intTypePromotion=1

Giáo trình Lý thuyết tài chính - tiền tệ: Phần 1 - TS. Nguyễn Hữu Tài (chủ biên)

Chia sẻ: Na Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:129

0
555
lượt xem
201
download

Giáo trình Lý thuyết tài chính - tiền tệ: Phần 1 - TS. Nguyễn Hữu Tài (chủ biên)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo trình Lý thuyết tài chính - tiền tệ: Phần 1 gồm nội dung 5 chương đầu tài liệu. Phần 1 giáo trình trình bày các nội dung: Đại cương về tài chính và tiển tệ, tổng quan vể hệ thống tài chính, ngân sách nhà nước, tài chính doanh nghiệp, thị trường tài chính. Cùng tham khảo nội dung tài liệu để hiểu thêm về phần 1 giáo trình.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Lý thuyết tài chính - tiền tệ: Phần 1 - TS. Nguyễn Hữu Tài (chủ biên)

  1. RƯÒNG ĐẠI HỌC KINH TÊ QUỐC DÂN KHOA NGÂN HẢNG - TÀI CHÍNH Chủ biên: TS. NGUYỄN hữu tài C á c tâc gịả: TS.NGUYỄN HỮU TÀI; TS. NGUYỄN THỈ BẤT TS. ĐÀO VĂN HÙNG: ĨS. vũ DUY HÀO TS. PHẠM QUANG TRUNG; ThS.ĐẶNG NGỌC ĐỨC GIẢO TRÌNH LÝ THUYẾr TÙ C H ÍN H -TÉTỆ ,■ NHÀ XUẮT BẢN THỐNG KÊ HÀ NỘI - 2002
  2. LỜI GIỚI THIỆU Tài chính - tiến tệ và lý thuyết của nó là lĩnh vực vô cùng nhạy cảm. Gần hai thế ký trôi qua, các cuộc tranh luận vể lý thuyết, bản chất và công cụ của lĩnh vực tài chính- tiền tệ cũng đã nhiều nhưng vẩn chưa đến hồi vãn. Vận dụng công cụ, mô hình, chính sách tài chính- tiển tệ luôn có vỊ trí xung lực ấn nút đối vối nền Kinh tế Quốc dân mỗi nước. Trong bốì cảnh toàn cầu hoá và hội nhập, lĩnh vực tài chính - tiền tệ có khả năng tiềm ẩn biến cả khu vực thành một làng không biên giối (hình ảnh đồng EURO xuất hiện ồ Châu Âu từ đầu năm 2002 đang là một ví dụ manh nha điển hình). Đổng thòi lĩnh vực tài chính- tiền tệ, kM sử dụng nó rất dễ biến thành con dao hai lưỡi, và thực tế nó đã là con dao hai lưõi rất nghiệt ngã vối nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới (trưòng hỢp Argentina là một điển hình về cả hai mặt trong raột thập niên của thế kỷ vừa qua). Vậy là trong lĩnh vực tài chính - tiển tệ, vô luận là thòi gian và không gian nào, người ta vẫn phải đi tìm một nển tảng lý thuyết và nguyên lý của nó khả dĩ làm cứu cánh tương thích cho phát triển và giao lưu kinh tế. Nhất là trong kinh tế thị trưòng hiện nay, những nguyên lý sơ đẳng về tài chính - tiến tệ- dần dần phải trở thành như cầu bức xúc không chỉ cho các nhà hoạch định chính sách, doanh nhân, mà còn cho cả cộng đồng xã
  3. /'/-■S-TVL; k hội có liên quan đến tiết kiệm và đẩu tư. Cuốh giáo trình * thuyết tài chính - tiền tệ" do Khoa ‘Lý Ngân hàng - Tài chính (Đại học Kinh tế Quôb dân) biên soạn lần này trong bối cảnh đất nước ta đang chuyển đổi sang kinh tế thị trưòng, chắc sẽ có tác dụiíg nhất định không chỉ ch# sinh viên các ngành kinh tế mà cho tất cả mọi ngưòi trưóc khi bưốc vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Vi nhiều lý do, cuốh sách này chỉ để cập được trong một chừng mực nhất định những n ^ y ên lý đại cương mạng tính nhập môn trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ. Trong tương lai, chắc chắn còn phải bổ sung thêm các dòng lý thuyết của lĩnh vực này một cách hoàn chỉnh hơn. Các tác giả ciia nó trong lần xuất bản này đã cố gắng hệ thống các vấn đề theo một trình tự tương đốì hỢp lý nhằm đáp ứng nhu cầu của sinh viên và ngưòi đọc. Dù sao cũng không tránh khỏi những khiếm khuyết chủ quan yà khách quan, h.y vọng nhiều ỏ sự góp ý của toàn thể sinh viên và sự chỉ giáo của người đọc. Xin trân trọng giới thiệu cùng các sinh viên và bạn đọc gần xa. Hà nội Xuân 2ỒỒ2 m GS.TS CAO Cự BỘI • *
  4. . P v ’ V ■s" CHƯƠNG 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ TÀI CHÍNH VÀ TIỂN TỆ » ■ Tiền tệ và tài chính là những phạm trù kinh tế gắn liền với nển sảri xuất và lưu thông hàng hoá. Nó có vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, cũng như trên phạm vi quốc tế; đặc biệt trong nền kinh tế thị trường - nền kinh tế được tiền tệ hoá cao độ. Để thấy rõ vai trò đó, chương này cho phép chúng ta hiểu một cách cơ bản: Tiền tệ là gì? Tài chính là gì? Tiếp đến là nhận thức đưỢc quá trình ra đòi, phát triển và các chức ìiàng của tiềĩi tệ, tài chính. Chương này cũng cho thấy một cách khái quát về tiền tệ hiện nay được đo lưòng như thế nào? Và tài chính được biểu hiện thông qua những quan hệ kinh tế chủ yếu nào? 1.1. Bản ch ất của tiền tệ 1.1.1. Sự ra đời của tiền tệ * • Kinh tế học đã chỉ ra rằng, tiền tệ là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Khi nghiên cứu về quá trình ra đòi của tiền tệ, c. Mác kết luận; “Trình bày nguồn gốc phát sinh của tiền tệ, nghĩa là phải khai triển cái biểu hiện của giá trị, biểu hiện bao hàm trong quan hệ giá trị của hàng hoá, từ hình thái ban đầu giản đơn nhất và ít thấy rõ nhất cho đến hình thái tiền tệ là hình thái mà ai nấy đều thấy” (C. Mác - Tư Bản - Quyển I, Tập I, trang 75 - Nhà xuất bản Sự thật - Hà Nội 1963). Trong quan hệ trao đổi, hình thức giá trị được biểu hiện
  5. 2 qua 4 hình thái: - Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên. - Hình thái giá trị toàn bộ hay mỏ rộng. ’ Hình thái giá trị chung. - Hình thái tiền tệ. * Từ hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên đến hĩnh thái tiền tệ là một quá trình lịch sử lâu dài, nhằm giải quyết các mâu thuẫn vốn có trong bản thân hàng hoá. Tiền tệ ra đòi đã làm cho việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ được dễ dàng, nhanh chóng hơn. Nghiên cứu về lịch sử tiền tệ, các giáo sư PAUL A. SAMUELSON (Viện dự trữ liên bang và ngân khô' Mỹ) và WILLIAM D. NORDHÂu S (trưòng đại học Yale Mỹ) cũng kết luận rằng: “Do các xã hội có sự mua bán rộng rãi không thể vứỢt qua đưỢc các cản trỏ quá lớn của hình thức trao đổi hiện vật, nên việc sử dụng một vật trung gian làm phương tiện trao đổi được mọi ngưòi chấp nhận. Đó là tiền tế ' (Kinh tế học - Tập I, trang 332 - Viện quan hệ quổc tế Việt nam biên dịch năm 1989). 1,1,2, Bản chất của tiền tệm Tiền tệ là sản phẩm tất yếu của nển kinh tế hàng hoá, nhằm tạo điểu kiện thuận lợi cho quá trình trao đổi hàng hoá, dịch vụ. Suy cho cùng, về bản chất, tiền tệ là vật ngang giá chung, làm phương tiện để trao đổi hàng hoáí dịch vụ và thanh toán các khoản nỢ. Theo Frederic s. Mishkin - trưòng đại học Columbia (Mỹ) thì “tiền tệ là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ, hoặc trong việc trả nỢ”. (Kinh tế tiền tệ, ngân hàng và thị trưòng tài chính của Frederic s. Mishkin - trưòng đại học Columbia xuất
  6. bản 1992). Tuy nhiên để có một định nghĩa chính xác về tiền tệ là điều không đơn giản. Giáo sư Milton Spencer (trưòng đại học quản lý kinh doanh Mỹ) cũng thừa nhận rằng: “Nếu bạn cho rằng, bạn hiểu một cách chính xác tiền tệ là gì thì bạn còn giỏi hơn nhiểu nhà kinh tế^’ (Kinh tế học hiện đại - Phần III). Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi mà nền kinh tế hàng hoá phát triển cao độ, và trình độ công nghệ ngân hàng hiện đại, thì câu trả lòi cho tiền tệ vẫn là điều bí ẩn. Trong khi các quan niệm cổ điển cho rằng, tiền là vàng, bạc hoặc là các tò giấy bạc ngân hàng, thì các nhà kinh tế học hiện đại còn cho rằng: kỳ phiếu, hối phiếu, séc... cũng là tiền tệ. Giáo sư, tiến sĩ ngưòi Anh A.Ơ.L.DAY đã kết luận: “từ những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ này, nhiều dạng tiền tệ đã là những hình thái của tài sản thực sự, chủ yếu là vàng và bạc. Nhưng thòi kỳ đó đã qua rồi và toàn bộ tiển tệ đang sử dụng trong các nền kinh tế hiện đại đều là những trái quyền” (Kinh tế tiền tệ, trang 10, LÌCOSAXUBA Hà Nội biên dịch 1989). 1.2. Chức năng của tiề n tệ 1,2^1 Đơn vi đo lường giá tri Tiểh tệ là đơn vị đo lường giá trị, nghĩa là nó đưỢc dùng để đo lưòng giá trị các hàng hoá, dịch vụ trước khi thực hiện trao đổi. Người ta đo giá trị của hàng hoá và dịch vụ bằng tiền giốhg như ngưòi ta đo trọng lượng của một vật bằng kilôgam, đo chiều dài một vật bằng mét. Để thấy được vì sao chức năng này quan trọng, chúng ta hãy so sánh quá trình trao đổi hiện vật với trao đổi hàng hoá có tiền làm môi giối trung gian. Trong quá. trình trao đổi trực tiếp, có 3 mặt hàng đưa ra
  7. trao đôi: A,B>C, thì chúng ta chỉ cần biết 3 giá để có thể trao đổi các Ịiàng hoá này với nhaụ, Đó là: - Giá củạ hàng hoá A được tính bằng bao nhiêu hàng hoá B, - Giá của hàng hoá A được tính bằng bao nhiêu hàng hoá c, - Giá của hàng hoá c được tính bằng bao ĩiliiêu hàng hoá B. Tương tự, nếu có K) mặt hàng đưa ra trao đổi, chúng ta phải cần biết 45 giá để có thể trao đổi hàng này lấy một hàrig hoá khác, vồi 100 mặt hàng chúng ta cần tới 4,950 giá, và^ với 1.000 mặt hàng thì chúng ta cần biết 499.500giá (theo công thức tổng quát tính sô" cặp khi có N phân tử: = N(N-l)/2). Nếu nển kinh tế có tiền tệ làm môi giới, thì người ta định giá bằng đơn vị tiền tệ cho tất cả các hàng hoá đem trao đổi trên thị trưồng. Do vậy, có bao nhiêu hàng hoá đưa ra trao đổi thì có bấy nhiêu giá cả. Có nghĩa là, nếu có 3 hàng hoá đưa ra trao đổi thì có 3 giá, có 10 hàng hoá trao đổi thì có 10 giá, có 1000 hàng hoá trao đổi thì có 1000 giá. Vậy là, việc dùng tiền làm đơn vị đánh giá sẽ thuận Iđi rất nhiều cho quá trình trao đổi hàng hoá, giảm được chi phí trong trao đổi do giảm được sô" gỉá cần xem xét. Sốlượnggiá trong một nền kinh tế hiện vật ứng với sô ỉượng giá trongnền kirih tế tiền tệ Sô' mặt hàng Số"lượng giá trong nền Sô' lượng giá trong nền trao đổi kinh tế hiên vât kinh tế tiền tê m 3 3 3 10 45 10 100 4,950 100 1000 499.500 ■ 1000 10.000 49.995.000 10.000 8
  8. ■ ịĩT -ị í s v v - . : - ỹ v-1 ■ ■■■'^ ^■‘ ■ " V Ị ■ ■ ■ ■ s ^ iim ă 1,2.2. Phương tiện trao đôi Trong nền kinh tế, tiền tệ làm phương tiện trao đổi khi nó được dùng để mua bán hàng hoá, dịch vụ, hoặc thanh toán các khoản nỢ cả trong và ngoài nước. Việc dùng tiền làm phương tiện trao đổi đã nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế, bởi nó đã tiết kiệm được các chi phí quá lốn trong quá trình trao đổi trực tiếp (hàng đổi hàng). Trong nền kinh tế trao đổi trực tiếp hàng đổi hàng, các chi phí giao dịch thường rất cao. 'Bởi vì, ngưòi mua, ngưòi bán phải tìm được những người trùng hỢp với mình về nhu cầu trao đổi, thòi gian trao đổi, không gian trao đổi. Quá trình trao đổi chỉ đưỢc diễn ra khi có sự phù hợp đó. Tiền tệ làm môi giới trung gian trong trao., đổi đã hoàn toàn khắc phục đưỢc các hạn chế đó của quá trình trao đổi trực tiếp. Ngưồi có hàng bán lấy tiền, sau đó sẽ mua được hàng mà họ cần. Bỏi vậy, ngưòi ta coi tiền như thứ dầu mố bôi trơn, cho phép nền kinh tế hoạt động trôi chảy hơn, khuyến khích chuyên môn hoá và phân công lao động. 1*2,3. Phương tiên dư trữ vê măt giá trị Tiền tệ làm phương tiện dự trữ giá trị nghĩa là nơi chứa sức mua hàng hoá trong một thòi gian nhất định. Nhò chức năng này của tiền tệ mà ngưòi ta có thể tách thòi gian từ lúẹ có thu nhập đến lúc tiêu dùng nó. Chức năng này là quan trọng vì, mọi người đều không muốn chi tiêu hết thu nhập của mình ngay khi nhận nó, mà dự trữ để sử dụng nó trong tương lai. Tất nhiên, tiển không phải duy nhất là nơi chứa đựng giá trị, mà các tài sản khác cũng là nơi chứa giá trị như cổ phiếu, thương phiếu... Nhưng tiền là tài sản có tính lỏng cao nhất, bỏi nó là phương tiện trao đổi, nó không cần phải chuyển đổi thành bất cứ cái gì khác khi vối mục đích mua hàng hoá hoặc chi trả tiền dịch vụ. * í < * 9
  9. o 1.3. Sự p h á t triể n các h ìn h th á i tiền tệ Tiền tệ là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá, Sau khi ra đời, tiền tệ lại là GÔng cụ quan trọng để phát triển nền kinh tế - xã hội. Để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho lưu thông hàng hoá và dịch vụ, phát triển nền kinh tế - xã hội, hình thái của tiền tệ cũng ngày càng đưỢc hoàn thiện hơn. 1,3.1. Tiền tệ bằng hàng hoá Trong thời kỳ đầu lịch sử tiền tệ, tuỳ theo những điều kiện cụ thể của, các dân tộc khác nhau và ồ các thòi đại khác nhau, mà vai trò tiền tệ được thể hiện ở các hàng hoá khác nhau. Nhưng thông thường, nhũng hàng hoá đó là những vật đụng quan trọng bậc nhất hay những đặc sản quý hiếm của địa phương. Lịch sỏ ghi nhận rằng, thời kỳ nguyên thuỷ của tiền tệ, vai trò tiền tệ thưòng được thể hiện ở gia súc (dân tộc cổ đại Slavơ), da thú (ỏ các dân tộc Scãng - đi - ĩiáp và nước Nga cổ đại), vỏ ôc quý (quần đảo Thái Bình Dương và Châu Phi), chè (Tâý tạng và Mông cọ), muối (ỏ Miền tây Su Đẳng)... Cùng vối sự phân công lao động xã hội lớn lẫn thứ hai, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp, vai trò tiền tệ chuyển dần sang các kim loại. Cuối cùng thòi kỳ này, vai trò tiền tệ đã đưỢc cô" định ỏ vàng. Bỏi vì vàng có nhiều đặc tính ưu việt hơn các hàng hoá khác lúc bấy giò trong việc thực hiện các chức nãng của tiền tệ. Đó là: * • Tính đồng nhất của vàng rất cao. Điều đó rất thuận lợi trong việc đo lưòng, biểu hiện giá cả của các hàng hoá trong quá trình trao đổi. • Dễ phân chia mà không ĩàm ảnh hưông đến giá trị vốn có của nó. Điều đó có ý nghĩa quan trọng trong việc biểu hiện 10
  10. giá cả và lưu thông hàng hoá trên thị trường. Bởi lẽ, trên thị trường hàng hoá rất đa dạng và giá cả rất khác nhau. • Dễ mang theo, bởi vì một thể tích nhỏ và trọng lượng nhỏ của vàng có thể đại diện cho giá trị một khối lượng hàng hoá lớn. • Thuận tiện trong việc thực hiện chức năng dự trữ giá trị của tiền tệ... Trình độ sản xuất ngày càng phát triển, khối lượng hàng hoá và dịch vụ đưa ra trao đổi ngày càng nhiều. Trong khi đó khả năng vể vàng lại rất có hạn. Do vậy, theo thòi gian, giá trị của vàng lón đến mức ngưòi ta khó có thể chia nhỏ ra để tiến hành những việc mua bán bìnỉi thưòng. Mặt khác, các hàng hoá đóng vai trò tiền tệ trưóc đây đểu có khuynh hưống tự bản thân nó phải có giá trị và phải có một công dụng nhất định nào đó. Còn ngày nay, giá trị của tỉền tệ là do tính pháp định của nhà nưóc. Việc tìm kiếm một lòại hình tiền tệ mối thay thế cho vàng trong lưu thông đã trò nên cần thiết. 1,3.2. Tiền giấy (giấy bac ngân hàng) Sau một thòi gian dài, thòi đại tiền t>ằng hàng hoá đã nhưồng chỗ cho thòi đại tiền giấy. Lúc đầu những tò giấy bạc ngân hàng là những dấu hiệu đại diện cho vàng đáng lẽ phải có trong lưu thông. Những giấy bạc ngân hàng đó được tự do chuyển đổi ra vàng theo luật định, về sau do ngân hàng phát hành ra nhiều giấy bạc hơn so với sô' vàng dự trữ, làm cho nó không còn được tự do chuyển đổi ra vàng. Thòi đại ngày nay, việc sử dụng tiền giấy đã trỏ thành phổ biến, do tính thuận tiện của nó trong việc làm phương tịện trao đổi hàng hoá. Đó là: • Dễ mang theo để làm phương tiện trao đổi hàhg hoá, thanh toán nd. 11
  11. Thuận tiện khỉ thực hiện chức nâng phương tiện dự trữ của cải dưới hình thức giá trị Bằng cách thay đổi các con số trên mặt đồng tiền, một lượng giá trị lớn hay nhỏ được biểu hiện. Bằng chế độ độc quyền phát hành giấy bạc với những quy định nghiêm ngặt của Chính phủ, tiền giấy có thể giữ đưỢc giá trị của nó... Mầm mông tiền giấy đã xuất hiện khá sốm trong lịch sử. Tiền giấy xuất hiện ồ Trung quốc đời nhà Tống, ỏ Việt nam đồi Trần và Hồ Quý Ly, ỏ Châu âu đầu thế kỷ 17. Cho đến những nám 30 của thế kỷ XX, bản vị giấy bạc không được tự do chuyển đổi ra vàng được áp dụng ỏ tất cả các nưốc trên thế giới. 1,3.3. Tiền ghi s ổ (tiền qua ngân hàng) s Tiền ghi sổ là những khoản tiền gửi không kỳ hạn ỏ ngân hàng (tiền gửi séc). Đó là tiền do hệ thốíng ngân hàng thương mại tạo ra trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng. Việc sử dụng đồng tiền ghi sổ được thực hiện bằng các bút toán ghi Nợ và Có trên các tài khoảri tiền gửi không kỳ hạn ỏ ngân hàng. Cùng với trình độ cồng nghệ ngân hàng ngày càng hiện đại, đồng tiền ghi sổ đã giữ vỊ trí chủ yếu trong tổng mức cung ứng tiền tệ ch.0 nền kinh tế. Hiện nay ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển, trình độ công nghệ ngân hàng hiện đại, đồng tiền ghi sổ chiếm từ 90% đến 95% trong tổng lượng tiền cung ứng. Nói chung, hiện nay là thòi đại của tiền nghi sổ. Bỏi lẽ, tiền ghi sổ có những ưu việt vốn có của nó; • Giảm bớt một cách đáng kể các chi phí vể lưu thông tiền mặt: in tiền, bảo quản, vận chuyển, đếm, đóng gói... • Nhanh chóng và thuận tiện cho các chủ nhân tham gia thanh toán qua ngân hàng. 12
  12. • Bảo đảm an toàn trong việc sử dụng đồng tiền, hạn chế được những hiện tượng tiêu cực. • Tiền ghi sổ tạo ra điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng trung ương trong việc quản lý và điều tiết lượng tiền cung ứng... 1.4. Khối tiề n tê Khi chưa có một định nghĩa chính xác về tiền tệ, thì quan niệm về các khôi tiền tệ (cách đo lưỢng .tiền cung ứng) cũng khác nhau. Tuy nhiên, quan niệm về khối tiền tệ mà được nhiều nhà kinh tế thừa nhận hơn cả là: ■ 1.4.1. Khối tiền tệ MI Đây là khối tiền tệ theo nghĩa hẹp nhất vể lựợng tiền cung ứng, nó chỉ bao gồm những phương tiện được chấp nhận ngay trong trao đổi hàng hoá, mà không phải qua một bưổc chuyển đổi nào. Vói khối tiền tệ này, tổng lượng tiền cung ứng bao gồm: • Tiền đang lưu hành (gồm toàn bộ tiền mặt do Ngân hàng trung ương phát hành đang lưu hành ngoài hệ thông ngân hàng). • Tiền gửi không kỳ hạn ỏ ngân hàng thương mại (tiền gửi mà chủ sỏ hữu của ĨIÓ có thể phát séc để thanh toán tiền mua hàng hay dịch vụ). 1.4.2. Khôi tiền tệ M2 m Khôi tiền tệ này, với một cách nhìn rộng hơn vể lượng tiền cung ứng. Theo khối tiền tệ này, tổng lưỢng tiền cung ứng bao gồm: • Lượng tiền theo Ml. • Tiền gửi tiêt kiệm ỏ các ngân hàng thương mại. 13
  13. w 1.4.3. K hối tiề n tệ m Theo khôi tiển tệ này, tổng lượng tiền cung ứng bao gồm: • LưỢng tiền theo M2. • Tiền gửi có kỳ hạn ở ngân hàng thương mại. 1.4.4. Khối tiền tê L Theo khổi tiền tệ này, tổng lượng tiền cung ứng bao gồm; • Lượng tiển theo M3. • Chứng từ có giá có tính “lỏng” cao (dễ chuyển thành tiền mặt); Chứng chỉ tiển gủtì, thương phiêu, tm phiếu, trái phiếu... 1.5. C hế độ tiề n tệ • M Chế độ tiền tệ là hình thức tổ chức lưu thông tiền tệ của một quốc gia, được quy định bằng luật pháp. Chế độ tiền tệ bao gồm các yếu tô': • Bản vị tiến tệ: tức cái gì được dùng làm cơ sồ định giá đồng tiền quốc gia. • Đơn vị tiền tệ: mỗi quốc gia đều có đơn vị tiền tệ của riêng mình và được quy định bằng pháp luật. Đơn vị tiền tệ của Việt nam là “đồng’’, ký hiệu quốc tế là ‘"VND”; đdn vị tiển tệ của Mỹ là “đôla”, ký hiệu quôc tế là ‘"USD”; đơn vị tiền tệ của Mhật bản là “yên”, ký hiệu quốc tế là • Công cụ trao đổi: tức là những công cụ được sử dụng để thực hiện mua bán hàng hoá, dịch vụ, hoặc thanh toán các khoản nỢ như tiền giấy, tiền đúc, tiền ghi sổ... Nói chung, trong chế độ tiền tệ, yếu tô" thương thay đổi là bản vị tiển tệ. Lịch sử phát triển tiền tệ cho thấy rằng, bản vị tiển tệ của các nước do điểu kiện cụ thể của mỗi thòi kỳ quyết định. Cho đến nay, các chế độ bản vị tiền tệ sau đây đã được sử dụng: 14
  14. m 1.5,1. Chê độ song bản vi Dưới chê độ song bản vị, đồng tiền của một nựớc được xác định bằng một trọng lượng cô' định của hai kim loại, thường là vàng và bạc. Ví dụ, năm 1792, ỏ Mỹ 1 đôla vàng = 1,603 gam vàng ròng, 1 đôla bạc = 24,06 gam bạc ròng. Tức trọng lượng 1 đôla bạc nặng gấp 15 lần trọng lượng 1 đôla vàng. Do giá trị thị trưòng của vàng và bạc thưòng xuyên thay đổi, đã dẫn đến hiện tượng tiền có gỉá trị thấp đuổi tiền có giá trị cao khỏi lưu thông. Hiện tượng này đưỢc nhà tài chính Anh là Thomas Gresham thế kỷ thứ 16 và là giám đốc sỏ đúc tiền dưới triều Nữ hoàng Klizabeth I mô tả như sau: “Khi hai kim loại có giá trị thị trường khác nhau, nhưng vối quyền lực tiển tệ chính thức như nhau, thứ kim loại rẻ hơn sẽ trỏ thành phương tiện lưu thông chủ yếu, trong khi thứ kim loại đắt hơn thì biến khỏi lưu thông”. Giả sử rằng, nhà nưóc ấn định tỷ lệ đúc tiền chính thức của hai kim loại bạc và vàng là 15/1- Điều đó có nghĩa là, trọng lượng 1 đơn vị tiển tệ bằng bạc gấp 15 lần trọng lượng tiền tệ bằng vàng. Do đó, bất cứ một sự thay đổi nào trong giá trị thị trưòng của một kim loại so với kim loại khác, có thể làm cho thứ kim loại có giá trị cao hơn biến khỏi lưu thông. Bồi vì, kim loại rẻ hơn trên thị trường sẽ được đưa tởi sỏ đúc tiền để đúc thành tiền, kim loại đắt hơn trên thị trưòng được đưa ra khỏi lưu thông để cất trữ hay đúc thành thỏi để bán. Nói cách khác, một tỷ lệ đúc tiền cô" định và một tỷ lệ thị trường thay đổi, cho phép ngưòi ta giữ lại đồng tiền có giá trị hơn và cho lưu thông đồng tiền có giá trị kém hơn. Điều đó đã xẩy ra ỏ Mỹ trong thế kỷ 19, khi mà Mỹ đang giữ chế độ song bản vị vàng và bạc theo luật định. Trong suốt giai đoạn đầu từ 1792 đến 1834 vàng rút khỏi lưu thông và trên thực tế quốc gia chỉ còn là bản vị bạc. Nhưng từ 1834 đến 1893 bậc rút khỏi liiu 15
  15. thông và thực chất quốc gia chỉ còn là‘bẳn vị vàng. 1.5,2.Chểđô bản vị iỉển vàng ■ ■ ■ ' - i i - Bân vị tiền yànẹ Ịà đồng tiền của một nước đưỢc bảo đảm bằng một trọrig Ịượng yàng nhất định thieo pháp luật. Nhữiig yếu tô" cần thiết của liản vị tiền vàng gồm: • Nhà nưốc không hạn chế việc đúc tiền vàng. • Tiền giấy (ỊU C gia được nhà nước xác định một trọng lượng Ố vàng nhất định vạ được tự do chuyển đổi ra vàng theo tỷ lệ đã quy định.. yío. K K IIÍL ịu.y ÍX Tiền vàng được lưu thông không hạn chế. Ghế độ bản vỊ tiền vàng được sử dụng phổ biến ỏ các nửớc trong những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. 1.5,3, C hế đô bản vị vàng thỏi Chế độ bản vị vàng thỏi cũng quy định cho đơn vị tiền tệ quốc gia một trọng lượng vàng cô" định. Nhưng vàng được đúc thành thỏi mà không đúc thành tiền. Vàng không lưu thông trong nền kinh tế, mà chỉ dự trữ để làm phưcỉng tiện thanh toán quôc tế và chuyển dịch tài sản ra nước ngoài. Tỉển giấy quốc gia được đổi ra vàng theo luật định, nhưng phải một sô" lượng tiền giấy nhất định, ít nhất phải tương đương 1 thỏi vàng. Chế độ bản vị vàng thỏi được áp dụng ỏ Anh năm 1925 và quy định muốh đổi tiền giấy lấy vàng phải đổi ít nhất là 1.500 Bảng Anh, áp dụng ở Pháp nám 1928 với sô' tiển giấy phải đổi ít nhất ìà 225.000 Francs... Ị.5.4. C hế đô bản vị vàng hối đoái Chế độ bản vị hối đoái vàng là chế độ bản vị trong đó tiển giấy quốic gia không được trực tiếp chuyển đổi ra vàng, muôn đổi ra vàng phải thông qua một ngoại tệ. Ngoại tệ đó phải được .. ■ 16
  16. / ■. ' ■ ■'ủ'í 'V ■ s . A ^ ■ ■ ■■■■'' ^ ■■ị _ .■ d ■ ■ "ì® ■ .■ f)H.DÃNLẬPHP. tự do chuyển đổi ra vàng, như đôla Mỹ, bảng Ar ][^Ý f^Ịg]Ịế độ biĩn vị hối đoái vàng được áp dụng ở Ấn Độ năm 1898, Đức 1924j ì là lan 1928... .............. 1,5.5. Chế đô bản vị ngoai tê Ì: í Dưới chế độ bản vị ngoại tệ, đơn vị tiền tệ quốc gia được'xác định bằng đơn vị tiền tệ của nưốc ngoài (ngoại tệ). Đó phải là các rigoậi tệ mạnh và được tự do chuyển đổi trên thị trưòng quốc tế. Chế độ bản vị này được sử dụng phổ biến đốì vói các nưốc thiếu vàng hoặc về mặt chính trị bị lệ thuộc vào nước khác (các nưốc trong khối cộng đồng Anh sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất). Để khuyến khích thương mại quốc tế và tăng trưồng kinh tế một cách có trật tự, một hình thức biến tưống chế độ bản vị ngoại tệ được hình thành ỏ các nưốc tư bản chủ nghĩa. Chế độ bản vị này được thịnh hành từ 1944 đến 1971 và có hai đặc trưng cơ bản: ♦ Vào cuối chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mỹ chiếm hữu phần lớn vàng của thế giới. Do đó, Bộ tài chính Mỹ, theo hiệp định quôc tế, đâ làm cho vàng và đôla Mỹ có thể chuyển đổi được lẫn nhau, theo tỷ lệ 35 đôla cho một ôngxổ vàng. Như vậy, một đồng đôla Mỳ chính thức được xác nhận bằng 35 ôngxơ vàng. • Theo đó, các nước khác theo hiệp định quốc tế, Ngân hàng trung ương các nước đó duy trì một tỷ giá cổí định đồng tiền của họ so vói đồng đôla Mỹ. Chế độ bản vị ngoại tệ biến tướng này đã hoàn thành sứ mệnh của nó là khuyến khích thương mại quốc tế và khôi phục kinh tế sau chiến tranh thế giới thứ hai. Nhưng từ những năm 1960 chế độ này bắt đầu sụp đổ, bỏi đồng đôla Mỹ lạm phát và 17
  17. 'i f - đự; trữ vặgg. (cặa Mỹ giảm sút nghiêm trọng. Chế độ .bản vị ngoại tệ nấy đã kết thúc khi tổng thống Mỹ - Nixơn tuyên bô" không đổi đôlạ.giấy ra vàng ngày 15/8/1971. A ■ ' ^ . . + « ■ p ■ ■ ' - ì,ầì6Jtl^ầÁđê^ản vi tiền giấy không chuyển đổi ra vàng TTưSi c£¥đọ bản vị tiền giấy không được chuyển đổi, đơn vị tiền tệ của một nước không thể tự do chuyển đổi ra kim loại quý. Đầu những nàm 1930 bạn vị chế độ tiền giấy không đưỢc chuyển đổi đã trở thành phổ biến, Vàng chỉ được dùng để thanh toán cậc khoản nỢ quốc tế, nó bị rút khỏi lưu thông trong nưốc vì không dùng làm tiển tệ và không được đổi tiền giấy ra vàng. Từ đây, giá trị thực tế của đồng tiền các nưóc phụ thuộc vào sức mua của nój tức là sô Ịượng hàng hoá hay dịch vụ mà nó có thể mua được. Giá trị của một đơn vị tiền tệ được xác định bằng sức mua của nó và được đo bằng sô" nghịch đảo của mức giá cả chung. Như vậy, mức giá cả chung càng cao thì giá trị hay sức mua của một đơn vị tiền tệ càng thấp và ngược lại. 1.6. B ản ch ấ t của tà i chinh l,6.1,Sự ra đời của phạm trù tài chính Lịch sử xã hội loài người cho thấy, vào thời kỳ công xã nguyên thuỷ tan rã, xã hội bắt đầu có sự phân công lao động, có sự chiêm hữu khác nhau về tư liệu sản xuấ^t và về sản phẩm lao động. Theo đó, nền sản xuất hàng hoá ra đòi và tiền tệ xuất hiện như một tất yếu khách quan. Trong nền kinh tế hàng hoá, việc trao đổi hàng hoá được tiến hành một cách dễ dàng thông qua tiền tệ ỉàra, môi giới trung gian. Từ đó, người ta sử dụng tiền tệ với các chức năng phương tiện trao đổi và phương tiện tích luỹ để phân phối tổng sản phẩm xã hội, qua đó tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế, nhằm mục đích tiêu dùng và đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Các quỹ tiền tệ này 18
  18. V .l! "■ ■■ ; •í ^ ^ ^ Í i." * ;s íu í được tạo lập và sử dụng bỏi các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội hay cá nhân. Các quan hệ kinh tế đó đã làm nảy sinh phạm trù tài chính. Lịch sử xã hội loài ngưdi còn cho thấy rằng, khi xã hội có sự chiếm hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, thì có sự phân chia giai cấp và xuất hiện phạm trù Nhà nước. Nhà nưốc ra đòi, vối chức năng và quyền lực của mình đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế hàng hoá, mỏ rộng phạm vi hoạt động của tài chính. Mặt khác, để duy trì hoạt động của mình, nhà nước đã tạo lập quỹ ngân sách nhà nước thông qua quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị và hình thành lĩnh vực tài chính nhà nưổc. Như vậy, bên cạnh những tiền đề quyết định làm nảy sinh phạm trù tài chính là sản xuất hàng hoá và tiền tệ, nhà nưóc ra đòi làm cho hoạt độĩlg tài chính ngày càng phát triển hơn. 1.6,2, Bản chất của tài chinh Về bản chất, tài chính là các quan hệ kinh tế trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị, thông qua đó tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, nhằm đáp ứng yêu cầu tích luỹ và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế. Để hiểu rõ hơn bản chất của tài chính, ở đây cần có sự phân biệt tài chính vói một số phạm trù kinh tế có liên quan khác. Trước hết cần phân biệt tài chính với tiền tệ. Nhìn bề ngoàij tài chính được người ta cảm nhận như những quỹ tiền tệ của các chủ thể khác nhau trong xã hội. Nhưng tài chính không phải là tiền tệ. Tiền tệ vể bản chất ià vật ngang giá chung trong trao đổi hàng hoá vói các chức năng vổh có của nó: biểu hiện giá cả hàng hoá, phương tiện trao đổi (gồm iphương tiện lưu thông và phương tỉệrt %anh‘ toán) và phương tiện tích luỹ. Tài chính
  19. là sự vận động độc lập tương đối của tiền tệ vói chức năng phường tiện thanh toán và phương tiện tích luỹ trong lĩnh vực phân phối, nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ. Giá cả là một phạm trù kinh tế, liên quan đến phân phối dưói hình tjtỊức giá trị. Nhưng sự phân phôi của giá cả được tiến hành thông qua sự chênh lệch giữa giá trị và giá cả của hàng hoá trong trao đổi. Tài chính là phạm trù phân phối phản ánh sự chuyển dịch giá trị thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế. Tiển lương cũng là phạm trù phân phối. Đó là một lượng tiền tệ nhất định được trả cho ngưòi lao động, theo những nguyên tắc nhất định. Tiền lương muôn được thực hiện phải thông qua tài cliính, tức là thông qua các quan hệ kinh tế trong phân phối tổng sản phẩm xã hội, nhằm hình thành và sử dụng quỹ tiền lương trong nền kinh tế. Bản chất của tài chính được thể hiện qua các quan hệ kinh tế chủ yếu trong quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị sau đây; • Quan hệ kinh tế giữa Nhà nưôc với các cơ quan, đơn vị kinh tế, dân cư. • Quan hệ kinh tế giữa các tổ chức tài chính trung gian vối các cơ quan, tổ chức kinh tế phi tài chính, dân cư. • Quan hệ kinh tế giữa các cơ quan, đơn vị kinh tế, dân cư vối nhau và các quan hệ kinh tế trong nội bộ các chủ thể đó. • Quan hệ kinh tế giữa các quốc gia vdi nhau trên thế giới... 1.7. Chức n ảng của tà i chính 1.7.1. Chức năng phẫn phổi Phân phối qua tài chính là sự phân phối tổng sản phẩm xã 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản