intTypePromotion=3

Giáo trình Kế toán doanh nghiệp dịch vụ: Phần 1 - TS. Lê Thị Thanh Hải (chủ biên)

Chia sẻ: Na Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:68

1
342
lượt xem
128
download

Giáo trình Kế toán doanh nghiệp dịch vụ: Phần 1 - TS. Lê Thị Thanh Hải (chủ biên)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo trình Kế toán doanh nghiệp dịch vụ: Phần 1 gồm nội dung chương 1, chương 2 của giáo trình. Nội dung phần 1 trình bày các vấn đề về tố chức công tác kế toán trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, kế toán hoạt động kinh doanh dịch vụ khách sạn. Mời bạn đọc tham khảo nội dung tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Kế toán doanh nghiệp dịch vụ: Phần 1 - TS. Lê Thị Thanh Hải (chủ biên)

  1. TS. LÊ THỊ THANH HẢI (Chủ biên) GIÁO TRÌNH KẾ TOÁN D O M i NtHỆP DỊCH vụ■ i ■ NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DUC VIÊT NAM
  2. NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT BHXH : Bảo hiểm xã hội BHYT : Bảo hiểm y tế CT ; Chửng từ DDCK : Dờ dang cuối kỳ DN : Doanh nghiệp GTGT : Giá trị gla tăng HH : Hàng hoá KH : Khách hàng KKĐK : Kiểm kê định kỳ KKTX ; Kê khai thường xuyên N : Ngày NCTT : Nhân công trực tiếp NK : Nhật ký NKBK : Nhật ký bán hàng NKC : Nhật ký chung NKCT : Nhật ký chi tiền NKTT : Nhật ký thu tiền NTGS : Ngày tháng ghi sổ NVLTT : Nguyên, vật liệu trực tiếp PB : Bảng phân bố PS : Phát sinh s : Số SL : Số lượng SPS ; Số phát sinh sxc : Sản xuất chung TK : Tài khoản TN : Thu nhập TP : Thành phẩm TS : Thuế suất TSCĐ : Tài sản cố định TT : Thành tiền XĐKQ : Xác định kết quả
  3. Chưong 1 TÓ CHỨC CÔNG TÁC KÉ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH v ụ • • • Tô chức công tác kê toán là một trong những nội dung quan trọng trong tổ chức công tác quản lý. Tổ chức tốt công tác kế toán giúp cung cấp thông tin kế toán hữu ích phục vụ quản lý doanh nghiệp (DN). Các DN khác nhau về chức năng, nhiệm vụ. đặc điếm hoạt động sản xuất kinh doanh, quy mô,... thi việc tổ chức công tác kế toán cũng không hoàn toàn giống nhau. Tại các DN kinh doanh dịch vụ, với nhĩrng đặc thù riêng của ngành nên việc tổ chức côno; tác kể toán cũng có những đặc trưng riêng. 1.1. ĐẶC ĐIẺM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH • • • • vụ« Kinh doanh dịch vụ là hoạt động cung ứng lao vụ, dịch vụ phục vụ nhu cầu sinh hoạt và đời sống dân cư cũng như phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh toàn xã hội. Hoạt động kinh doanh dịch vụ rất đa dạng. Các hoạt động kinh doanh dịch vụ có thể được thực hiện và cung ứng đơn lẻ, có thê được thực hiện và cung ứng đồna thời trong một "gói dịch V ỊI" nào đó và mang tính chất bổ trợ nhau. Do vậy, việc hạch toán chi tiết doanh thu, chi phí cho từng hoạt động dịch vụ cung ứng không đơn giản. Hoạt động kinh doanh dịch vụ cỏ tinh không tách rời. Quá trình sản xuất, phục VỊI và tiêu thụ thường gắn liền với nhau; quá trình sản xuất sản phẩm cũng đồng thời là quá trình tiêu thụ sản phẩm. Do đó khó có thể phân biệt một cách rõ ràng chi phí ờ từng khâu sản xuất và tiêu thụ. Vì vậy, tuỳ theo từng loại hoạt động dịch vụ đặc thù mà xác định nội dung chi phí phù hợp cấu thành nên giá sản phẩm.
