intTypePromotion=1

Giáo trình Nghệ thuật tạo hình (Dùng cho hệ đào tạo từ xa – ngành GD Mầm non): Phần 1

Chia sẻ: Lê Thị Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:115

0
108
lượt xem
30
download

Giáo trình Nghệ thuật tạo hình (Dùng cho hệ đào tạo từ xa – ngành GD Mầm non): Phần 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phần 1 Giáo trình Nghệ thuật tạo hình (Dùng cho hệ đào tạo từ xa – ngành GD Mầm non) trình bày khái quát về nghệ thuật tạo hình, một số chất liệu màu và kỹ thuật sử dụng, luật xa gần và giải phẫu tạo hình.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Nghệ thuật tạo hình (Dùng cho hệ đào tạo từ xa – ngành GD Mầm non): Phần 1

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH ThS Nguyễn Hữu Dỵ GIÁO TRÌNH NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH (Dùng cho hệ đào tạo từ xa – ngành GD Mầm non) Vinh 2011 1
  2. 2
  3. Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH 1.1.Một số khái niệm cơ bản 1.1.1. Nghệ thuật Từ điển tiếng Việt(TĐTV) cho rằng “Nghệ thuật là danh từ, có hai nghĩa: “1. Hình thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng hình tượng sinh động, cụ thể và gợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng, tình cảm. Nghệ thuật tạo hình. Xây dựng hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học. 2 Phương pháp, phương thức giàu tính sáng tạo. Nghệ thuật lãnh đạo”(84, tr. 654) Với nghĩa 1, “Nghệ thuật” là thuật ngữ chỉ chung cho các loại hình nghệ thuật, thuộc hình thái ý thức xã hội (thuộc lĩnh vực tinh thần, thượng tầng kiến trúc, phân biệt với hình thái vật chất, hạ tầng cơ sở xã hội.). Nghệ thuật “đặc biệt” ở chỗ “dùng hình tượng sinh động, cụ thể và gợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng, tình cảm”. Đây là đặc trưng của nghệ thuật, phân biệt với các hình thái ý thức xã hội khác cũng “ phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng, tình cảm” nhưng bằng công thức, triết lý, khẩu hiệu, mệnh lệnh... lạnh lùng, khô khan. Kiến trúc, Điêu khắc, Hội hoạ, Văn học, Nhiếp ảnh, Sân khấu, Điện ảnh, Âm nhạc, Múa v.v... đều thuộc về lĩnh vực nghệ thuật, bởi chúng giống nhau ở chỗ “dùng hình tượng sinh động, cụ thể và gợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng, tình cảm”. Tuy nhiên Kiến trúc, Điêu khắc, Hội hoạ... phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng, tình cảm sinh động, cụ thể và gợi cảm khác nhau, đó chính là đặc trưng ngôn ngữ của các loại hình nghệ thuật. 1.1.2. Tạo hình TĐTV giải nghĩa “tạo hình” là động từ :“Tạo ra các hình thể bằng đường nét, màu sắc, hình khối” (84,tr.860). Đây là cách hiểu đúng nghĩa khái quát của từ “tạo hình”, trên cơ sở ý nghĩa của từng đơn vị cấu tạo (tạo, hình). Bằng kinh nghiệm và hiểu biết củả mình, chúng ta đều thấy, không một sáng tạo của cải vật chất nào mà 3
  4. không phải là sản phẩm tạo hình, bởi lẽ, vật chất luôn luôn tồn tại ở dạng hình khối và màu sắc. Tuy nhiên, vật chất là chung cả của thế giới tự nhiên và xã hội, cho cả loài người và loài vật. Vậy, hoạt động và sản phẩm tạo hình nào thuộc về nghệ thuật ? 1.1.3.Nghệ thuật tạo hình(NTTH) NTTH là nghệ thuật sáng tạo hình tượng cụ thể, sinh động, gợi cảm bằng đường nét, màu sắc, hình khối. Với cách hiểu này, ta phân biệt NTTH với những nghệ thuật không phải “tạo hình” như Âm nhạc, văn, thơ…(khác nhau ngôn ngữ biểu hiện). Đồng thời ta cũng phân biệt dược những hoạt động tạo hình nhưng không thuộc về lĩnh vực nghệ thuật(chung ngôn ngữ biểu đạt nhưng khác về chủ thể, đối tượng, mục đích, hiệu quả, bản chất thẩm mỹ…). Ví dụ: động Phong Nha, động Thiên Đường trong quần thể khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha – Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình là kỳ quan thiên nhiên thế giới nhìn từ góc độ cái đep tạo hình: hình thù kỳ thú, sắc màu huyền ảo, nhưng là của thiên nhiên, chủ thể sáng tạo ra nó là “tạo hóa”… Đèn xanh đèn đỏ - tín hiệu giao thông – có chung ngôn ngữ tạo hình, do con người làm ra, nhưng không xếp vào tác phẩm nghệ thuật tạo hình… 1.1.4. Mỹ thuật (MT) MT và NTTH là hai tên gọi khác nhau của một ngành, một lĩnh vực nghệ thuật: nghệ thuật sáng tạo cái đẹp bằng điểm. nét, hình, mảng, khối, màu sắc. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về MT. Sau đây là một số cách hiểu chúng tôi nêu ra để cùng tham khảo : + TĐTV cho rằng, MT có hai nghĩa: 1.(danh từ) “ Ngành nghệ thuật nghiên cứu quy luật và phương pháp sáng tạo cái đẹp bằng đường nét, màu sắc, hình khối”. 2. (tính từ) “ Đẹp, khéo, hợp với thẩm mỹ” (84,tr.609). Với nghĩa 1 của định nghĩa này thì MT là một ngành của nghệ thuật nói chung, có nhiệm vụ là nghiên cứu quy luật và phương pháp sáng tạo cái đẹp bằng đường 4
  5. nét, màu sắc, hình khối. Đường nét, màu sắc, hình khối là ngôn ngữ đặc thù của MT. + Giáo trình Mỹ thuật, Dùng cho ngành Giáo dục tiểu học Hệ đào tạo Tại chức và Từ xa của Nguyễn Quốc Toản cũng cho rằng “có nhiều cách hiểu về mĩ thuật, mỗi cách diễn giải theo lối riêng” và đã “giới thiệu tóm lược” bốn cách hiểu – bốn cách diễn giải “để tham khảo”: 1. Diễn giải theo cách diễn tả Mĩ thuật là một loại hình nghệ thuật tạo nên các tác phẩm trên mặt phẳng (tranh...) bằng đường nét, hình mảng, màu sắc, đậm nhạt; trong không gian (tượng...) bằng hình khối, sáng tối, đậm nhạt. Mĩ thuật sử dụng nhiều chất liệu khác nhau như: giấy, chì, các loại màu, vải, sợi (hội hoạ, trang trí); đất, thạch cao, đá, gang, đồng, xi măng...(điêu khắc), cao su, đồng, nhôm...(tranh khắc, tranh gò). Có thể nói vắn tắt: Mĩ thuật là nghệ thuật của mặt phẳng, của không gian. 2. Diễn giải theo cấu trúc nội dung Mĩ thuật là một loại hình nghệ thuật gồm có các ngành cơ bản như: hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc, mĩ thuật ứng dụng. 3. Diễn giải theo chức năng, tác dụng, đặc điểm Mĩ thuật là nghệ thuật của con mắt – nghệ thuật của thị giác (nhìn, nhận ra cái đẹp bằng con mắt). Cũng như nói âm nhạc là nghệ thuật của tai – nghệ thuật của thính giác (nghe thấy cái hay, cái đẹp bằng tai). 4. Diễn giải theo ngữ nghĩa Theo hoạ sĩ lão thành Nguyễn Phan Chánh, mĩ thuật là cách tạo ra cái đẹp. Cách diễn đạt này ngầm nói là có nhiều cách tạo ra cái đẹp, tuỳ thuộc vào khả năng tư duy, sáng tạo, thị hiếu thẩm mĩ và cảm thụ của người tạo nên nó. Cũng như vậy, cách diễn đạt này còn làm sáng tỏ hơn cho phương pháp dạy – học mĩ thuật ở phổ thông: dạy cho học sinh cách tạo ra cái đẹp theo khả năng, ý thích của mình chứ không áp đặt, rập khuôn, sao chép theo một công thức chung nào đó.”( 23,Tr 6,7) 5
  6. + Mĩ thuật và phương pháp dạy học, tập một, Giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học CĐSP và SP12+2 của Trịnh Thiệp và Ưng Thị Châu cho rằng: “ Mĩ thuật là một nghệ thuật tạo ra cái đẹp nhằm phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của con người (mĩ là đẹp, thuật là cách thức, phương pháp). Những gì trong giới tự nhiên và trong đời sống xã hội đem lại sự thích thú, sự khoái cảm đều được coi là cái đẹp như : cảnh đẹp chùa Tây Phương, chùa Hương Tích, một công trình kiến trúc đẹp, một tác phẩm hội hoạ, điêu khắc đẹp v.v...”(52,tr.5) Cách nêu khái niệm MT trên đây, phán đoán đầu (“Mĩ thuật là một nghệ thuật tạo ra cái đẹp nhằm phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của con người”) là đúng nhưng chưa đủ, bởi vì nó chung cho mọi nghệ thuật. Còn “(mĩ là đẹp, thuật là cách thức, phương pháp)”, và “Những gì trong giới tự nhiên và trong đời sống xã hội đem lại sự thích thú, sự khoái cảm đều được coi là cái đẹp như : cảnh đẹp chùa Tây Phương, chùa Hương Tích, một công trình kiến trúc đẹp, một tác phẩm hội hoạ, điêu khắc đẹp v.v” với hàm ý giải thích trực tiếp, khẳng định tính xác thực của phán đoán trên thiết nghĩ cũng chưa thuyết phục. Bởi lẽ, “mỹ là đẹp”- mà “đẹp” còn đồng nghĩa với “tốt”-“thiện” là cũng rất chung; còn như “trong giới tự nhiên và trong đời sống xã hội” thì lại có vô số điều “ đem lại sự thích thú, sự khoái cảm” cho chúng ta chứ đâu chỉ dừng ở “cảnh đẹp chùa Tây Phương, chùa Hương Tích, một công trình kiến trúc đẹp, một tác phẩm hội hoạ, điêu khắc đẹp v.v”, ví dụ : một câu thơ hay, một giọng hò dịu ngọt, một điệu múa cổ, một vở kịch hiện đại v.v... Nếu như vậy, tất cả đều là MT thì không còn ranh giới giữa các loại hình nghệ thuật hay sao ? Dẫu biết rằng, mọi định nghĩa, mọi sự khái quát, mọi cách diễn giải chỉ mang tính tương đối trong thao tác của tư duy logic. Mỗi người hiểu khái niệm mỹ thuật theo cách riêng, trên cơ sở vốn sống, vốn hiểu biết của mình. Nhưng dù diễn đạt thế nào thì cũng cần phải đưa ra được hai ý :1.MT mang đặc điểm của nghệ thuật nói chung, 2. MT có đặc trưng của mình. Có thể có các cách hiểu MT như sau : 6
  7. - MT là nghệ thuật phản ánh hiện thực cuộc sống bằng hình tượng sinh động, cụ thể, gợi cảm, thông qua điểm, nét, hình, mảng, khối, màu sắc. - MT là nghệ thuật sáng tạo cái đẹp bằng điểm, nét, hình, mảng, khối và màu sắc. - MT là Nghệ thuật tạo hình 1.1.5. Loại hình NTTH - TĐTV định nghĩa loại hình là “Tập hợp sự vật, hiện tượng cùng có chung những đặc trưng cơ bản nào đó” (84, tr 553). Từ định nghĩa này, có thể suy ra: loại hình NTTH là tập hợp các loại NTTH cùng có chung những đặc trưng cơ bản nào đó. Lâu nay NTTH được phân thành các loại hình (đồng nghĩa với các ngành) sau: a. Điêu khắc: “Loại hình nghệ thuật gợi tả hoặc thể hiện sự vật trong không gian bằng cách sử dụng các chất liệu như : đất, đá, gỗ, kim loại, v.v., tạo thành những hình nhất định” (84, tr310) b. Kiến trúc: “Nghệ thuật thiết kế, trang trí nhà cửa” (84, tr 505). c. Hội hoạ: “Nghệ thuật dùng đường nét, màu sắc để phản ánh thế giối hình thể lên mặt phẳng” (84, tr 444). d. Đồ hoạ: “Nghệ thuật tạo hình nên những tác phẩm có thể làm nhiều phiên bản” (84, tr 322). 1.2.Ngôn ngữ tạo hình Thuật ngữ “Ngôn ngữ” trước hết là để chỉ lời nói của con người (ngôn ngữ âm thanh) là công cụ của tư duy, đồng thời là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người. Nhờ có ngôn ngữ mà con người trao đổi tư tưởng tình cảm, kinh nghiệm trong quá trình lao động sáng tạo, đấu tranh sinh tồn. Ngôn ngữ gắn bó cộng đồng gia đình, dân tộc, nhân loại. Cũng từ đó, có cách nói: ngôn ngữ tạo hình (ngôn ngữ mỹ thuật), ngôn ngữ âm nhạc, ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ hội hoạ v.v... là để 7
  8. nói công cụ, phương tiện truyền tải nội dung tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của người nghệ sĩ trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật ấy. Ngôn ngữ tạo hình là công cụ, phương tiện xây dựng hình tượng thẩm mỹ thị giác, phản ánh cuộc sống, truyền tải tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của người sáng tác. Công cụ, phương tiện đó là: điểm, nét, hình, mảng, khối, màu sắc, bố cục. Cũng như ngôn ngữ âm thanh của loài người, ngôn ngữ tạo hình gồm một hệ thống các đơn vị, từ đơn vị bậc thấp đến bậc cao. Các đơn vị này vừa cụ thể vừa khái quát, vừa có giá trị tự thân vừa có giá trị trong hệ thống, và chủ yếu là giá trị trong hệ thống (giá trị kết cấu, cấu trúc, bố cục)... Có thể biểu diễn cấp độ, quan hệ giữa các đơn vị đó như sau: Điểm Nét Hình Mảng Khối Màu Bố cục 1.2.1. Điểm Điểm là đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống các đơn vị ngôn ngữ tạo hình. Điểm đồng nghĩa với "chấm". Điểm có vai trò tạo nét, tạo hình, mảng, khối. Điểm có giá trị tạo hình. Ý nghĩa phản ánh, tạo hình của điểm chỉ nảy sinh trong cấu trúc, bố cục hình tượng thẩm mỹ, cũng có nghĩa là giá trị của điểm nảy sinh trong quan hệ giữa điểm với điểm (to/nhỏ, đậm/nhạt, dày/thưa...) và điểm với nét, hình, khối và màu sắc. 1.2.2. Nét Nét là kết quả sự tịnh tiến liên tục của điểm trong không gian. Các điểm cấu thành nét chỉ liền kề nhau chứ không cắt nhau, điểm đầu đến điểm cuối không gặp 8
  9. nhau. Dựa vào cấu tạo, có hai loại nét cơ bản là nét thẳng và nét cong (nét không thẳng). - Nét thẳng: Nét thẳng là nét mà các điểm cấu thành nó trong quá trình tịnh tiến, từ khởi điểm (A) đến chung điểm (B) luôn nằm trên một đường thẳng. Có thể phân nét thẳng làm nhiều nhóm loại, tùy theo tiêu chí khác nhau: - Nét thẳng đứng, nét thẳng xiên, nét thẳng ngang - Nét thẳng thanh, nét thẳng đậm, nét thẳng nhạt... - Nét thẳng đen, nét thẳng đỏ, nét thẳng lam, nét thẳng lục... - Nét thẳng ngắn, nét thẳng dài... A Nét thẳng tự nó thẳng, cứng, gợi cảm giác thẳng thắn, cứng rắn, dứt khoát, rạch ròi... - Nét cong: Nét cong là nét mà các điểm cấu thành nó trong quá trình tịnh tiến, từ điểm đầu đến điểm cuối không nằm trên một đường thẳng. Có thể phân nét cong làm nhiều nhóm loại, tùy theo tiêu chí khác nhau: 9
  10. - Nét cong đứng, nét cong xiên, nét cong ngang - Nét cong thanh, nét cong đậm, nét cong nhạt... - Nét cong đen, nét cong đỏ, nét cong lam, nét cong lục... - Nét cong ngắn, nét cong dài... - Nét cong cứng, nét cong mềm. Nét không thẳng tự nó cong, gảy khúc..., gợi cảm giác hoặc mềm mại, uyển chuyển nhẹ nhàng, hoặc gập ghềnh, khúc khuỷu... 1.2.3. Hình Hình là là kết quả sự khép kín của nét, khi điểm đầu và điểm cuối của nét gặp nhau. Đó là chu vi, đường viền bao quanh vật thể. Nét tạo nên hình. Khép kín các nét ta có hình - chu vi. Từ hai loại nét điển hình (nét thẳng và nét cong) ta có các hình cơ bản, khái quát. Hai hình cơ bản, điển hình là hình vuông, hình tròn. Trong tâm thức người Việt, vuông tròn là trọn vẹn, đầy đủ, hoà hợp lý tưởng, tốt lành như ý. Người Việt quan niệm “trời tròn đất vuông”, chúc (cầu mong) “mẹ tròn con vuông”... là có cơ sở văn hoá của mình. 10
  11. Hình vuông gợi cảm giác vững chải, chắc chắn trên mặt bằng, hình tròn gợi cảm giác động, dịch chuyển nhưng ổn định bởi sự hướng tâm... Các biến thể của vuông tròn là hình chữ nhật, hình tam giác, hình tứ giác, hình bầu dục...Hình của sự vật, đối tượng trong thực tế vô cùng phong phú, đa dạng nhưng chung quy lại đều tồn tại ở dạng các hình cơ bản này. 1.2.4. Mảng Mảng là diện tích, bề mặt vật thể. Mảng cũng là kết quả cấu thành của các điểm trên bề mặt vật thể. Tô màu lên hình ta có mảng màu. Không mảng màu nào mà không có hình. Có nghĩa là mọi mảng màu đều có diện tích, đều có chu vi. Thuật ngữ tạo hình có từ ghép “hình mảng” là vì thế . 11
  12. 1.2.5. Khối: . Khối trước tiên là nói về vật thể chiếm chỗ trong không gian ba chiều. Mọi sự vật tồn tại trong tự nhiên và xã hội đều tồn tại ở dạng khối. Mỗi một sự vật, ta vừa nhận biết khối tổng thể, vừa nhận biết khối của từng bộ phận. Sông núi, mây trời, hoa lá, cỏ cây, nhà cửa, đồ đạc,...tất cả đều tồn tại ở dạng khối, và ta có thể quy chúng về khối cơ bản. Hình, mảng tạo nên khối. Khối cũng là kết quả cấu thành của các điểm (hạt) trong không gian. Tiếp tục vẽ, ghép nối các hình cơ bản, ta có các khối cơ bản là khối lập phương, khối cầu và các biến thể của chúng như khối chữ nhật, khối chóp, khối tam giác, khối trụ... 12
  13. Khối lập phương gợi cảm giác vững chải khi một mặt tiếp đất, khối cầu gợi cảm giác động nhưng ổn định. Các khối hình học khác cũng đều gợi những cảm giác nhất định trên cơ sở thế dáng, chiều hướng, điểm, diện tiếp xúc, trong trường liên tưởng, kinh nghiệm nào đó. 1.2.5. Màu Cùng với đường nét, hình khối là màu của sự vật. Màu là: “Thuộc tính vật thể hiện ra nhờ tác động của ánh sáng và nhận biết được bằng mắt, cùng với hình dáng giúp phân biệt vật này với vật khác.” (84, tr.592). Mọi sự vật tồn tại đều ở dạng khối và có màu. Trong thực tế, chúng ta nhận biết, phân biệt được mọi sự vật là nhờ xúc giác, thị giác. Thị giác (mắt nhìn) bình thường, phân biệt màu của sự vật phải kèm theo điều kiện có ánh sáng. Không có ánh sáng thì không phân biệt được màu. Thành ngữ “ Tắt đèn nhà tranh như nhà ngói” hay “Mặc áo gấm đi đêm”, thể hiện kinh nghiệm dân gian về vai trò của ánh sáng đối với màu sắc - xét ở góc độ tạo hình. Có ba điều kiện tiên quyết, đồng thời để nhận biết màu là: ánh sáng, mắt nhìn, vật thể. 13
  14. Màu khi là yếu tố (đơn vị, bộ phận) trong hệ thống các yếu tố ngôn ngữ tạo hình là màu chất liệu. Màu chất liệu là khoáng chất tự nhiên có thuộc tính lý hóa về màu, được chế tác để sử dụng trong cuộc sống và sáng tác mỹ thuật. Sau đây là một số yêu cầu kiến thức và kỹ năng cơ bản về màu chát liệu. - Màu gốc: Màu gốc là màu khoáng chất tự nhiên đầu tiên, từ đó ta có thể điều chế thành các màu khác. Màu gốc gồm: Đỏ - Vàng – Lam Theo cách pha trộn từng cặp màu gốc với tỉ lệ 1/1, ta được 3 màu mới : - Đỏ + Vàng = Cam - Đỏ + lam = Tím - Vàng + Lam = Lục Ba màu Cam, Lục, Tím là sản phẩm – con đẻ của từng căp màu gốc, bởi vậy, chúng mang thuộc tính màu gốc. Nếu tiếp tục pha trộn màu mới với một trong hai màu gốc tạo ra chúng, ta lại có thêm màu mới có thuộc tính (tính trội) nghiêng về một màu gốc. ví dụ: màu Cam trộn thêm màu Đỏ, tùy vào tỉ lệ pha trộn mới mà ta 14
  15. có Cam đỏ, Đỏ cam; màu Cam trộn thêm màu Vàng, tùy tỉ lệ mà ta có Cam vàng, Vàng cam... Như vậy, từ hai màu gốc, ta có thể tạo ra nhiều màu mới cùng thuộc tính gần gũi. - Màu bổ túc: Màu bổ túc là màu tăng cường độ cho nhau. Một màu gốc và một màu mới không cùng thuộc tính được xem là một cặp màu bổ túc. Có 3 cặp màu bổ túc: - Đỏ - Lục - Vàng - Tím - Lam - Cam Các cặp màu trên khi chúng được đặt cạnh nhau đều tôn nhau lên, làm rực rỡ nhau hơn, khác với khi chúng đặt cạnh những màu khác. 15
  16. Còn khi trộn lẫn các màu bổ túc với nhau thì chúng phá nhau, tạo thành hợp chất màu nâu, xám. - Màu trung tính: Màu trung tính là màu có tính chất trung hòa. Hai màu Đen và Trằng được xem là màu trung tính. Đen và Trắng pha trộn được với tất cả các màu, làm thay đổi sắc độ (đen đậm thêm hoặc trắng nhạt đi) chứ không thay đổi thuộc tính bản chất ban đầu của các màu được trộn. - Màu nóng/ lạnh: Màu nóng, màu lạnh (còn được gọi là gam nóng, gam lạnh) là nhìn nhận màu theo cảm giác tâm lý. Ví dụ, trong bảng màu chất liệu, màu đỏ gợi cảm giác nóng nực, màu lam gợi cảm giác mát mẻ. Nóng lạnh về màu cũng chỉ là tương đối. Màu vàng lạnh hơn so với màu đỏ nhưng lại nóng hơn so với màu lục, màu lam; màu tím nóng ấm hơn so với màu chàm... 16
  17. Nói gam nóng, gam lạnh là nói chủ yếu dùng màu nóng hay màu lạnh trong một tác phẩm mỹ thuật (Hội họa, Đồ họa...). 17
  18. 1.3. Một số họa sĩ tiêu biểu của Việt nam 1.3.1. Họa sĩ Trần Văn Cẩn (1910 – 1994) Trần Văn Cẩn sinh ngày 13/8/1910 tại Kiến An, Hải Phòng, mất năm 1994 tại Hà Nội. Ông học khóa VI (1931-1936)Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Trần Văn Cẩn là một trong “bộ tứ” danh họa hàng đầu của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam: “Nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn” (Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân, Trần Văn Cẩn). Cách mạng tháng Tám thành công, Trần Văn Cẩn cùng nhiều họa sĩ khác dựng hàng chục tranh cổ động quanh hồ Hoàn Kiếm. Bức "Nước Việt Nam của người Việt Nam" của Trần Văn Cẩn đã được căng trên toà nhà Địa ốc ngân hàng (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam). Năm 1946, triển lãm mỹ thuật toàn quốc lần đầu tiên dưới chế độ mới được mở tại Hà Nội. Bức "Xuống đồng" của Trần Văn Cẩn đã được trao giải nhất và được 18
  19. Hội Văn hóa Cứu quốc mua, cùng với bức "Bác Hồ làm việc ở Bắc bộ phủ" của Tô Ngọc Vân và "Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh" của Nguyễn Đỗ Cung. Tháng 7/1948, tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc, Trần Văn Cẩn được bầu vào Ban thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam. Tháng 6/1954, Trần Văn Cẩn đảm nhiệm Hiệu trưởng trường Mỹ thuật Việt Nam ( thay hoạ sĩ Tô Ngọc Vân đã mất 1954), và giữ cương vị này trong 15 năm (1954 -1969). Với những đóng góp to lớn, Trần Văn Cẩn đã được trao nhiều huân chương cao quý, trong đó có Huân chương Lao động hạng nhất. Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996). Năm 2010, một con phố thuộc khu đô thị Mỹ Đình, huyện Từ Liêm, Hà Nội được đặt tên Trần Văn Cẩn . Gội đầu (khắc gỗ màu của Trần Văn Cẩn) 19
  20. Em Thúy (sơn dầu của Trần Văn Cẩn) 1.3.2. Họa sĩ Nguyễn Phan Chánh (1892 – 1984) 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản