BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

* * *

GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG CẤP II VÀ III QUA MÔN ĐỊA LÝ

ĐỀ TÀI CẤP BỘ SỐ : B93 - 30 -14

Chủ nhiệm đề tài : PTS - Phạm Xuân Hậu

Nhóm thực hiện : Khuất Huy Thành

Đào Ngọc Cảnh

Trần Thị Tuyết

Tạ Thị Ngọc Bích

TP. HCM : 1995

A. PHẦN MỞ ĐẦU

I - TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.

Ngay từ khi xuất hiện trên trái đất, con ngƣời đã gắn bó với thiên nhiên. Do nhu cầu sinh

tồn, con ngƣời đã chủ động khai thác tài nguyên thiên nhiên để duy trì cuộc sống của mình. Qua

quá trình tác động, con ngƣời khai thác, cải tạo tài nguyên thiên nhiên đem lại lợi ích lớn, song

do khai thác không có kế hoạch, phƣơng tiện thủ công đã gây ra những hậu quả không lƣờng

làm tổn hại đến tài nguyên và môi trƣờng.

Khi lực lƣợng sản xuất chƣa phát triển, các tác động vào môi trƣờng còn đơn giản, hạn

hẹp, hậu quả gây ra không rõ lắm. Nhƣng khi lực lƣợng sản xuất phát triển, sự tác động vào môi

trƣờng mạnh mẽ hơn, qui mô rộng lớn hơn. Đặc biệt từ khi nền khoa học kỹ thuật phát triển nhƣ

vũ bão, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra mạnh mẽ, sự gia tăng dân số quá nhanh

đã dần đƣa tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, môi trƣờng sinh thái bị "khủng hoảng" nghiêm

trọng, điều đó đặt ra cho mỗi quốc gia trên thế giới và cả cộng đồng là phải làm gì, làm thế nào

để ngăn chặn thực trạng trên, cứu lấy cuộc sống của nhân loại trên hành tinh.

Nhiều cuộc hội thảo quốc tế đã đƣợc tổ chức để bàn bạc, tìm cách giải quyết, nhiều quốc

gia trên thế giới đã ban bố những đạo luật nhằm cứu vãn, ngăn chặn nguy cơ suy thoái môi

trƣờng, làm thế nào để đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao cuộc sống cho con

ngƣời mà không làm tổn hại đến môi trƣờng là trách nhiệm của mỗi quốc gia và cả cộng đồng.

Ngày nay chúng ta có thể tiến hành hàng loạt các biện pháp thực hiện, song biện pháp

nâng cao dân trí về lĩnh vực tài nguyên môi trƣờng, trang bị những kiến thức căn bản, cần thiết

về bảo vệ môi trƣờng cho mọi ngƣời, mọi lứa tuổi thông qua trƣờng học là biện pháp rất cần

thiết và có thể đem lại hiệu quả cao. Đây cũng là mục tiêu chủ yếu của chƣơng trình giáo dục

môi trƣờng quốc tế (IEEP) của UNESCO và UNEP (United Nation Environment Programme),

ngoài nhiệm vụ nghiên cứu môi trƣờng về các mặt, cơ quan này còn giúp các quốc gia xây

dựng chƣơng trình và đào tạo cán bộ về bảo vệ môi trƣờng của tất cả các cấp trong ngành giáo

dục của nƣớc mình từ mẫu giáo đến đại học và trên đại học.

1

Ở nƣớc ta trong những năm gần đây, việc giáo dục môi trƣờng đã bắt đầu đƣợc đƣa vào

nhà trƣờng bằng hình thức này hay hình thức khác (có thể tích hợp, lồng ghép vào bài giảng các

môn học, báo cáo chuyên đồ...) nhƣng chƣa đạt đƣợc hiệu quả cao, vì đội ngũ giáo viên và học

sinh các cấp chƣa nhận thức đầy đủ về khái niệm và vai trò của giáo dục môi trƣờng trong

trƣờng học. Mặt khác giáo viên ở các trƣờng chƣa xác định đƣợc việc lồng ghép, tích hợp nội

dung vào các môn học nhƣ thế nào để giảng dạy giáo dục môi trƣờng có hiệu quả.

Giáo dục môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng ở cấp II và III có thể thông qua nhiều môn

học, mỗi môn có những ƣu thế riêng, nhƣng nếu xét về những nội dung cần cung cấp cho học

sinh về khái niệm môi trƣờng, những thành phần của môi trƣờng, tác động của môi trƣờng đến

sản xuất xã hội, vai trò của con ngƣời trong việc khai thác, cải tạo làm thay đổi môi trƣờng thì

môn địa lý là thuận lợi nhất. Vì vậy tôi đã chọn và thực hiện đề tài: "Giáo dục môi trƣờng cho

học sinh phổ thông cấp II và III qua môn địa lý ".

II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI.

Trên cơ sở mục đích giáo dục môi trƣờng trong nhà trƣờng phổ thông, kết hợp với

những nội dung có thể khai thác để giáo dục môi trƣờng trong môn địa lý ở cấp II và III, làm

cho học sinh hiểu rõ, nắm chắc hệ thống những khái niệm về môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng.

Từ đó thông qua các bài giảng địa lý cụ thể, giáo viên khai thác nội dung có liên quan đến môi

trƣờng, truyền đạt cho học sinh hiểu đƣợc mối quan hệ giữa môi trƣờng và cuộc sống, ảnh

hƣởng của sự ô nhiễm môi trƣờng đến sinh hoạt của con ngƣời, từ đó tự xây dựng cho mình ý

thức bảo vệ môi trƣờng ngay trong gia đình, địa phƣơng mình cơn trú và của cả cộng đồng...

III. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI.

Do đặc điểm của môn học, đề tài chỉ nghiên cứu khai thác nội dung môi trƣờng cho học

sinh cấp II và III qua các bài giảng địa lý cụ thể trong chƣơng trình sách giáo khoa địa lý hiện

hành và một số nội dung thực tiễn khi đƣa học sinh đi thực địa ở ngoài trời.

2

IV. CÁC QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU.

Sự hình thành và phát triển của các thành phần tự nhiên trên trái đất luôn diễn ra trong

mối quan hệ khăng khít chặt chẽ với nhau. Sự phân hóa giữa các khu vực dẫn đến sự khác nhau

về khả năng khai thác tài nguyên và môi trƣờng. Tuy nhiên trên mỗi phạm vi lãnh thổ ít nhiều

đều đã và đang hoặc sẽ diễn ra sự tác động của con ngƣời trong qua trình phát triển. Mối quan

hệ giữa con ngƣời và môi trƣờng diễn ra thƣờng xuyên, khi con ngƣời tác động vào các yếu tố

tự nhiên, sẽ làm thay đổi cơ bản môi trƣờng. Vì vậy khi khai thác những nội dung trong bài địa

lý không thể không đề cập đến mối quan hệ đó và những tác động qua lại của các mối quan hệ

diễn ra ngay trên đất nƣớc, địa phƣơng của mình đang sống.

Mối quan hệ giữa con ngƣời và môi trƣờng cũng nhƣ tác động qua lại (tốt và không tốt)

phải đƣợc khai thác qua nội dung từng bài giảng, từng chƣơng, mục phù hợp với đặc trƣng của

địa lý, thông qua đó làm cho học sinh hăng say với môn học địa lý hơn, hỏi vì địa lý đã cung

cấp cho họ những hiểu biết tổng hợp về cuộc sống và những vấn đề đang diễn ra xung quanh

cuộc sống, từ đó mà học sinh nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trƣờng.

V. CÁC PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

V. l. Phương pháp nghiên cứu hệ thống.

Theo lý thuyết hệ thống, có thể coi giáo dục môi trƣờng là một hệ thống trong đó bao

gồm nhiều yếu tố: Chƣơng trình, sách giáo khoa, giáo viên và học sinh. Giữa các yếu tố của hệ

thống này có liên quan chặt chẽ, khăng khít với nhau. Vì thế, để xác định đƣợc nội dung và hình

thức giáo dục môi trƣờng cần khai thác những nội dung phù hợp với chƣơng trình sách giáo

khoa, thực hiện đúng mục đích giảng dạy để học sinh hiểu và tiếp thu đƣợc những nội dung cần

thiết.

V.2. Phương pháp quan sát.

Thông qua việc quan sát các sự vật, hiện tƣợng địa lý đang diễn ra hàng ngày, những

hoạt động sản xuất, sinh hoạt để học sinh thấy đƣợc mối quan hệ qua lại giữa con ngƣời và môi

trƣờng, từ đó

3

khơi dậy ý thức cho học sinh chủ động học tập, tìm hiểu, thực tế. Từ đó tìm phƣơng pháp giáo

dục môi trƣờng cho hiệu quả.

V.3. Phương pháp trao đổi so sánh

- Qua nội dung các bài giảng địa lý với thực tế, giáo viên và học sinh có thể trao đổi về

những khái niệm môi trƣờng, so sánh hiện trạng môi trƣờng ở địa phƣơng này với địa phƣơng

khác, so sánh hình thức giáo dục này với hình thức giáo dục khác, giữa môn này với môn khác,

từ đó hiểu sâu hơn, đầy đủ hơn về ảnh hƣởng của môi trƣờng với cuộc sống, thấy rõ hơn trách

nhiệm phải bảo vệ môi trƣờng.

B. PHẦN NỘI DUNG

CHƢƠNG I : NỘI DUNG - KIẾN THỨC GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG QUA

MÔN HỌC ĐỊA LÝ CHO HỌC SINH CẤP II VÀ II Ở NƢỚC TA.

I. Việc đưa giáo dục môi trường vào nhà trường

Giáo dục môi trƣờng hiện nay đang là chiến lƣợc toàn cầu đƣợc tất cả các quốc gia trên

thế giới hƣởng ứng.

Hội nghị liên hợp quốc về môi trƣờng tại Slockholm năm 1972 ( Thụy Điển ) đã kêu gọi

chính phủ các nƣớc và tất cả các dân tộc cùng cố gắng bảo vệ và cải thiện môi trƣờng sống của

con ngƣời, vì lợi ích to lớm của loàn thế giới loài ngƣời hôm nay và mai sau, và đề nghị

UNESCO đẩy mạnh và tăng cƣờng giáo dục môi trƣờng lại các trƣờng trung học và đại học.

Tháng 10.1975 tại Beogracl, đã diễn ra hội nghị quốc tố về giáo dục bảo vệ môi trƣờng.

Hội nghị đã công bố hiến chƣơng về bảo vệ môi trƣờng. Trƣớc tình hình đỏ, tổ chức văn hóa xã

hội ( UNESCO ) của liên hiệp quốc đã đƣa ra một chƣơng trình cụ thể về giáo dục môi trƣờng

trong nhà trƣờng nhƣ :

- Cho học sinh thấy mối quan hệ tƣơng hỗ giữa các thành phần tự nhiên.

- Sự mãi cân bằng trong tự nhiên và tác hại của chúng với đời sống sản xuất và sinh

hoạt.

- Thấy sự cần thiết phải bảo vệ môi trƣờng.

4

Đặc biệt trong hội nghị thƣợng đỉnh về trái đất tại Rio De Janeiro (Brazin) 1992 đã xác định

chiến lƣợc hành động cho loài ngƣời về môi trƣờng và phát triển ở thế kỷ 21. Trong đó có

hành động xem xét lại về giáo dục môi trƣờng và đƣa nội dung giáo dục môi trƣờng vào

chƣơng trình giáo dục cho tất cả các lớp ở mọi cấp. Đây cũng là một trong những mục tiêu chủ

yếu của chƣơng trình giáo dục môi trƣờng quốc tế( IEEP ) của UNESCO và UNEP.

Ngày nay nhiều quốc gia trên thế giới đã ban bố những đạo luật, những quyết định

nhằm cứu vãn nguy cơ suy thoái môi trƣờng. Tuy nhiên những quyết định của các cấp chỉ có

hiệu quả khi các tầng lớp nhân dân có nhận thức đầy đủ về vai trò của mỗi trƣờng với cuộc

sống, và tác hại của việc môi trƣờng bị hủy hoại, bị ô nhiễm, ảnh hƣởng đến cuộc sống hàng

ngày của họ và cả thế hệ mai sau.

Việc giáo dục cho mỗi ngƣời và cả cộng đồng là hết sức cần thiết và cấp bách. Giáo

dục có thể bằng nhiều cách khác nhau, song một trong những biện pháp có thể đem lại kết quả

lâu dài là giáo dục nhận thức về môi trƣờng và ý thức bảo vệ môi trƣờng cho thế hệ sẽ làm chủ

tƣơng lai của đất nƣớc, những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trƣờng (từ mẫu giáo đến đại

học).

II. Giáo dục môi trường trong nhà trường ở các nước

Các nƣớc trên thế giới còn rất khác nhau về cách phân chia cấp học và tên gọi của cấp

học. Cách phân cấp và tên gọi tuy có khác nhau nhƣng chung lại cả ba bậc học ở phổ thông

đƣợc chia làm ba giai đoạn thời gian ( tƣơng đƣơng ba cấp ).

Cấp đầu thu nhận những học sinh từ 5-6 tuổi, học 5-6 năm gọi là cấp tiểu học, rồi tiếp

theo là cấp trung học ( cấp II và III ), ở mỗi cấp học có nội dung giáo dục môi trƣờng khác

nhau theo nhận thức của từng cấp.

II. 1. Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông

Từ trƣớc thập kỉ 60 đến những năm đầu của thập kỉ 70 hầu hết các nƣớc chƣa chú trọng

đến công tác giáo dục môi trƣờng trong các trƣờng phổ thông. Đến những năm cuối của thập

kỉ 70 sau khi có kế hoạch hoạt động của tổ chức UNESCO, UNDP, thì việc giáo dục môi

trƣờng cho học sinh mới bắt đầu đƣợc đẩy mạnh.

5

Hầu hết các nƣớc này đều tiến hành giáo dục môi trƣờng từ mẫu giáo, tiểu học đến trung

học, chƣơng trình soạn thảo cho phục vụ giảng dạy theo hệ thống từ thấp tới cao .

Hầu hết các nƣớc không sử dụng thành môn riêng khi giáo dục môi trƣờng cho học sinh

mà dùng hình thức lồng ghép, tính hợp vào các môn học, các bài giảng khi giảng bài của môn

học đó cho học sinh phổ thông với các phƣơng pháp kết hợp giữa giáo dục chính khóa với giáo

dục ngoại khóa, thực hành, thực tập ngoài thiên nhiên nhằm phù hợp với tâm sinh lý, nhận thức

của học sinh

II.2. Trong các trường Trung học chuyên nghiệp – dạy nghề Cao đẳng và Đại học.

Phân tích các nội dung trong chiến lƣợc đƣa giáo dục môi trƣờng vào các trƣờng chuyên

nghiệp, đại học của EMMLIN ( 1984 ), những nội dung này là cơ sở cho việc xây dựng chƣơng

trình giảng dạy môi trƣờng ở các trƣờng đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy

nghề.

Kinh nghiệm của các nƣớc khi giáo dục môi trƣờng, họ rất coi trọng vai trò của giáo

viên. Những yêu cầu đặt ra là giáo viên cần phải đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng, nâng cao kiến thức

về môi trƣờng thƣờng xuyên, thông qua đó, đội ngũ sinh viên, là những giáo viên tƣơng lai cũng

phải đƣợc bồi dƣỡng nhƣ vậy, mặt khác còn phải trang bị cho họ một phƣơng pháp giảng dạy

thích hợp để khi ra trƣờng họ thực hiện giáo dục có hiệu quả.

Về hình thức giáo dục môi trƣờng ở các trƣờng đại học, cao đẳng, trung học chuyên

nghiệp và dạy nghề có thể bằng nhiều cách khác nhau chẳng hạn nhƣ :

- Có thể xây dựng nội dung giáo dục môi trƣờng đƣa thành một môn riêng, khi đƣa vào

chƣơng trình có thể là bắt buộc hoặc tự chọn cho từng chuyên ngành phù hợp.

- Cũng có thể thực hiện việc lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục môi trƣờng vào các

bài học cụ thể của các tiết dạy, bài dạy, của từng môn học cùng với quá trình truyền đạt kiến

thức chuyên môn cơ bản.

Về phƣơng pháp giáo dục môi trƣờng ở bậc đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp

- dạy nghề, các nƣớc cho rằng cần sử dụng nhiều phƣơng pháp nhằm phát huy năng lực cá nhân,

tự tìm hiểu, phát

6

hiện, phân tích mối quan hệ của những diễn biến về môi trƣờng khi học tập và khi tham quan

thực tế ngoài thiên nhiên, khi thực hành, thí nghiệm hoặc thông qua các sinh hoạt báo cáo

chuyên đề, làm bài lập cuối khóa, luận văn tốt nghiệp...

II.3. Kinh nghiệm giáo dục môi trường trong nhà trường ở một số nước trên thế giới

Kinh nghiệm ở các nƣớc khi thực hiện chƣơng trình giáo dục môi trƣờng cho mọi ngƣời

sẽ thực hiện qua trình kết hợp giữa việc giáo dục trong nhà trƣờng, trong các tổ chức xã hội,

điều trƣớc hết là :

- Nhà nƣớc phải coi việc giáo dục môi trƣờng cho mọi ngƣời là một nhiệm vụ quan

trọng trong chiến lƣợc bảo vệ môi trƣờng của quốc gia, từ đó nhà nƣớc phải thành lập các cơ

quan chức năng chuyên môn về môi trƣờng, và trong các cơ quan này ngoài bộ phận nghiên

cứu, còn phải có bộ phận chuyên về giáo dục môi trƣờng .

- Giáo dục môi trƣờng cần tiến hành thực hiện cho mọi tầng lớp nhân dân nhƣng chú

trọng vào các đối tƣợng phụ nữ, thanh niên, lực lƣợng học sinh là lực lƣợng chủ yếu của xã hội,

là thế hệ tƣơng lai của đất nƣớc. Ngay từ năm 1975 tổ chức UNESCO đã tập hợp đƣợc 130

nƣớc tham gia vào chƣơng trình rộng lớn về môi trƣờng ( IEEP ), nhiều cuộc thảo luận về giáo

dục môi trƣờng ở Tbilixi (1977 ), Matxcơva (1987) đã định hƣớng cho vấn đề giáo dục môi

trƣờng. Từ năm 1983 đã có nhiều cuốn sách và những báo cáo về kinh nghiệm giảng dạy môi

trƣờng ở các nƣớc. Tổ chức UNESCO đã thực hiện, cho ra đời một số dụng cụ, phƣơng tiện

phục vụ cho giáo dục môi trƣờng nhƣ sách hƣớng dẫn, tranh ảnh, phim... năm 1989, tổ chức

hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã triển khai tại 19 nƣớc một chƣơng trình nghiên cứu về

giáo dục môi trƣờng, cùng với các cuộc hội thảo để giáo viên trao đổi kinh nghiệm giảng dạy

nội dung giáo dục môi trƣờng:

+ Ở Liên Xô trước đây, ngƣời ta đƣa chƣơng trình giáo dục môi trƣờng vào chƣơng

trình địa lý từ lớp 5 đến lớp 10, một hệ thống kiến thức gồm nhiều thuật ngữ, những khái niệm

về môi trƣờng, bảo vệ môi trƣờng, bảo vệ tự nhiên, chẳng hạn nhƣ bảo vệ khí quyển, chống ô

nhiễm khí quyển, bảo vệ nguồn nƣớc, chống ô nhiễm nguồn nƣớc, sự thay đổi khí hậu do việc

cải tạo môi trƣờng càng lên các lớp cao hơn, các khái niệm trừu tƣợng càng đƣợc đƣa ra để học

sinh nâng cao nhận thức. Chẳng hạn nhƣ ở lớp 8 những khái niệm thuật ngữ đòi hỏi học

7

sinh phải tự suy nghĩ về những vấn đề nhƣ: Tác động của con ngƣời vào tự nhiên, những hậu

quả của sự tác động không đúng qui luật nhƣ thế nào? các phƣơng pháp đấu tranh sinh học, các

quá trình vôi hóa và các biện pháp khai thác đất mặn, đất bạc màu thoái hóa, các biện pháp khô

hóa đầm lầy, các biện pháp cải lạo rừng, chống xói mòn, lở đất, việc bảo vệ các địa tổng thể và

dự báo bảo vệ tự nhiên... Hay ở lớp 9 nhiều nội dung, thuật ngữ có liên quan đƣợc đƣa ra nhƣ:

Việc phục hồi, tái tạo sản xuất, đến việc bảo vệ tự nhiên trong các điều kiện kinh tế khác nhau,

việc dự báo địa lý, quá trình đô thị hóa và cân bằng sinh thái...

+ Ở Ba Lan: Là một nƣớc sớm đƣa nội dung bảo vệ môi trƣờng vào chƣơng trình các

môn học ở trƣờng phổ thông. Trong lớp học từ lớp 1 đến lớp 5, những kiến thức môi trƣờng,

bảo vệ môi trƣờng dạy chủ yếu là qua các môn học nhƣ: Địa lý, sinh vật, ngữ văn, mỹ thuật.

Trong địa lý, ngoài những bài học có kiến thức môi trƣờng, còn có một số bài riêng nhƣ: "con

ngƣời và môi trƣờng" , "con ngƣời và sinh quyển" , " ý nghĩa của việc bảo vệ tự nhiên trong sự

phát triển của xã hội, văn hóa, kinh tế" , "việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên " .

+ Ở Đức: Việc đƣa giáo dục môi trƣờng ở môn địa lý thƣờng đƣa vào các bài học nội

khóa, sử dụng các phƣơng pháp trực quan bằng các phƣơng tiện hiện đại nhƣ phim ảnh qua màn

hình ti vi... Sau đó đƣa chƣơng trình kiến thức môi trƣờng vào các bài tập, bài thực hành, khảo

cứu địa phƣơng... Hay cũng có thể đƣa cho học sinh thảo luận những nội dung có liên quan

trong cuộc sống hàng ngày của các em.

+ Ở Tiệp Khắc: Việc giáo dục môi trƣờng đƣợc coi là quá trình giáo dục có mục đích

xây dựng mối quan hệ đúng đắn giữa con ngƣời và môi trƣờng. Những kiến thức này đƣợc tiến

hành từ các lớp mẫu giáo đến trung học. Hình thức chính là ngoại khóa, tuy nhiên trong chƣơng

trình và sách giáo khoa các môn địa,hóa, lịch sử, vật lý đều có đề cập đến kiến thức về bảo vệ

môi trƣờng.

+ Ở Hungari: Học sinh đƣợc học kiến thức về môi trƣờng ngay từ lớp 4, lớp 5 đến lớp

7, trong chƣơng trình, các môn có dành thời gian thích đáng cho vấn đề giáo dục môi trƣờng...

Trong môn địa lý chú trọng đến vấn đề "ảnh hƣởng của nền kinh tế đến tự nhiên", trong môn

sinh vật có bài "thực vật và vấn đề bảo vệ môi trƣờng" ,

8

"cơ thể và môi trƣờng" , " bảo vệ động thực vật ", các kiến thức giáo dục môi trƣờng đƣa vào

chủ yếu là thông qua các hoạt động ngoại khóa.

+ Ở Hoa Kỳ: Giáo dục môi trƣờng đƣợc thực hiện khá sôi nổi với tổ chức nổi tiếng là

liên đoàn quốc gia bảo vệ cuộc sống hoang dã (NWF ) đã cho giảng dạy các trƣờng 33 bài học

về môi trƣờng có thể áp dụng ngay vào thực tế.

+ Ở Pháp: Bộ giáo dục Pháp luôn luôn kết hợp với các tổ chức quốc tế, các hội đoàn,

các tổ chức địa phƣơng, các cấp chính quyền, các vƣờn quốc gia để đƣa "chƣơng trình hành

động giáo dục" ( PAE ) vào các trƣờng tiểu học và trung học. Trong chƣơng trình giảng dạy địa

lý và khoa học tự nhiên đều đƣợc mở rộng kiến thức bảo vệ môi trƣờng. Ngoài ra các vấn đề

môi trƣờng còn đƣợc trình bày dƣới hình thức các hệ sinh thái trong chƣơng trình địa lý đại

cƣơng nhƣ: Hệ sinh thái vùng đồi, hệ sinh thái đồng cỏ...

Ngày nay ngoài việc bồi dƣỡng và đào tạo dài hạn các giáo viên để giảng dạy về môi

trƣờng đã trở nên cần thiết trong các trƣờng đại học và sƣ phạm ở Pháp.

+ Ở Một số nước trong khu vực Đông Nam Á

Ở các nƣớc Thái Lan, Philipin, Singapore, Indonexia, Nam Triều Tiên, nhiều vấn đề môi

trƣờng đƣợc đặt ra tƣơng tự nhƣ ở Việt Nam, đó là nạn phá rừng, sự gia tăng dân số nhanh, ô

nhiễm môi trƣờng do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa .

Trong các nƣớc này, hầu hết các nƣớc thực hiện giáo dục môi trƣờng trong nhà trƣờng

không theo một môn riêng mà thƣờng đƣợc lồng ghép, tích hợp vào các môn học.

* Ở Thái Lan: Việc đƣa giáo dục môi trƣờng vào nhà trƣờng khá sớm, nhà trƣờng đã

chủ động xây dựng khai thác nội dung giáo dục môi trƣờng theo những chủ điểm cho từng cấp

học.

Ví dụ: Ở cấp tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 6) các chủ điểm đƣợc hệ thống từ việc giáo dục

làm sạch đẹp môi trƣờng xung quanh nhƣ nhà cửa, trƣờng học, nơi ở, mở rộng đến việc cho học

sinh ý thức cần thiết phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nhƣ đất, nƣớc, cây cối, động vật và một

số qui định bảo vệ tài nguyên...Cao hơn nữa là cho học sinh nắm đƣợc phƣơng pháp bảo vệ đất,

rừng, nƣớc...

Khi lên cấp II, các chủ đề đƣợc phân theo 2 ngành khoa học tự nhiên và nghiên cứu kinh

tế - xã hội. Các vấn đề môi trƣờng đƣợc đặt ra phạm vi rộng hơn, học sinh khi đƣợc trang bị

kiến thức sẽ thấy hiểu

9

biết đầy đủ hơn về nguyên nhân, tình trạng suy thái môi trƣờng. Biện pháp phòng và chống suy

thoái, ô nhiễm môi trƣờng…

* Ở Singapore: Giáo dục môi trƣờng trong nhà trƣờng không đƣợc dạy nhƣ một môn

học, nhƣng các môn học trong chƣơng trình đều bao hàm các nội dung có liên quan tới việc

nghiên cứu về giáo dục sinh thái và môi trƣờng.

Ở cấp tiểu học, chủ đề lớn và chủ yếu là "con ngƣời và môi trƣờng sống của con ngƣời"

trong các môn học tự nhiên. Ở cấp phổ thông trung học, học sinh có thể đƣợc học chủ đề "con

ngƣời và sinh hoạt xã hội gồm các nghiên cứu tổng thể về môi trƣờng".

* Ở Nam Triều Tiên: Mục tiêu của giáo dục bảo vệ môi trƣờng ở các trƣờng tiểu học

và trung học là giúp cho các em có những quan niệm, những khái niệm đại cƣơng về bảo vệ môi

trƣờng và những tác hại của sự ô nhiễm môi trƣờng gây ra. Những nội dung đƣợc trình bày qua

các bài học trong sách giáo khoa, hay qua các phƣơng tiện nghe nhìn hiện đại.

* Ở Inđônêxia: Đã tập trung xây dựng một hộ thống chƣơng trình về giáo dục môi

trƣờng. Mục tiêu của quốc gia này là phải đảm bảo cho thế hệ đƣợc chuẩn bị sẵn sàng, đƣợc

cung cấp đầy đủ các hiểu biết về môi trƣờng để các em có thể hăng say tham gia vào việc giữ

gìn môi trƣờng. Những nội dung giáo dục chủ yếu là nhấn mạnh vấn đề môi trƣờng trong các

chủ điểm của chƣơng trình giáo dục hiện hành mà không xây dựng thêm một môn mới. Việc

giáo dục không nhằm vào các môn học của khoa tự nhiên và xã hội...

Nhƣ vậy, việc giáo dục môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng trong những năm gần đây đã

đƣợc đƣa vào giảng dạy trong nhà trƣờng, nhƣng so với yêu cầu cần thiết của giai đoạn hiện nay

thì các nhà giáo dục ở trên thế giới cho rằng: Nhà trƣờng chƣa làm đƣợc bao nhiêu. Do đó, vấn

đề giáo dục môi trƣờng trong nhà trƣờng vẫn còn phải đi sâu, quan tâm hơn nữa thì mới mong

có kết quả .

III. Đưa giáo dục môi trường vào nhà trường ở Việt Nam

Việt Nam là nƣớc có nền kinh tế nông nghiệp phát triển chậm, quá trình công nghiệp

hoá, hiện dại hoá còn thấp nên những ảnh hƣởng của môi trƣờng với cuộc sống ít thấy thể hiện

rõ, vì vậy chúng ta chƣa chú ý nhiều về vấn đề ô nhiễm môi trƣờng , chƣa thấy rõ tầm quan

trọng và sự cần thiết phải bảo vệ môi trƣờng. Mãi cho đến thập

10

niên 80-90 cua thế kỷ 20 này, vấn đề môi trƣờng mới đƣợc đƣa vào chƣơng trình quốc sách,

cùng với vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự gia tăng dân số quá nhanh, chúng ta mới đƣa

vấn đề môi trƣờng vào hệ thống những vấn đề cần đƣợc giải quyết cấp bách của đất nƣớc.

Ngoài những biện pháp kỹ thuật đã và đang đƣợc đƣa ra để bảo vệ môi trƣờng, còn có

những văn bản pháp lý của Chính phủ, Bộ khoa học- công nghệ môi trƣờng đã ban hành nhƣ:

- Chỉ thị số 75-TT6 ngày 25 -2 -1993 của Thủ tƣớng Chính phủ về một số công tác cần

làm ngay để bảo vệ môi trƣờng.

- Chỉ thị số 317- TNKH ngày 27 - 2 - 1993 của bộ công nghệ và môi trƣờng về đẩy

mạnh các hoạt động bảo vệ môi trƣờng ở các địa phƣơng.

- Chỉ thị số 18- CTXKHKT ngày 8 - 4 - 93 của bộ công nghiệp nặng về việc xây dựng

triển khai kế hoạch bảo vệ môi trƣờng trong toàn nghành công nghiệp nặng.

III. 1- Giáo dục môi trường trong các trường phổ thông :

Vấn đề giáo dục môi trƣờng ở nƣớc ta còn quá mới mẻ, trƣớc đây việc đƣa giáo dục môi

trƣờng vào nhà trƣờng cũng không đƣợc chú ý. Từ khi thực hiện cải cách giáo dục (1986), việc

giáo dục môi trƣờng mới dần đƣợc chú ý hơn. Ngoài những hoạt động của các tổ chức đoàn thể,

các phƣơng tiện thông tin đại chúng, việc tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục môi trƣờng vào

các môn học có đƣợc ngành giáo dục chú ý hơn. Nhƣng thực tế, việc thực hiện còn rời rạc, đội

ngũ cán bộ, giáo viên chƣa đƣợc bồi dƣỡng thƣờng xuyên để nâng cao kiến thức về môi trƣờng.

Vì vậy, mà chƣa có những biện pháp truyền đạt nội dung có hiệu quả cao.

Ví dụ: Khi trao đổi thăm dò đội ngũ giáo viên ở Tp. Hồ Chí Minh (150 giáo viên) cho

thấy rằng: 56% chƣa đƣợc dự lớp tập huấn, bồi dƣỡng về môi trƣờng, 32% ít khi đƣợc học bồi

dƣỡng, còn chỉ có 8,5% đƣợc bồi dƣỡng thƣờng xuyên.

- Nhận thức của giáo viên về vai trò của giáo dục môi trƣờng, phƣơng thức giáo dục môi

trƣờng, biện pháp giáo dục môi trƣờng cho học sinh cũng còn những khoảng cách nhất định .

Cụ thể: Thông qua trao đổi dự giờ, phát phiếu thăm dò ở một số giáo viên (chủ yếu là

cấp hai) ở Tp. Hồ Chí Minh, Tây Ninh,

11

Sông Bé, Đồng nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Cần Thơ... Trong số 220 phiếu trả lời chúng tôi có đƣợc

kết qua sau:

+ 70% số đƣợc hỏi có nhận thức đúng mục đích của giáo dục môi trƣờng vào trƣờng cấp

III là giáo dục kiến thức và hành vi.

+ 92,5% số giáo viên đƣợc hỏi cho rằng giáo dục môi trƣờng qua môn học là phù hợp,

có thể đem lại hiệu quả cao.

+ 80% số đƣợc hỏi có ý kiến cho rằng việc giáo dục môi trƣờng qua môn địa lý sẽ giúp

học sinh mở rộng thêm kiến thức địa lý và một số môn khoa học khác.

+ 87% cho rằng "bảo vệ môi trƣờng là hành vi đạo đức của mỗi học sinh và mỗi ngƣời,

còn 2,3% còn phân vân, 10% không có ý kiến gì.

+ 79% giáo viên đƣợc hỏi đồng ý với ý kiến cho rằng "giáo viên luôn phải là ngƣời

gƣơng mẫu trong cộng đồng về giáo dục và bảo vệ môi trƣờng".

Việc giáo dục môi trƣờng đã và đang đẩy mạnh trong nhà trƣờng ở nƣớc ta, nhƣng hiện

nay phần lớn mới chỉ thực hiện qua giờ giảng lý thuyết ở trên lớp chứ chƣa có những hoạt động

thực tiễn ở địa phƣơng. Trong quá trình giảng dạy, truyền đạt kiến thức, phƣơng tiện thƣờng

xuyên sử dụng chủ yếu là sách giáo khoa, bản đồ, tranh ảnh... mà chƣa có phƣơng tiện hiện đại.

III.2. Ở các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.

Việc đƣa giáo dục môi trƣờng vào các trƣờng đại học, cao đẳng, trung học chuyên

nghiệp và dạy nghề hiện nay ở nƣớc ta chƣa có sự thống nhất và đồng bộ, từ việc giáo viên tự

khai thác những kiến thức lồng ghép, tích hợp ở một số bộ môn nhƣ địa lý, sinh vật, giáo dục

công dân, tâm lý giáo dục... đến 1995, khi chƣơng trình cải cách đại học thực hiện theo chƣơng

trình mới, bƣớc đầu chúng ta đƣa bộ môn "môi trƣờng và con ngƣời" vào chƣơng trình của giai

đoạn một đại học đại cƣơng, nhƣng cũng chỉ là chƣơng trình tự chọn, nên chƣa có sự ràng buộc,

hỏi vậy chƣa có khả năng thuyết phục rộng rãi và có hiệu quả.

12

CHƢƠNG II: GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG TRONG MÔN ĐỊA LÝ

I. Những khái niệm về môi trường và bảo vệ môi trường

1.1. Những khái niệm về môi trường:

Hiện nay trong các thuật ngữ "môi trƣờng" "ô nhiễm" "tài nguyên" "sinh thái " "phát

triển lâu bền"... đƣợc sử dụng rộng rãi trong tầng lớp nhân dân, ghi nhận nhiều trong sách vở,

tài liệu, trong các phƣơng tiện thông tin đại chúng .Tuy nhiên, trong nhiều trƣờng hợp việc hiểu

và sử dụng các thuật ngữ này chƣa hoàn toàn chính xác, thậm chí đôi khi còn nhầm lẫn.

Có nhiều khi khái niệm môi trƣờng đƣợc hiểu với nội dung là môi trƣờng sống, môi

trƣờng tự nhiên, nhƣng có lúc đƣợc hiểu rộng hơn, nó bao gồm tất cả các yếu tố của hoạt động

xã hội loài ngƣời. Hiểu theo nghĩa rộng thì môi trƣờng bao gồm tất cả những gì có ở xung

quanh một đối tƣợng mà ngƣời ta nói tới và có những mối quan hệ nhất định đối với nó. Nếu

đối tƣợng đó là cơ thể sinh vật thì môi trƣờng là tất cả những gì trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh

hƣởng tới sự sinh trƣởng, phát triển và sự tồn tại của cơ thể đó. Môi trƣờng đó đồng nghĩa với

môi trƣờng sống hay môi trƣờng tự nhiên ở xung quanh cơ thể sinh vật .

Con ngƣời là một thực thể sinh vật cấp cao (đặc biệt). Do biết chế tạo và sử dụng công

cụ lao động, con ngƣời đã dần thoát khỏi sự lệ thuộc vào các qui luật sinh học, vào môi trƣờng,

mà còn có tác động trở lại môi trƣờng đó một cách mạnh mẽ. Các nhà địa lý học, tiêu biểu là

X.V Kalexnik đã gọi bộ phận tự nhiên bao quanh con ngƣời bị thay đổi bởi con ngƣời ở mức độ

này hay mức độ khác là môi trƣờng địa lý.

Trong thời đại của chúng ta hiện nay, con ngƣời không phải chỉ sống trong một loại môi

trƣờng mà trong hai môi trƣờng có quan hệ qua lại với nhau. Loại thứ nhất là môi trƣờng địa lý,

đã chịu tác động của con ngƣời. Loại môi trƣờng thứ hai hoàn toàn do con ngƣời với trình độ kỹ

thuật của mình tạo nên nhƣ các thành phố, nhà máy. Từ đó địa lý thêm một khái niệm mới là:

"môi trƣờng nhân tạo". Giữa "môi trƣờng tự nhiên" và "môi trƣờng nhân tạo" khác nhau về mặt

nguồn gốc phát sinh và phát triển. Môi trƣờng tự nhiên xuất hiện trên bề mặt trái đất không phụ

thuộc vào con ngƣời. Ngƣợc lại sự phát triển của môi trƣờng nhân tạo phụ thuộc hoàn toàn vào

sức lao động của con

13

ngƣời. Khái niệm về môi trƣờng tƣơng đối đầy đủ do UNESCO đƣa ra năm 1981 là: "Toàn bộ

các hệ thống tự nhiên và hệ thống do con ngƣời tạo ra ở xung quanh mình, trong đó con ngƣời

sinh sống và bằng lao động đã khai thác những tài nguyên tự nhiên hoặc nhân tạo, cho phép

thỏa mãn những nhu cầu của con ngƣời".

Nhƣ vậy, đối với con ngƣời, môi trƣờng không chỉ là nơi tồn tại, sinh trƣởng và phát

triển cho một thực thể sinh vật là con ngƣời mà là "khung cảnh của lao động, của cuộc sống và

sự nghỉ ngơi của con ngƣời". Nó tạo thành thể thống nhất bao gồm nhiều đối tƣởng và hiện

tƣợng tự nhiên nhƣ đất đai, địa hình, khí hậu, nƣớc, động thực vật, các khu dân cƣ, khu sản

xuất, khu bảo vệ thiên nhiên, phong cảnh, các công trình văn hóa, lịch sử...

I.2. Khái niệm về bảo vệ môi trường:

Khái niệm về bảo vệ môi trƣờng là khái niệm phức tạp và luôn luôn phát triển. Vào

những thập kỷ trƣớc đây, ý thức bảo vệ môi trƣờng mới chỉ đƣợc coi là ý thức bảo vệ tự nhiên.

Mà ngay cả thuật ngữ bảo vệ tự nhiên cũng mới chỉ đƣợc sử dụng rộng rãi vào đầu thế kỷ 20

này.

Trong thời kỳ này, khái niệm bảo vệ tự nhiên đƣợc định nghĩa là: "Ý muốn chung hƣớng

tới việc bảo tồn những di sản tự nhiên và việc chăm sóc chúng". Tuy nhiên trong từng giai đoạn

lịch sử khi hoạt động của con ngƣời còn có tính chất cục bộ thì việc bảo vệ tự nhiên chỉ đƣợc

coi nhƣ là việc bảo vệ những đối tƣợng riêng biệt của tự nhiên đã bị nghèo đi do sự phát triển

kinh tế của con ngƣời. Phù hợp với mục đích đó, biện pháp bảo vệ cũng chỉ là xây dựng những

khu bảo vệ, ra các đạo luật cấm khai thác động, thực vật quí hiếm bừa bãi, phải bảo lần những

loài quý hiếm đó....

Sau này khi sự phát triển rộng lớn, con ngƣời tác động vào tự nhiên có chiều sâu hơn,

con ngƣời lại nhận thức đƣợc rằng việc hiểu khái niệm tự nhiên trƣớc đây là chƣa đủ. Bảo vệ tự

nhiên không chỉ bảo vệ tự nhiên một cách tiêu cực, mà phải chú ý mặt tích cực của nó. Bảo vệ

tự nhiên là khai thác, sử dụng tự nhiên một cách hợp lý, làm cho nó ngày càng giàu thêm. Cần

phải chống những hiện tƣợng làm cho nó ngày càng cạn kiệt đi. Chất lƣợng của tự nhiên ngày

càng tăng, càng có lợi cho nền kinh tế, cho cuộc sống và sức khỏe của con ngƣời.

Đến nửa sau thế kỷ 20 này ngƣời ta đã dùng thuật ngữ "bảo vệ môi trƣờng" thay cho

thuật ngữ "bảo vệ tự nhiên".

14

Thực ra khái niệm bảo vệ môi trƣờng rộng hơn khái niệm bảo vệ tự nhiên, bởi vì phạm

vi của nó không phải chỉ có tự nhiên với các thành phần của nó mà còn có cả những công trình

nhân tạo ở quanh con ngƣời (nhƣ đã nêu ở trên).

Do đó ngày nay, khái niệm bảo vệ môi trƣờng là cả hộ thống bao gồm: Việc bảo vệ môi

trƣờng tự nhiên, trong đó diễn ra cuộc sống của con ngƣời, các loại sinh vật khác và cả việc bảo

vệ môi trƣờng sản xuất, văn hóa để phục vụ cho hoạt động lao động và nghỉ ngơi, giải trí của

con ngƣời. Chúng ta cần chấp nhận cách hiểu khái niệm này để khi khai thác nội dung bài giảng

có thuận lợi và hiệu quả hơn trong giáo dục bảo vệ môi trƣờng.

Việc đƣa nội dung giáo dục bảo vệ môi trƣờng vào chƣơng trình sách giáo khoa phổ

thông, cần phải liên hệ với từng bộ môn cụ thể, bởi vì: Khái niệm môi trƣờng ngày càng đƣợc

mở rộng, bản thân khái niệm bảo vệ môi trƣờng đã chứa đựng trong đó nhiều mối quan hệ bên

trong và bên ngoài phức tạp, cho nên khái niệm bảo vệ môi trƣờng trong chƣơng trình học phải

là một khái niệm liên bộ môn và hết sức tổng hợp. Ở mỗi môn học, khái niệm bảo vệ môi

trƣờng đƣợc phát triển theo những khía cạnh riêng biệt, thể hiện những mối quan hệ giữa môi

trƣờng và đối tƣợng của môn học. Việc hình thành khái niệm bảo vệ môi trƣờng nhƣ vậy không

chỉ thuộc phạm vi một bộ môn nào mà cần sự tham gia của nhiều bộ môn.

Dựa vào chƣơng trình cải cách giáo dục của từng bộ môn, nội dung giáo dục môi trƣờng

phải đƣợc đƣa vào theo một số nguyên tắc sau:

- Phải tôn trọng đặc thù của từng bộ môn, những nội dung giáo dục môi trƣờng phải là

những nội dung có sẵn trong chƣơng trình của bộ môn đó.

- Những kiến thức đƣa vào phải có hệ thống, tránh trùng lặp lãng phí thời gian, nội dung

phải vừa với nhận thức của học sinh, không làm ảnh hƣởng đến việc tiếp thu kiến thức bài học

bộ môn chính.

- Nội dung bảo vệ môi trƣờng đƣa vào nhà trƣờng phải ƣu tiên phản ánh những thực tiễn

về môi trƣờng tự nhiên của đất nƣớc và ngay cả nơi các em đang sống.

Việc đƣa giáo dục môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng vào nhà trƣờng các cấp cần kết hợp

chặt chẽ giữa chƣơng trình, sách giáo khoa và phƣơng pháp dạy của giáo viên.

15

- Giáo dục bảo vệ môi trƣờng đƣa vào các môn học nói chung phải là hệ thống các khái

niệm ở các mặt sau:

+ Các khái niệm về đặc điểm và cấu trúc của môi trƣờng, về những mối quan hệ bên

trong, những quy luật về sự ổn định và biến đổi của môi trƣờng do các mối quan hệ khác tác

động vào.

+ Những khái niệm về sự tác động vào môi trƣờng theo hai hƣớng tích cực và tiêu cực

+ Các tác động của môi trƣờng làm thay đổi các điều kiện sống và sinh hoạt của các sinh

vật nói chung và con ngƣời nói riêng.

II. Nội dung giáo dục môi trường qua môn địa lý.

Trong các môn học ở nhà trƣờng, môn địa lý có nhiều thuận lợi để liên hành khai thác

nội dung giáo dục môi trƣờng thông qua việc lồng ghép, tích hợp vào bài giảng chính khóa.

Đại hội địa lý quốc tế lần thứ 23 họp ở Matxcova đã chọn tiêu đề "Cách mạng khoa học

kỹ thuật và ngành địa lý" cho các báo cáo, bởi vì những yêu cầu mới của cách mạng khoa học

kỹ thuật đã làm (hay đổi nhiệm vụ của khoa học địa lý. Cách mạng khoa học kỹ thuật đã mở ra

thời kỳ phát triển công nghiệp theo chiều rộng, dẫn đến tác động lớn vào môi trƣờng tự nhiên

nhƣ:

- Sự khai thác tài nguyên thiên nhiên ngày càng có qui mô lớn hiện đại.

- Nhịp độ sản xuất và tiêu dùng tăng nhanh làm mất cân bằng tự nhiên và môi trƣờng.

- Sự biến đổi sâu sắc về phƣơng diện lý, hóa của các thành phần tự nhiên trái đất diễn ra

mạnh mẽ.

- Sự tăng nhanh quá trình đô thị hóa làm cho hậu quả đa dạng diễn ra với môi trƣờng

xung quanh.

Chính từ đó mà phải đặt ra vấn đề bảo vệ môi trƣờng, bảo đảm sự tồn tại và phát triển

của loài ngƣời trên trái đất. Những vấn đề đặt ra cho khoa học địa lý những nhiệm vụ lớn lao:

+ Phải nghiên cứu toàn diện những tác động của xã hội với môi trƣờng tự nhiên xung

quanh.

+ Tăng cƣờng phát hiện đánh giá khối lƣợng tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho sự phát

triển của xã hội.

16

+ Phát triển và thực hiện kế hoạch phân bố hợp lý sản xuất theo lãnh thổ, phân bố dân cƣ

phù hợp để giảm bớt sự tổn hại đến môi trƣờng, góp phần nâng cao chất lƣợng môi trƣờng.

+ Lập kế hoạch tổng thể khai thác, cải tạo môi trƣờng tự nhiên một cách hợp lý, đảm bảo

nâng cao chất lƣợng và điều kiện sống của con ngƣời.

Tất cả những nội dung này cần phải đƣa vào giáo dục cho học sinh, cho thế hệ tƣơng lai

của đất nƣớc qua môn địa lý. Tuy nhiên, để phù hợp với tính chất và trình độ của các đối tƣợng

học sinh, kiến thức phải đƣợc lồng ghép, tích hợp vào từng bài theo hệ thống thì hiệu quả giáo

dục mới đạt đƣợc theo mong muốn.

III. Việc đưa nội dung môi trường và giáo dục môi trường vào chương trình

sách giáo khoa phổ thông

Khái niệm môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng, nó chứa đựng trong đó các mối quan hệ

bên trong và bên ngoài. Vì vậy, ở mỗi môn học, khái niệm môi trƣờng, bảo vệ môi trƣờng phải

đƣợc khai thác theo các khía cạnh riêng biệt của từng môn học. Việc hình thành những khái

niệm nhƣ vậy không chỉ phụ thuộc vào môn học nào mà nó có sự tham gia của nhiều môn học.

Theo chƣơng trình cải cách giáo dục của các bộ môn hiện nay, thì việc đƣa giáo dục bảo vệ môi

trƣờng vào nhà trƣờng các cấp cần phải dựa trên những kiến thức sẵn có trong chƣơng trình bộ

môn để khai thác, lồng ghép, tích hợp cho phù hợp. Kiến thức đƣa vào phải có hệ thống từ thấp

đến cao, từ đơn giản đến phức tạp phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh từng cấp học,

không làm ảnh hƣởng đến khả năng nhận thức của học sinh, không ảnh hƣởng đến thời lƣợng

qui định cho môn học. Những kiến thức đó phải đƣợc cập nhật hóa, có thể liên hệ ngay với thực

tế cuộc sống đang diễn ra nơi các em học, sinh sống, vui chơi giải trí...

IV. Giáo dục môi trường và bảo vệ môi trường cho học sinh cấp II và III qua

môn Địa lý

Chƣơng trình giảng dạy địa lý cấp II và III ở nƣớc ta hiện nay đƣợc soạn thảo theo các

nội dung cho từng lớp học, cấp học, nó bao gồm: Địa lý tự nhiên đại cƣơng, địa lý kinh tế các

nƣớc trên thế giới,

17

địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam và cả phần địa lý địa phƣơng, tỉnh huyện...

- Địa lý tự nhiên đại cƣơng nghiên cứu các qui luật tự nhiên trên cơ sở những hoạt động

theo qui luật tự nhiên của các thành phần cấu trúc trái đất (địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ

nhƣỡng, sinh vật...). Từ những khái niệm có tính qui luật của các thành phần tự nhiên đã đƣợc

xác định, các quốc gia trên thế giới thực hiện việc nghiên cứu, nắm bắt những qui luật đó trên

lãnh thổ quốc gia mình để khai thác, sử dụng vào mục đích phục vụ cho lợi ích của con ngƣời.

Các thành phần tự nhiên đó luôn luôn tồn tại phát triển, đó cũng chính là môi trƣờng sống của

sinh vật (Trong đó con ngƣời là tầng lớp động vật cao đẳng).

- Phần địa lý kinh tế - xã hội của các nƣớc nói chung và Việt Nam nói riêng, khi nghiên

cứu về tổ chức lãnh thổ sản xuất xã hội, không thể không đề cập đến các hình thức, biện pháp,

họat động của con ngƣời trên lãnh thổ nói chung và tác động đến từng thành phần của môi

trƣờng nói riêng. Sự tác động đó làm cho các thành phần của môi trƣờng biến đổi theo hai

hƣớng: Tiêu cực và tích cực.

Rõ ràng việc giảng dạy địa lý và giáo dục môi trƣờng, bảo vệ môi trƣờng có mục đích

khác nhau, nhƣng lại có cùng đối tƣợng nghiên cứu, tác động. Vì vậy, những kiến thức địa lý

cũng chính là những kiến thức môi trƣờng và việc giáo dục bảo vệ môi trƣờng cũng chính là

giảng dạy địa lý cho học sinh cấp II và III.

Quá trình giáo dục môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng qua môn địa lý cần đƣợc khai thác

cụ thể vào từng bài trong chƣơng trình địa lý cấp II và III hiện hành ở Việt Nam.

CHƢƠNG III: KHAI THÁC NỘI DUNG KIẾN THỨC MÔI TRƢỜNG VÀ

BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG SÁCH GIÁO KHOA ĐỊA LÝ CẤP II VÀ III

Ở VIỆT NAM.

Theo phân chia hiện nay của ngành giáo dục Việt Nam:

- Cấp II (còn gọi là cấp trung học cơ sở) từ lớp 6 đến lớp 9.

- Cấp III (còn gọi là phổ thông trung học) từ lớp 10 đến lớp 12.

18

I. Nội dung kiến thức giáo dục môi trường và bảo vệ môi trường qua môn

Địa lý cấp II

I.1 - Ở lớp 6:

Chƣơng trình lớp 6 hiện hành, học sinh đƣợc học một giáo trình đơn giản về địa lý đại

cƣơng dƣới hình thức các khái niệm mở đầu về địa lý. Giáo trình này đề cập đến một số kiến

thức chung về bản đồ, về trái đất, về các quyển của nó (cũng là các thành phần tự nhiên của lãnh

thổ) và về các hoạt động sản xuất của con ngƣời (cũng là các hình thức tác động của con ngƣời

vào môi trƣờng tự nhiên).

Qua giáo trình này, về mặt địa lý, học sinh sẽ nắm bắt đƣợc một số khái niệm cơ bản về

địa lý tự nhiên và kinh tế, hiểu đƣợc một số mối quan hệ nhân quả giữa các sự vật và hiện tƣợng

địa lý thông thƣờng xảy ra ở xung quanh các em, nhƣng đồng thời cũng hiểu và làm quen với

các thành phần của môi trƣờng, cũng nhƣ các mối quan hệ giữa chúng. Đó cũng là cơ sở để các

em hiểu rõ hơn tại sao phải bảo vệ môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng thì phải làm những gì ?

Trong bài mở đầu: Mục đích chính của bài này là làm cho học sinh ngay từ đầu năm học

đã nắm bắt đƣợc mục đích, nội dung cũng nhƣ phƣơng pháp học lập tập giáo trình địa lý đại

cƣơng ở lớp học đầu cấp. Điều quan trọng nhất là giáo viên phải làm cho học sinh có hứng thú

với môn học mới. Về nội dung, giáo viên cần nêu lên đƣợc vai trò của con ngƣời trong việc bảo

vệ và cải tạo tự nhiên, hạn chế những mặt không thuận lợi và phát huy những mặt thuận lợi của

nó để sản xuất ra nhiều của cải cho xã hội.

Chương 3 : Cấu tạo của trái đất và địa hình.

Trong hai bài 11 và 12, khi nói đến các thiên tai xảy ra do nội lực (núi lửa và động đất),

giáo viên có thể nêu lên tình hình phòng chống (hiện tại, bảo vệ tính mạng và tài sản con ngƣời

nhƣ một khía cạnh của vấn đề giáo dục bảo vệ môi trƣờng, làm cho học sinh nắm đƣợc các quy

luật chung của môi trƣờng và đề phòng những hậu quả xấu do môi trƣờng gây ra.

Trong các bài 14, 15, 18 với những kiến thức về tài nguyên khoáng sản ở núi, đồng

bằng, cao nguyên... giáo viên có thể bổ sung về việc sử dụng hợp lý cũng nhƣ việc bảo vệ các

nguồn tài nguyên, khoáng sản, nói chung và ở nƣớc ta nói riêng.

19

Chương 4 : Lớp nƣớc trên trái đất.

Vấn đề giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong chƣơng này đƣợc đặt ra khá rõ. Đặc biệt là các

bài 24 và 29 là những bài nên đƣợc trực tiếp các vấn đề sử dụng hợp lý, bảo vệ nguồn nƣớc

biển, nguồn sinh vật biển, tác dụng của các sông ngòi đến nông nghiệp, giao thông vận tải phát

triển thủy điện... Ngoài ra các bài đọc thêm ở các bài 20, 24, 26 và 29 cũng là những bài có đề

cập đến nội dung môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng mà giáo viên cần khai thác.

Chương 5 : Lớp không khí trên trái đất.

Cũng nhƣ chƣơng IV, chƣơng khí quyển có những vấn đề môi trƣờng và giáo dục môi

trƣờng khá rõ rệt. Vì nội dung của chƣơng qua nhiều, nên vấn đề chống ô nhiễm và bảo vệ sự

trong sạch của khí quyển không thể đƣa thành một bài học chính thức mà phải đƣa dƣới dạng

bài đọc thêm bổ sung cho nội dung bài 30.

Hai bài 31 và 32 đề cập đến hai khái niệm thời tiết và khí hậu. Phần thời tiết và khí hậu

đối với sản xuất nông nghiệp có nội dung giáo dục và bảo vệ môi trƣờng. Phần này giáo viên có

thể mở rộng nội dung: Ảnh hƣởng của thời tiết và khí hậu đến các mặt sinh họat, giao thông vận

tải, các biện pháp phòng chống, cải tạo khí hậu.

Các bài từ 33 đến 41 đề cập đến các yếu tố thời tiết khí hậu (nhiệt độ, khí áp, gió mƣa...)

và các kiểu thời tiết. Khi giảng dạy, giáo viên có thể bổ sung và nói rõ thêm. Ví dụ: Trong bài

về nhiệt độ, ngoài ý đã có nhƣ: về mùa hạ, ngƣời ta thƣờng lên các núi cao để nghỉ mát, giáo

viên có thể nói thêm việc sử dụng hợp lý điều kiện nhiệt độ cao của nƣớc ta trong nông nghiệp,

việc khắc phục nhiệt độ cao trong sinh hoạt bằng các phƣơng tiện hiện đại nhƣ máy điều hòa

nhiệt độ...

Trong bài 36: Gió mùa ở nƣớc ta và các loại gió khác. Ngoài các ý gió mùa ảnh hƣởng

đến sinh hoạt của nhân dân, bão gây nhiều tổn thất đối với sản xuất và sức khỏe của con

ngƣời..., đây cũng là những vấn đề rút ra trong điều kiện thực tế môi trƣờng ở nƣớc ta. Đối với

các bài 38, 39 nói về mƣa và sự phân bố lƣợng mƣa trên trái đất cũng vậy. Cùng với các bài đọc

thêm, giáo viên có thể bổ sung thêm các ý về ảnh hƣởng của lƣợng mƣa trên trái đất cũng vậy.

Cùng với các bài đọc thêm, giáo viên có thể bổ sung thêm các ý về ảnh hƣởng của lƣợng mƣa

đối với sản xuất, sinh hoạt , về các biện pháp phòng chống biện pháp phòng chống hạn hán ,

sƣớng muối mƣa đá...

20

Chương 6 : Lớp đất trồng .

Các kiến thức trong chƣơng này hầu hết đều là những kiến thức bảo vệ môi trƣờng, 3 bài

trong toàn chƣơng không chú ý đi sâu vào các kiến thức về thổ nhƣỡng, mà chỉ đề cập đến các

kiến thức về tính chất đặc điểm của thổ nhƣỡng, về các vấn đề sử dụng cải tạo về bảo vệ thổ

nhƣỡng. Cả 3 bài này đều có nội dung thích hợp với việc giáo dục bảo vệ môi trƣờng. Bài 42

nêu lên ý bảo vệ độ phì của đất. Bài 43 nêu lên vấn đề bảo vệ đất chống các hiện tƣợng xói

mòn, rửa trôi... Còn bài 44 lại đề cập đến việc sử dụng hợp lý, cải tạo và bồi dƣỡng đất trồng ...

Chương 7: Lớp vỏ địa lý và các cảnh quan trên trái đất.

Chƣơng này có 3 bài ( 45, 46, 47 ) thì 2 bài 45 và 46 có nhiều nội dung giáo dục bảo vệ

môi trƣờng, trong bài 45, phần nói về ảnh hƣởng của con ngƣời đối với sự phân bố động thực

vật trên trái đất, thực chất là vấn đề bảo vệ các động thực vật quý hiếm ở trên thế giới nói chung

và ở Việt Nam nói riêng. Trong bài 46, khi nói về mối quan hệ giữa các thành phần của lớp vỏ

địa lý và tác động của con ngƣời trong lớp vỏ địa lý, giáo viên có thể sử dụng mở thêm ý: con

ngƣời có khả năng làm biến đổi tự nhiên một cách mạnh mẽ để nói rõ hơn vấn đề bảo vệ môi

trƣờng .

Chương 8: Con ngƣời trên trái đất và các hoạt động kinh tế

Khi nói về ảnh hƣởng của sự gia tăng dân số quá nhanh làm cho việc cung cấp lƣơng

thực, thực phẩm và bảo đảm đời sống cho nhân dân trở nên khó khăn, giáo viên có thể bổ sung

thêm: Ảnh hƣởng của sự gia tăng dân số đối với môi trƣờng .

Khi đề cập đến vấn đề loài ngƣời khai thác thiên nhiên, các hoạt động kinh tế . Con

ngƣời từ xƣa đã biết khai thác, sử dụng cải tạo tự nhiên, giáo viên có thể bổ xung thêm một số ý

nhƣ: Khai thác và sử dụng thiên nhiên hợp lý, tránh lãng phí gây những thiệt hại cho môi trƣờng

cần phải chú ý vấn đề bảo vệ thiên nhiên .

Khi nói về các hình thức nông nghiệp, cần nhấn mạnh làm cho học sinh nhận thức dƣợc

rằng: Hình thức canh tác đốt rừng, làm rẫy là hoạt động nông nghiệp ở trình độ thấp, có hại cho

môi trƣờng, còn thâm canh là hình thức sản xuất nông nghiệp đi đối với cải thiện và bảo vệ môi

trƣờng .

Trong các bài về công nghiệp, giao thông vận tải, giáo viên cần nêu lên ý nghĩa của việc

xử lý chất thải, việc chống ô nhiễm môi trƣờng nƣớc, không khí ...

21

Cuối cùng, trong bài kết luận của toàn bộ giáo trình, việc sử dụng ý thức bảo vệ môi

trƣờng cũng đƣợc củng cố thêm một lần nữa trong phần cuối của bài với các ý:

a. Cần phải biết khai thác, sử dụng thiên nhiên một cách đúng đắn có hiệu quả phục vụ

cho lợi ích con ngƣời .

b. Nếu khai thác sử dụng tự nhiên một cách bữa bãi mà không tính đến những hậu quả

xảy ra thì có thể dẫn đến việc phá hoại tự nhiên một cách nghiêm trọng, gây nhiều tai hại cho

việc xây dựng kinh tế của đất nƣớc .

Vì vậy: Chúng ta phải đối xử tốt với tự nhiên một cách đúng đắn và hãy sử dụng nó nhƣ

thế nào để có lợi nhất cho cuộc sống .

I.2.Ở lớp 7

Chƣơng trình địa lý lớp 7 phổ thông hiện nay về điạ lý các châu bao gồm cả phần địa lý

tự nhiên và phần dân cƣ kinh tế - xã hội . Do vậy, bộ môn này có nhiều khả năng giáo dục cho

học sinh ý thức bảo vệ môi trƣờng. Có thể sử dụng qua sách giáo khoa địa lý ở lớp 7 những kiến

thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng sau đây :

Đặc điểm địa lý tự nhiên, dân cƣ, sự khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên vào việc phát

triển kinh tế của các khu vực, các nƣớc khác nhau trên thế giới.

Những biến đổi của môi trƣờng do hoạt động của con ngƣời ở các khu vực các nƣớc:

+ Theo chiều hƣớng xấu: Môi trƣờng bị ô nhiễm, phá hủy tài nguyên bị cạn kiệt.

+ Theo chiều hƣớng tốt: Môi trƣờng đƣợc bảo vệ và cải tạo, giàu có phong phú hơn .

Những vấn đề đặt ra về việc sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng ở mỗi khu vực

mỗi nƣớc.

Giáo dục ý thức trách nhiệm góp phần vào việc bảo vệ môi trƣờng của đất nƣớc và của

hành tinh trái đất .

A - CHÂU ÂU

Bài: Vị trí điạ lý và các điều kiện tự nhiên của Châu Âu.

22

1 - Đặc điểm môi trƣờng tự nhiên Châu Âu

Châu Âu là một châu lục nhỏ, đại dƣơng và biển bao quanh, nhiều sông lớn đổ ra biển

(Enbơ, Rainơ, Xen, Loa, Ebrơ), Châu Âu gồm những nƣớc có nền công nghiệp phát triển, do

vậy cần chú ý đến sự nhiễm bẩn đại dƣơng thế giới do nƣớc thải của các khu công nghiệp và các

tàu chở dầu .

2- Mối quan hệ giữa vị trí địa lý, địa hình khí hậu, sông ngòi, động thực vật đã làm cho

Châu Âu có sự khác biệt lớn giữa các khu vực: Bắc Âu, Tây và Trung Âu, Nam Âu về cảnh

quan tự nhiên về các thành phần của nó. Vì vậy, ở mỗi khu vực có những vấn đề riêng về sử

dụng và bảo vệ môi trƣờng.

Bài: Dân cư và bản đồ chính trị Châu Âu.

- Châu Âu có mặt độ dân cơ cao nhất trong các Châu lục. Tuy nhiên sự phân bố dân cƣ

không đồng đều, tập trung ở các vùng công nghiệp và đầu mối giao thông quan trọng, hình

thành các trung tâm công nghiệp đô thị, nảy sinh vấn đề ô nhiễm môi trƣờng.

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vào các loại thấp nhất. Cứ trung bình 1000 dân thì mỗi năm

tăng thêm 6 ngƣời, trong khi đó Châu Á là 19 ngƣời , Châu Phi 30 ngƣời . Dân số ổn định là

một điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế.

Bài: Điều kiện tự nhiên của Bắc Âu. Dân cư và kinh tế các nước Bắc Âu.

Việc bảo vệ rừng của các nƣớc Bắc Âu và lợi ích kinh tế.

Rừng ở Phần Lan còn 70% diện tích lãnh thổ. Thụy Điển còn 55% diện tích. Đây là

những nƣớc sớm có luật lệ bảo vệ rừng, tỷ lệ rừng hiện nay vào loại nhiều nhất thế giới. Sản

phẩm gỗ mang lại cho Phần Lan 1/5 thu nhập quốc dân và chiếm 2/5 khối lƣợng hàng xuất khẩu

của Thụy Điển (15- 16 ).

Bài: Điều kiện tự nhiên của Tây và Trung Âu.

Sự ô nhiễm sông, ngòi khu vực do sự phát triển công nghiệp của Thụy Sỹ, Cộng hòa

Liên Bang Đức và Pháp, Hà Lan, có lƣu lƣợng giao thông vận chuyển lớn nhất châu Âu . Vì thế,

Rainơ là một trong những con sông bị nhiễm bẩn nghiêm trọng nổi tiếng thế giới.

Ảnh hƣởng của việc phá rừng đối với khí hậu, đất đai Trung Âu

Bài: Dân cư, kinh tế, chính trị các nước Tây Âu và Trung Âu

Là khu vực đông dân cƣ nhất châu Âu, nhƣng tỷ lệ gia tăng dân số lại vào loại thấp nhất

châu Âu và thế giới (Anh , Bỉ , Lúcxambua: 0,1 %; Áo, Hung: 0,0% . Khu vực Tây và Trung

Âu tập trung nhiều

23

nƣớc tƣ bản chủ nghĩa phát triển cao, công nghiệp là ngành kinh tế phát triển nhất và đạt trình

độ cao. Đồ thị phát triển mạnh (dân thành thị chiếm tỷ lệ cao: Anh 77%, Cộng Hoà Liên Bang

Đức, Hà Lan: 88% ). Nhiều vùng công nghiệp lớn: Luân đôn, Rua. Dân số ổn định nền kinh tế

phát triển cao, nhƣng hậu quả tác động đến môi trƣờng theo chiều hƣớng xấu: Nhiễm bẩn không

khí, các vùng chứa nƣớc do sự phát triển mạnh của nền công nghiệp tƣ bản chủ nghĩa và sự đô

thị hóa.

Bài: Miền đồng bằng phía bắc của khu vực Tây và Trung Âu

1. Giá trị kinh tế và tình hình sử dụng các loại đất trồng của đồng bằng.

2. Việc cải tạo đất xấu, xây dựng đê biển của nhân dân Hà Lan để chống sụt lún miền

ven biển Bắc Hải, việc sử dụng nguồn năng lƣợng gió để chạy các máy bơm tiêu nƣớc.

Bài: Miền núi già của khu vực Tây và Trung Âu.

1. Tài nguyên khoáng sản và sự phát triển công nghiệp trong khu vực.

2. Mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên và sự phát triển kinh tế khác nhau giữa các nƣớc

trong khu vực: Anh, Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng Hòa Séc và Slovakia ).

Bài: Miền núi trẻ của khu vực Tây và Trung Âu.

1. Đặc điểm môi trƣờng tự nhiên của vùng núi Anpơ và Cácpat đối với sự phát triển du

lịch của hai nƣớc Áo và Thụy sỹ.

2. Đặc điểm môi trƣờng tự nhiên vùng bình nguyên sông Đanuyp với sự phát triển nông

nghiệp của hai nƣớc Hungaria và Rumania.

Bài : Khu vực Nam Á.

1. Điều kiện tự nhiên của khu vực Nam Âu. Hậu quả của việc phá rừng đối với môi

trƣờng Nam Âu. Phần lớn diện tích là núi và cao nguyên, khí hậu cận nhiệt đới khô: Mƣa rào

vào muà đông, nóng khô vào mùa hè . Trong điều kiện rừng bị phá, đất bị rửa trôi, sƣờn đồi trơ

trụi, nƣớc sông lên nhanh gây lũ lụt.

2. Các biện pháp sử dụng và cải tạo tự nhiên: Làm ruộng bậc thang trên các sƣờn núi,

tƣới nƣớc, sử dụng đồng cỏ núi cao để chăn thả theo mùa.

Bài : Các nước Nam Âu

Ảnh hƣởng của điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên đối với sự phát triển kinh tế

khác nhau giữa Bắc và Nam Ý.

24

Bài : Điều kiện phát triển tự nhiên khu vực Đông Âu.

Sự phân hóa tự nhiên trong khu vực. Nêu thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng kinh

tế mỗi vùng. Những vùng cần cải tạo. Ví dụ về công trình cần cải tạo.

Bài : Tổng kết ôn tập về Châu Âu. Những vấn đề sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi

trường ở Châu Âu.

- Nghiêm trọng nhất là sự ô nhiễm môi trƣờng do sự phát triển của nền công nghiệp tƣ

bản chủ nghĩa và tập trung đô thị hóa, đặc biệt là các nƣớc tƣ bản phát triển của khu vực Tây và

Trung Âu.

- Sự hoang hóa, thoái hóa đất đai kèm theo những hậu quả khác của vùng Trung Âu và

Nam Âu.

- Những mặt thuận lợi: tỷ lệ tăng dân số thấp, không chịu hậu quả chiến tranh, bảo vệ

rừng (các nƣớc Bắc Âu). Xây dựng cảnh quan du lịch (Áo, Thụy Sỹ ) cải tạo tự nhiên (Hà Lan),

khai phá, cải tạo đất, chọn giống cây trồng thích hợp trên các bình nguyên Nam Âu.

B- CHÂU Á.

Bài: Đặc điểm vị trí địa lý và địa hình Châu Á

Đặc điểm khí hậu, thực vật, sông hồ Châu Á - Là một châu lục kín nhất (43,5 triệu km2) gấp 4 lần châu Âu.

- Nhiều vùng xa biển, nơi xa nhất tới 2500km.

- Núi, cao nguyên chiếm 3/4 diện tích, phần lớn thuộc loại núi cao và đồ sộ nhất thế giới.

- Vành đai uốn nếp chạy dọc phía Đông châu lục, vùng bất ổn nhất của vỏ trái đất,

thƣờng xuyên có hiện tƣợng động đất và núi lửa.

Ảnh hƣởng của vị trí điạ lý, địa hình đối với sự phân hóa khí hậu. Khí hậu phân hóa

thành hai vùng rõ rệt: Khí hậu lục địa đối với đới tài nguyên khô, hoang mạc, nửa hoang mạc

thuộc phần Tây châu lục. Cần cải tạo để sử dụng đới hoang mạc, nửa hoang mạc, thảo nguyên

khô phần Tây châu lục.

Bài: Dân cư và bản đồ chính trị Châu Á.

Châu Á là châu lục đông dân nhất, chiếm 58% dân số thế giới. Dân số tăng nhanh, nhịp

độ tăng dân số ngày càng cao, tỷ lệ gia tăng dân số hiện nay ở một số vùng Đông Nam Á, Nam

Á vƣợt quá 2% chỉ sau châu Phi. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng đói

nghèo ở nhiều nƣớc. Phần lớn các nƣớc thuộc châu Á có nền kinh tế kém phát triển, nông

nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu. Giảm tỷ lệ

25

tăng dân số là một trong những biện pháp nhằm nâng cao mức sống và bảo vệ môi trƣờng của

châu lục.

Bài: Khu vực Trung Á.

Là khu vực cao nhất và xa biển nhất của châu Á. Vị trí ở sâu trong nội địa và địa hình có

núi cao chắn gió từ các đại dƣơng làm cho khí hậu của khu vực này mang tính chất địa lục sâu

sắc. Điều kiện khí hậu nhƣ vậy nên phần lớn đất đai vùng Trung Á là thảo nguyên khô và hoang

mạc, dân cơ thƣa thớt, số lớn làm nghề chăn nuôi du mục. Sự phát triển kinh tế của đất nƣớc

Mông Cổ là một ví dụ về cải tạo và sử dụng vùng thảo nguyên hoang dã.

Bài: Khu vực Đông Á.

- Những khó khăn về điều kiện tự nhiên của Nhật Bản.

- Những công trình cải tạo tự nhiên của Nhất Bản để trở thành một cƣờng quốc giàu và

đẹp

Bài: Khu vực Nam Á.

Điều kiện tự nhiên của khu vực Đông Nam Á. Ảnh hƣởng của khí hậu đối với sản xuất

nông nghiệp và những biện pháp cải tạo thiên nhiên trong sản xuất nông nghiệp của các nƣớc

Đông Nam Á. Ngày nay, nhiều công trình thủy lợi, hồ chứa nƣớc, kênh đào mƣơng máng đƣợc

xây dựng đã giảm bớt đƣợc phần nào sự lệ thuộc vào thiên nhiên.

Bài: Dân cư và bản đồ chính trị khu vực Nam Á. Đặc điểm dân cƣ và vấn đề môi trƣờng khu vực Nam Á. Diện tích khoảng 4 triệu km2 với dân 954 triệu, đây là một trong những vùng đông dân cƣ nhất châu Á , Nam Á có tỷ lệ gia

tăng dân số cao, thuộc các nƣớc đang phát triển, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn. Hiện nay Nam

Á là một trong những vùng đói của địa cầu. Ấn Độ là nƣớc đang phát triển nhất của khu vực, đã

có những biện pháp trong cuộc cách mạng xanh để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp.

Bài: Khí hậu thực vật Đông Nam Á.

Vấn đề canh tác và bảo vệ môi trƣờng Đông Nam Á.

Khí hậu Đông Nam Á quanh năm nóng và mƣa nhiều thuận lợi cho thực vật phát triển

mạnh. Kiểu canh tác đốt nƣơng làm rẫy hiện nay còn tồn tại ở một số vùng Đông Nam Á làm

thu hẹp mau chóng diện tích rừng nhiệt đới ở khu vực này và gây hậu quả xấu đối với môi

trƣờng.

Bài: Khu vực Tây Nam Á

Điều kiện tự nhiên Tây Nam Á và vấn đề đặt ra về bảo vệ môi trƣờng. Tây Nam Á rộng

trên 7 triệu km2, là một khu vực nhiều núi,

26

cao nguyên. Chịu ảnh hƣởng của gió mùa mậu dịch ở nửa cầu Bắc thổi từ lục địa ra, lại có nhiều

núi bao quanh nên gần nhƣ toàn bộ khu vực này có khí hậu khô hạn, phần lớn diện tích là thảo

nguyên, nửa hoang mạc và hoang mạc đá hoặc hoang mạc cát.

Nền kinh tế nông nghiệp Tây Nam Á. Đại bộ phận làm nông nghiệp trồng lúa gạo, lúa

màu... còn lại nghề chăn nuôi du mục, đƣa đàn gia súc dê cừu đi kiếm cỏ nay đây mai đó trên

các thảo nguyên và nửa hoang mạc.

Nuôi gia súc theo lối chăn thả du mục là một trong những nguyên nhân làm suy thoái đất

đai, gây nên những trận bão bụi, bão cái lớn vùng Tây Nam Á.

Vấn đề dầu mỏ ở khu vực Tây Nam Á và sự ô nhiễm môi trƣờng. Nguồn tài nguyên lớn

nhất của khu vực này là dầu mỏ. Cuộc chiến tranh dầu mỏ giữa các nƣớc trong vùng vịnh Péc-

xích đã làm thiệt hại to lớn nguồn lợi này, đồng thời làm ô nhiễm nghiêm trọng các vùng chứa

nƣớc và bầu không khí.

Tổng kết ôn tập về châu Á.

Bài: Những vấn đề về sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường ở châu Á.

Nghiêm trọng nhất là sự gia tăng dân số qua nhanh ở các nƣớc thuộc vùng Nam Á và

Đông Nam Á. Phần lớn là những nƣớc nông nghiệp có nền kinh tế chậm phát triển, còn tồn tại

lối sống du canh, du cƣ, đốt rừng làm nƣơng rẫy, diện tích rừng nhiệt đới bị thu hẹp nhanh

chóng, đất đai bị xói mòn, hoang hóa. Đây lại là khu vực có khí hậu nhiệt đới ẩm. Khi rừng bị

tiêu diệt, cân bằng sinh thái bị phá vỡ, tai họa về mặt môi trƣờng đang kêu cứu là sự khủng

hoảng sinh thái. Dân số tăng nhanh, đất trồng trọt bị thu hẹp, sự thiếu lƣơng thực, thực phẩm

dẫn đến nạn đói đang đe dọa nhiều nƣớc trong khu vực.

Trung Á, Tây Nam Á là những vùng đất khô cằn, phần lớn thuộc đới rừng thảo nguyên

khô, hoang mạc, nửa hoang mạc đất đai khô cằn, cần có biện pháp cải tạo.

C- CHÂU MỸ.

Bài: Vị trí địa lý và đặc điểm của châu Mỹ.

Đặc điểm môi trƣờng tự nhiên và tài nguyên châu Mỹ. Tình hình sử dụng các tài nguyên

đó.

27

Bài: Dân cư châu Mỹ.

- Tình hình phát triển dân số ở châu Mỹ. Sự khác nhau giữa Bắc và Nam Mỹ.

- Vai trò của ngƣời Anh Điêng trong việc sử dụng và thuần hóa các giống cây trồng và

cải tạo thiên nhiên trong việc phát triển kinh tế.

- Sự phát triển dân số ở châu Mỹ không đồng đều. Bắc Mỹ (Hoa Kỳ và Canada) tỷ lệ gia

tăng tự nhiên hàng năm thấp, khoảng 0,8%, các nƣớc còn lại tỷ lệ tăng khá cao, khoảng 2,3%.

Điều đó làm ảnh hƣởng đến sự phát triển kinh tế khác nhau giữa các nƣớc.

Bài: Bản đồ chính trị và tình hình kinh tế châu Mỹ.

Ở châu Mỹ sự phát triển kinh tế cũng không đồng đều.

Châu Mỹ Ănglôxácxông (gồm Hoa Kỳ và Canada) là khu vực kinh tế phát triển cao, trái

lại các nƣớc Mỹ - La Tinh lại là những nƣớc chậm phát triển, nền kinh tế dựa vào nền nông

nghiệp là chính. Nền nông nghiệp của các nƣớc châu Mỹ - La Tinh chủ yếu sản xuất độc canh,

chuyên môn hóa lệch lạc. Các nƣớc này trở thành nơi cung cấp nông sản, nguyên liệu và là nơi

tiêu thụ hàng hóa cho các nƣớc phát triển ( đặc biệt là Hoa Kỳ ).

Bài: Khu trung tâm của đại lục Bắc Mỹ: Hoa Kỳ.

Những vấn đề đặt ra để bảo vệ môi trƣờng của Hoa Kỳ là sự ảnh hƣởng của địa hình đối

với sự phân hóa khí hậu và tự nhiên của các khu vực.

Việc bảo vệ và phục hồi rừng ở phía đông và việc sử dụng, cải tạo khu vực nửa hoang

mạc ở phía Tây.

Bài: Tổ chức xã hội và kinh tế ở Hoa Kỳ:

- Ở các trung tâm công nghiệp và các đô thị lớn, khói và chất thải của các nhà máy làm

cho không khí và nguồn nƣớc bị ô nhiễm nặng nề.

- Ở các vùng sản xuất quảng canh trên đồng bằng lớn ( khu vực trung tâm ) hàng triệu ha

đất đã bị xói mòn và thoái hóa.

Bài: Khu Đông của châu Mỹ - La tinh:

Vùng đồng bằng Amazon rộng lớn, thấp, bằng phẳng, khí hậu xích đạo nóng ẩm quanh

năm. Toàn bộ đồng bằng đƣợc phủ kín rừng nhiệt đới ẩm với các chủng loại động, thực vật

phong phú. Rừng Amazôn cần đƣợc bảo vệ với ý nghĩa khoa học, tài nguyên sinh vật và nó còn

đƣợc coi là lá phổi của hành tinh chúng ta.

28

Tóm lại: Vấn đề sử dụng và bảo vệ môi trƣờng ở châu Mỹ là:

- Những vùng có khí hậu khắc nhiệt cần cải tạo: Khu Bắc đại lục Bắc Mỹ có mùa đông

lạnh kéo dài, băng tuyết thƣờng xuyên bao phủ. Khu trung tâm thuộc Hoa Kỳ, rừng đã bị tàn

phá, khí hậu nóng và khô. Vùng Bắc Mehicô là vùng hoang mạc, khí hậu khô khan khắc nhiệt.

- Sự ô nhiễm môi trƣờng ở những nơi đô thị và khu công nghiệp lớn, nhất là ở Hoa Kỳ.

- Tài nguyên sinh vật và ý nghĩa khoa học của việc bảo vệ vùng đồng bằng Amazôn...

D- CHÂU PHI

Bài: Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của châu Phi.

Đặc điểm địa lý tự nhiên, tài nguyên châu Phi và những vấn đề đặt ra về sử dụng bảo vệ

môi trƣờng.

Toàn bộ châu lục là những cao, sơn nguyên khổng lồ cao thấp khác nhau, xen kẽ là

những bồn địa.

- Ít núi cao và ít đồng bằng thấp.

- Khí hậu nóng và khô vào bậc nhất thế giới.

- Các hoang mạc nằm trong đới khí hậu chí tuyến: Xahara, Calahari, Namíp.

- Có nguồn khoáng sản phong phú: Vàng, kim cƣơng, kim loại phóng xạ (cô ban, uran)

đứng hàng đầu thế giới về trữ lƣợng và sản lƣợng khai thác.

- Dầu mỏ, khí đối, sắt, đồng cũng có trữ lƣợng lớn.

Bài: Dân cư và bản đồ chính trị châu Phi.

Dân số châu Phi ngày nay phát triển khá nhanh. Tỷ lệ gia tăng hàng năm là 3%, vào loại

cao nhất thế giới. Sự thống trị lâu dài của chế độ thực dân đã kìm hãm châu Phi trong đói

nghèo, lạc hậu. Đó là những nguyên nhân kìm hãm sự phát triển kinh tế ở châu Phi và dẫn tới

những nạn đói ở các nƣớc châu Phi.

Bài: Đặc điểm kinh tế châu Phi.

Tác hại của lối canh tác du canh, du mục trong nền kinh tế châu Phi.

- Điều kiện tự nhiên của châu Phi nói chung có nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế,

song nền kinh tế của hầu hết các nƣớc châu Phi còn trong tình trạng kém phát triển.

29

- Việc trồng trọt theo kiểu nƣơng rẫy còn khá phổ biến. Lối trồng trọt du canh và chăn nuôi du mục nhƣ vậy cho năng suất thấp, đồng thời làm cho đất đai bị xói mòn, thoái hóa nhanh

chóng.

Nền kinh tế các nƣớc đều đi vào sản xuất chuyên môn hóa lệch lạc, mất cân đối... Đã từ

lâu các nƣớc châu Phi đã trở thành nơi cung cấp nguyên liệu và là nơi tiêu thụ hàng hóa cho các nƣớc tƣ bản.

Tổng kết: Những vấn đề về sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng ở châu Phi. - Nền kinh tế các nƣớc châu Phi phần lớn trong tình trạng lạc hậu, thấp kém, châu Phi là

khu vực đói của địa cầu. Nguyên nhân: Sự gia tăng dân số với nhịp độ cao, tỷ lệ tăng dân hàng năm cao nhất thế giới ( 3% )

- Nông nghiệp lạc hậu, vẫn còn nhiều nơi duy trì lối sống du canh, du cƣ. - Nền kinh tế phụ thuộc tƣ bản nƣớc ngoài: Cung cấp khoáng sản và tiêu thụ hàng hóa

cho các nƣớc tƣ bản.

- Cần phải bảo vệ những khu rừng nhiệt đới ở Tây Phi, Đông Phi và phần đông của Nam

Phi. Bảo vệ thế giới động vật phong phú của Xavan châu Phi: Sơn dƣơng, ngựa vằn, hƣơu cao cổ, sƣ tử. Cải tạo và sử dụng hoang mạc của châu Phi.

- Bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên khoáng sản giàu có ở Đông và Nam Phi.

E- CHÂU ĐẠI DƢƠNG

Bài: Đặc điểm tự nhiên đại lục Ôxtrâylia. Điều kiện tự nhiên và vấn đề cải tạo môi trƣờng

- Do nằm ở chí tuyến, lại bị dãy đông Ôxtrâylia chắn gió từ đại dƣơng thổi vào, Ôxtrâylia là một đại lục khô hạn nhất thế giới "phần lớn đất đai và vùng trung tâm đại lục có

lƣợng mƣa hàng năm dƣới 300 ly, hoang mạc và bán hoang mạc phát triển”.

- Nhiều động vật độc đáo:Cangguru

- Vấn đề đặt ra về bảo vệ môi trƣờng: + Cải tạo hoang mạc của châu lục.

+ Sử dụng các bãi chăn thả gia súc, giải quyết nguồn nƣớc. + Bảo vệ các động vật quí hiếm.

+ Khai thác nguồn khoáng sản vàng, đồng, sắt, uran

30

CÁC MIỀN ĐỊA CỰC

- Các vấn đề đặt ra về sử dụng và bảo vệ môi trƣờng:

Bảo vệ chim cánh cụt, chó biển và voi biển ở miền Nam cực. Vùng biển quanh Nam cực

từ lâu đã trở thành vùng săn cá voi lớn nhất thế giới. Sản lƣợng cá voi giảm đáng kể, luật pháp

bảo vệ cần phải đƣợc thi hành.

Phát triển và khai thác các khoáng sản: Than đá, vàng, chì, uran ở miền Nam cực.

1.3. Ở lớp 8

Bài mở đầu:

Giới thiệu cho học sinh đối tƣợng nghiên cứu của địa lý tự nhiên Việt Nam, phƣơng

pháp học môn địa lý tự nhiên Việt Nam. Trên cơ sở hiểu biết điều kiện tự nhiên của đất nƣớc,

mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên, vai trò của nguồn tài nguyên thiên nhiên đối với

công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của đất nƣớc, giáo dục học sinh ý thức sử dụng hợp lý,

bảo vệ nguồn tài nguyên phong phú đa dạng của nƣớc nhà.

Bài: Diện tích vị trí, giới hạn hình dạng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam

- Diện tích phần đất liền nƣớc ta thuộc loại trung bình so với nhiều nƣớc khác trên thế

giới. Trên diện tích đó cảnh quan, tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng tạo điều kiện

thuận lợi cho sự phát triển một nền kinh tế toàn diện.

- Nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới thuộc khu vực gió mùa Đông Nam Á. Trên

một bán đảo, cổ biển Đông, hình thể trải dài từ Bắc xuống Nam, hẹp ngang dẫn tới việc hình

thành các đặc điểm địa lý tự nhiên của nƣớc ta - đó là thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa.

Bài đọc thêm: Vùng biển chủ quyền của nước Việt Nam

Giới thiệu các khái niệm: Lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, vùng tiếp giáp nhằm làm

cho học sinh hiểu cơ sở pháp lý của việc bảo vệ sử dụng nguồn tài nguyên biển.

Bài: Thực hành vẽ bản đồ hành chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Sự chênh lệch về dân số, mật độ dân cƣ giữa các tỉnh và thành phố của đất nƣớc. Thông

qua bài thực hành này học sinh hiểu ranh giới lãnh thổ nƣớc ta, cả đất liền hải đảo, dân cƣ mật

độ dân cƣ. Những

31

kiến thức này nhằm bổ sung hiểu biết của học sinh về môi trƣờng tự nhiên, tác động của dân cƣ

đến môi trƣờng.

Bài: Biển Việt Nam 1 - Vị trí, đặc điểm của biển Việt Nam 2- Vai trò và ý nghĩa của biển nƣớc ta.

+ Đối với việc hình thành các cảnh quan tự nhiên: Biển làm cho cảnh quan tự nhiên

thêm phong phú, đa dạng. Biển tạo nên môi trƣờng tự nhiên trong sạch dễ chịu.

+ Đối với kinh tế vùng biển nƣớc ta là một vùng giàu có về tài nguyên. Điều đó thể hiện: * Vùng ven biển nƣớc ta là một vùng vào loại giàu hải sản nhất của biển đông. Riêng

vịnh bắc bộ có tới 200 loài sinh vật nổi, trên 1500 loài sinh vật đáy, hàng trăm loài rong biển. Đầm phá, vũng vịnh khuất gió là môi trƣờng sống thuận lợi nuôi trồng hải sản và trú đậu của tàu

thuyền.

* Biển là một kho muối khổng lồ với nhiều bãi muối nổi tiếng: Văn Lý, Sa Huỳnh, Cà

Ná...

* Cái ven biển là vùng nguyên liệu quí của công nghiệp xây đựng, thủy tinh và pha lê.

* Thềm lục địa chứa dầu hỏa và nhiều khoáng sản quí hiếm . * Bờ biển và bãi biển đẹp, nhiều thắng cảnh và nhiều bãi tắm đẹp: Bãi Cháy, Đồ Sơn,

Sầm Sơn, Cửa Lò, Nha Trang, Vũng Tàu...Đƣờng giao thông quốc tế đi qua vùng biển nƣớc ta.

3- Khai thác sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên biển, bảo vệ môi trƣờng, chống ô nhiễm

biển.

Bài đọc thêm: Đảo Phú Quốc Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú của đảo Phú Quốc nhƣ khoáng sản (măng gan,

sắt, đồng, than đá, than nâu, mỏ sét trắng, nhiều loại đá quí).

Rừng Phú Quốc nhiều gỗ quí nhƣ: Trắc trai, trầm hƣơng... Động vật có khỉ, nai, heo

rừng. Đất với 20000 ha thuận lợi trồng hồ tiêu.

- Vùng biển quanh đảo giàu về hải sản nhƣ các loại tôm, cá, mực, hải sâm, đồi mồi...

Bài: Đặc điểm chung của tự nhiên Việt Nam. - Tính chất bán đảo thể hiện vai trò của biển đối với điều kiện tự nhiên của đất nƣớc. - Đại bộ phận đất liền lãnh thổ nƣớc ta là đồi núi (3/4 diện tích đất nƣớc). Cùng với biển,

đồi núi là nơi có nhiều nguồn tài nguyên

32

quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế của nƣớc ta ( khoáng sản, rừng, động vật, đất

đai...).

- Tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm thuận lợi phát triển nền công nghiệp, chế độ gió mùa

làm khí hậu và tự nhiên thay đổi theo mùa, gây ảnh hƣởng không nhỏ đến sản xuất. Cần chú ý phòng trừ sâu bệnh, nấm mốc, thiên tai...

- Cảnh quan tự nhiên nƣớc ta phân hóa phức tạp đa dạng từ thấp lên cao, từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây, đặt ra vấn đề phải khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lý ở

mỗi khu vực tự nhiên.

Bài: Địa hình Việt Nam. - Là một thành phần quan trọng của môi trƣờng tự nhiên, là một trong những nhân tố quan trọng dẫn đến sự phân hóa điều kiện tự nhiên trên bề mặt địa hình, nhân dân ta đã tiến

hành hầu hết các hoạt động sản xuất xã hội, tạo nên các dạng địa hình nhân sinh làm biến đổi sâu sắc cảnh quan tự nhiên.

- 3/4 diện tích phần đất liền nƣớc ta là đồi núi, chủ yếu đồi núi thấp, với 2 hƣớng chủ yếu là cảnh cung và Tây Bắc - Đông Nam. Đồng bằng chiếm 1/4 diện tích với 2 đồng bằng Bắc

Bộ và Nam Bộ. Cần có biện pháp sử dụng hợp lý thích hợp với lừng dạng địa hình.

- Địa hình có sự tƣơng phản lại có sự thống nhất về nguồn gốc phát sinh giữa địa hình

núi đồi, đồng bằng, địa hình bờ biển và đáy biển gần bờ. Do đó cần chú ý khi phân vùng sử dụng hợp lý tự nhiên của lãnh thổ.

Bài thực hành: - Điền vào bản đồ câm các đối tƣợng địa lý sau đây:

+ Tên các thành phố. + Tên các đỉnh núi cao trên 2000 mét.

+ Tên các sông lớn của Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ. - Chỉ cho học sinh thấy núi cao sông dài, vai trò của sông ngòi đối với cảnh quan tự

nhiên và đời sống, hoạt động kinh tế con ngƣời. Vị trí thành phố lớn đông dân. Qua đây có thể gợi ý cho học sinh phân tích mối liên hệ giữa các điểm quần cơ với các dòng sông.

Bài: Khí hậu Việt Nam. Ảnh hƣởng của các đặc điểm khí hậu đối với đời sống xã hội và hoạt động sản xuất của

nhân dân ta (ảnh hƣởng tích cực và tiêu cực của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa). Các biện pháp phòng chống thiên tai, hạn hán, bão lụt, sƣơng muối, mƣa đá...

33

Bài: Thực hành về khí hậu. Vẽ biểu đồ khí hậu của 3 trạm Hà Nội, Huế. Thành phố Hồ Chí Minh. Phân tích biểu đồ.

- Thông qua bài thực hành học sinh thấy đƣợc sự khác biệt khí hậu giữa 3 khu vực. Nếu có thể nên phân tích nguyên nhân sự khác biệt và ảnh hƣởng của sự khác biệt đó đến hoạt động

và lề lối sinh hoạt của nhân dân 3 khu vực.

Bài đọc thêm: Sapa - thị trấn trong mây. Mô tả quang cảnh tự nhiên (đặc điểm khí hậu, đất, rừng) của Sapa. Bài đọc thêm này nhằm cung cấp cho học sinh biểu tƣợng và đặc điểm của tự nhiên Việt Nam phong phú và đa

dạng các kiểu khí hậu khác nhau: Nhiệt đới, cận nhiệt.

Bài: Sông ngòi Việt Nam - Đặc điểm mạng lƣới sông ngòi Việt Nam và chế độ dòng chảy của nó. Các hệ thống

sông chính.

- Vai trò của sông ngòi trong việc bồi đắp 2 đồng bằng lớn, giao thông vận tải, thủy

điện, công nghiệp.

- Các biện pháp thủy lợi nhằm chống lũ lụt, sử dụng tổng hợp nguồn nƣớc của các dòng

sông.

Bài: Đất Việt Nam - Các loại đất. Đặc tính của từng loại đất, khả năng thích ứng của các loại đất đó đối với

các loại cây trồng.

- Các biện pháp sử dụng hợp lý đất đai và cải tạo đất. Kinh nghiệm cải tạo đất của nhân

dân ta.

Bài: Thực vật và động vật Việt Nam - Giới thực, động vật Việt Nam phong phú, có nhiều loài quí hiếm, có giá trị kinh tế và khoa học cao, nhƣng hiện nay diện tích rừng bị thu hẹp nhiều, chỉ còn dƣới 30% diện tích lãnh

thổ, các loài gỗ quí, hiếm và động vật quí nhƣ tê giác, trâu rừng, bò tót, hƣơu xạ... đang có nguy cơ tuyệt chủng. Vấn đề đặt ra là cần phải bảo vệ và phục hồi tài nguyên rừng, bảo vệ các loài

thú quí.

Bài: Bài thực hành Đọc lát cắt tổng hợp trên bản đồ địa lý tự nhiên Việt Nam treo tƣờng. - Phân tích lái cắt tổng hợp, học sinh sẽ nhận thấy một quan hệ tƣơng hỗ giữa các hợp

phần trong thể tổng hợp tài nguyên (Môi trƣờng tự nhiên Việt Nam). Qua đó có thể cho các em liên hệ: Nếu tác động vào thành phần nào trong thể tổng hợp (rừng chẳng hạn) sẽ dẫn

34

tới phá hủy thế cân bằng của thể tổng hợp ( xói mòn đất đai, lũ lụt, tiểu khí hậu thay đổi...).

Bài: Các miền địa lý tự nhiên. Miền Bắc và Đông bắc Bắc Bộ. A. Địa chất địa hình - Đồi núi thấp, đỉnh tƣơng đối bằng, sƣờn tƣơng đối thoải. Các bề mặt san bằng cổ tạo

thuận lợi cho sự phát triển nông lâm nghiệp, định cƣ, lịch sử phát triển của miền lâu dài và phức tạp đã hình thành nên nhiều mỏ khoáng sản (nội, ngoại sinh) thuận lợi cho sự phát triển công

nghiệp khai khoáng, điện lực. Đồng bằng Bắc bộ cùng các cánh đồng giữa núi thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp, song cần chú ý khai thác sử dụng, các nguồn tài nguyên trên một cách

hợp lý.

B: Khí hậu sông ngòi miền bắc và đông bắc bắc bộ

- Có mùa đông lạnh, nhiệt độ về mùa đông thấp nhất toàn quốc. Có thể trồng cây á nhiệt,

ôn đới. Song cần chống sƣơng muối, hạn hán đối với cây trồng.

- Sông ngòi nhiều phù sa đặt vần đề cần chống xói mòn khu vực đồi núi. Khả năng thủy lợi, thủy điện, giao thông đƣờng sông của sông ngòi miền Bắc và đồng

bằng Bắc bộ.

C: Đất - sinh vật của miền Bắc và Đông bắc Bắc bộ.

Nhiều loại đất khác nhau: Đất Feralit đồi núi, phù sa đồng bằng và chua mặn ven biển.

Phân bố của các loại đất. Diện tích các loại đất và tiềm năng của chúng.

- Khai thác, sử dụng hợp lý từng loại đất. - Giới thực, động vật trong miền phong phú. Ở đây có cả động vật nhiệt đới, cận nhiệt,

ôn đới, thự động vật đất liền và hải đảo.

- Sử dụng bảo vệ nguồn tài nguyên thực, động vật này.

Bài: Miền Bắc và đông Bắc Bắc Bộ Triển vọng phát triển kinh tế và vấn đề bảo vệ môi trƣờng. Là khu vực tập trung nhiều

mỏ khoáng sản với nhiều loại khoáng sản: Kim loại đen, màu, than tạo thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp khai khoáng và luyện kim. Tuy nhiên cần chú ý khai thác, sử dụng hợp lý

nguồn tài nguyên khoáng sản, chống ô nhiễm môi trƣờng do khai thác khoáng sản, phế thải, bụi của hai ngành công nghiệp trên. Khu vực đồi núi có thế mạnh phát triển nền sản xuất nông - lâm

nghiệp phong phú, đa dạng. Song cần chú ý chống xói mòn, giải quyết nƣớc tƣới, bảo vệ rừng và trồng rừng. Khu vực đồng bằng Bắc bộ đông dân cơ, thuận lợi phát triển nông nghiệp theo

hƣớng thâm canh, nhƣng cần

35

chú ý hiện tƣợng bạc màu đất, ô nhiễm không khí do hụi, ô nhiễm nƣớc do phế thải công

nghiệp, nông nghiệp, chống thiên tai do hậu quả của thời tiết bất lợi. Khu vực ven biển, hải đảo

cần bảo vệ, nuôi trồng chống thiên tai, đánh bắt hải sản, phát triển du lịch, nghỉ ngơi, giải trí.

Bài: Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.

A. Địa chất, địa hình.

Hoạt động địa chất của khu vực diễn ra mạnh mẽ, chịu tác động sâu sắc của vận động

tân kiến tạo. Vì vậy, đây là khu vực nhiều núi cao, vực sâu, lắm thác ghềnh gây bất lợi cho việc

cƣ trú hoạt động sản xuất của con ngƣời. Núi non hiểm trở, giao thông Đông - Tây khó khăn.

Song hƣớng Tây Bắc - Đông Nam tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông miền núi - đồng bằng.

Một số cánh đồng giữa núi thuận lợi cho phát triển nông nghiệp miền núi.

B. Khí hậu sông ngòi miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.

- Đặc điểm khí hậu của miền: Mùa đông đến muộn kết thúc sớm, mùa hạ đến sớm thời

tiết khô nóng do gió Tây gây ra. Bắc Trung Bộ có mùa mƣa thu đông, đo đó có thể bố trí cây

trồng, vật nuôi nhiệt đới ở vùng thấp, cần phòng chống thiên tai bão, lụt ở khu vực Bắc Trung

Bộ và cả Tây Bắc vào mùa hạ.

- Sông ngòi hƣớng Tây Bắc - Đông Nam, độ dốc lớn, nhiều ghềnh, thác tạo khả năng

thủy điện hơn là tƣới tiêu, cần khai thác tiềm năng này.

Bài đọc thêm: Gió tây khô nóng ở nước ta.

Bài đọc thêm mô tả đặc điểm thời tiết của gió tây khô nóng ở miền Tây Bắc và Bắc

Trung Bộ. Qua bài này cần đề cập đến biện pháp phòng, chống hạn hán ở khu vực Bắc Trung

Bộ.

C. Đất - sinh vật miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.

Có nhiều loại đất Feralit phân bố ở các độ cao khác nhau. Đặc điểm chung đồi núi trong

miền thƣờng có sƣờn dốc, lớp đát mỏng nên khai thác cần tính đến độ dốc của sƣờn để chống

xói mòn đất đai.

- Tận dụng các cánh đồng giữa núi nhƣ Điện Biên Phủ, Nghĩa Lộ, Quang Huy và dải

đồng bằng chân núi - ven biển để phát triển nông nghiệp.

- Thực vật nhiệt đới là chủ yếu, giới động vật phong phú. Cần đặt ra vấn đề bảo vệ và sử

dụng hợp lý nguồn tài nguyên này.

D: Triển vọng phát triển kinh tế và vấn đề bảo vệ môi trƣờng ở miền Tây bắc và Bắc

Trung Bộ.

36

- Vấn đề bảo vệ tự nhiên cấp bách nhất trong miền là việc khôi phục và phát triển diện

tích rừng, cấm khai thác gỗ, săn bắn động vật bừa bãi, chống xói mòn và thoái hóa của đất đai.

- Cần thăm dò, khai thác hợp lý quặng kim loại màu, phóng xạ, nƣớc nóng.

- Khai thác liềm năng thủy điện của sông ngòi.

- Xây dựng các hồ chứa kết hợp với nuôi thả các loài động vật có giá trị kinh tế cao trên

các đảo nổi giữa hồ.

Bài: Miền Trung Nam Bộ và Nam Bộ.

A. Địa chất - địa hình.

- Hoạt động của núi lửa trong những thời kỳ xa xƣa đã tạo nên bề mặt cao nguyên với diện tích rộng hàng ngàn km2, đất đai phì nhiêu với điều kiện khí hậu nhiệt đới tạo điều kiện

phát triển cây công nghiệp nhiệt đới: Cao su, cà phê. Diện tích đồng bằng Nam Bộ rộng tới 4 vạn km2 và đang tiếp tục bồi đắp, thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp, song cần chú ý cải

tạo đất phèn, mặn.

B. Khí hậu - sông ngòi.

- Khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, ít biến động hơn khí hậu các miền phía Bắc là

điều kiện thuận lợi phát triển nên nông nghiệp nhiệt đới.

- Khai thác và sử dụng nguồn phù sa và tiềm năng thủy điện của sông ngòi, khả năng

giao thông, nuôi trồng (hủy sản của sông ngòi và kênh rạch.

C. Đất - sinh vật.

- Diện tích đất đỏ Bazan lớn (trên 1 triệu ha), chiếm 2/3 diện tích đất đỏ Bazan toàn

quốc. Đất tốt song cần chú ý nguồn nƣớc tƣới, chống thoái hóa đất.

- Có biện pháp sử dụng, cải tạo đất phèn, mặn ở đồng bằng sông Cửu Long.

- Khai thác sử dụng hợp lý giải động thực vật của miền.

Bài: Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Triển vọng phát triển kinh tế và vấn đề bảo vệ môi trƣờng.

- Tài nguyên phong phú: Rừng chiếm 30% diện tích rừng cả nƣớc và 60% diện tích tự

nhiên.

- Thú rừng có 102 loài, chiếm 34% tổng số loài thú trong nƣớc. Do vậy, cần khai thác sử

dụng hợp lý đi đôi với bảo vệ rừng ngập mặn cũng nhƣ các loài động vật sống trong rừng.

37

- Tài nguyên biển rất đa dạng. Cần khai thác nuôi trồng hợp lý chống ô nhiễm vùng biển

do khai thác dầu khí.

- Tài nguyên rất đa dạng, diện tích lớn. Cần có biện pháp khai thác, cải tạo đất.

Bài đọc thêm: Rừng U Minh.

Quanh cảnh tự nhiên vùng rừng U Minh với rừng tràm và giới động vật vô cùng phong

phú, do đó cần bảo vệ khu vực này.

1.4 - Ở lớp 9:

Khái quát chƣơng trình địa lý lớp 9 và nội dung giáo dục bảo vệ môi trƣờng.

Địa lý lớp 9 dạy về địa lý kinh tế xã hội đất nƣớc. Cấu trúc chƣơng trình gồm 3 chƣơng:

Chƣơng I: Địa lý dân cƣ.

Chƣơng II: Địa lý kinh tế Việt Nam.

Nội dung chƣơng này sau phần khái quát đặc điểm nền kinh tế đất nƣớc, giới thiệu địa lý

các ngành kinh tế và các vùng kinh tế. Chƣơng III: địa lý tỉnh địa phƣơng.

Nội dung các vấn đề của địa lý lớp 9 đều tập trung vào mối quan hệ giữa con ngƣời và

môi trƣờng, việc sử dụng môi trƣờng trong từng ngành, ở từng vùng kinh tế trên lãnh thổ đất

nƣớc. Vì vậy, từ những vấn đề thuộc nội dung địa lý, có thể hình thành cho học sinh hệ thống

những khái niệm cơ bản về môi trƣờng và những tri thức về tình trạng môi trƣờng của đất nƣớc,

những vấn đề đặt ra về bảo vệ môi trƣờng đối với nguồn tài nguyên và trong từng vùng kinh tế

nhƣ:

- Dân số và sự gia tăng dân số. Vấn đề đô thị hóa ảnh hƣởng đến môi trƣờng đất nƣớc.

- Nguồn tài nguyên khoáng sản: Sự khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên

khoáng sản.

- Nguồn tài nguyên đất: Sự khai thác, bảo vệ, cải tạo làm giàu độ màu mỡ của đất.

- Nguồn tài nguyên rừng: Sự khai thác, bảo vệ, phục hồi và làm giàu vốn tài nguyên

rừng - hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa quí giá ở nƣớc ta.

- Nguồn tài nguyên thủy sản: Sự khai thác, bảo vệ và làm giàu vốn tài nguyên thủy sản.

- Môi trƣờng sống. Chống ô nhiễm.

- Bảo vệ môi trƣờng thiên nhiên từng vùng kinh tế.

38

Đáng lẽ ra có thể hình thành một hệ thống kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong

chƣơng trình địa lý lớp 9, song trong sách giáo khoa hiện hành mới chỉ dừng ở một số vấn đề.

Chương 1 : Về địa lý dân cư

Bài: Số dân và sự tăng dân số. Bài này giáo dục cho học sinh thấy đƣợc sự cần thiết hạn chế sự gia tăng dân số để bảo

vệ môi trƣờng sống và phát triển kinh tế đất nƣớc. Tình trạng gia tăng dân số hiện nay ở nƣớc ta 2,1 %, còn cao hơn mức tăng trung bình của thế giới.

Cần thực hiện kế hoạch hóa gia đình, mỗi cặp vợ chồng có từ 1 đêns 2 con. Làm đƣợc nhƣ vậy mới thực sự bảo đảm hạnh phúc cho mỗi gia đình, góp phần phát triển kinh tế, ổn định

xã hội cũng nhƣ bảo vệ môi trƣờng sinh sống của đất nƣớc.

Bài: Kết cấu dân số. 1. Phân tích độ tuổi qua tháp tuổi cho thấy độ tuổi lao động và độ tuổi sinh đẻ chiếm tỷ lệ lớn, điều đó chứng tỏ khả năng sinh đẻ nhiều và nguy cơ dân số tăng nhanh nếu không có

biện pháp hạn chế sinh đẻ.

2. Thể trạng và tuổi thọ: Ngƣời Việt Nam có thể trạng kém và tuổi thọ thấp hơn nhiều

dân tộc khác chứng tỏ mức sống thấp, cũng là hậu quả của sự tăng dân số.

Bài: Sự phân bố dân cư. Phân tích cho học sinh thấy mâu thuẫn giữa dân số và môi trƣờng sống ở Việt Nam. Diện tích nƣớc ta chỉ bằng 0,2% diện tích các lục địa, song dân số lại chiếm 1,2% dân số thế

giới, do đó mật độ dân số nƣớc ta cao hơn 5 lần mật độ dân số thế giới..

Kết luận: Diện tích hẹp, sinh đẻ nhiều, mật độ dân số cao, mức sống thấp. Để đảm bảo

sinh sống phải khai thác môi trƣờng qua mức, tài nguyên môi trƣờng cạn kiệt. Vì vậy phải hạn chế gia tăng dân số.

Bài đọc thêm: Vấn đề dân số ở nƣớc ta. Dân số và những vấn đề xã hội khác. - Thực trạng của sự tăng dân số đã dẫn tới vƣợt qua mức cung cấp về lƣơng thực, thực

phẩm, hàng hóa tiêu dùng và cả nhu cầu về việc làm cùng những nhu cầu khác của nhân dân.

Bên cạnh hạn chế sinh đẻ cần có biện pháp cải tạo và xây dựng mới nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hóa trên cơ sở phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và sự diễn biến của môi trƣờng.

39

Chương 2: Địa lý kinh tế Việt Nam. Bài: Địa lý nông nghiệp. Vấn đề bảo vệ môi trƣờng nông nghiệp. - Cần mở rộng diện tích đất canh tác trong nông nghiệp: Từ 8,5 triệu lên tới 10 - 11 triệu

ha, thâm canh tăng vụ trên đất đã canh tác.

- Sự thay đổi thất thƣờng của khí hậu, thời tiết, thiên tai, sâu bệnh đã làm cho mùa màng

thất bát, sản lƣợng bấp bênh. Để đảm bảo năng suất nâng cao và ổn định, cần có biện pháp phòng chống lũ lụt, hạn hán, sƣơng giá, sâu bệnh.

Bài: Địa lý ngư nghiệp và lâm nghiệp. 1. Địa lý ngƣ nghiệp.

+ Tiềm năng thủy sản lớn: Hiện đánh bắt hàng năm từ 60 - 70 vạn tấn, khả năng cho

phép có thể lên tới 1 triệu tấn.

+ Nhiều loài thủy sản có giá trị xuất khẩu cao, cần phát triển nuôi dƣỡng các loại tôm,

đồi mồi, trai ngọc, rong câu...

2. Địa lý lâm nghiệp: Sự thu hẹp diện tích rừng và những vấn đề bảo vệ, khai thác rừng.

Diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp (từ 14,3 triệu ha năm 1943, đến nay chỉ còn 7,5

triệu ha ), dự trữ gỗ ngày càng giảm, các loài gỗ quí, các loài đặc sản gần nhƣ cạn kiệt.

Vấn đề cấp bách hiện nay là phải khôi phục, tu bổ, tái tạo rừng thực hiện phƣơng thức nông lâm kết hợp, giao đất, giao rừng... có thể mới có thể sớm phục hồi đƣợc vốn rừng, tạo tiềm

năng cho nghề rừng phát triển và góp phần bảo vệ môi trƣờng.

Bài: Vùng kinh tế Bắc Bộ 1. Những vấn đề bảo vệ môi trƣờng trong vùng kinh tế Bắc Bộ: Rừng, động vật rừng,

thủy sản.

- Diện tích rừng tuy đã bị khai thác và tàn phá nhiều, song vẫn còn khả năng tái tạo. Nhiều loài thực vật, động vật rừng, nhiều loại cây đƣợc liệu qúi đã trở nên hiếm và cần đƣợc

bảo vệ. Cần phân tích cho học sinh thấy rõ giá trị kinh tế, nguồn gien, ý nghĩa khoa học và ý ngĩa bảo, vệ môi trƣờng trong việc bảo vệ rừng của vùng kinh tế Bắc Bộ.

- Giá trị kinh tế của việc khai thác hợp lý và bảo vệ thủy sản ở vịnh bắc Bộ 2. Những biện pháp bảo vệ môi trƣờng trong vùng kinh tế Bắc Bộ. Giảm tỷ lệ sinh đẻ,

khai thác hợp lý môi trƣờng.

40

- Với nhịp độ tăng dân số nhƣ hiện nay, vùng kinh tế Bắc Bộ đang gặp nhiều khó khăn, vì vậy việc kế hoạch hóa gia đình, tăng tốc độ phát triển kinh tế trên cơ sở khai thác hợp lý tài

nguyên, lao động, cơ sở vật chất đang là vần đề cấp bách.

- Trong khai thác tài nguyên, coi trọng việc bảo vệ tài nguyên rừng.

Bài: Vùng kinh tế Bắc Trung Bộ. 1. Những vấn đề về bảo vệ môi trƣờng trong vùng kinh tế Bắc Bộ: chống thiên tai lũ lụt,

khô hạn, gió bão. Phân tích tác hại của bão, lũ lụt về thu đông và gió nóng Tây Nam về mùa hè đối với nghề nông, nghề cá, công trình đƣờng xá giao thông, làng mạc nhà cửa của nhân dân. Vì

thế, việc phòng chống thiên tai nhƣ bão, lũ lụt, gió nóng Tây Nam, chống nhiễm mặn, cát lấn là những vấn đề đặt ra cho vùng kinh tế Bắc Trung Bộ.

2. Vấn đề bảo vệ rừng, động vật rừng, hải sản vùng kinh tế Bắc Trung Bộ: Trong vùng còn có nghề nuôi và thuần dƣỡng một số động vật nhƣ hƣơu voi. Tuy số lƣợng chƣa nhiều

nhƣng có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo tồn những động vật quý hiếm ở nƣớc ta .

- Giá trị tài nguyên rừng ở vùng kinh tế Bắc Trung Bộ.

+ Giá trị kinh tế : Rừng còn chiếm 40% diện tích , phong phú cả về loài , kể cả số lƣợng

và chất lƣợng nhiều loại gỗ quý hiếm.

+ Giá trị bảo vệ môi trƣờng - vai trò của vùng rừng núi Trƣờng Sơn đối với bảo vệ môi trƣờng đồng bằng Duyên hải Trung bộ: Điều kiện dòng chảy, giảm lũ mùa mƣa làm ngập đồng

bằng, giữ nƣớc mùa cạn, hạn chế khô cạn, giữ đất mầu của các sƣờn núi rửa trôi bồi tụ xuống các đồng bằng.

- Tiềm năng hải sản và việc khai thác hợp lý, bảo vệ nguồn hải sản hợp lý, bảo vệ nguồn

hải sản .

Vùng kinh tế Bắc trung bộ giàu tiềm năng hải sản: Bờ biển dài 700km nhiều đầm khá

thuận tiện cho việc nuôi trồng hải sản, nhiều hải sản quý.

Bài : Vùng kinh tế Nam Trung Bộ 1. Những thuận lợi về mặt tài nguyên của vùng.

- Lớp phủ bazan rộng tới 2 triệu ha ( trong số 2,5 triệu ha của cả nƣớc) cho phép hình

thành cây chuyên canh công nghiệp rộng lớn.

- Trong vùng còn một diện tích rừng chiếm khoảng 35% trữ lƣợng rừng của cả nƣớc với

các loài gỗ quý nhƣ cẩm lai, mun, trắc, gụ ... các đặc sản làm thuốc nhƣ sâm , sa nhân, quế.

41

- Giới động vật trong vùng có giá trị kinh tế cao, chiếm tới 40% trữ lƣợng toàn quốc .

Nhiều loại động vật hiếm, quý còn tồn tại ở đây nhƣ: voi , tê giác ...

2. Vấn đề sử dụng tự nhiên trong vùng về nông nghiệp: Nhìn chung ngành sản xuất nông

nghiệp là một thế mạnh của vùng, đặc biệt là ngành trồng cây công nghiệp lâu năm và chăn nuôi

gia súc lớn. Vấn đề khó khăn chủ yếu ở đây là phải giải quyết đƣợc nƣớc cho các miền núi và

cao nguyên có mùa khô kéo dài và tăng cƣờng nhân lực cho các vùng mới khai thác .

Tăng cƣờng khai thác các nguồn thủy điện, tiềm năng thủy sản.

Phát triển các trung tâm du lịch và nghỉ mát.

Bài: Vùng kinh tế Nam bộ.

Những vấn đề bảo vệ và cải tạo môi trƣờng vùng kinh tế Nam bộ

- Trong 4 triệu ha đất đồng bằng hạ lƣu sông Cửu Long có 1,5 triệu ha bị ngập nƣớc, 1,5

triệu ha bị nhiễm phèn nặng phải cải tạo.

- Phần lớn điện tích đất canh tác có một vụ ... năng suất trung hình thƣờng trên 3 tấn /ha.

- Biện pháp là:

+ Cải tạo đất, chống nhiễm mặn để làm thủy lợi để tăng vụ trên đồng bằng Nam Bộ.

+ Bảo vệ tài nguyên rừng Đông Nam Bộ và rừng ngập mặn ven biển.

+ Khai thác hợp lý nguồn thủy lợi thủy sản.

+ Bảo vệ các đặc sản trong vùng: Hƣơu, nai , trăn...

+ Khai thác các tài nguyên khoáng sản có giá trị kinh tế lớn: Đất hiếm, vàng, dầu mỏ...

+ Sử dụng đất Đông Nam Bộ thành các vùng chuyên canh cây nhiệt đới: hồ tiêu, cao

su...

II. Nội dung kiến thức giáo dục môi trường và bảo vệ môi trường qua môn

địa lý ở Cấp III

II.1. lớp 10

Giáo trình địa lý kinh tế xã hội ở lớp 10 PTTH chủ yếu cung cấp cho học sinh những tri

thức khái quát về địa lý kinh tế xã hội, bao gồm những khái niệm về tài nguyên thiên nhiên, về

dân cƣ, nguồn nhân lực và các ngành sản xuất kinh tế, chuẩn bị cho học sinh học tốt

42

các giáo trình địa lý kinh tế xã hội ở các lớp 11 và 12 . Vấn đề giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong

chƣơng trình điạ lý lớp 10 có thể tiến hành thuận lợi trên cơ sở khai thác những tri thức về mối

quan hệ giữa tự nhiên và kinh tế xã hội. Hoạt động kinh tế xã hội là hoạt động của con ngƣời tác

động vào môi trƣờng tự nhiên để sản xuất ra của cải vật chất để phục vụ nhu cầu sinh hoạt của

con ngƣời. Ngƣợc lại, môi trƣờng tự nhiên là tiền đề, là điều kiện vật chất kỹ thuật của sản xuất

xã hội cũng nhƣ các tiến bộ về vật chất kỹ thuật.

Qua sách giáo khoa về địa ký kinh tế xã hội ở lớp 10, những vấn đề có liên quan đến bảo

vệ môi trƣờng cụ thể nhƣ sau:

Chương I: Ngay trong bài mở đầu, khi nói đến những vấn đề mà môn địa lý xã hội cần

nghiên cứu, nội dung bài đã đề cập đến các mối quan hệ giữa sản xuất và môi trƣờng tự nhiên,

coi đó là một vấn đề quan trọng đối với vấn đề nghiên cứu các đặc điểm về hình thức tổ chức

sản xuất trên lãnh thổ. Tuy tài liệu chỉ đề cập vấn đề này trong một câu, nhƣng khi dạy giáo viên

lấy ví dụ để giải thích một cách ngắn gọn để hiểu nhƣ thế nào là mối quan hệ giữa sản xuất và

môi trƣờng, còn mối quan hệ đó thể hiện ở mặt nào thì đó là nội dung ở các bài sau.

Chương 2 : Nội dung của 3 bài trong chƣơng này có nhiều kiến thức về môi trƣờng và

bảo vệ môi trƣờng nhất trong toàn bộ chƣơng trình. Để làm rõ mối quan hệ giữa môi trƣờng và

kinh tế xã hội, trƣớc hết giáo trình cung cấp cho học sinh cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa con

ngƣời và môi trƣờng tự nhiên, môi trƣờng nhân tạo và tác động của con ngƣời vào môi trƣờng

và ngƣợc lại, ảnh hƣởng của môi trƣờng và ngƣợc lại. Tuy nhiên ảnh hƣởng của môi trƣờng

không phải là quyết định , nó ảnh hƣởng đến xã hội chủ yếu thông qua vai trò của các nguồn tài

nguyên thiên nhiên. Cũng vì lý do đó, nên khi con ngƣời sử dụng tài nguyên thiên nhiên vào sản

xuất, con ngƣời phải tích cực bảo vệ môi trƣờng. Đối với nguồn tài nguyên khoáng sản thì biện

pháp tích cực nhất là phải hạn chế kinh phí, sử dụng chúng một cách tiết kiệm hợp lý, đồng thời

ra sức hƣớng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại vào việc khai thác những nguồn tài

nguyên dƣới đáy đại dƣơng hoặc tìm ra những nguồn nguyên liệu mới thay thế cho các loại

khoáng sản sắp cạn kiệt... Đối với nguồn tài nguyên đất thì biện pháp sử dụng hợp lý nhất là

phải thâm canh để tăng năng suất cây trồng, phải bón phân hoa học một cách khoa học để hạn

chế những hậu quả nghiêm trọng về mặt ô nhiễm đất đai và

43

môi trƣờng. (Đối với các tài nguyên khí hậu, nƣớc và sinh vật thì vấn đề bảo vệ chống các tác

nhân phá hoại nguồn tài nguyên khí hậu nhƣ: phá rừng, đƣa vào khí quyển một lƣợng lớn các

chất thải... là một vấn đề cần đặt ra trên phạm vi toàn cầu. Đối với nguồn tài nguyên nƣớc thì

cũng nhƣ nguồn tài nguyên khí hậu, nguồn nƣớc ngọt trên thế giới hiện nay, do đƣợc sử đụng

không hợp lý không có biện pháp bảo vệ, nên đã bị ô nhiễm trầm trọng do các chất thải của

công nghiệp và nông nghiệp thải ra. Còn đối với nguồn tài nguyên sinh vật thì hiện nay diện

tích rừng của thế giới đã bị thu hẹp, nhiều loại động thực vật đã bị diệt vong, vì vậy việc khai

thác sử dụng hợp lý và bảo vệ chúng cũng là một điều kiện hết sức cấp bách.

Với những tri thức nói trên, có thể nói toàn bộ chƣơng II (3 bài với 11 câu hỏi bài tập) là

những bài dạy về kiến thức môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng. Những kiến thức nói chung đã

sâu hơn những kiến thức đã học trƣớc đây ở các lớp PTCS.

Khi học chƣơng này học sinh không chỉ nắm đƣợc về mặt tri thức mà cả về mặt lý luận

của vấn đề bảo vệ môi trƣờng. Giáo viên khi dạy không phải làm cho học sinh lĩnh hội đƣợc nội

dung các đề mục mà còn phải làm cho học sinh nắm đƣợc logic của vấn đề.

Chương 3: Chƣơng này gồm có 4 bài đề cập chủ yếu đến các vấn đề về dân số và dân

cƣ trên thế giới. Vì dân số cũng là một vấn đề có liên quan đến môi trƣờng. Cho nên khi học

chƣơng này học sinh cần nắm đƣợc một số điểm sau đây:

+ Sự gia tăng nhanh và sự phát triển không hợp lý ở các nƣớc trên thế giới đã và đang

gây ra những hậu quả quan trọng đối với sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao chất lƣợng cuộc

sống và môi trƣờng.

+ Mật độ dân số cao, dân cƣ ngày càng tập trung ở một số vùng công nghiệp và các

thành phố lớn làm cho cuộc sống ngày càng thiếu tiện nghi và càng bị tình trạng ô nhiễm môi

trƣờng đe dọa nghiêm trọng. Cần phải có sự phân bố dân cƣ hợp lý và phù hợp với sự phát triển

của công nghiệp thì mới tạo đƣợc những điều kiện sống tốt cho dân cƣ ở các thành thị và những

điền kiện cần thiết cho việc khai thác mọi nguồn tài nguyên.

+ Đô thị hoá là một quá trình tiến bộ, song nó cũng có mặt tiêu cực nhƣ để làm mất sự

cân bằng sinh thái , đe dọa đời sống con ngƣời. Nói chung việc giáo dục môi trƣờng và bảo vệ

môi trƣờng trong chƣơng trình này chủ yếu đề cập đến mối quan hệ giữa dân số và môi trƣờng.

Khi dạy giáo viên cần nắm vững kết cấu của chƣơng và chỉ

44

nên khai thác làm rõ thêm những ý có liên quan đến những quan hệ này là đủ mà không cần mở

rộng thêm các lĩnh vực khác.

Chương 4 : Chƣơng này có 5 bài , chủ yếu là các vấn đề về hoạt động công nghiệp.

Giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong chƣơng này có thể đề cập đến các vấn đề sau:

- Các nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu là khoáng sản và các điều kiện tự nhiên có

ảnh hƣởng đến sự phát triển và sự phân bố các ngành công nghiệp.

- Các hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp không những đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao

mà cần có khoa học để nâng cao sản xuất, năng suất lao động, sử dụng hợp lý các nguồn tài

nguyên thiên nhiên và giảm bớt ô nhiễm môi trƣờng, đặc biệt các ngành công nghiệp khai thác,

luyện kim hoá chất...

Chƣơng này cần khai thác giữa quan hệ môi trƣờng và sự phát triển, phân bố các ngành

và các hình thức tổ chức công nghiệp. Việc giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong chƣơng này

không đòi hỏi nhiều, nhƣng mỗi khi có điều kiện giáo viên cần làm cho học sinh thấy đƣợc mối

quan hệ hai chiều: Mỗi trƣờng có sự phát triển đến sự phát triển công nghiệp, ngƣợc lại là sự

phát triển và phân bố công nghiệp cũng có ảnh hƣởng đến sử dụng, làm cạn kiệt đến các nguồn

tài nguyên thiên nhiên và việc làm ô nhiễm môi trƣờng.

Chương 5: Chƣơng này có 4 bài chủ yếu đề cập đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp

và sự phân bố nông nghiệp . Việc giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong chƣơng này có nhiều thuận

lợi hơn so với chƣơng IV, bởi vì nông nghiệp là một ngành sản xuất có nhiều mối quan hệ với

môi trƣờng .

+ Trƣớc hết, trong các nhân tố ảnh hƣởng đến sự phát triển về phân bố nông nghiệp có

nhiều thành phần của môi trƣờng tự nhiên nhƣ: khí hậu, nƣớc, đất đai. Chính vì chúng là các

thành phần của môi trƣờng cho nên việc sử dụng hợp lý và bảo vệ chúng là vấn đề đƣơng nhiên

của sản xuất nông nghiệp.

+ Trong các ngành nông nghiệp , ngành trồng rừng có ý nghĩa rất lớn đối với việc bảo vệ

môi trƣờng . Nó không những có vai trò cải tạo khí hậu, điều chỉnh dòng chảy, hạn chế lũ lụt mà

còn có giá trị tái tạo một sinh khối thực vật lớn cho xã hội.

45

+ Các hình thức tổ chức nông nghiệp lạc hậu ( làm rẫy , săn bắn) có tác hại phá hủy môi

trƣờng rất lớn , nhất là nguồn tài nguyên đất và sinh vật.

Nói chung trong chƣơng này, thực hiện giáo dục bảo vệ môi trƣờng chủ yếu là làm rõ

mối quan hệ giữa môi trƣờng và các hoạt động cũng nhƣ hình thức tổ chức nông nghiệp.

Chương 6 : Chƣơng này gồm có 3 bài đề cập đến vai trò, đặc điểm và các nhân tố ảnh

hƣởng đến sự phát triển và phân bố các ngành giao thông vận tải. Giáo dục bảo vệ môi trƣờng

trong chƣơng này có thể nêu lên những vấn đề sau:

+ Sự hoạt động, phát triển và phân bố ngành giao thông vận tải cũng phụ thuộc vào điều

kiện tự nhiên, tức là vào những thành phần nhất định của môi trƣờng .

+ Các loại phƣơng tiện giao thông vận tải có thể gây ô nhiễm đối với môi trƣờng nhƣ: Ô

tô gây tiếng ồn ào và gây ô nhiễm khí quyển, các tàu chở dầu có thể gây ô nhiễm cho nƣớc biển,

máy bay có thể gây ô nhiễm cho tầng khí quyển ở trên cao...

Trong chƣơng này chủ yếu cần khai thác là mối quan hệ giữa môi trƣờng và sự hoạt

động , phát triển và phân bố của các ngành giao thông vận tải.

Chương 7: Chƣơng này gồm 3 bài đề cập đến hoạt động của các ngành thƣơng nghiệp

và dịch vụ. Việc giáo dục bảo vệ môi trƣờng có thể tập trung vào các vấn đề khai thác môi

trƣờng du lịch (phong cảnh đẹp, khí hậu tốt, các di tích lịch sử).

Chương 8:

Chƣơng này gồm có 2 bài nói về sự hình thành vùng kinh tế. Các vấn đề giáo dục bảo vệ

môi trƣờng có thể đề cập ở 2 chỗ:

+ Trong việc phân vùng kinh tế, ngoài các mặt kinh tế xã hội ra, còn phải chú ý đến mặt

sinh thái (làm thế nào để có môi trƣờng lành mạnh, không bị ô nhiễm).

+ Trong các nhân tố hình thành vùng kinh tế , môi trƣờng (điều kiện tự nhiên và tài

nguyên thiên nhiên) là một nhân tố quan trọng (tiền đề cho sự phát triển vùng, cơ sở đầu tiên

cho sự hình thành cơ cấu chuyên môn hoá của vùng).

II.2 - Ở lớp 11:

Giáo trình địa lý kinh tế xã hội thế giới đƣợc dạy ở lớp 11 PTTH gồm có 2 phần lớn:

46

Phần I: Là bức tranh toàn cảnh về tình hình kinh tế xã hội thế giới trong vòng 50 năm,

từ những năm giữa thập kỷ 40 đến những năm thập kỷ 90.

Phần II: Là kinh tế xã hội của một số quốc gia đại diện cho các nƣớc phát triển và đang

phát trên trên thế giới.

Việc giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong chƣơng trình này chủ yếu làm cho học sinh nhận

thức đƣợc rằng: vấn đề bảo vệ môi trƣờng hiện nay có quy mô toàn cầu. Đó cũng là một trong

những vấn đề quan tâm hàng đầu trên thế giới và trên mỗi quốc gia.

Phần I: Có 5 bài. Trong các bài này vấn đề giáo dục bảo vệ môi trƣờng đã đƣợc thể hiện

trong các bài với các ý sau đây:

- Coi nhƣ một hậu quả tiêu cực đối vấn đề tăng dân số và vấn đề đô thị hoá trong tình

hình kinh tế xã hội toàn thế giới hiện nay khi loài ngƣời đã đạt đến con số trên 5 tỷ.

- Coi việc sử dụng năng lƣợng truyền thống nhƣ: Than đá, dầu mỏ, khí đốt và trình độ

kỹ thuật thấp của các ngành công nghiệp phát triển theo chiều rộng .

- Coi nhƣ một vấn đề có tính toàn cầu chỉ có thể giải quyết đƣợc khi có sự hợp tác quốc

tế chặt chẽ giữa các quốc gia có nền kinh tế khác nhau.

- Coi hậu quả của việc đầu tƣ vốn trực tiếp của các nƣớc phát triển vào các nƣớc đang

phát triển để xây dựng những ngành nông nghiệp làm ra các sản phẩm có công nghệ thấp và dễ

gây ra ô nhiễm môi trƣờng .

- Trong cuộc chiến tranh giữa các nƣớc đồng minh và Irắc, môi trƣờng của khu vực Tây

Á (khí quyển và biển) đã bị ô nhiễm trầm trọng do các giếng dầu bị phá huỷ ở Côoét.

- Việc tăng dân số và quá trình đô thị hoá không dựa trên cơ sở phát triển công nghiệp,

cũng nhƣ việc bán đất cho các công ty tƣ bản làm chỗ đổ chất thải đã là nguy cơ ô nhễm môi

trƣờng ở các nƣớc Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh .

- Diện tích đất đai bị hoang hoá hàng năm đã làm mất hàng triệu ha đất trồng ở Châu Phi

đang là mối đe dọa nghiêm trọng hàng triệu ngƣơi dân ở ven vùng sa mạc Xahara thuộc Châu

Phi.

- Ở Hoa Kỳ:

+ Lãnh thổ Hoa Kỳ rộng lớn, thiên nhiên phong phú và đa dạng nhƣng việc sử dụng tự

nhiên không dễ dàng (thiên tai, núi lửa, động đất...).

47

+ Quá trình công nghiệp hoá ở Hoa Kỳ đã tạo ra các dải siêu đô thị gồm một loạt các

thành phố lớn. Hiện nay do các ngân sách thiếu hụt, chi phí cho các công trình vệ sinh trật tự

công cộng giảm sút, nên nhiều thành phố kể cả New York đang rơi vào tình rạng giảm sút, làm

ô nhiễm môi trƣờng.

+ Vùng kinh tế Đông Bắc của Hoa Kỳ từ những năm 70 trở đi gặp nhiều khó khăn nhƣ :

hạ tầng cơ sở lạc hậu , nhiều ngành công nghiệp truyền thống lập trung nên tình trạng không khí

và nƣớc bị ô nhiễm.

- Ở Nhật Bản.

+ Nhật Bản là một nƣớc nghèo khoáng sản, thiên nhiên lại khắc nghiệt, thiên tai thƣờng

xảy ra (bão lớn, sóng thần, động đất...) nên việc bảo vệ môi trƣờng là hết sức cần thiết.

+ Các thành phố ở trung tâm đảo Hônsu tập trung tới 30 triệu ngƣời. Quá trình đô thị

hóa và công nghiệp hóa đã làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trƣờng nhƣ: thiếu không khí trong

lành làm ảnh hƣởng tới sức khoẻ của con ngƣời...

+ Để khắc phục những khó khăn về môi trƣờng tự nhiên để phát triển kinh tế, Nhật đã

xây dựng nhiều công trình cải tạo tự nhiên cỡ lớn: Các đƣờng hầm dƣới biển, các đƣờng cầu nối

liền giữa các đảo, các công trình lấn biển.

- Ở Liên Bang Nga.

+ Lãnh thổ Liên bang Nga rộng lớn, đất đai có nhiều loại khác nhau đòi hỏi phải có

những công trình cải tạo tự nhiên lớn nhƣ: Cải tạo các vùng đất đóng băng ở phía Bắc, cải tạo

một diện tích lớn ở Potdôn ở phần Liên bang ở Châu Âu, chống khô hạn cho vùng đất đen.

- Ở Trung Quốc.

Lãnh thổ Trung Ọuốc rộng lớn, đa dạng về địa hình và khí hậu. Do có nhiều vấn đề lớn

đặt ra đề bảo vệ môi trƣờng. Phần Đông lãnh thổ là những đồng bằng lớn, chỉ chiếm 40% diện

tích đất đai toàn quốc nhƣng tập trung tới 90% dân số. Chế độ khí hậu gió mùa, về mùa hạ mƣa

lớn, thƣờng xuyên gây lũ lụt cho vùng đồng bằng hạ lƣu sông làm thiệt hại cho đời sống dân cƣ

và sản xuất. Phần tây núi non, khí hậu khắc nghiệt, giàu tiềm năng khoáng sản nhƣng thiếu

phƣơng tiện, thiếu nhân lực nên hạn chế việc khai thác sử dụng.

Trung Quốc là nƣớc đông dân nhất thế giới. Những năm gần đây đã hạ tỷ lệ tăng dân

xuống 1,3 % , nhƣng vấn đề dân số vẫn là sức

48

ép đối với xã hội Trung Quốc. Nông nghiệp là ngành kinh tế chính nhƣng gặp nhiều khó khăn,

vẫn phụ thuộc vào thiên nhiên và mang tính tự cung tự cấp.

- Ở Ấn Độ.

Sự phân hoá đã tạo nên sự khác biệt về môi trƣờng tự nhiên và những vấn đề khác nhau

về sử dụng và bảo vệ môi trƣờng giữa phần Tây Bắc và những phần đất đai khác của Ấn Độ.

Các vùng Tây Bắc là vùng khô hạn: Hạn hán thƣờng xuyên xảy ra gây thiệt hại cho mùa

màng .

Các vùng Tây Nam và hạ lƣu sông Hằng: mùa hạ mƣa nhiều đôi khi gây ra lũ lụt.

+ Vấn đề dân số: Ấn Độ là nƣớc đông dân thứ 2 trên thế giới sau Trung Quốc. Sự bùng

nổ tăng dân số ở Ấn Độ diễn ra vào những năm 50. Tuy đã có biện pháp giảm gia tăng dân số,

tỷ lệ gia tăng tự nhiên đã giảm song vẫn còn cao với một nƣớc đông dân nhƣ Ấn Độ.

+ Ấn Độ đã cố cuộc cách mạng để nâng cao chất lƣợng lƣơng thực, thực phẩm.

+ Cuộc cách mạng xanh trong trồng trọt: Các phƣơng pháp chọn giống cao sản, thuỷ lợi,

phân bón nhằm tăng sản lƣợng lƣơng thực.

+ Cuộc cách mạng trắng : Nhằm tăng lƣợng sữa trâu, dê.

- Ở Angiêri.

Điều kiện tự nhiên và những vấn đề cải tạo môi trƣờng:

+ Angiêri là một nƣớc có điều kiện khí hậu khắc nghiệt: 85 % điện tích đất nƣớc là

hoang mạc. Các đồng bằng nhỏ, không liên tục bị núi bao quanh. Để đƣa nông nghiệp hiện nay

lên mặt trận kinh tế hàng đầu Angiêri đã có kế hoạch sử dụng đất đai một cách hợp lý, ngoài lúa

mì, ngô, trồng thuốc lá, hoa quả, nho, trên triền núi trồng ôliu, phát triển chăn nuôi .

Angiêri tuy đã cố gắng hết sức khắc phục tình trạng khó khăn về đất đai, khí hậu để tăng

sản lƣợng lƣơng thực nhƣng vẫn không đáp ứng đƣợc nhu cầu của nhân dân, do tỷ lệ gia tăng

dân vẫn ở mức độ cao ( 3%)

- Ở Thái Lan.

+ Tình trạng ô nhiễm môi trƣờng ở trung tâm công nghiệp và thủ đô Băngkok hiện nay

đang là vấn đề nghiêm trọng .

Tóm lại: Trong giáo trình kinh tế xã hội thế giới việc giáo dục bảo vệ môi trƣờng kết

hợp trong nội dung các bài hiện nay chƣa nhiều. Khi dạy giáo trình này, giáo viên phải bổ sung

thông tin thì

49

hiệu quả giáo dục mới cao. Tuy nhiên, những kiến thức bổ sung thêm phải có mức độ , tránh

làm cho bài mất tính chất một bài địa lý kinh tế - xã hội.

II. 2 - Ở lớp 12.

a- Sách giáo khoa địa lý lớp 12 cải cách giáo dục và việc tích hợp kiến thức giáo dục bảo

vệ môi trƣờng .

1. Sách giáo khoa địa lý lớp 12 cải cách giáo dục có tiêu đề là: "Những vấn đề địa lý

kinh tế - xã hội Việt Nam" Nội dung của nó bao gồm bài mở đầu, 4 chƣơng chính và đƣợc phân

phối thành 27 bài (mỗi bài dạy trong một tiết), trong đó có 2 bài thực hành (tìm hiểu một vấn đề

địa lý kinh tế xã hội của địa phƣơng).

Toàn bộ kiến thức kiến thức của sách giáo khoa tập trung vào việc cung cấp cho học sinh

những hiểu biết nhất định về địa lý Tổ Quốc theo một số vấn đề địa lý kinh tế - xã hội . Tất

nhiên , trong sách giáo khoa còn tích hợp một lƣợng kiến thức về giáo dục dân số, giáo dục bảo

vệ môi trƣờng và chúng nằm rải rác ở một số bài cụ thể.

2. Về đại thể, các kiến thức giáo dục môi trƣờng trong sách giáo khoa địa lý lớp 12 kế

thừa những kiến thức của lớp dƣới và có thể đƣợc tích hợp dƣới 2 hình thức căn bản và mức độ

tập trung kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng. Đó là hình thức tƣơng đối tập trung và hình

thức phân tán .

2.1 - Dƣới hình thức tƣơng đối tập trung, các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng đƣợc

đề cập chủ yếu ở các bài sau đây.

Bài : Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên.

Bài : Sử dụng vốn đất.

Bài : Đồng bằng sông Hồng.

Bài : Đồng bằng sông Cửu Long.

Bài : Duyên Hải miền Trung.

Bài : Trung du và miền núi phía Bắc.

Bài : Tây nguyên.

Bài : Đông Nam Bộ.

Bài : Các vấn đề về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Đông Nam Á.

Trong 9 bài kể trên, mức độ tập trung kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng tuy cao,

nhƣng không phải là hoàn toàn giống nhau. Tùy theo nội dung cụ thể về phƣơng diện địa lý, các

kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng có thể tích hợp ở nhiều hơn bài này (thí dụ : bài 2 , bài

19), hoặc ít hơn chút ít ở bài khác (thí dụ: Các bài còn lại ).

50

Sự tƣơng đối tập trung kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong các bài trên đƣợc cắt

nghĩa bằng chính nội dung kiến thức địa lý của chúng. Đây là các bài đề cập đến các khía cạnh

tự nhiên (thí dụ: bài 2 , bài 25) hoặc việc sử dụng hợp lý và cải tạo tự nhiên (thí dụ: bài 19). Nội

dung địa lý nhƣ vậy là một điều kiện hết sức thuận lợi cho việc tích hợp kiến thức giáo dục bảo

vệ môi trƣờng. Nói cách khác , bản thân điạ lý ở đây đã chứa đựng nhiều kiến thức liên quan tới

việc việc giáo dục bảo vệ môi trƣờng.

2.2. Dƣới hình thức phân tán, các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng rải rác ở một số

bài (chứ không phải là tất cả các bài) còn lại. Điều đó cũng hoàn toàn dễ hiểu bởi vì nội dung

địa lý của chúng không cho phép hoặc rất ít có khả năng tích hợp kiến thức giáo dục bảo vệ môi

trƣờng. Có thể nêu lên các bài điển hình không có nội dung giáo dục bảo vệ môi trƣờng nhƣ bài

5 (Lao động và việc làm ).

Bài 6 (Vấn đề giáo dục, văn hóa và y tế), Bài 11 (Cơ cấu ngành công nghiệp), Bài 13

(Vấn đề phát triển giao thông vận tải và thông tin liên lạc), Bài 14 (Vấn đề phát triển kinh tế đối

ngoại), Bài 27 (Mối quan hệ giữa Việt Nam và các nƣớc Châu Á)

b. Các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường trong SGK địa lý lớp 12 CCGD.

1 - Đối với SGK địa lý lớp 12 CCGD, quan niệm về tài nguyên và về môi trƣờng gắn

chặt chẽ với nhau. Vì thế khi nói đến kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng, cần đƣợc hiểu theo

nghĩa này (nghĩa là cả về tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng).

Các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong SGK có thể phân thành các nhóm theo

các quy định hƣớng dƣới đây:

- Tài nguyên thiên nhiên môi trƣờng.

- Khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên môi trƣờng.

- Bảo vệ tài nguyên, môi trƣờng.

2- Nhƣ trên đã trình bày các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trƣờng chủ yếu tập trung

trong một số bài nhất định. Do vậy phần dƣới đây chỉ liệt kê các phần kiến thức cụ thể có thể

khai thác phục vụ mục đích giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong các bài đó .

Bài : Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên

Bài này cung cấp những kiến thức về môi trƣờng Việt Nam: tài nguyên thiên nhiên , tình

trạng tài nguyên và những vấn đề sử dụng, bảo vệ tài nguyên và môi trƣờng.

1. Sự đa dạng về tài nguyên thiên nhiên (đất, khí hậu, nƣớc…).

51

2. Những mặt mạnh và mặt hạn chế về tài nguyên thiên nhiên.

3. Sự khai thác tài nguyên không hợp lý và những hậu quả tất yếu của nó. Phần này cần

làm rõ tình trạng suy thoái tài nguyên và môi trƣờng Việt Nam, nguyên nhân suy thoái và sự

cần thiết bảo vệ. Nhiều loại tài nguyên bị suy thoái nghiêm trọng: rừng , đất và các hệ sinh thái,

rừng đầu nguồn, ven biển, cửa sông bị phá nặng nề. Nguồn gien động thực vật bị giảm sút

mạnh. Nguyên nhân do sự khai thác bừa bãi, trình độ khai thác lạc hậu, lãng phí tài nguyên mà

chi phí khai thác lại cao, cần thiết phải có biện pháp sử dụng hợp lý đi đối với việc bảo vệ và tái

tạo tài nguyên (trang 9- 10).

Bài: Dân cư và nguồn lao động. Trong mối quan hệ giữa dân cƣ và môi trƣờng cần

nhấn mạnh 2 ý:

+ Sự gia tăng dân số quá nhanh, tạo sức ép đối với việc khai thác quá mức tài nguyên

môi trƣờng và sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc.

+ Sự phân bố dân cƣ không đều giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng đồng bằng ven

biển và trung du, miền núi đã gây khó khăn cho việc sử dụng hợp lý nguồn lao động và nguồn

khai thác tài nguyên có ở mỗi vùng .

Bài : Đường lối phát triển kinh tế xã hội và cơ sở vật chất kỹ thuật.

Vấn đề cơ sở vật chất kỹ thuật và khai thác tài nguyên. Sự phân bố cơ sở vật chất kỹ

thuật của nền kinh tế chƣa đồng đều giữa các vùng nên dẫn đến tình trạng có nơi tài nguyên bị

khai thác qua mức có nơi tài nguyên bị bỏ hoang, lãng phí .

Bài : Sử dụng vốn đất.

Bài này liên quan trực tiếp nhất đến vấn đề giáo dục bảo vệ môi trƣờng, tình trạng sử

dụng vốn đất và những vấn đề sử dụng bảo vệ vốn đất đối với mỗi vùng:

+ Đất đai là tài nguyên quý giá, là thành phần quan trọng của môi trƣờng sống . Bởi vậy

việc sử dụng hợp lý vốn đất có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi

trƣờng .

+ Vốn đất và việc sử dụng đất ở nƣớc ta.

Đất ít, đông dân. Bình quân đất tự nhiên trên đầu ngƣời chỉ khoảng 0,5 ha/ ngƣời ( bằng

1/6 mức bình quân của thế giới) .Không những thế gần 1/2 diện tích đất tự nhiên còn là đất

hoang hoá và đang hoang hóa trở lại.

52

Diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 21% diện tích đất tự nhiên còn rất ít khả năng

mở rộng. Diện tích đất lâm nghiệp bị thu hẹp do phá rừng nhanh hơn trồng rừng. Diện tích đất

chuyên dùng tăng lên.

Vì vậy ở mỗi vùng phải có chính sách thích hợp trên cơ sở luật đất đai để sử dụng và bảo

vệ có hiệu quả nhất vốn đất hiện có.

+ Tình hình sử dụng và khai thác hợp lý, bảo vệ tài nguyên đất ở mỗi vùng.

Đồng bằng sông Hồng: Là nơi điển hình của sức ép dân số lên việc sử dụng đất. Bình

quân đất nông nghiệp chỉ đạt 0,06/ha ngƣời (thấp nhất so với cả nƣớc). Khả năng mở rộng diện

tích đất nông nghiệp rất hạn chế. Trong khoảng 10 ngàn ha đất hoang hoá chỉ có một phần diện

tích là đất có khả năng sản xuất nông nghiệp.

Đặt vấn đề: Hạn chế tăng dân số, thâm canh, tăng vụ, tận dụng diện tích mặt nƣớc trồng

thuỷ sản .

Đồng bằng sông Cửu Long : Diện tích nông nghiệp gấp 3 lần sông Hồng ( bình quân

0,18/ha ngƣời ) Phần lớn đất chỉ cấy một vụ .

Vấn đề đặt ra là phải cải tạo hàng trăm ngàn ha đất ven biển để nuôi trồng thủy sản.

Đồng bằng Duyên Hải miền Trung: chống nạn cát bay, ngăn chặn sự di động của các

cồn cát do gió. Giải quyết nƣớc tƣới trong mùa khô ở miền Nam trung bộ.

- Ở Trung du và miền núi.

+ Trồng cây lâu năm, chống xói mòn.

+ Đẩy mạnh thâm canh ở nơi đất có khả năng tƣới tiêu cho phép giải quyết lƣơng thực

lại chỗ.

+ Phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp, chăn nuôi đai gia súc... bảo vệ khai

thác tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất và tài nguyên rừng .

Bài: Vấn đề lương thực - thực phẩm.

Bài này giải quyết vấn đề dân số - lƣơng thực , thực phẩm và việc sử dụng bảo vệ môi

trƣờng.

+ Sức ép dân số đối với nhu cầu lƣơng thực phẩm: Hiện nay, nƣớc ta vẫn đƣợc xếp vào

khu vực bị nạn đói đe dọa của thế giới. Dự báo đến năm 2000 dân số nƣớc ta khoảng 80 triệu ,

đòi hỏi mức sản xuất lƣơng thực, thực phẩm phải tăng gấp rƣỡi so với năm 1990.

+ Những khó khăn trong việc tăng sản lƣợng lƣơng thực là tình trạng thiếu phân bón

thuốc trừ sâu, thiếu vốn. Mặt khác thiên tai, sâu

53

bệnh làm thiệt hại ở nhiều vùng, làm cho sản lƣợng lƣơng thực chƣa ổn định vững chắc.

+ Vấn đề sử dụng tài nguyên: cần đẩy mạnh khai thác hàng chục vạn ha bãi triều, vùng

biển để nuôi trồng thuỷ sản và tăng thiết bị tàu lƣới để đánh cá ngoài khơi .

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TRÊN CẤC ĐỒNG BẰNG

Bài : Đồng bằng sông Hồng

1 - Mâu thuẫn giữa sự tăng dân số với sự phát triển kinh tế.

Đồng bằng sông Hồng là nơi dân cƣ lập trung đông nhất (mật độ cao hơn so với 4 lần so

với mật độ trung bình toàn quốc). Tốc độ tăng dân số chƣa phù hợp với nhịp độ phát triển kinh

tế xã hội. Điều này gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế - xã hội của đồng bằng.

2- Vấn đề lƣơng thực, thực phẩm và sử dụng môi trƣờng.

Đất canh tác ít, dân đông nên phải đẩy mạnh thâm canh. Song thâm canh không đi đối

với bồi dƣỡng đất làm cho đất đai bị giảm độ phì.

Để giải quyết lƣơng thực, thực phẩm cần:

+ Mở rộng diện tích canh tác. Diện tích sử dụng cho hoạt động nông nghiệp chiếm 50%

đất tự nhiên của đồng bằng, vẫn còn 45 vạn ha , trong đó có trên 1 vạn ha diện tích mặt nƣớc

chƣa đƣợc sử dụng.

+ Giải quyết vấn đề quá nhiều nƣớc trong mùa mƣa và quá thiếu nƣớc trong mùa khô.

Bài : Đồng bằng sông Cửu Long.

1 - Các tài nguyên chính của đồng bằng sông Cửu Long: Sự đa dạng và trở ngại.

Trở ngại lớn nhất là mùa khô kéo dài, là sự xâm phạm sâu vào đất liền của nƣớc mặn, sự

tăng cƣờng độ chua và độ chua mặn trong đất, cũng nhƣ những lai biến do thời tiết, khí hậu đôi

khi còn xảy ra.

2- Một số biện pháp chủ yếu trong việc sử dụng và cải tạo tự nhiên của đồng bằng:

Nƣớc ngọt là vấn đề hàng đầu ở đồng bằng sông Cửu Long. Cần có nƣớc để rửa phèn,

rửa mặn trong mùa khô.

Đối với khu vực phía Tây Nam của đồng bằng, có thể từng bƣớc biến thành những bãi

nuôi tôm, trồng sú vẹt, đƣớc kết hợp với việc bảo vệ môi trƣờng sinh thái.

54

Đƣa vào sử dụng 93 vạn ha đất, nửa triệu ha mặt nƣớc nuôi thuỷ sản, trong đó có hơn 10

vạn ha nƣớc lợ nuôi tôm xuất khẩu.

Bài : Duyên hải miền Trung.

Giá trị của các tài nguyên hiện có trong việc hình thành cơ cấu nông lâm ngƣ nghiệp và

hƣớng khai thác sử dụng .

Duyên hải miền Trung có khá nhiều tài nguyên nhƣng chƣa đƣợc khai thác là bao nhiêu

1- Tài nguyên lâm nghiệp: Chỉ đứng sau Tây Nguyên, độ che phủ rừng còn 34% nhiều

loại gỗ quý, nhiều lâm hải sản, chim thú có giá trị .

- Việc đẩy mạnh khâu chế biến gỗ và lâm sản, tu bổ rừng và trồng rừng đã trở nên cấp

bách. Việc bảo vệ rừng và vốn rừng còn có tác dụng chắn gió, bão ngăn không cho cồn cát ven

biển lấn sâu vào làng mạc, đồng ruộng.

- Tài nguyên nông nghiệp: Khai thác tổng hợp các thế mạnh nông nghiệp của trung du

đồng bằng ven biển.

Vùng đồi trƣớc núi có thế mạnh về chăn nuôi đại gia súc. Trung du Bắc Trung bộ hình

thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm. Vùng đồng bằng Duyên hải Thanh Nghệ

Tĩnh hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp hàng năm và các vùng luá thâm canh.

Bình quân lƣơng thực trên đầu ngƣời còn thấp. Cần có biện pháp sử dụng đất hợp lý kết hợp

phòng chống thiên tai.

- Tài nguyên ngƣ nghiệp: Biển miền Trung lắm tôm, cá và các hải sản khác.

Nhiều vùng, đầm, khá thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản, nhƣng còn ít đƣợc đầu tƣ

khai thác.

- Tài nguyên công nghiệp: Một số khoáng sản có giá trị nhƣ: sắt, nhôm, thiếc... chƣa

đƣợc khai thác do hạn chế đầu tƣ, kỹ thuật. Là vùng có tiềm năng thủy điện lớn.

Bài : Trung du và miền núi phía Bắc.

1 - Thế mạnh về tài nguyên khoáng sản thủy điện và sự thay đổi có thể của môi trƣờng

liên quan tới việc khai thác tài nguyên.

Đây là vùng có khoáng sản và trữ lƣợng thủy điện lớn nhất nƣớc ta, tập trung các mỏ:

Than, quặng, đồng, chì, kẽm... Các trung tâm công nghiệp và đô thị mới đƣợc hình thành.

Cần có biện pháp tránh ô nhiễm môi trƣờng nƣớc và không khí tại các khu công nghiệp,

đề phòng khắc phục hậu quả đối với môi trƣờng do các công trình thủy điện gây nên.

55

2- Thế mạnh về cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, những thuận lợi và khó khăn

trong việc khai thác thế mạnh này:

Khả năng mở rộng diện tích, nâng cao năng suất cây công nghiệp, cây đặc sản và cây ăn

quả của vùng còn rất lớn. Nhƣng còn một khó khăn lớn đối với vùng Đông bắc là thời tiết hay

nhiễu động thất thƣờng, còn với khu Tây Bắc là nạn thiếu nƣớc về mùa đông. Việc đẩy mạnh

sản xuất cây công nghiệp và đặc sản... Còn có tác dụng hạn chế du canh du cƣ trong vùng.

Để đẩy mạnh chăn nuôi gia súc ở trong vùng cần tận dụng nâng cao năng suất của những

đồng cỏ.

Bài : Tây Nguyên.

1- Vấn đề phát triển cây công nghiệp lâu năm ở Tây Nguyên. Thuận lợi và khó khăn

trong việc sử dụng môi trƣờng.

Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển cây công nghiệp lâu năm. Có các cao

nguyên đất đỏ bazan.

- Do ở độ cao nên có thể trồng các cây công nghiệp nhiệt đới và cả các cây á công

nghiệp nhiệt đới .

Khó khăn chủ yếu: Mùa khô kéo dài 4 đến 5 tháng, gây tình trạng thiếu nƣớc nghiêm

trọng cho cả việc sản xuất và sinh hoạt. Việc giải quyết nƣớc trong mùa khô là vấn đề cấp bách

của Tây Nguyên. Biện pháp giải quyết là: Bảo vệ rừng, xây dựng các công trình thủy lợi kết hợp

thủy điện.

2- Vấn đề phát triển lâm nghiệp. Việc bảo vệ rừng và môi trƣờng Tây Nguyên .

Rừng Tây Nguyên còn giàu nhất so với toàn quốc. Chiếm 36% diện tích đất Tây Nguyên

và 52 % sản lƣợng gỗ có thể khai thác của cả nƣớc. Trong rừng còn nhiều gỗ quí, chim, thú quý.

Khai thác cần có kế hoạch hợp lý đi đôi với việc tu bổ và trồng rừng mới.

Cần ngăn chặn việc phá rừng, vì hậu quả trƣớc hết của sự phá rừng là sự mất cân bằng

của nƣớc về mùa khô ở Tây Nguyên, làm tiếp tục hạ thấp mực nƣớc ngầm, xói mòn đất rất nguy

hiểm cho cây trồng và sinh hoạt cho nhân dân trong vùng .

Bài : Đông Nam bộ và biển tiếp cận.

1. Việc khai thác lãnh thổ theo chiều sâu trong công nghiệp và những vấn đề môi trƣờng

cần đƣợc quan tâm.

Nhiều ngành công nghiệp trong vùng: Thủy điện, lọc dầu, công nghiệp hoá chất gốm,

sứ, thực phẩm... Đang hƣớng tới hình thành

56

một tam giác công nghiệp mạnh là thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hoà Vũng Tàu. Do vậy vấn

đề môi trƣờng phải đƣợc luôn luôn quan tâm, đặc biệt trong vùng có thành phố lớn. Sự phát

triển của công nghiệp cũng không đƣợc làm tổn hại đến ngành du lịch mà trong vùng có nhiều

tiềm năng.

2.Vấn đề khai thác lãnh thổ theo chiều sâu trong nông nghiệp và việc bảo vệ rừng.

- Các công trình thủy lợi và thủy điện kết hợp thủy lợi phát triển nƣớc tƣới cho các vùng

khô hạn về mùa khô và tiêu nƣớc cho các vùng thấp dọc sông Đồng Nai và Là Ngà. Nhờ đó hệ

số sử dụng đất trồng cây hàng năm cũng tăng và đảm bảo lƣơng thực của vùng cũng khá hơn.

Tài nguyên rừng ở Đông Nam Bộ không thật lớn nhƣng việc bảo vệ nghiêm ngặt vốn

rừng có ý nghĩa cực kỳ quan trong nhằm bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Nó sẽ giúp cho vùng này

không bị mất nƣớc ở các hồ chứa nƣớc và giữ đƣợc mực nƣớc ngầm. Do vậy việc bảo vệ vốn

rừng sẽ có ảnh hƣởng sống đến sự phát triển của các vùng cây chuyên canh cây công nghiệp.

3. Vấn đề phát triển tổng hợp kinh tế biển và việc giải quyết vấn đề ô nhiễm biển.

Vùng biển và bờ biển Đông Nam Bộ có điều kiện thuận để phát triển tổng hợp kinh tế

biển: Khai thác tài nguyên sinh vật biển, khai thác khoáng sản thềm lục địa, du lịch biển và giao

thông vận tải biển. Tuy nhiên, việc giải quyết những vấn đề ô nhiễm môi trƣờng do các sản

phẩm dầu mỏ gây ra cần đƣợc đặc biệt chú ý trong quá trình khai thác và sử dụng nó.

Bài. Các vấn đề về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Đông Nam Á.

1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên Đông Nam Á.

Là khu vực giầu khoáng sản trong lòng đất và thềm lục địa. Nhiều đồng bằng châu thổ,

đồng bằng duyên hải, vùng núi và trung du có đất đỏ bazan.

Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, cận nhiệt và trồng đƣợc nhiều loại cây trồng nhiệt đới, á

nhiệt, nhiều vụ trong năm.

Tài nguyên rừng còn giàu.

Tài nguyên thủy sản cũng rất phong phú.

2. Những vấn đề sử dụng cải tạo.

57

Khí hậu nhiệt đới gió mùa kém ổn định, về mùa mƣa hay có lụt, bão, về mùa khô hay có

hạn nên tài nguyên đất rừng... dễ bị suy thoái nên khai thác không hợp lý.

Việc khai thác khoáng sản còn phụ thuộc vào nƣớc ngoài về vốn và kỹ thuật.

Ở miền đồi núi, nạn phá rừng đốt nƣớng làm rẫy còn phổ biến gây ra nạn xói mòn đất,

hủy hoại tài nguyên nông lâm nghiệp.

Vấn đề lƣơng thực - thực phẩm vẫn là mối quan tâm thƣờng xuyên ở vùng có diện tích

canh tác hạn chế nhƣng số dân vẫn tiếp tục bùng nổ.

Bên cạnh những biện pháp tăng sản lƣợng lƣơng thực - thực phẩm, phần lớn các nƣớc

Đông Nam Á cần có quốc sách giảm tỷ lệ tăng dân số.

III. Một số ý kiến đề nghị

Hệ thống nội dung kiến thức giáo dục môi trƣờng cho học sinh cấp II và III đã đƣợc thể

hiện trong chƣơng trình sách giáo khoa địa lý theo chiều rộng và chiều sâu, các nội dung đƣợc

nâng cao dần từ lớp 6 đến lớp 12. Từ những khái niệm đơn giản đến phức tạp, từ việc chỉ cho

học sinh thừa nhận đến việc cho học sinh chủ động hiểu sâu về bản chất, từ những tri thức cụ

thể nâng lên thành lý luận. Tất cả những nội dung đó đã thể hiện qua việc khai thác nôi dung ở

các bài địa lý.

Tuy nhiên để có thể thực hiện giáo dục bảo vệ môi trƣờng có hiệu quả cao môn học cần

phải thực hiện một số nội dung sau:

- Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có chủ trƣơng thống nhất chỉ đạo đồng loạt ở tất cả các

trƣờng về việc tiến hành giáo dục môi trƣờng cho học sinh bằng hình thức lồng ghép, tích hợp

vào bài giảng trong chƣơng trình sách giáo khoa. Ngoài môn địa lý, các môn: sinh vật, giáo dục

công dân, tâm lý học và tất cả những môn tự nhiên cũng phải khai thác nội dung giáo dục môi

trƣờng qua bộ môn của mình.

- Cần xây dựng mục tiêu cụ thể khung chƣơng trình, và nội dung giáo dục môi trƣờng

cho toàn bộ ngành học phổ thông từ thấp đến cao.

Thƣờng xuyên mở các lớp về bồi dƣỡng môi trƣờng và giáo dục môi trƣờng cho giáo

viên ở các cấp, trang bị cho giáo viên một số phƣơng pháp cụ thể, cách khai thác nội dung ở

từng bài cho sát thực tế

58

và nội dung bài giảng để khi giảng dạy không dẫn đến tình trạng quá tải nhận thức cho học sinh.

- Riêng đối với môn địa lý cần đƣợc cập nhật hoá kiến thức để có thể sử dụng những nội

dung gần gũi nhất với cuộc sống, từ đó học sinh có thể liên hệ với thực tế cuộc sống đang diễn

ra quanh các em.

Trang bị những phƣơng tiện hiện đại để giới thiệu những hình ảnh ở nhiều lĩnh vực cho

học sinh nhận thức, so sánh với thực tế.

C. KẾT LUẬN

Trƣớc nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, sự gia tăng dân số quá nhanh, cơ sở hạ tầng

thấp kém, quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá diễn ra mạnh mẽ đã và đang dẫn tới tình

trạng "khủng hoảng" môi trƣờng sinh thái. Nếu chúng ta không có kế hoạch khai thác và bảo vệ

môi trƣờng tốt sẽ dẫn tới tình trạng giảm sút chất lƣợng cuộc sống của con ngƣời.

Việc giáo dục môi trƣờng cho cả cộng đồng và trong nhà trƣờng đƣợc đặt ra hết sức cấp

bách. Đặc biệt trong nhà trƣờng nói chung và môn địa lý nói riêng, việc giáo dục môi trƣờng

cho học sinh cần phải đạt đƣợc những yêu cầu chính:

- Cho học sinh cấp II và III hiểu đầy đủ những khái niệm môi trƣờng từ phạm vi nhỏ

nhất đến tổng thể tự nhiên.

- Hiểu đƣợc khái niệm và công việc cụ thể về bảo vệ môi trƣờng. Từ đó học sinh tiếp

thu những kiến thức từ nhận biết đến hiểu những bản chất của quá trình môi trƣờng có ảnh

hƣởng tốt và không tốt đến cuộc sống hàng ngày của các em và cả xã hội. Thông qua đó các em

có ý thức bảo vệ môi trƣờng và vận động những ngƣời xung quanh cùng nâng cao trách nhiệm

bảo vệ môi trƣờng.

Những nội dung bảo vệ môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng ở môn địa lý có ƣu thế rất lớn

bởi vì đối tƣợng nghiên cứu của địa lý chính là môi trƣờng (các bài cụ thể đã đề cập tại đề tài).

Vì vậy, khi giảng dạy môn địa lý giáo viên có thể khai thác ngay nôi dung của từng bài

để lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục môi trƣờng, hoặc có thể tổ chức ngoại khoá, tham

quan, trao đổi hoặc qua các hoạt động xã hội khác.

59

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bảo vệ môi trƣờng và hiệu quả kinh tế xã hội của nó. NXB KH và KT. Hà Nội. 1985.

2. Cứu lấy trái đất – Chất lƣợng cho cuộc sống bền vững. Đồng ấn phẩm của IUCN,

UNEP, WWF. Gland, Thụy Sỹ tháng 10 năm 1991. Trung tâm tài nguyên và môi

trƣờng. Trƣờng ĐHTH Hà Nội dịch và biên soạn.

3. Vũ Minh Châu. Vận dụng quan điểm sử dụng đi đôi với bảo vệ và cải tạo tài nguyên

thiên nhiên vào giảng dạy chƣơng "Sinh quyển" ở các trƣờng Cao đẳng sƣ phạm. Luận

văn sau đại học. Trƣờng ĐHSP Hà Nội. I. 1978.

4. Nguyễn Dƣợc. Giáo dục bảo vệ môi trƣờng qua môn địa lý trong hệ phân loại phƣơng

pháp Giáo dục số 11 / 1982

5. Nguyễn Dƣợc. Giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong nhà trƣờng phổ thông NXB Giáo dục .

Hà Nội. 1986

Địa lý học về vấn đề môi trƣờng. NXB KH và KT . HN. 1979 6.

Grigôriev A. A. Các kiểu môi trƣờng địa lý - Những công trình lý thuyết chọn lọc. Tập I. 7.

II Trƣờng ĐHSP HN . I dịch và XB. 1983.

8. Hội nghị quốc tế. Môi trƣờng và phát triển bền vững (Báo cáo khoa học). HN. từ

ngày 5 đến 6 /10/1990.

9. Hoàng Đức Nhuận, Về giáo dục môi trƣờng trong các môn học ở phổ thông NCGD số

9/1982.

10. Nguyễn Ngọc Sinh và tập thể tác giả. Môi trƣờng và tài nguyên thiên nhiên Việt Nam.

NXB KH và KT . HN. 1984

Sử dụng và bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên. NXB KH và KT . HN . 19977 11.

Ủy ban khoa học nhà nƣớc - UNDP -IUCN - SIDA . Việt Nam - chƣơng trình hành động 12.

quốc gia về môi trƣờng và phát triển bền vững - Hà nội - 1992

13 Ủy ban khoa học nhà nƣớc, Chƣơng trình hành động quốc gia về môi trƣờng và phát

triển bền vững. Hà Nội .1991

14 Lê Thạc Cán

60

Đánh giá tác động môi trƣờng, phƣơng pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn. Chƣơng

trình nghiên cứu bảo vệ môi trƣờng. Hà Nội. 1993

15. Báo cáo khoa học. Hội thảo Quốc gia về đánh giá tác động môi trƣờng ở Việt Nam ( TP.

HCM 21-25/6/1993). JT SOIL AND WATER, Bangkok, Tháilan - CEFINEA. ĐHBK-

TP. Hồ Chí Minh. 1993

16. Báo cáo khoa học. Hội thảo Quốc gia về nghiên cứu bảo vệ môi trƣờng và phát triển bền

vững. Chƣơng trình KT.02 Bộ Khoa công nghệ và môi trƣờng Việt Nam. Tổ chức

HANNS SEIDEL FUNDATION Hà Nội (9/10/ 1993)

17. UNEP / UNICEF 1989. Trẻ em và môi trƣờng. Dịch giả: Đinh Xuân Hùng và NNK.

UNEP- UNICEF - INFOTERRA VIETNAM 1992.

18. UNEP-JUN-WWF. Cứu lấy trái đất. Chiến lƣợc cho cuộc sống bền vững. Dịch giả trung

tâm tài nguyên và môi trƣờng. Trƣờng ĐHTH Hà Nội , NXB KHKT 1993

19. Các báo cáo khoa học. Hội nghị quốc tế môi trƣờng và phát triển bền vững (Hà Nội, 3-

6/12/1990) UBKHKTNNVN- Chƣơng trình phát triển Liên Hiệp Quốc Hà Nội 1990

Bộ giáo dục và Đào tạo. Thông báo khoa học. Chuyên đề khoa học môi trƣờng 1993. 20.

Tạp chí Hoạt động khoa học. 5/1987 21.

Tạp chí Phát triển kinh tế. Trƣờng ĐHKT TP. HCM số 21 tháng 7/1992. số 44 tháng 22.

6/1994.

Tạp chí môi trƣờng TTTTKHKT. TP.HCM, số 1 tháng 9/1988. 23.

Phạm Xuân Hậu. Vấn đề đƣa giáo dục môi trƣờng vào nhà trƣờng ở Việt Nam - TTKH. 24.

ĐHSP. TP.HCM 12/1995

25. Phan Huy Xu - Trần Văn Thành. Vấn đề đƣa giáo dục môi trƣờng vào giảng dạy ở nhà

trƣờng các cấp tại TP.HCM - TTKH .ĐHSP TP. HCM - 12/1995

26. Phạm Xuân Hậu - Giáo dục môi trƣờng qua môn địa ký cho học sinh cấp II - Tạp chí

KHXH - IV 1995

27. Josep M. Petulia. 1987. Environmcntal Protection in The united Slates. San Francisco

Center.

28. Josep M. Petulia 1980 American Environmcntalism. Texas A. M University Pass.

Lollege Stalion an London.

29. Jacques Vernier 1992. Môi trƣờng sinh thái. Dịch giả: Trƣơng Thị Chí, Trần Chí Đạo.

NXB Thế giới HN 1993.

61

30. Nag- Chaudruri B- 1983 Introduction to Environmental Mangement, New Dehli , India

31. Synil P. Parket et al 1980. Encyclopedia of Environmental Science, Second Edition.

McGraw- Hill book Company

32. UNESCO/UNEP. 1987. International Strategy for Action in the Field of Environmental

Education and Training for the 1990s, United Nations Educational. Scientific and

Cultural Organization, Paris and UNEP , Nairobi.

62

MỤC LỤC

A. PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................................................... 1

I - TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI. ..................................................................................................... 1

II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI. ................................................................................................................. 2

III. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI. ................................................................................................................ 2

IV. CÁC QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU. ................................................................................................ 3

V. CÁC PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................................................................. 3

B. PHẦN NỘI DUNG ................................................................................................................................. 4

CHƢƠNG I : NỘI DUNG - KIẾN THỨC GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG QUA MÔN HỌC ĐỊA LÝ CHO HỌC SINH CẤP II VÀ II Ở NƢỚC TA. ...................................................................................... 4

I. Việc đƣa giáo dục môi trƣờng vào nhà trƣờng ................................................................................ 4

II. Giáo dục môi trƣờng trong nhà trƣờng ở các nƣớc......................................................................... 5

III. Đƣa giáo dục môi trƣờng vào nhà trƣờng ở Việt Nam ................................................................ 10

CHƢƠNG II: GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG TRONG MÔN ĐỊA LÝ .................................................. 13

I. Những khái niệm về môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng ................................................................. 13

II. Nội dung giáo dục môi trƣờng qua môn địa lý. ............................................................................ 16

III. Việc đƣa nội dung môi trƣờng và giáo dục môi trƣờng vào chƣơng trình sách giáo khoa phổ thông .................................................................................................................................................. 17

IV. Giáo dục môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng cho học sinh cấp II và III qua môn Địa lý ............. 17

CHƢƠNG III: KHAI THÁC NỘI DUNG KIẾN THỨC MÔI TRƢỜNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG SÁCH GIÁO KHOA ĐỊA LÝ CẤP II VÀ III Ở VIỆT NAM. ............................ 18

I. Nội dung kiến thức giáo dục môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng qua môn Địa lý cấp II ................ 19

II. Nội dung kiến thức giáo dục môi trƣờng và bảo vệ môi

trƣờng qua môn địa lý ở Cấp III ........................................................................................................ 42

III. Một số ý kiến đề nghị .................................................................................................................. 58

C. KẾT LUẬN .......................................................................................................................................... 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................................................... 60