intTypePromotion=1
ADSENSE

Giáo trình độc chất học part 7

Chia sẻ: Safskj Aksjd | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:18

121
lượt xem
30
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

109 Liều cao gây tổn thương gan, suy thận (triệu chứng rõ khi súc vật có thai). Với gà đẻ và gia súc sinh sản nếu dùng Doxycyline làm giảm sản lượng trứng, giảm khả năng thụ thai, giảm số con trên lứa đẻ, giảm sản sinh tinh trùng và hoạt lực tinh trùng. Trên thi trường có loại Tetra-eggs dùng cho gà đẻ trứng hay súc vật sinh sản thành phần có chứa chlo hay oxy tetracycline là những loại ít hay không được phân bố trong buồng trứng và dịch tử cung, dịch hoàn ==è không độc cho...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình độc chất học part 7

  1. 109 Liều cao gây tổn thương gan, suy thận (triệu chứng rõ khi súc vật có thai). Với gà đẻ và gia súc sinh sản nếu dùng Doxycyline làm giảm sản lượng trứng, giảm khả năng thụ thai, giảm số con trên lứa đẻ, giảm sản sinh tinh trùng và hoạt lực tinh trùng. Trên thi trường có loại Tetra-eggs dùng cho gà đẻ trứng hay súc vật sinh sản thành phần có chứa chlo hay oxy tetracycline là những loại ít hay không được phân bố trong buồng trứng và dịch tử cung, dịch hoàn ==è không độc cho động vật sinh sản. Chú ý: Nếu tiêm bắp cũng có thể gây đau do bị viêm. Mèo có thể gây sốt do thuốc khoảng 2 ngày sau khi ngừng thuốc. Không dùng khi gia súc bị nhược cơ, mang thai, khai thác sữa, suy gan, thận. d. Nhóm lincosamid Gây tiêu chẩy mất nước và chất điện giản nặng do ruột bị viêm thể màng giả, sốt, xuất huyết niêm mạc. Nôn, ngứa hậu môn (gia súc, nhất là chó, nèo hay quay lại liếm hậu môn), viêm xoang miệng, lợi, lưỡi. Nếu dùng phối hợp Lincomycin với Spetinomycin trên bò có thể gặp shock quá mẫn xẩy ra ngay sau khi tiêm. Phối hợp lincimycin với Neomycin tiêm cho loài linh trưởng sẽ bị shock quá mẫn xảy ra ngay tức khắc 5 -10 giây giống như shock của penicilin trên người. e. Nhóm polypeptid Khi sử dụng Polymycin B trị bệnh cho chó sẽ gặp hiện tượng tăng BUN. f. Nhóm quinolone (cả thế hệ I và II) - Hệ tiêu hoá: Gây rối loạn tiêu hoá, tích thực, đau bụng, có thể nôn. - Liều cao gây co giật, làm tổn thương mô sụn ==è ảnh hường đến tốc độ phát triển. Chú ý: không dùng khi gia súc có chửa kỳ I và kỳ III, đang khai thác sữa (dùng sữa cho bê con bú); hay khi bị bệnh suy gan, thận. g. Nhóm nitro - imidazole - Trên hệ tiêu hoá gia súc có hiện tượng chán ăn, buồn nôn, viêm miệng và lưỡi, giai đoạn sau lưỡi bị đen, rồi bị tiêu chẩy. - Gây rối loạn hoạt động thần kinh khi dùng liều cao, lâu ngày do các dây thần kinh thính, thị giác và thần kinh ngoại vi bị viêm ==è rối loạn vận động, ít khi gặp. Chú ý: Không dùng khi có chửa kỳ I, đang nuôi con, hay bị bệnh ở các cơ quan tạo máu. h. Các sulfamid Biểu hiện mẫn cảm: hay gặp trên dạ dầy đơn: chó, mèo, lợn ... Gây viêm da bọng nước, bong biểu bì, tổn thương niêm mạc mũi, miệng. Nếu bôi trên da gây viêm da do tiếp xúc. Hiện tượng rụng lông gặp nhiều trên chó, mèo. - Gây tổn thương thận ở loài dạ dầy đơn do hiện tượng acetyl hoá thành các sản phẩm không tan trong môi trường a xit gây sỏi mầu xanh, tím trong bể thận, bàng quang, gan, ống mật. Với chó gặp: khó đi tiểu (đái dắt), sau chuyển vô niệu, hàm lượng BUN tăng cao, máu không đông. Với loài linh trưởng để lại tồn lưu trong tế bào - Gây rối loạn tiêu hoá, không nhai lại (bò), thức ăn tích trong thực quản hầu (ngựa), sau chán ăn vài ngày rồi tiêu chẩy. Kế phát viêm phúc mạc sau chuyển viêm dính toàn ổ bụng. Gây thiếu máu do thiếu a xid folic tạo tế bào máu. Vàng da do gan bị bệnh hay bị tắc ống mật. 109
  2. 110 Chú ý: không dùng cho gia súc bị suy gan, thận, có thai, cho con bú, động vật non. Cẩn thận khi dùng các sulfamid chậm: Sulfadoxine, Sulfamethoxypyzidazin = SMP hay Co - trimoxazole có chứa Sulfamethoxazole, Fan - sidar có chứa Sulfadoxine. i. Thuốc chống nấm AmphotericinB: Độc với thận, gây giảm K+ và Mg++ trong máu, sốt viêm tĩnh mạch huyết khối. Trên chó hay gặp co giất cơ, sốt do thuốc. Cả mèo và chó đều có hiện tượng tăng BUN. Ketoconazole: gây rối loạn tiêu hoá, dị ứng ngoài da, độc với gan, rối loạn sinh dục, giảm khả năng sinh tinh trên con đực. Không dùng khi có thai hay cho con bú. Miconazole: rối loạn tiêu hoá, dị ứng, viêm tĩnh mạch, giảm bạch cầu và lipid/máu, loạn nhịp tim (nếu tiêm tĩnh mạch). Không dùng khi có thai hay đang nuôi con. Fluconazole: gây rối loạn tiêu hoá, sống phân, dị ứng trên da. Không dùng khi có chửa và cho con bú. Sau đây là bảng các thuốc cấm dùng hay dùng cần chú ý. Bảng 5.1: Sử dụng thuốc trong điều trị bệnh cho động vật có chửa Thuốc cấm dùng Dùng thận trọng STT 1 Chloramphenicol Các aminoglucozid 2 Dapsone Amphotericin B 3 Dehydroemetine, emitine Clindamycin 4 Erythromycin estolate Ethambutol 5 Furazolidone Fluconazole 6 Griseofulvin Imipenem 7 Mefloquine Idoquinol 8 Nitrofurantoin Isoniazid 9 Norfloxacin Ketoconazol 10 Ofloxacin Mebendazole 11 Oxamniquine Miconazole 12 Primaquine Piperazin 13 Các sulfamid Pyrazinamide 14 Các tetracycline Pyrimethamine 15 Co-trimxazole (Bactrim) Quinacrine Các quinolone cả 2 thế hệ 16 Quinine 110
