intTypePromotion=3

Giáo trình Kiểm toán căn bản (Giáo trình đào tạo từ xa): Phần 1

Chia sẻ: Lê Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:66

0
51
lượt xem
16
download

Giáo trình Kiểm toán căn bản (Giáo trình đào tạo từ xa): Phần 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung của cuốn giáo trình tập trung làm rõ bản chất, phương pháp kỹ thuật và các loại hình kiểm toán. Qua đó người đọc có thể trả lời được những câu hỏi mà nhiều người băn khoăn, thắc mắc như kiểm toán khác kế toán ở điểm nào, kiểm toán có phải phát hiện toàn bộ các sai phạm ở đơn vị được hoặc bị kiểm toán hay không, kiểm toán và thanh tra tài chính có phải là một không,... Mời các bạn cùng tham khảo phần 1 giáo trình sau đây.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Kiểm toán căn bản (Giáo trình đào tạo từ xa): Phần 1

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA - QUAN HỆ DOANH NGHIỆP THS.ĐẶNG THÚY ANH ===  === KIỂM TOÁN CĂN BẢN VINH, NĂM 2011 =  = 1
  2. TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA - QUAN HỆ DOANH NGHIỆP THS.ĐẶNG THÚY ANH ===  === KIỂM TOÁN CĂN BẢN (Giáo trình đào tạo từ xa) VINH, NĂM 2011 =  = 2
  3. LỜI MỞ ĐẦU Kiểm toán là môn khoa học hiện nay đang được nhiều trường Đại học ở Việt nam đưa vào giảng dạy. Để giúp sinh viên cũng như những người quan tâm khác có thể tiếp cận và hiểu về kiểm toán một cách dễ dàng nhất, tập thể giảng viên Khoa Kinh tế- Bộ môn kế toán và kiểm toán Trường Đại học Vinh đã biên soạn cuốn Giáo trình Kiểm toán căn bản. Nội dung của cuốn giáo trình tập trung làm rõ bản chất, phương pháp kỹ thuật và các loại hình kiểm toán. Qua đó người đọc có thể trả lời được những câu hỏi mà nhiều người băn khoăn, thắc mắc như kiểm toán khác kế toán ở điểm nào, kiểm toán có phải phát hiện toàn bộ các sai phạm ở đơn vị được hoặc bị kiểm toán hay không, kiểm toán và thanh tra tài chính có phải là một không…Hy vọng cuốn giáo trình này sẽ đem lại nhiều kiến thức bổ ích cho những người quan tâm và muốn hiểu về kiểm toán. Cuốn giáo trình được biên soạn gồm 5 chương: Chương I: Tổng quan chung về kiểm toán Chương II: Phân loại kiểm toán Chương III: Một số khái niệm sử dụng trong kiểm toán Chương IV: Các phương pháp kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán Chương V: Kiểm toán viên và hiệp hội kiểm toán viên Cùng với phần lý luận ở mỗi chương đều có phần bài tập và câu hỏi do chính tác giả của chương biên soạn. Tham gia biên soạn gồm: 1. Th.S Đặng Thuý Anh – Chủ biên- biên soạn Chương thứ nhất, Chương thứ hai 2. GV.Nguyễn Thị Diệu Thuý biên soạn Chương thứ ba 3. GV.Nguyễn Thị Mai Lê biên soạn Chương thứ tư, Chương thứ năm Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn và biên tập nhưng cuốn giáo trình không tránh khỏi những thiếu sót cả về nội dung và hình thức. Tập thể tác giả mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của bạn đọc để giáo trình được hoàn thiện hơn trong lần tái bản sau Tập thể tác giả 3
  4. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BGĐ Ban Giám đốc BCTC Báo cáo tài chính BTC Bộ Tài chính CP Cổ phần CM Chuẩn mực DN Doanh nghiệp HĐQT Hội đồng quản trị HTKSNB Hệ thống kiểm soát nội bộ QĐ Quyết định KTT Kế toán trưởng KTV Kiểm toán viên KTNB Kiểm toán nội bộ NĐ Nghị định NSNN Ngân sách nhà nước TSCĐ Tài sản cố định 4
  5. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN Mục tiêu chương: Sau khi nghiên cứu chương này, người đọc có thể hiểu được bản chất, khái niệm của kiểm toán, vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế, sự khác nhau giữa kế toán và kiểm toán Nội dung của chương tập trung làm rõ những vấn đề sau: - Khái niệm, bản chất của kiểm toán - Vai trò, ý nghĩa của kiểm toán trong nền kinh tế, trong quản lý - Sự khác nhau giữa kế toán và kiểm toán - Chuẩn mực kiểm toán - Quá trình phát triển của kiểm toán 1.1 Khái niệm, bản chất của kiểm toán Có nhiều quan niệm, khái niệm khác nhau về kiểm toán. Có quan niệm cho rằng kiểm toán là kiểm tra kế toán, lại có quan niệm cho rằng kiểm toán là kiểm toán báo cáo tài chính. Tuy nhiên theo quan điểm hiện đại, kiểm toán không chỉ có kiểm toán báo cáo tài chính mà còn có kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hiệu quả, kiểm toán hiệu năng. Theo định nghĩa của liên đoàn kế toán quốc tế “ Kiểm toán là việc kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về Báo cáo tài chính”. Theo định nghĩa này đối tượng kiểm toán là báo cáo tài chính, nội dung là kiểm tra và bày tỏ quan điểm, người thực hiện là kiểm toán viên độc lập Theo Nghị định 07/CP ngày 29/01/1994 của Chính phủ – kiểm toán độc lập là việc kiểm tra, xác nhận của tổ chức kiểm toán độc lập về tính đúng đắn, hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội khi có yêu cầu của các đơn vị này Tác giả Alvin Arens và James trong giáo trình “Kiểm toán” đã nêu một định nghĩa chung về kiểm toán như sau: Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có kỹ năng nghiệp vụ thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng của một đơn vị nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được xây dựng 1.1.1 Các chuyên gia độc lập và có năng lực Các chuyên gia ở này chính là các kiểm toán viên có thể là kiểm toán viên nhà nước, kiểm toán viên độc lập, kiểm toán viên nội bộ. Yêu cầu đối với các kiểm toán viên là phải độc lập và có năng lực. 5
  6. Năng lực: có trình độ chuyên môn về kế toán và kiểm toán. Trình độ này có được thông qua việc được đào tạo ở các trường lớp, trường cao đẳng, đại học chuyên ngành kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, lớp bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán Trình độ chuyên môn không chỉ là những kiến thức lý thuyết mà còn có cả kinh nghiệm thực tiễn. Qua thời gian làm việc kế toán, kiểm toán, kiểm toán viên có được những kiến thức sâu hơn, rộng hơn về kiểm toán. Tuy nhiên đối với những người hành nghề kiểm toán không phải cứ tốt nghiệp chuyên ngành kế toán, kiểm toán hay có vài năm làm kiểm toán là đủ kiến thức. Họ phải thường xuyên trau dồi kiến thức chuyên môn của mình bằng việc thường xuyên cập nhật các văn bản mới về kế toán, kiểm toán do quốc gia và quốc tế công bố, cũng như phải có sự hiểu biết nhất định về các văn bản pháp luật có liên quan đến ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực hoạt động của các đơn vị được kiểm toán. Hàng năm, vào những tháng không phải là mùa kiểm toán, công việc kiểm toán không bận rộn, các công ty kiểm toán thường tổ chức những lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho các trợ lý kiểm toán, kiểm toán viên, kiểm toán viên chính. Nội dung bồi dưỡng trong những lớp học này là những văn bản pháp luật mới ban hành liên quan đến công việc của kiểm toán viên, trao đổi kinh nghiệm về kế toán, kiểm toán. Đối với những công ty nhỏ không tự tổ chức được các lớp học bồi dưỡng thì cần sự trợ giúp của hiệp hội nghề nghiệp kế toán và kiểm toán. Đạo đức nghề nghiệp: Một trong những yêu cầu quan trọng về đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên là có tính độc lập. Tức là bên cạnh yêu cầu về tính độc lập thì kiểm toán viên phải có tính bảo mật, tính thận trọng, tôn trọng pháp luật. Sự tiến bộ xã hội đòi hỏi những người hành nghề trong bất cứ lĩnh vực nào cũng phải tuân thủ đạo đức nghề nghiệp. Người ta phải tuân thủ đạo đức nghề nghiệp để đảm bảo cho nghề nghiệp và sản phẩm của ngành nghề được xã hội trọng dụng, tôn vinh. Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán và kiểm toán có những đặc thù riêng: KTV phải độc lập, tôn trọng bí mật, thận trọng thích đáng Bàn về tính độc lập của KTV thì KTV phải thực sự độc lập về kinh tế và độc lập về tình cảm, không bị chi phối hoặc bị tác động bởi lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào làm ảnh hưởng đến sự trung thực, khách quan. Độc lập về kinh tế: KTV không được làm kiểm toán cho các đơn vị mà mình có quan hệ hoặc quyền lợi kinh tế như góp vốn, cho vay hoặc vay vốn từ khách 6
  7. hàng hoặc là cổ đông chi phối của khách hàng hoặc có ký hợp đồng dịch vụ, đại lý tiêu thụ hàng hoá. Độc lập về tình cảm: KTV không được làm kiểm toán ở những đơn vị mà bản thân có quan hệ gia đình ruột thịt (như bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị em ruột) là người trong bộ máy quản lý, điều hành (HĐQT, BGĐ, KTT, các trưởng phó phòng và những người tương đương) trong đơn vị khách hàng. 1.1.2. Thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán Bằng chứng kiểm toán là toàn bộ các tài liệu, thông tin mà KTV thu thập được làm cơ sở, căn cứ cho các ý kiến kiểm toán hay là để xác định mức độ phù hợp giữa các thông tin được kiểm tra với các chuẩn mực đã được xây dựng. Bằng chứng kiểm toán có thể là các tài liệu kế toán của đơn vị hoặc các chứng cứ riêng của kiểm toán viên như thư xác nhận nợ phải thu, kết quả chứng kiến kiểm kê Để thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán, KTV phải sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán như phương pháp cân đối (tổng tài sản có bằng tổng nguồn vốn không, tổng phát sinh nợ có bằng tổng phát sinh có ), phương pháp kiểm toán đối chiếu (đối chiếu trực tiếp, lôgíc), phương pháp phỏng vấn, quan sát, gửi thư xác nhận... thực chất của quá trình kiểm toán là quá trình kiểm toán viên sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán để thu thập và đánh giá các bằng chứng. 1.1.3. Các thông tin đã được định lượng Các thông tin trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp, thông tin về tài sản, nguồn vốn, kết quả kinh doanh, doanh thu, chi phí, giá vốn, lãi gộp, lợi nhuận trước thuế, sau thuế Thông tin về hiệu quả của một quy trình sản xuất, hiệu quả kinh doanh của một bộ phận như bán hàng, marketing, cung ứng vật tư Thông tin về tình hình tuân thủ văn bản pháp luật: thuế, kế toán, quản lý..., nội quy, quy chế của đơn vị. 1.1.4. Các chuẩn mực đã được xây dựng và sử dụng trong kiểm toán Đó là cơ sở để đánh giá các thông tin được kiểm tra. Các chuẩn mực này rất đa dạng và phong phú, chuẩn mực này có thể là: + Luật kế toán + Chuẩn mực kế toán + Chế độ kế toán – chứng từ, tài khoản, sổ, báo cáo 7
  8. + Các văn bản pháp luật có liên quan: luật thuế thu nhập doanh nghiệp, luật NSNN, luật doanh nghiệp. + Các quy định có tính chất nội bộ của đơn vị, loại này có tính chủ quan cao nên kiểm toán viên cần thẩm định lại tính hợp pháp của các quy định nội bộ này 1.1.5. Báo cáo kết quả Kết thúc cuộc kiểm toán kiểm toán viên phải lập báo cáo kết quả kiểm toán. Báo cáo kiểm toán là văn bản trình bày ý kiến của kiểm toán viên về sự phù hợp giữa thông tin được kiểm tra và chuẩn mực đã được thiết lập. Tuỳ thuộc vào loại kiểm toán, các báo cáo có thể khác nhau về bản chất về nội dung nhưng chúng giống nhau ở chỗ là đều thể hiện ý kiến của kiểm toán viên về mức độ phù hợp giữa các thông tin được kiểm tra với các chuẩn mực đã được xây dựng. 1.2 Vai trò và ý nghĩa của kiểm toán trong nền kinh tế Kiểm toán có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Kiểm toán sinh ra từ quản lý và phục vụ cho yêu cầu của quản lý. Khi có sự đa dạng hoá về hình thức đầu tư, hình thức sở hữu đặc biệt là khi thị trường vốn phát triển cụ thể thị trường chứng khoán phát triển thì kiểm toán lại càng cần thiết và có vai trò quan trọng. Sở dĩ như vậy là vì kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm, kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp hoạt động tài chính, kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý. Báo cáo tài chính do đơn vị được kiểm toán lập, đơn vị được kiểm toán có trách nhiệm lập và trình bày trung thực, hợp lý các thông tin trên báo cáo tài chính. Nhưng báo cáo tài chính này chủ yếu để phục vụ cho những người sử dụng bên ngoài như ngân hàng, nhà đầu tư, nhà cung cấp, khách hàng, cơ quan nhà nước… những người sử dụng bên ngoài quan tâm đến thông tin trên BCTC để phân tích, đánh giá nhằm đưa ra các quyết định kinh tế của riêng mình như cho vay, đầu tư, hợp tác kinh doanh, mua cổ phiếu, bán cổ phiếu, ban hành các chính sách chế độ tài chính kinh tế cho phù hợp. Những đối tượng quan tâm ở đây có thể là cổ đông, nhà đầu tư, đối tác (người mua, người bán...), ngân hàng, nhà nước...Những quyết định mà họ muốn đưa ra phải là những quyết định kinh tế đúng đắn. Vì vậy, những thông tin những người quan tâm này cần là những thông tin đáng tin cậy, trung thực. Tuy nhiên, yêu cầu này không được sẵn sàng đáp ứng bởi các đơn vị được kiểm toán bởi các đơn vị thường có xu hướng trình bày thông tin có lợi cho mình chẳng hạn như để giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp thì trình bày doanh thu giảm, chi phí tăng lên.. Để có thông tin đáng tin cậy thì 8
  9. báo cáo tài chính cần được kiểm toán bởi các kiểm toán viên, kiểm toán viên chịu trách nhiệm về ý kiến kiểm toán mà mình đưa ra, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của những người sử dụng thông tin. Như vậy, khi có kiểm toán thì những người sử dụng thông tin sẽ xác định một cách rõ ràng hơn về mức độ tin cậy đối với thông tin trên báo cáo tài chính đang xem xét. Trên cơ sở đó tạo điều kiện thuận lợi cho những người quan tâm trong các giao dịch kinh tế, đưa ra các quyết định kinh tế đúng đắn. 1.3. Phân biệt kế toán và kiểm toán Kế toán là quá trình nhận biết, thu thập, phân loại, ghi sổ, tổng hợp và báo cáo các nghiệp vụ kinh tế tài chính của tổ chức nhằm cung cấp thông tin tài chính cho quá trình ra quyết định. Đối với một số tổ chức và đối với toàn xã hội, chức năng của kế toán nói chung là cung cấp một số loại nhất định các thông tin số lượng mà nhà quản lý và những người khác có thể sử dụng để ra quyết định. Để cung cấp thông tin thích hợp các kế toán viên phải có một sự hiểu biết sâu sắc về các nguyên tắc và quy định làm cơ sở để soạn thảo thông tin kế toán đó. Ngoài ra, các kế toán viên phải triển khai một hệ thống để đảm bảo là các nghiệp vụ kinh tế của một tổ chức đã được nghi sổ đúng dắn, kịp thời Trong quá trình kiểm toán số liệu kế toán, điều quan tâm chính là việc xác định liệu thông tin ghi sổ có phản ánh một cách đúng đắn các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong kỳ kế toán hay không. Vì các nguyên tắc kế toán là các chuẩn mực để đánh giá xem thông tin kế toán có được vào sổ một cách đúng đắn hay không nên mọi kiểm toán viên có sử dụng các số liệu này cũng phải hiểu một cách thấu đáo các nguyên tắc đó. Ngoài việc hiểu rõ nghiệp vụ kế toán, kiểm toán viên cũng phải thành thạo trong quá trình thu thập và diễn giải bằng chứng kiểm toán. Chính sự thành thạo này đã phân biệt các kiểm toán viên với các kế toán viên. Xác định đúng đắn các thủ tục kiểm toán, quy mô mẫu, các khoản mục cá biệt phải kiểm tra, thời gian của các cuộc khảo sát và đánh giá các kết quả là những vấn đề riêng của kiểm toán viên Đó là phương pháp thoả mãn yêu cầu của những người sử dụng về thông tin tài chính. Chức năng của báo cáo tài chính là cung cấp những thông tin về tình hình tài chính, những thay đổi về tình hình tài chính cho những người đưa ra quyết định ở bên ngoài- những người không có những thông tin về đơn vị như 9
  10. những nhà quản lý của đơn vị đó. Những người kế toán của công ty lập những báo cáo tài chính như thế. Những người sử dụng cần nhiều thông tin hơn là những thông tin được cung cấp bởi kế toán, họ cần thông tin đáng tin cậy. Những người chuẩn bị và công bố những thông tin như giám đốc, nhà quản lý, kế toán viên và những nhân viên khác trong công ty có thể có lợi khi cung cấp những thông tin sai lệch hoặc những thông tin theo ý muốn chủ quan của họ. Những mâu thuẫn tiềm tàng này đủ để tạo ra một thái độ hoài nghi về phía những người sử dụng. Chính vì vậy, họ phụ thuộc vào kiểm toán viên chuyên nghiệp- những người sẽ cung cấp những thông tin đáng tin cậy và xem những kiểm toán viên này như những người trung gian rất khách quan Kiểm toán không bao gồm những chức năng của kế toán. Mà chức năng kế toán được thực hiện bởi kế toán của công ty theo những hướng dẫn của nhà quản lý. Kiểm toán viên thu thập những bằng chứng mà cho phép họ xác định liệu những thông tin trên báo cáo tài chính có thực sự đáng tin cậy hay không. Sau đó kiểm toán viên báo cáo cho những người sử dụng rằng những thông tin trên báo cáo tài chính là đáng tin cậy bằng cách trình bày ý kiến rằng việc lập báo cáo tài chính của công ty, kết quả về hoạt động kinh doanh và những thay đổi về tình hình tài chính là tuân thủ với chuẩn mực kế toán được chấp nhận. 1.4.Chuẩn mực kiểm toán Chuẩn mực kiểm toán là những quy phạm pháp lý, là thước đo chung về chất lượng công việc kiểm toán và dùng để điều tiết hành vi của kiểm toán viên và các bên hữu quan theo hướng đạo và mục tiêu xác định. Chuẩn mực kiểm toán có thể được biểu hiện bởi các hình thức khác nhau song có thể quy về 2 hình thức cơ bản đó là: Luật kiểm toán; Hệ thống chuẩn mực kiểm toán cụ thể - Luật kiểm toán là hình thức cao nhất của chuẩn mực kiểm toán, tính pháp lý của quy định đạt mức cao và điều tiết hành vi của nhiều phía có liên quan. - Chuẩn mực chung về nghề nghiệp trong kiểm toán tài chính là hình thức phổ biến. Chúng bao gồm những nguyên tắc cơ bản về nghiệp vụ và về việc xử lý các mối quan hệ phát sinh trong quá trình kiểm toán. Để hướng đạo cho việc soạn thảo và ban hành các chuẩn mực cụ thể, liên đoàn kế toán quốc tế đã soạn thảo và công bố các văn bản chỉ đạo kiểm toán quốc 10
  11. tế. Đôi chỗ các văn bản chỉ đạo này được đồng nghĩa với chuẩn mực (duy nhất ) của kiểm toán. Chuẩn mực kiểm toán là những nguyên tắc cơ bản về nghiệp vụ và về việc xử lý các mối quan hệ phát sinh trong quá trình kiểm toán. Hiểu theo nghĩa rộng, chuẩn mực bao gồm cả những hướng dẫn và giải thích về các nguyên tắc cơ bản để các kiểm toán viên có thể áp dụng trong thực tế, cũng như để đo lường và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán Ở Việt Nam Bộ Tài chính (BTC) là cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo và ban hành các chuẩn mực kiểm toán, BTC xác định 3 nguyên tắc xây dựng chuẩn mực kế toán và kiểm toán Việt Nam là: - Dựa trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế về kế toán, chuẩn mực quốc tế về kiểm toán. - Phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam - Đơn giản, rõ ràng và tuân thủ các quy định về thể thức ban hành văn bản pháp luật 4 Chuẩn mực kiểm toán Việt nam đợt 1: Chuẩn mực số 200- Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính; Chuẩn mực số 210 – Hợp đồng kiểm toán; Chuẩn mực số 230 – Hồ sơ kiểm toán; Chuẩn mực số 700 – Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính 6 Chuẩn mực đợt 2: chuẩn mực số 250 – Xem xét tính tuân thủ pháp luật và các quy định trong kiểm toán báo cáo tài chính; chuẩn mực số 310 – Hiểu biết về tình hình kinh doanh; chuẩn mực số 500 – Bằng chứng kiểm toán; chuẩn mực số 510 – Kiểm toán năm đầu tiên – Số dư đầu năm tài chính; chuẩn mực số 520 – Quy trình phân tích; chuẩn mực số 580 – Giải trình của Giám đốc. 6 Chuẩn mực đợt 3: chuẩn mực số 240 – Gian lận và sai sót; chuẩn mực số 300 – Lập kế hoạch kiểm toán; chuẩn mực số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ; chuẩn mực số 530 – Lấy mẫu kiểm toán và các thủ tục lựa chọn khác; chuẩn mực số 540 – Kiểm toán các ước tính kế toán; chuẩn mực số 610 – Sử dụng tài liệu của kiểm toán nội bộ. 5 Chuẩn mực đợt 4: chuẩn mực số 220 – Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán; chuẩn mực số 320 – Tính trọng yếu trong kiểm toán; chuẩn mực số 501 – Bằng chứng kiểm toán bổ sung đối với các khoản mục và sự kiện đặc biệt; chuẩn mực số 560 – Các sự kiện phát sinh sau ngày khoá sổ kế toán lập báo cáo tài chính; chuẩn mực số 600 – Sử dụng tài liệu của kiểm toán viên khác. 11
  12. 6 Chuẩn mực đợt 5: chuẩn mực số 401 – Thực hiện kiểm toán trong môi trường tin học; chuẩn mực số 550 – Các bên liên quan; chuẩn mực số 570 – Hoạt động liên tục; chuẩn mực số 800 – Báo cáo kiểm toán về những công việc kiểm toán đặc biệt; chuẩn mực số 910 – Công tác soát xét báo cáo tài chính; chuẩn mực số 920 – Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở các thủ tục thoả thuận trước. 6 Chuẩn mực đợt 6: chuẩn mực số 402 – Các yếu tố cần xem xét khi kiểm toán đơn vị có sử dụng dịch vụ bên ngoài; chuẩn mực số 602 – Sử dụng tư liệu của chuyên gia; chuẩn mực số 710 – Thông tin có tính so sánh; chuẩn mực 720 – Những thông tin khác có trong tài liệu có báo cáo tài chính đã kiểm toán; chuẩn mực số 930 – Dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính; chuẩn mực số 1000 – Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành. 4 Chuẩn mực đợt 7: chuẩn mực 260 – trao đổi các vấn đề quan trọng phát sinh khi kiểm toán với ban lãnh đạo đơn vị được kiểm toán; chuẩn mực 330 – Thủ tục kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi ro; chuẩn mực số 505 – Thông tin xác nhận từ bên ngoài; chuẩn mực số 545 – Kiểm toán việc xác định và trình bày giá trị hợp lý. 1.5 Quá trình phát triển của kiểm toán Kiểm toán là một hoạt động đã có từ rất lâu đời kể từ thời mà các thông tin được phê chuẩn bằng cách đọc lên trong một buổi họp công khai, vì thế từ gốc của thuật ngữ kiểm toán (audit) theo tiếng La tinh là Auditus có nghĩa là nghe. Sau này với sự ra đời của thị trường chứng khoán và công ty cổ phần cũng như do sự mở rộng quy mô của các doanh nghiệp nên dần dần đã diễn ra sự tách rời giữa quyền sở hữu của các cổ đông và chức năng điều hành của những nhà quản lý. Từ đó đã xuất hiện nhu cầu kiểm tra của các chủ sở hữu để chống lại sự gian lận của các nhà quản lý lẫn người làm công, vì thế kiểm toán độc lập đã được ra đời vào đầu thế kỷ 18 để đáp ứng cho nhu cầu này. Đầu thế kỷ 20, nền kinh tế thế giới phát triển ngày càng mạnh mẽ với sự xuất hiện của nhiều nhà đầu tư chứng khoán. Vì thế, trong khi mục đích của kiểm toán Nhà nước và kiểm toán nội bộ không có sự thay đổi đáng kể, kiểm toán độc lập đã từ mục đích phát hiện sai phạm đã chuyển sang mục đích mới là nhận xét về mức độ trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính và lúc này kết quả kiểm toán chủ yếu phục vụ cho các bên thứ 3 để giúp họ đánh giá về độ tin cậy của báo cáo tài chính 12
  13. Vào cuối thế kỷ 20, vai trò của kiểm toán càng tăng lên do tiến trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới nhất là thị trường vốn. Sự phát triển của lực lượng các nhà đầu tư quốc tế ra khỏi biên giới quốc gia làm tăng nhu cầu bảo đảm độ tin cậy của báo cáo tài chính và các thông tin khác. Yêu cầu này thúc đẩy việc mở rộng và nâng cao hơn nữa chất lượng của kiểm toán Ở Việt nam, để phát triển và hội nhập với nền kinh tế thế giới, vào đầu thập niên 90, hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam đã bước đầu hình thành với sự ra đời của công ty Kiểm toán Việt nam (VACO) và công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán AASC vàp tháng 5/1991. Sau đó nhiều công ty kiểm toán khác của việt nam lần lượt được thành lập cùng với sự có mặt của các công ty kiểm toán quốc tế. Khách hàng của các công ty kiểm toán cũng gia tăng nhanh chóng và mở rộng ra nhiều loại hình doanh nghiệp như các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn, các công ty cổ phần có niêm yết trên thị trường chứng khoán, các ngân hàng thương mại.. Tháng 7/1994 theo nghị định 70CP của Chính phủ Kiểm toán nhà nước được thành lập, trực thuộc Chính phủ để giúp Chính phủ thực hiện chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp Tháng 10/1997, Bộ Tài chính đã ban hành quy chế Kiểm toán nội bộ áp dụng tại các Doanh nghiệp Nhà nước theo quyết định 832/QĐ/CĐKT HƯỚNG DẪN HỌC TẬP CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP VẬN DỤNG I.Câu hỏi ôn tập: 1. Nêu sự khác nhau giữa kế toán và kiểm toán? 2. Nêu lợi ích của kiểm toán báo cáo tài chính đối với doanh nghiệp? 3. Nhà nước có cần bắt buộc các doanh nghiệp thương mại phải mời kiểm toán độc lập đến để kiểm toán báo cáo tài chính nhằm ngăn ngừa gian lận trong thương mại hay không? vì sao? 4. So sánh sự khác nhau giữa một khách hàng kiểm toán và một đơn vị được kiểm toán? 5. Phân biệt đối tượng và khách thể kiểm toán? 6. Trình bày vai trò của kiểm toán đối với công tác quản lý? 7. Phân biệt kiểm toán với thanh tra tài chính? 13
  14. 8. Chuẩn mực kiểm toán là gì? Tác dụng của việc xây dựng chuẩn mực kiểm toán ở nước ta? Câu hỏi trắc nghiệm A. Nhận định Đúng hoặc Sai cho các câu dưới đây và Giải thích: 1. Kiểm toán không cần thiết cho nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung 2. Kiểm toán không cần thiết cho nền kinh tế thị trường 3. Kiểm toán hoàn toàn phụ thuộc vào kế toán 4. Các hành vi của kế toán do kiểm toán điều tiết 5. Mục đích quan trọng nhất của kiểm toán là tìm ra gian lận và sai sót 6. Kiểm toán viên phải tuân thủ chuẩn mực kế toán khi kiểm toán 7. Kiểm toán sinh ra từ yêu cầu của quản lý và phục vụ cho yêu cầu quản lý 8. Ngày nay, kiểm toán không chỉ giới hạn ở lĩnh vực kiểm toán báo cáo tài chính mà còn thâm nhập vào nhiều lĩnh vực khác như hiệu quả hoạt động kinh tế, hiệu năng quản lý xã hội, hiệu lực của hệ thống pháp lý trong từng hoạt động… B. Hãy chọn câu trả lời đúng nhất cho các câu sau: 1.1 Kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm đến thông tin kế toán. Những người quan tâm ở đây là: a. Các nhà đầu tư chứng khoán b. Các nhà cung cấp, khách hàng c. Các nhà doanh nghiệp để điều hành hoạt động kinh doanh d. Các cơ quan nhà nước để điều tiết vĩ mô nền kinh tế e. Tất cả các câu trên 1.2 Kiểm toán viên có trách nhiệm: a. Chuẩn bị các thông tin số liệu về báo cáo tài chính b. Kiểm tra các thông tin về báo cáo tài chính c. Xử lý các hiện tượng gian lận và sai sót d. Tất cả các trường hợp trên e. Không phải một trong các trường hợp trên 1.3 Kiểm toán là: a. Quá trình kiểm tra kế toán của kiểm toán viên b. Quá trình kiểm tra việc chấp hành chính sách chế độ quản lý kinh tế c. Nhu cầu tất yếu khách quan đối với mọi nền sản xuất xã hội d. Việc kiểm tra của cơ quan chức năng đối với các đơn vị 14
  15. e. Việc kiểm tra, xác nhận mức độ phù hợp giữa các thông tin có thể định lượng được của đơn vị với các chuẩn mực đã được xây dựng, thừa nhận f. Là tất cả các trường hợp trên 1.4 Kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm đến: a. Tài sản ngắn hạn b. Tài sản dài hạn c. Doanh thu d. Chi phí e. Tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp 1.5 Kết thúc kiểm toán, kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến kiểm toán, ý kiến này được trình bày: a. Bằng miệng b. Bằng văn bản c. Cả bằng miệng và văn bản d. Không có câu nào đúng 1.6 Thuật ngữ kiểm toán thực sự mới xuất hiện và sử dụng ở nước ta: a. Những năm đầu thập kỷ 50 b. Những năm đầu thập kỷ 60 c. Những năm đầu thập kỷ 80 d. Những năm đầu thập kỷ 90 e. Những năm cuối thế kỷ 20 1.7 Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải có trách nhiệm: a. Phát hiện toàn bộ những sai sót trọng yếu nhưng không phải phát hiện gian lận b. Phát hiện và báo cáo toàn bộ các gian lận và sai sót trong các báo cáo tài chính c. Không có và không phải chịu trách nhiệm ngăn ngừa ra tất cả các gian lận và sai sót d. Ba câu đều sai II. Bài tập vận dụng 1. Quang Hà là giám đốc công ty nhỏ kinh doanh dịch vụ quảng cáo. Anh ta nghe nói rằng ở đơn vị kinh doanh báo cáo tài chính nên được kiểm toán bởi một doanh nghiệp kiểm toán. Quang Hà có một số kiến thức và kinh nghiệm về kế toán nên anh đã tự mình lập báo cáo tài chính của công ty và anh không hiểu vì sao các báo cáo tài chính đó cần được kiểm toán bởi doanh nghiệp kiểm toán. Quang Hà đã đưa vấn đề này ra bàn luận với Nam Anh- một kiểm toán viên và 15
  16. yêu cầu Nam Anh giải thích rõ vì sao một cuộc kiểm toán lại được xem là cần thiết. Hãy đóng vai trò là Nam Anh, anh (chị) hãy giải thích rõ vấn đề này? 2. Những người trước đây là nhân viên của khách hàng kiểm toán nay làm việc cho doanh nghiệp kiểm toán thì không được phép tham gia vào cuộc kiểm toán của những kỳ mà họ đã làm cho khách hàng kiểm toán. Điều này có đúng không? Vì sao? 3. Có một số ý kiến cho rằng: “ Hoạt động kiểm toán độc lập không đóng góp gì cho sự tăng trưởng tổng sản phẩm quốc dân, cũng như sự giàu có nói chung của xã hội vì các kiểm toán viên không sáng tạo ra cái mới mà chỉ đơn thuần là kiểm tra những gì người khác đã làm”. Bạn có đồng ý với ý kiến này hay không? Vì sao? TÓM TẮT CHƯƠNG I Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có kỹ năng nghiệp vụ thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng của một đơn vị nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được xây dựng Kiểm toán có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Kiểm toán sinh ra từ quản lý và phục vụ cho yêu cầu của quản lý. Kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm, kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp hoạt động tài chính, kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý. Ở Việt nam, để phát triển và hội nhập với nền kinh tế thế giới, vào đầu thập niên 90, hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam đã bước đầu hình thành với sự ra đời của công ty Kiểm toán Việt nam (VACO) và công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán AASC vàp tháng 5/1991. Sau đó nhiều công ty kiểm toán khác của việt nam lần lượt được thành lập cùng với sự có mặt của các công ty kiểm toán quốc tế 16
  17. CHƯƠNG II: PHÂN LOẠI KIỂM TOÁN Mục tiêu chương: Sau khi nghiên cứu chương, người đọc có thể hiểu được đặc điểm các loại kiểm toán phân theo mục đích, các loại kiểm toán phân theo tổ chức bộ máy đó là kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ, thực trạng phát triển các loại hình kiểm toán này ở Việt nam Nội dung của chương tập trung làm rõ những vấn đề sau: - Đặc điểm của kiểm toán tài chính, kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ - Đặc điểm của kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ, thực trạng phát triển các loại kiểm toán này tại Việt nam 2.1 Phân loại kiểm toán theo mục đích a.Kiểm toán BCTC *Khái niệm: là việc kiểm tra và xác nhận về tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và BCTC của đơn vị, phục vụ đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin trên BCTC của đơn vị. * Đối tượng: là các bảng khai tài chính bao gồm BCTC và các bảng kê khai có tính chất pháp lý như bảng kê khai tài sản cá nhân, bảng kê khai tài sản đặc biệt kể cả bảng kê khai tài sản doanh nghiệp phá sản hoặc bán đấu giá. * Mục tiêu: kiểm tra tính trung thực hợp lý của các thông tin trên các bảng khai tài chính - Trung thực : là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh đúng sự thật nội dung , bản chất của nghiệp vụ kinh tế phát sinh (phản ánh đúng tình hình thực tế diễn ra ) - Hợp lý : thông tin tài chính và tài liệu phản ánh trung thực, cần thiết và phù hợp về không gian, thời gian và sự kiện được nhiều người thừa nhận . * Khách thể : là đơn vị có báo cáo tài chính được kiểm toán * Chủ thể : là những người có trình độ nghiệp vụ tương xứng với công việc kiểm tra cụ thể kiểm toán viên nhà nước, kiểm toán viên nội bộ, kiểm toán viên độc lập. Trong đó kiểm toán viên độc lập là chủ thể chủ yếu. * Đối tượng phục vụ :đa dạng những người quan tâm - Trong nội bộ đơn vị: Ban lãnh đạo để có kế hoạch , quyết định kinh doanh , nhân sự, tổ chức hoạt động - Người lao động : các cổ đông, công nhân, cán bộ - Những người sử dụng bên ngoài: 17
  18. + Các nhà đầu tư :để có quyết định đầu tư đúng, đầu tư vào cái gì , vốn đầu tư bao nhiêu, trong khoảng thời gian thế nào. + Cơ quan nhà nước : cơ quan thuế , cơ quan thống kê, chính phủ nhằm điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật và chính sách * Căn cứ để thực hiện : chịu sự đìêu tiết chi phối của chuẩn mực kiểm toán , đạo đức nghề nghiệp. Chuẩn mực kiểm toán là thước đo chung về chất lượng công việc kiểm toán và dùng để điều tiết hành vi của kiểm toán viên theo mục tiêu đã xác định * Báo cáo kết quả : báo cáo theo mẫu chuẩn b. Kiểm toán hoạt động( Kiểm toán nghiệp vụ) *Khái niệm: Kiểm toán hoạt động là việc kiểm tra và đánh giá tính hữu hiệu và tính hiệu quả trong hoạt động của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức, một đơn vị. * Đối tượng: Đối tượng của kiểm toán hoạt động rất phong phú và đa dạng chẳng hạn như các nghiệp vụ kinh tế như nghiệp vụ bán hàng, mua hàng, thu tiền, chi tiền, các nghiệp vụ tạm ứng hoặc có thể là một phương án kinh doanh, một quy trình công nghệ, một công trình xây dựng cơ bản, một loại tài sản hay thiết bị mới đưa vào sử dụng vì thế khó đưa ra một tiêu chuẩn chung, chuẩn mực chung cho loại kiểm toán này. Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả của hoạt động bán hàng khác với tiêu chuẩn để đánh giá tính hiệu quả của hoạt động mua hàng. Tiêu chuẩn để đánh giá tính hiệu quả đối với quá trình xử lý nghiệp vụ thanh toán khi chưa sử dụng máy vi tính khác với tiêu chuẩn để đánh giá tính hiệu quả đối với quá trình xử lý nghiệp vụ thanh toán khi sử dụng máy vi tính. Do đó, tính hiệu năng, hiệu quả khó được xác định một cách khách quan hơn so với tính tuân thủ, tính trung thực, hợp lý. Trong kiểm toán hoạt động chưa có tiêu chuẩn, chuẩn mực chung như kiểm toán tài chính mà các tiêu chuẩn này được xây dựng tuỳ vào từng loại nghiệp vụ, từng hoạt động, từng đối tượng kiểm toán. * Mục tiêu: nhằm xem xét và đánh giá hiệu năng, hiệu quả đối với hoạt động của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức. - Hiệu năng: là mức độ hoàn thành nhiệm vụ hay mục tiêu - Hiệu quả: là việc đạt được kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất Tính hiệu quả có thể được hiểu là việc sử dụng tổi thiểu các nguồn lực nhưng vẫn đảm bảo đạt được các mục tiêu của đơn vị. Có nghĩa là kết quả được tạo ra nhiều hơn so với mục tiêu, mục đích hoặc kế hoạch nhưng vẫn sử dụng 18
  19. đúng nguồn lực đã được xác định hoặc kết quả tạo ra đúng như mục tiêu, mục đích hoặc kế hoạch nhưng nguồn lực sử dụng lại ít đi. Tính hiệu năng được xác định như là một khái niệm hướng đến cái cuối cùng là đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu, mục đích đã được định trước cho một hoạt động hoặc một chương trình đã được thực hiện. Vì vậy điểm quan trọng trong kiểm toán sự hiệu năng là phải xem xét giữa kết quả mong đợi trong kế họạch với kết quả thực tế qua hoạt động * Chủ thể: là các kiểm toán viên chủ yếu là kiểm toán viên nội bộ * Khách thể: có thể là một bộ phận hoặc là toàn bộ tổ chức Bộ phận: sản xuất, bán hàng, marketing, mua hàng... (Toàn bộ tổ chức: kiểm toán các mục tiêu nhiệm vụ của đơn vị đặt ra có đạt được đúng theo phương hướng chỉ đạo của cấp trên hay không...) * Cơ sở để kiểm tra và căn cứ thực hiện Trong kiểm toán hoạt động chưa có chuẩn mực chung như kiểm toán BCTC mà các chuẩn mực sẽ được xác định tuỳ theo từng đối tượng cụ thể. Vì vậy, nếu các chuẩn mực không được xác định rõ ràng và chặt chẽ thì việc kiểm tra và đưa ra ý kiến sẽ phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của kiểm toán viên. * Báo cáo kết quả Khác với kiểm toán tài chính là phải báo cáo theo mẫu có sẵn thì kiểm toán hoạt động báo cáo dưới mọi hình thức làm sao để nhà quản lý hiểu được.Không có quy định cụ thể về hình thức báo cáo.Báo cáo kết quả kiểm toán hoạt động thường là các bản giải trình các nhận xét đánh giá kết luận và các ý kiến đề xuất cải tiến hoạt động. Kiểm toán hoạt động tạo ra cơ hội để cải tiến hệ thống quản lý và hoạt động trong đơn vị. Nó giúp các nhà lãnh đạo biết được những nhân tố tác động tiêu cực đến tính kinh tế, hiệu quả, hiệu năng của hệ thống quản lý và hoạt động, những yếu kém của hệ thống quản lý và kiểm soát, hiểu biết sâu sắc về những cái mới nảy sinh trong hoạt động và quá trình thực hiện của đơn vị. Nâng cao được tính kinh tế, tính hiệu quả, hiệu năng trong hệ thống quản lý và hoạt động thông qua những kiến nghị được đưa ra trong báo cáo kiểm toán. c. Kiểm toán tuân thủ *Khái niệm: Là việc kiểm tra và đánh giá xem đơn vị được kiểm toán có tuân thủ pháp luật và các quy định hay không để kết luận về sự chấp hành pháp luật và các quy định của đơn vị. 19
  20. Ví dụ: kiểm toán việc tuân thủ các luật thuế ở đơn vị, luật Ngân sách nhà nước, việc chấp hành các chính sách, chế độ về tài chính, kế toán, kiểm toán việc chấp hành các điều khoản của hợp đồng tín dụng đối với đơn vị sử dụng vốn vay của ngân hàng * Mục tiêu: nhằm kiểm tra, nhằm đánh giá mức độ chấp hành một quy định, thủ tục, nguyên tắc nào đó: Văn bản pháp luật, những điều khoản của hợp đồng, những quy định nội bộ của đơn vị... Các quy định này có thể của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của các bên có quan hệ hợp tác kinh doanh với đơn vị, của chính đơn vị. *Chủ thể: là các kiểm toán viên chủ yếu là kiểm toán viên nhà nước. * Khách thể: thực thể kinh tế; đơn vị hành chính sự nghiệp gồm các trường học, bệnh viện, cơ quan quân đội, quốc phòng... có sử dụng nguồn kinh phí nhà nước cấp. * Báo cáo kết quả Cũng như kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ không có mẫu chuẩn 2.2. Phân loại theo hệ thống bộ máy tổ chức 2.2.1. Kiểm toán độc lập Qua các phương tiện thông tin đại chúng chúng ta có thể nghe đến các doanh nghiệp kiểm toán(Công ty kiểm toán): Delloite Việt Nam, AASC, KPMG, Earn and Young, Price Waterhourse and Coorper...và rất nhiều doanh nghiệp kiểm toán vừa và nhỏ. Đó là công ty kiểm toán độc lập, tổ chức kiểm toán độc lập. Kiểm toán độc lập là tổ chức kinh doanh các dịch vụ về kiểm toán và dịch vụ có liên quan được thực hiện bởi các kiểm toán viên chuyên nghiệp hành nghề kiểm toán vì mục đích lợi nhuận. Dịch vụ kiểm toán chủ yếu mà các doanh nghiệp kiểm toán cung cấp là kiểm toán Báo cáo tài chính chiếm trên 50% doanh thu. Ngoài ra kiểm toán độc lập còn cung cấp dịch vụ kiểm toán tuân thủ, kiểm toán nghiệp vụ và các dịch vụ khác như dịch vụ kế toán, tư vấn nhân sự, tư vấn đầu tư, quản lý, tổ chức , dịch vụ kế toán: dịch vụ lập BCTC, giữ sổ, ghi sổ, kiểm toán BCTC vì mục đích thuế và dịch vụ quyết toán thuế: Là kiểm tra và xác nhận sự dúng đắn của BCTC của đơn vị được kiểm toán để phục vụ cho công việc tính thuế, kê khai nộp thuế, quyết toán thuế và giải trình trường hợp đặc biệt về nghĩa vụ thuế. - Kiểm toán hoạt động. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản