intTypePromotion=3

Giáo trình Nguyên lý thống kê - ThS. Đinh Thái Hà

Chia sẻ: Nguyen AAA | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:53

0
147
lượt xem
33
download

Giáo trình Nguyên lý thống kê - ThS. Đinh Thái Hà

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nhằm kịp thời đáp ứng yêu cầu đào tạo đối tượng trung học Dân số - Y tế, một mã ngành mới có ở Việt Nam. Đồng thời phù hợp với điều kiện hiện nay và những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình. "Giáo trình Nguyên lý thống kê" đã được biên soạn làm tài liệu học tập cho các lớp đào tạo về Dân số - Y tế. Giáo trình gồm có các nội dung cơ bản sau: Nhập môn thống kê, thu thập dữ liệu thống kê, mô tả dữ liệu bằng đặc trưng đo lường, tóm tắt và trình bày dữ liệu thống kê, phương pháp phân tích dãy số thời gian, phương pháp hồi quy và tương quan. Mời các bạn tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Nguyên lý thống kê - ThS. Đinh Thái Hà

  1. Tr­êng cao ®¼ng y tÕ hµ ®«ng Gi¸o tr×nh NGUY£N Lý ThèNG K£ Tµi liÖu ®µo t¹o trung cÊp d©n sè y tÕ Hµ Néi - N¨m 2011
  2. Danh môc ch÷ viÕt t¾t DS : D©n sè DS - KHHG§ : D©n sè - KÕ ho¹ch ho¸ gia ®×nh KHH : KÕ ho¹ch ho¸ KHHG§ : KÕ ho¹ch ho¸ gia ®×nh THCS : Trung häc c¬ së THPT : Trung häc phæ th«ng KT - XH : Kinh tÕ x· héi SKSS : Søc khoÎ sinh s¶n
  3. LỜI NÓI ĐẦU Ngày nay, thống kê được coi là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, có vai trò cung cấp các thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời phục vụ các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế ho ạch, chiến lược và chính sách phát triển kinh tế - xã hội ngắn hạn và dài hạn, trong phạm vi một lĩnh vực hay toàn bộ nền kinh tế, trong phạm vi một xã hay quốc gia . Đồng thời, các con số thống kê cũng là n hững cơ sở quan trọng nhất để kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện các kế hoạch, chiến lược và các chính sách đó. Trên giác độ quản lý vi mô, thống kê không những có vai trò đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, mà cò n phải xây dựng, cung cấp các phương pháp phân tích đánh giá về mặt lượng các hoạt động kinh tế - xã hội của các tổ chức, đơn vị. Nhằm kịp thời đáp ứng yêu cầu đào tạo đối tượng trung học Dân số - Y tế, một mã ngành mới có ở Việt Nam. Đồng thời phù hợp với điều kiện hiện nay và những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình. Chúng tôi đã tiến hành biên soạn cuốn sách này làm tài liệu học tập cho các lớp đào tạo trung học Dân số - Y tế. Giáo trình được biên soạn theo Chương trình môn học Nguyên lý thống kê đã được phê duyệt. Cuốn sách gồm 6 bài: Bài 1: Nhập môn thống kê Bài 2: Thu thập dữ liệu thống kê Bài 3: Mô tả dữ liệu bằng đặc trưng đo lường Bài 4: Tóm tắt và trình bày dữ liệu thống kê Bài 5: Phương pháp phân tích dãy số thời gian Bài 6: Phương pháp hồi quy và tương quan Xin chân thành cám ơn các cán bộ, chuyên gia của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Quỹ dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam đã có những ý kiến quý báu giúp chúng tôi hoàn thiện giáo trình này. Đây là giáo trình biên soạn lần đầu tiên dành riêng cho đối tượng trung học Dân số - Y tế, vì vậy không tránh khỏi những thiếu s ót, tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học, nhà quản lý và đông đảo bạn đọc. Thạc sỹ Đinh Thái Hà
  4. MỤC LỤC TT Tên bài học Trang 1 Nhập môn thống kê 1 2 Thu thập dữ liệu thống kê 13 3 Mô tả dữ liệu bằng đặc trưng đo lường 21 4 Tóm tắt và trình bày dữ liệu thống kê 27 5 Phương pháp phân tích dãy số thời gian 36 6 Phương pháp hồi quy và tương quan 43
  5. Bài 1. NHẬP MÔN THỐNG KÊ Mục tiêu 1. Trình bày được tổng quan về thống kê 2. Nêu được đối tượng nghiên cứu của thống kê học 3. Nêu được các khái niệm cơ bản của thống kê học ________________ 1. Sơ lược sự phát triển của khoa học thống kê 1.1. Lịch sử phát triển của thống kê Thống kê ra đời, phát triển từ nhu cầu thực tiễn của xã hội loài người và là một trong những môn khoa học xã hội có lịch sử phát triển lâu dài nhất. Đó là một quá trình phát triển không ngừng từ đơn giản đến phức tạp, được đúc rút dần thành lý luận khoa học và ngày nay đã trở thành một môn khoa học độc lập. Ngay từ thời cổ đại, con người đã biết chú ý tới việc đăng ký, ghi chép và tính toán số người trong bộ tộ c, số súc vật, số người có thể huy động phục vụ các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc, số người được tham gia ăn chia , phân phối của cải thu được... Những hoạt động này xuất hiện rất sớm ở Trung Quốc từ thế kỷ XXIII trước công nguyên. Vào thời La Mã cổ đại cũng diễn ra sự ghi chép, tính toán những người dân tự do, số nô lệ và của cải.. . Mặc dù việc ghi chép còn rất giản đơn với phạm vi hẹp, nhưng đó chính là những cơ sở thực tiễn ban đầu của thống kê. Cùng với sự phát triển của xã hội, hàng hóa trong nước c ũng như trên thị trường thế giới ngày càng tăng lên, điều này đ òi hỏi phải có các thông tin thống kê. Phạm vi hoạt động của thống kê ngày càng mở rộng, dẫn đến sự hoàn thiện của các phương pháp thu thập, xử lý và phân tích thống kê. Trong thực tế, c ác hoạt động đa dạng của thống kê được thể hiện nhờ vào sự tích hợp nhiều nguyên lý, từ đó khoa học thống kê được hình thành. Nhiều nhận định cho rằng: Nền tảng của khoa học thống kê được xây dựng bởi nhà kinh tế học Wiliam Petty (1623- 1687). Từ các tác phẩm “Số học chính trị”, “Sự khác biệt về tiền tệ” và mộ t số tác phẩm khác nữa, Kar Mark đã gọi Petty là người sáng lập ra môn Thống kê học. Petty đã thành lập một hướng nghiên cứu khoa học gắn với “Số học chính trị”. 1
  6. Một hướng nghiên cứu cơ bản khác cũng làm khoa học thống kê phát triển đó là hướng nghiên cứu của nhà khoa học G. Conbring (1606 – 1681), ông đã xử lý, phân tích hệ thống mô tả chế độ Nhà nước. Môn sinh của ông , giáo sư luật và triết học G. Achenwall (1719 – 1772) đã dạy môn học mới với tên là “Statistics” lần đầu tiên ở trường Tổng hợp Marburs (1746) . Nội dung chính của khóa học này là mô tả tình hình chính trị và những sự kiện đáng ghi nhớ của Nhà nước. Số liệu về Nhà nước được tìm t hấy trong các tác phẩm của M.B. Lomonosov (1711 – 1765), trong đó các vấn đề đưa ra xem xét là dân số, tài nguyên thiên nhiên, tài chính, của cải hàng hóa. . . được minh họa bằng các số liệu thống kê. Hướng phát triển này của thống kê được gọi là thống kê mô tả. Giáo sư trường Đại học Tổng hợp Gettingen, A. Sliser (1736 – 1809) cho rằng, thống kê không chỉ mô tả chế độ chính trị Nhà nước, mà còn là toàn bộ xã hội. Sự phát triển tiếp theo của thống kê được vun đắp bởi nhiều nhà khoa học. Trong đó, đáng quan tâm là nhà thống kê học A. Ketle ( 1796 – 1874) đã đóng góp một công trình đáng giá về lý thuyết ổn định của các chỉ số thống kê. Xu hướng toán học trong thống kê được phát triển trong công trình nghiên cứu của Fra ncis Galton (1822 – 1911), K. Pearson (1857 – 1936), V.S.Gosset (biệt hiệu Student, 1876 – 1937), R.A.Fisher (1890 – 1962), M.Mitrel (1874 – 1948) và một số nhà toán học khác nữa . F. Galton đi tiên phong ở nước Anh về Thống kê học, ông đưa ra khái niệm mở đầu về hệ thống tương hỗ cách thăm dò thống kê để xác định hiệu quả của việc cầu kinh. Ông đã cùng K. Pearson thành lập Tạp chí Sinh trắc (Biometrika). Kế tục công trình của Galton, K.Pearson , một trong những người sáng lập ra ngành Toán học Thống kê hiện đại, đã nghiên cứu các mẫu, đưa ra những hệ số mà ngày nay gọi là hệ số Pearson. Ông nghiên cứu lý thuyết tiến hoá theo mô hình Thống kê toán. Còn nhà toán học V. Gosset, dưới danh hiệu Student, đã đưa ra lý thuyết chọn mẫu nhỏ để rút ra kết luận xác đáng nhất từ hiện tượng nghiên cứu. R. Fisher đã có công phân chia các phươ ng pháp phân tích số lượng, phát triển các phương pháp thống kê để so sánh những trung bình của hai mẫu, từ đó xác định sự khác biệt của chúng có ý nghĩa thống kê hay không. M. Mitrel đã đóng góp ý tưởng “Phong vũ biểu kinh tế”. Như vậy, đại diện cho khuynh hướng này là cơ sở Lý thuyết xác suất t hống kê. Đó là một trong các ngành toán ứng dụng. Góp phần quan trọng cho sự phát triển của thống kê học là các nhà khoa học thực nghiệm. Ở thế kỷ XVII, trong công trình khoa học của I.C. Kirilov (1689 – 1737) và V. N. Tatisev (1686 – 1750) thống kê chỉ đư ợc luận giải chủ yếu như một ngành khoa học mô tả. Nhưng sau đó, vào nữa đầu thế kỷ XIX, khoa học thống kê đã chuyển thành ý nghĩa nhận thức. V.S. Porosin (1809 - 1868) trong tác phẩm “Nghiên cứu nhận xét về nguyên lý thống kê” đã nhấn mạnh: “Khoa học thống kê không chỉ giới hạn ở việc mô tả”. Còn I.I. Srezenev (1812 – 1880) trong quyển 2
  7. “Kinh nghiệm về đối tượng, các đơn vị thống kê và kinh tế chính trị” đã nói rằng: Thống kê trong rất nhiều trường hợp ngẫu nhiên đã phát hiện ra “Những tiêu chuẩn hoá”. Nhà thống kê D.P. Jurav (1810 – 1856) trong nghiên cứu “Về nguồn gốc và ứng dụng của số liệu thống kê” đã cho rằng: “Thống kê là môn khoa học về các tiêu chuẩn của việc tính toán”. Trong nghiên cứu của giáo sư trường Đại học Bách khoa Peterbur , A.A.Truprov (1874 – 1926), thống kê được xem như phương pháp nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và xã hội số lớn. Giáo sư I.U.E. Anson (1835 – 1839), trường Đại học Tổng hợp Peterbur, trong quyển “Lý thuyết thống kê” đã gọi thống kê là môn khoa học xã hội. Đi theo quan đ iểm này có nhà kinh tế học nổi tiếng A.I. Trurov (1842 –1908) trong tác phẩm “Thống kê học” đã nhấn mạnh: “Cần nghiên cứu thống kê với qui mô lớn nhờ vào phương pháp điều tra dữ liệu với đầy đủ số lượng và yếu tố cần thiết để từ đó có thể miêu tả các hiện tượng xã hội, tìm ra quy luật và các nguyên nhân ảnh hưởng”. Còn nghiên cứu của nhà bác học A.A. Caufman (1874 – 1919) đã nêu lên quan điểm về thống kê như là “Nghệ thuật đo lường các hiện tượng chính trị và xã hội”. Ngày nay, thống kê được coi là một tron g những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, có vai trò cung cấp các thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời phục vụ các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạc h phát triển kinh tế - xã hội ngắn hạn và dài hạn. Đồng thời, các con số thống kê cũng là những cơ sở quan trọng nhất để kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện các kế hoạch, chiến lược và các chính sách đó. Trên giác độ quản lý vi mô, thống kê không những có vai trò đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, mà còn phải xây dựng, cung cấp các phương pháp phân tích đánh giá về mặt lượng các hoạt động kinh tế - xã hội của các tổ chức, đơn vị. Kể từ khi ra đời, thống kê ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Thông qua việc phát hiện, phản ánh những quy luật về lượng của hiện tượng, các con số thống kê giúp cho việc kiểm tra, giám sát, đánh giá các chương trình, kế hoạch và định hướng sự phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai. Thống kê là một môn khoa học, ra đời và phát triển nhờ vào sự tích lũy kiến thức của nhân loại, rút ra được từ kinh nghiệm nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn, cho phép con người sử dụng để quản lý xã hội. Trên thực tế, để có thông tin chính xác, đầy đủ cho lập kế hoạch về công tác DS-KHHGĐ thì cán bộ dân số cần được trang bị tốt kiến thức thống kê, bao gồm Nguyên lý thống kê – môn cơ sở để nghiên cứu thống kê kinh tế xã hội và Thống kê chuyên ngành – môn học các phương pháp thống kê chuyên ngành 3
  8. 1.2. Khái niệm thống kê Trong công tác, cũng như trong đời sống hàng ngày chúng ta thường gặp thuật ngữ “Thống kê”. Thuật ngữ này có thể hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất: Thống kê là số liệu được thu thập để phản ánh các hiện tượng kinh tế- xã hội, tự nhiên, kỹ thuật. Ví dụ: D ân số của một địa phương tại một thời điểm nào đó; số trẻ em sinh ra trong năm của một tỉnh A. Thứ hai: Thống kê là hệ thống các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội, tự nhiên kỹ thuật. Ví dụ: Th eo Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009, Tổng tỷ suất sinh của Việt Nam là 2,03 con/phụ nữ . Thực ra khi hỏi thống kê là gì, có nhiều cách trả lời, ví dụ trả lời như sau có thể khó bắt bẻ “Thống kê là công việc mà các nhà thống kê làm”. Công việc của nhà thống kê gồm rất nhiều hoạt động trên một phạm vi rộng, có thể tóm tắt thành các mục lớn như sau: - Thu thập và xử lý số liệu. - Điều tra thống kế chọn mẫu. - Nghiên cứu mối liên hệ giữa các hiện tượng - Dự đoán (dự báo) . - Nghiên cứu các hiện tượng trong hoàn cảnh không chắc chắn - Ra quyết định trong điều kiện không chắc chắc. Một cách tổng quát, Thống kê có thể định nghĩa như sau: Thống kê là hệ thống các phương pháp dùng để thu thập, xử lý và p hân tích các con số (mặt lượng) của hiện tượng số lớn nhằm tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong điều kiện thời gian v à không gian cụ thể. Mỗi sự vật hiện tượng đều có hai mặt ch ất và lượng không tách rời nhau. K hi nghiên cứu một hiện tượng, điều ai cũng muốn biết là bản chất c ủa hiện tượng. Nhưng mặt chất thường ẩn bên trong còn mặt lượng biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng các đại lượng ngẫu nhiên. Do đó phải thông qua các phương pháp thu thập, xử lý và phân tích thích hợp trên mặt lượng của số lớn đơn vị cấu thành hiện tượng, tá c động của các yếu tố ngẫu nhiên mới được bù trừ và triệt tiêu, bản chất của hiện tượng mới bộc lộ ra và ta có thể nêu rõ bản chất, quy luật vận động. Thống kê chia thành hai lĩnh vực Thống kê mô tả: Gồm các phương pháp thu thập số liệu, mô tả và trình bày số liệu, tính toán các đặc trựng đo lường. 4
  9. Thống kê suy diễn: Gồm các phương pháp như ước lượng, kiểm định, phân tích mối liên hệ, dự đoán.. trên cơ sở các thông tin thu thập từ mẫu. Trong kinh tế- xã hội, thống kê quan tâm nghiên cứu các hiện tượng: - Các hiện tượng về nguồn tài nguyên, môi trường, của cải tích lũy. - Các hiện tượng về sản xuất, phân phối, lưu thông, tiêu dùng sản phẩm - Các hiện tượng về dân số, nguồn lao động - Các hiện tượng về đời sống vật chất, văn hóa của dân cư - Các hiện tượng về sinh hoạt chính trị xã hội. 2. Đối tượng nghiên cứu của thống kê học Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của thống kê học cho thấy: thống kê học là một môn khoa học xã hội. Tuy nhiên, khác với các môn khoa học xã hội khác, thống kê học không trực tiếp nghiên cứu mặt chất của hiện tượng, mà chỉ phản ánh bản chất, tính quy luật của hiện tượng thông qua các con số, các biểu hiện về lượng của hiện tượng. Điều đó có nghĩa là thống kê học phải sử dụng các con số về quy mô, kết cấu, quan hệ tỷ lệ, quan h ệ so sánh, trình độ phát triển, trình độ phổ biến... của hiện tượng để phản ánh, biểu thị bản chất, tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Như vậy, các con số thống kê không phải chung chung, trừu tượng, mà bao giờ cũng chứa đựng một nội dung kinh tế, chính trị, xã hội nhất định, giúp ta nhận thức được bản chất và quy luật của hiện tượng nghiên cứu. Theo quan điểm của triết học, chất và lượng là hai mặt không thể tách rời của mọi sự vật, hiện tượng, giữa chúng luôn tồn tại mối liên hệ biện chứng với nhau. Trong mối quan hệ đó, sự thay đổi về lượng quyết định sự biến đổi về chất. Quy luật lượng - chất của triết học đã chỉ rõ: mỗi lượng cụ thể đều gắn với một chất nhất định, khi lượng thay đổi và tích lũy đến một chừng mực nhất định thì chất thay đổi theo. Vì vậy, nghiên cứu mặt lượng của hiện tượng sẽ giúp cho việc nhận thức bản chất của hiện tượng. Ví dụ: Có thể đánh giá công tác dân số của một huyện qua các con số thống kê về số dân, mức sinh, tỷ lệ tăng dân số ... Tuy nhiên, để có thể phản ánh được bản chất và quy luật phát triển của hiện tượng, các con số thống kê phải được tập hợp, thu thập trên một số lớn các hiện tượng cá biệt. Thống kê học coi tổng thể các hiện tượng cá biệt như một thể hoàn chỉnh và lấy đó làm đ ối tượng nghiên cứu. Mặt lượng của hiện tượng cá biệt thường chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó có cả những yếu tố tất nhi ên và ngẫu nhiên. Mức độ và chiều hướng tác động của từng yếu tố này trên mỗi hiện tượng cá biệt rất khác nhau. Nếu chỉ thu thập số liệu trên một số ít hiện tượng thì khó có thể rút ra 5
  10. bản chất chung của hiện tượng, mà nhiều khi người ta chỉ tìm thấy những yếu tố ngẫu nhiên, không bản chất. Ngược lại, khi nghiên cứu trên một số lớn các hiện tượng cá biệt, các yếu tố ngẫu nhiên sẽ bù trừ, triệt tiêu nhau và khi đó, bản chất, quy luật phát triển của hiện tượng mới được bộc lộ rõ. Chẳng hạn, nghiên cứu tình hình sinh đẻ trong một tổng thể dân cư, cho thấy có nhiều cặp vợ chồng sinh toàn con trai, ngược lại cũng có nhiều gia đình chỉ có con gái. Nếu nghiên cứu trên một số ít gia đình, có thể thấy số bé trai được sinh ra nhiều hơn số bé gái hoặc ngược lại. Nhưng khi nghiên cứu trong cả tổng thể dân cư, với một số lớn cặp vợ chồng (trên 10.000 trường hợp), những trường hợp sinh toàn con tr ai sẽ bị bù trừ bởi những cặp sinh toàn con gái. Khi đó, quy luật tự nhiê n: số bé trai và số bé gái xấp xỉ bằng nhau theo tỷ lệ khoảng 103 - 107 bé trai trên 100 bé gái mới được bộc lộ rõ. Hiện tượng số lớn trong thống kê được hiểu là một tập hợp các hiện tượng cá biệt đủ bù trừ, triệt tiêu tác động của các yếu tố ngẫu nhiên. Giữa hiện tượng số lớn (tổng thể) và các hiện tượng cá biệt (đơn vị tổng thể) luôn tồn tại mối quan hệ biện chứng. Muốn nghiên cứu tổng thể, phải dựa trên cơ sở nghiên cứu từng đơn vị tổng thể. Mặt khác, trong quá trình phát triển không ngừng của xã hội, luôn nảy sinh những hiện tượng cá biệt mới, những điển hình tiên tiến hoặc lạc hậu. Sự nghiên cứu các hiện tượng cá biệt này sẽ giúp cho sự nhận thức bản chất của hiện tượng đầy đủ, toà n diện và sâu sắc hơn. Vì vậy trong thống kê, nhất là thống kê kinh tế - xã hội, người ta thường kết hợp nghiên cứu hiện tượng số lớn với việc nghiên cứu hiện tượng cá biệt. Đối tượng nghiên cứu của thống kê học bao giờ cũng tồn tại trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể. Trong điều kiện lịch sử khác nhau, các đặc điểm về chất và biểu hiện về lượng của hiện tượng cũng khác nhau, nhất là với các hiện tượng kinh tế - xã hội. Chẳng hạn, trình độ hiện đại hóa , một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đế n năng suất lao động của người công nhân trong ngành dược, lại rất khác nhau giữa các doanh nghiệp dược. Ngay trong cùng một đơn vị, cũng lại có thể khác nhau giữa các giai đoạn, các thời kỳ,... Thậm chí, giữa các bộ phận trong cùng một đơn vị, nhiều khi c ũng tồn tại những khác biệt đáng kể. Vì vậy, các con số về năng suất lao động của người công nhân trong từng doanh nghiệp dược, từng thời kỳ khác nhau cũng có ý nghĩa khác nhau. Như vậy, khi sử dụng các số liệu thống kê phải luôn gắn nó trong điều kiện thờ i gian, địa điểm cụ thể của hiện tượng mà số liệu phản ánh. Từ các phân tích trên, có thể rút ra kết luận: Đối tượng nghiên cứu của thống kê là mặt lượng trong sự liên hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng số lớn, trong điều kiện thời gian và địa đi ểm cụ thể. 6
  11. Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu trên, thống kê có nhiệm vụ cụ thể sau: - Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê - Thu thập thông tin - Tổng hợp thông tin - Phân tích thống kê - Dự đoán thống kê - Đề xuất ý kiến cho quyết định quản lý 3. Một số k hái niệm thường dùng trong thống kê 3.1. Quy luật số lớn Quy luật số lớn là phạm trù của lý thuyết xác suất, ý nghĩa của quy luật này là tổng hợp sự quan sát số lớn tới mức đầy đủ các sự kiện cá biệt ngẫu nhiên thì tính tất nhiên của hiện tượng sẽ bộc lộ. Quy luật số lớn không giải thích bản chất của hiện tượng kinh tế - xã hội, hiện tượng dân số, nhưng vận dụng quy luật số lớn người ta có thể biểu hiện bản chất cụ thể của hiện tượng kinh tế - xã hội, hiện tượng dân số. Thống kê vận dụng quy luật số lớn để lượng hóa bản chất và quy luật của hiện tượng kinh tế - xã hội thông qua tính quy luật thống kê. Ví dụ: Tỷ số giới tính khi sinh được xác định bằng số bé trai trên 100 bé gái mới sinh ra của một thời kỳ, thường là một năm lịch (12 tháng). Giả sử năm 2011, ta đếm số trẻ em sinh ra tại tỉnh A, như sau: gia đình thứ nhất sinh con trai, gia đình thứ hai sinh con gái, gia đình thứ ba sinh đôi con trai,.. Nếu ta đếm trong phạm vi 300 trường hợp (tương đương số sinh 1 xã trong năm) , số bé trai là 180 cháu và số bé gái là 120 cháu, tỷ số là 150/100. Lý do, số lượng trường hợp sinh được đếm quá nhỏ nên chưa thể hiện bản chất của hiện tượng tỷ số giới sinh khi sinh . Nhưng nếu ta đếm tất cả số sinh của tỉnh A, thì số b é trai là 5.300 cháu và số bé gái là 5.000 cháu, tỷ số là 106/100 . Khi số lượng cá thể được đếm đủ lớn (trường hợp này là trên 10.000 cháu) nên đã thể hiện bản chất của hiện tượng tỷ số giới sinh khi sinh của tỉnh A. 3.2. Tính quy luật thống kê Tính quy luật thống kê là một trong những hình thức biểu hiệ n mối liên hệ chung của các hiện tượng trong tự nhiên và xã hội. Tính quy luật thống kê không phải là tính quy luật của hiện tượng cá biệt mà là kết quả nghiên cứu của thống kê đối với hiện tượng số lớn, trong đó chênh lệch 7
  12. về số lượng ở từng đơn vị cá biệ t mang tính ngẫu nhiên. Về thực chất, tính quy luật của thống kê cũng như các quy luật nói chung phản ánh những mối liên hệ nhân quả tất nhiên. Nhưng các mối liên hệ này thường không có tính chất chung rộng rãi mà phụ thuộc vào phạm vi thời gian và không gian nhất định, tồn tại trong điều kiện phát triển cụ thể của hiện tượng. Tính quy luật thống kê không phải là tác động của một nguyên nhân mà là toàn bộ các nguyên nhân kết hợp với nhau. Đó là biểu hiện tổng hợp của mối liên hệ nhân quả, là đặc trưng của h iện tượng số lớn được tổng hợp lại qua các tổng thể thống kê. Nhìn chung càng mở rộng phạm vi nghiên cứu về thời gian và không gian thì tính quy luật trong thống kê càng thể hiện rõ. Ví dụ: Tiếp theo ví dụ trên, T ỷ số giới tính khi sinh được xác định bằng số bé trai trên 100 bé gái mới sinh ra của một thời kỳ, thường là một năm lịch (12 tháng). Bình thường tỷ số này dao động từ 103 đến 107 và rất ổn định qua thời gian và không gian (quy luật thống kê). 3.3. Tổng thể thống kê Tổng thể là khái niệm để chỉ đố i tượng nghiên cứu cụ thể. Tổng thể thống kê là hiện tượng kinh tế - xã hội số lớn gồm những đơn vị (phần từ, hiện tượng) cá biệt cần được quan sát, phân tích mặt lượng của chúng. Ví dụ: Toàn bộ nhân khẩu của nước ta tại thời điểm ngày 1/4/2009 là một tổng thế thống kê, bao gồm nhiều nhân khẩu với những đặc trưng khác nhau. - Tổng thể có thể phân loại theo cách thể hiện: + Tổng thể bộc lộ là tổng thể gồm các đơn vị cấu thành tổng thể có thể thấy được bằng trực quan (quan sát được). Ví dụ: Số nhân khẩu, số trường đại học y. + Tổng thể tiềm ẩn là tổng thể gồm các đơn vị không thể nhận biết được bằng trực quan (không quan sát được) . Ví dụ: số phụ nữ đang sử dụng một biện pháp tránh thai. - Tổng thể có thể phân loại theo đặc điểm: + Tổng thể đồng chất là tổng thể gồm các đơn vị giống nhau về một số đặc điểm chủ yếu có liên quan đến mục đích nghiên cứu. + Tổng thể không đồng nhất là tổng thể gồm các đơn vị khác nhau về các đặc điểm, các loại hình. - Tổng thể cũng có thể phân loại theo tính chất + Tổng thể chung là tổng thể gồm tất cả đơn vị thuộc phạm vi nghiên cứu. + Tổng thể bộ phận là tổng thể bao gồm chỉ những đơn vị thuộc bộ phận. 8
  13. Định nghĩa tổng thể không những chỉ giới hạn về thực thể (tổng thể là gì ?) mà cần phải giới hạn về thời gian và không gian (tổng thể tồn tại vào thời gian nào? ở đâu?). Định nghĩa tổng thể làm rõ đặc trưng cơ bản chung của hiện tượng kinh tế - xã hội số lớn phù hợp với mục đích nghiên cứu. Thông qua việc phân tích lý luận và thực tiễn phải làm rõ tổng thể đó bao gồm đơn vị cá biệt, các hiện tượng cá biệt là đơn vị tổng thể. Tất cả các đơn vị cá thể thuộc tổng thể chỉ giống nhau một số mặt còn một số mặt khác thì khác nhau. Trong thực tế, phải nêu rõ tổng thể nghiên cứu bao gồm những đơn vị tổng thể nào. Ví dụ: tổng thể những phụ nữ tron g độ tuổi sinh đẻ từ 15 đến 49 tuổi, nó không bao gồm những phụ nữ trên 50 tuổi. Đơn vị tổng thể bao giờ cũng có đơn vị tính toán phù hợp. Xác định đơn vị tổng thể là việc cụ thể hóa tổng thể. Cho nên xác định đơn vị tổng thể cũng quan trọng như xác định t ổng thể. 3.4. Tiêu thức thống kê Nghiên cứu thống kê phải dựa vào các đặc điểm của đơn vị tổng thể. Đơn vị nghiên cứu có nhiều đặc điểm, nên tùy theo mục đích nghiên cứu mà chọn lựa một số đặc điểm. Các đặc điểm này gọi là các tiêu thức. Ví dụ: một người t rong tổng thể nhân khẩu có các tiêu thức: họ và tên, năm sinh, giới tính, trình độ văn hóa, tình trạng hôn nhân, nơi ở, nghề nghiệp... Đơn vị tổng thể được làm rõ đặc trưng của nó qua các tiêu thức: thực thể, thời gian và không gian. - Tiêu thức thực thể: nêu lên bản chất của đơn vị tổng thể. Ví dụ: giới tí nh, năm sinh, trình độ văn hóa, nghề nghiệp. Theo nội dung, tiêu thức thực tế gồm hai loại là thuộc tính và số lượng. + Tiêu thức thuộc tính là tiêu thức không có biểu hiện trực tiếp bằng các con số. Ví d ụ: giới tính, trình độ học vấn. .. Tiêu thức thuộc tính có thể có biểu hiện trực tiếp. Ví dụ; giới tính có biểu hiện trực tiếp là nam và nữ. Tiêu thức thuộc tính có thể biểu hiện gián tiếp. Các biểu hiện gián tiếp của tiêu thức thuộc tính còn gọi là chỉ b áo thống kê. Ví dụ: tiêu thức đời sống vật chất có biểu hiện gián tiếp: lượng tiêu dùng thịt, sữa theo đầu người. + Tiêu thức số lượng là tiêu thức có biểu hiện trực tiếp bằng các con số (gọi là lượng biến). Tiêu thức số lượng còn gọi là tiêu thức lượng hóa. Ví dụ: năng suất lao động có biểu hiện trực tiếp là số sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian 9
  14. của một người công nhân ngành dược. + Tiêu thức thực thể nếu chỉ có hai biểu hiện không trùng nhau trên một đơn vị tổng thể được gọi là tiêu thức tha y phiên. Vi dụ: tiêu thức giới tính (nam, nữ) Tiêu thức thực thể có ba biểu hiện trở lên có thể tr ở thành tiêu thức thay phiên. Ví dụ trình độ văn hóa có thể rút gọn thành hai tiêu thức: biết chữ và mù chữ. Những trường hợp này được tiến hành khi người ta chỉ quan tâm đến một biểu hiện nào đó, xuất hiện hay không xuất hiện trên đơn vị tổng thể. - Tiêu thức thời gian: nêu hiện tượng kinh tế - xã hội xuất hiện vào thời gian nào. Những biểu hiện của tiêu thức thời gian là ngày, tháng, năm. Thời gian có giá trị của các chỉ dẫn về đối tượng nghiên cứu và đơn vị tổng thể, về sự phân phối chúng trong một thời gian cũng như thay đổi từ thời kỳ này đến thời kỳ khác được khẳng định qua tiêu thức thời gian. Ví dụ: theo Tổng điều tra dân số và nhà ở vào 0 giờ ngày 1/4/2009, dân số nước ta là 85,8 triệu người, Nam là 42,2 triệu người , chiếm 49% dân số; Nữ là 43,6 triệu người , chiếm 51%; so với năm 1999 tăng 9,47 triệu người, tức là tăng 1,2%/năm. Như vậy, Tổng dân số nước ta và phân bố theo theo giới tính có gi á trị tại 0 giờ ngày 1/4/2009. Dân số tăng là 9,47 triệu người với tốc độ tăng là 1,2 %/năm có giá trị trong thời kỳ 1999-2009. - Tiêu thức không gian: nêu phạm vi lãnh thổ bao trùm của đơn vị nghiên cứu và sự xuất hiện theo địa điểm của các đơn vị tổng thể. Những biể u hiện của nó chỉ ra nhờ sự phân định về mặt quản lý hành chính hoặc theo điều kiện tự nhiên, vùng kinh tế. Nghiên cứu thống kê theo tiêu thức không gian có ý nghĩa quan trọng, trước hết là gắn với tiêu thức thực tế để quan sát phân phối về mặt lãnh thổ của các đơn vị tổng thể. Ví dụ: người ta không chỉ quan tâm đến số lượng cơ cấu tuổi của người lao động mà còn phải chỉ ra số người lao động này ở đâu. Các tiêu thức góp phần vào việc khẳng định đơn vị tổng thể cũng như tổng thể, vì chúng nêu rõ các mặt và t ính chất nhất định của đơn vị tổng thể. Nhờ đó chúng ta phân biệt đơn vị này với đơn vị khác, tổng thể này với tổng thể kia. 3.5. Chỉ tiêu thống kê Chỉ tiêu thống kê là tiêu chí mà biểu hiện bằng số của nó phản ánh quy mô, tốc độ phát triển, cơ cấu, quan h ệ tỷ lệ của hiện tượng kinh tế - xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể. Mỗi chỉ tiêu thống kê đều gắn với một đơn vị đo lường và phương pháp tính cụ thể. Chỉ tiêu thống kê có hai bộ phận: khái niệm và con số. Ví dụ: [khái niệm] 10
  15. Tổng số nhân khẩu thực tế thường trú [không gian] tại Việt Nam [thời gian] vào thời điểm 0 giờ ngày 1/4/2009 là 85.789.573 [số lượng] người [đơn vị tính] . - Theo nội dung phản ánh, có chỉ tiêu khối lượng và chỉ tiêu chất lượng: + Chỉ tiêu khối lượng phản ánh quy mô , khối lượng của tổng thể. Ví dụ : Tổng số dân số, số nam... + Chỉ tiêu chất lượng phản ánh các đặc điểm về mặt chất, trình độ phổ biến, mối quan hệ tổng thể. Ví dụ: Số bác sĩ trên một vạn dân ,... Tuy nhiên, sự phân biệt giữa hai loại chỉ tiêu trên chỉ có ý nghĩa tương đối. - Theo hình thức biểu hiện, có chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu giá trị: + Chỉ tiêu hiện vật biểu hiện bằng đơn vị tự nhiên. Ví dụ: số lượng máy siêu âm xách tay tính bằng cái, sản lượng lương thực tính bằng tấn,... hoặc đơn vị đo lường quy ước như: vải tính bằng mét, nước mắm tính bằng lít, v.v... + Chỉ tiêu giá trị biểu hiện bằng đơn vị tiền tệ Đồng Việt Nam, ngoài ra còn được tính bằng ngoại tệ như đôla Mỹ, Euro.. Ví dụ: Giá trị sản xuất công nghiệp dược, doanh thu tiêu thụ sản phẩm được t ính bằng Đồng Việt Nam (nghìn đồng, triệu đồng..); kim ngạch xuất, nhập khẩu được tính bằng đôla Mỹ. - Theo đặc điểm về thời gian, có chỉ tiêu thời điểm và chỉ tiêu thời kỳ: + Chỉ tiêu thời điểm phản ánh quy mô của hiện tượng nghiên cứu tại một thời điểm. Vì vậy, quy mô của hiện tượng nghiên cứu không phụ thuộc vào độ dài thời gian nghiên cứu. + Chỉ tiêu thời kỳ phản ánh quy mô của hiện tượng nghiên cứu trong một thời kỳ nhất định. Vì vậy, quy mô của hiện tượng nghiên cứu phụ thuộc vào độ dài thời gian nghiên cứu. Hệ thống chỉ tiêu thống kê là tập hợp những chỉ tiêu thống kê nhằm phản ánh bản chất của lĩnh vực nghiên cứu. Hệ thống chỉ tiêu thống kê do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Trong thống kê kinh tế - xã hội có nhiều lo ại hệ thống chỉ tiêu t hống kê: H ệ thống chỉ tiêu thống kê của từng ngành, từng lĩnh vực và hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia hoặc chung cho nhiều lĩnh vực, ... Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia chung cho nhiều lĩnh vực là hệ thống chỉ tiêu có phạm vi rộng, phản ánh tình hìn h kinh tế - xã hội chủ yếu của đất nước hoặc về các mặt sản xuất vật chất, dịch vụ, đời sống văn hóa, xã hội. _____________________ 11
  16. Bài 2. THU THẬP DỮ LIỆU THỐNG KÊ Mục tiêu 1. Phân biệt được các loại dữ liệu thống kê 2. Nêu được các phương pháp thu thập dữ liệu thống kê 3. Nêu được các bước xây dựng phương án điều tra thống kê 4. Nêu được các điểm chính của sai số trong điều tra thống kê ______________ Quá trình nghiên cứu thống kê các hiện tượng kinh tế - xã hội phải có nhiều dữ liệu. Việc thu thập số liệu đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và chi phí. Cho nên công tác thu thập dữ liệu thống kê cần phải được tiến hành có hệ thống theo một kế hoạch thống nhất để thu thập được dữ liệu đáp ứng mục tiêu và nội dung nghiên cứu với khả năng nhân lực và chi phí trong giới hạn cho phép. 1. Các loại dữ liệu thống kê 1.1. Xác định dữ liệu cần thu thập Chúng ta có khả năng thu thập rất nhiều dữ liệu liên quan đến hiện tượng nghiên cứu. Vấn đề đầu tiên của công việc thu thập dữ liệu là làm rõ những dữ liệu nào cần thu thập? thứ tự ưu tiên của các dữ liệu này. Nếu không thì chúng ta sẽ mất rất nhiều thời gian và tiền bạc cho những dữ liệu không quan trọng hay không liên đến vấm đề đang nghiên cứu. Xác định dữ liệu cần thu thập xuất phát từ vấn đề nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu. Nếu vấn đề nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu càng cụ thể thì việc xác định dữ liệu cần thu thập càng dễ dàng. Việc xác định nội dung điều tra, cần căn cứ vào các yếu tố sau: - Mục đích điều tra: Mục đích điều tra chỉ rõ cần thu thập những thông tin nào để đáp ứng yêu cầu của nó. Mục đích điều tra khác nhau, nhu cầu thông tin cũng khác nhau. Mục đích càng nhiều, nội dung điều tra càng phải rộng, càng phải phong phú. - Đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu: Tất cả những hiện tượng mà thống kê nghiên cứu đều tồn tại trong những điều kiện cụ thể về thời gian v à không gian. Khi điều kiện này thay đổi, đặc điểm của hiện tượng cũng thay đổi. Khi đó, các biểu hiện cũng khác nhau , do vậy việc lựa chọn tiêu thức nghiên cứu cũng phải khác nhau. 12
  17. - Năng lực , trình độ thực tế của đơn vị, của người tổ chức điều tra. Điều này biểu hiện ở khả năng về tài chính, về thời gian, về kinh nghiệm và trình độ tổ chức điều tra. Nếu tất cả các yếu tố này được đảm bảo tốt, có thể mở rộng nội dung điều tra, nhưng vẫn đảm bảo chất lượng của các thông tin thu được. Trường hợp ngược lại, cần kiên quyết loại bỏ những nội dung chưa thực sự cần thiết 1.2. Dữ liệu định tính và dữ liệu định lượng Trước khi thu thập dữ liệu, cần phải phân biệt tính chất của dữ liệu. Có hai loại là dữ liệu định tính và dữ liệu định lượng. Dữ liệu định tính phản ánh tính chất, sự hơn k ém của các đối tượng nghiên cứu . Dữ liệu định lượng phản ánh mức độ hay mức độ hơn kém. Dữ liệu định tính thu thập bằng thang đo định danh hay thứ bậc, dữ liệu định lượng thu thập bằng thang đo khoảng cách hay thang đo tỷ lệ . Dữ liệu định lượng thường cung cấp nhiều thông tin hơn và dễ áp dụng nhiều phương pháp phân tích hơn. Khi thực hiện nghiên cứu, trong giai đoạn lập kế hoạch, người nghiên cứu cần xác định trước các ph ương pháp phân tích cần sử dụng để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của mình, và từ đó xác định loại dữ liệu cần thu thập. 1.3. Dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp Dữ liệu thu thập được nếu chia theo nguồn là dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp là dữ liệu thu thập từ những nguồn số liệu có sẵn, đó chính là những dữ liệu đã qua tổng hợp, xử lý. Dữ liệu sơ cấp là dữ liệu thu thập trực tiếp, ban đầu từ đối tượng nghiên cứu. - Dữ liệu thứ cấp khá đa dạng đối với trạm y tế , có thể sử dụng nguồn sau: + Nội bộ: Các số liệu thống kê, báo cáo về tình hình chăm sóc sức khỏe nhân dân, chương trình dân số- kế hoạch hóa gia đình, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng.. của các nhân viên y tế của trạm y tế. + Cơ quan Thống kê tập trung: C án bộ thống kê của Ủ y ban Nhân dân xã hoặc Chi cục Thống kê cấp huyện cung cấp trong Niên giám thống kê hoặc công bố số liệu chính thức (có tính pháp lý duy nhất) của huyện. Chủ yếu các các dữ liệu tổng quát về dân số, mức sống, lao động.. + Cơ quan chuyên môn: Cung cấp số li ệu thống kê chuyên ngành mang tính chi tiết hơn và đặc thù của ngành. + Báo, tạp chí: Số liệu mang tính thời sự, cập nhật cao, nhưng mức độ tin cậy phụ thuộc vào nguồn số liệu mà bài báo sử dụng. + Các nguồn khác ... - Thu thập dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra khảo sát. Các điều tra khảo sát chia thành nhiều loại. Căn cứ vào tính chất liên tục 13
  18. của điều tra, chia ra điều tra thường xuyên và không thời xuyên. Căn cứ vào phạm vi thu thập thực tế, chia ra thành điều tra toàn bộ h ay không toàn bộ. Điều tra thường xuyên là tiến hành thu thập, ghi chép dữ liệu ban đầu về hiện tượng nghiên cứu một cách có hệ thống theo sát quá trình biến động của hiện tượng. Ví dụ thu thập, ghi chép biến động dân số của một địa phương (sinh, chết, đi, đến). Điều tra không thường xuyên là tiến hành thu thập, ghi chép dữ liệu ban đầu không liên tục, mà chỉ tiến hành thu thập khi có nhu cầu cần nghiên cứu hiện tượng. Ví dụ Tổng điều tra dân số. Các cuộc điều tra không thường xuyên có thể tiến hành theo định kỳ (3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm, 5 năm..) hay không định kỳ. Điều tra toàn bộ là tiến hành thu thập, ghi chép dữ liệu trên tất cả các đơn vị của tổng thể nghiên cứu. Ví dụ: Tổng điều tra dân số. Điều tra toàn bộ cung cấp dữ liệu đầu đủ nhất cho nghiê n cứu thống kê. Nó giúp ta tính toán các chỉ tiêu quy mô, khối lượng một cách khá chính xác. Cho phép nghiên cứu cơ cấu, tình hình biến động, đánh giá thực trạng hiện tượng, dự đoán xu hướng biến động của hiện tượng... Điều tra toàn bộ đòi hỏi chi phí lớn về nhân lực, thời gian và tiền bạc, vì vậy không thể áp dụng cho tất cả các trường hợp nghiên cứu. Điều tra không toàn bộ là tiến hành thu thập, ghi chép dữ liệu trên một số đơn vị được chọn của tổng thể nghiên cứu. Tùy theo cách chọn đơn vị, điều tra khôn g toàn bộ chia ra 3 loại: điều tra chuyên đề, điều tra chọn mẫu và điều tra trọng điểm. Điều tra chuyên đề là tiến hành thu thập dữ liệu trên một số rất ít các đơn vị của tổng thể, nhưng lại đi sâu nghiên cứu nhiều khía cạnh của đơn vị đó. Mục đích là khám phá, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hiện tượng nghiên cứu. Dự liệu của điều tra chuyên đề để phục vụ cho nghiên cứu định tính, không dùng để suy rộng, không dùng để tìm hiểu tình hình cơ bản của hiện tượng, mà chỉ rút ra kết luận về bản thân các đơn vị được điều tra. Kết quả điều tra chuyên đề có thể được sử dụng làm cơ sở để thiết kế cho một điều tra quy mô lớn, mang tính chất định lượng. Điều tra chọn mẫu là tiến hành thu thập dữ liệu trên một số phần tử hoặc đơn vị được lựa chọn từ tổng thể nghiên cứu. Điều tra chọn mẫu được sử dụng nhiều nhất, do tiết kiệm thời gian, chi phí và dữ liệu đáng tin cậy. Dữ liệu điều tra chọn mẫu được sử dụng để suy rộng thành các đặc trưng của tổng thể nghiên cứu. Điều tra trọng điểm là tiến hành thu thập dữ liệu trên bộ phận chủ yếu, tập trung nhất của toàn bộ tổng thể nghiên cứu. Kết quả của điều tra trọng điểm giúp ta nhận biết nhanh tình hình cơ bản của hiện tượng nghiên cứu, mà không dùng để suy rộng thành cách đặc trưng của tổng thể. 14
  19. 2. Các phương pháp thu thập dữ liệu ban đầu 2.1. Thu thập trực tiếp. Quan sát là thu thập dữ liệu bằng cách quan sát các hành động, thái độ của đối tượng khảo sát trong những tình huống nhất định. Ví dụ : Quan sát số lượng và thái độ của khách đến thăm khám tại cơ sở y tế; quan sát thứ tự hành động đi đến các bàn khám của từng khách hàng đến khá m. Phỏng vấn trực tiếp: Người phỏng vấn trực tiếp hỏi đối tượng được điều tra và tự ghi chép dữ liệu vào câu hỏi hay phiếu điều tra. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp phù hợp với những cuộc điều tra phức tạp cần thu thập nhiều dữ liệu. Ưu điểm là thời gian phỏng vấn có thể ngắn hay dài tuỳ thuộc vào số lượng dữ liệu cần thu thập; và nhân viên trực tiếp phỏng vấn có điều kiện để có thể giải thích một cách đầy đủ, cặn kẽ, đặt những câu hỏi chi tiết để khai thác thông tin và kiểm tra dữ liệu trước khi ghi chép vào phiếu điều tra. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp có ưu điểm lớn là dữ liệu được thu thập đầy đủ theo nội dung điều tra và có độ chính xác khá cao, cho nên được áp dụng khá phổ biến trong điều tra thống kê. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi chi phí lớn, nhất là chi phí về nhân lực và thời gian. 2.2. Thu thập gián tiếp. Nhân viên điều tra thu thập tài liệu qua trao đổi bằng điện thoại, hoặc thư gửi qua bưu điện với đơn vị điều tra hoặc qua chứ ng từ, sổ sách có sẵn ở đơn vị điều tra. Ví dụ: trong điều tra hộ gia đình, nhân viên điều tra gặp đại diện hộ gia đình trao phiếu điều tra, giải thích ý nghĩa điều tra, cách trả lời... Đại diện hộ gia đình xác định các dữ liệu cần thiết và tự ghi vào phiế u điều tra, rồi gửi cho nhân viên điều tra. Trong điều tra về biến động dân số của một địa phương, nhân viên điều tra có thể thu thập tài liệu qua sổ sách theo dõi của cơ quan địa phương, nhân viên điều tra có thể thu thập tài liệu qua sổ sách theo dõi của cơ quan địa phương về số sinh, tử, chuyển đi, chuyển đến. Thu thập gián tiếp ít tốn kém hơn thu thập trực tiếp, nhưng chất lượng dữ liệu không cao, nên thườn g chỉ áp dụng trong những trường hợp khó khăn hoặc không có điều kiện thu thập trực tiếp. 3. Xây dựng phương án điều tra thống kê Để thu thập dữ liệu khách quan đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu kịp thời và đầy đủ thì điều tra thống kê cần phải được tổ chức một cách khoa học, thống nhất và chu đáo. Vấn đề cơ bản nhất được đặt ra trước khi tiến hành điều tra thực tế là phải xây dựng được kế hoạch điều tra. 15
  20. Kế hoạch điều tra là một tài liệu dưới dạng văn bản, trong đó đề cập những vấn đề cần giải quyết hoặc cần được hiểu thống nhất, trình tự và phương pháp tiến hành cuộc điều tra, những vấn đề thuộc về chuẩn bị và tổ chức toàn bộ cuộc điều tra. Đối với mỗi cuộc điều tra thống kê cần phải xây dựng kế hoạch điều tra phù hợp. Sau đây là nội dung cơ bản của kế hoạch điều tra . 3.1. Mô tả mục đích điều tra Mục đích điều tra là nội dung quan trọng đầu tiên của kế hoạch điều tra, xác định rõ điều tra để tìm hiểu những khía cạnh nào của hiện tượng, phục vụ yêu cầu nghiên cứu hoặc yêu cầu quản lý nào. Bất kỳ một hiện tượng nào cũng có thể được quan sát, nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau. Nhưng với mỗi cuộc điều tra ta không thể và cũng không cần thiết phải điều tra tất cả các khía cạnh của hiện tượng, mà chỉ cần khảo sát điều tra những khía cạnh phục vụ yêu cầu nghiên cứu cụ thể. Việc xác định mục đích điều tra có tác dụng định hướng cho toàn bộ quá trình điều tra. Nó liên quan đến xác định đối tượng, đơn vị và nội dung điều tra. Muốn xác định mục đích điều tra cần căn cứ vào mục đích toàn bộ quá trình nghiên cứu. 3.2. Xác định đối tư ợng điều tra và đơn vị điều tra Đối tương điều tra: Là tổng thể các đơn vị thuộc hiệ n tượng nghiên cứu có thể cung cấp những dữ liệu cần thiết khi tiến hành điều tra. Xác định đối tượng điều tra có nghĩa là quy định rõ phạm vi của hiện tượng nghiên cứu, vạch rõ ranh giới của hiện tượng ngiên cứu với hiện tượng khác, giúp ta xác định đúng đắn số đơn vị cần điều tra thực tế. Xác định chính xác đối tượng điều tra giúp tránh được nhầm lẫn khi thu thập dữ liệu, làm cho dữ liệu thu thập và tổng hợp phản ánh đúng hiện tượng cần nghiên cứu. Khi xác định đối tượng điều tra phải căn cứ mục đích điều tra, đồng thời phải định nghĩa những tiêu chuẩn phân biệt rõ ràng, vì nhiều khi biểu hiện bên ngoài của hiện tượng giống nhau, nhưng thực chất lại khác nhau. Ví dụ: Tổng điều tra dân số, đối tượng điều tra được xác định là “Nhân khẩu thường trú” trên lãnh thổ Việt Nam. Để phân biệt “nhân khẩu thường trú” với “nhân khẩu tạm trú” và với “nhân khẩu có mặt”, tránh đăng ký trùng lặp hay bỏ sót, kế hoạch điều tra đã nêu ra những tiêu chuẩn cụ thể để xác định thế nào là nhân khẩu thường trú. Đơn vị điều tra: là đơn vị thuộc đối tượng điều tra và được xác định sẽ điều tra thực tế. Trong điều tra toàn bộ thì số đơn vị điều tra chính là số đơn vị thuộc đối tượng điều tra. Trong điều tra không toàn bộ thì số đơn vị điều tra là những đơn vị được chọn ra trong số đơn vị của đối tượng điều tra. 16

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản