chung có nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế,
song nền kinh tế của hầu hết các nƣớc châu Phi còn trong tình trạng kém phát triển.
29
- Việc trồng trọt theo kiểu nƣơng rẫy còn khá phổ biến. Lối trồng trọt du canh và chăn nuôi du mục nhƣ vậy cho năng suất thấp, đồng thời làm cho đất đai bị xói mòn, thoái hóa nhanh
chóng.
Nền kinh tế các nƣớc đều đi vào sản xuất chuyên môn hóa lệch lạc, mất cân đối... Đã từ
lâu các nƣớc châu Phi đã trở thành nơi cung cấp nguyên liệu và là nơi tiêu thụ hàng hóa cho các nƣớc tƣ bản.
Tổng kết: Những vấn đề về sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng ở châu Phi. - Nền kinh tế các nƣớc châu Phi phần lớn trong tình trạng lạc hậu, thấp kém, châu Phi là
khu vực đói của địa cầu. Nguyên nhân: Sự gia tăng dân số với nhịp độ cao, tỷ lệ tăng dân hàng năm cao nhất thế giới ( 3% )
- Nông nghiệp lạc hậu, vẫn còn nhiều nơi duy trì lối sống du canh, du cƣ. - Nền kinh tế phụ thuộc tƣ bản nƣớc ngoài: Cung cấp khoáng sản và tiêu thụ hàng hóa
cho các nƣớc tƣ bản.
- Cần phải bảo vệ những khu rừng nhiệt đới ở Tây Phi, Đông Phi và phần đông của Nam
Phi. Bảo vệ thế giới động vật phong phú của Xavan châu Phi: Sơn dƣơng, ngựa vằn, hƣơu cao cổ, sƣ tử. Cải tạo và sử dụng hoang mạc của châu Phi.
- Bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên khoáng sản giàu có ở Đông và Nam Phi.
E- CHÂU ĐẠI DƢƠNG
Bài: Đặc điểm tự nhiên đại lục Ôxtrâylia. Điều kiện tự nhiên và vấn đề cải tạo môi trƣờng
- Do nằm ở chí tuyến, lại bị dãy đông Ôxtrâylia chắn gió từ đại dƣơng thổi vào, Ôxtrâylia là một đại lục khô hạn nhất thế giới "phần lớn đất đai và vùng trung tâm đại lục có
lƣợng mƣa hàng năm dƣới 300 ly, hoang mạc và bán hoang mạc phát triển”.
- Nhiều động vật độc đáo:Cangguru
- Vấn đề đặt ra về bảo vệ môi trƣờng: + Cải tạo hoang mạc của châu lục.
+ Sử dụng các bãi chăn thả gia súc, giải quyết nguồn nƣớc. + Bảo vệ các động vật quí hiếm.
+ Khai thác nguồn khoáng sản vàng, đồng, sắt, uran
30
CÁC MIỀN ĐỊA CỰC
- Các vấn đề đặt ra về sử dụng và bảo vệ môi trƣờng:
Bảo vệ chim cánh cụt, chó biển và voi biển ở miền Nam cực. Vùng biển quanh Nam cực
từ lâu đã trở thành vùng săn cá voi lớn nhất thế giới. Sản lƣợng cá voi giảm đáng kể, luật pháp
bảo vệ cần phải đƣợc thi hành.
Phát triển và khai thác các khoáng sản: Than đá, vàng, chì, uran ở miền Nam cực.
1.3. Ở lớp 8
Bài mở đầu:
Giới thiệu cho học sinh đối tƣợng nghiên cứu của địa lý tự nhiên Việt Nam, phƣơng
pháp học môn địa lý tự nhiên Việt Nam. Trên cơ sở hiểu biết điều kiện tự nhiên của đất nƣớc,
mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên, vai trò của nguồn tài nguyên thiên nhiên đối với
công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của đất nƣớc, giáo dục học sinh ý thức sử dụng hợp lý,
bảo vệ nguồn tài nguyên phong phú đa dạng của nƣớc nhà.
Bài: Diện tích vị trí, giới hạn hình dạng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam
- Diện tích phần đất liền nƣớc ta thuộc loại trung bình so với nhiều nƣớc khác trên thế
giới. Trên diện tích đó cảnh quan, tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng tạo điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển một nền kinh tế toàn diện.
- Nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới thuộc khu vực gió mùa Đông Nam Á. Trên
một bán đảo, cổ biển Đông, hình thể trải dài từ Bắc xuống Nam, hẹp ngang dẫn tới việc hình
thành các đặc điểm địa lý tự nhiên của nƣớc ta - đó là thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa.
Bài đọc thêm: Vùng biển chủ quyền của nước Việt Nam
Giới thiệu các khái niệm: Lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, vùng tiếp giáp nhằm làm
cho học sinh hiểu cơ sở pháp lý của việc bảo vệ sử dụng nguồn tài nguyên biển.
Bài: Thực hành vẽ bản đồ hành chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Sự chênh lệch về dân số, mật độ dân cƣ giữa các tỉnh và thành phố của đất nƣớc. Thông
qua bài thực hành này học sinh hiểu ranh giới lãnh thổ nƣớc ta, cả đất liền hải đảo, dân cƣ mật
độ dân cƣ. Những
31
kiến thức này nhằm bổ sung hiểu biết của học sinh về môi trƣờng tự nhiên, tác động của dân cƣ
đến môi trƣờng.
Bài: Biển Việt Nam 1 - Vị trí, đặc điểm của biển Việt Nam 2- Vai trò và ý nghĩa của biển nƣớc ta.
+ Đối với việc hình thành các cảnh quan tự nhiên: Biển làm cho cảnh quan tự nhiên
thêm phong phú, đa dạng. Biển tạo nên môi trƣờng tự nhiên trong sạch dễ chịu.
+ Đối với kinh tế vùng biển nƣớc ta là một vùng giàu có về tài nguyên. Điều đó thể hiện: * Vùng ven biển nƣớc ta là một vùng vào loại giàu hải sản nhất của biển đông. Riêng
vịnh bắc bộ có tới 200 loài sinh vật nổi, trên 1500 loài sinh vật đáy, hàng trăm loài rong biển. Đầm phá, vũng vịnh khuất gió là môi trƣờng sống thuận lợi nuôi trồng hải sản và trú đậu của tàu
thuyền.
* Biển là một kho muối khổng lồ với nhiều bãi muối nổi tiếng: Văn Lý, Sa Huỳnh, Cà
Ná...
* Cái ven biển là vùng nguyên liệu quí của công nghiệp xây đựng, thủy tinh và pha lê.
* Thềm lục địa chứa dầu hỏa và nhiều khoáng sản quí hiếm . * Bờ biển và bãi biển đẹp, nhiều thắng cảnh và nhiều bãi tắm đẹp: Bãi Cháy, Đồ Sơn,
Sầm Sơn, Cửa Lò, Nha Trang, Vũng Tàu...Đƣờng giao thông quốc tế đi qua vùng biển nƣớc ta.
3- Khai thác sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên biển, bảo vệ môi trƣờng, chống ô nhiễm
biển.
Bài đọc thêm: Đảo Phú Quốc Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú của đảo Phú Quốc nhƣ khoáng sản (măng gan,
sắt, đồng, than đá, than nâu, mỏ sét trắng, nhiều loại đá quí).
Rừng Phú Quốc nhiều gỗ quí nhƣ: Trắc trai, trầm hƣơng... Động vật có khỉ, nai, heo
rừng. Đất với 20000 ha thuận lợi trồng hồ tiêu.
- Vùng biển quanh đảo giàu về hải sản nhƣ các loại tôm, cá, mực, hải sâm, đồi mồi...
Bài: Đặc điểm chung của tự nhiên Việt Nam. - Tính chất bán đảo thể hiện vai trò của biển đối với điều kiện tự nhiên của đất nƣớc. - Đại bộ phận đất liền lãnh thổ nƣớc ta là đồi núi (3/4 diện tích đất nƣớc). Cùng với biển,
đồi núi là nơi có nhiều nguồn tài nguyên
32
quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế của nƣớc ta ( khoáng sản, rừng, động vật, đất
đai...).
- Tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm thuận lợi phát triển nền công nghiệp, chế độ gió mùa
làm khí hậu và tự nhiên thay đổi theo mùa, gây ảnh hƣởng không nhỏ đến sản xuất. Cần chú ý phòng trừ sâu bệnh, nấm mốc, thiên tai...
- Cảnh quan tự nhiên nƣớc ta phân hóa phức tạp đa dạng từ thấp lên cao, từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây, đặt ra vấn đề phải khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lý ở
mỗi khu vực tự nhiên.
Bài: Địa hình Việt Nam. - Là một thành phần quan trọng của môi trƣờng tự nhiên, là một trong những nhân tố quan trọng dẫn đến sự phân hóa điều kiện tự nhiên trên bề mặt địa hình, nhân dân ta đã tiến
hành hầu hết các hoạt động sản xuất xã hội, tạo nên các dạng địa hình nhân sinh làm biến đổi sâu sắc cảnh quan tự nhiên.
- 3/4 diện tích phần đất liền nƣớc ta là đồi núi, chủ yếu đồi núi thấp, với 2 hƣớng chủ yếu là cảnh cung và Tây Bắc - Đông Nam. Đồng bằng chiếm 1/4 diện tích với 2 đồng bằng Bắc
Bộ và Nam Bộ. Cần có biện pháp sử dụng hợp lý thích hợp với lừng dạng địa hình.
- Địa hình có sự tƣơng phản lại có sự thống nhất về nguồn gốc phát sinh giữa địa hình
núi đồi, đồng bằng, địa hình bờ biển và đáy biển gần bờ. Do đó cần chú ý khi phân vùng sử dụng hợp lý tự nhiên của lãnh thổ.
Bài thực hành: - Điền vào bản đồ câm các đối tƣợng địa lý sau đây:
+ Tên các thành phố. + Tên các đỉnh núi cao trên 2000 mét.
+ Tên các sông lớn của Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ. - Chỉ cho học sinh thấy núi cao sông dài, vai trò của sông ngòi đối với cảnh quan tự
nhiên và đời sống, hoạt động kinh tế con ngƣời. Vị trí thành phố lớn đông dân. Qua đây có thể gợi ý cho học sinh phân tích mối liên hệ giữa các điểm quần cơ với các dòng sông.
Bài: Khí hậu Việt Nam. Ảnh hƣởng của các đặc điểm khí hậu đối với đời sống xã hội và hoạt động sản xuất của
nhân dân ta (ảnh hƣởng tích cực và tiêu cực của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa). Các biện pháp phòng chống thiên tai, hạn hán, bão lụt, sƣơng muối, mƣa đá...
33
Bài: Thực hành về khí hậu. Vẽ biểu đồ khí hậu của 3 trạm Hà Nội, Huế. Thành phố Hồ Chí Minh. Phân tích biểu đồ.
- Thông qua bài thực hành học sinh thấy đƣợc sự khác biệt khí hậu giữa 3 khu vực. Nếu có thể nên phân tích nguyên nhân sự khác biệt và ảnh hƣởng của sự khác biệt đó đến hoạt động
và lề lối sinh hoạt của nhân dân 3 khu vực.
Bài đọc thêm: Sapa - thị trấn trong mây. Mô tả quang cảnh tự nhiên (đặc điểm khí hậu, đất, rừng) của Sapa. Bài đọc thêm này nhằm cung cấp cho học sinh biểu tƣợng và đặc điểm của tự nhiên Việt Nam phong phú và đa
dạng các kiểu khí hậu khác nhau: Nhiệt đới, cận nhiệt.
Bài: Sông ngòi Việt Nam - Đặc điểm mạng lƣới sông ngòi Việt Nam và chế độ dòng chảy của nó. Các hệ thống
sông chính.
- Vai trò của sông ngòi trong việc bồi đắp 2 đồng bằng lớn, giao thông vận tải, thủy
điện, công nghiệp.
- Các biện pháp thủy lợi nhằm chống lũ lụt, sử dụng tổng hợp nguồn nƣớc của các dòng
sông.
Bài: Đất Việt Nam - Các loại đất. Đặc tính của từng loại đất, khả năng thích ứng của các loại đất đó đối với
các loại cây trồng.
- Các biện pháp sử dụng hợp lý đất đai và cải tạo đất. Kinh nghiệm cải tạo đất của nhân
dân ta.
Bài: Thực vật và động vật Việt Nam - Giới thực, động vật Việt Nam phong phú, có nhiều loài quí hiếm, có giá trị kinh tế và khoa học cao, nhƣng hiện nay diện tích rừng bị thu hẹp nhiều, chỉ còn dƣới 30% diện tích lãnh
thổ, các loài gỗ quí, hiếm và động vật quí nhƣ tê giác, trâu rừng, bò tót, hƣơu xạ... đang có nguy cơ tuyệt chủng. Vấn đề đặt ra là cần phải bảo vệ và phục hồi tài nguyên rừng, bảo vệ các loài
thú quí.
Bài: Bài thực hành Đọc lát cắt tổng hợp trên bản đồ địa lý tự nhiên Việt Nam treo tƣờng. - Phân tích lái cắt tổng hợp, học sinh sẽ nhận thấy một quan hệ tƣơng hỗ giữa các hợp
phần trong thể tổng hợp tài nguyên (Môi trƣờng tự nhiên Việt Nam). Qua đó có thể cho các em liên hệ: Nếu tác động vào thành phần nào trong thể tổng hợp (rừng chẳng hạn) sẽ dẫn
34
tới phá hủy thế cân bằng của thể tổng hợp ( xói mòn đất đai, lũ lụt, tiểu khí hậu thay đổi...).
Bài: Các miền địa lý tự nhiên. Miền Bắc và Đông bắc Bắc Bộ. A. Địa chất địa hình - Đồi núi thấp, đỉnh tƣơng đối bằng, sƣờn tƣơng đối thoải. Các bề mặt san bằng cổ tạo
thuận lợi cho sự phát triển nông lâm nghiệp, định cƣ, lịch sử phát triển của miền lâu dài và phức tạp đã hình thành nên nhiều mỏ khoáng sản (nội, ngoại sinh) thuận lợi cho sự phát triển công
nghiệp khai khoáng, điện lực. Đồng bằng Bắc bộ cùng các cánh đồng giữa núi thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp, song cần chú ý khai thác sử dụng, các nguồn tài nguyên trên một cách
hợp lý.
B: Khí hậu sông ngòi miền bắc và đông bắc bắc bộ
- Có mùa đông lạnh, nhiệt độ về mùa đông thấp nhất toàn quốc. Có thể trồng cây á nhiệt,
ôn đới. Song cần chống sƣơng muối, hạn hán đối với cây trồng.
- Sông ngòi nhiều phù sa đặt vần đề cần chống xói mòn khu vực đồi núi. Khả năng thủy lợi, thủy điện, giao thông đƣờng sông của sông ngòi miền Bắc và đồng
bằng Bắc bộ.
C: Đất - sinh vật của miền Bắc và Đông bắc Bắc bộ.
Nhiều loại đất khác nhau: Đất Feralit đồi núi, phù sa đồng bằng và chua mặn ven biển.
Phân bố của các loại đất. Diện tích các loại đất và tiềm năng của chúng.
- Khai thác, sử dụng hợp lý từng loại đất. - Giới thực, động vật trong miền phong phú. Ở đây có cả động vật nhiệt đới, cận nhiệt,
ôn đới, thự động vật đất liền và hải đảo.
- Sử dụng bảo vệ nguồn tài nguyên thực, động vật này.
Bài: Miền Bắc và đông Bắc Bắc Bộ Triển vọng phát triển kinh tế và vấn đề bảo vệ môi trƣờng. Là khu vực tập trung nhiều
mỏ khoáng sản với nhiều loại khoáng sản: Kim loại đen, màu, than tạo thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp khai khoáng và luyện kim. Tuy nhiên cần chú ý khai thác, sử dụng hợp lý
nguồn tài nguyên khoáng sản, chống ô nhiễm môi trƣờng do khai thác khoáng sản, phế thải, bụi của hai ngành công nghiệp trên. Khu vực đồi núi có thế mạnh phát triển nền sản xuất nông - lâm
nghiệp phong phú, đa dạng. Song cần chú ý chống xói mòn, giải quyết nƣớc tƣới, bảo vệ rừng và trồng rừng. Khu vực đồng bằng Bắc bộ đông dân cơ, thuận lợi phát triển nông nghiệp theo
hƣớng thâm canh, nhƣng cần
35
chú ý hiện tƣợng bạc màu đất, ô nhiễm không khí do hụi, ô nhiễm nƣớc do phế thải công
nghiệp, nông nghiệp, chống thiên tai do hậu quả của thời tiết bất lợi. Khu vực ven biển, hải đảo
cần bảo vệ, nuôi trồng chống thiên tai, đánh bắt hải sản, phát triển du lịch, nghỉ ngơi, giải trí.
Bài: Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.
A. Địa chất, địa hình.
Hoạt động địa chất của khu vực diễn ra mạnh mẽ, chịu tác động sâu sắc của vận động
tân kiến tạo. Vì vậy, đây là khu vực nhiều núi cao, vực sâu, lắm thác ghềnh gây bất lợi cho việc
cƣ trú hoạt động sản xuất của con ngƣời. Núi non hiểm trở, giao thông Đông - Tây khó khăn.
Song hƣớng Tây Bắc - Đông Nam tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông miền núi - đồng bằng.
Một số cánh đồng giữa núi thuận lợi cho phát triển nông nghiệp miền núi.
B. Khí hậu sông ngòi miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.
- Đặc điểm khí hậu của miền: Mùa đông đến muộn kết thúc sớm, mùa hạ đến sớm thời
tiết khô nóng do gió Tây gây ra. Bắc Trung Bộ có mùa mƣa thu đông, đo đó có thể bố trí cây
trồng, vật nuôi nhiệt đới ở vùng thấp, cần phòng chống thiên tai bão, lụt ở khu vực Bắc Trung
Bộ và cả Tây Bắc vào mùa hạ.
- Sông ngòi hƣớng Tây Bắc - Đông Nam, độ dốc lớn, nhiều ghềnh, thác tạo khả năng
thủy điện hơn là tƣới tiêu, cần khai thác tiềm năng này.
Bài đọc thêm: Gió tây khô nóng ở nước ta.
Bài đọc thêm mô tả đặc điểm thời tiết của gió tây khô nóng ở miền Tây Bắc và Bắc
Trung Bộ. Qua bài này cần đề cập đến biện pháp phòng, chống hạn hán ở khu vực Bắc Trung
Bộ.
C. Đất - sinh vật miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.
Có nhiều loại đất Feralit phân bố ở các độ cao khác nhau. Đặc điểm chung đồi núi trong
miền thƣờng có sƣờn dốc, lớp đát mỏng nên khai thác cần tính đến độ dốc của sƣờn để chống
xói mòn đất đai.
- Tận dụng các cánh đồng giữa núi nhƣ Điện Biên Phủ, Nghĩa Lộ, Quang Huy và dải
đồng bằng chân núi - ven biển để phát triển nông nghiệp.
- Thực vật nhiệt đới là chủ yếu, giới động vật phong phú. Cần đặt ra vấn đề bảo vệ và sử
dụng hợp lý nguồn tài nguyên này.
D: Triển vọng phát triển kinh tế và vấn đề bảo vệ môi trƣờng ở miền Tây bắc và Bắc
Trung Bộ.
36
- Vấn đề bảo vệ tự nhiên cấp bách nhất trong miền là việc khôi phục và phát triển diện
tích rừng, cấm khai thác gỗ, săn bắn động vật bừa bãi, chống xói mòn và thoái hóa của đất đai.
- Cần thăm dò, khai thác hợp lý quặng kim loại màu, phóng xạ, nƣớc nóng.
- Khai thác liềm năng thủy điện của sông ngòi.
- Xây dựng các hồ chứa kết hợp với nuôi thả các loài động vật có giá trị kinh tế cao trên
các đảo nổi giữa hồ.
Bài: Miền Trung Nam Bộ và Nam Bộ.
A. Địa chất - địa hình.
- Hoạt động của núi lửa trong những thời kỳ xa xƣa đã tạo nên bề mặt cao nguyên với diện tích rộng hàng ngàn km2, đất đai phì nhiêu với điều kiện khí hậu nhiệt đới tạo điều kiện
phát triển cây công nghiệp nhiệt đới: Cao su, cà phê. Diện tích đồng bằng Nam Bộ rộng tới 4 vạn km2 và đang tiếp tục bồi đắp, thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp, song cần chú ý cải
tạo đất phèn, mặn.
B. Khí hậu - sông ngòi.
- Khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, ít biến động hơn khí hậu các miền phía Bắc là
điều kiện thuận lợi phát triển nên nông nghiệp nhiệt đới.
- Khai thác và sử dụng nguồn phù sa và tiềm năng thủy điện của sông ngòi, khả năng
giao thông, nuôi trồng (hủy sản của sông ngòi và kênh rạch.
C. Đất - sinh vật.
- Diện tích đất đỏ Bazan lớn (trên 1 triệu ha), chiếm 2/3 diện tích đất đỏ Bazan toàn
quốc. Đất tốt song cần chú ý nguồn nƣớc tƣới, chống thoái hóa đất.
- Có biện pháp sử dụng, cải tạo đất phèn, mặn ở đồng bằng sông Cửu Long.
- Khai thác sử dụng hợp lý giải động thực vật của miền.
Bài: Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
Triển vọng phát triển kinh tế và vấn đề bảo vệ môi trƣờng.
- Tài nguyên phong phú: Rừng chiếm 30% diện tích rừng cả nƣớc và 60% diện tích tự
nhiên.
- Thú rừng có 102 loài, chiếm 34% tổng số loài thú trong nƣớc. Do vậy, cần khai thác sử
dụng hợp lý đi đôi với bảo vệ rừng ngập mặn cũng nhƣ các loài động vật sống trong rừng.
37
- Tài nguyên biển rất đa dạng. Cần khai thác nuôi trồng hợp lý chống ô nhiễm vùng biển
do khai thác dầu khí.
- Tài nguyên rất đa dạng, diện tích lớn. Cần có biện pháp khai thác, cải tạo đất.
Bài đọc thêm: Rừng U Minh.
Quanh cảnh tự nhiên vùng rừng U Minh với rừng tràm và giới động vật vô cùng phong
phú, do đó cần bảo vệ khu vực này.
1.4 - Ở lớp 9:
Khái quát chƣơng trình địa lý lớp 9 và nội dung giáo dục bảo vệ môi trƣờng.
Địa lý lớp 9 dạy về địa lý kinh tế xã hội đất nƣớc. Cấu trúc chƣơng trình gồm 3 chƣơng:
Chƣơng I: Địa lý dân cƣ.
Chƣơng II: Địa lý kinh tế Việt Nam.
Nội dung chƣơng này sau phần khái quát đặc điểm nền kinh tế đất nƣớc, giới thiệu địa lý
các ngành kinh tế và các vùng kinh tế. Chƣơng III: địa lý tỉnh địa phƣơng.
Nội dung các vấn đề của địa lý lớp 9 đều tập trung vào mối quan hệ giữa con ngƣời và
môi trƣờng, việc sử dụng môi trƣờng trong từng ngành, ở từng vùng kinh tế trên lãnh thổ đất
nƣớc. Vì vậy, từ những vấn đề thuộc nội dung địa lý, có thể hình thành cho học sinh hệ thống
những khái niệm cơ bản về môi trƣờng và những tri thức về tình trạng môi trƣờng của đất nƣớc,
những vấn đề đặt ra về bảo vệ môi trƣờng đối với nguồn tài nguyên và trong từng vùng kinh tế
nhƣ:
- Dân số và sự gia tăng dân số. Vấn đề đô thị hóa ảnh hƣởng đến môi trƣờng đất nƣớc.
- Nguồn tài nguyên khoáng sản: Sự khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên
khoáng sản.
- Nguồn tài nguyên đất: Sự khai thác, bảo vệ, cải tạo làm giàu độ màu mỡ của đất.
- Nguồn tài nguyên rừng: Sự khai thác, bảo vệ, phục hồi và làm giàu vốn tài nguyên
rừng - hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa quí giá ở nƣớc ta.
- Nguồn tài nguyên thủy sản: Sự khai thác, bảo vệ và làm giàu vốn tài nguyên thủy sản.
- Môi trƣờng sống. Chống ô nhiễm.
- Bảo vệ môi trƣờng thiên nhiên từng vùng kinh tế.
38
Đáng lẽ ra có thể hình thành một hệ thống kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong
chƣơng trình địa lý lớp 9, song trong sách giáo khoa hiện hành mới chỉ dừng ở một số vấn đề.
Chương 1 : Về địa lý dân cư
Bài: Số dân và sự tăng dân số. Bài này giáo dục cho học sinh thấy đƣợc sự cần thiết hạn chế sự gia tăng dân số để bảo
vệ môi trƣờng sống và phát triển kinh tế đất nƣớc. Tình trạng gia tăng dân số hiện nay ở nƣớc ta 2,1 %, còn cao hơn mức tăng trung bình của thế giới.
Cần thực hiện kế hoạch hóa gia đình, mỗi cặp vợ chồng có từ 1 đêns 2 con. Làm đƣợc nhƣ vậy mới thực sự bảo đảm hạnh phúc cho mỗi gia đình, góp phần phát triển kinh tế, ổn định
xã hội cũng nhƣ bảo vệ môi trƣờng sinh sống của đất nƣớc.
Bài: Kết cấu dân số. 1. Phân tích độ tuổi qua tháp tuổi cho thấy độ tuổi lao động và độ tuổi sinh đẻ chiếm tỷ lệ lớn, điều đó chứng tỏ khả năng sinh đẻ nhiều và nguy cơ dân số tăng nhanh nếu không có
biện pháp hạn chế sinh đẻ.
2. Thể trạng và tuổi thọ: Ngƣời Việt Nam có thể trạng kém và tuổi thọ thấp hơn nhiều
dân tộc khác chứng tỏ mức sống thấp, cũng là hậu quả của sự tăng dân số.
Bài: Sự phân bố dân cư. Phân tích cho học sinh thấy mâu thuẫn giữa dân số và môi trƣờng sống ở Việt Nam. Diện tích nƣớc ta chỉ bằng 0,2% diện tích các lục địa, song dân số lại chiếm 1,2% dân số thế
giới, do đó mật độ dân số nƣớc ta cao hơn 5 lần mật độ dân số thế giới..
Kết luận: Diện tích hẹp, sinh đẻ nhiều, mật độ dân số cao, mức sống thấp. Để đảm bảo
sinh sống phải khai thác môi trƣờng qua mức, tài nguyên môi trƣờng cạn kiệt. Vì vậy phải hạn chế gia tăng dân số.
Bài đọc thêm: Vấn đề dân số ở nƣớc ta. Dân số và những vấn đề xã hội khác. - Thực trạng của sự tăng dân số đã dẫn tới vƣợt qua mức cung cấp về lƣơng thực, thực
phẩm, hàng hóa tiêu dùng và cả nhu cầu về việc làm cùng những nhu cầu khác của nhân dân.
Bên cạnh hạn chế sinh đẻ cần có biện pháp cải tạo và xây dựng mới nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hóa trên cơ sở phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và sự diễn biến của môi trƣờng.
39
Chương 2: Địa lý kinh tế Việt Nam. Bài: Địa lý nông nghiệp. Vấn đề bảo vệ môi trƣờng nông nghiệp. - Cần mở rộng diện tích đất canh tác trong nông nghiệp: Từ 8,5 triệu lên tới 10 - 11 triệu
ha, thâm canh tăng vụ trên đất đã canh tác.
- Sự thay đổi thất thƣờng của khí hậu, thời tiết, thiên tai, sâu bệnh đã làm cho mùa màng
thất bát, sản lƣợng bấp bênh. Để đảm bảo năng suất nâng cao và ổn định, cần có biện pháp phòng chống lũ lụt, hạn hán, sƣơng giá, sâu bệnh.
Bài: Địa lý ngư nghiệp và lâm nghiệp. 1. Địa lý ngƣ nghiệp.
+ Tiềm năng thủy sản lớn: Hiện đánh bắt hàng năm từ 60 - 70 vạn tấn, khả năng cho
phép có thể lên tới 1 triệu tấn.
+ Nhiều loài thủy sản có giá trị xuất khẩu cao, cần phát triển nuôi dƣỡng các loại tôm,
đồi mồi, trai ngọc, rong câu...
2. Địa lý lâm nghiệp: Sự thu hẹp diện tích rừng và những vấn đề bảo vệ, khai thác rừng.
Diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp (từ 14,3 triệu ha năm 1943, đến nay chỉ còn 7,5
triệu ha ), dự trữ gỗ ngày càng giảm, các loài gỗ quí, các loài đặc sản gần nhƣ cạn kiệt.
Vấn đề cấp bách hiện nay là phải khôi phục, tu bổ, tái tạo rừng thực hiện phƣơng thức nông lâm kết hợp, giao đất, giao rừng... có thể mới có thể sớm phục hồi đƣợc vốn rừng, tạo tiềm
năng cho nghề rừng phát triển và góp phần bảo vệ môi trƣờng.
Bài: Vùng kinh tế Bắc Bộ 1. Những vấn đề bảo vệ môi trƣờng trong vùng kinh tế Bắc Bộ: Rừng, động vật rừng,
thủy sản.
- Diện tích rừng tuy đã bị khai thác và tàn phá nhiều, song vẫn còn khả năng tái tạo. Nhiều loài thực vật, động vật rừng, nhiều loại cây đƣợc liệu qúi đã trở nên hiếm và cần đƣợc
bảo vệ. Cần phân tích cho học sinh thấy rõ giá trị kinh tế, nguồn gien, ý nghĩa khoa học và ý ngĩa bảo, vệ môi trƣờng trong việc bảo vệ rừng của vùng kinh tế Bắc Bộ.
- Giá trị kinh tế của việc khai thác hợp lý và bảo vệ thủy sản ở vịnh bắc Bộ 2. Những biện pháp bảo vệ môi trƣờng trong vùng kinh tế Bắc Bộ. Giảm tỷ lệ sinh đẻ,
khai thác hợp lý môi trƣờng.
40
- Với nhịp độ tăng dân số nhƣ hiện nay, vùng kinh tế Bắc Bộ đang gặp nhiều khó khăn, vì vậy việc kế hoạch hóa gia đình, tăng tốc độ phát triển kinh tế trên cơ sở khai thác hợp lý tài
nguyên, lao động, cơ sở vật chất đang là vần đề cấp bách.
- Trong khai thác tài nguyên, coi trọng việc bảo vệ tài nguyên rừng.
Bài: Vùng kinh tế Bắc Trung Bộ. 1. Những vấn đề về bảo vệ môi trƣờng trong vùng kinh tế Bắc Bộ: chống thiên tai lũ lụt,
khô hạn, gió bão. Phân tích tác hại của bão, lũ lụt về thu đông và gió nóng Tây Nam về mùa hè đối với nghề nông, nghề cá, công trình đƣờng xá giao thông, làng mạc nhà cửa của nhân dân. Vì
thế, việc phòng chống thiên tai nhƣ bão, lũ lụt, gió nóng Tây Nam, chống nhiễm mặn, cát lấn là những vấn đề đặt ra cho vùng kinh tế Bắc Trung Bộ.
2. Vấn đề bảo vệ rừng, động vật rừng, hải sản vùng kinh tế Bắc Trung Bộ: Trong vùng còn có nghề nuôi và thuần dƣỡng một số động vật nhƣ hƣơu voi. Tuy số lƣợng chƣa nhiều
nhƣng có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo tồn những động vật quý hiếm ở nƣớc ta .
- Giá trị tài nguyên rừng ở vùng kinh tế Bắc Trung Bộ.
+ Giá trị kinh tế : Rừng còn chiếm 40% diện tích , phong phú cả về loài , kể cả số lƣợng
và chất lƣợng nhiều loại gỗ quý hiếm.
+ Giá trị bảo vệ môi trƣờng - vai trò của vùng rừng núi Trƣờng Sơn đối với bảo vệ môi trƣờng đồng bằng Duyên hải Trung bộ: Điều kiện dòng chảy, giảm lũ mùa mƣa làm ngập đồng
bằng, giữ nƣớc mùa cạn, hạn chế khô cạn, giữ đất mầu của các sƣờn núi rửa trôi bồi tụ xuống các đồng bằng.
- Tiềm năng hải sản và việc khai thác hợp lý, bảo vệ nguồn hải sản hợp lý, bảo vệ nguồn
hải sản .
Vùng kinh tế Bắc trung bộ giàu tiềm năng hải sản: Bờ biển dài 700km nhiều đầm khá
thuận tiện cho việc nuôi trồng hải sản, nhiều hải sản quý.
Bài : Vùng kinh tế Nam Trung Bộ 1. Những thuận lợi về mặt tài nguyên của vùng.
- Lớp phủ bazan rộng tới 2 triệu ha ( trong số 2,5 triệu ha của cả nƣớc) cho phép hình
thành cây chuyên canh công nghiệp rộng lớn.
- Trong vùng còn một diện tích rừng chiếm khoảng 35% trữ lƣợng rừng của cả nƣớc với
các loài gỗ quý nhƣ cẩm lai, mun, trắc, gụ ... các đặc sản làm thuốc nhƣ sâm , sa nhân, quế.
41
- Giới động vật trong vùng có giá trị kinh tế cao, chiếm tới 40% trữ lƣợng toàn quốc .
Nhiều loại động vật hiếm, quý còn tồn tại ở đây nhƣ: voi , tê giác ...
2. Vấn đề sử dụng tự nhiên trong vùng về nông nghiệp: Nhìn chung ngành sản xuất nông
nghiệp là một thế mạnh của vùng, đặc biệt là ngành trồng cây công nghiệp lâu năm và chăn nuôi
gia súc lớn. Vấn đề khó khăn chủ yếu ở đây là phải giải quyết đƣợc nƣớc cho các miền núi và
cao nguyên có mùa khô kéo dài và tăng cƣờng nhân lực cho các vùng mới khai thác .
Tăng cƣờng khai thác các nguồn thủy điện, tiềm năng thủy sản.
Phát triển các trung tâm du lịch và nghỉ mát.
Bài: Vùng kinh tế Nam bộ.
Những vấn đề bảo vệ và cải tạo môi trƣờng vùng kinh tế Nam bộ
- Trong 4 triệu ha đất đồng bằng hạ lƣu sông Cửu Long có 1,5 triệu ha bị ngập nƣớc, 1,5
triệu ha bị nhiễm phèn nặng phải cải tạo.
- Phần lớn điện tích đất canh tác có một vụ ... năng suất trung hình thƣờng trên 3 tấn /ha.
- Biện pháp là:
+ Cải tạo đất, chống nhiễm mặn để làm thủy lợi để tăng vụ trên đồng bằng Nam Bộ.
+ Bảo vệ tài nguyên rừng Đông Nam Bộ và rừng ngập mặn ven biển.
+ Khai thác hợp lý nguồn thủy lợi thủy sản.
+ Bảo vệ các đặc sản trong vùng: Hƣơu, nai , trăn...
+ Khai thác các tài nguyên khoáng sản có giá trị kinh tế lớn: Đất hiếm, vàng, dầu mỏ...
+ Sử dụng đất Đông Nam Bộ thành các vùng chuyên canh cây nhiệt đới: hồ tiêu, cao
su...
II. Nội dung kiến thức giáo dục môi trường và bảo vệ môi trường qua môn
địa lý ở Cấp III
II.1. lớp 10
Giáo trình địa lý kinh tế xã hội ở lớp 10 PTTH chủ yếu cung cấp cho học sinh những tri
thức khái quát về địa lý kinh tế xã hội, bao gồm những khái niệm về tài nguyên thiên nhiên, về
dân cƣ, nguồn nhân lực và các ngành sản xuất kinh tế, chuẩn bị cho học sinh học tốt
42
các giáo trình địa lý kinh tế xã hội ở các lớp 11 và 12 . Vấn đề giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong
chƣơng trình điạ lý lớp 10 có thể tiến hành thuận lợi trên cơ sở khai thác những tri thức về mối
quan hệ giữa tự nhiên và kinh tế xã hội. Hoạt động kinh tế xã hội là hoạt động của con ngƣời tác
động vào môi trƣờng tự nhiên để sản xuất ra của cải vật chất để phục vụ nhu cầu sinh hoạt của
con ngƣời. Ngƣợc lại, môi trƣờng tự nhiên là tiền đề, là điều kiện vật chất kỹ thuật của sản xuất
xã hội cũng nhƣ các tiến bộ về vật chất kỹ thuật.
Qua sách giáo khoa về địa ký kinh tế xã hội ở lớp 10, những vấn đề có liên quan đến bảo
vệ môi trƣờng cụ thể nhƣ sau:
Chương I: Ngay trong bài mở đầu, khi nói đến những vấn đề mà môn địa lý xã hội cần
nghiên cứu, nội dung bài đã đề cập đến các mối quan hệ giữa sản xuất và môi trƣờng tự nhiên,
coi đó là một vấn đề quan trọng đối với vấn đề nghiên cứu các đặc điểm về hình thức tổ chức
sản xuất trên lãnh thổ. Tuy tài liệu chỉ đề cập vấn đề này trong một câu, nhƣng khi dạy giáo viên
lấy ví dụ để giải thích một cách ngắn gọn để hiểu nhƣ thế nào là mối quan hệ giữa sản xuất và
môi trƣờng, còn mối quan hệ đó thể hiện ở mặt nào thì đó là nội dung ở các bài sau.
Chương 2 : Nội dung của 3 bài trong chƣơng này có nhiều kiến thức về môi trƣờng và
bảo vệ môi trƣờng nhất trong toàn bộ chƣơng trình. Để làm rõ mối quan hệ giữa môi trƣờng và
kinh tế xã hội, trƣớc hết giáo trình cung cấp cho học sinh cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa con
ngƣời và môi trƣờng tự nhiên, môi trƣờng nhân tạo và tác động của con ngƣời vào môi trƣờng
và ngƣợc lại, ảnh hƣởng của môi trƣờng và ngƣợc lại. Tuy nhiên ảnh hƣởng của môi trƣờng
không phải là quyết định , nó ảnh hƣởng đến xã hội chủ yếu thông qua vai trò của các nguồn tài
nguyên thiên nhiên. Cũng vì lý do đó, nên khi con ngƣời sử dụng tài nguyên thiên nhiên vào sản
xuất, con ngƣời phải tích cực bảo vệ môi trƣờng. Đối với nguồn tài nguyên khoáng sản thì biện
pháp tích cực nhất là phải hạn chế kinh phí, sử dụng chúng một cách tiết kiệm hợp lý, đồng thời
ra sức hƣớng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại vào việc khai thác những nguồn tài
nguyên dƣới đáy đại dƣơng hoặc tìm ra những nguồn nguyên liệu mới thay thế cho các loại
khoáng sản sắp cạn kiệt... Đối với nguồn tài nguyên đất thì biện pháp sử dụng hợp lý nhất là
phải thâm canh để tăng năng suất cây trồng, phải bón phân hoa học một cách khoa học để hạn
chế những hậu quả nghiêm trọng về mặt ô nhiễm đất đai và
43
môi trƣờng. (Đối với các tài nguyên khí hậu, nƣớc và sinh vật thì vấn đề bảo vệ chống các tác
nhân phá hoại nguồn tài nguyên khí hậu nhƣ: phá rừng, đƣa vào khí quyển một lƣợng lớn các
chất thải... là một vấn đề cần đặt ra trên phạm vi toàn cầu. Đối với nguồn tài nguyên nƣớc thì
cũng nhƣ nguồn tài nguyên khí hậu, nguồn nƣớc ngọt trên thế giới hiện nay, do đƣợc sử đụng
không hợp lý không có biện pháp bảo vệ, nên đã bị ô nhiễm trầm trọng do các chất thải của
công nghiệp và nông nghiệp thải ra. Còn đối với nguồn tài nguyên sinh vật thì hiện nay diện
tích rừng của thế giới đã bị thu hẹp, nhiều loại động thực vật đã bị diệt vong, vì vậy việc khai
thác sử dụng hợp lý và bảo vệ chúng cũng là một điều kiện hết sức cấp bách.
Với những tri thức nói trên, có thể nói toàn bộ chƣơng II (3 bài với 11 câu hỏi bài tập) là
những bài dạy về kiến thức môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng. Những kiến thức nói chung đã
sâu hơn những kiến thức đã học trƣớc đây ở các lớp PTCS.
Khi học chƣơng này học sinh không chỉ nắm đƣợc về mặt tri thức mà cả về mặt lý luận
của vấn đề bảo vệ môi trƣờng. Giáo viên khi dạy không phải làm cho học sinh lĩnh hội đƣợc nội
dung các đề mục mà còn phải làm cho học sinh nắm đƣợc logic của vấn đề.
Chương 3: Chƣơng này gồm có 4 bài đề cập chủ yếu đến các vấn đề về dân số và dân
cƣ trên thế giới. Vì dân số cũng là một vấn đề có liên quan đến môi trƣờng. Cho nên khi học
chƣơng này học sinh cần nắm đƣợc một số điểm sau đây:
+ Sự gia tăng nhanh và sự phát triển không hợp lý ở các nƣớc trên thế giới đã và đang
gây ra những hậu quả quan trọng đối với sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao chất lƣợng cuộc
sống và môi trƣờng.
+ Mật độ dân số cao, dân cƣ ngày càng tập trung ở một số vùng công nghiệp và các
thành phố lớn làm cho cuộc sống ngày càng thiếu tiện nghi và càng bị tình trạng ô nhiễm môi
trƣờng đe dọa nghiêm trọng. Cần phải có sự phân bố dân cƣ hợp lý và phù hợp với sự phát triển
của công nghiệp thì mới tạo đƣợc những điều kiện sống tốt cho dân cƣ ở các thành thị và những
điền kiện cần thiết cho việc khai thác mọi nguồn tài nguyên.
+ Đô thị hoá là một quá trình tiến bộ, song nó cũng có mặt tiêu cực nhƣ để làm mất sự
cân bằng sinh thái , đe dọa đời sống con ngƣời. Nói chung việc giáo dục môi trƣờng và bảo vệ
môi trƣờng trong chƣơng trình này chủ yếu đề cập đến mối quan hệ giữa dân số và môi trƣờng.
Khi dạy giáo viên cần nắm vững kết cấu của chƣơng và chỉ
44
nên khai thác làm rõ thêm những ý có liên quan đến những quan hệ này là đủ mà không cần mở
rộng thêm các lĩnh vực khác.
Chương 4 : Chƣơng này có 5 bài , chủ yếu là các vấn đề về hoạt động công nghiệp.
Giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong chƣơng này có thể đề cập đến các vấn đề sau:
- Các nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu là khoáng sản và các điều kiện tự nhiên có
ảnh hƣởng đến sự phát triển và sự phân bố các ngành công nghiệp.
- Các hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp không những đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao
mà cần có khoa học để nâng cao sản xuất, năng suất lao động, sử dụng hợp lý các nguồn tài
nguyên thiên nhiên và giảm bớt ô nhiễm môi trƣờng, đặc biệt các ngành công nghiệp khai thác,
luyện kim hoá chất...
Chƣơng này cần khai thác giữa quan hệ môi trƣờng và sự phát triển, phân bố các ngành
và các hình thức tổ chức công nghiệp. Việc giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong chƣơng này
không đòi hỏi nhiều, nhƣng mỗi khi có điều kiện giáo viên cần làm cho học sinh thấy đƣợc mối
quan hệ hai chiều: Mỗi trƣờng có sự phát triển đến sự phát triển công nghiệp, ngƣợc lại là sự
phát triển và phân bố công nghiệp cũng có ảnh hƣởng đến sử dụng, làm cạn kiệt đến các nguồn
tài nguyên thiên nhiên và việc làm ô nhiễm môi trƣờng.
Chương 5: Chƣơng này có 4 bài chủ yếu đề cập đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp
và sự phân bố nông nghiệp . Việc giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong chƣơng này có nhiều thuận
lợi hơn so với chƣơng IV, bởi vì nông nghiệp là một ngành sản xuất có nhiều mối quan hệ với
môi trƣờng .
+ Trƣớc hết, trong các nhân tố ảnh hƣởng đến sự phát triển về phân bố nông nghiệp có
nhiều thành phần của môi trƣờng tự nhiên nhƣ: khí hậu, nƣớc, đất đai. Chính vì chúng là các
thành phần của môi trƣờng cho nên việc sử dụng hợp lý và bảo vệ chúng là vấn đề đƣơng nhiên
của sản xuất nông nghiệp.
+ Trong các ngành nông nghiệp , ngành trồng rừng có ý nghĩa rất lớn đối với việc bảo vệ
môi trƣờng . Nó không những có vai trò cải tạo khí hậu, điều chỉnh dòng chảy, hạn chế lũ lụt mà
còn có giá trị tái tạo một sinh khối thực vật lớn cho xã hội.
45
+ Các hình thức tổ chức nông nghiệp lạc hậu ( làm rẫy , săn bắn) có tác hại phá hủy môi
trƣờng rất lớn , nhất là nguồn tài nguyên đất và sinh vật.
Nói chung trong chƣơng này, thực hiện giáo dục bảo vệ môi trƣờng chủ yếu là làm rõ
mối quan hệ giữa môi trƣờng và các hoạt động cũng nhƣ hình thức tổ chức nông nghiệp.
Chương 6 : Chƣơng này gồm có 3 bài đề cập đến vai trò, đặc điểm và các nhân tố ảnh
hƣởng đến sự phát triển và phân bố các ngành giao thông vận tải. Giáo dục bảo vệ môi trƣờng
trong chƣơng này có thể nêu lên những vấn đề sau:
+ Sự hoạt động, phát triển và phân bố ngành giao thông vận tải cũng phụ thuộc vào điều
kiện tự nhiên, tức là vào những thành phần nhất định của môi trƣờng .
+ Các loại phƣơng tiện giao thông vận tải có thể gây ô nhiễm đối với môi trƣờng nhƣ: Ô
tô gây tiếng ồn ào và gây ô nhiễm khí quyển, các tàu chở dầu có thể gây ô nhiễm cho nƣớc biển,
máy bay có thể gây ô nhiễm cho tầng khí quyển ở trên cao...
Trong chƣơng này chủ yếu cần khai thác là mối quan hệ giữa môi trƣờng và sự hoạt
động , phát triển và phân bố của các ngành giao thông vận tải.
Chương 7: Chƣơng này gồm 3 bài đề cập đến hoạt động của các ngành thƣơng nghiệp
và dịch vụ. Việc giáo dục bảo vệ môi trƣờng có thể tập trung vào các vấn đề khai thác môi
trƣờng du lịch (phong cảnh đẹp, khí hậu tốt, các di tích lịch sử).
Chương 8:
Chƣơng này gồm có 2 bài nói về sự hình thành vùng kinh tế. Các vấn đề giáo dục bảo vệ
môi trƣờng có thể đề cập ở 2 chỗ:
+ Trong việc phân vùng kinh tế, ngoài các mặt kinh tế xã hội ra, còn phải chú ý đến mặt
sinh thái (làm thế nào để có môi trƣờng lành mạnh, không bị ô nhiễm).
+ Trong các nhân tố hình thành vùng kinh tế , môi trƣờng (điều kiện tự nhiên và tài
nguyên thiên nhiên) là một nhân tố quan trọng (tiền đề cho sự phát triển vùng, cơ sở đầu tiên
cho sự hình thành cơ cấu chuyên môn hoá của vùng).
II.2 - Ở lớp 11:
Giáo trình địa lý kinh tế xã hội thế giới đƣợc dạy ở lớp 11 PTTH gồm có 2 phần lớn:
46
Phần I: Là bức tranh toàn cảnh về tình hình kinh tế xã hội thế giới trong vòng 50 năm,
từ những năm giữa thập kỷ 40 đến những năm thập kỷ 90.
Phần II: Là kinh tế xã hội của một số quốc gia đại diện cho các nƣớc phát triển và đang
phát trên trên thế giới.
Việc giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong chƣơng trình này chủ yếu làm cho học sinh nhận
thức đƣợc rằng: vấn đề bảo vệ môi trƣờng hiện nay có quy mô toàn cầu. Đó cũng là một trong
những vấn đề quan tâm hàng đầu trên thế giới và trên mỗi quốc gia.
Phần I: Có 5 bài. Trong các bài này vấn đề giáo dục bảo vệ môi trƣờng đã đƣợc thể hiện
trong các bài với các ý sau đây:
- Coi nhƣ một hậu quả tiêu cực đối vấn đề tăng dân số và vấn đề đô thị hoá trong tình
hình kinh tế xã hội toàn thế giới hiện nay khi loài ngƣời đã đạt đến con số trên 5 tỷ.
- Coi việc sử dụng năng lƣợng truyền thống nhƣ: Than đá, dầu mỏ, khí đốt và trình độ
kỹ thuật thấp của các ngành công nghiệp phát triển theo chiều rộng .
- Coi nhƣ một vấn đề có tính toàn cầu chỉ có thể giải quyết đƣợc khi có sự hợp tác quốc
tế chặt chẽ giữa các quốc gia có nền kinh tế khác nhau.
- Coi hậu quả của việc đầu tƣ vốn trực tiếp của các nƣớc phát triển vào các nƣớc đang
phát triển để xây dựng những ngành nông nghiệp làm ra các sản phẩm có công nghệ thấp và dễ
gây ra ô nhiễm môi trƣờng .
- Trong cuộc chiến tranh giữa các nƣớc đồng minh và Irắc, môi trƣờng của khu vực Tây
Á (khí quyển và biển) đã bị ô nhiễm trầm trọng do các giếng dầu bị phá huỷ ở Côoét.
- Việc tăng dân số và quá trình đô thị hoá không dựa trên cơ sở phát triển công nghiệp,
cũng nhƣ việc bán đất cho các công ty tƣ bản làm chỗ đổ chất thải đã là nguy cơ ô nhễm môi
trƣờng ở các nƣớc Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh .
- Diện tích đất đai bị hoang hoá hàng năm đã làm mất hàng triệu ha đất trồng ở Châu Phi
đang là mối đe dọa nghiêm trọng hàng triệu ngƣơi dân ở ven vùng sa mạc Xahara thuộc Châu
Phi.
- Ở Hoa Kỳ:
+ Lãnh thổ Hoa Kỳ rộng lớn, thiên nhiên phong phú và đa dạng nhƣng việc sử dụng tự
nhiên không dễ dàng (thiên tai, núi lửa, động đất...).
47
+ Quá trình công nghiệp hoá ở Hoa Kỳ đã tạo ra các dải siêu đô thị gồm một loạt các
thành phố lớn. Hiện nay do các ngân sách thiếu hụt, chi phí cho các công trình vệ sinh trật tự
công cộng giảm sút, nên nhiều thành phố kể cả New York đang rơi vào tình rạng giảm sút, làm
ô nhiễm môi trƣờng.
+ Vùng kinh tế Đông Bắc của Hoa Kỳ từ những năm 70 trở đi gặp nhiều khó khăn nhƣ :
hạ tầng cơ sở lạc hậu , nhiều ngành công nghiệp truyền thống lập trung nên tình trạng không khí
và nƣớc bị ô nhiễm.
- Ở Nhật Bản.
+ Nhật Bản là một nƣớc nghèo khoáng sản, thiên nhiên lại khắc nghiệt, thiên tai thƣờng
xảy ra (bão lớn, sóng thần, động đất...) nên việc bảo vệ môi trƣờng là hết sức cần thiết.
+ Các thành phố ở trung tâm đảo Hônsu tập trung tới 30 triệu ngƣời. Quá trình đô thị
hóa và công nghiệp hóa đã làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trƣờng nhƣ: thiếu không khí trong
lành làm ảnh hƣởng tới sức khoẻ của con ngƣời...
+ Để khắc phục những khó khăn về môi trƣờng tự nhiên để phát triển kinh tế, Nhật đã
xây dựng nhiều công trình cải tạo tự nhiên cỡ lớn: Các đƣờng hầm dƣới biển, các đƣờng cầu nối
liền giữa các đảo, các công trình lấn biển.
- Ở Liên Bang Nga.
+ Lãnh thổ Liên bang Nga rộng lớn, đất đai có nhiều loại khác nhau đòi hỏi phải có
những công trình cải tạo tự nhiên lớn nhƣ: Cải tạo các vùng đất đóng băng ở phía Bắc, cải tạo
một diện tích lớn ở Potdôn ở phần Liên bang ở Châu Âu, chống khô hạn cho vùng đất đen.
- Ở Trung Quốc.
Lãnh thổ Trung Ọuốc rộng lớn, đa dạng về địa hình và khí hậu. Do có nhiều vấn đề lớn
đặt ra đề bảo vệ môi trƣờng. Phần Đông lãnh thổ là những đồng bằng lớn, chỉ chiếm 40% diện
tích đất đai toàn quốc nhƣng tập trung tới 90% dân số. Chế độ khí hậu gió mùa, về mùa hạ mƣa
lớn, thƣờng xuyên gây lũ lụt cho vùng đồng bằng hạ lƣu sông làm thiệt hại cho đời sống dân cƣ
và sản xuất. Phần tây núi non, khí hậu khắc nghiệt, giàu tiềm năng khoáng sản nhƣng thiếu
phƣơng tiện, thiếu nhân lực nên hạn chế việc khai thác sử dụng.
Trung Quốc là nƣớc đông dân nhất thế giới. Những năm gần đây đã hạ tỷ lệ tăng dân
xuống 1,3 % , nhƣng vấn đề dân số vẫn là sức
48
ép đối với xã hội Trung Quốc. Nông nghiệp là ngành kinh tế chính nhƣng gặp nhiều khó khăn,
vẫn phụ thuộc vào thiên nhiên và mang tính tự cung tự cấp.
- Ở Ấn Độ.
Sự phân hoá đã tạo nên sự khác biệt về môi trƣờng tự nhiên và những vấn đề khác nhau
về sử dụng và bảo vệ môi trƣờng giữa phần Tây Bắc và những phần đất đai khác của Ấn Độ.
Các vùng Tây Bắc là vùng khô hạn: Hạn hán thƣờng xuyên xảy ra gây thiệt hại cho mùa
màng .
Các vùng Tây Nam và hạ lƣu sông Hằng: mùa hạ mƣa nhiều đôi khi gây ra lũ lụt.
+ Vấn đề dân số: Ấn Độ là nƣớc đông dân thứ 2 trên thế giới sau Trung Quốc. Sự bùng
nổ tăng dân số ở Ấn Độ diễn ra vào những năm 50. Tuy đã có biện pháp giảm gia tăng dân số,
tỷ lệ gia tăng tự nhiên đã giảm song vẫn còn cao với một nƣớc đông dân nhƣ Ấn Độ.
+ Ấn Độ đã cố cuộc cách mạng để nâng cao chất lƣợng lƣơng thực, thực phẩm.
+ Cuộc cách mạng xanh trong trồng trọt: Các phƣơng pháp chọn giống cao sản, thuỷ lợi,
phân bón nhằm tăng sản lƣợng lƣơng thực.
+ Cuộc cách mạng trắng : Nhằm tăng lƣợng sữa trâu, dê.
- Ở Angiêri.
Điều kiện tự nhiên và những vấn đề cải tạo môi trƣờng:
+ Angiêri là một nƣớc có điều kiện khí hậu khắc nghiệt: 85 % điện tích đất nƣớc là
hoang mạc. Các đồng bằng nhỏ, không liên tục bị núi bao quanh. Để đƣa nông nghiệp hiện nay
lên mặt trận kinh tế hàng đầu Angiêri đã có kế hoạch sử dụng đất đai một cách hợp lý, ngoài lúa
mì, ngô, trồng thuốc lá, hoa quả, nho, trên triền núi trồng ôliu, phát triển chăn nuôi .
Angiêri tuy đã cố gắng hết sức khắc phục tình trạng khó khăn về đất đai, khí hậu để tăng
sản lƣợng lƣơng thực nhƣng vẫn không đáp ứng đƣợc nhu cầu của nhân dân, do tỷ lệ gia tăng
dân vẫn ở mức độ cao ( 3%)
- Ở Thái Lan.
+ Tình trạng ô nhiễm môi trƣờng ở trung tâm công nghiệp và thủ đô Băngkok hiện nay
đang là vấn đề nghiêm trọng .
Tóm lại: Trong giáo trình kinh tế xã hội thế giới việc giáo dục bảo vệ môi trƣờng kết
hợp trong nội dung các bài hiện nay chƣa nhiều. Khi dạy giáo trình này, giáo viên phải bổ sung
thông tin thì
49
hiệu quả giáo dục mới cao. Tuy nhiên, những kiến thức bổ sung thêm phải có mức độ , tránh
làm cho bài mất tính chất một bài địa lý kinh tế - xã hội.
II. 2 - Ở lớp 12.
a- Sách giáo khoa địa lý lớp 12 cải cách giáo dục và việc tích hợp kiến thức giáo dục bảo
vệ môi trƣờng .
1. Sách giáo khoa địa lý lớp 12 cải cách giáo dục có tiêu đề là: "Những vấn đề địa lý
kinh tế - xã hội Việt Nam" Nội dung của nó bao gồm bài mở đầu, 4 chƣơng chính và đƣợc phân
phối thành 27 bài (mỗi bài dạy trong một tiết), trong đó có 2 bài thực hành (tìm hiểu một vấn đề
địa lý kinh tế xã hội của địa phƣơng).
Toàn bộ kiến thức kiến thức của sách giáo khoa tập trung vào việc cung cấp cho học sinh
những hiểu biết nhất định về địa lý Tổ Quốc theo một số vấn đề địa lý kinh tế - xã hội . Tất
nhiên , trong sách giáo khoa còn tích hợp một lƣợng kiến thức về giáo dục dân số, giáo dục bảo
vệ môi trƣờng và chúng nằm rải rác ở một số bài cụ thể.
2. Về đại thể, các kiến thức giáo dục môi trƣờng trong sách giáo khoa địa lý lớp 12 kế
thừa những kiến thức của lớp dƣới và có thể đƣợc tích hợp dƣới 2 hình thức căn bản và mức độ
tập trung kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng. Đó là hình thức tƣơng đối tập trung và hình
thức phân tán .
2.1 - Dƣới hình thức tƣơng đối tập trung, các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng đƣợc
đề cập chủ yếu ở các bài sau đây.
Bài : Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên.
Bài : Sử dụng vốn đất.
Bài : Đồng bằng sông Hồng.
Bài : Đồng bằng sông Cửu Long.
Bài : Duyên Hải miền Trung.
Bài : Trung du và miền núi phía Bắc.
Bài : Tây nguyên.
Bài : Đông Nam Bộ.
Bài : Các vấn đề về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Đông Nam Á.
Trong 9 bài kể trên, mức độ tập trung kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng tuy cao,
nhƣng không phải là hoàn toàn giống nhau. Tùy theo nội dung cụ thể về phƣơng diện địa lý, các
kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng có thể tích hợp ở nhiều hơn bài này (thí dụ : bài 2 , bài
19), hoặc ít hơn chút ít ở bài khác (thí dụ: Các bài còn lại ).
50
Sự tƣơng đối tập trung kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong các bài trên đƣợc cắt
nghĩa bằng chính nội dung kiến thức địa lý của chúng. Đây là các bài đề cập đến các khía cạnh
tự nhiên (thí dụ: bài 2 , bài 25) hoặc việc sử dụng hợp lý và cải tạo tự nhiên (thí dụ: bài 19). Nội
dung địa lý nhƣ vậy là một điều kiện hết sức thuận lợi cho việc tích hợp kiến thức giáo dục bảo
vệ môi trƣờng. Nói cách khác , bản thân điạ lý ở đây đã chứa đựng nhiều kiến thức liên quan tới
việc việc giáo dục bảo vệ môi trƣờng.
2.2. Dƣới hình thức phân tán, các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng rải rác ở một số
bài (chứ không phải là tất cả các bài) còn lại. Điều đó cũng hoàn toàn dễ hiểu bởi vì nội dung
địa lý của chúng không cho phép hoặc rất ít có khả năng tích hợp kiến thức giáo dục bảo vệ môi
trƣờng. Có thể nêu lên các bài điển hình không có nội dung giáo dục bảo vệ môi trƣờng nhƣ bài
5 (Lao động và việc làm ).
Bài 6 (Vấn đề giáo dục, văn hóa và y tế), Bài 11 (Cơ cấu ngành công nghiệp), Bài 13
(Vấn đề phát triển giao thông vận tải và thông tin liên lạc), Bài 14 (Vấn đề phát triển kinh tế đối
ngoại), Bài 27 (Mối quan hệ giữa Việt Nam và các nƣớc Châu Á)
b. Các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường trong SGK địa lý lớp 12 CCGD.
1 - Đối với SGK địa lý lớp 12 CCGD, quan niệm về tài nguyên và về môi trƣờng gắn
chặt chẽ với nhau. Vì thế khi nói đến kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng, cần đƣợc hiểu theo
nghĩa này (nghĩa là cả về tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng).
Các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong SGK có thể phân thành các nhóm theo
các quy định hƣớng dƣới đây:
- Tài nguyên thiên nhiên môi trƣờng.
- Khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên môi trƣờng.
- Bảo vệ tài nguyên, môi trƣờng.
2- Nhƣ trên đã trình bày các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng chủ yếu tập trung
trong một số bài nhất định. Do vậy phần dƣới đây chỉ liệt kê các phần kiến thức cụ thể có thể
khai thác phục vụ mục đích giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong các bài đó .
Bài : Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên
Bài này cung cấp những kiến thức về môi trƣờng Việt Nam: tài nguyên thiên nhiên , tình
trạng tài nguyên và những vấn đề sử dụng, bảo vệ tài nguyên và môi trƣờng.
1. Sự đa dạng về tài nguyên thiên nhiên (đất, khí hậu, nƣớc…).
51
2. Những mặt mạnh và mặt hạn chế về tài nguyên thiên nhiên.
3. Sự khai thác tài nguyên không hợp lý và những hậu quả tất yếu của nó. Phần này cần
làm rõ tình trạng suy thoái tài nguyên và môi trƣờng Việt Nam, nguyên nhân suy thoái và sự
cần thiết bảo vệ. Nhiều loại tài nguyên bị suy thoái nghiêm trọng: rừng , đất và các hệ sinh thái,
rừng đầu nguồn, ven biển, cửa sông bị phá nặng nề. Nguồn gien động thực vật bị giảm sút
mạnh. Nguyên nhân do sự khai thác bừa bãi, trình độ khai thác lạc hậu, lãng phí tài nguyên mà
chi phí khai thác lại cao, cần thiết phải có biện pháp sử dụng hợp lý đi đối với việc bảo vệ và tái
tạo tài nguyên (trang 9- 10).
Bài: Dân cư và nguồn lao động. Trong mối quan hệ giữa dân cƣ và môi trƣờng cần
nhấn mạnh 2 ý:
+ Sự gia tăng dân số quá nhanh, tạo sức ép đối với việc khai thác quá mức tài nguyên
môi trƣờng và sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc.
+ Sự phân bố dân cƣ không đều giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng đồng bằng ven
biển và trung du, miền núi đã gây khó khăn cho việc sử dụng hợp lý nguồn lao động và nguồn
khai thác tài nguyên có ở mỗi vùng .
Bài : Đường lối phát triển kinh tế xã hội và cơ sở vật chất kỹ thuật.
Vấn đề cơ sở vật chất kỹ thuật và khai thác tài nguyên. Sự phân bố cơ sở vật chất kỹ
thuật của nền kinh tế chƣa đồng đều giữa các vùng nên dẫn đến tình trạng có nơi tài nguyên bị
khai thác qua mức có nơi tài nguyên bị bỏ hoang, lãng phí .
Bài : Sử dụng vốn đất.
Bài này liên quan trực tiếp nhất đến vấn đề giáo dục bảo vệ môi trƣờng, tình trạng sử
dụng vốn đất và những vấn đề sử dụng bảo vệ vốn đất đối với mỗi vùng:
+ Đất đai là tài nguyên quý giá, là thành phần quan trọng của môi trƣờng sống . Bởi vậy
việc sử dụng hợp lý vốn đất có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi
trƣờng .
+ Vốn đất và việc sử dụng đất ở nƣớc ta.
Đất ít, đông dân. Bình quân đất tự nhiên trên đầu ngƣời chỉ khoảng 0,5 ha/ ngƣời ( bằng
1/6 mức bình quân của thế giới) .Không những thế gần 1/2 diện tích đất tự nhiên còn là đất
hoang hoá và đang hoang hóa trở lại.
52
Diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 21% diện tích đất tự nhiên còn rất ít khả năng
mở rộng. Diện tích đất lâm nghiệp bị thu hẹp do phá rừng nhanh hơn trồng rừng. Diện tích đất
chuyên dùng tăng lên.
Vì vậy ở mỗi vùng phải có chính sách thích hợp trên cơ sở luật đất đai để sử dụng và bảo
vệ có hiệu quả nhất vốn đất hiện có.
+ Tình hình sử dụng và khai thác hợp lý, bảo vệ tài nguyên đất ở mỗi vùng.
Đồng bằng sông Hồng: Là nơi điển hình của sức ép dân số lên việc sử dụng đất. Bình
quân đất nông nghiệp chỉ đạt 0,06/ha ngƣời (thấp nhất so với cả nƣớc). Khả năng mở rộng diện
tích đất nông nghiệp rất hạn chế. Trong khoảng 10 ngàn ha đất hoang hoá chỉ có một phần diện
tích là đất có khả năng sản xuất nông nghiệp.
Đặt vấn đề: Hạn chế tăng dân số, thâm canh, tăng vụ, tận dụng diện tích mặt nƣớc trồng
thuỷ sản .
Đồng bằng sông Cửu Long : Diện tích nông nghiệp gấp 3 lần sông Hồng ( bình quân
0,18/ha ngƣời ) Phần lớn đất chỉ cấy một vụ .
Vấn đề đặt ra là phải cải tạo hàng trăm ngàn ha đất ven biển để nuôi trồng thủy sản.
Đồng bằng Duyên Hải miền Trung: chống nạn cát bay, ngăn chặn sự di động của các
cồn cát do gió. Giải quyết nƣớc tƣới trong mùa khô ở miền Nam trung bộ.
- Ở Trung du và miền núi.
+ Trồng cây lâu năm, chống xói mòn.
+ Đẩy mạnh thâm canh ở nơi đất có khả năng tƣới tiêu cho phép giải quyết lƣơng thực
lại chỗ.
+ Phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp, chăn nuôi đai gia súc... bảo vệ khai
thác tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất và tài nguyên rừng .
Bài: Vấn đề lương thực - thực phẩm.
Bài này giải quyết vấn đề dân số - lƣơng thực , thực phẩm và việc sử dụng bảo vệ môi
trƣờng.
+ Sức ép dân số đối với nhu cầu lƣơng thực phẩm: Hiện nay, nƣớc ta vẫn đƣợc xếp vào
khu vực bị nạn đói đe dọa của thế giới. Dự báo đến năm 2000 dân số nƣớc ta khoảng 80 triệu ,
đòi hỏi mức sản xuất lƣơng thực, thực phẩm phải tăng gấp rƣỡi so với năm 1990.
+ Những khó khăn trong việc tăng sản lƣợng lƣơng thực là tình trạng thiếu phân bón
thuốc trừ sâu, thiếu vốn. Mặt khác thiên tai, sâu
53
bệnh làm thiệt hại ở nhiều vùng, làm cho sản lƣợng lƣơng thực chƣa ổn định vững chắc.
+ Vấn đề sử dụng tài nguyên: cần đẩy mạnh khai thác hàng chục vạn ha bãi triều, vùng
biển để nuôi trồng thuỷ sản và tăng thiết bị tàu lƣới để đánh cá ngoài khơi .
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TRÊN CẤC ĐỒNG BẰNG
Bài : Đồng bằng sông Hồng
1 - Mâu thuẫn giữa sự tăng dân số với sự phát triển kinh tế.
Đồng bằng sông Hồng là nơi dân cƣ lập trung đông nhất (mật độ cao hơn so với 4 lần so
với mật độ trung bình toàn quốc). Tốc độ tăng dân số chƣa phù hợp với nhịp độ phát triển kinh
tế xã hội. Điều này gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế - xã hội của đồng bằng.
2- Vấn đề lƣơng thực, thực phẩm và sử dụng môi trƣờng.
Đất canh tác ít, dân đông nên phải đẩy mạnh thâm canh. Song thâm canh không đi đối
với bồi dƣỡng đất làm cho đất đai bị giảm độ phì.
Để giải quyết lƣơng thực, thực phẩm cần:
+ Mở rộng diện tích canh tác. Diện tích sử dụng cho hoạt động nông nghiệp chiếm 50%
đất tự nhiên của đồng bằng, vẫn còn 45 vạn ha , trong đó có trên 1 vạn ha diện tích mặt nƣớc
chƣa đƣợc sử dụng.
+ Giải quyết vấn đề quá nhiều nƣớc trong mùa mƣa và quá thiếu nƣớc trong mùa khô.
Bài : Đồng bằng sông Cửu Long.
1 - Các tài nguyên chính của đồng bằng sông Cửu Long: Sự đa dạng và trở ngại.
Trở ngại lớn nhất là mùa khô kéo dài, là sự xâm phạm sâu vào đất liền của nƣớc mặn, sự
tăng cƣờng độ chua và độ chua mặn trong đất, cũng nhƣ những lai biến do thời tiết, khí hậu đôi
khi còn xảy ra.
2- Một số biện pháp chủ yếu trong việc sử dụng và cải tạo tự nhiên của đồng bằng:
Nƣớc ngọt là vấn đề hàng đầu ở đồng bằng sông Cửu Long. Cần có nƣớc để rửa phèn,
rửa mặn trong mùa khô.
Đối với khu vực phía Tây Nam của đồng bằng, có thể từng bƣớc biến thành những bãi
nuôi tôm, trồng sú vẹt, đƣớc kết hợp với việc bảo vệ môi trƣờng sinh thái.
54
Đƣa vào sử dụng 93 vạn ha đất, nửa triệu ha mặt nƣớc nuôi thuỷ sản, trong đó có hơn 10
vạn ha nƣớc lợ nuôi tôm xuất khẩu.
Bài : Duyên hải miền Trung.
Giá trị của các tài nguyên hiện có trong việc hình thành cơ cấu nông lâm ngƣ nghiệp và
hƣớng khai thác sử dụng .
Duyên hải miền Trung có khá nhiều tài nguyên nhƣng chƣa đƣợc khai thác là bao nhiêu
1- Tài nguyên lâm nghiệp: Chỉ đứng sau Tây Nguyên, độ che phủ rừng còn 34% nhiều
loại gỗ quý, nhiều lâm hải sản, chim thú có giá trị .
- Việc đẩy mạnh khâu chế biến gỗ và lâm sản, tu bổ rừng và trồng rừng đã trở nên cấp
bách. Việc bảo vệ rừng và vốn rừng còn có tác dụng chắn gió, bão ngăn không cho cồn cát ven
biển lấn sâu vào làng mạc, đồng ruộng.
- Tài nguyên nông nghiệp: Khai thác tổng hợp các thế mạnh nông nghiệp của trung du
đồng bằng ven biển.
Vùng đồi trƣớc núi có thế mạnh về chăn nuôi đại gia súc. Trung du Bắc Trung bộ hình
thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm. Vùng đồng bằng Duyên hải Thanh Nghệ
Tĩnh hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp hàng năm và các vùng luá thâm canh.
Bình quân lƣơng thực trên đầu ngƣời còn thấp. Cần có biện pháp sử dụng đất hợp lý kết hợp
phòng chống thiên tai.
- Tài nguyên ngƣ nghiệp: Biển miền Trung lắm tôm, cá và các hải sản khác.
Nhiều vùng, đầm, khá thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản, nhƣng còn ít đƣợc đầu tƣ
khai thác.
- Tài nguyên công nghiệp: Một số khoáng sản có giá trị nhƣ: sắt, nhôm, thiếc... chƣa
đƣợc khai thác do hạn chế đầu tƣ, kỹ thuật. Là vùng có tiềm năng thủy điện lớn.
Bài : Trung du và miền núi phía Bắc.
1 - Thế mạnh về tài nguyên khoáng sản thủy điện và sự thay đổi có thể của môi trƣờng
liên quan tới việc khai thác tài nguyên.
Đây là vùng có khoáng sản và trữ lƣợng thủy điện lớn nhất nƣớc ta, tập trung các mỏ:
Than, quặng, đồng, chì, kẽm... Các trung tâm công nghiệp và đô thị mới đƣợc hình thành.
Cần có biện pháp tránh ô nhiễm môi trƣờng nƣớc và không khí tại các khu công nghiệp,
đề phòng khắc phục hậu quả đối với môi trƣờng do các công trình thủy điện gây nên.
55
2- Thế mạnh về cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, những thuận lợi và khó khăn
trong việc khai thác thế mạnh này:
Khả năng mở rộng diện tích, nâng cao năng suất cây công nghiệp, cây đặc sản và cây ăn
quả của vùng còn rất lớn. Nhƣng còn một khó khăn lớn đối với vùng Đông bắc là thời tiết hay
nhiễu động thất thƣờng, còn với khu Tây Bắc là nạn thiếu nƣớc về mùa đông. Việc đẩy mạnh
sản xuất cây công nghiệp và đặc sản... Còn có tác dụng hạn chế du canh du cƣ trong vùng.
Để đẩy mạnh chăn nuôi gia súc ở trong vùng cần tận dụng nâng cao năng suất của những
đồng cỏ.
Bài : Tây Nguyên.
1- Vấn đề phát triển cây công nghiệp lâu năm ở Tây Nguyên. Thuận lợi và khó khăn
trong việc sử dụng môi trƣờng.
Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển cây công nghiệp lâu năm. Có các cao
nguyên đất đỏ bazan.
- Do ở độ cao nên có thể trồng các cây công nghiệp nhiệt đới và cả các cây á công
nghiệp nhiệt đới .
Khó khăn chủ yếu: Mùa khô kéo dài 4 đến 5 tháng, gây tình trạng thiếu nƣớc nghiêm
trọng cho cả việc sản xuất và sinh hoạt. Việc giải quyết nƣớc trong mùa khô là vấn đề cấp bách
của Tây Nguyên. Biện pháp giải quyết là: Bảo vệ rừng, xây dựng các công trình thủy lợi kết hợp
thủy điện.
2- Vấn đề phát triển lâm nghiệp. Việc bảo vệ rừng và môi trƣờng Tây Nguyên .
Rừng Tây Nguyên còn giàu nhất so với toàn quốc. Chiếm 36% diện tích đất Tây Nguyên
và 52 % sản lƣợng gỗ có thể khai thác của cả nƣớc. Trong rừng còn nhiều gỗ quí, chim, thú quý.
Khai thác cần có kế hoạch hợp lý đi đôi với việc tu bổ và trồng rừng mới.
Cần ngăn chặn việc phá rừng, vì hậu quả trƣớc hết của sự phá rừng là sự mất cân bằng
của nƣớc về mùa khô ở Tây Nguyên, làm tiếp tục hạ thấp mực nƣớc ngầm, xói mòn đất rất nguy
hiểm cho cây trồng và sinh hoạt cho nhân dân trong vùng .
Bài : Đông Nam bộ và biển tiếp cận.
1. Việc khai thác lãnh thổ theo chiều sâu trong công nghiệp và những vấn đề môi trƣờng
cần đƣợc quan tâm.
Nhiều ngành công nghiệp trong vùng: Thủy điện, lọc dầu, công nghiệp hoá chất gốm,
sứ, thực phẩm... Đang hƣớng tới hình thành
56
một tam giác công nghiệp mạnh là thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hoà Vũng Tàu. Do vậy vấn
đề môi trƣờng phải đƣợc luôn luôn quan tâm, đặc biệt trong vùng có thành phố lớn. Sự phát
triển của công nghiệp cũng không đƣợc làm tổn hại đến ngành du lịch mà trong vùng có nhiều
tiềm năng.
2.Vấn đề khai thác lãnh thổ theo chiều sâu trong nông nghiệp và việc bảo vệ rừng.
- Các công trình thủy lợi và thủy điện kết hợp thủy lợi phát triển nƣớc tƣới cho các vùng
khô hạn về mùa khô và tiêu nƣớc cho các vùng thấp dọc sông Đồng Nai và Là Ngà. Nhờ đó hệ
số sử dụng đất trồng cây hàng năm cũng tăng và đảm bảo lƣơng thực của vùng cũng khá hơn.
Tài nguyên rừng ở Đông Nam Bộ không thật lớn nhƣng việc bảo vệ nghiêm ngặt vốn
rừng có ý nghĩa cực kỳ quan trong nhằm bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Nó sẽ giúp cho vùng này
không bị mất nƣớc ở các hồ chứa nƣớc và giữ đƣợc mực nƣớc ngầm. Do vậy việc bảo vệ vốn
rừng sẽ có ảnh hƣởng sống đến sự phát triển của các vùng cây chuyên canh cây công nghiệp.
3. Vấn đề phát triển tổng hợp kinh tế biển và việc giải quyết vấn đề ô nhiễm biển.
Vùng biển và bờ biển Đông Nam Bộ có điều kiện thuận để phát triển tổng hợp kinh tế
biển: Khai thác tài nguyên sinh vật biển, khai thác khoáng sản thềm lục địa, du lịch biển và giao
thông vận tải biển. Tuy nhiên, việc giải quyết những vấn đề ô nhiễm môi trƣờng do các sản
phẩm dầu mỏ gây ra cần đƣợc đặc biệt chú ý trong quá trình khai thác và sử dụng nó.
Bài. Các vấn đề về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Đông Nam Á.
1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên Đông Nam Á.
Là khu vực giầu khoáng sản trong lòng đất và thềm lục địa. Nhiều đồng bằng châu thổ,
đồng bằng duyên hải, vùng núi và trung du có đất đỏ bazan.
Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, cận nhiệt và trồng đƣợc nhiều loại cây trồng nhiệt đới, á
nhiệt, nhiều vụ trong năm.
Tài nguyên rừng còn giàu.
Tài nguyên thủy sản cũng rất phong phú.
2. Những vấn đề sử dụng cải tạo.
57
Khí hậu nhiệt đới gió mùa kém ổn định, về mùa mƣa hay có lụt, bão, về mùa khô hay có
hạn nên tài nguyên đất rừng... dễ bị suy thoái nên khai thác không hợp lý.
Việc khai thác khoáng sản còn phụ thuộc vào nƣớc ngoài về vốn và kỹ thuật.
Ở miền đồi núi, nạn phá rừng đốt nƣớng làm rẫy còn phổ biến gây ra nạn xói mòn đất,
hủy hoại tài nguyên nông lâm nghiệp.
Vấn đề lƣơng thực - thực phẩm vẫn là mối quan tâm thƣờng xuyên ở vùng có diện tích
canh tác hạn chế nhƣng số dân vẫn tiếp tục bùng nổ.
Bên cạnh những biện pháp tăng sản lƣợng lƣơng thực - thực phẩm, phần lớn các nƣớc
Đông Nam Á cần có quốc sách giảm tỷ lệ tăng dân số.
III. Một số ý kiến đề nghị
Hệ thống nội dung kiến thức giáo dục môi trƣờng cho học sinh cấp II và III đã đƣợc thể
hiện trong chƣơng trình sách giáo khoa địa lý theo chiều rộng và chiều sâu, các nội dung đƣợc
nâng cao dần từ lớp 6 đến lớp 12. Từ những khái niệm đơn giản đến phức tạp, từ việc chỉ cho
học sinh thừa nhận đến việc cho học sinh chủ động hiểu sâu về bản chất, từ những tri thức cụ
thể nâng lên thành lý luận. Tất cả những nội dung đó đã thể hiện qua việc khai thác nôi dung ở
các bài địa lý.
Tuy nhiên để có thể thực hiện giáo dục bảo vệ môi trƣờng có hiệu quả cao môn học cần
phải thực hiện một số nội dung sau:
- Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có chủ trƣơng thống nhất chỉ đạo đồng loạt ở tất cả các
trƣờng về việc tiến hành giáo dục môi trƣờng cho học sinh bằng hình thức lồng ghép, tích hợp
vào bài giảng trong chƣơng trình sách giáo khoa. Ngoài môn địa lý, các môn: sinh vật, giáo dục
công dân, tâm lý học và tất cả những môn tự nhiên cũng phải khai thác nội dung giáo dục môi
trƣờng qua bộ môn của mình.
- Cần xây dựng mục tiêu cụ thể khung chƣơng trình, và nội dung giáo dục môi trƣờng
cho toàn bộ ngành học phổ thông từ thấp đến cao.
Thƣờng xuyên mở các lớp về bồi dƣỡng môi trƣờng và giáo dục môi trƣờng cho giáo
viên ở các cấp, trang bị cho giáo viên một số phƣơng pháp cụ thể, cách khai thác nội dung ở
từng bài cho sát thực tế
58
và nội dung bài giảng để khi giảng dạy không dẫn đến tình trạng quá tải nhận thức cho học sinh.
- Riêng đối với môn địa lý cần đƣợc cập nhật hoá kiến thức để có thể sử dụng những nội
dung gần gũi nhất với cuộc sống, từ đó học sinh có thể liên hệ với thực tế cuộc sống đang diễn
ra quanh các em.
Trang bị những phƣơng tiện hiện đại để giới thiệu những hình ảnh ở nhiều lĩnh vực cho
học sinh nhận thức, so sánh với thực tế.
C. KẾT LUẬN
Trƣớc nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, sự gia tăng dân số quá nhanh, cơ sở hạ tầng
thấp kém, quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá diễn ra mạnh mẽ đã và đang dẫn tới tình
trạng "khủng hoảng" môi trƣờng sinh thái. Nếu chúng ta không có kế hoạch khai thác và bảo vệ
môi trƣờng tốt sẽ dẫn tới tình trạng giảm sút chất lƣợng cuộc sống của con ngƣời.
Việc giáo dục môi trƣờng cho cả cộng đồng và trong nhà trƣờng đƣợc đặt ra hết sức cấp
bách. Đặc biệt trong nhà trƣờng nói chung và môn địa lý nói riêng, việc giáo dục môi trƣờng
cho học sinh cần phải đạt đƣợc những yêu cầu chính:
- Cho học sinh cấp II và III hiểu đầy đủ những khái niệm môi trƣờng từ phạm vi nhỏ
nhất đến tổng thể tự nhiên.
- Hiểu đƣợc khái niệm và công việc cụ thể về bảo vệ môi trƣờng. Từ đó học sinh tiếp
thu những kiến thức từ nhận biết đến hiểu những bản chất của quá trình môi trƣờng có ảnh
hƣởng tốt và không tốt đến cuộc sống hàng ngày của các em và cả xã hội. Thông qua đó các em
có ý thức bảo vệ môi trƣờng và vận động những ngƣời xung quanh cùng nâng cao trách nhiệm
bảo vệ môi trƣờng.
Những nội dung bảo vệ môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng ở môn địa lý có ƣu thế rất lớn
bởi vì đối tƣợng nghiên cứu của địa lý chính là môi trƣờng (các bài cụ thể đã đề cập tại đề tài).
Vì vậy, khi giảng dạy môn địa lý giáo viên có thể khai thác ngay nôi dung của từng bài
để lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục môi trƣờng, hoặc có thể tổ chức ngoại khoá, tham
quan, trao đổi hoặc qua các hoạt động xã hội khác.
59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bảo vệ môi trƣờng và hiệu quả kinh tế xã hội của nó. NXB KH và KT. Hà Nội. 1985.
2. Cứu lấy trái đất – Chất lƣợng cho cuộc sống bền vững. Đồng ấn phẩm của IUCN,
UNEP, WWF. Gland, Thụy Sỹ tháng 10 năm 1991. Trung tâm tài nguyên và môi
trƣờng. Trƣờng ĐHTH Hà Nội dịch và biên soạn.
3. Vũ Minh Châu. Vận dụng quan điểm sử dụng đi đôi với bảo vệ và cải tạo tài nguyên
thiên nhiên vào giảng dạy chƣơng "Sinh quyển" ở các trƣờng Cao đẳng sƣ phạm. Luận
văn sau đại học. Trƣờng ĐHSP Hà Nội. I. 1978.
4. Nguyễn Dƣợc. Giáo dục bảo vệ môi trƣờng qua môn địa lý trong hệ phân loại phƣơng
pháp Giáo dục số 11 / 1982
5. Nguyễn Dƣợc. Giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong nhà trƣờng phổ thông NXB Giáo dục .
Hà Nội. 1986
Địa lý học về vấn đề môi trƣờng. NXB KH và KT . HN. 1979 6.
Grigôriev A. A. Các kiểu môi trƣờng địa lý - Những công trình lý thuyết chọn lọc. Tập I. 7.
II Trƣờng ĐHSP HN . I dịch và XB. 1983.
8. Hội nghị quốc tế. Môi trƣờng và phát triển bền vững (Báo cáo khoa học). HN. từ
ngày 5 đến 6 /10/1990.
9. Hoàng Đức Nhuận, Về giáo dục môi trƣờng trong các môn học ở phổ thông NCGD số
9/1982.
10. Nguyễn Ngọc Sinh và tập thể tác giả. Môi trƣờng và tài nguyên thiên nhiên Việt Nam.
NXB KH và KT . HN. 1984
Sử dụng và bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên. NXB KH và KT . HN . 19977 11.
Ủy ban khoa học nhà nƣớc - UNDP -IUCN - SIDA . Việt Nam - chƣơng trình hành động 12.
quốc gia về môi trƣờng và phát triển bền vững - Hà nội - 1992
13 Ủy ban khoa học nhà nƣớc, Chƣơng trình hành động quốc gia về môi trƣờng và phát
triển bền vững. Hà Nội .1991
14 Lê Thạc Cán
60
Đánh giá tác động môi trƣờng, phƣơng pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn. Chƣơng
trình nghiên cứu bảo vệ môi trƣờng. Hà Nội. 1993
15. Báo cáo khoa học. Hội thảo Quốc gia về đánh giá tác động môi trƣờng ở Việt Nam ( TP.
HCM 21-25/6/1993). JT SOIL AND WATER, Bangkok, Tháilan - CEFINEA. ĐHBK-
TP. Hồ Chí Minh. 1993
16. Báo cáo khoa học. Hội thảo Quốc gia về nghiên cứu bảo vệ môi trƣờng và phát triển bền
vững. Chƣơng trình KT.02 Bộ Khoa công nghệ và môi trƣờng Việt Nam. Tổ chức
HANNS SEIDEL FUNDATION Hà Nội (9/10/ 1993)
17. UNEP / UNICEF 1989. Trẻ em và môi trƣờng. Dịch giả: Đinh Xuân Hùng và NNK.
UNEP- UNICEF - INFOTERRA VIETNAM 1992.
18. UNEP-JUN-WWF. Cứu lấy trái đất. Chiến lƣợc cho cuộc sống bền vững. Dịch giả trung
tâm tài nguyên và môi trƣờng. Trƣờng ĐHTH Hà Nội , NXB KHKT 1993
19. Các báo cáo khoa học. Hội nghị quốc tế môi trƣờng và phát triển bền vững (Hà Nội, 3-
6/12/1990) UBKHKTNNVN- Chƣơng trình phát triển Liên Hiệp Quốc Hà Nội 1990
Bộ giáo dục và Đào tạo. Thông báo khoa học. Chuyên đề khoa học môi trƣờng 1993. 20.
Tạp chí Hoạt động khoa học. 5/1987 21.
Tạp chí Phát triển kinh tế. Trƣờng ĐHKT TP. HCM số 21 tháng 7/1992. số 44 tháng 22.
6/1994.
Tạp chí môi trƣờng TTTTKHKT. TP.HCM, số 1 tháng 9/1988. 23.
Phạm Xuân Hậu. Vấn đề đƣa giáo dục môi trƣờng vào nhà trƣờng ở Việt Nam - TTKH. 24.
ĐHSP. TP.HCM 12/1995
25. Phan Huy Xu - Trần Văn Thành. Vấn đề đƣa giáo dục môi trƣờng vào giảng dạy ở nhà
trƣờng các cấp tại TP.HCM - TTKH .ĐHSP TP. HCM - 12/1995
26. Phạm Xuân Hậu - Giáo dục môi trƣờng qua môn địa ký cho học sinh cấp II - Tạp chí
KHXH - IV 1995
27. Josep M. Petulia. 1987. Environmcntal Protection in The united Slates. San Francisco
Center.
28. Josep M. Petulia 1980 American Environmcntalism. Texas A. M University Pass.
Lollege Stalion an London.
29. Jacques Vernier 1992. Môi trƣờng sinh thái. Dịch giả: Trƣơng Thị Chí, Trần Chí Đạo.
NXB Thế giới HN 1993.
61
30. Nag- Chaudruri B- 1983 Introduction to Environmental Mangement, New Dehli , India
31. Synil P. Parket et al 1980. Encyclopedia of Environmental Science, Second Edition.
McGraw- Hill book Company
32. UNESCO/UNEP. 1987. International Strategy for Action in the Field of Environmental
Education and Training for the 1990s, United Nations Educational. Scientific and
Cultural Organization, Paris and UNEP , Nairobi.
62
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................................................... 1
I - TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI. ..................................................................................................... 1
II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI. ................................................................................................................. 2
III. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI. ................................................................................................................ 2
IV. CÁC QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU. ................................................................................................ 3
V. CÁC PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................................................................. 3
B. PHẦN NỘI DUNG ................................................................................................................................. 4
CHƢƠNG I : NỘI DUNG - KIẾN THỨC GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG QUA MÔN HỌC ĐỊA LÝ CHO HỌC SINH CẤP II VÀ II Ở NƢỚC TA. ...................................................................................... 4
I. Việc đƣa giáo dục môi trƣờng vào nhà trƣờng ................................................................................ 4
II. Giáo dục môi trƣờng trong nhà trƣờng ở các nƣớc......................................................................... 5
III. Đƣa giáo dục môi trƣờng vào nhà trƣờng ở Việt Nam ................................................................ 10
CHƢƠNG II: GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG TRONG MÔN ĐỊA LÝ .................................................. 13
I. Những khái niệm về môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng ................................................................. 13
II. Nội dung giáo dục môi trƣờng qua môn địa lý. ............................................................................ 16
III. Việc đƣa nội dung môi trƣờng và giáo dục môi trƣờng vào chƣơng trình sách giáo khoa phổ thông .................................................................................................................................................. 17
IV. Giáo dục môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng cho học sinh cấp II và III qua môn Địa lý ............. 17
CHƢƠNG III: KHAI THÁC NỘI DUNG KIẾN THỨC MÔI TRƢỜNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG SÁCH GIÁO KHOA ĐỊA LÝ CẤP II VÀ III Ở VIỆT NAM. ............................ 18
I. Nội dung kiến thức giáo dục môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng qua môn Địa lý cấp II ................ 19
II. Nội dung kiến thức giáo dục môi trƣờng và bảo vệ môi
trƣờng qua môn địa lý ở Cấp III ........................................................................................................ 42
III. Một số ý kiến đề nghị .................................................................................................................. 58
C. KẾT LUẬN .......................................................................................................................................... 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................................................... 60