  3. 111 Các nitro - imidazol như 17 Rifampicin Metronidazole Thiabendazol Vancomycin Trimethoprim Sau đây là bảng danh sách các thuốc được đào thải qua sữa mẹ. Trong giai đọan khai thác sữa hay nuôi con cần lưu ý để phòng độc cho người và ấu súc. Bảng 5.2.: Thuốc hoá học trị liệu thải ra qua sữa Sự sai khác giữa lý thuyết và thực nghiệm pKa Milk pH Tên thuốc Lý thuyết Thực nghiệm Môi trường a cid Penicillin G 2,7 6,8 0,20 0,13 - 0,26 Cloxacillin 2,7 6,8 0,20 0,25 - 0,30 Ampicillin 2,7; 7,2 6,8 0,26 0,24 - 0,30 Amoxycillin 2,7; 7,2 6,8 0,26 Cephaloridin 3,4 6,8 0,25 0,24 - 0,28 Sulfadimethoxine 6,0 6,6 0,19 0,23 Sulfamethazine 7,4 6,6 0,55 0,59 Môi trường kiềm Erythromycin 8,8 6,8 6,1 8,7 Tylosin 7,1 6,8 3,0 3,5 Lincomycin 7,6 6,5 - 6,8 2,8 2,0 - 5,6 Trimethoprim 7,6 6,5 - 6,8 2,8 - 5,3 2,9 - 4,9 Amynoglucozid (7,8) 6,5 - 6,9 0,20 - 0,80 Spectinomycin 8,8 7,5 0,4 Dạng bột nguyên chất, tự nhiên Chloramphenicol - 6,5 - 7,1 (1,0) 1,1 Oxytetracyclin - 6,5 - 6,8 - 0,75 Doxycyline - 6,5 - 6,8 - 1,53 111
  4. 112 k. Tác hại của tồn dư kháng sinh * Đối với sức khoẻ. ảnh hưởng của chất tồn dư kháng sinh đến sức khoẻ của gia súc, con người có thể trực tiếp hay gián tiếp: Chloramphenicol gây quái thai, suy tuỷ, rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột... * Các phản ứng dị ứng: Đặc biệt đối với những cá thể mẫn cảm, sự có mặt các chất tồn dư trong thực phẩm có nguồn gốc động vật có thể gây ra phản ứng dị ứng trên người mẫn cảm. Những người có sẵn cơ địa dị ứng với nhóm b - lactam, khi uống sữa bò hay dùng các sản phẩm còn tồn lưu những thuốc kháng sinh thuộc nhóm này sẽ bị dị ứng mổi mề đay hay tiêu chảy. * Gây rối loạn khu hệ vi sinh vật đường ruột: Chúng có ảnh hường xấu theo 2 cách: - Biến đổi thành phần hệ vi sinh vật, giết chết vi khuẩn có lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn kháng thuốc phát triển. Đã có rất nhiều bằng chứng về vi khuẩn kháng thuốc có thể truyền từ động vật sang người. Điều này gây khó khăn trong việc chẩn đoán, chọn thuốc điều trị số bệnh. Sự truyền tính kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh ở động vật sang người có thể do tiếp xúc trực tiếp hay qua đường tiêu hoá khi dùng thức ăn bị nhiễm vi khuẩn kháng thuốc hay do nhiễm vi khuẩn kháng thuốc tại các bệnh viện. Việc này lại do việc sử dụng kháng sinh bừa bãi, tuỳ tiện trong cả nhân y và thú y, nhất là việc dùng kháng sinh với mục đích kích thích tăng trọng. - Chất tồn dư của các tác nhân kháng khuẩn trong thực phẩm (tồn dư thuốc hoá học trị liệu trong đó có kháng sinh) có nồng độ cao hơn LMR - Limite Maximale Residuc sẽ góp phần tạo vi khuẩn kháng thuốc trên người. * Tác hại về mặt công nghệ Các tồn dư kháng sinh đã cản trở việc lên men trong quá trình chế biến thực phẩm: sữa chua, phomat, chế xúc xích... 2.2. Cỏc chất sỏt khuẩn Chất sỏt khuẩn là những chất dựng với mục đích sát trùng tại chỗ, cục bộ, nơi tiếp xúc với cơ thể vật nuôi (chất sát trùng ngoài da, vết thương, các chất uống vào với mục đích chống nhiễm khuẩn, loạn khuẩn đường tiêu hóa); cỏc chất khử trựng, tẩy uế toa tầu, xe vận chuyển vật nuụi, nền chuồng, sân chơi... Tại những nơi thuốc tác dụng với tổ chức của cơ thể ở liều quá cao sẽ gây hoại tử tế bào. Thông qua vết thương, chúng được hấp thu vào máu gây rối loạn chức năng sinh lý toàn thõn. Chất sỏt khuẩn cũn bao gồm cả những chất cho vào thực phẩm với mục đích ức chế hay tiêu diệt các vi sinh vật làm hư hỏng thực phẩm trong quá trỡnh thu hoạch, chế biến, bảo quản. Nhờ đó mà kéo dài khả năng sử dụng nhưng vẫn bảo đảm chất lượng của thực phẩm. Thuộc nhóm này gồm có các acid mạnh, kiềm mạnh và các muối kim loại cũng được coi là các chất độc do tiếp xúc. Trong các acid vô cơ, acid clohydric, acid sunphuric, acid nitric, acid photphoric là những acid thường gây độc cho động vật. Trong chăn nuôi khi dùng các premix khoáng bổ sung theo đường tiêu hóa, nếu dùng quá liều sẽ gây ngộ độc acid hay kiềm tùy dạng thức ăn và loài vật nuôi. Các acid hữu cơ: acid lactic, acid acetic, acid oxalic hay gây ngộ độc cho loài nhai lại. * Sự hỡnh thành ngộ độc và các dạng ngộ độc 112
  5. 113 Khi bị nhiễm khuẩn đường tiêu hóa thường dùng cỏc chất sỏt khuẩn, hay acid loóng cho vật nuụi uống. Cỏc acid clohydric, acid acetic cú thể bay hơi qua đường hô hấp gây hại cho cơ thể. Các acid ở nồng độ cao, đậm đặc đều gây phản ứng với mọi loại tế bào của cơ thể do làm biến đổi nguyên sinh chất. Mức độ biến đổi tỷ lệ thuận với nồng độ của acid. Nồng độ càng cao sự tàn phá tế bào càng nặng. Xong ở nồng độ cao, các acid có tác dụng tại chỗ là chính do làm biến chất đông kết chặt protein nên đó ngăn cản không cho acid tiếp tục hấp thu vào máu gây nhiễm độc toàn thân. Ngược lại nồng độ thấp các acid được hấp thu từ từ vào máu dễ gây nhiễm độc toàn thân. * Tỏc dụng cục bộ: tại nơi tiếp xúc với acid, tổ chức thường bị biến màu. Với acid clohydric, tổ chức sẽ có màu xám; acid sunphuric cho màu nâu đen, acid nitric có màu vàng. Riêng với acid acetic đậm đặc chỉ gây hoại tử bề mặt, cũn acid mercuric gõy cỏc ổ loột trờn bề mặt da. Khi uống cỏc acid (ở nồng độ nhất định trị loạn khuẩn đường tiêu hóa) nếu niờm mạc đường tiờu húa bị viờm chỳng sẽ phỏ hủy lớp cơ dưới niêm mạc dạ dày - ruột, tiếp đó là quá trỡnh nhiễm trựng kế phỏt. Hậu quả nặng nề nhất của nhiễm độc acid đường tiêu hóa là gây viêm phúc mạc. Do acid kích thích niêm mạc đường tiêu hóa dễ đưa tới nôn ọe, thức ăn có thể tràn sang đường hô hấp gây viêm phổi, co thăt phế quản, thùy thũng phổi, vật chết do ngạt thở. Cũng có thể do tác dụng của các acid, toàn bộ ống tiêu hóa, dạ dày, ruột bị xung, xuất huyết. * Triệu chứng toàn thõn: thường gặp với các acid vô cơ. Acid vô cơ có nồng độ loóng và yếu dễ hấp thụ, dễ trúng độc hơn các acid hữu cơ. Khi hấp thu vào máu quá ngưỡng bỡnh thường sẽ gây toan huyết (acidosis). Với hàm lượng thấp do có hệ thống đệm cơ thể tự điều chỉnh nên pH không có biến đổi. Nhưng nếu cứ tiếp tục hấp thu, sự cõn bằng toan - kiềm trong mỏu bị rối loạn, pH và khớ O2 giảm, lượng khí CO2 tăng, thần kinh trở nên mẫm cảm gây co giật. Vật chết do hôn mê. Bờn cạnh những triệu chứng chung núi trờn cỏc acid khỏc nhau cũn cú một số triệu chứng đặc trưng riêng biệt. - Acid acetic - CH3COOH : Được dùng trong chế biến, bảo quản thực phẩm và chông loạn khuẩn đường tiêu hóa. Có tác dụng ức chế men vi sinh vật gây hại trong đường tiêu hóa. - Acid focmic - HCOOH: Sử dụng để bảo quản thực phẩm. Đối với chó nếu cho ăn theo khẩu phần 10% tương đương 50 mg/kg thể trọng gây methemoglobin trong máu kéo dài 10 ngày là do acid focmic ức chế men catalaza. Nếu cho ăn liều thấp khoảng 0,5 g acid focmic/ngày, ăn hàng ngày, chó vẫn không phát hiện thấy độc. - Hexa-metylen-tetramin - (CH2)6N4: Trong môi trường acid hoặc dầu các hợp chất hữu cơ và protein, Hexa-metylen-tetramin bị thủy phân dần dần thành amoniac hoặc focmon, do đó tính chất gây độc cũng giông như focmon: gây đông vón đồng loạt protein, kích ứng niêm mạc. Focmon có ảnh hưởng đến việc tổng hợp protein của cơ thể. Đồng thời cũn gõy đột biến trên giống ruồi Drosophila. Độc tính trên chuột cống trắng: nếu tiêm dưới da lặp lại nhiều lần dung dịch Hexa- metylen-tetramin 35 – 40% sẽ thấy saccom cục bộ trên 2/3 số chuột thí nghiệm. 113
  6. 114 - Formol (HCHO): Trước đây hay dùng trong bảo quản thực phẩm, hiện nay đó bị cấm. Trong lõm sàng cũn dựng cho trõu bũ uống khi bị chướng bụng đầy hơi, nếu dùng quá liều sẽ gây độc. - Acid socbic - CH3 - CH = CH - CH = CH - COOH và cỏc muối natri, kali socbat: Được sử dụng trong bảo quản thực phẩm với mục đích ức chế men mốc và các vi khuẩn có hại. Hoạt chất diệt mốc được tăng lên trong môi trường acid hoặc natri clorua với pH = 4,5. Thuốc có độc hại trên chuột cống trắng và chó. Hàng ngày cho ăn với liều 5% trong thức ăn (tương đương 2500 mg /kg thể trọng/ngày) chưa có hại. Với liều 8% thấy trọng lượng gan của chuột cống trắng to hơn lô đối chứng nhưng chưa thấy biến đổi về bệnh lý. - Acid benzoic - C6H5COOH và muối natri benzoat C6H5COONa: Dựng làm chất sỏt khuẩn trong bảo quản thực phẩm chống men, vi khuẩn và mốc. Tác dụng diệt khuẩn tăng lên ở môi trường acid. Nếu chuột ăn với liều 1090 mg/kg thể trọng chưa thấy biểu hiện độc. Nhưng ở liều cao 8% Natri benzoat trong thức ăn, 13 ngày sau đó cú 50% số chuột chết; số chuột cũn lại trọng lượng chỉ bằng 2/3 so với lô đối chứng. Chuột chết có bệnh tích trong gan thận. Với chó liều 1 g/kg thể trong chưa có biểu hiện độc, nhưng với liều cao hơn chó bị rối loạn thần kinh như co giật, động kinh rồi chết. Acid salicylic: Sử dụng làm thuốc sỏt khuẩn, bảo quản thực phẩm.Trong thỳ y cũn dựng làm thuốc hạ sốt, giảm đau và chống viêm (tronng nhúm thuốc chống viờm physteroid). Nếu dùng liều cao trên vật nuôi sẽ gây hiện tượng dón mạch ngoại vi, hạ thấp hàm lượng protrombin trong máu, nổi mụn ngoài da, gan hoại tử và xuất huyết. Acid Boric - H3BO3 và muối natri borat - Na2B4O7.10H2O: Được dùng làm chất sát khuẩn chống vi khuẩn. Nếu chuột cống trắng, chó mèo ăn ngắn ngày sẽ có hiện tượng chậm lớn, tổn thương gan. Chuột cống trắng ăn dài ngày với liều 100 mg/kg thể trọng/ngày có hiện tượng teo tinh hoàn gây vô sinh. Anhydric sunfure - SO2: Trong thực tế hay dùng các muối của acid sunfurơ như: Natri sunfit Na2SO3, Natri sunfit kết tinh với 7 phân tử nước: Na2S2O5.7H2O, Natri meta bisunfit Na2S2O5, Natri bisunfit NaHSO3. Tác dụng độc hại của các muối trên phụ thuộc vào nồng độ, hàm lượng và tốc độ giải phóng khí SO2. Được dùng rộng rói chống men mốc vi khuẩn trong bảo quản thực phẩm và sỏt khuẩn. Trờn thỏ với liều 1 - 3g/ngày kộo dài liờn tục 127 - 185 ngày có hiện tượng sụt cân, chảy máu dạ dày. Với chuột cống trắng liều 0,1% Natri sunfit ức chế sự phát triển do phá hủy vitamin B1 trong thức ăn. Do vậy không được dùng SO2 và các muối của nó để bảo quản các thức ăn có nhiều vitamin B1 như thịt, ngũ cốc, đậu đỗ hạt, sữa và các chế phẩm. Các acid khác khi bị nhiễm độc như acid clohydric và acid acetic gây dung huyết, dẫn tới huyết niệu. Khi nhiễm độc acid lactic các tổ chức nhu mô của gan tim bị thoái hóa. Nhiễm độc acid oxalic sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của thận như viêm thận, sỏi thận. Đặc biệt đối với động vật dạ dày đơn. Khi acid oxalic xuất hiện nhiều trong máu chúng sẽ kết hợp với canxi tạo canxi oxalat lắng đọng trong thận đưa tới hàng loạt các rối loạn tiếp theo. Đặc biệt khi thận bị có sỏi cắt ngang thận quan sỏt vựng tủy thấy cú những đám, những vệt xám dài 1 - 2 mm. Đó là những đám Canxi oxalat lắng đọng tạo nên. * Điều trị Trên da: khi bị dây acid nên dùng bông hay vải gạc lau sạch rồi rửa bằng nước Natri bicacbonat để trung hũa hết acid. 114
  7. 115 Trong ống tiêu hóa: khi bị nhiễm độc nên dùng dung dịch Magiờ oxyt để trung hũa. Khụng được dùng hydrocacbonat hoặc các chế phẩm khác chứa cacbonat cho uống để trung hũa acid trong đường tiêu hóa. Khi đó dưới tác dụng của axit, một lượng lớn CO2 sẽ được hỡnh thành. Khớ CO2 này sẽ làm gián đoạn việc tẩy rửa cục bộ tại chỗ axit ở đường tiêu hóa. Không được rửa dạ dày và gây nôn. Để giảm đau có thể dùng morphin và các piopat khác. Cho uống nhiều nước để pha loóng acid. Đề phũng kế phỏt cỏc bệnh truyễn nhiễm, dùng các thuốc chống vi trùng. Có thể dùng atropin giảm co thắt cơ trơn đường tiêu hóa do tác dụng của acid gây nên. Chống toan huyết dùng dung dịch Natri hydrocarbonat 2 - 4% tiờm tĩnh mạch. Tốt nhất dựng dung dịch glucoza 5 - 10% truyền tĩnh mạch. Trường hợp ngộ độc acid oxalic một mặt phải trung hũa acid, mặt khỏc phải bổ sung canxi để duy trỡ hàm lượng canxi huyết, bằng cách cho uồng hoặc tiêm các dung dịch có chứa các ion Canxi. Đồng thời phải tiến hành điều trị triệu chứng. 2.3. Thuốc hạ sốt, giảm đau và chống viêm Với máu: gây dung huyết. Liều cao gây methemoglobin giảm khả năng vận chuyển o xy của tế bào hồng cầu. Làm toan huyết. Tổn thương gan nhất là nhóm anillin hay các thuốc thuốc dẫn xuất của salicylat, pyrazolon. Giảm bạch cầu các thuốc thuộc nhóm pyrazolon - Hay gây quen thuốc, nghiện thuốc, + Không dùng kết hợp các ancaloid của nấm cựa gà (Ergot de seigle, Secale cornutum, Claviceps purpurea) gồm: Ergotamin, Ergotoxin kết hợp với các thuốc gây co mạch quản ngoại vi sẽ làm huỷ hoại tổ chức: hoại tử đầu các chi, đuôi, tai, mũi... câu hỏi ôn tập Nguyên nhân, biện pháp đề phòng ngộ độc thuốc cho vật nuôi? 1. Cơ chế và các tác nhân gây dị ứng thuốc? 2. Nguyên nhân gây tác dụng phụ của thuốc? 3. Độc tính của các nhóm kháng sinh và thuốc hoá học trị liệu trong chăn nuôi thú y? 4. Chương VI Độc tố nấm mốc Chương 6 trình bày những kiến thức về một số loài nấm mốc và độc tố nấm mốc gây bệnh cho gia súc, gia cầm. Các triệu chứng bệnh do nhiễm độc tố nấm mốc và các biện pháp phòng, trị cũng được đề cập đến trong chương này. 1. Một số loài nấm mốc gây độc cho gia súc, gia cầm 1.1. Nấm mốc ở đồng ruộng trước và trong thu hoạch a. Pithomyces chartarum Chủ yếu là loài hoại sinh, gặp trên các đồng cỏ, các cây họ hoà thảo và các cây họ đậu đã chết khô. Loài nấm này hình thành những tảng màu đen, hình chấm, đường kính tới 0,5mm. Sinh trưởng tốt nhất ở 240C, độ ẩm tương đối gần 100%. Nấm Pithomyces chartarum sản sinh ra 3 độc tố: sporidesmin, sporidesminB, sporidesminC. 115
  8. 116 b. Stachybotrys alternans Là một loài nấm hoại sinh và được coi như một trong những loài chủ yếu phá hoại xenluloza. Thường phát triển trong đất, trên nhiều cơ chất, đặc biệt ưa rơm rạ. Sinh trưởng tốt nhất ở 20-250C, nhưng có thể mọc được ở 20C và 400C. Tuỳ loại chủng sinh độc tố có tên là stachybotryotoxin. c. Fusarium (nấm liềm) Loài nấm này khá phổ biến, có ở trong đất, trên các loại cây trồng và các loại hạt ngũ cốc. Khuẩn lạc có nhiều màu sắc như phớt hồng, vàng, tím, trắng... Fusarium ưa phát triển ở nhiệt độ thấp. Nhiệt độ thích hợp cho sản sinh độc tố là 80C. Độc tố gồm T2 - toxin , fusarenol, nivalenol... 1.2. Nấm mốc trong quá trình bảo quản. Những loài nấm mốc này thường xuất hiện trong lương thực, thực phẩm đã được bảo quản. Chúng có đặc điểm chung là phân huỷ xeluloza kém, ưa áp suất thẩm thấu cao, có khả năng chịu nhiệt cao và làm axit hoá cơ chất. Có 2 loài hay xuất hiện nhất, sản sinh độc tố rất nguy hiểm cho người và vật nuôi: loài Penicillium và Aspergillus. a. Loài Penicillium Khuẩn lạc có nhiều màu sắc, phổ biến là màu xanh khói, mặt trái có màu vàng chanh, thường mọc nhiều ở ngô, khô dầu lạc, đậu tương, cám... Loài này ưa nhiệt độ trung bình (10- 400C), tối ưu khoảng 250C, sinh trưởng tốt nhất ở độ ẩm giữa 95 và 100% HR. b. Loài Aspergillus Aspergillus gồm 78 loài và nhiều chủng, trong đó A. flavus đáng được quan tâm nhất. Aspergillus flavus phát triển thích hợp ở độ ẩm 85%, nhiệt độ 25 - 300C, pH = 5,5. Nhiệt độ tối ưu để sản sinh độc tố là 270C. 2. độc tố nấm mốc và bệnh độc tố nấm mốc. 2.1. Định nghĩa độc tố nấm mốc và bệnh độc tố nấm mốc Độc tố nấm mốc là sản phẩm của sự chuyển hoá thứ cấp trong quá trình phát triển của mỗi loài hoặc của mỗi chủng nấm mốc nhất định. Bệnh độc tố nấm mốc là bệnh của người và động vật có căn nguyên do độc tố nấm mốc. ở bệnh này thường có một số đặc điểm chung như sau: - Đây là một bệnh không lây. Điều trị bằng hoá học trị liệu ít hoặc không có hiệu quả. - Bệnh thường bùng nổ theo mùa. Sự bùng nổ của bệnh thường liên quan đến loại thức ăn đặc biệt. - Mức độ nhiễm bệnh chịu ảnh hưởng của tuổi, giới tính và trạng thái dinh dưỡng của cơ thể. - Khi kiểm tra thức ăn, có dấu hiệu của nấm mốc. Nhưng theo Neuhold, 1982, trong thức ăn có thể không phát triển nấm mốc, vẫn chứa độc tố, và ngược lại có thể tìm thấy nấm mốc trong thức ăn mà không có độc tố. 116
  9. 117 Những độc tố nấm mốc chịu các biến đổi hoá học do ảnh hưởng qua lại giữa cây, vi sinh vật và không xác định được bằng những phương pháp phân tích bình thường được gọi là độc tố nguỵ trang (masked mycotoxin). Trong qúa trình tiêu hoá những độc tố này dễ được giải phóng và gây độc cho cơ thể. ở hàm lượng cao, độc tố nấm mốc gây bệnh cấp tính và gây chết, ở hàm lượng thấp gây hàng loạt rối loạn chuyển hoá của cơ thể (không hoặc có kèm theo biến đổi bệnh lý). Bảng 6.1: Một số rối loạn chuyển hoá do độc tố nấm mốc gây ra Hệ chuyển hoá Độc tố 1. Các hệ chuyển hoá - Chuyển hoá Carbohydrat Aflatoxins, OchratoxinA, PhomopsinA - Chuyển hoá lipid Aflatoxins, OchratoxinA, T-2 toxin, citriain, rubratoxinB - Đồng hoá vitamin Aflatoxins, Dicoumarol - Tổng hợp protein Aflatoxins, Trichothecenes toxins - Hô hấp ty lạp thể Aflatoxins, OchratoxinA 2. Hệ nội tiết Aflatoxins, Zearalenone, Ergot alcanoids 3. Hệ xương Aflatoxins, OchratoxinA Theo nhiều tác giả và Biro, 1985 hàm lượng thấp độc tố nấm mốc làm suy giảm miễn dịch, tạo tiền đề cho các bệnh nhiễm khuẩn. Bảng 6.2: Một số bệnh tăng nặng do cộng nhiễm độc tố Aflatoxin và T-2 toxin Loài gia súc, gia cầm Bệnh 1. Gà Candidiasis, Coccidiosis, Infectious brouchitis, Infectious bursal diseases, Mareks disease, Salmonellosis. Pasteurellosis, Salmonellosis 2. Gà tây Erysipelas, Salmonellosis 3. Lợn Clostridial infection Fascioliasis 4. Trâu bò Intramammary infections 117
  10. 118 Độc tố nấm mốc gây độc cho gia súc, gia cầm, làm ảnh hưởng đến năng suất chăn nuôi và hiệu quả kinh tế. Chúng còn gây độc trực tiếp cho người (ở thực phẩm bị nhiễm nấm mốc) hoặc gián tiếp (từ những độc tố tồn dư trong thực phẩm). 2.2. Cơ chế chính của sự hình thành độc tố nấm mốc Chuyển hoá sơ cấp là các phản ứng tạo thành các chất cần thiết, đảm bảo cho sự sống và phát triển tế bào. Còn chuyển hoá thứ cấp là các phản ứng, các quá trình tạo thành các chất mà vai trò sinh lý của chúng chưa được rõ, chưa thật cần thiết cho sự tồn tại của chính tế bào đó. Sự chuyển hoá thứ cấp phụ thuộc khá chặt chẽ vào mỗi loài, chủng nấm mốc nhất định và thường xảy ra ở cuối giai đoạn phát triển của tế bào nấm mốc (giai đoạn cuối của tổng hợp protein trong tế bào). Các độc tố nấm mốc được tổng hợp từ nhiều đường chuyển hoá khác nhau. Ví dụ: dẫn chất của polyaceto acid gồm có Aflatoxin và một số độc tố khác, khi kết hợp với acid amin có ochratoxin.., còn trichothecen là dẫn chất của các terpen. Dẫn chất của polyaceto acid là các độc tố thường gặp trong lương thực, thực phẩm và có độc lực rất cao. 2.3. Một số độc tố nấm mốc gây bệnh ở vật nuôi (Mycotoxin) và b ệnh độc tố nấm mốc (Mycotoxicosis) a. Stachybotrytoxin và Stachybotrytoxicosis * Stachybotrytoxin Là độc tố do nấm Stachybotrys alternans (nấm muội than, nụ đen) sản sinh. Có 7 loại stachybotrytoxin: loại A, B, C, D, F, G, H. Stachybotrytoxin A tan ít trong nước, tan nhiều trong các dung môi hữu cơ, tan trong nhưng lại tủa trong ether petrol. Đây là steroit, có công thức hoá học C25H34O6, phân tử lượng 430,3, gây phản ứng mạnh trên da thỏ nên đã sử dụng nghiệm pháp này để chẩn đoán bệnh. Stachybotrytoxin B có màu vàng nâu, ít độc hơn, ít tan trong dung môi hữu cơ, công thức là C26H38O6, trọng lượng phân tử 446,3. Độc tố H thuộc nhóm sesquiterpen. Các độc tố này tồn tại lâu và khá bền vững trng thiên nhiên (trong thức ăn đến 30 năm), chịu nhiệt tốt, không bị dịch tiêu hoá phá huỷ, có phản ứng màu với resorsin. Tia X và UV cho bức xạ huỳnh quang. * Stachybotrytoxicosis Độc tố nấm muội than gây chảy nước mắt, viêm kết mạc, vào đường hô hấp gây ho, ở đường tiêu hoá gây viêm ruột nhẹ (rõ ở ngựa), bò nhẹ hơn. Gây viêm rất rõ xung quanh miệng lợn con. Khi chúng bú sữa, làm viêm quanh núm vú lợn mẹ. Sau khi hấp thu vào máu, độc tố được đưa đi khắp cơ thể, phá hoại các tế bào đang phân chia, nhất là ở tuỷ xương và niêm mạc, gây xuất huyết, tàn phá tuỷ xương như tác động của tia X và tia phóng xạ. Stachybotrytoxin làm giảm khả năng tạo kháng thể ở chuột. Nó làm giảm hemaglutinin, cản trở thymus và túi fabricius. Do đó, sức đề kháng của cơ thể bị giảm, con vật rất dễ mẫn cảm với các bệnh truyền nhiễm kế phát. Kết quả xét nghiệm các chỉ tiêu huyết học cho thấy, hệ thống miễn dịch bị suy thoái, số lượng bạch cầu giảm từ 6000 - 8000/mm3 còn 1000 - 2000/mm3. Số lượng tiểu cầu giảm rõ, từ 300 - 400 nghìn/mm3 còn 100 - 200 nghìn/mm3, làm xuất huyết càng trầm trọng. 118
  11. 119 Do ảnh hưởng của độc tố, các vi khuẩn đặc biệt là bacterium pyosepticum phát triển mạnh, gây độc trực tiếp. ở Việt nam, đã có trường hợp ngỗng nhập nội bị nhiễm độc tố này và kế phát bệnh tụ huyết trùng. Nếu dịch tiêu hoá có pH kiềm thì sự hấp thu độc tố giảm, vì vậy bò bị nhiễm độc thường nhẹ hơn ngựa, lợn. Để chẩn đoán bệnh ngộ độc nấm muội than cần phân lập tìm nấm trên thạch saboro có mantoza. Quan sát trên kính hiển vi, nấm có hình bầu dục. Thực hiện các nghiệm pháp thử sinh học: nghiệm pháp da thỏ, nghiệm pháp thử trên tích gà, nghiệm pháp thử trên Paramecium caudatum. Khi phát hiện bệnh cần loại bỏ tất cả rơm rạ, đồ vật bị nhiễm nấm, không cho tiếp xúc với súc vật. điều trị triệu chứng, nâng cao sức đề kháng. Dùng liệu pháp kháng sinh để phòng bệnh kế phát. b. Ochratoxin và Ochratoxicosis * Ochratoxin - Nguồn gốc: Ochratoxin là các độc tố được sản sinh bởi các chủng nấm Penicillium: P. cyclopium, P. viridicatum, P. commune, P. variabile, P. purpurescens, P. palitans và các chủng nấm Aspergillus: A. ochraceus, A. sulfureus, A. melleus, A. sclerotiorum, A. alliaceus, A. ostianus, A. petrakil. - Tính chất lý hoá: Nhóm gồm 7 độc tố. Ochratoxin A là sản phẩm của chủng nấm Aspergillus ochraceus. Độc tố có dạng tinh thể không màu, dưới ánh sáng của tia UV, bắt màu xanh huỳnh quang. ở dạng muối dễ tan trong nước, dạng axit tan trong các dung môi hữu cơ có phân cực (chloroform, methanol). R R1 R2 Ochratoxin A H Cl H Ochratoxin B H H H Ochratoxin C C2H5 Cl H (Ochratoxin A ethyl ester) Ochratoxin A methyl ester CH3 Cl H Ochratoxin B ethyl ester C2H5 H H Ochratoxin B methyl ester CH3 H H 119
  12. 120 4-Hydroxyochratoxin A H Cl OH Các Ochratoxin rất ưa ẩm độ, thường có trong cơ chất với độ ẩm > 16%. Độc tố được sản sinh nhiều nhất ở nhiệt độ từ 20 - 250C, nhưng quá trình này có thể bắt đầu từ nhiệt độ thấp hơn nhiều, khoảng - 20C. - Hấp thu, chuyển hoá, thải trừ: Ochratoxin A được hấp thu chủ yếu trong dạ dày. Trong ruột phát hiện thấy Ochratoxin, sản phẩm của phản ứng thuỷ phân của hệ vi sinh vật đường ruột. Sau khi hấp thu vào cơ thể, độc tố được phân bố nhiều nhất trong thận, sau đó là gan, cơ và các tổ chức mỡ. Ngoài ra, Ochratoxin A cũng được gắn với albumin huyết thanh. Ochratoxin xuất hiện trong nước tiểu và phân chuột được tiêm Ochratoxin A vào xoang bụng. Bằng phương pháp đánh dấu phóng xạ đã xác định độc tố được thải chủ yếu qua nước tiểu, thải ít qua phân. ở lợn, hàm lượng độc tố tồn dư trong thận nhiều nhất, ít hơn một chút trong gan, rồi đến cơ và tổ chức mỡ. ở gà, cũng quan sát thấy sự tồn dư tương tự, không tìm thấy độc tố trong trứng. * Ochratoxicosis Cơ quan tác dụng đích của độc tố Ochratoxin là thận. Có hiện tượng thoái hoá, viêm xơ tế bào ống thận. Xét nghiệm các chỉ tiêu huyết học thấy hàm lượng glycogen gan giảm nhưng lại tăng trong tim. Hoạt tính men gan (phosphorylase) tăng. Ochratoxin không gây biến dị, ung thư ở người và động vật. - Ochratoxicosis ở súc vật nhai lại: Dạ cỏ là nơi Ochratoxin được thuỷ phân thành Ochratoxin alpha, một chất ít độc hơn nhiều. Vì vậy, trâu bò đã trưởng thành ít mẫn cảm với độc tố hơn so với bê nghé (chức năng dạ cỏ chưa hình thành đầy đủ). Ochratoxin tiêm tĩnh mạch, hàm lượng độc tố tìm thấy trong nước tiểu nhiều hơn 20 - 30 lần nếu cho uống cùng liều độc tố. - Ochratoxicosis ở lợn:Triệu chứng chủ yếu nhiễm độc Ochratoxin mãn tính là bệnh về thận. Nếu ngộ độc cấp tính, ngoài những tổn thương ở thận còn thấy hiện tượng phù quanh thận, được biểu hiện bằng các triệu chứng như: tích nước dưới da, mất điều hoà, đầu ngật về phía sau, giảm trương lực cơ bụng và tỷ lệ chết từ 40 - 90%. Xét nghiệm vi thể cho thấy, thoái hoá tế bào dẫn đến teo biểu mô ống thận, có hiện tượng xơ hoá vỏ thận và hyaliniza một số cầu thận. - Ochratoxicosis ở gia cầm: Tổn thương chủ yếu khi gia cầm bị ngộ độc Ochratoxin được tìm thấy ở gan và thận. Gà con bị nhiễm độc bị viêm ruột cata, mất nước, gầy rộc đi đẫn đến giảm tăng trọng. Số lượng các thành phần máu hữu hình và hàm lượng hemoglobin đều giảm. Protein tổng số và lipid giảm. Độ thanh thải thận cũng giảm. ở gà đẻ, sản lượng trứng giảm, trọng lượng cơ thể cũng bị giảm và tăng tiêu tốn thức ăn. c. Trichothecene và Trichothecene toxicosis * Trichothecene - Nguồn gốc: Hiện nay, đã phát hiện hơn 60 độc tố trichothecene từ môi trường nuôi cấy các chủng nấm trichothecene. - Tính chất lý hoá: Các độc tố trichothecene tan trong các dung môi hữu cơ như acetone, chloroform, acetonitrile, ethanol và methanol, không tan trong nước và petrol. 120
  13. 121 Hình 6.1: Cấu trúc hoá học của một số độc tố trichothecene * Trichothecene toxicosis Tất cả các trichothecene toxin đều gây độc trên da, đặc trưng bởi những nốt đỏ ở da bị thương và phản ứng viêm ở các tổ chức bị nhiễm độc. Liều tối thiểu có tác dụng dao động từ 5 g (T-2 toxin, verucarin) đến 40 g (deoxynivalenol). Nôn là một triệu chứng điển hình của trichothecene toxicosis ở người và động vật. Liều độc tố tối thiểu (mg/kg, tiêm dưới da) gây nôn như sau: T - 2 toxin - 0,1 (mèo), diacetoxyscirpenol - 0,2 (ngỗng) và 2,4 (người i.v.), nivalenol - 1,0 (ngỗng), deoxynivalenol - 13,5 (ngỗng), 0,05 (lợn i.p.) và 0,1 (chó i.v.). - Trichothecene toxicosis ở súc vật nhai lại Hầu hết các trichothecene đều kích thích, làm tấy đỏ da. Viêm mũi, mồm thường kèm theo các vết loét và tiết nhiều nước bọt. Nếu độc tố vào đường tiêu hoá cũng gây viêm, loét. Một vụ ngộ độc xảy ra ở New Zealand do trâu bò ăn phải ngô nhiễm nấm Fusarium culmorum. Súc vật bị bệnh thường bỏ ăn, ỉa chảy, mất điều hoà và giảm sản lượng sữa. Triệu chứng nặng hơn là xuất huyết lan tràn dưới da, cơ và niêm mạc. Nguyên nhân có thể do độc tố ức chế quá trình tổng hợp vitamin K của vi sinh vật dạ cỏ. Có trường hợp con vật không chịu ăn, có lẽ do vị đắng của trichothecin. T-2 toxin đặc biệt độc với bê, gây ngừng nhu động dạ cỏ. - Trichothecene toxicosis ở lợn Hai biểu hiện đặc trưng của nhiễm độc trichothecene ở lợn là không chịu ăn và hội chứng nôn, dẫn đến chậm lớn, giảm tăng trọng. Nguyên nhân có thể do một chất chuyển hoá trong ngô nhiễm nấm F. roseum. - Trichothecene toxicosis ở gia cầm - T-2 toxin gây rối loạn thần kinh 121
  14. 122 Gà con 1 ngày tuổi ăn thức ăn chứa 4 - 16 mg/kg T-2 toxin sẽ thấy những biểu hiện như rũ cánh, yếu chân, lảo đảo. Ngỗng nhiễm độc tố, đầu, cánh run, lông xù, chậm chạp và chuyển động khó khăn. T richothecene do n ấm Stachybotrys alternan sản sinh l à nguyên nhân gây b ệnh stachybotrytoxicosis ở lợn v à gia c ầm. d. Zearalenon và tác hại của zearalenon đối với vật nuôi * Zearalenon - Nguồn gốc: Zearalenon là độc tố do một số chủng nấm Fusaria tổng hợp - Tính chất lý hoá: Độc tố này không tan trong nước tan trong nước kiềm và các dung môi hữu cơ như benzen, chloroform, methylene chloride, ethyl acetate, acetonitrile và cồn. Hình 6.2: Cấu trúc hoá học chính của một số độc tố Zearalenone R1 R2 R3 R4 Zearalenone H2 H2 =O H Alpha-and beta-zearalenol H2 H2 OH H 6’,8’-Dihydroxyzearalene OH H2 OH H 8’-Hydroxyzearalenone OH H2 =O H 7’-Dehydrozearalenone H H =O H 5-Formylzearalenone H2 H2 =O CHO * Tác hại của zearalenon ở vật nuôi - Trâu bò: dịch chiết của nấm F. graminearum làm giảm khả năng sinh sản ở trâu bò được thụ tinh nhân tạo. Zearalenone gây sưng, phù các cơ quan sinh sản. - Lợn: Zearalenone thường gây hội chứng rối loạn sinh sản ở lợn. Triệu chứng thể hiện là viêm âm hộ, âm đạo, tiếp theo là viêm tử cung, sưng phù cổ, sừng tử cung e. Aflatoxin và Aflatoxicosis *Aflatoxin - Nguồn gốc:Aflatoxin là nhóm độc tố do nấm Aspergillus flavus và Aspergillus parasiticus sản sinh ra trong những điều kiện nhiệt độ, ẩm độ thích hợp. - Cấu trúc hoá học 122
  15. 123 Hình 6.3: Cấu trúc hoá học của Aflatoxin 123
  16. 124 Trong cấu trúc hoá học của Aflatoxins có một khung hoá học giống các dẫn chất của coumarin (dimethoxy - 5 - 7 coumarin, dimethoxy - 5 - 7 - cyclopenten coumarin và Sterigmatocystin). Vì vậy, người ta coi Sterigmatocystin là tiền thân của Aflatoxin. Đến nay, đã phát hiện được 12 loại Aflatoxin. Các Aflatoxin được gọi tên là B1, B2, G1, G2 dựa vào màu huỳnh quang của chúng: B (blue) - vết huỳnh quang màu xanh da trời; G (green) - vết huỳnh quang màu lục. Aflatoxin B2 và G2 có cấu trúc gần giống như Aflatoxin B1 và G1, chỉ khác ở chỗ nối đôi cách trong nhân hydrofuran tận cùng của B1 và G1 bị khử. Aflatoxin M1, M2 (M = milk) là sản phẩm oxy hoá của Aflatoxin B1 và B2, được thải qua sữa và có khả năng gây ra ở vịt con những rối loạn tương tự những rối loạn do Aflatoxin. Khi phân tích nước tiểu của khỉ ăn Aflatoxin B, Dalezios, Wogan và Weinreb, 1971 đã phát hiện được Aflatoxin P1, dẫn xuất phenolic của Aflatoxin B1. Đây là một sản phẩm trao đổi chất, là kết qủa sự khử metyl của Aflatoxin B1. - Chuyển hoá, trao đổi chất và bài tiết Sự chuyển hoá và đào thải Aflatoxin trong cơ thể động vật ăn phải chúng là một vấn đề rất quan trọng. Sự hiểu biêt về vấn đề này sẽ giúp cho chúng ta có biện pháp phòng, chống, góp phần bảo vệ sức khoẻ người và gia súc. Theo thông báo của Allcroft và Carnaghan (1962 - 1963) trong sữa của bò ăn bột khô lạc có Aflatoxin B1, chứa một chất độc gây chết vịt tương tự như Aflatoxin B1. Chất này chỉ có trong phần casein kết tủa. Aflatoxin B1 đi qua sữa chuyển hoá thành Aflatoxin M có độ độc tương tự Aflatoxin B1. Khi cho chuột uống và tiêm vào phúc mạc Aflatoxin B1 cũng phát hiện trong gan chuột có cả Aflatoxin B1 và Aflatoxin M1. Sự chuyển hoá Aflatoxin B1 ở các động vật không có vú chủ yếu là sự hydroxyl hoá, song cũng thấy mất nhóm metyl, tạo ra những sản phẩm như Aflatoxin P1 ít độc hơn nhiều. Thí nghiệm của Wogan và cộng sự, 1967 ở chuột đực Fischer tiêm vào màng bụng Aflatoxin B1 được đánh dấu bằng C14 trên gốc methoxy bên (I) hoặc trên một carbon của nhân vòng (II), 24 giờ sau khi tiêm cho thấy tỷ số bài tiết ra C14 nhiều nhất như sau: Mẫu I II Nước tiểu 26,10 14,80 Phân 14,10 69,80 Ruột 11,80 3,30 Gan 5,90 7,70 ở trường hợp I, sự chuyển hoá thoái biến Aflatoxin B1 là mất nhóm metyl, phần bị mất metyl sẽ hoàn toàn bị oxy hoá thành CO2. Trong trường hợp II, rất ít carbon gắn trong các vòng bị chuyển hoá thành CO2. Tốc độ bài xuất Aflatoxin B1 đánh dấu bằng 14C ở carbon trong các vòng qua đường ruột là quan trọng nhất (xuất phát chủ yếu từ sự bài xuất qua mật, thứ nhì là qua đường nước tiểu). Sản phẩm chuyển hoá Aflatoxin M1 có thể được khử hoạt bằng liên hợp với taurocholic và glucuronic acids dẫn đến thải trừ qua mật hoặc nước tiểu. Hai dạng chuyển hoá khác như Aflatoxin P1 và Q1 cũng được khử hoạt theo hướng này. Sự chuyển hoá Aflatoxin B1 ở trong gan thành Aflatoxicol, Aflatoxicol H1 và Aflatoxin Q1 khác với sự chuyển hoá sinh học được xúc tác bởi các enzymes microsome gan là có sự tham gia của NADH - dependent dehydrogenase bào tương. Sự hình thành Aflatoxicol có thể bị ức chế bởi 17 - Ketosteroid hormon. 124
  17. 125 Hình 6.4: Sự chuyển hoá của Aflatoxin B1 trong cơ thể 125
  18. 126 Homogenate gan ở một số loài chim và gậm nhấm kích thích mạnh quá trình chuyển hoá Aflatoxin B1, và G1 thành các Hemiacetals - Aflatoxin G2a và Aflatoxin B2a. Các chất chuyển hoá này gắn chặt với protein và gây ra nhiễm độc cấp tính. Sự hình thành các epoxides của Aflatoxin B1 và G1 là dạng hoạt hoá quan trọng hơn. Khi độc tố mẹ được ủ với microsome gan, một chất chuyển hoá đ ược hình thành và tồn tại tạm thời, có hoạt tính mạnh, gắn đồng hoá trị với DNA và sản sinh đột biến ở hệ vi khuẩn thử nghiệm. thể kết luận: Các epoxides của Aflatoxin B1 là đột biến vi khuẩn và là nhân tố chính gây ung thư. Gà đựợc nuôi gà bằng thức ăn nhiễm Aflatoxin trong thịt và gan có thể phát hiện Aflatoxin tích trữ đến ngày thứ 8 kể từ sau khi ngừng cho Aflatoxin. Tóm lại, Aflatoxin đào thải phần lớn dưới dạng các sản phẩm của sự hydroxyl hoá (Aflatoxin U, M), sản phẩm của sự khử metyl (Aflatoxin P1) ở dạng tự do hoặc dạng liên kết. Đường đào thải chủ yếu qua phân, nước tiểu, có thể có trong gan, sữa, thận... * Aflatoxicosis - Cơ chế tác dụng về mặt hoá sinh học của Aflatoxin Bản thân nhân dihydrofurofuran trong cấu trúc hoá học của Aflatoxin B1 không gây ung thư. Khả năng sinh ung thư phụ thuộc vào sự cùng tồn tại của nhân trên dihydrofurofuran và phần d - lacton chưa no. Có thể có một sự epoxi hoá phân tử, do có nối đôi ở phần tận cùng difuran trong công thức các Aflatoxin B1, G1 và M1. Nối đôi này không có ở các Aflatoxin B2 và G2, do vậy hoạt tính của chúng kém đi. Cũng có người cho rằng Aflatoxin B1 chỉ là một chất tiền sinh ung thư và được chuyển thành một hợp chất sinh ung thư có lẽ nhờ các enzym. Cliford và Rees 1967 đã sơ đồ hoá các giai đoạn kế tiếp nhau của tác động hoá sinh học của Aflatoxins ở tầm các tế bào gan, mà mỗi giai đoạn là kết quả của giai đoạn trước. - Tác động qua lại với ADN và ức chế các polymeraza chịu trách nhiệm tổng hợp ADN và ARN: Tác động qua lại với ADN chủ yếu xảy ra ở vòng purin. ADN chuỗi đơn cũng có thể phản ứng với Aflatoxin, khả năng này có thể giải thích sự ức chế quá trình tổng hợp ADN và ARN. - Đình chỉ sự tổng hợp ADN: ADN mất khả năng nhân đôi bởi các Aflatoxin là do sự có mặt của các chức quinon và amin cho phép phân tử có thể xen vào vòng xoắn kép của ADN ở vị trí mang guanin. Không có gì thay đổi ở chỗ adenin và thymin. Vai trò của các Aflatoxin làm mất hoạt tính các hệ enzymes, kèm theo việc đình chỉ tổng hợp ADN được nhiều tác giả nhấn mạnh. - Tiêu giảm sự tổng hợp ARN và ức chế ARN truyền tin: Các Aflatoxin tác động lên sự tổng hợp ARN bằng cách ngăn cản sao chép ADN bởi ARN polymenaza, ức chế hoàn toàn hoạt động của ARN chất tế bào, ARN của nhân cũng bị rối loạn. - Biến đổi hình thái của hạt nhân Sự biến đổi hình thái của hạt nhân có liên quan đến sự ức chế các hoạt tính enzyme, thể hiện bằng một sự “tách hạt nhân”. - Tiêu giảm sự tổng hợp protein 126
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2