  4. Hoạt động kinh doanh dịch vụ có tính rủi ro cao và tính hô trợ lẫn nhau. Có những loại hoạt động dịch vụ để hoàn thành sàn phấm dịch vụ, DN phải bỏ ra nhiều loại chi phí khác nhau nhưng đôi khi vẫn không hoàn thành được sản phẩm như mong muốn, trong khi đó kết quả cùa nó (nếu có) thì rất nhiều ngành khác nhau được hưởng. Ví dụ như hoạt động hội chợ triển lãm, chi phí cho trước ngày tố chức hội chợ là rất lớn như chi phí quảng cáo, in giấy mời, chi phí chuẩn bị cho các gian hàng,... nhưng kết quả có thê có rất ít khách hàng. Khi đã có khách hàng thì rất nhiều ngành khác nhau được hưởng thu nhập như khách sạn, vận chuyển, bưu điện, hải quan, thuế,... Hoạt động kinh doanh dịch vụ phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố con ngườL Chi phí nhân công thường chiếm tỷ trọng lớn trong tong chi phí kinh doanh dịch vụ, còn các chi phí về nguyên, vật liệu và chi phí khác chiếm tỷ trọng không đáng kể. Điều này đặc biệt đúng đối với những loại hoạt động dịch vụ mang tính kỹ thuật, hàm lượng chi phí về chất xám trong sản phẩm chiếm tỷ trọng cao. Hoạt động kinh doanh dịch vụ có tính cạnh tranh kém do sản phẩm dịch vụ hoàn thành không kho thành phẩm, sản phẩm không tồn kho, không lưu trữ được. Người sản xuất sản phẩm dịch vụ chi lưu trữ những yếu tố dưới dạng tiền sản phẩm dịch vụ chứ không phải là sản phẩm dịch vụ. Do đó, sản phẩm dịch vụ hoàn thành thường được xác định là tiêu thụ ngay; tuy nhiên đối với một số dịch vụ như may đo, sửa chữa,... tuy đã hoàn thành nhưng chưa ghi doanh thu do chưa trả hàng cho khách thì chi phí cho những dịch vụ đó vẫn coi là chi phí của sản phẩm chưa hoàn thành. Hoạt động kỉnh doanh dịch vụ có tính không đồng nhất. Cùng một loại dịch vụ nhưng được thực hiện và cung ứng bởi những người khác nhau, cho các đối tượng khách hàng khác nhau, ở những lần phục vụ khác nhau đôi khi phưomg thức phục vụ và chất lượng dịch vụ không giống nhau. Sản phẩm của hoạt động kỉnh doanh dịch vụ có tính vô hình. Hầu hết sản phẩm của hoạt động dịch vụ không mang hình thái vật chất cụ thể gây khó khăn trong việc kiểm soát chất lượng dịch vụ trước khi cung ứng cho khách hàng.
  5. 1.2. TỐ CHỨC CÔNG TÁC KÉ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH v ụ 1,2.1, Khái niệm và nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ 1.2.1.1. Khái niệm • Ke toán là công cụ quản lý kinh tế tài chính cần thiết nhằm kiểm tra, giám sát có hiệu quả các hoạt động kinh tế tài chính trong các đơn vị kế toán cũng như trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Tổ chức công tác kế toán trong đcm vị một cách khoa học và hợp lý có ý nghĩa quan trọng để kế toán thực hiện tốt vai trò là công cụ quản lý của minh. Tổ chức công tác kế toán trong đơn vị kế toán là tổ chức lao động kế toán đế áp dụng các phương pháp kế toán, nhàm thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin kinh tế phục vụ cho công tác quản lý kinh tế đơn vị. 1.2.1.2. Nguyên tẳc tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp dịch vụ Nguyên tắc thứ nhất, tổ chức công tác kế toán trong DN phải tuân thủ các văn bản pháp lý về kế toán hiện hành của Nhà nước. Đe thực hiện được việc quản lý thống nhất công tác kế toán, Nhà nước ban hành hệ thổng văn bản pháp lý về kế toán, yêu cầu tất cá các đơn vị kế toán trong nền kinh tế phải tuân theo, bao gồm: Luật Kế toán quy định về nội dung công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán, người làm công tác kế toán và hoạt động nghề nghiệp kế toán; chuẩn mực kế toán đưa ra những nguyên tắc và phương pháp kế toán cơ bản để ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính; chế độ kế toán là những quy định và hướng dẫn về kế toán trong một lĩnh vực hoặc một số công việc cụ thể và các văn bản pháp lý khác có liên quan đến hoạt động kế toán. Việc tuân thủ các văn bản pháp lý về kế toán do Nhà nước ban hành khi tổ chức công tác kế toán sẽ đảm bảo kế toán là một công cụ quản lý, giám sát chặt chẽ mọi hoạt động kinh tế, tài chính. 7
