intTypePromotion=1
ADSENSE

Giáo trình Quản trị tri thức: Phần 1 - PGS.TS. Đỗ Thị Ngọc

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:221

25
lượt xem
5
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo trình Quản trị tri thức: Phần 1 cung cấp cho người học những kiến thức như: Những vấn đề cơ bản về quản trị tri thức; quản trị tri thức trong doanh nghiệp; công cụ và kỹ thuật quản trị tri thức. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Quản trị tri thức: Phần 1 - PGS.TS. Đỗ Thị Ngọc

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI PGS.TS. Đỗ Thị Ngọc (Chủ biên) GIÁO TRÌNH QUẢN TRỊ TRI THỨC NHÀ XUẤT BẢN HÀ NỘI - 2020 1
  2. 2
  3. DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ 1. Danh mục các bảng TT Tên gọi và nội dung Trang Bảng 1.1 Phân loại tri thức 23 Bảng 1.2 So sánh các loại tri thức 29 Bảng 2.1 Tổng hợp lý thuyết về chu trình QTTT 97 Bảng 2.2 Vai trò của lao động tri thức 138 Bảng 3.1 Các công cụ, kỹ thuật QTTT chủ yếu 177 Bảng 3.2 Một số ví dụ về lọc thông tin 218 So sánh 3 cách tiếp cận triển khai hệ 232 Bảng 4.1 thống quản trị tri thức của tổ chức So sánh tiếp cận quản lý truyền thống và 236 Bảng 4.2 hệ thống quản trị tri thức Bảng 4.3 So sánh người dùng và các chuyên gia 241 Tổng hợp các bước triển khai theo ý 246 Bảng 4.4 kiến các chuyên gia Bảng 4.5 Chu trình phát triển hệ thống QTTT 249 Các hoạt động nắm bắt tri thức trong 263 Bảng 4.6 chu trình triển khai hệ thống Quản trị tri thức Các lớp của hạ tầng hệ thống quản trị 266 Bảng 4.7 tri thức Các yếu tố kiểm tra tính logic 287 Bảng 5.1 trong QTTT Bảng 5.2 Các loại tài sản vô hình của tổ chức 306 3
  4. Tên miền tiêu chí đánh giá hiệu quả 321 Bảng 5.3 QTTT Bảng 6.1 Các loại rủi ro trong quản trị tri thức 346 Các loại rủi ro trong cơ sở dữ liệu 350 Bảng 6.2 điện tử Lựa chọn bảo mật và kiểm soát 364 Bảng 6.3 trong môi trường QTTT 2. Danh mục các hình TT Tên gọi và nội dung Trang Hình 1.1 Dữ liệu, thông tin và tri thức 20 Hình 1.2 Tổng quan về tri thức ẩn và tri thức hiện 25 Hình 1.3 Các cấp tài sản trí tuệ trong tổ chức 37 Hình 1.4 Tổ chức tri thức 43 Hình 1.5 Tổ chức tri thức lý tưởng 44 Hình 1.6 Sự đan xen của các yếu tố con người, 50 công nghệ và quá trình của Quản trị tri thức Hình 1.7 Tóm tắt các thời kỳ quản trị tri thức 57 Hình 1.8 Tóm tắt ba thành phần chính của quản trị 65 tri thức Hình 1.9 Tính chất đa ngành của quản trị tri thức 77 Hình 2.1 Chu trình QTTT tích hợp 98 Hình 2.2 Chu trình QTTT trong tổ chức 99 Hình 2.3 Chu trình quản trị tri thức của APO 101 Hình 2.4 Mô hình sáng tạo tri thức - SECI 105 của Nonaka 4
  5. Hình 2.5 Mô hình phát triển và sáng tạo tri thức 107 dạng xoắn ốc Hình 2.6 Các cộng đồng đại diện mạng tri thức nội 111 bộ của doanh nghiệp Hình 2.7 Lưu trữ tri thức trong doanh nghiệp 115 Hình 2.8 Nguồn và đối tượng chia sẻ tri thức trong 119 doanh nghiệp Hình 2.9 Các loại công việc tri thức 134 Hình Mô hình điều chỉnh công việc đối với lao 156 2.10 động tri thức Hình 3.1 Các công cụ và kỹ thuật trong chu trình 176 QTTT tích hợp Hình 3.2 Không gian làm việc vật lý 179 Hình 3.3 Ví dụ về không gian họp mở 180 Hình 3.4 Ví dụ về không gian họp brainstorming 213 Hình 4.1 Mô hình Quản trị tri thức theo cách tiếp 224 cận từ trên xuống Hình 4.2 Mô hình quản trị tri thức cá nhân 227 Hình 4.3 Quá trình xử lý mẫu nhanh 239 Hình 4.4 So sánh chu trình triển khai hệ thống 240 thông tin thông thường và hệ thống QTTT Hình 4.5 Quan điểm tiếp cận dựa trên tính toán 253 thuật toán và quan điểm giải quyết các vấn đề Hình 4.6 Tương thích giữa chiến lược QTTT với 260 chiến lược kinh doanh Hình 5.1 Mô hình QTTT trưởng thành 291 5
  6. Hình 5.2 Mối liên hệ giữa BSC và QTTT 300 Hình 5.3 Chuyển từ thời đại công nghiệp sang thời 303 đại tri thức Hình 5.4 Tám yếu tố đo lường chủ yếu của QTTT 314 Hình 6.1 Quan hệ giữa nguyên tắc, khuôn khổ và quá 342 trình quản lý rủi ro Hình 6.2 Vòng xoáy mất dần độ tin cậy của cơ sở 352 tri thức Hình 6.3 Quy trình kiểm soát, phòng ngừa rủi ro 358 trong QTTT Hình 7.1 Mô hình phát triển chiến lược quản trị 400 tri thức 6
  7. LỜI GIỚI THIỆU Tri thức ngày càng được coi là một trong những tài sản cốt lõi có giá trị gắn liền với sản phẩm và với tri thức ẩn của các nhân viên tri thức. Mặc dù tri thức ngày càng được coi là hàng hoá hoặc tài sản trí tuệ nhưng nó cũng có một số đặc điểm khác hẳn so với các sản phẩm có giá trị khác. Những đặc điểm tri thức này bao gồm: (1) Sử dụng tri thức chứ không tiêu thụ tri thức; (2) Chuyển giao tri thức mà không mất tri thức; (3) Tri thức rất phong phú, nhưng khả năng ứng dụng tri thức rất hạn chế; và (4) Phần lớn tri thức có giá trị của một tổ chức đi ra ngoài vào cuối ngày. Sự ra đời của Internet và mạng toàn cầu (World Wide Web) đã tạo ra những nguồn tri thức không giới hạn cho tất cả chúng ta. Sự phát triển của thời đại tri thức đã được bắt đầu từ cuối thời kỳ cách mạng công nghiệp. Khi sản xuất hướng tới lao động chân tay với nguồn lao động tương đối rẻ, trình độ tay nghề không cao và quản trị theo cấp bậc đã tạo ra những khó khăn trong việc cải tiến năng suất và hiệu quả. Ngày nay với số lượng lao động ít hơn nhưng đã hoàn thành khối lượng công việc lớn hơn, đạt hiệu quả cao hơn cho tổ chức nhờ ứng dụng tri thức một cách hiệu quả hơn. Sự phân cấp thứ bậc trong tổ chức đã dần được thay thế bởi mô hình cơ cấu tổ chức thông minh, linh hoạt, dựa trên sự hợp tác, chia sẻ để hoàn thành các công việc tri thức như phương thức quản trị dựa trên chức năng chéo, mô hình 7
  8. thông minh… Lợi thế cạnh tranh bền vững của một tổ chức đã được duy trì nhờ việc nắm bắt và ứng dụng ứng dụng tri thức mới một cách hiệu quả thông qua sự hợp tác, chia sẻ trong toàn bộ tổ chức. Một tổ chức trong thời đại tri thức là một tổ chức học tập, thúc đẩy dòng tri thức thông suốt, đồng thời khai thác, ứng dụng tốt nguồn thông tin, tri thức cũng như bí quyết sẵn có một cách tốt nhất. Quản trị tri thức (QTTT) ban đầu được định nghĩa là quá trình áp dụng cách tiếp cận có hệ thống trong việc nắm bắt, cấu trúc, quản trị và phổ biến tri thức trong toàn tổ chức để làm việc nhanh hơn, tái sử dụng các phương pháp hay nhất và giảm bớt chi phí cho hoạt động. Các giải pháp quản trị tri thức đã chứng minh là thành công nhất trong việc thu thập, lưu trữ và phổ biến tri thức, đặc biệt là các bài học kinh nghiệm và thực tiễn tốt nhất cũng như những bí quyết trong thực hiện quá trình ra quyết định của tổ chức. Trọng tâm của các tổ chức đang chuyển từ quản trị các giá trị vật chất sang những nỗ lực quản trị các nguồn vốn trí tuệ, xây dựng và duy trì văn hóa quản trị sao cho có thể khai thác có hiệu quả nguồn lực con người để đổi mới, sáng tạo, hợp tác, chia sẻ, đồng thời biến tri thức cá nhân thành tri thức của tổ chức và xây dựng tổ chức học tập để đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững. Để cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản nhất và những kỹ năng cần thiết về quản trị tri thức, một trong những xu hướng quản trị mới của các tổ chức, làm hành trang cho quá trình hoạt động thực tiễn tại doanh nghiệp sau khi ra trường, đồng thời phục vụ cho việc cung cấp học liệu cần thiết cho học phần Quản trị 8
  9. tri thức hiện đang được giảng dạy trong trường Đại học Thương mại, cũng như để phục vụ các nhà khoa học và bạn đọc quan tâm, bộ môn Quản trị chất lượng - Khoa Marketing tiến hành biên soạn cuốn Giáo trình Quản trị tri thức này. Việc phân công biên soạn giáo trình này như sau: Chủ biên: PGS.TS Đỗ Thị Ngọc; Biên soạn chương 1: PGS.TS Đỗ Thị Ngọc và ThS. Đặng Thu Hương; Chương 2: ThS. Trần Thị Thanh Mai, ThS. Nguyễn Thị Khánh Quỳnh; Chương 3: PGS.TS Đỗ Thị Ngọc và ThS. Trần Phương Mai; Chương 4: ThS. Nguyễn Thị Khánh Quỳnh và ThS. Trần Thị Thanh Mai; Chương 5, Chương 6, Chương 7: PGS.TS Đỗ Thị Ngọc có sự tham gia góp ý của toàn thể các giảng viên trong bộ môn. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn Quản trị chất lượng đã tham gia trực tiếp biên dịch tài liệu, trực tiếp tham gia biên soạn, góp ý kiến chỉnh sửa để giáo trình được hoàn thiện; Chân thành cảm ơn các thành viên của Hội đồng Thẩm định giáo trình đã đọc, đóng góp những ý kiến quý báu và xác đáng để chúng tôi chỉnh sửa và hoàn thiện giáo trình; Cảm ơn các chuyên gia, các cán bộ hoạt động thực tiễn tại doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và quốc gia đã tổ chức các khóa đào tạo thường xuyên về QTTT để chúng tôi có cơ hội học tập, nghiên cứu, được cung cấp nguồn tài liệu quý báu phục vụ giảng dạy và là tư liệu cho việc hoàn thành kế hoạch viết giáo trình này. Chúng tôi cũng thấy rằng, với lần đầu tiên biên soạn giáo trình này không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được những ý kiến đóng góp về 9
  10. chuyên môn, về hình thức trình bày, về kết cấu để giáo trình được cải tiến và hoàn thiện. Mọi ý kiến đóng góp xin gửi cho PGS.TS Đỗ Thị Ngọc (chủ biên). Điện thoại: 0913.064.219 - Email: ngocdt@tmu.edu.vn Xin trân trọng cảm ơn! 10
  11. CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC TÓM TẮT NỘI DUNG CHƯƠNG 1 Bối cảnh kinh doanh đang thay đổi nhanh chóng. Môi trường cạnh tranh gay gắt với những biến động khôn lường. Sự tồn tại và thành công của một tổ chức phụ thuộc vào khả năng của tổ chức có thể thích ứng với sự biến động của môi trường kinh doanh. Những thay đổi về công nghệ thông tin (IT) đã tạo ra những lỗ hổng về việc thiết lập và kiểm soát thông tin và tri thức. Làm thế nào chúng ta có thể áp dụng tri thức để tạo ra giá trị gia tăng và lợi thế cạnh tranh? Làm thế nào để chúng ta chuyển thông tin thành tri thức? Làm thế nào để chúng ta sử dụng công nghệ để biến những thách thức thành cơ hội? Quản trị tri thức là giải pháp để tái cấu trúc khả năng công nghệ của tổ chức nhờ đó giúp tổ chức phát triển và thành công. Tri thức và tài sản trí tuệ biểu thị sức mạnh của doanh nghiệp cũng như của một quốc gia hay nền kinh tế. Tài sản trí tuệ là yếu tố cạnh tranh bền vững của công ty cần phải được phân định và quản lý trong một chương trình quản trị tri thức hiệu quả, năng động. Trong chương này, chúng ta thảo luận về quản trị tri thức, khái niệm chung và các thuật ngữ xung quanh việc quản trị tri thức, mối quan hệ giữa quản trị và hệ thống thông tin quản trị và những cách thức mà một tổ chức sáng tạo đã nhận thức và thực hành quản trị tri thức. Những nội dung chính bàn luận trong chương 1 bao gồm: - Tri thức và giá trị tài sản của tổ chức. - Một số vấn đề về quản trị tri thức. - Đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị tri thức. 11
  12. - Quản trị tri thức, xu thế tất yếu trong kinh doanh hiện đại. 1.1. Tri thức và giá trị tài sản của tổ chức 1.1.1. Một số khái niệm và thuật ngữ Trong chương này sẽ đề cập và giới thiệu về một số khái niệm và thuật ngữ liên quan tới quản trị tri thức (QTTT). Cùng với lịch sử phát triển của QTTT, có nhiều khái niệm và thuật ngữ liên quan cũng được phát triển. Thực tế đã cho thấy rằng phần lớn nội dung QTTT đã tồn tại trước khi các thuật ngữ thực sự được sử dụng rộng rãi. Với những cách tiếp cận về lý luận và thực hành quản trị tri thức khác nhau, có những cách hiểu khác nhau về QTTT. Do đó thực tế vẫn tồn tại nhiều khái niệm và thuật ngữ khác nhau. Trong các nghiên cứu gần đây về lý thuyết và thực hành quản trị tri thức đã dần khắc phục những mâu thuẫn về quan điểm nhìn nhận, cách thức triển khai QTTT mà trước tiên là sự thống nhất trong việc đưa ra các khái niệm và thuật ngữ liên quan tới QTTT. Bản chất đa ngành của QTTT được bộc lộ cùng với sự đóng góp của những đặc trưng này vào việc hình thành các nguyên tắc thực hành QTTT. Hai loại hình tri thức chính yếu, tri thức ẩn và tri thức hiện, được so sánh và minh chứng. Tầm quan trọng của QTTT đối với các cá nhân, với cộng đồng thực thi, và với các tổ chức được mô tả cùng với vai trò và trách nhiệm của lãnh đạo ngày càng trở nên cần thiết và quan trọng để đảm bảo việc triển khai thành công hoạt động QTTT trong doanh nghiệp. Trước tiên, hãy xem xét một số khái niệm và thuật ngữ liên quan tới tri thức và quản trị tri thức. Dữ liệu Dữ liệu được khái niệm là dữ kiện và số liệu chuyển tiếp một cái gì đó cụ thể, nhưng không có cấu trúc, hay nói cách khác, không được tổ chức theo bất kỳ cách nào, hay trật tự nào và không cung cấp thêm thông tin về các mẫu, ngữ cảnh... Theo 12
  13. Thierauf (1999), dữ liệu là “các dữ kiện và số liệu không có cấu trúc, có ảnh hưởng ít nhất đến người quản lý điều hành”. Hay có thể nói một cách rõ ràng hơn, dữ liệu là nội dung có thể quan sát trực tiếp hoặc kiểm chứng được; hoặc cũng có thể là một thực thể. Ví dụ: Lịch chiếu phim, lịch thi đấu bóng đá được đăng trên mạng internet hoặc được in ra giấy. Như vậy, dữ liệu có thể được hiểu là các đối tượng hay thực thể tồn tại một cách không có tổ chức và không được xử lý theo một quy trình cụ thể. Chúng có thể thống kê, tính toán. Dữ liệu tồn tại ở dạng tĩnh và đơn giản chỉ là tồn tại. Có thể nói, dữ liệu là một tập hợp các đối tượng rời rạc về các sự kiện như các bản ghi có cấu trúc về các giao dịch khi một khách hàng đến cửa hàng và mua hàng hóa, số lượng hàng hóa và giá mà họ trả, tất cả là dữ liệu. Dữ liệu không nói gì về động lực đằng sau việc mua, chất lượng của hàng hóa, hoặc danh tiếng của cửa hàng. Bằng cách định lượng, các cửa hàng đánh giá các mẫu về tình hình mua hàng, số lượng khách hàng mua các mặt hàng cụ thể, một tập khách hàng cụ thể với những hàng hóa cụ thể mà họ đã mua trong một thời gian cụ thể. Các đánh giá như thế này có thể được sử dụng để có được thông tin về hành vi của khách hàng, mức độ nhạy cảm về giá của một số hàng hóa hay nhóm hàng hóa cụ thể. Điều đó cũng có nghĩa là dữ liệu là điều kiện tiên quyết để có thông tin. Tất cả các tổ chức đều cần dữ liệu nhưng mức độ phụ thuộc vào dữ liệu của mỗi tổ chức là khác nhau. Chẳng hạn, các công ty bảo hiểm, ngân hàng, dịch vụ công và quản trị an sinh xã hội... là những tổ chức phải đối mặt với gánh nặng về dữ liệu. Hàng triệu giao dịch phải xử lý hàng ngày, hàng trăm hồ sơ với rất nhiều dữ liệu liên quan tới các cá nhân, các tổ chức phải lưu giữ mỗi đơn vị thời gian. Vấn đề là ở chỗ, với quá nhiều dữ liệu 13
  14. phải xử lý có thể sẽ không đưa ra được quyết định và vì thế sẽ thiếu cơ sở để hành động một cách phù hợp. Điều này có nghĩa là một tổ chức phải quyết định về bản chất và khối lượng dữ liệu cần thiết để tạo ra thông tin hỗ trợ cho việc ra quyết định một cách hiệu quả. Thông tin Để dữ liệu trở thành thông tin, nó phải được gắn với bối cảnh, phân loại, tính toán và chắt lọc. Thông tin như vậy sẽ là một bức tranh lớn hơn; Đó là dữ liệu có liên quan tới bối cảnh và mục đích. Nó có thể truyền tải một xu hướng trong môi trường, hoặc có thể chỉ ra một mô hình hoạt động trong một khoảng thời gian nhất định. Thông tin cơ bản được tìm thấy “trong câu trả lời cho những câu hỏi bắt đầu bằng những từ như ai, cái gì, ở đâu, khi nào và bao nhiêu”. Như vậy, thông tin chính là nội dung đại diện cho dữ liệu được phân tích. Ví dụ: “Vì tôi không thể rời khỏi cơ quan trước 5 giờ chiều hàng ngày nên tôi sẽ đến buổi chiếu phim lúc 7 giờ tối tại rạp chiếu phim gần văn phòng của tôi”. Không giống như dữ liệu, thông tin bao gồm các mối liên hệ để chúng ta có thể hiểu được. Nó có ý nghĩa, mục đích, và các mối tương quan với nhau. Chúng có sự sắp xếp theo trật tự nhất định bởi chúng được cấu trúc có chủ đích. Dữ liệu có thể được tái cấu trúc, phân tích bằng thống kê, hoặc bị loại do bị lỗi - tất cả được hình thành để tạo nên một ý nghĩa cho một thông điệp, một báo cáo hay một tài liệu. Một hoàn cảnh không phải là một thông điệp, tuy nhiên nó chắc chắn tác động tới thông điệp. Một cách tương tự: Khi gọi điện thì không thể chắc chắn có cuộc nói chuyện quan trọng, nhưng những cuộc gọi điện thoại cụ thể sẽ làm cho thông tin rõ ràng và được hiểu một cách chính xác hơn. Ngày nay, việc tăng cường công nghệ thông tin không đảm bảo việc cải thiện tình trạng thông tin. 14
  15. Khác với dữ liệu, thông tin có ý nghĩa. Thông tin luôn được tổ chức với một hoặc một vài mục tiêu. Dữ liệu trở thành thông tin nếu người tạo ra nó đưa thêm ý nghĩa vào. Chúng ta chuyển dữ liệu thành thông tin bằng cách cộng thêm giá trị theo nhiều cách khác nhau. Một số các cách quan trọng gồm: + Tạo bối cảnh (Contextualized): Chúng ta biết mục đích tập hợp dữ liệu; + Phân loại (Categorized): Chúng ta biết các bộ phận hoặc các nhóm dữ liệu; + Tính toán (Calculated): Dữ liệu có thể được phân tích theo toán hoặc thống kê học; + Sửa chữa (Corrected): Các lỗi được loại bỏ khỏi dữ liệu; + Nén lại (Condensed): Dữ liệu có thể được tóm tắt lại trong dạng gọn hơn. Ví dụ 1: Tại một trạm bơm xăng, dữ liệu về thời gian mua xăng của khách hàng khi tập hợp lại có thể giúp người quản lý nhận ra những thời gian cao điểm về lượng khách hàng và lượng tiêu thụ xăng trong ngày. Người quản lý cũng có thể xem xét dữ liệu lượng tiêu thụ xăng và thời gian tiêu thụ xăng theo phân loại khách hàng... Như vậy bằng cách xử lý dữ liệu, anh ta đã có những thông tin có ý nghĩa hơn, từ đó có những đánh giá và suy nghĩ về biện pháp quản trị bán hàng hợp lý. Thông tin có thể được nhân viên và người quản lý đánh giá qua các mạng lưới giao tiếp bên trong và bên ngoài khu vực của công ty, qua mạng nội bộ, qua thư điện tử, internet, các cấu trúc vệ tinh hoặc phân phối thủ công. Giữa thông tin và dữ liệu có điểm khác nhau rất cơ bản, trong khi dữ liệu nhấn mạnh về lượng và hiệu lực của quá trình, thì thông tin lấy trọng tâm là chất lượng. Một báo cáo nói gì không làm chúng ta quan tâm mà quan trọng là các báo cáo trong hội thảo có ý nghĩa gì mới hay 15
  16. không. Dữ liệu trở thành thông tin khi nó có ý nghĩa và giá trị để nâng cao chất lượng của việc ra quyết định. Bản thân dữ liệu thường không có ý nghĩa đối với con người. Còn thông tin là tất cả những gì mà con người có thể cảm nhận được một cách trực tiếp thông qua các giác quan của mình (khứu giác, vị giác, thính giác, xúc giác, thị giác và giác quan thứ sáu) hoặc gián tiếp thông qua các phương tiện kỹ thuật như tivi, radio, cassette,... Thông tin đối với con người luôn có một ý nghĩa nhất định nào đó. Với phương tiện máy tính (mà cụ thể là các thiết bị đầu ra), con người sẽ tiếp thu được một phần dữ liệu có ý nghĩa đối với mình. Nếu so về lượng, dữ liệu thường nhiều hơn thông tin. Công nghệ thông tin thường là vô giá trong khả năng biến dữ liệu thành thông tin, đặc biệt là trong các công ty lớn hơn tạo ra lượng lớn dữ liệu qua nhiều phòng ban và các bộ phận chức năng. Bộ não con người chủ yếu là cần thiết để hỗ trợ trong việc bối cảnh hóa để dữ liệu trở thành thông tin. Tri thức Tri thức là một cấu thành vô cùng quan trọng của sự tiến bộ của loài người. Tổ tiên chúng ta phải sử dụng một lượng tri thức khổng lồ để tạo thành một vật thể giống như cái rìu. Từ bí quyết sử dụng hạt giống để gieo trồng tới phát minh ra máy móc, đi du lịch đến mặt trăng - tất cả đều đòi hỏi một sự tích lũy tri thức đặc biệt để đạt được mục tiêu. Khi nói đến vấn đề cơ bản, mọi người sử dụng trí thông minh và sáng tạo của họ để tạo ra giá trị gia tăng cho các sản phẩm và dịch vụ nhằm tăng cường lợi thế cạnh tranh. Tài sản trí tuệ phản ánh cơ bản về cách một tổ chức thúc đẩy tri thức cho đội ngũ nhân viên của mình, tri thức về nhu cầu của khách hàng và hiểu biết về các nhà cung cấp để đảm bảo gia tăng giá trị cho kết quả đầu ra cho quá trình hoạt 16
  17. động. Vốn tri thức là cách mà một tổ chức kiên trì sáng tạo để có được, bắt nguồn từ tài nguyên thông tin của mình một cách thường xuyên. Tri thức thường được hiểu là sự phức tạp và không chắc chắn. Nó có mức độ trừu tượng cao hơn trong tâm trí con người. Nó rộng hơn, phong phú hơn và khó nắm bắt hơn dữ liệu hoặc thông tin. Con người đều không ngừng tìm kiếm tri thức, bởi vì nó giúp họ thành công trong công việc của mình. Theo Tiwana (2000), “Tri thức chính là thông tin có thể hành động (có liên quan) có sẵn theo đúng định dạng, vào đúng thời điểm và ở đúng nơi để ra quyết định”. Tri thức có ý nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào các nguyên tắc sử dụng nó. Elias & Hassan (2003) đã xem tri thức là“sự hiểu biết của con người về một lĩnh vực quan tâm cụ thể đã được thu nhận thông qua nghiên cứu và kinh nghiệm”. Nó dựa trên việc học tập, suy nghĩ và tiếp cận với vị trí xem xét vấn đề trong một phòng ban, một bộ phận hoặc trong toàn công ty. Trọng tâm của tri thức là nhằm đạt lợi thế cạnh tranh bền vững của tổ chức. Tri thức không phải là thông tin, và thông tin không phải là dữ liệu. Davenport và Prusak (2000) định nghĩa tri thức là“một kết hợp “lỏng lẻo” về kinh nghiệm, giá trị, thông tin trong một ngữ cảnh, và hiểu biết chuyên môn để đưa ra một khuôn khổ cho việc đánh giá và kết hợp các kinh nghiệm và thông tin mới.” Tri thức bắt nguồn từ thông tin, cũng như thông tin được bắt nguồn từ dữ liệu. Nó có thể được xem như là một sự hiểu biết về thông tin dựa trên tầm quan trọng được nhận thức của nó hoặc sự liên quan đến một khu vực có vấn đề. Nó cũng có thể được coi là phạm vi thông tin của một người. Sử dụng một phổ quát rộng hơn thông tin, tri thức bao gồm nhận thức, kỹ năng, đào tạo, ý thức chung và kinh nghiệm. Đó là tổng số các quá trình cảm nhận của 17
  18. chúng ta giúp chúng ta rút ra những kết luận có ý nghĩa. Ví dụ, một nhà đầu tư yêu cầu tri thức để đánh giá báo cáo lợi nhuận và chi phí của hai công ty để xác định công ty nào là mạnh hơn. Mặt khác với việc đánh giá, thông tin trở thành tri thức với các câu hỏi như “Thông tin này có ý nghĩa gì đối với quyết định cuối cùng của chúng ta?” “Thông tin này liên quan như thế nào đến thông tin khác mà chúng ta đã nhận được trước đây?” Hay, “Thông tin này tăng thêm giá trị nào cho sản phẩm đầu ra?” Bất kể quy trình tri thức cá nhân hay tổ chức, tri thức thường thúc đẩy việc tìm kiếm chuyên môn để ra quyết định có giá trị gia tăng trong kinh doanh. Cũng cần nhận thức một cách dứt khoát rằng, tri thức, chứ không phải là thông tin, có thể giúp đạt được lợi thế cạnh tranh trong kinh doanh của công ty. Như vậy có thể thấy, thông tin là tất cả mọi thứ, nhưng chỉ một phần nhỏ của nó là hữu ích trong việc giải quyết vấn đề. Tri thức phải được xây dựng và đòi hỏi sự tương tác thường xuyên giữa các cá nhân hay các tập thể khác nhau trong tổ chức. Đó là giao tiếp xã hội, tại thời điểm cụ thể, có sự giao diện và tương tác, sự tiến triển và sáng tạo để đạt mục tiêu nhưng dựa trên trải nghiệm từ các thời gian và không gian khác nhau; Sự hợp tác và năng suất được kỳ vọng để con người lao động và đạt được, không phải để kiểm soát; Làm việc theo nhóm là điều kiện tiên quyết để bàn bạc, so sánh, và trao đổi suy nghĩ, dẫn đến một nền văn hóa luôn cần chỉ rõ “đâu là công việc của tôi” ít quan trọng hơn là “Tôi làm vì mục đích gì?”. Trong quá trình lao động và giao tiếp, bộ não con người chuyển đổi thông tin thành các tri thức có giá trị khi nó giúp con người hiểu các khái niệm và quy luật bằng cách trả lời cho các câu hỏi “Như thế nào?” (know-how) and “Tại sao?” (know-why). 18
  19. Tri thức gắn liền với việc làm và hàm ý tri thức là hiểu biết. Các tri thức mà mỗi cá nhân sở hữu cũng là một sản phẩm của kinh nghiệm hay trải nghiệm của người ấy. Nó cũng bao gồm các tiêu chuẩn mà theo đó người đó đánh giá đầu vào mới từ môi trường xung quanh. Davenport & Prusak (1998) đưa ra khái niệm sau đây: “Tri thức được xem như là thông tin nằm trong bộ não của con người; là tập hợp của kinh nghiệm, giá trị, ngữ cảnh của thông tin và các tri thức chuyên sâu giúp cho việc đánh giá và phối hợp để tạo nên các kinh nghiệm và thông tin mới bao gồm cả sự so sánh, các kết quả, mối liên hệ, và giao tiếp”. Như vậy có thể định nghĩa,“Tri thức là một hỗn hợp của kinh nghiệm, giá trị, thông tin theo bối cảnh, chuyên môn sâu sắc và trực giác cơ bản cung cấp môi trường và khuôn khổ để đánh giá và kết hợp những kinh nghiệm và thông tin mới. Nó không chỉ tồn tại trong các văn bản hoặc kho lưu trữ, mà nằm trong bộ não người cũng như “nhúng” sâu trong các quy trình tổ chức, thực tiễn hoạt động và các chuẩn mực nhìn nhận của con người”. Có quan điểm cho rằng, chỉ những mối liên hệ tường minh (có thể chứng minh được) giữa các dữ liệu mới được xem là tri thức. Còn những mối quan hệ không tường minh thì không được công nhận. Ở đây, ta cũng có thể quan niệm rằng, mọi mối liên hệ giữa các dữ liệu đều có thể được xem là tri thức, bởi vì, những mối liên hệ này thực sự tồn tại. Điểm khác biệt là chúng ta chưa phát hiện ra nó mà thôi. Rõ ràng rằng “dù sao thì trái đất cũng vẫn xoay quanh mặt trời” dù tri thức này có được Galilê phát hiện ra hay không. Như vậy, so với dữ liệu thì tri thức có số lượng ít hơn rất nhiều. Thuật ngữ ít ở đây không chỉ đơn giản là một dấu nhỏ hơn bình thường mà là sự kết tinh hoặc cô đọng lại. Hãy hình dung dữ liệu như là những điểm trên mặt phẳng còn tri thức chính 19
  20. là phương trình của đường cong nối tất cả những điểm này lại. Chỉ cần một phương trình đường cong ta có thể biểu diễn được vô số điểm. Cũng vậy, chúng ta cần có những kinh nghiệm, nhận xét từ hàng loạt, hàng loạt số liệu thống kê, nếu không, chúng ta sẽ ngập chìm trong biển thông tin như nhà bác học Karan Sing đã cảnh báo. Có thể minh họa về dữ liệu, thông tin và tri thức trong Hình 1.1 dưới đây. Tri thức Bí quyết, sự hiểu biết, kinh nghiệm, thông tin chi tiết, trực giác và thông tin theo ngữ cảnh Thông tin Dữ liệu gắn với ngữ cảnh, phân loại, tính toán và cô đọng Dữ liệu Sự kiện và số liệu chuyển tiếp một cái gì đó cụ thể, nhưng đó không tổ chức theo bất kỳ cách nào Hình 1.1: Dữ liệu, thông tin và tri thức Nguồn: Elias M. Award, Hassan M. Ghaziri, Knowledge Management (2003) Từ định nghĩa về tri thức và sự minh họa về dữ liệu, thông tin và tri thức trong Hình 1.1 cũng như các nguồn tài liệu khác, có thể rút ra một số đặc điểm của tri thức như sau: 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2