intTypePromotion=1
zunia.vn Tuyển sinh 2023 dành cho Gen-Z zunia.vn zunia.vn
ADSENSE

Giáo trình Kinh tế chính trị (Nghề: Kế toán doanh nghiệp - Cao đẳng) - Trường Cao đẳng nghề Hà Nam (năm 2017)

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:144

20
lượt xem
8
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

(NB) Giáo trình Kinh tế chính trị (Nghề: Kế toán doanh nghiệp - Cao đẳng) được biên soạn gồm các nội dung chính sau: sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của kinh tế chính trị; sản xuất hàng hóa và các quy luật sản xuất hàng hóa; tái sản xuất xã hội; tái sản xuất vốn, giá thành, tiền lương và lợi nhuận doanh nghiệp; nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Kinh tế chính trị (Nghề: Kế toán doanh nghiệp - Cao đẳng) - Trường Cao đẳng nghề Hà Nam (năm 2017)

  1. SỞ LAO ĐỘNG TB&XH TỈNH HÀ NAM TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ HÀ NAM GIÁO TRÌNH MÔN HỌC: KINH TẾ CHÍNH TRỊ NGÀNH/NGHỀ: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG Ban hành kèm theo Quyết định số: 285/QĐ-CĐN ngày 21 tháng 7 năm 2017 của Hiệu trưởng trường Cao đẳng Nghề Hà Nam Hà Nam, năm 2017
  2. TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN Để đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu cho giảng viên và sinh viên nghề Kế toán doanh nghiệp trường Cao đẳng nghề Hà Nam. Chúng tôi đã thực hiện biên soạn cuốn giáo trình Kinh tế chính trị. Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo. Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm. 1
  3. LỜI GIỚI THIỆU Thực hiện các nghị quyết của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu của thòi kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nưốc, ngày 28/3/2014 Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Kết luận số 94-KL/TW “về việc tiếp tục đổi mới việc học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân”. Kết luận số 94-KL/TW khẳng định, đổi mối việc học tập (bao gồm cả nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, xây dựng đội ngũ giáo viên...) lý luận chính trị trong hệ thông giáo dục quốc dân có tầm quan trọng chiến lược; đồng thời yêu cầu đổi mới việc học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân phải tạo bước tiến mới, có kết quả, chất lượng cao hơn, góp phần làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lốì, quan điểm của Đảng giữ vai trò chủ đạo trong đdi sống xã hội; bảo đảm thế hệ trẻ Việt Nam luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng và vối chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi đã tổ chức biên soạn chương trình, giáo trình môn Kinh tế chính trị dành cho sinh viên hệ Cao đẳng nghề Kế toán doanh nghiệp. Việc tổ chức biên soạn giáo trình môn Kinh tế chính trị được thực hiện nghiêm túc, công phu, cẩn trọng vối nguyên tắc cần phân định rõ nội dung của từng đốì tượng học, từng cấp' học, bậc học, tránh trùng lắp, đồng thời bảo đảm tính liên thông. Trong quá trình biên soạn, tác giả đã kế thừa nội dung các giáo trình Kinh tế chính trị xuất bản trước đó. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình tổ chức biên soạn, tiếp thu các ý kiến góp ý để hoàn thiện, song do nhiều lý do chủ quan và khách quan, Giáo trình này chắc chắn khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, cần được tiếp tục bổ sung, chỉnh sửa và cập nhật. Rất mong nhận được các ý kiến góp ý của Quý thầy cô và các em sinh viên để bộ giáo trình được hoàn thiện hơn trong những lần sau. Xin trân trọng cảm ơn! Hà Nam, ngày….....tháng.... năm 2017. Người biên soạn TRẦN THỊ HIẾU 2
  4. MỤC LỤC LỜI GIỚI THIỆU………………………………………………………………………2 Chương 1: SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ ……………………………………………………………………………6 1.1. Những tư tưởng kinh tế chủ yếu trong thời cổ đại và trung cổ - cơ sở cho sự ra đời kinh tế chính trị học …………………………………....................................................6 1.2. Sự phát sinh phát triển kinh tế chính trị học tư sản cổ …………………..….…….8 1.3. Những khuynh hướng và học thuyết kinh tế phê phán có kế thừa kinh tế chính trị học tư sản cổ điển……………………………………………………………………..17 1.4. Một số trường phái kinh tế chính trị học tư sản hiện đại ……………..…………20 Chương 2: SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ CÁC QUY LUẬT SẢN XUẤT HÀNG HÓA..............................................................................................................................39 2.1. Sản xuất hàng hoá và điều kiện ra đời của nó .......................................................39 2.2. Hàng hoá.................................................................................................................41 2.3. Tiền tệ.....................................................................................................................46 2.4. Thị trường và quy luật cung cầu.............................................................................49 2.5. Quy luật cạnh tranh................................................................................................52 2.6. Quy luật giá trị........................................................................................................54 Chương 3: TÁI SẢN XUẤT XÃ HỘI..........................................................................58 3.1. Các phạm trù của tái sản xuất.................................................................................58 3.2. Các quy luật kinh tế của tái sản xuất xã hội...........................................................63 3.3. Tăng trưởng kinh tế................................................................................................69 Chương 4: TÁI SẢN XUẤT VỐN, GIÁ THÀNH, TIỀN LƯƠNG VÀ LỢI NHUẬN DOANH NGHIỆP.........................................................................................................77 4.1. Tuần hoàn và chu chuyển vốn................................................................................77 4.2. Giá thành sản phẩm................................................................................................82 4.3. Tiền lương ......................................................................................................83 4.4. Lợi nhuận, các hình thái vốn và các thu nhập ..............................................89 Chương 5: NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA..........................................................................................................................92 5.1. Thực trạng và vai trò của nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.................................................................................................................................92 5.2. Nội dung và xu hướng vận động của kinh tế thị trường ở nước ta....................................................................................................................................96 5.3. Điều kiện, khả năng và giải pháp phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta..................................................................................................... 93 Chương 6: CƠ CẤU THÀNH PHẦN KINH TẾ VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CƠ BẢN CỦA NỀN KINH TẾ TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI..............................................................................................................................106 6.1. Cơ cấu thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam......106 3
  5. 6.2. Xã hội hoá sản xuất- xu hướng vận động cơ bản của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ.................................................................................................................................114 Chương 7: XÂY DỰNG CƠ SỞ VẬT CHẤT – KỸ THUẬT TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM........................................................119 7.1. Con đường xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội ..................119 7.2. Nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta trong thời kỳ quá độ .....120 7.3. Những tiền đề cần thiết để xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật ở nước ta............ 126 Chương 8: CƠ CHẾ KINH TẾ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI..............................................................................................................................132 8.1. Khái niệm cơ chế kinh tế ..............................................................................132 8.2. Sự cần thiết khách quan phải chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước ở nước ta.............................................................................................................132 8.3. Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước....................................................133 8.4. Vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta............................................................................................................134 Tài liệu tham khảo.......................................................................................................143 4
  6. GIÁO TRÌNH MÔN HỌC Tên môn học: Kinh tế chính trị Mã số môn học: MH 07 Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học: - Vị trí: Là môn khoa học cơ sở trong nội dung chương trình đào tạo của nghề Kế toán doanh nghiệp, được bố trí giảng dạy ngay từ đầu học kỳ 1 của năm học thứ nhất. - Tính chất: Là môn học bắt buộc thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, học sinh sẽ được tiếp cận với nội dung kiến thức về kinh tế chính trị, là cơ sở để học các môn chuyên môn của nghề. - Ý nghĩa: Cung cấp cho sinh viên kiến thức về Kinh tế chính trị. Mục tiêu của môn học: - Về kiến thức: + Trình bày được các nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin đề cập về vấn đề kinh tế. + Chỉ ra được sự vận dụng của Đảng và Nhà nước ta trong việc đề ra các quan điểm, đường lối và chính sách kinh tế trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội hiện nay. - Về kỹ năng: + Giải thích được các hiện tượng và quá trình kinh tế một cách khoa học gắn với điều kiện thực tiễn của nền kinh tế + Vận dụng cơ sở lý luận để nhận thức và học tập tốt các môn khoa học khác như: kế toán doanh nghiệp, thống kê doanh nghiệp, lao động tiền lương, tài chính… và vận dụng vào công tác cụ thể sau này. - Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: + Làm việc độc lập hoặc làm việc theo nhóm, giải quyết công việc, vấn đề phức tạp trong điều kiện làm việc thay đổi. + Hướng dẫn tối thiểu, giám sát những người khác thực hiện nhiệm vụ xác định; chịu trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm đối với nhóm. + Đánh giá chất lượng sản phẩm sau khi hoàn thành và kết quả thực hiện của các thành viên trong nhóm. Nội dung của môn học: 5
  7. CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CHÍNH TRỊ Mã chương: 0701 Mục tiêu: - Trình bày được những tư tưởng cơ bản, những lý luận tiêu biểu của mỗi học thuyết kinh tế (đặc biệt là học thuyết kinh tế tư sản cổ điển, học thuyết Mác- Lênin và các học thuyết kinh tế hiện đại). - Vẽ được sơ đồ về lịch sử hình thành và phát triển Kinh tế chính trị. - Nhận thức đúng đắn về kinh tế chính trị học - Trung thực, nghiêm túc trong nghiên cứu Nội dung : 1.1. Những tư tưởng kinh tế chủ yếu trong thời cổ đại và trung cổ - cơ sở cho sự ra đời Kinh tế chính trị học 1.1.1. Tư tưởng kinh tế thời cổ đại a. Hoàn cảnh lịch sử Thời kỳ cổ đại bắt đầu khi chế độ công xã nguyên thủy tan rã và chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời. Quá trình tồn tại và phát triển của thời kỳ này được diễn ra trong chế độ chiếm hữu nô lệ và kết thúc khi chế độ phong kiến xuất hiện. Về mặt thời gian xuất hiện của thời kỳ cổ đại vào ở phương Tây và phường Đông có sự khác nhau, cụ thể: ở phương đông thời kỳ cổ đại bắt đầu xuất hiện vào 4000 năm trước công nguyên trong khi đó ở phương Tây xuất hiện muộn hơn vào khoảng 3000 năm trước công nguyên, kết thúc vào khoảng thế kỷ thứ V. Sự xuất hiện của thời kỳ cổ đại gắn liền với một số các đặc điểm về kinh tế vốn có của nó. Trong giai đoạn này, lực lượng sản xuất đã phát triển đến một trình độ nhất định dẫn tới chăn nuôi được tách khỏi ngành trồng trọt, thủ công tách khỏi nghề nông. Đồng thời trong giai đoạn này con người bắt đầu biết sử dụng các công cụ bằng kim loại trong sản xuất, dẫn tới năng suất lao động được tăng lên, các sản phẩm được sản xuất ra ngày càng nhiều trong công xã nguyên thủy dần dần tích lũy được sản phẩm dư thừa. Điều này đã kích thích sự phát triển của các hoạt động buôn bán giữa các vùng; kéo theo đó cuộc sống của các gia đình dần dần được tách khỏi cộng đồng nguyên thủy, chế độ tư hữu dần xuất hiện, chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời. Sự ra đời của chế đô chiếm hữu nô lệ gắn liền với sự ra đời của nhà nước thống trị đầu tiên trong lịch sử. Trong chế độ đó, xã hội được phân chia thành 2 giai cấp chủ nô và nô lệ - đại diện cho 2 tầng lớp: tầng lớp thống trị và tầng lớp bị thống trị. Giữa hai giai cấp này luôn tồn tại những mâu thuẫn đối kháng về mặt 6
  8. lợi ích, dẫn đến hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của tầng lớp bị thống trị đứng lên tranh giành lợi ích. Trước tình hình đó, các tư tưởng kinh tế ngày càng phát triển, trong đó có những tư tưởng kinh tế đe dọa sự tồn tại và phát triển của chế độ chiếm hữu nô lệ. b. Đặc điểm tư tưởng kinh tế cổ đại Thứ nhất, các tư tưởng kinh tế cổ đại coi sự tồn tại của chế độ chiếm hữu nô lệ là hợp lý, coi sự phân chia xã hội thành chủ nô và nô lệ là đương nhiên. Thứ hai, các tư tưởng kinh tế cổ đại đánh giá cao vai trò của ngành nông nghiệp và kinh tế tự nhiên, chống lại xu thế phát triển của kinh tế hàng hóa, coi thường vai trò của thủ công nghiệp và thương nghiệp. Thứ ba, các tư tưởng kinh tế cổ đại còn rất sơ khai. Mặc dù trong tư tưởng kinh tế của nó có một số phạm trù như: phân công lao động, giá trị trao đổi, vai trò tiền tệ, cung cầu… song những phạm trù này còn đơn giản, mang tính chất ước lượng chứ không biết tính quy luật và các quy luật chi phối chúng. 1.1.2. Tư tưởng kinh tế thời trung cổ a. Hoàn cảnh xuất hiện Thời đại phong kiến bắt đầu từ thế kỷ IV khi chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã và kết thúc vào thế kỷ XVII khi Chủ nghĩa tư bản xuất hiện. Thời kỳ trung cổ được chia làm 3 giai đoạn: - Sơ kỳ trung cổ: Từ thế kỷ IV đến thế kỷ XI (thời kỳ hình thành xã hội phong kiến) - Trung kỳ trung cổ: Từ thế kỷ XII đến thế kỷ XV (thời kỳ phát triển của xã hội phong kiến) - Hậu kỳ trung cổ: Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII (thời kỳ tan rã của xã hội phong kiến). Ở các nước phương Tây, chế độ phong kiến ra đời bằng những con đường khác nhau. Ở Ý, Tây Ban Nha,…chế độ phong kiến ra đời dựa trên chế độ lâm nông. Còn ở Anh, Đức, Tiệp, Ba Lan, Hungari,…chế độ phong kiến ra đời lại được ra đời dựa trên sự tan rã của chế độ công xã. Mặc dù con đường xuất hiện có sự khác nhau, song chế độ phong kiến có đặc trưng chung là dựa trên cơ sở nền kinh tế lãnh địa, chế độ đại sở hữu ruộng đất của địa chủ với hình thức địa tô hiện vật. Với sự xuất hiện của sở hữu phong kiến, ruộng đất chủ yếu tập trung vào tay quan lại, đại địa chủ. Những người nông dân tự do và thợ thủ công có trong tay rất ít ruộng đất và tư liệu sản xuất. Điều đó dẫn đến mâu thuẫn giữa hai hình thức sở hữu là đại sở hữu phong kiến và sở hữu của nông dân tự do, thợ thủ công 7
  9. cá thể. Về mặt kinh tế, nó phản ánh mâu thuẫn giữa kinh tế tự nhiên của đại địa chủ với kinh tế hàng hóa giản đơn. Điều đó đe dọa sự tồn tại kinh tế đại sở hữu phong kiến. Vì vậy, cần có tư tưởng kinh tế bảo vệ lợi ích giai cấp địa chủ và quan lại. Tư tưởng kinh tế thời Trung Cổ đáp ứng mục đích đó b. Đặc điểm tư tưởng kinh tế thời Trung cổ Thứ nhất, tư tưởng kinh tế thời Trung cổ bảo vệ cho sự tồn tại của kinh tế tự nhiên, ít chú ý đến những vấn đề kinh tế hàng hóa như giá trị, tiền tệ. Họ coi tiền chỉ đơn thuần là đơn vị đo lường, có giá trị danh nghĩa. Thứ hai, các tư tưởng kinh tế thời Trung cổ được trình bày trong các bộ luật, những điều lệ phường hội, pháp chế kinh tế của các thành phố, sắc lệnh và luật lệ của nhà vua nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của vua chúa, địa chủ, quý tộc, các tầng lớp giáo sĩ và thợ thủ công thành thị. Thứ ba, tư tưởng kinh tế Trung cổ chịu ảnh hưởng của thần học, sự kiểm soát về tư tưởng của nhà thờ. Đặc biệt, đạo cơ đốc giáo có quyền lực rất cao và được sử dụng rộng rãi phục vụ giai cấp thống trị. Tư tưởng kinh tế thời kỳ Trung cổ có nhiều điểm giống thời kỳ Cổ đại. Chiếm vị trí quan trọng trong các quan điểm kinh tế thời kỳ phong kiến là học thuyết “giá cả công bằng”. Tư tường này biểu hiện trong Luật La Mã, trong đó có khái niệm “ giá cả chân lý” phù hợp với giá cả công bằng (ở đầu thời Trung cổ, giá cả công bằng tức là trao đổi ngang giá). Tư tường này bị giới hạn bởi quan niệm giai cấp. Bên cạnh đó bắt đầu xuất hiện tư tưởng không tưởng về xã hội. 1.2. Sự phát sinh phát triển kinh tế chính trị học tư sản cổ điển 1.2.1. Chủ nghĩa trọng thương a. Hoàn cảnh lịch sử ra đời chủ nghĩa trọng thương Chủ nghĩa trọng thương là tư tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản, ra đời trước hết ở Anh vào khoảng những năm 1450, phát triển tới giữa thế kỷ thứ XVII và sau đó bị suy đồi. Nó ra đời trong bối cảnh phương thức sản xuất phong kiến tan rã, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mới ra đời: + Về mặt lịch sử: Đây là thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ của chủ nghĩa tư bản ngày càng tăng, tức là thời kỳ tước đoạt bằng bạo lực nền sản xuất nhỏ và tích luỹ tiền tệ ngoài phạm vi các nước Châu Âu, bằng cách cướp bóc và trao đổi không ngang giá với các nước thuộc địa thông qua con đường ngoại thương. 8
  10. CNTT là hệ thống tư tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản, hình thành và phát triển ở Tây Âu vào giữa thế kỷ XV và tồn tại trong khoảng 3 thế kỷ (từ thế kỷ 15 – 17), chia làm hai giai đoạn: + Từ thế kỷ 15 – 16: “Bản cân đối tiền tệ” – xu hướng phát triển + Từ thế kỷ 16 – 17 phát triển theo “Bản cân đối thương mại” Trong thời kỳ này chế độ phong kiến ở Châu Âu bắt đầu tan rã và là thời kỳ tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản, quan hệ sản xuất TBCN bắt đầu xuất hiện, là thời kỳ tước đoạt bằng bạo lực của nền sản xuất nhỏ và tích lũy tiền tệ ở ngoài phạm vi các nước châu Âu bằng cách ăn cướp và trao đổi không ngang giá với các nước thuộc địa thông qua con đường ngoại thương. + Về kinh tế: Kinh tế hàng hoá phát triển, thương nghiệp có ưu thế hơn sản xuất, tầng lớp thương nhân tăng cường thế lực Do đó trong thời kỳ này thương nghiệp có vai trò rất to lớn. Nó đòi hỏi phải có lý thuyết kinh tế chính trị chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động thương nghiệp. + Vào thời điểm này hàng hóa ở Châu Âu phát triển mạnh. Thị trường dân tộc trong nước mở rộng xuất hiện các hoạt động giao thông quốc tế. + Tiền tệ không chỉ được sử dụng làm phương tiện trung gian trong trao đổi hàng hóa mà tiền tệ còn sử dụng làm tư bản để sinh lợi 1 cách phổ biến. + Về mặt chính trị: Giai cấp tư sản lúc này mới ra đời, đang lên, là giai cấp tiên tiến có cơ sở kinh tế tương đối mạnh nhưng chưa nắm được chính quyền, chính quyền vẫn nằm trong tay giai cấp quý tộc, do đó chủ nghĩa trọng thương ra đời nhằm chống lại chủ nghĩa phong kiến. + Giai cấp phong kiến bắt đầu suy tàn, phân hóa rõ rệt. Trong xã hội vị thế của tầng lớp thương nhân tăng lên và sự phân hóa giàu nghèo trở nên sâu sắc (giai cấp tư sản dần chiếm vị trí thống trị xã hội). + Xuất hiện khối liên minh của nhà nước phong kiến trung ương và tư bản thương nhân dựa vào nhau để tồn tại. + Về phương diện khoa học tự nhiên: Điều đáng chú ý nhất trong thời kỳ này là những phát kiến lớn về mặt địa lý như: Crixtốp Côlông tìm ra Châu Mỹ, Vancôđơ Gama tìm ra đường sang Ấn Độ Dương… đã mở ra khả năng làm giàu nhanh chóng cho các nước phương Tây. Phát triển khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên. Đây là thời kỳ khoa học tự nhiên (cơ học, thiên văn học, địa lý) phát triển. Những phát kiến địa lý (thế kỷ XV – XVI) tìm ra châu Mỹ đi vòng qua châu Phi đến châu Á, tạo khả năng mở rộng thị trường và xâm chiếm các thuộc địa, góp phần thúc đẩy buôn bán, thương 9
  11. mại phát triển. Sự phát triển của khoa học đã tạo điều kiện cho việc nhận thức thế giới đầy đủ hơn. Đây cũng chính là cơ sở khoa học để dẫn tới sự xuất hiện tư tưởng Trọng thương. + Về mặt tư tưởng, triết học: Thời kỳ xuất hiện chủ nghĩa trọng thương là thời kỳ phục hưng, trong xã hội đề cao tư tưởng tư sản, chống lại tư tưởng đen tối của thời kỳ trung cổ, chủ nghĩa duy vật chống lại những thuyết giáo duy tâm của nhà thờ… + Xuất hiện phong trào phục hưng (do giai cấp tư sản khởi xướng nhằm chống lại tư tưởng đen tối của phong kiến thời trung cổ, đề cao tư tưởng tự do nhân quyền, bình đẳng). + Chủ nghĩa duy vật chống lại các thuyết giáo duy tâm của nhà thờ (Sự chuyển biến tâm lý và lối sống của người dân. Đặc biệt trong tôn giáo đã có sự cải cách đáng kể). Kết luận: CNTT ra đời trong điều kiện lịch sử là thời kỳ tan rã của chế độ phong kiến, thời kỳ tích lũy nguyên thủy của CNTB, khi nền kinh tế hàng hóa và ngoại thương đã phát triển. b. Những tư tưởng kinh tế chủ yếu của chủ nghĩa trọng thương CNTT là một hệ thống tư tưởng kinh tế đại biểu cho tư tưởng của tầng lớp thương nhân. Những tư tưởng kinh tế này phản ánh lợi ích của tư bản thương nghiệp lớn lúc bấy giờ. Nội dung cơ bản của tư tưởng kinh tế của CNTT thể hiện: - Tiền tệ được xem là hình thái tuyệt đối của của cải ( của dân tộc cũng như cá nhân). Tiền tệ ở đây là tiền vàng, tiền bạc ( lúc này chưa xuất hiện tiền giấy). Những người trọng thương cho rằng một quốc gia giàu có là một quốc gia có nhiều tiền. Từ đó, mọi chính sách của nhà nước phải nhằm mục đích mang lại nhiều tiền cho đất nước mình. Xuất phát từ quan điểm cho tiền là hiện thân của của cải, những người trọng thương phê phán mọi hoạt động không mang lại tích lũy giá trị tiền như : tiêu dùng xa xỉ, tiêu dùng hàng ngoại nhập… Họ coi nông nghiệp chỉ là một nghề trung gian, bởi vì nó không làm tăng thêm khối lượng tiền tệ cho quốc gia cũng không làm tổn hại đến khối lượng tiền tệ của quốc gia. - Tiền tệ được xem là hình thái tuyệt đối của của cải (của dân tộc cũng như cá nhân). Tiền tệ ở đây là tiền vàng, tiền bạc ( lúc này chưa xuất hiện tiền giấy). Những người trọng thương cho rằng một quốc gia giàu có là một quốc gia có nhiều tiền. Từ đó, mọi chính sách của nhà nước phải nhằm mục đích mang lại nhiều tiền cho đất nước mình. Xuất phát từ quan điểm cho tiền là hiện thân của của cải, những người trọng thương phê phán mọi hoạt động không mang lại tích lũy giá trị tiền như : tiêu dùng xa xỉ, tiêu dùng hàng ngoại nhập… Họ coi nông 10
  12. nghiệp chỉ là một nghề trung gian, bởi vì nó không làm tăng thêm khối lượng tiền tệ cho quốc gia cũng không làm tổn hại đến khối lượng tiền tệ của quốc gia. - Chỉ có tích lũy tiền tệ thông qua hoạt động thương mại, nhất là ngoại thương. Những người trọng thương cho rằng của cải của quốc gia chỉ có thể tăng lên nhờ con đường ngoại thương. Họ đặt ra cho ngoại thương là phải xuất siêu, bởi vì có xuất siêu mới đạt được mục đích của hoạt động kinh tế, mới làm tăng thêm khối lượng tiền tệ của một nước. - Lĩnh vực nghiên cứu là lưu thông. Lợi nhuận được sinh ra trong lĩnh vực lưu thông chứ không phải từ sản xuất, là kết quả của sự trao đổi không ngang giá, mua rẻ, bán đắt. Những người trọng thương giải thích rằng, trong hoạt động thương nghiệp không có một người nào thu lợi mà không làm thiệt hại đến người khác, không một quốc gia nào thu được lợi mà không làm thiệt hại cho quốc gia khác. Trao đổi không có nguyên tắc ngang giá. - Đặc điểm quan trọng của chủ nghĩa trọng thương là không thấy được sự hoạt động của các quy luật kinh tế khách quan. Họ đề cao chính sách kinh tế của nhà nước, theo họ, đó là yếu tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế. Nói cách khác, họ rất xem trọng vai trò can thiệp của nhà nước vào kinh tế để đảm bảo nền kinh tế xuất siêu. - Đặc biệt coi trọng thị trường dân tộc. Trong thực tế, trên cơ sở hình thành và phát triển của thị trường dân tộc mới dần dần mở ra thị trường quốc tế. Chính thị trường dân tộc có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa. Điều đó cho thấy rằng các nước Châu âu chuyển từ phương thức sản xuất phong kiến lên phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, bắt đầu từ con đường chủ yếu là thương mại. Chủ nghĩa trọng thương là những chính sách cương lĩnh của giai cấp tư sản (tầng lớp tư sản thương nghiệp Châu Âu trong thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ của chủ nghĩa tư bản. Những chính sách, cương lĩnh này nhằm kêu gọi thương nhân tận dụng ngoại thương, buôn bán để cướp bóc thuộc địa và nhằm bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản đang hình thành. + Những tư tưởng kinh tế chủ yếu của họ còn đơn giản, chủ yếu là mô tả bề ngoài của các hiện tượng và quá trình kinh tế, chưa đi sâu vào phân tích được bản chất của các hiện tượng kinh tế. + Chủ nghĩa trọng thương chưa hiểu biết các quy luật kinh tế, do đó họ rất coi trọng vai trò của nhà nước đối với kinh tế. + Chủ nghĩa trọng thương chỉ mới dừng lại nghiên cứu lĩnh vực lưu thông mà chưa nghiên cứu lĩnh vực sản xuất. 11
  13. + Chủ nghĩa trọng thương mặc dù có những đặc trưng cơ bản giống nhau, nhưng ở các nước khác nhau thì có những sắc thái dân tộc khác nhau. Ví dụ: ở Pháp chủ nghĩa trọng thương kỹ nghệ Pháp, ở Tây Ban Nha là chủ nghĩa trọng thương trọng kim, ở Anh là chủ nghĩa trọng thương trọng thương mại. Tóm lại, chủ nghĩa trọng thương ít tính lý luận nhưng lại rất thực tiễn. Lý luận còn đơn giản thô sơ, nhằm thuyết minh cho chính sách cương lĩnh chứ không phải là cơ sở của chính sách cương lĩnh. Mặt khác, đã có sự khái quát kinh nghiệm thực tiễn thành quy tắc, cương lĩnh, chính sách. Có thể nói chủ nghĩa trọng thương là hiện thực và tiến bộ trong điều kiện lịch sử lúc đó. 1.2.2. Kinh tế chính trị tư sản cổ điển Pháp Các tác giả tiêu biểu cho chủ nghĩa trọng thương của Pháp là: Antoine De Montchréstien, J.B.Colbert, J. Bodin, … - Antoini De Montchréstien (1575 – 1621) là một học giả nổi tiếng với tác phâm: “Luận văn về chính trị kinh tế học” (1615), ông là người đầu tiên nêu lên danh từ “chính trị kinh tế học” . Ông là một người trọng thương không triệt để, được thể hiện như sau: Quan điểm mang màu sắc tiểu tư sản, thông cảm với quần chúng nhân dân, đặc biệt là nông dân bị đè nặng dưới ách phong kiến, lên án sự xa hoa của giới quý tộc. Nông dân là chỗ dựa cho Nhà nước và Nhà nước phải quan tâm đến nông dân. Ông khẳng định “tài sản của đất nước không chỉ là tiền tệ mà còn bao gồm cả dân số đặc biệt dân số nông nghiệp”. Ông cho rằng thương mại là mục đích chủ yếu của nhiều ngành nghề khác nhau. Thương nhân giữ vai trò liên kết người sản xuất với nhau. Lợi nhuận thương nghiệp là chính đáng vì nó bù đắp sự rủi ro thua thiệt trong việc giao dịch mua bán. Ông viết “hạnh phúc của người ta là ở sự giàu có mà sự giàu có là ở trong lao động” ông lên án sự lười biếng, coi đây là nguồn gốc của mọi tội lỗi và cho rằng nếu cần thiết sẽ cưỡng chế những người trong độ tuổi phải có việc làm. + Bên cạnh việc chú trọng đến tiền tệ, ông vẫn cho rằng tài sản đất nước không chỉ có tiền mà còn có số dân của đất nước, đặc biệt là số dân trong nông nghiệp. + Bên cạnh việc đề cao thương nghiệp, ông còn chú ý rất nhiều đến nông nghiệp. Ông gọi nông nghiệp là chỗ dựa của nhà nước và kêu gọi nhà nước quan tâm hơn nữa đến nông dân. 12
  14. + Ông coi nội thương như ống dẫn còn ngoại thương như máy bơm. Ông ủng hộ việc can thiệp của nhà nước vào kinh tế và đề nghị thành lập các công xưởng để sản xuất hàng công nghiệp xuất khẩu. Hàng hóa nước ngoài bị đẩy ra khỏi nước Pháp, tăng cường thúc đẩy hoạt động sản xuất trong nước và ngành thương mại, để nước Pháp có thể tự cung tự cấp. Các nhà sản xuất vải lanh Hà Lan phải kết thúc hoạt động ở Pháp, cấm nhập khẩu sản phẩm dệt của Anh. Thậm chí sách nước ngoài cũng bị cấm để ngăn chúng “đầu độc tinh thần chúng tôi”. Cho thành lập rất nhiều công trường thủ công sản xuất các sản phẩm theo mẫu của nước ngoài nhằm tạo việc làm cho người dân lang thang thất nghiệp. - J.B. Colbert (1619 – 1683), Là bộ trưởng tài chính nước Pháp, ông đã xây dựng được cho nước Pháp một chính sách kinh tế trong 100 năm. Chính sách kinh tế này phản ánh quan điểm trọng thương của ông trong khuôn khổ thúc đẩy sự phát triển của công trường thủ công tư bản nhưng lại không quan tâm đúng mức sự phát triển của nông nghiệp. Theo ông, ngoại thương có khả năng làm cho thần dân được sung túc và thỏa mãn được các nhu cầu của vua chúa. Sự vĩ đại và hùng cường của một quốc gia là do số lượng tiền tệ quyết định. Chủ nghĩa Colbert có thể khái quát như sau: + Tích cực ủng hộ nền công nghiệp Pháp. Ông đề ra chính sách để kích thích cho sản xuất công nghiệp phát triển như: nhà nước đứng ra thành lập các hiệp hội công xưởng, giảm, miễn thuế cho sản xuất công nghiệp; thuê chuyên gia giỏi từ nước ngoài; cho vay vốn với lãi suất ưu đãi; tổ chức các trường dạy nghề và cung cấp công nhân với mức lương rẻ, lành nghề cho các chủ xưởng; cho phép các chủ xưởng hưởng những đặc quyền ưu đãi và tặng thưởng cho các nhà tư bản công nghiệp… + Đề ra và thực hiện một cách chặt chẽ hệ thống kiểm tra công nghiệp, nhằm mục đích đảm bảo chất lượng sản phẩm hàng công nghiệp Pháp có thể cạnh tranh với các hàng hóa của các nước khác. + Khuyến khích nhập nguyên vật liệu cho việc sản xuất trong nước. Cấm bán ra ngoài các nguyên liệu như: sắt, sợi, lông cừu … + Lập hàng rào thuế quan bảo hộ mậu dịch. + Phát triển thương đội thuyền, đẩy mạnh việc buôn bán bằng hàng hải và tăng cường bóc lột các nước thuộc địa. + Chính sách của Colbert đã làm cho công nghiệp phát triển nhưng đồng thời làm kìm hãm sự phát triển của nông nghiệp. Bởi vì trong chính sách của mình, ông chủ trương hạ giá nông sản phẩm, cấm xuất khẩu hàng nông sản … hậu quả 13
  15. là chủ nghĩa trọng thương của Colbert là làm xuất hiện chủ nghĩa trọng nông ở Pháp. Cũng giống như Antoine de Montchretien, mục tiêu của Jean Baptiste Colbert cũng là xây dựng một nền kinh tế tự cung tự cấp cho nước Pháp. + Ông khuyến khích hoạt động sản xuất thủ công nghiệp trong nước bằng các biện pháp trợ cấp và thuế quan, quy định một cách rõ ràng chất lượng và giá cả của sản phẩm sản xuất ra. Ông cho thành lập các ngành công nghiệp mới, khuyến khích và đãi ngộ các nhà khoa học, mời các nhà khoa học hoặc công nhân có tay nghề nước ngoài sang Pháp. + Đối với thương mại quốc tế, ông coi đây là con đường làm giàu cho đất nước vì thế đưa ra hàng loạt các đặc quyền cho các chủ xưởng sản xuất hàng xuất khẩu. Dưới sự giám sát của ông, hàng hóa muốn nhập khẩu vào nước Pháp phải chịu rất nhiều quy định về thuế quan và chất lượng hà khắc. + Ông cho cải thiện chất lượng đường giao thông và hệ thống kênh mương trên khắp nước Pháp nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho lưu thông hàng hóa phát triển thương mại. + Tuy nhiên, đối với ngành nông nghiệp, Colbert đã có nhiều sai lầm làm cho nông nghiệp bị sa sút như chính sách hạ giá hàng nông phẩm, bắt bán lúa gạo vs bất kì giá nào, khi đã mang ra thị trường thì không được chở về nhà. Tóm lại: Mặc dù mạnh về mặt thực tiễn, nhưng trong cương lĩnh của nó, CNTT Pháp cũng không đưa ra được những luận cứ trưởng thành đầy đủ về mặt lý luận. Đến thế kỷ XVIII, CNTT ở Pháp bị phá sản. 1.2.3. Kinh tế chính trị cổ điển Anh Chủ nghĩa trọng thương ở Anh chia làm 2 giai đoạn phát triển: - Giai đoạn 1 diễn ra trong thế kỉ XV-XVI gọi là giai đoạn học thuyết tiền tệ - Giai đoạn 2 diễn ra trong thế kỉ XVI gọi là giai đoạn học thuyết về bảng cân đối thương mại. Giai đoạn học thuyết tiền tệ. Đại biểu của học thuyết tiền tệ của chủ nghĩa trọng thương thời kì này là William Stafford (1554-1612). Quan điểm trọng thương của ông được trình bày trong tác phẩm “ Trình bày tóm tắt một vài lời kêu ca của đồng bào chúng ta” Trong tác phẩm này ông cho rằng nguyên nhân của sự đắt đỏ nằm ở vấn đề khối lượng tiền trong nền kinh tế. Vì thế, Nhà Nước cần phải có các biện pháp hành chính tác động vào quá trình lưu thông nhằm giữ khối lượng tiền khỏi bị hao hụt. 14
  16. Nội dung chủ yếu là bảng cân đối tiền tệ: ngăn chặn không cho tiền chạy ra nước ngoài, khuyến khích mang tiền vàng từ nước ngoài về. Biện pháp: - Quy định tiền của nước Anh là vàng - Chống lại mọi hành vi đem tiền ra ngoài; các thương gia nước ngoài vào nước Anh đc khuyến khích mang tiền vào nhưng không đc mang tiền ra khỏi nước Anh mà phải mua hàng hóa mang ra. - Cấm nhập khẩu những sản phẩm không cần thiết. - Xâm chiếm, mở rộng thuộc địa để tìm kiếm thị trường xuất khẩu. Đây chính là giai đoạn tích lũy tiền tệ của chủ nghĩa tư bản, nhà nước sử dụng nhiều biện pháp hành chính để tối đa hóa tích lũy tiền tệ. Giai đoạn học thuyết về bảng cân đối thương mại. Đại biểu của học thuyết về bảng cân đối thương mại là Thomas Mun (1571- 1641) “Của cải là số sản phẩm dư thừa được sản xuất ra trong nước sau khi thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng nội bộ được chuyển thành tiền ở thị trường nước ngoài”. Nội dung chủ yếu: - Muốn giàu có phải tung tiền vào lưu thông, không được giữ tiền lại. - Phải biết xuất khẩu tiền nhằm mục đích buôn bán : “ Vàng đẻ ra thương mại, thương mại làm phát triển số tiền lên”. - Phải đẩy mạnh hoạt động thương mại: “ Đó là hòn đá thử vàng đối với sự phồn thịnh của một quốc gia”, “ Không có phép lạ nào khác kiếm tiền ngoài thương mại”. - Trong thương mại “hàng năm, chúng ta cần giữ một nguyên tắc là bán cho người nước ngoài một số lượng lớn hơn khối lượng hàng hóa mua vào”. - Cần mở rộng cơ sở nguyên liệu cho công nghiệp bằng ngoại thương (nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài kết hợp với sức lao động trong nước nhằm phát triển sản xuất trong nước). - Thu hẹp nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng. - Đẩy mạnh cạnh tranh làm giá cả hàng hóa hạ xuống và nâng cao chất lượng hàng hóa nội địa. - Trong ngoại thương, cần mở rộng thị trường bằng việc biết bán hàng với giá cả thấp. Đây là giai đoạn chủ nghĩa trọng thương phát triển nhất, có tính chất thực tiễn, thể hiện rõ ràng khát vọng của giai cấp tư sản Anh trong thời kì tích lũy tư bản 15
  17. - Học thuyết trọng thương giai đoạn đầu của Anh, với tác giả tiêu biểu là W. Stafford (1554 – 1612). Ông có tác phẩm: “ Trình bày có phê phán một số điều phàn nàn của đồng bào chúng ta” (1581). Ông đề nghị cấm nhập khẩu hàng xa xỉ, thu hẹp việc tiêu dùng hàng nước ngoài, chống sự tiêu hoang xa xỉ, cấm xuất khẩu nguyên vật liệu mà sau đó tái chế biến để nhập lại vào nước Anh. Ông đề ra một định chế là thương nhân nước ngoài mua hàng Anh, đều phải thanh toán bằng tiền Anh  Ông chủ trương giải quyết các vấn đề kinh tế bằng các biện pháp hành chính. - Chủ nghĩa trọng thương giai đoạn sau ở Anh, được đại biểu bởi T. Mun (1571 – 1641). Ông có các tác phẩm lớn như : “Bàn về thương mại giữa Anh và Đông Ấn Độ” (1621) - Trong tác phẩm này, ông cho rằng việc tạo thêm của cải (tiền) của Anh quốc không chỉ bằng cách xuất khẩu chúng, mà còn bằng ngoại thương tích cực: tăng giá trị xuất khẩu so với nhập khẩu chúng. Sẵn sàng xuất khẩu tiền, nếu có bảo đảm cho việc tăng lên của lợi nhuận thương nghiệp. Ông viết: “tăng nhập khẩu hàng hóa bằng tiền của chúng ta, cuối cùng sẽ mang về số tiền lớn hơn sau khi xuất khẩu chúng” - Để đảm bảo thương nghiệp xuất siêu, T.Mun đề ra 2 phương thức tiến hành thương nghiệp: 1) Xuất khẩu hàng hóa theo công thức : H – T – H’ ( trong đó H >H’) 2) Phát triển rộng rãi thương nghiệp gián tiếp theo công thức: T – H – T’ (trong đó T
  18. Tóm lại: Bảng thuyết cân đối thương mại của Thomas Mun rất ít tính lý luận, nhưng lại có nhiều đề nghị chín chắn và được suy nghĩ kỹ, có tính chất thực tiễn. Ông đã thể hiện một cách rõ ràng khát vọng của giai cấp tư sản Anh trong thời kỳ tích lũy nguyên thủy của tư bản. 1.3. Những khuynh hướng và học thuyết kinh tế phê phán có kế thừa kinh tế chính trị học tư sản cổ điển 1.3.1. Những khuynh hướng và học thuyết phê phán và kế thừa thiếu triệt để a. Hoàn cảnh xuất hiện - Năm 1848 cách mạng tư sản Pháp thành công; cuộc cách mạng công nghiệp phát triển mạnh mẽ ở các nước Tây Âu vào thế kỷ XVIII đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. - Máy móc công nghiệp được cải tiến và chế tạo ngày một tăng lên và hoàn thiện hơn, làm cho năng suất lao động tăng nhanh chưa từng có. Lao động thủ công được thay thế dần bằng máy móc. Tiền đề về chính trị - xã hội - Khi lực lượng sản xuất phát triển làm cho xã hội phân chia thành giai cấp rõ rệt: Bao gồm giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Do đó xuất hiện đấu tranh giai cấp, và nó được chuyển dần từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác (có ý thức và có tổ chức hơn). Chủ nghĩa xã hội không tưởng là sản phẩm của sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Nó ra đời từ thế kỷ 16 dưới những tư tưởng sơ khai. Những đại biểu đầu tiên có tư tưởng về CNXH không tưởng là: Thomas More (1478 -1535): Ông là huân tước người Anh, tác phẩm “Tổ chức nhà nước tốt nhất” đã mở đầu cho trào lưu CNXH không tưởng cận đại. Ông đã phê phán xã hội nước Anh, coi chế độ tư hữu là một chế độ bất công phi lý. Đồng thời ông đã vạch ra một chế độ tương lai về một xã hội không có tư hữu, xã hội đó là một khối kinh tế thống nhất có cơ quan tối cao của nhà nước và nghị viện tiến hành kiểm kê tất cả sản phẩm được sản xuất ra và phân phối lại sản phẩm đó khi cần thiết, toàn bộ ruộng đất là tài sản chung của mọi người. Thomas J. Campenlla (1568 – 1639): Ông là một nhà hoạt động thực tiễn người Italia tác phẩm nổi tiếng “Thành phố mặt trời” đã đưa ông trở thành đại biểu nổi bật của những người theo CNXH không tưởng thế kỷ 17. Ông đã mô phỏng một xã hội hoàn toàn không có chế độ tư hữu, mọi người đều phải lao động, quá trình sản xuất phân phối được tổ chức chung thống nhất, tư tưởng cộng đồng là tư tưởng chủ đạo trong hệ thống quan niệm của ông. Đầu thế kỷ 19, cách mạng công nghiệp phát triển mạnh mẽ ở các nước Tây Âu đã thúc đẩy lực lượng sản xuất ở các nước này phát triển. Cùng với sự phát 17
  19. triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất là sự biến đổi sâu sắc về mặt chính trị - xã hội. Giai cấp công nhân ngày càng lớn mạnh về số lượng và bắt đầu có sự chuyển biến về mặt chất lượng. Giai cấp tư sản lợi dụng cuộc cách mạng công nghiệp tăng cường bóc lột giai cấp công nhân, đời sống của họ bị bần cùng hóa cực độ. Giai cấp công nhân bắt đầu thức tỉnh và đứng dậy đấu tranh chống lại giai cấp tư sản. Tuy nhiên, ở thời kỳ này phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chưa phát triển mạnh mẽ và rộng khắp. Trong bối cảnh đó chủ nghĩa không tưởng ra đời. Nó phản ánh sự phản kháng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống lại chế độ tư bản chủ nghĩa và tìm đường xây dựng một xã hội tương lai tốt đẹp hơn. Chủ nghĩa xã hội không tưởng phát triển ở Pháp và ở Anh với các đại biểu tiêu biểu như sau: Saint Simon (1760 – 1825), Charles Fourier (1772 – 1837) và Robert Owen (1771 – 1858) b. Đặc điểm học thuyết kinh tế của chủ nghĩa xã hội không tưởng Những người theo chủ nghĩa xã hội không tưởng là người đầu tiên phê phán CNTB theo quan điểm kinh tế xuất phát từ lợi ích sản xuất chứ không phải theo quan điểm đạo đức luân lý. Họ cho rằng nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là nền sản xuất vô chính phủ, chạy theo lợi nhuận tối đa bằng mọi thủ đoạn tàn bạo nhất. Từ đó họ khẳng định, CNTB đã kìm hãm sự phát triển sản xuất và kêu gọi xây dựng CNXH. Họ vạch rõ tính chất tạm thời trong lịch sử của CNTB, chống lại quan điểm cho rằng CNTB là vĩnh viễn. Các nhà kinh tế theo chủ nghĩa xã hội không tưởng đã có những phỏng đoán về CNXH trong tương lai. Họ đã đưa ra các dự án về xã hội tương lai tốt đẹp bằng việc hình dung tạo lập ra mô hình kinh tế - xã hội trong thực tiễn bằng khả năng của họ. Tuy nhiên, con đường của họ đề xuất để xây dựng CNXH mới có tính chất không triệt để và đầy rẫy những ảo tưởng tiểu tư sản: - CNXH không tưởng không thể vạch rõ con đường tiến lên CNXH và nó không hiểu được vai trò lịch sử của giai cấp vô sản, vai trò của quần chúng nhân dân và vai trò của đấu tranh chính trị lật đổ CNTB. - Các nhà XHCN không tưởng chủ trương xây dựng xã hội mới bằng con đường không tưởng như: Tuyên truyền giáo dục, họ chờ mong vào lòng từ thiện của các nhà tư bản có lương tâm và sự giúp đỡ của nhà nước tư bản. - Các nhà xã hội không tưởng bắt đầu xây dựng CNXH từ những xí nghiệp nhỏ, lập nên các công xã trong môi trường của CNTB, theo họ những công xã sẽ làm gương cho những nơi khác nói theo. 18
  20. + Chủ nghĩa xã hội không tưởng là học thuyết kinh tế thể hiện sự phản kháng của giai cấp cấp công nhân và nhân dân lao động chống lại chế độ tư bản chủ nghĩa và tìm đường xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn. + Đặc điểm chung là phê phán chủ nghĩa tư bản theo quan điểm kinh tế chứ không theo quan điểm đạo đức, luận lý. Chỉ rõ chủ nghĩa tư bản là một giai đoạn phát triển của lịch sử, nhưng chưa phải là chế độ xã hội tốt đẹp nhất của loài người. Vạch rõ mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, sự kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển và cần phải thay thế bằng xã hội mới. Tuy nhiên con đường họ đề xuất xây dựng xã hội mới có tính chất không tưởng (chỉ dừng lại ở tính ước muốn, không có cơ sở khoa học để thực hiện, đặc biệt chưa thấy vai trò của giai cấp công nhân). Những đại biểu điển hình: Saint Simon, Charles Fourier, Robert Owen. 1.3.2. Kinh tế chính trị học Mác-Lênin - học thuyết kinh tế kế thừa, phát triển có phê phán kinh tế chính trị tư sản cổ điển Dòng lý thuyết kinh tế chính trị của C. Mác (l818-l883). C. Mác đã kế thừa trực tiếp những giá trị khoa học của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh để phát triển lý luận kinh tế chính trị về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. C. Mác xây dựng hệ thống lý luận kinh tế chính trị một cách khoa học, toàn diện về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, tìm ra nhũng quy luật kinh tế chi phối sự hình thành, phát triển và luận chứng vai trò lịch sử của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Cùng với C. Mác, Ph. Ănghen (l 820- l895) cũng là người có công lao vĩ đại trong việc công bố lý luận kinh tế chính trị, một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác. Lý luận Kinh tế chính trị của C. Mác và Ph. Ănghen được thể hiện tập trung và cô đọng nhất trong bộ Tư bản. Trong đó, C. Mác trình bày một cách khoa học và hoàn chỉnh các phạm trù cơ bản của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, thực chất cũng là nền kinh tế thị trường, như: hàng hóa, tiền tệ, giá trị thặng dư, tích luỹ, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, tư bản, cạnh tranh cùng các quy luật kinh tế cơ bản cũng như các quan hệ xã hội giữa các giai cấp trong nền kinh tế thị trường dưới bối cảnh nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Các lý luận kinh tế chính trị của C. Mác nêu trên được khái quát thành các học thuyết lớn như học thuyết giá trị, học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết tích luỹ, học thuyết về lợi nhuận, học thuyết về địa tô … Với học thuyết giá trị thặng dư nói riêng và Bộ Tư bản nói chung C. Mác đã xây dựng cơ sở khoa học, cách mạng cho sự hình thành chủ nghĩa Mác nói chung và nền tảng tư tưởng cho giai cấp công nhân. Học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác đồng thời cũng là cơ sở khoa học luận chứng cho vai trò lịch sử của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. 19
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2