  6. cung cấp thông tin đầy đủ. trunụ thực, đáp ứng yêu cầu tố chức, quán lý điều hành của cơ quan Nhà nước. Nguyên lắc thứ hai, ĩô chức cônọ, lúc kẻ loàn phái phù hợp V('ri đặc điêm lô chức kinh doanh, tô chức quàn lỵ của DN. Trong mỗi nên kinh te, các DN kinh doanh dịch vụ khác nhau với những đặc điểm, điều kiện hoạt động, quá trình thirc hiện và cLiim ứim dịch vụ, yêu cầu và trình độ quán lý kinh tế.... khác nhau sẽ tạo nên sự khác nhau về tổ chức công tác kế toán. Do đó, để phát huy lối đa vai trò của kế toán trong quản lý kinh tế, khi tổ chức công tác kế toán, DN phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức kinh doanh, tổ chức quản lý của DN, đảm bảo sự phù hợp với đặc điểm và điều kiện riêng của từng đơn vị như chức năng, nhiệm vụ, tính chât hoạt động, quy mô, sự phân cấp quản lý, trình độ và yêu cầu quản lý, số lượng và trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán, trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hạch toán, sự phân bố mạng lưới và điều kiện giao thông, liên lạc,... Khi đó, DN sẽ lựa chọn được mô hình tố chức bộ máy kế toán, hệ thống số kế toán phù hợp và tìm được những phương án tối ưu, trong quá trinh lựa chọn áp dụng các quy định, các phương pháp kế toán. Nguyên lác íhứ ha, tố chức côniỉ túc ké toún troniỊ các đơn vị phải đám hảo tiết kiệm và hiệu quà. Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả luôn được coi trọng trong công tác tổ chức nói chung và tổ chức công tác kế toán ở các DN kinh doanh dịch vụ nói riêng. Theo nguyên tắc này, tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo khoa học, hợp lý, thực hiện tốt nhất chức năng, nhiệm vụ của kế toán, phát huy đầy đủ vai trò, tác dụng của kế loán trong công tác quản lý kinh tế, chất lượng công tác kế toán đạt được mức cao nhất với chi phí hạch toán tiết kiệm nhất. Nguyên tẳc thứ tư, tổ chức cônịỊ túc kể íocìn phủi đàm hào kết hựp tốt ịỊiữa kế toán tài chinh và kế toán quản trị. Kế toán tài chính và kế toán quản trị là hai loại kế toán có những đặc điểm khác nhau về nhiều mặt nhvr: Đối tượng sử dụing thông tin, đặc điểm của thông tin, kỳ báo cáo,... Tuy vậy, chúng có điểm giống 8
  7. nhau là đều dựa trcn cùim một nguồn số liệu ban đầu, đều thu thập, xứ lý, cung cấp thông tin cho quản lý DN. Do đó, khi tố chức công tác kế toán phải nghiên cứu việc kết hợp giữa kể toán tài chính và kế toán quản trị, nâng cao hiệu quả của kế toán quản trị đối với chức năng quản lý. 1.2.2. Nội dung tố chức công tác kế toán trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ rố chức công tác kế toán là một hệ thống các yếu tố cấu thành bao gồm nhiều nội duim khác nhau. 1.2.2.1. Tố chức bộ máv kế toán trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Đây là nội dung đầu tiên trong tổ chức công tác kế toán ở các DN. Để tổ chức bộ máy kế toán hiệu quả, trước,hết phải căn cứ vào mức độ phân cấp quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ cho từng bộ phận trong DN nhằm xác định mô hình tổ chức bộ máy kế toán phù họp. Sau đó, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận, phần hành và nhân viên kế toán, đảm bảo sự phối hợp tốt nhất giữa các bộ phận và nhân viên kế toán trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình. Xét cả về lý luận và thực tiễn, tổ chức bộ máy kế toán có thể được thực hiện theo một trong ba mô hình, đó là: mô hinh tổ chức bộ máy kế toán phân lán, mô hinh tổ chức bộ máy kế toán tập trung và mô hình tố chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán. Mỗi mô hình tố chức bộ máy kế toán có đặc điểm riêng, thích hợp vcV từnu i đơn vị có quy mô và các điều kiện cụ thể khác nhau. a) Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán Theo mô hình tổ chức này, ở các chi nhánh, bộ phận phụ thuộc đều có tổ chức kế toán riêng, làm nhiệm vụ thu nhận, kiểm tra, xử lý chứng từ kế toán, thực hiện kế toán tổng hợp, kế toán chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại đơn vị mình theo sự phân cấp quản lý trong DN. Định kỳ, lập báo cáo kế toán gửi về phòng kế toán công ty. Phòng kế toán công ty thực hiện việc tổng hợp số liệu, báo cáo của các chi nhánh, bộ phận phụ thuộc và hạch toán các nghiệp vụ kinh tế
  8. phát sinh tại văn phòng cônii ty, lập báo cáo kế toán của toàn DN. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán trone DN được khái quát trong hình 1.1. Hình 1.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán thích hợp với các DN dịch vụ quy mô lớn, tổ chức hoạt độntỉ trên địa bàn rộng, các đơn vị (chi nhánh, bộ phận) trực thuộc hoạt động tương đổi độc lập. b) Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung Theo mô hình tổ chức này, toàn bộ công việc kế toán từ khâu thu nhận, xử lý, hoàn chỉnh, luân chuyển chứng từ, ghi sổ kế toán, lập báo cáo tài chính đều được tập trung thực hiện tại phòng kế toán của công 10
  9. ty. Các đơn vị (chi nhánh, bộ phận) phụ thuộc không tổ chức kế toán riêng mà chỉ có những nhân viên kinh tế làm nhiệm vụ hạch toán ban đầu, thu nhận, kiểm tra, phân loại chímg từ sau đó gửi chứng từ kế toán về phòng kế toán công ty. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung trong DN được khái quát trong hình 1.2. Hình 1.2. Mô hlnh tổ chức bộ máy kế toán tập trung Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung áp dụng thích hợp với các đan vị quy mô nhỏ, ít đơn vị trực thuộc và phân bố tập trung trên cùng một địa bàn. c) Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vù-a phân tán Theo mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán, trong DN sẽ có những đơn vỊ phụ thuộc có tổ chức kế toán riêng, đồng thời có những đơn vị phụ thuộc không tổ chức kế toán riêng. Đối với những đơn vị phụ thuộc hoạt động tương đối độc lập, sẽ tổ chức kế toán riêng, hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở đơn vị mình, định kỳ lập báo cáo kế toán gửi về phòng kế toán công ty. Những đơn vị này thực hiện hạch toán mang tính chất phân tán. 11
  10. Hình 1.3. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán 12
  11. Đối với những đơn vị phụ thuộc quy mô nhỏ, không tổ chức kế toán riêng, chỉ bố trí một số nhân viên kinh tế làm nhiệm V I thu thập, V xử lý, kiểm tra chứng từ, sau đó gửi về phòng kế toán công ty. Những đơn vị này thực hiện hạch toán maníĩ tính chất tập trung. Phòng kế toán công ty có nhiệm vụ hạch toán các nghiệp vụ phát sinh ớ văn phòng, các nghiệp vụ phát sinh ở đơn vị phii thuộc không có tồ chức kế toán riông, tốiiíỉ hợp báo cáo kế toán của các đơn vị phụi thuộc có tố chức kế toán riêrm. lập báo cáo kế toán toàn DN. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán trong DN được khái quát trong hình 1.3. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán áp dụnc thích hợp với các đơn vị quy mô vừa, tình hình phân cấp quản lý và hạch toán khác nhau, trình độ quản không đều nhau giữa các đon vị tạrc thuộc. Trên cơ sở mô hình tổ chức bộ máy kế toán phù họp với DN, kế toán trưởng căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, tính chất hoạt động, quy mô của DN. số lượng nghiệp vụ kinh tế phát sinh để xác định các phần hành kế toán, quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận, phần hành kế toán, quan hệ phối hợp giữa các bộ phận, phần hành kế toán có liên quan bố trí lao động kế toán đảm bảo công việc kế toán phái tiến hành nhanh gọn và hiệu quả. Việc bổ trí lao động kế toán phải đảm báo phù hợp với khả năng, trình độ chuyên môn của từng nhân viên, tôn trọng các quy định có tính nguyên tắc như: nhân viên kế toán không được kiêm nhiệm thủ kho, thủ quỳ và các công tác phụ trách vật chất khác. Lãnh đạo DN Nhà nước, công ty hợp doanh, hợp tác xã và các đơn vị có sử dụng kinh phí của Nhà nước, đoàn thể không được bố trí những người thân trong gia đình như bố, mẹ, vợ hoặc chồng, con làm công tác tài chính kế toán, thủ kho, thủ quỹ tại đơn vị mình. 1.2.2.2. Tổ chức hệ thống thông tin kế toán Đe thực hiện chức năng thông tin và kiểm tra, kế toán cần thu thập thông tin thông qua tổ chức hệ thống chứng từ kế toán; hệ thống hoá, xử lý thông tin thông qua tổ chức hệ thống tài khoản (TK) kế toán, sổ kế toán; cung cấp thông tin thông qua tổ chức hệ thống báo cáo kế toán, xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế 13
  12. tài chính ở DN. Trong đó thu nhận thông tin thông qua tổ chức hệ thống chứng từ kế toán là khâu khởi đầu có. Hệ thống hoá, xử lý thông tin thông qua tổ chức hệ thống TK kế toán, sổ kế toán giúp cung cấp thông tin hữu ích, đáng tin cậv phục vụ quản lý kinh tế tài chính DN. Khâu cuối cùng trong nội dung này là tổ chức cung cấp thông tin thông qua hệ thống báo cáo kế toán. a) Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán Trong công tác kế toán, tổ chức hệ thống chứng từ kế toán là khâu đầu tiên, quan trọng của tồ chức công tác kế toán, có ý nghĩa quyết định đối với tính trung thực, khách quan của số liệu kế toán trong các đơn vị. Tổ chức hệ thống chứng từ bao gồm việc lựa chọn vận dụng hệ thống chửng từ kế toán, quy định cách ghi chép vào chứng từ và tổ chức luân chuyển, bảo quản chứng từ trong DN theo quy định hiện hành. Thực hiện nội dung này, DN cần xác định những chứng từ phải lập hoặc tiếp nhận cho từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh, nội dung của chứng từ, bộ phận lập hoặc tiếp nhận chứng từ, số liên (tờ) chứng từ, các bộ phận kế toán kiểm tra chứng từ, sử dụng chứng từ ghi sổ kế toán, bảo quản và lun trữ chứng từ. Tổ chức tốt hệ thống chứng từ kế toán sẽ đảm bảo tính trung thực và tính pháp lý cho số liệu kế toán. Đe việc tổ chức hệ thống chứng tò kế toán được khoa học, hợp lý, trong quá trinh thực hiện, cần đảm bảo một số yêu cầu cơ bản sau: - Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán phải căn cứ vào chế độ ghi chép ban đầu do Nhà nước quy định. - Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán phải phù hợp với đặc điểm tổ chức và hoạt động kinh doanh cũng như yêu cầu quản lý của DN. b) Tổ chức hệ thống TK kế toán - Hệ thống TK kế toán là nội dung quan trọng nhất của chế độ kế toán, quy định số lượng TK kế toán, tên gọi TK kế toán, số hiệu TK kế toán, nội dung, kết cấu và phương pháp hạch toán trên từng TK kế toán. 14
  13. Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán là dựa vào hệ thống TK kế toán do Nhà nước ban hành, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, tính chất hoạt động và yêu cầu quản lý cúa DN, kế toán trưởng xác định TK kế toán cần sử dụne và phương pháp vận dụng các TK kế toán đó theo hướng: + Vận dụng thống nhất về các TK cấp 1, cấp 2 và một số TK cấp 3 theo quy định của chế độ kế toán. + Xây dựng danh mục và phương pháp ghi chép các TK cấp 2, TK cấp 3, cấp 4 chưa có trong quy định của chế độ kế toán nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý của đơn vị. - Tổ chức hệ thống TK kế toán là một vấn đề có ý nghĩa quyết định chất lượng công tác kế toán đơn vị. Để vận dụng đúng đắn hệ thống TK kế toán, góp phần tổ chức công tác kế toán một cách khoa học, hợp lý, cần phải tuân thủ các yêu cầu cơ bản sau: + Phải tuân thủ các quy định trong hệ thống TK do Nhà nước ban hành. + Phải phù hợp với đặc điểm và yêu cầu quản lý của DN. Các TK DN lựa chọn sử dụng phải đủ để xử lý thông tin phục vụ quản trị kinh doanh, quản lý tài sản và sụr phân cấp quản lý kinh tế, tài chính trong DN. + Phải đảm bảo phản ánh một cách toàn diện, đầy đủ các nội dung hạch toán của DN, kết hợp tốt giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị. Đối với kế toán chi tiết, cần căn cứ mối quan hệ giữa lợi ích thu được với chi phí bỏ ra để xác định mức độ và yêu cầu cung cấp thông tin. c) Tổ chức hệ thống sổ kế toán - Sổ kế toán là một trong những nội dung quan trọng của chế độ kế toán, quy định các loại sổ; phương pháp ghi sổ; quan hệ kiểm tra. đối chiếu giữa các sổ kế toán theo tìmg hình thức kế toán. - Tổ chức sổ kế toán là thiết lập, xây dựng cho đơn vị một bộ sổ kế toán chính thức và duy nhất theo một hình thức kế toán phù hợp với đặc điểm của đơn vị. Trong đó, xác định số lượng sổ kế toán bao gồm cả sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết, kết cấu mẫu sồ kế toán, trình tir và phươiig pháp ghi sổ kế toán. 15
  14. Theo chế dộ kế toán DN hiện hành có 05 hình thức kế toán; hinh thức kế toán Nhật ký chứna từ, Nhật ký chung, Chứng từ ízhi sổ, Nhật ký - So Cái và hình thức kế toán trên máy vi tính. Mồi hình thức kế toán có một hệ thốno; sổ kế toán riêníỉ. kết cấu mẫu sổ, trinh tự và phươnti pháp ehi chép, ưu và nhược điểm khác nhau, thích hợp với từng DN cụ thể. Do đó, tổ chức hệ thốntì sổ kế toán trước hết phải căn cứ vào đặc điểm cùa DN như quy mô, trình độ và yêu cầu quản lý của DN, số lượnti và trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán, điều kiện cơ sở vậl chất, kỳ thuật của DN để quyết định lựa chọn hình thức kế toán phù hợp. Sau đó. trên cơ sờ hình thức kế toán đã lựa chọn đế xác định cơ cấu và số lượng sổ kế toán sử dụntỉ trorm DN; thiết ké trinh tự ^hi sổ kế toán cụ thể. hợp lý; tổ chức quá trình tihi chép sô kế toán khoa học; sứa chữa sai sót đủng phương pháp; bảo quan lưu giừ sổ kế toán đúng quy định. - Tổ chức tốt hệ thống sổ kế toán trong đơn vị là góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng công tác kê toán của đơn vị. Tuy có sự khác nhau về sự vận dụng hệ thống sổ kế toán giữa các đon vị. nhưng việc tổ chức sổ kế toán đều phải dụra trên nguyên tắc cơ bản sau: + Mỗi DN chỉ được mở một hệ thống sổ kế toán chính thức và duy nhất theo một trong 5 hình thức kế toán của chế độ kế toán hiện hành. + Tô chức hệ Ihốna sổ kế toán phải đám bảo tính khoa học. uhi chép thuận tiện, dễ đối chiếu, dễ kiêm tra. + Tố chức hệ thống sổ kế toán phải đảm bảo tính ihống nhất giĩra hệ thống TK với hệ thống sổ kế toán. + Kết cấu và nội dung ghi chép trên các sổ kế toán phải phù hợỊ5 với năng lực và trình độ của nhân viên kế toán trong DN. + Việc ghi chép trên sổ kế toán phải rõ ràng, không được tấy xoá, không được dùng chất hoá học phủ lên số liệu kế toán. Mọi trường hợp ghi sai trong sổ kế toán đều phải được sửa chữa kịp thời ngay sau khi phát hiện. Tuỳ theo từng trường hợp ghi sai mà áp dụng 16
  15. phương pháp chữa sổ thích hợp, nhưng không được làm mất số đã ghi sai. d) Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán - Báo cáo kế toán là hình thức biểu hiện của phương pháp tổng hợp cân đối kế toán, cung cấp thông tin kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế - tài chính, tinh hỉnh và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị. - Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán (báo cáo tài chính, báo cáo quản trị) trong DN nhằm cung cấp cho người sử dụng các thông tin cần thiết về tình hình và sự biến động của tài sản trong đơn vị, nguồn vốn kinh doanh, tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị trong kỳ báo cáo. Tố chức hệ thống báo cáo kế toán là việc lập và nộp các báo cáo kế toán tài chính theo quy định. Lập và sử dụng các báo cáo kế toán quán trị theo yêu cầu quản lý trong nội bộ DN. - Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán là khâu cuối cùng, quan trọng của việc thirc hiện chức năng thông tin và kiểm tra của kế toán. Để việc lập báo cáo kế toán đạt chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý kinh tế trong đom vị, đòi hỏi phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản sau: + Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán phải phù hợp với chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành. + Tố chức hộ thống báo cáo kế toán phải đảm báo tính thống nhất giữa kế toán và quản lý. + Tố chức lập báo cáo kế toán phải tiết kiệm và hiệu quả. 1.2.2.3. Tổ chức kiểm tra kế toán Kiểm tra kế toán là sự xem xét, đánh giá việc tuân thủ pháp luật về kế toán, sự trung thirc, chính xác của thông tin, số liệu kế toán cùa đơn vị. Đây là một nội dung cần thiết và quan trọng của tổ chức công tác kế toán nhằm đảm bảo cho công tác kế toán của đơn vỊ được tổ chức một cách khoa học và họrp lý. Kiểm tra công tác kế toán thường do kế toán trưởng và một bộ phận nhân viên kế toán của đơn vị tiến 2 GlAO TRÌNH KẾ TOÁN DNDV 17
  16. hành. Công việc kiểm tra được thực hiện ở tất cả các phần hành kế toán, kiểm tra một cách toàn diện việc thực hiện các nội dung công tác kế toán trong đơn vị như: kièm tra việc lập, xử lý và luân chuyển chứng từ kế toán, kiểm tra lính chất hợp pháp, hợp lệ của chứng từ, số liệu ghi chép trên chứng từ. kiểm tra việc vận dụnc hệ thống TK và sổ kế toán, kiểm tra tính trunu thực, họp lý cùa số liệu, tài liệu ghi chép trong sồ kế toán, trong các báo cáo kế toán, kiểm tra việc chấp hành các quy định trong lAiật Kế toán, chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán. Kiểm tra việc tổ chức, phân côníỉ lao động kế toán. CÂU HỒI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 1. Đ ặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ có ảnh hưởng như thế nào tới việc tổ chức công tác kế toán trong đơn vị? 2. Tổ chức công tác kế toán Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý trong DN kinh doanh dịch vụ. 3. Trong DN kinh doanh dịch vụ có nhiều chi nhánh được phân cấp quản lý ở mức độ cao, địa bàn rộng sẽ được xây dựng mô hình tổ chức bộ máy kế toán theo hinh thức nào? Vì sao? Trình bày nội dung cụ thể hình thức tổ chức bộ máy kế toán đỏ. 4. Những căn cứ phân công công việc cho các kế toán viên ở DN. 5. Tổ chức hệ thống thông tin kế toán gồm những nội dung cụ thể nào? Nội dung nào quan trọng nhất? Vì sao? 6. Nội dung và yêu cầu của tổ chức hệ thống tài khoản kế toán trong DN kinh doanh dịch vụ. 7. Yêu cầu tổ chức hệ thống sổ kế toán trong DN kinh doanh dịch vụ, 8. Trình bày nội dung công việc kiểm tra kế toán. Ý nghĩa của công việc. 18
  17. Chưong 2 KÉ TOÁN HOẠT ĐỘNG KĨNH DOANH DỊCH vụ KHÁCH SẠN • • • 2.1. ĐẶ C ĐIÉM HOẠT ĐỘNG KINH DO ANH DỊCH v ụ KHÁCH SẠN VÀ NHIỆM v ụ KÉ TOÁN 2.1.1. Đ ặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ khách sạn - Hoạt độno kinh doanh dịch vụ khách sạn rất đa dạng và mang tinh đồng bộ cao, bao gồm: kinh doanh dịch vụ lưu trú (dịch vụ buồng, phòng); dịch vụ ăn uổng (nhà hàníỉ); dịch vụ vui chơi giải trí (Karaoke, caíe,...). Tronií đó, dịch vụ lưu trú thưòng là dịch vụ kinh doanh chính của khách sạn, các dịch vụ khác có thế là hoạt động kinh doanh chính troniỉ khách sạn, cũng có thể là dịch vụ mang tính chất bổ trợ cho hoạt độnu kinh doanh dịch vụ lưu trú. - Hầu hết các sản phẩm dịch vụ của khách sạn đều không có hình thái vật chất cụ thế, quá trinh sản xuất đồng thời là quá trinh tiêu thụ nên không có sản phâm hoàn thành nhập kho, trừ một số sản phẩm của dịch vụ trong nhà hànu. - Moạt động kinh doíinh dịch vụ klìách sạn cũng phụ thuộc nhiều vảo yếu tố con người (sự hiểu biết và thái độ phục vụ cua nhân viên). Tuy nhiên, dịch vụ lưu trú trong kinh doanh khách sạn lại phụ thuộc rất nhiều vào trình độ iraim bị cơ sở vật chất và vị trí địa lý của khách sạn. 2.1.2. N hiệm vụ kế toán hoạt động kinh doanh dịch vụ khách sạn Đê đám bảo chức năng cuntỉ cáp thông tin hữu ích phục vụ cho việc ra quyết định, kế toán hoạt độne kinh doanh dịch vụ khách sạn có các nhiệm vu sau: 19
  18. - Ghi chép phản ánh chính xác, kịp thời, đầy đủ các khoản chi phí phát sinh trong quá trinh kinh doanh dịch vụ khách sạn; kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp cùa tìmg khoản chi phí, tình hình thực hiện kế hoạch và định mức chi phí. - Mở số theo dõi chi tiết chi phí theo từng hoạt động, từng yếu tố, từng khoản mục làm cơ sờ cho việc tính giá thành từng loại dịch vụ của khách sạn một cách đúng đắn. - Tổ chức kế toán doanh thu từng hoạt động dịch vụ của khách sạn, mở sổ kế toán theo dõi chi tiết doanh thu của từng loại hình dịch vụ, cung cấp thông tin phục vụ cho kế toán xác định kết quả kinh doanh. - Tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch kinh tế, tài chinh, kế hoạch giá thành sản phẩm và kết quả kinh doanh. Tổ chức phân tích kinh tế, cung cấp thông tin phục vụ cho các nhà quản trị quyết định được các phương án kinh doanh tối ưu. 2.2. KÉ TOÁN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH v ụ BUỒNG Kinh doanh dịch vụ buồng là một trong những hoạt động kinh doanh chính của khách sạn nhàm đáp ứng nhu cầu của khách lưu trú trong một thời gian nhất định. Bộ phận buồng phối hợp cùng bộ phận lễ tân cung cấp dịch vụ lưu trú tạo doanh thu chủ yếu trong tổng doanh thu của khách sạn, vì buồng khách là sản phẩm chính của khách sạn. Mặt khác, việc đẩv mạnh hoạt độníí kinh doanh dịch vụ buồng sẽ quyết định việc mở rộng quy mô các dịch V I khác trong V khách sạn. Kinh doanh dịch vụ buồng là loại hoạt độntĩ kinh doanh đặc biệt, vừa mang tính sản xuất kinh doanh, vừa mano, tính phục vụ khách lưu trú. Tính chất công việc của hoạt động kinh doanh dịch vụ buồng rất phức tạp, đòi hỏi phải có kỹ năng nghề nghiệp, thể hiện diện mạo của khách sạn và trình độ văn hoá, văn minh. Sản phẩm kinh doanh dịch vụ buồng không có hình thái vật chất cụ thể. Quá trình sản xuất cũng đồng thời là quá trình tiêu thụ, không có sản phẩm là thành phẩm nhập kho, sán phẩm không tồn kho, 20
  19. không ỉưu trữ được. Người sàn xuất sán phẩm dịch vụ chỉ lưu trữ những yếu tố dưới dạng tiền sản phẩm dịch VỊI chứ không phải là sản phẩm dịch vụ. Chất lượng dịch vụ buồng được quyết định bởi trang thiết bị, vật phẩm đồ dùng, cách bài trí, trình độ phục vụ của nhân viên. Dựa vào những tiêu chuẩn quy định mà người ta phân loại buồng thành nhiều loại khác nhau có chất lượnc và giá cá khác nhau. 2.2,1. Kế toán chi phí và giá thành dịch vụ buồng 2.2.1.1. Nội dung chi ph í kỉnh doanh dịch vụ buồng Quá trình thực hiện cung ứng dịch vụ buồng cũng là quá trình tiêu dùng các nguồn lực của DN. Việc tiêu dùng các nguôn lực này làm phát sinh chi phí của hoạt động kinh doanh dịch vụ buồng. Song do đặc điểm của dịch vụ buồng là không có hình thái vật chất, quá trinh sản xuất cũng đồng thời là quá trình tiêu thụ, không làm tăng giá trị sử dụng cho xã hội. Vì vậy, chi phí dịch vụ buồng cũng mang tính đặc thù và sự tham gia của các yếu tố chi phí vào quá trình dịch vụ cũng khác với các ngành sản xuất vật chất khác. Chi phí kinh doanh dịch vụ buồng là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống và lao động vật hoá cần thiết mà các DN kinh doanh khách sạn phải chi ra cho quá trinh hoạt động dịch vụ buồng trong một kỳ nhất định. Chi phí kinh doanh dịch VỊI buồng gồm nhiều yếu tố chi phí khác nhau, gồm: - Chi phí nhân viên tạrc tiếp phục vụ. - Chi phí khấu hao TSCĐ. - Chi phí công cụ, dụng cụ. - Chi phí vệ sinh (xà phòng, giấy vệ sinh,...). - Chi phí khác (thuốc đánh răng, bàn chải, hoa để phòng, quảnp cáo,...). - Chi phí dịch VỊI mua ngoài (điện, nước, điện thoại, sửa chữa TSCĐ thuê ngoài,...). 21

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản