intTypePromotion=1

Giáo trình Tài nguyên nước - Chương 6

Chia sẻ: Dalat Ngaymua | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:26

0
266
lượt xem
155
download

Giáo trình Tài nguyên nước - Chương 6

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chương 6 Tài nguyên nước Việt Nam 6.1 Tổng quan chung 6.1.1 Đặc điểm chung tài nguyên nước Việt Nam Việt Nam có nguồn nước mưa dồi dào hơn so với các vùng cùng vĩ độ địa lý. Lượng mưa trung bình năm toàn lãnh thổ 1960 mm, gấp 2,6 lần lượng mưa trung bình lục địa, cung cấp 640 tỷ m3/năm

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Tài nguyên nước - Chương 6

  1. 86 Chương 6 Tài nguyên nước Việt Nam 6.1 Tổng quan chung 6.1.1 Đặc điểm chung tài nguyên nước Việt Nam Việt Nam có nguồn nước mưa dồi dào hơn so với các vùng cùng vĩ độ địa lý. Lượng mưa trung bình năm toàn lãnh thổ 1960 mm, gấp 2,6 lần lượng mưa trung bình lục địa, cung cấp 640 tỷ m3/năm, từ đó tạo ra một lượng dòng chảy khoảng 320 tỷ m3, hệ số dòng chảy là 0,5. Lượng mưa phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian do bị đặc điểm địa lý, địa hình và loại hình thời tiết gây mưa chi phối. Chênh lệch lượng mưa giữa các vùng lên tới 10 lần. Những vùng có lượng mưa lớn đều nằm trên các sườn và đỉnh núi đón gió, địa hình dạng phễu hội tụ như Bắc Quang, Móng Cái - Tiên Yên (>5.000mm), Hoàng Liên Sơn, Pusilung, Ngàn Sâu, đèo Ngang, đèo Hải Vân, bắc đèo Cả, Trà Mi - Ba Tơ, trung lưu s.Đồng Nai, Plâycu (3.000 - 4.000 mm). Tâm mưa nhỏ nằm trong những vùng khuất gió như thung lũng Mường Xén, Phan Rang (500 - 600mm), thung lũng Yên Châu, Lục Bình, sông Ba ( 900 mm/năm. Bốc hơi nhỏ nhất 400 - 500 mm/năm quan sát thấy ở vùng núi cao Tây Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ do bị hạn chế bởi trường nhiệt và ở ven biển Ninh Thuận, Bình Thuận, do bị hạn chế bởi trường ẩm. Tây Nam Bộ có lượng bốc hơi lớn nhất, > 1.300 mm/năm do cả hai trường nhiệt ẩm đều phong phú. Lãnh thổ Trung Bộ bốc hơi năm trung bình là 900 - 1.200 mm, phần còn lại của lãnh thổ 800 - 1.000 mm.
  2. 87 6.1.2 Đặc điểm tài nguyên nước sông Việt Nam Hệ thống sông suối của Việt Nam khá phát triển, nhưng phân bố không đều. Mật độ trung bình 0,6 km/km2, lớn nhất 2 - 4 km/km2 ở châu thổ sông Hồng - Thái Bình và Cửu Long, do nhu cầu tiêu thoát nước lớn trong khi địa hình bằng phẳng, biên độ triều lớn và khả năng can thiệp của con người cao. Những vùng mưa nhiều, địa hình thuận lợi cho sinh dòng mặt như Móng Cái, Hoàng Liên Sơn, Đèo Ngang, Hải Vân, thượng nguồn Đồng Nai... có mật độ sông suối lớn, 1,5 - 2 km/km2. Vùng mưa vừa, độ cao trung bình như Quảng Ninh, Ngân Sơn (Bắc Cạn), trung lưu Đồng Nai, Thu Bồn, thượng nguồn các sông Tây Nguyên, một số sông ở Đông Trường Sơn mật độ sông suối 1 - 1,5 km/km2. Vùng mưa nhỏ, bốc hơi lớn, thấm tốt, như Trùng Khánh (Cao Bằng), Quản Bạ (Hà Giang), Bắc Sơn (Lạng Sơn), Trà Lĩnh, Mộc Châu (Sơn La), Kẻ Bàng (Quảng Bình), Bắc và trung Tây Nguyên, Ninh Thuận, Bình Thuận có mạng lưới sông suối kém phát triển, chỉ đạt 10 km thường xuyên có nước chảy có 17 lưu vực độc lập diện tích >1.000 km2, 173 lưu vực 500 - 1.000 km2, 614 lưu vực 100 - 500 km2 và 1.556 lưu vực 10.000 km2, tổng diện tích 258.800 km2, chiếm 74% diện tích toàn quốc, có số dân là 60 triệu, bằng 85% dân số Việt Nam và tạo ra 91% GDP cả nước, cung cấp 771 tỷ m3, tương ứng 88% tài nguyên nước Việt Nam (bảng 6.1). Rõ ràng rằng mọi tiếp cận bền vững trong khai thác tài nguyên và phát triển trên 9 lưu vực sông chính này có vai trò then chốt trong chiến lược phát triển bền vững cả nước. Sông ngòi có tính đa quốc gia. 7/9 hệ thống sông chính của Việt Nam chảy qua từ 2 - 5 nước, tỷ lệ diện tích lưu vực thuộc Việt Nam 9 - 87% và tỷ lệ dòng chảy ngoại nhập từ 5 - 90% (không kể Kỳ Cùng Bằng Giang). Chỉ có lưu vực Thu Bồn và sông Ba nằm trọn vẹn ở Việt Nam. Dòng chảy ngoại nhập là yếu tố khó kiểm soát, điều tiết, phân phối cả về mặt lượng và chất, đòi hỏi quản lý sử dụng trên tinh thần hợp tác đa quốc gia. Bảng 6.1. Lưu vực và dòng chảy của các hệ thống sông lớn ở Việt Nam [11] Lưu vực sông Diện tích Dòng chảy Dân số % 3 Toàn bộ 10 ở VN 103 % ở VN Toàn bộ % VN triệu GDP 2 2 3 km km tỷ m đóng người góp Kỳ Cùng - 12,88 11,22 87 8,9 81 1,1 1 Bằng Giang Hồng - 169 86,66 51 137 68 24,2 26 Thái Bình Mã 28,49 17,81 63 20,1 78 2,9 2 Cả 27,2 17,73 65 24,2 80 3,1 3 Thu Bồn 10,5 10,5 100 19,3 100 0,86 1 Ba 13,9 13,9 100 10,4 100 0,85 1 Đồng Nai 42,66 36,26 85 30,6 95 10,2 28 Cửu Long 795 72 9 520,6 10 15 27 Tổng cộng 266,8 771 58,2 89 Toàn VN 330 879 40 70 100 Lượng dòng chảy sông ngòi thuộc loại dồi dào, gần 880 tỷ m3, trong đó trên 550 tỷ m3 là nguồn nước ngoại lai; Mô đun dòng chảy 31 l/s.km2, lớp dòng chảy 980 mm/năm, lớn gấp 3 lần trung bình lục địa và 4,6 lần trung bình châu Á. Độ phong phú nước nội địa là 921.000
  3. 88 m3/km2.năm và 2,7triệu m3/km2.năm nếu tính cả nguồn ngoại lai. Các tâm dòng chảy lớn (nhỏ) đều trùng với các trung tâm mưa lớn (nhỏ). Nơi có dòng chảy lớn nhất là Bắc Quang, Móng Cái, mô đun dòng chảy >100 l/s.km2, lớp dòng chảy >3.000 mm. Vùng Hoàng Liên Sơn, Ngàn Sâu, đèo Ngang, Hải Vân, Trà Mi - Ba Tơ mô đun dòng chảy khoảng 70 - 100 l/s.km2. Vùng ven biển Bắc và Trung Ninh Thuận, Bình Thuận có mô đun dòng chảy nhỏ nhất, không vượt quá 5 - 10 l/s.km2. Mặc dù có tài nguyên nước dồi dào nhưng do bị phụ thuộc vào các nước ở vùng thượng lưu và tình trạng phân bố không đồng đều, nên tài nguyên nước Việt Nam vẫn bị xếp vào loại thấp trong khu vực Đông Nam Á. Chỉ số tài nguyên nước tính theo đầu người là 4.170m3, trong khi trung bình khu vực Đông Nam Á là 4.900m3 và trung bình châu Á 3.300m3. Sông ngòi Việt Nam có tiềm năng thuỷ điện lớn. Tiềm năng thuỷ điện lí thuyết của các sông ngòi Việt Nam là 28,27 triệu kW, tương ứng 248,5 tỷ kWh/năm, tức 94 kWh/ km2, gấp 3,6 lần trung bình thế giới. Trữ năng thuỷ điện kỹ thuật của Việt Nam là 91,4 tỷ kWh, bằng 33,7% tiềm năng lí thuyết; Trữ năng khai thác kinh tế là 55 - 60tỷ kWh, bằng 20 - 22% tiềm năng lí thuyết, tương đương với khoảng 14.000 - 17.000 MW công suất lắp máy (gấp >6 lần công suất nhà máy thuỷ điện Hoà Bình). Sông Đà có tiềm năng thuỷ điện phong phú nhất, 50 tỷ kWh/năm, chiếm 19% tiềm năng toàn quốc. Sông Đồng Nai xếp thứ hai với 40 tỷ kWh/năm; Các sông Sesan, Krong Pôcô, 26 tỷ kWh/năm, sông Thao - 15,66 tỷ kWh/năm, sông Ea Krông - 14,15 tỷ kWh/năm, Srepôc - 14 tỷ kWh/năm, sông Cả 13,27 tỷ kWh/năm, sông Trà Khúc 12,48 tỷ kWh/năm, sông Lô 10,24 tỷ kWh/năm, sông Mã 9,2 tỷ kWh/năm, sông Ba 8 tỷ kWh/năm. Bảng 6.2: Trữ năng thuỷ điện sông ngòi Việt Nam [ 8 ] Trữ năng lý thuyết Trữ năng kỹ thuật Hệ thống sông Công suất Sản lượng Công suất Sản lượng % % MW tỷ Wh/năm MW tỷ kWh/năm Miền Bắc 19.124 167,5 61,7 12.600 56,45 61,8 Hồng 13.915 121,9 44,9 10.822 49,5 54,2 Thái Bình 1.674 14,6 5,4 850 2,8 3,1 Cả 1.603 14 5,2 630 2 2,2 Sông khác 1.982 17 6,2 298 2,15 2,3 Miền Nam 11.846 103,7 38,3 8.100 34,95 38,2 Đồng Nai 3.122 27,3 10,1 3.795 16,77 18,3 Sesan 1.879 16,5 6,1 1.175 5,6 6,3 Thu Bồn 1.831 16, 5,9 1.670 8,2 9 Đakrong 1.387 12,1 4,5 757 3,2 3,5 Sông khác 3.627 31,9 11,7 703 1,1 1,2 Toàn quốc 30.970 271,3 100 20.700 91,4 100 Hiện chúng ta đã xây dựng trên 500 nhà máy thuỷ điện lớn nhỏ, sản xuất khoảng 3,6 MW và 800MW đang trong quá trình xây dựng. Sản lượng thuỷ điện hiện chiếm 55% tổng công suất phát điện toàn bộ hệ thống điện lưới quốc gia đã xây dựng. Các đập thuỷ điện lớn nhất là Hoà Bình, Thác Bà, Đa Nhim, Trị An, Thác Mơ và Yaly. Theo chiến lược thuỷ điện quốc gia, Việt Nam sẽ xây dựng thêm các hệ thống sản xuất điện tương đương 5.045 MW tại các sông Sê San, Srêpôc, sông Đà, Đồng Nai. Phân phối dòng chảy theo tháng trong năm phân hoá sâu sắc theo không gian và cực đoan theo thời gian do sự không ổn định của chế độ mưa và sự phân hoá sâu sắc của điều kiện địa hình. Trên đường quá trình nước nhiều sông thấy thể hiện dạng hình răng cưa rất không đồng đều.
  4. 89 Chất lượng nước sông Việt Nam tốt, phần lớn thuộc loại Bicacbonat Canxi kiểu I, độ khoáng hoá thấp
  5. 90 trong đó X - khoảng cách tính từ cửa sông, So- độ mặn tại cửa sông, K- hệ số khuếch tán thực nghiệm của sông Khi độ mặn > 0,1% thì năng suất lúa bắt đầu giảm, khi độ mặn > 0,4% thì cây lúa không phát triển hoặc chết. Xâm nhập mặn cũng thúc đẩy quá trình bồi lấp luồng lạch, cửa sông. 6.1.3 Đặc điểm tài nguyên nước dưới đất Việt Nam Lãnh thổ Việt Nam có thể chia thành 26 đơn vị chứa nước dưới đất, có đặc điểm phân bố, chất lượng, số lượng và khả năng khai thác, sử dụng khác nhau, tuỳ thuộc vào sự hiện diện của chúng ở các miền và phụ miền địa chất thuỷ văn khác nhau. Kết quả tính toán cho thấy tiềm năng nước dưới đất của nước ta rất lớn. Tổng trữ lượng động tự nhiên trên toàn lãnh thổ (chưa kể phần hải đảo) được đánh giá vào khoảng 1828 m3/s, tương ứng với môđun dòng ngầm là 4,5 l/s.km2 và phân bố theo các vùng như trong bảng 6.3. Tuy nhiên, trữ lượng động tự nhiên của nước dưới đất phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như điều kiện địa lý tự nhiên và điều kiện địa chất nên các con số trên chưa nói lên mức độ giàu nghèo nước và khả năng khai thác nước dưới đất của các miền địa chất thuỷ văn. Trữ lượng khai thác của nước dưới đất là lượng nước tính bằng mét khối trong một ngày đêm có thể thu được bằng các công trình lấy nước một cách hợp lý về mặt kinh tế - kỹ thuật với chế độ khai thác nhất định và chất lượng nước đáp ứng yêu cầu sử dụng suốt trong thời gian tính toán sử dụng nước. Trữ lượng có tiềm năng khai thác của Việt Nam khoảng gần 60 tỷ m3/năm. Kết quả nghiên cứu được tiến hành ở 144 vùng với tổng diện tích 35000 km2 xác định được trữ lượng khai thác (cấp A + B) là gần 2.000.000 m3/ngày, thăm dò sơ bộ (cấp C) là 17.500.000 m3/ngày. Phần lớn trữ lượng khai thác cấp A + B nằm trong phức hệ chứa nước trầm tích aluvi (71%), tiếp đến là trong thành hệ cacbonat (11%). Bảng 6.3. Trữ lượng động tự nhiên của nước dưới đất Vùng Lưu lượng (m3/s) Mô đun (l/s.km2) Đông Bắc 238,7 4,5 Tây Bắc 214,8 5,1 Đồng bằng Bắc Bộ 88,9 3,6 Bắc Trung Bộ 476,0 8,0 Nam Trung Bộ 318,8 3,7 Tây Nguyên 180,5 3,3 Đồng bằng Nam Bộ 158,2 3,4 Đông Nam Bộ 163,0 Chất lượng nước dưới đất được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu: độ khoáng hoá, độ pH, tổng độ cứng, hàm lượng sắt, các hợp chất nitơ, CO2 ăn mòn và vi khuẩn. Theo các chỉ tiêu trên có thể đưa ra một số nhận xét và đánh giá sơ bộ về chất lượng nước dưới đất như sau: Nước dưới đất ở miền núi và trung du có chất lượng tốt, đáp ứng được yêu cầu sử dụng vào mục đích ăn uống, sinh hoạt. Tuy vậy một số nơi nước còn chứa nhiều sắt, độ cứng cao và tính ăn mòn CO2 lớn, không thuận lợi đối với việc cấp nước cho một số ngành công nghiệp và có tác hại cho các công trình xây dựng, đòi hỏi phải xử lý. Vùng ven biển, nước dưới đất thường nhiễm mặn, hàm lượng clo lớn, không đáp ứng tiêu chuẩn nước sinh hoạt. Đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ, chất lượng của nước dưới đất thay đổi rất phức tạp do sự xen kẽ giữa nước nhạt và nước mặn theo diện tích cũng như trên mặt cắt của một số vùng. Các chỉ tiêu khác cũng biến đổi trong giới hạn rất rộng, nhiều khi không rõ quy luật, đặc biệt
  6. 91 là hiện tượng nhiễm mặn, nhiễm sắt, nhiễm phèn khá phổ biến trên nhiều vùng. Ở những vùng canh tác có sử dụng phân bón và một số trung tâm dân cư, công nghiệp lớn, nước dưới đất đã có dấu hiệu nhiễm bẩn ở các mức độ khác nhau. Hàm lượng Cu, Pb, As, Hg đều nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép đối với nước sinh hoạt. Tuy nhiên, ở một số nơi thuộc đồng bằng Bắc Bộ đã có hàm lượng Hg khá cao. Hàm lượng Mn trong nước của các lỗ khoan trong trầm tích Đệ tứ bở rời đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép. Trên phạm vi toàn quốc những năm trước đây có 22 nhà máy khai thác nước dưới đất tập trung, trong đó 15 nhà máy lấy nước trong các thành tạo bở rời, cát cuội sỏi, ba nhà máy lấy trong thành tạo cacbonat và bốn nhà máy lấy từ đá phun trào bazan. Tính chung cho cả nước thì chỉ có chưa đầy 5% tổng trữ lượng nước được khai thác. Việc khai thác nước dưới đất ở các vùng rất khác nhau. Ví dụ rất khó khai thác nước dưới đất ở vùng Đông Bắc do các tầng chứa nước nằm phân tán và đa dạng. Trong khi đó khai thác nước ngầm ở Tây Nguyên lại dễ dàng, nên đã bị khai thác quá mức để phục vụ tưới cho các loại cây trồng công nghiệp, dẫn đến tình trạng thiếu nước ở một số địa bàn trong vùng. Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, các vùng phụ cận Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh đã khai thác nước ngầm quá mức gây sụt lún đất, nhiễm mặn. Tài nguyên nước khoáng, nước nóng của Việt Nam phong phú, có chất lượng tốt, đa dạng về loại hình, có giá trị sử dụng cao cho nhiều mục đích khác nhau như dùng cho thuỷ lý trị liệu, sản xuất nước khoáng đóng chai, khai thác năng lượng địa nhiệt, CO2... Theo số liệu điều tra, cả nước có khoảng 400 nguồn nước khoáng và nước nóng, trong đó nguồn có nhiệt độ 30 – 70oC và độ khoáng hoá (ĐKH)
  7. 92 Hồ nguồn gốc từ sông thường gặp rất nhiều trong vùng đồng bằng châu thổ các con sông lớn. Do đó các đô thị đồng bằng, gồm cả Hà Nội có rất nhiều hồ nhỏ tạo nên nhiều giá trị cảnh quan sinh thái và môi trường. Trong các vùng núi đá vôi có những hồ tiềm thực do hoà tan ngầm và sụt đổ, như Nậm Soi - Sơn La, Ba Bể - Bắc Cạn. Hồ Ba Bể gồm ba bể thông nhau, kích thước 4 ì 1,5 km, 2 ì 2,2 km và 3 ì 1 km, nằm ở độ cao 145m, giữa một vùng diệp thạch kết tinh xen núi đá vôi, diện tích 450 ha, sâu nhất đến 29 m, dung tích 90 triệu mét khối. Sóng do gió trên mặt hồ có thể cao tới 7 - 8 m. Hồ là một cảnh quan đẹp giữa vùng rừng nhiệt đới. Hồ miệng núi lửa gặp quanh thị xã PlâyCu, điển hình nhất là Biển Hồ, nằm trên độ cao 800m, diện tích mặt nước 600ha, cấp nước tưới, sinh hoạt và cá cho khu vực. Đầm phá thường gặp dọc bờ biển miền Trung, là sản phẩm của quá trình tương tác biển sông trong đó biển chiếm ưu thế. Hệ sinh thái đầm phá có đa dạng sinh học và năng suất cao, đặc biệt có vai trò quan trọng đối với vùng khơi tương tự vai trò của các hệ sinh thái rừng ngập mặn ở bờ biển miền Bắc và miền Nam. Phá Tam Giang - Cầu Hai lớn và nổi tiếng nhất, với diện tích 7.800ha, dài 20km, rộng 0,5 - 3km, sâu khoảng 1m, nhận nước ngọt từ trên 10 con sông, trong đó có sông Hương và thông với biển qua cửa Thuận An Ven biển miền Trung có một số hồ nước ngọt trên cát, nơi có nền đá gốc bên dưới không bằng phẳng và ít thấm, có vai trò quan trọng trong cấp nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất. Hồ chứa Việt Nam có khoảng 3.600 hồ chứa kích thước khác nhau, trong đó chỉ có chưa đến 15% là các hồ cỡ vừa và lớn, dung tích >1 triệu m3 hoặc có độ cao >10m. Hồ chứa lớn thường được thiết kế và sử dụng đa mục đích, trước tiên là phát điện, điều tiết dòng chảy (cắt lũ và cấp nước mùa kiệt), ngoài ra còn có các mục đích sử dụng khác như phục vụ giao thông, thuỷ lợi, du lịch... Sự tích tụ phù sa đã làm giảm nhiều dung tích các hồ chứa, một số hồ chỉ còn khoảng 30% dung tích ban đầu. Hồ chứa nhỏ chỉ phục vụ tưới tại chỗ và khai thác để nuôi trồng thuỷ sản. Bảng 6.6. Các hồ chứa lớn ở Việt Nam Dung tích Diện tích tưới Thuỷ điện Hồ chứa 6 3 10 m ha MW 1 Hoà Bình 9.450 1.920 2 Thác Bà 2.940 108 3 Trị An 2.760 420 4 Dầu Tiếng 1.580 72.000 5 Thác Mơ 1.370 150 6 Yaly 1.037 720 7 Phú Ninh 414 23.000 8 Sông Hinh 357 66 9 Kẻ Gỗ 345 17.000 Hộp 6.1. Hồ Hoà Bình trên sông Đà [12] Hồ Hoà Bình khởi công ngày 6/11/1979, chặn dòng 12/1/1983. Hồ có các thông số thiết kế sau: Đập: cao 123m, dài 734m, rộng 20m. Cao trình đáy Cửa Lưu lượng tối đa Xả đáy 56 m 6 × 10m 21.900m3/s Xả mặt 102m 15 × 15m 13.500m3/s
  8. 93 Diện tích mặt nước Đặc trưng Mực nước (m) 2 Dung tích (Km3) (Km ) Tối thiểu 75 107 Chết 80 117 Trước lũ 85 4,5 Dâng bình thường 115 208 (dài 230km) 9,5 Gia cường 120 308 Dung tích hữu ích 5,65 Dung tích phòng lũ 5,6 * Bồi lắng theo thiết kế trong thời gian vận hành là 0,54% dung tích hồ, tương đương 51 tr. m3/năm, trong đó sau 25 năm bồi 60% dung tích chết, sau 50 năm bồi 90% dung tích chết và 3% dung tích hữu ích, sau 60 năm bồi toàn bộ dung tích chết và một phần dung tích hữu ích. * Quản lý mực nước trước lũ: Theo Quy định ngày 30/6/1991 của Ban Phòng chống lụt bão Trung ương (BPCLBTƯ): Kỳ lũ sớm: (15/6 - 15/7) duy trì mực nước 91 ± 1m. Kỳ lũ chính (16/7 - 15/8) duy trì mực nước 89 ± 1m, sau khi đỉnh lũ qua thì nhanh chóng tích nước đến 115 m. Mùa kiệt cấp nước đến mực nước trước lũ, thấp nhất 70,5m Các vấn đề môi trường hồ chứa sau 8 năm hoạt động 3 1. Bồi lắng: Trung bình 69,4 triệu m /năm, nhiều hơn thiết kế 5%, làm đáy hồ bị nâng cao trung bình 0,34 m/năm. Những nguyên nhân làm tăng bồi lắng lòng hồ so với thiết kế là do xói lở vùng bờ và dải bán ngập, rửa trôi xói mòn từ vùng rừng đầu nguồn không được bảo vệ và tăng mực nước trước lũ. Lắng ở phần dung tích chết 78%, dung tích hữu ích 20%, nguyên nhân là do vùng cửa hồ nằm trong dung tích hữu ích quá dài. 2. Hoạt động địa chấn tích cực quan sát thấy trong vùng hồ, dọc đứt gãy sâu Chợ Bờ. Động đất kích thích tăng mạnh những năm đầu tích nước, đặc biệt là ở khu vực quanh đập. Tần suất xuất hiện động đất và các dư chấn địa chất tập trung vào 1991 - 1992 sau đó giảm dần. 3. Các hiện tượng thành tạo khe nứt, trượt lở ven hồ, nâng cao mực nước ngầm, thẩm thấu nước, thay đổi cơ chế và mức độ hoạt động caxtơ quan sát thấy ở một số khu vực. 4. Biến động hệ sinh thái thượng du: Ở cạn mất 1.610,8 ha rừng, 10 họ (33%), 92 loài sinh vật (49,7%), số cá thể nhiều loài cũng giảm. Ở nước hệ sinh thái nước hồ chứa thay thế gây biến động mạnh quần xã sinh vật, mất các động vật ăn đáy, động thực vật phù du phát triển, phì dưỡng xuất hiện ở một số vùng cửa sông đổ vào hồ trong những năm đầu. Trước khi có hồ, khu hệ cá sông Đà có 95 loài, đến 1992 mới điều tra được 31 loài. 5. Diễn biến lòng sông hạ du: Xói sâu cục bộ ngay sau chân đập tạo hố tiêu năng và gây bồi tích vùng kế tiếp. Xói ngang vùng thị xã Hoà Bình năm 1989-1990 do xả mạnh sinh dòng quẩn sau đập tràn phía bờ phải, làm xói lở mạnh chân đập, phá huỷ đường vào hầm giao thông qua đập tràn; Sạt trượt vùng bờ do hạ thấp mực nước mạnh sinh dòng thấm đột ngột từ bờ ra phía sông. 6. Ảnh hưởng đến vùng hạ lưu và cửa sông: Giảm lượng phù sa trong sông (trung bình 1986 – 19995 còn 77 triệu tấn/năm) dẫn tới giảm 1/2 tốc độ lấn biển vùng cửa sông (chỉ còn 50m/năm), ảnh hưởng tới chất lượng rừng ngập mặn khiến chim di cư giảm từ 1000 – 2000 con xuống còn 500 – 600 con, mỏ tôm Ba Lạt và bãi cá giảm 50% sản lượng, hàng năm mất 500 triệu con cá bột sông Hồng. 2 7. Các vấn đề xã hội: Ngập 2.899 ha ruộng, 170 ha rừng trồng, 840 ha cây ăn quả, 107.308 m nhà, trường, trạm xá, kho tàng, 406 km đường dân sinh, 42 hồ đập thuỷ lợi, 63 phai đập thuỷ lợi, 37 tuyến mương, 2 35.352 m ao cá, di chuyển 11.763 mồ mả, 53.033 người. 6.1.5 Tai biến rủi ro liên quan đến nước ở Việt Nam Việt Nam là một trong những quốc gia thường xuyên bị ảnh hưởng nặng nề của bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng, trượt lở đất, xâm nhập mặn… Các hình thế thời tiết gây mưa lũ ở Việt Nam rất đa dạng và thường cùng đồng thời xuất hiện: Mưa lũ trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình do các hình thế thời tiết cơ bản sau gây nên: xoáy thấp Bắc Bộ, bão, xoáy thấp lạnh, dải áp thấp Nam Trung Quốc, rãnh thấp nóng phía Tây, dải hội tụ nhiệt đới, xoáy thuận kết hợp với không khí lạnh hay các hình thế thời tiết khác. Miền Trung chịu ảnh hưởng của các loại hình thời tiết gây mưa như bão, không khí lạnh, thấp, dải hội tụ nhiệt đới, hoặc các hình thế thời tiết khác kết hợp phức tạp với nhau. Mưa lớn trên lưu vực sông Mê Công có nguyên nhân từ dải hội tụ nhiệt đới kết hợp với gió mùa tây nam, bão hoặc áp thấp nhiệt đới. Bão là một loại hình thế thời tiết đặc biệt gây gió từ 120 km/giờ (cấp 1) - 250 km/giờ (cấp 5), sóng lớn tròn đầu cao 10 - 12 m do áp thấp ở tâm bão hút nước lên và mưa lớn. Trận bão năm 1902 ở Việt Nam đã bẻ gẫy cầu Tràng Tiền (Huế). Hàng năm nước ta phải nhận hoặc
  9. 94 chịu ảnh hưởng trực tiếp của trung bình 4 - 6 trận bão, nhiều nhất là 11 - 12 trận, tập trung từ tháng 5 - 12. Bão cung cấp 12% lượng mưa ở đồng bằng Bắc Bộ và Đông Trường Sơn, 6 - 12% lượng mưa cho khu Tây Bắc, 5 - 10% lượng mưa cho Tây Nguyên và gần 5% lượng mưa cho Nam Bộ. Trong nhiều năm bão đổ bộ vào Việt Nam tuân theo quy luật chung là chậm dần từ Bắc vào Nam và hầu như hiếm gặp ở cực Nam Việt Nam. Những năm gần đây đã xuất hiện bất thường trong thời gian xuất hiện, đường đi và điểm đổ bộ của bão, gia tăng mạnh mẽ thiệt hại do bão gây ra. Theo thống kê sơ bộ, trong những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ trước, trung bình mỗi năm Việt Nam có trên 800 người chết do các loại thiên tai khác nhau, trong đó tổn thất do lũ lụt đồng bằng sông Cửu Long thường chiếm trên dưới một nửa. Đặc biệt cơn bão số 5 LINDA vào Cà Mau ngày 2/11/1997 đã làm khoảng 3.000 người thiệt mạng, 3008 tàu thuyền bị đắm. Nước dâng do bão gây hư hại nghiêm trọng các tuyến đê biển và tổn thất tài nguyên, tài sản các loại. Lũ lụt trên các sông Việt Nam Dòng chảy sông ngòi Việt Nam phân hoá thành hai mùa: mùa lũ và mùa kiệt. Mùa lũ từ 3 - 5 tháng. Từ Bắc vào Nam mùa lũ bắt đầu và kết thúc chậm dần. Mùa lũ ở Bắc Bộ từ tháng 6 đến tháng 9, 10. Nam Thanh Hoá - Nghệ An: tháng 7 - 11, Hà Tĩnh - Bắc đèo Hải Vân: tháng 9 - 12, Nam đèo Hải Vân – Ninh Thuận: tháng 10 - 12, Tây Nguyên: tháng 7, 8 - 11, 12, Nam Bộ: tháng 7 - 11. Phần còn lại trong năm là mùa kiệt. Dòng chảy phân bố cực đoan theo mùa: Mùa lũ chiếm 60 - 90% dòng chảy toàn năm, trong đó tháng lũ lớn nhất có dòng chảy lên tới 20 - 30 % tổng lượng toàn năm; Mùa kiệt chỉ có 10 - 40% tổng lượng dòng chảy. Ngoài lũ chính vụ, sông ngòi các tỉnh ven biển miền Trung còn có mùa lũ tiểu mãn, thường xảy ra vào tháng 4 - 5. Lũ tiểu mãn thường không lớn nhưng có vai trò cấp nước và phù sa đặc biệt cho sản xuất nông nghiệp trong khu vực. Trên các sông có lũ tiểu mãn, tỷ phần dòng chảy do lũ chính vụ cấp trong tổng dòng chảy năm thiên giảm, có thể gây nên những đánh giá sai lầm về mức độ cực đoan của phân phối dòng chảy. Trung bình hàng năm sông suối có 3 trận lũ, biên độ lũ sông nhỏ 3 - 5 m, sông vừa và lớn từ 5 - 10 m đến 15 - 20 m, cường suất lũ lên nhanh nhất ở các sông miền núi, trung bình từ vài cm đến 1 m/giờ, cực đại 3 m/giờ (Bình Liêu, sông Tiên Yên). Riêng sông Cửu Long cường suất lũ lên không lớn, cao nhất là 20 - 25 cm/ngày. Tốc độ lũ lớn nhất trên 6 - 7 m/s tại các sông miền núi: 7,6 m/s tại Bản Điệp, sông Ngòi Thia, 7,4 m/s tại Tài Chi - sông Hà Cối, 6,42 m/s tại Bản Củng - sông Nậm Mu. Lũ trên hệ thống sông Hồng và Thái Bình có tác động chi phối nhau do được nối thông với nhau bằng sông Đuống và sông Luộc. Vùng cửa sông chịu ảnh hưởng đáng kể của triều cản trở thoát lũ. Trong gần 600 năm qua, trung bình 5 năm có một trận lũ lớn để lại dấu ấn trong lịch sử. Nếu xét mức báo động cấp 3 tại Hà Nội (11,5m) thì từ năm 1902 đến 1998 đã có 26 trận lũ vượt qua, trung bình mỗi năm là 0,27 trận, tức khoảng 4 năm một lần. Lũ lịch sử trên sông Hồng xảy ra năm 1971 với mức nước đỉnh lũ tại Hà Nội là 14,67 m (mức hoàn nguyên) và lưu lượng tại Sơn Tây đạt 37.800m3/s. Trong thế kỷ XIX đã có 188 trận lụt làm vỡ đê sông Hồng. Ngoài lũ lớn trong sông, mưa lớn gây úng nội đồng cũng là một dạng thiên tai gây thiệt hại đáng kể. Đê là công trình phòng lũ chính trên hệ thống sông Hồng, việc tiêu nước mưa nội đồng chủ yếu dựa vào các trạm bơm tiêu. Các sông miền Trung ngắn và dốc, đồng bằng thấp, hẹp, cửa tiêu thoát hẹp, mưa tập trung theo từng đợt trên diện rộng, cường độ lớn, sinh lũ lớn tập trung nhanh, cường suất lũ lên rất lớn, nước rút chậm, các tuyến đường sắt bộ chạy dọc đất nước gây ra sự cản trở thoát nước mặt, gây ngập úng sâu vùng đồng bằng hẹp và các khu dân cư. Ví dụ tháng 9/1993,
  10. 95 lượng mưa ngày lớn nhất tại Tuy Hoà (Phú Yên) là 600mm, kết hợp với lũ lớn ở thượng nguồn sông Đà Rằng và triều cường ven biển đã làm cho thị xã ngập úng trầm trọng, có nơi sâu 2 m, mọi hoạt động kinh tế và giao thông tê liệt, thiệt ước tính hàng trăm tỷ đồng. Lũ lớn liên tiếp tháng 11 và 12 năm 1999 ở miền Trung làm chết trên 700 người, nhiều người khác bị thương hoặc bệnh, 10.000 người phải sơ tán, nhiều gia đình mất hết nhà cửa, tài sản và kế sinh nhai, thiệt hại ước tính trên 340 triệu USD. Lũ đồng bằng sông Cửu Long có ba mức: Mức lớn khi mực nước >4,5 m (40,6% số năm); mức vừa khi mực nước 4 - 4,5 m (46,2%); mức nhỏ khi mực nước 4,5 m tại Tân Châu là 52 ngày (1961), 40 (1966), 60 (1978), 32 (1984), 22 (1991 và 1996). 86% đỉnh lũ đồng bằng sông Cửu Long xuất hiện vào cuối tháng 9, đầu tháng 10. Đỉnh lũ lớn nhất là 5,28 m, quan sát thấy năm 1961, 5,27 m (1966) và 4,94 m (1978). Các vùng bị ngập chính là: 1- Đồng Tháp Mười, có độ cao từ 0,5 - 2 m, xung quanh bị bao bọc bởi bờ sông Tiền, bờ biển Gò Công và thềm đất cũ Đông Nam Bộ; 2- Tứ Giác Long Xuyên, đất thấp và dốc nghiêng từ bờ sông Hậu sang Vịnh Kiên; 3- Vùng đất thấp chua mặn U Minh - Cà Mau nằm sát biển, không bị ngập bởi nước sông nhưng bị ngập mặn do ảnh hưởng triều. Ngập úng ở một số đô thị lớn đồng bằng Hà Nội nằm ở cốt cao độ từ 4 - 11m, thấp hơn mực nước lũ trên sông Hồng. Đường thoát nước chính của Hà Nội theo trục các sông nội đô, qua cống Thanh Liệt vào sông Nhuệ. Khi mực nước Thanh Liệt 5,5m sông Tô Lịch không còn khả năng tự chảy, gây úng ngập diện rộng. Ngoài ra, do địa hình không bằng phẳng, những vùng trũng kín cứ mưa xuống là úng ngập cục bộ do không tiêu thoát được nước tại chỗ và phải nhận thêm nước từ các hố ga đùn lên. Nhu cầu thoát nước Hà Nội cho trận mưa có chu kỳ lặp 10 năm, là 170 m3/s, trong khi đó sông Tô Lịch chỉ có khả năng thoát 30-35 m3/s. Do vậy Hà Nội hàng năm thường xảy ra ngập úng vào mùa mưa, chỉ với lượng mưa 50mm trong 2 - 3 giờ đã có thể làm ngập trên 40 điểm trong nội đô. Ngày 9/11/1984 trận mưa 614mm đã làm 45% diện tích thành phố bị ngập từ 30 - 50 cm, có nơi ngập trên 1m, thời gian ngập nhiều nơi đến 7 - 8 ngày, tác động sâu sắc đến các hoạt động đời sống, sản xuất, cấp điện, giao thông… Khu vực Nam và Đông Nam Tp. Hồ Chí Minh thấp, cao độ 1 - 2m, trong khi cao độ đáy cống thành phố ra sông Sài Gòn là 1 - 1,8 m, úng ngập lớn trên diện rộng trong thời gian dài xảy ra do tổ hợp tác động của mưa, triều và xả nước hai hồ chứa Dầu Tiếng, Trị An Bảng 6.7. Thiệt hại do lũ lụt ở Việt Nam từ 1971 - 2002 Thiệt hại Chết Thiệt hại Chết Năm Năm (USD) (người) (USD) (người) 1971 78 62 1992 62 352 1973 57 82 1993 82 387 1978 20 260 1994 260 507 1980 10 255 1995 255 756 1983 19 610 1996 610 3.621 1985 - 79 1997 79 237 1986 110 107 1998 107 245 1987 28 776 1999 776 5.122 1988 35 638 2000 638 4.310 1989 74 545 2001 545 2.481 1990 17 332 2002 332 1.915 1991 44 Hậu quả do mưa lũ, úng ngập lụt thường rất to lớn. Chúng gây thiệt hại nặng nề về người, phá huỷ cơ sở vật chất, kỹ thuật, tổn thất tài nguyên gây ô nhiễm, tàn phá môi trường, làm
  11. 96 gián đoạn các hoạt động kinh tế, dân sinh trực tiếp và lâu dài, gây xáo trộn xã hội, gián đoạn phát triển kinh tế tại chỗ và các vùng liên đới quy mô lớn hơn. Theo UNDP, thiệt hại do lũ lụt hàng năm ở đồng bằng sông Hồng và ven biển miền Trung lên đến 130 triệu USD. Hạn chế liên quan đến chất lượng nước Những vấn đề đáng lưu tâm hơn cả trong chất lượng nước sông ngòi Việt Nam hiện nay là phù sa và nhiễm mặn. Lượng cát bùn trong sông nói chung là lớn và tập trung nhiều vào mùa lũ (hơn 90% tổng lượng cát bùn năm). Tổng lượng phù sa lơ lửng do hệ thống sông tải ra biển tới 300 triệu tấn/năm, trong đó riêng sông Hồng cung cấp khoảng 120 triệu tấn (qua Sơn Tây), Cửu Long gần 100 triệu tấn (qua Phnom Pênh). Hàm lượng phù sa cao tạo ra tính phức tạp của biến hình lòng sông, tăng khả năng hình thành bồi tụ trong đồng bằng châu thổ và cửa sông ven biển, giảm hiệu quả sử dụng hệ thống thuỷ lợi và hồ chứa. Phù sa cung cấp nguồn dinh dưỡng có giá trị cho các hệ sinh thái nông nghiệp vùng được bồi tụ và hệ thuỷ sinh trong các thuỷ vực. Tuy nhiên, phù sa lớn là yếu tố bất lợi cho nhiều đối tượng dùng nước yêu cầu cao, làm tăng giá thành xử lý nước. Xâm nhập mặn phụ thuộc độ dốc mặt nước sông và tương quan giữa hai khối nước mặn, ngọt. Các sông miền Trung có độ dốc lớn nên có mức độ ảnh hưởng mặn ít hơn cả. Tại đồng bằng sông Cửu Long diện tích vùng bị nhiễm mặn (mức 4 g/l) chiếm tới trên 1 triệu km2, bao trùm toàn bộ bán đảo Cà Mau, vùng Hà Tiên, Cửu Long, Bến Tre, Mỹ Tho. Xâm nhập mặn gây ảnh hưởng nghiêm trọng nhất cho lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là trong mùa kiệt và là tác nhân đáng lưu ý trong khai thác sử dụng nước ngầm. Các loại tai biến môi trường khác Ở Việt Nam đất trượt thường xảy ra ở nhiều miền núi Tây Bắc, Đông Bắc, Nam Trung Bộ và dọc các con sông lớn. Vùng đồi núi, dọc các tuyến giao thông, đất thường sạt lở sau những trận mưa to. Núi lở thường xảy ra ở sườn dốc có độ dốc từ 30o đến 45o trở lên. Tác nhân gây núi lở là đặc điểm sườn núi (độ dốc, cây cối, tính chất đất đá…) và điều kiện khí hậu. Núi lở cũng thường xảy ra ở các vùng mỏ. Những núi đất đá thải trong quá trình khai thác quặng có thể đổ ụp xuống mỗi khi có mưa to hay động đất. Ngày 4/6/1987 núi Mông Dương lở, lũ bùn cùng nước biển tràn vào làm ngập toàn bộ hầm lò mỏ than Mông Dương, Quảng Ninh ở độ sâu 97m, may không có ai bị tử vong. Bảng 6.8. Mức độ ác liệt của thiên tai ở Việt Nam [ 9 ] Lũ Hạn Hoang mạc Nhiễm Ngập Lở Vùng Bão Lũ quét hán hóa mặn úng đất Đ-B +++ +++ +++ - - - ++ T-B +++ ++ +++ +++ - - - ++ ĐB sông Hồng ++++ ++++ - + - + +++ ++ Bắc Tr. Bộ ++++ ++++ +++ +++ ++ ++ ++ ++ Duyên hải ++++ ++++ +++ ++++ ++ ++ ++ ++ NTr. Bộ Tây Nguyên ++ ++ +++ +++ + - - + Đ Nam Bộ +++ +++ +++ ++ ++ ++ ++ ++ ĐB sông Cửu Long ++ ++++ + ++ + +++ +++ ++ Ở Việt Nam xu hướng tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan thể hiện rõ. Đó là tăng các trận mưa có cường độ lớn, tăng số trận bão đổ bộ vào Nam Trung Bộ, tăng các trận mưa do bão kết hợp không khí lạnh gây mưa rất lớn. Bão phát sinh từ Thái Bình Dương và biển Đông
  12. 97 có thể tăng 1 - 2 trận/năm, cấp bão tăng 1 - 2 cấp, thời kỳ tái diễn cùng một cấp bão giảm 20 - 50%. Theo số liệu của Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn, ở Việt Nam EnNino gây hệ quả như sau: 1- Tần số bão và áp thấp nhiệt đới giảm, từ 5,9 xuống 5,3 cơn/ năm; 2- Mùa nóng dài hơn, nhiệt độ không khí tăng (rõ rệt nhất là ở phía Nam); 3- Mùa mưa ngắn, bắt đầu chậm, kết thúc sớm, lượng mưa các tháng đa phần giảm, đặc biệt là vào mùa hè ở Bắc Trung Bộ. Hạn nghiêm trọng thường xảy ra trong thời kỳ EnNino, đặc biệt là ở miền Trung và miền Nam, gây hệ quả xấu cho các hệ sinh thái tự nhiên và tổn hại nghiêm trọng cho nền kinh tế. Trong kỳ EnNino 1997 - 1998, hạn hán gây thiệt hại cho nền kinh tế 5.000 tỷ đồng. LaNina gây hệ quả như sau: 1- Tần số bão và áp thấp nhiệt đới tăng mạnh, từ 5,9 lên 8,3 cơn/năm; 2- Nhiệt độ miền Bắc lạnh hơn, miền Nam nóng hơn ; 3- Mùa nóng ngắn hơn, mùa đông dài hơn 5 - 16 ngày; Lũ lụt thường nghiêm trọng. Vào năm 2070, ước tính nhiệt độ không khí sẽ tăng 1,5 - 2,5oC, lượng dòng chảy trung bình năm có thể giảm 5%, gây nguy cơ thiếu nước cấp. Trong khi đó, lượng mưa ở tâm bão tăng 20%, lượng mưa ngày lớn nhất có thể tăng 5 - 10% ở Bắc Bộ, 10 - 15% ở Bắc Trung Bộ, 15 - 20% ở Nam Trung Bộ. Do đó khả năng xảy ra lũ lớn và lũ quét cũng tăng. Ước tính lưu lượng đỉnh lũ ở các lưu vực vừa và nhỏ sẽ tăng như sau: 3 - 7% ở Bắc Bộ, 7 - 12% ở Bắc Trung Bộ, 12 - 15% ở Nam Trung Bộ. 6.1.6 Nhu cầu về nước Nhu cầu tiêu thụ nước những năm 90 ước tính khoảng 50 tỷ m3/năm, trong đó nông nghiệp sử dụng 92 %, công nghiệp 5% và sinh hoạt 4%. Gần 84% lượng nước khai thác từ nguồn nước dưới đất được sử dụng cho các mục đích nông nghiệp, tuy nhiên mức khai thác này vẫn đảm bảo dòng chảy môi trường thấp nhất của các sông ngòi (30% dòng chảy năm thấp nhất). Việt Nam là nước Đông Nam Á chi phí nhiều nhất cho thủy lợi. Cả nước hiện có 75 hệ thống thủy nông, với 659 hồ, đập lớn và vừa, trên 3.500 hồ, đập nhỏ, 1.000 cống tiêu, trên 2.000 trạm bơm lớn nhỏ, trên 10.000 máy bơm các loại, có khả năng cung cấp 60 - 70 tỷ m3/năm. Tuy nhiên, nhiều hệ thống thuỷ nông đã xuống cấp nghiêm trọng, chỉ đáp ứng được 50 - 60% công suất thiết kế. Từ năm 1998 diện tích được tưới tăng trung bình mỗi năm khoảng 3,4%, nhưng các hệ thống tưới chỉ có thể đáp ứng cho 7,4 triệu ha (bằng khoảng 80% tổng diện tích đất trồng). Năm 2000 nông nghiệp tiêu thụ 76,6, tỷ m3 nước, chiếm 84% tổng nhu cầu. Bảng 6.9. Nhu cầu sử dụng nước theo vùng ở Việt Nam [ 8 ] Tổng trữ Tổng nhu Tưới Sinh hoạt Công nghiệp Dịch vụ % % TNC Vùng lượng W cầu TNC 6 3 % TNC % TNC % TNC TNC 6 3 so vớiW 10 m 10 m Đông Bắc 22 88,9 1,1 4,0 3,3 5,06 14 Tây Bắc 56 88,7 5,6 1,3 1,4 3,95 9 Đồng bằng 141 84,7 2,1 6,2 5,1 17,42 12 sông Hồng Bắc Trung 46 89,2 2,3 2,6 2,1 10,72 23 Bộ Duyên hải 33 90,5 1,4 4,4 1,6 11,47 35 Nam Trung Bộ Tây Nguyên 45,7 85,4 1,7 1,0 0,7 4,81 11
  13. 98 Đông Nam 44,4 37,2 4,4 41,6 14,5 7,42 17 Bộ ĐB sông 533 89,4 1,3 2,5 1,9 30,44 6 Cửu Long Dự tính tới năm 2030 dân số cả nước đạt 129 triệu trong đó dân thành phố lên 60 triệu, kinh tế tăng trưởng 10 lần, GDP đầu người tăng 7 lần, diện tích tưới tăng 3,4%/năm, chuẩn cấp nước tăng gấp đôi, 150 lít/ngày/người, 100% dân được cấp nước sạch vào năm 2020. Cơ cấu dùng nước sẽ thay đổi theo xu hướng nông nghiệp 75%, công nghiệp 16%, tiêu dùng 9%. Nhu cầu nước dùng sẽ tăng gấp đôi, chiếm khoảng 1/10 tổng lượng nước sông ngòi, 1/3 lượng nước nội địa, 1/3 lượng dòng chảy ổn định. Tăng dân số và đô thị hoá dẫn đến tăng mạnh nhu cầu nước và tăng xả thải ô nhiễm. Tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hoá cũng làm tăng nhu cầu nước và tăng xả thải ô nhiễm. Tăng giá trị bất động sản và đất đai, tăng mật độ dân số, tăng dân trong các vùng rủi ro cao làm tăng rủi ro tài chính và kinh tế gắn liền với lũ lụt, tăng nhu cầu đầu tư cho nhóm nghèo nhất. Việt Nam có tài nguyên nước dồi dào, nên trong tương lai gần nhu cầu lượng nước dùng vẫn nằm trong khả năng cung cấp bền vững. Tuy nhiên, do nước phân phối theo không gian và thời gian không đồng đều, không đồng pha với biến trình nhu cầu, nên đã có những vùng chịu tác động bất lợi của việc thiếu nước sinh hoạt, sản xuất trong mùa kiệt. Tuy hạn hán không kéo dài, nhưng các đợt hạn thường rất nghiêm trọng, gây thiếu nước cho tưới, thuỷ điện và cấp nước. Miền Trung Việt Nam đã có biểu hiện hoang mạc hoá và hạn hán xảy ra thường xuyên trong thập kỷ trước. Duyên hải Nam Trung Bộ là khu vực hay bị hạn hán nhất. Tại Tây Nguyên, từ năm 1980, hạn hán xảy ra thường xuyên với tần suất hạn khốc liệt 5 năm/lần. Năm 2003 lưu lượng nước trong tất cả các sông suối ít hơn 20 - 50 % so với cùng kỳ 2002. Mực nước hồ chứa xuống dưới mực nước chết, gương nước ngầm hạ thấp từ 1,5 - 2m đến 3 - 4m, gây thiếu nước sinh hoạt cho hàng trăm nghìn hộ dân. Năm 2002 hạn nghiêm trọng ở duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Ngoài thiệt hại về mùa màng, hạn còn góp phần gây cháy rừng diện rộng, trong đó có trận cháy 5.000 ha rừng U Minh Thượng và U Minh Hạ. Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn ở Việt Nam đang là vấn đề nan giải do những khó khăn tự nhiên và kinh tế xã hội của vùng. 76,6% dân số Việt Nam đang sinh sống ở nông thôn, trong những điều kiện rất hạn chế về việc cấp thoát nước. trên 50% hộ dân đang dùng nước giếng khơi, 25% dùng nước sông suối, trên 10% dùng nước mưa. Ước tính, mới có khoảng 30% dân số có nguồn nước tương đối sạch, trong đó chỉ có khoảng 10% đạt tiêu chuẩn quốc gia. Theo Uỷ ban Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường, nông thôn Việt nam có thể chia thành 5 vùng cấp thoát nước cơ bản như sau: Vùng ven biển, chạy dài từ Móng Cái đến Hà Tiên, bao gồm 91 huyện với diện tích tự nhiên 2,4 triệu ha, có trên 14 triệu dân. Nguồn nước ngọt cũng như việc cấp nước ở đây rất khó khăn, nước mặt và nước ngầm sát đất bị nhiễm mặn, đất chủ yếu thuộc loại cát và cát pha, không thể xây dựng hồ chứa. Vùng nội đồng, nằm giữa ven biển và trung du, bao gồm 126 huyện, đất đai màu mỡ, 26 triệu dân. Dân đông, ở phân tán không theo quy hoạch, khó tổ chức hệ thống cấp nước tập trung. Nguồn nước sinh hoạt ở đây chủ yếu từ nước mưa, nước sông ngòi, hồ ao, giếng khơi lấy nước mạch ngang có chất lượng xấu như nước mặt. Vùng bán sơn địa, cao 25 - 300m, gồm 70 huyện, diện tích 5 triệu ha, đất khô cằn, trơ trụi, bị rửa trôi, bạc màu, chua và nghèo dinh dưỡng. Dân số 8,5 triệu người, sống tập trung ở
  14. 99 các vùng đất bằng, ven các chân đồi nơi mạch nước ngầm nông hoặc lộ ngay trên mặt đất, chất lượng nước tốt. Vùng núi thấp, cao 300 - 900m ở phía Bắc, 300 - 700m ở phía Nam, gồm 67 huyện, dân số 6,5 triệu người. Diện tích tự nhiên 9,5 triệu ha, chủ yếu trồng cây công nghiệp. Do rừng bị tàn phá nên cân bằng sinh thái bị phá huỷ, nhiều nguồn nước tự nhiên bị cạn kiệt, hồ chứa không có nước, giếng đào nhanh cạn, cung cấp nước gặp nhiều khó khăn. Cần có nhiều hồ chứa điều tiết dòng chảy. Vùng núi cao, gồm 64 huyện, diện tích tự nhiên 11,4 triệu ha, dân số 3,5 triệu người, đa phần là dân tộc thiểu số. Đây là vùng đất hấp dẫn dân di cư, đến năm 2010 có thể số dân lên tới 10 triệu người, nhưng cũng là vùng có nhiều vấn đề về nước, mùa lũ ác liệt, mùa kiệt thiếu nước nghiêm trọng. Giao thông thuỷ có lợi thế quan trọng là an toàn cao, giá cước thấp, chỉ bằng 1/3 giá vận tải đường thuỷ và bộ, đồng thời thích hợp cho việc vận tải hàng siêu trường siêu trọng. Trong tổng chiều dài 41.900 km sông tự nhiên, giao thông thuỷ hiện đang khai thác 11.226 km (26%). Mạng lưới đường sông phía Bắc chủ yếu tập trung ở đồng bằng sông Hồng, luồng có độ sâu tối thiểu 1,5 - 2m, rộng đáy nhỏ nhất 30 - 60m, mức nước chênh lệch giữa hai mùa từ 5 - 7m, mùa kiệt bị hạn chế bởi độ sâu, sau mùa lũ thường tạo nên những bãi cạn biến động hàng năm. Luồng lạch các sông phía Nam có chiều rộng đáy 30 - 100m, độ sâu tối thiểu 2,5 - 3m, rất thuận lợi cho giao thông thủy, tuy nhiên vận tải thuỷ chịu tác động của tĩnh không thấp, khẩu độ hẹp và nhiều chướng ngại vật dưới sông do lịch sử để lại. Sông miền Trung mùa lũ nước chảy xiết, mùa cạn thượng nguồn nông, không thuận lợi cho phát triển giao thông thủy. 6.1.7 Quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam Luật tài nguyên nước được Quốc hội thông qua 20/5/1998, có hiệu lực từ tháng 1/1999. Luật được xây dựng làm khung pháp lý linh hoạt và sẽ được bổ sung các nghị định quy định trách nhiệm và nhiệm vụ của các tổ chức, cơ quan thực hiện. Nội dung cơ bản của Luật bảo vệ tài nguyên nước là: Xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia các quan hệ phát sinh từ việc khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước. Quy định quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quản lý và bảo vệ tài nguyên nước. Quy định các tiêu chuẩn về nước làm cơ sở cho công tác kiểm soát, giám sát và bảo vệ môi trường. Điểm đặc biệt của Luật tài nguyên nước là cách tiếp cận quản lý mang tính liên ngành và phối hợp. Trên cơ sở đó Việt Nam đã thành lập Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước và các ban quản lý, quy hoạch lưu vực ở cấp địa phương (hiện đã thành lập được 3 ban quản lý lưu vực sông Cửu Long, Đồng Nai và sông Hồng - Thái Bình). Đây là các đơn vị trực thuộc Chính phủ, có nhiệm vụ tư vấn giúp Chính phủ điều phối và quy hoạch phát triển và tiêu thụ nước
  15. 100 Hộp 6.2. Các văn bản luật pháp chính của Việt Nam liên quan đến quản lý tài nguyên nước [ 9] Luật bảo vệ môi trường 27/12/1993. Nghị định 75/CP ngày 18/10/1994 về hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường. Nghị định 26/CP ngày 26/4/1996 quy định xử phạt vi phạm hành chính về môi trường. Nghị định 67/2003/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Quyết định 155/QĐ-TTg 16/7/1999 về ban hành Quy chế quản lý chất thải nguy hại (bao gồm cả nước thải nguy hại) Luật đất đai 14/7/1993 và sửa đổi năm 2001. Quyết định 327-CT của Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng 15/9/1992 về một số chủ trương chính sách sử dụng đất trống đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước. Luật tài nguyên nước 20/5/1998 và Nghị định 179/1999/NĐ-CP về thi hành Luật tài nguyên nước. Chỉ thị 487/TTg 30/7/1996 về tăng cường quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước. Chỉ thị 200/TTg 29/4/1994 về bảo đảm cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Quyết định 299/TTg 18/3/1998 về định hướng phát triển cấp và thoát nước đô thị đến 2020. Pháp lệnh về phát triển và bảo vệ nguồn lợi thủy sản 1989. Nghị định 43/NĐ-CP 2/5/2003 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thủy sản. Nghị định 70/NĐ-CP 17/6/2003 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong ngành thủy sản. Luật tài nguyên thủy sản (dự kiến). Pháp lệnh phòng chống lụt bão 1993, bổ sung và sửa đổi 2000. Quyết định 299/TTg 13/5/1996 hướng dẫn thành lập Ủy ban Phòng chống lụt bão trung ương Quyết định 67/QQĐ-TTg 15/6/2000 thành lập Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước. Quyết định 104/QQĐ- TTg 15/6/2000 về quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước. Quyết định 860/TTg 30/12/1995 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu của Ủy ban sông Mê Công Việt Nam. Quyết định 37, 38, 39/QĐ-BNN-TCCB của Bộ trưởng BNN&PTNT 9/4/2001 về thành lập Ban quản lý và quy hoạch các lưu vực sông Cửu Long, Đồng Nai, sông Hồng - Thái Bình. Quyết định 357/BNN&PTNT 13/3/1997 ban hành quy chế tạm thời thực hiện chế độ cấp phép thăm dò, khai thác, hành nghề khoan nước ngầm và đăng ký công trình khai thác nước ngầm Quyết định 395/QĐ-BKHCNMT 10/4/1998 ban hành quy chế bảo vệ môi trường trong các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ , khai thác, tàng trữ, vận chuyển chế biến dầu khí và các dịch vụ liên quan. Trách nhiệm quản lý tài nguyên nước được chia sẻ cho 9 bộ và cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm trong từng nội dung công việc cụ thể (Bảng 6.10). Uỷ ban nhân dân các tỉnh chịu trách nhiệm thực thi các chức năng quản lý ở cấp tỉnh và huyện. Chi phí cho quản lý tài nguyên nước từ ngân sách không được phân bổ thành mục riêng. Ước tính đầu tư của nhà nước cho ngành nước chiếm 33% ngân sách giai đoạn 1996 - 1998 và 21% năm 2001 (8,559 tỷ đồng), bao gồm 64% từ nguồn ODA và 36% từ đầu tư trực tiếp trong nước, chủ yếu tập trung vào thủy lợi và cấp thoát nước. Bảng 6.10. Chức năng của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong quản lý nguồn nước [9] Cơ quan Trách nhiệm Bộ Tài Quản lý chung về tài nguyên nước. Cục Quản lý tài nguyên nguyên nước quản lý nhà nước, kiểm kê, xây dựng và quản lý cơ sở và Môi dữ liệu về tài nguyên nước. Vụ khí tượng thủy văn quản lý nhà trường nước về xây dựng chính sách tiêu chuẩn, quy trình khảo sát các thông số nền và quản lý dữ liệu. Cục Địa chất khoáng sản quản lý nước khoáng. Bộ NN Quản lý các hệ thống phòng chống lụt bão, công trình thuỷ lợi, và PTNT cấp nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn Bộ Công Xây dựng, vận hành, quản lý các cơ sở thuỷ điện nghiệp Bộ Xây Quy hoạch không gian và xây dựng các công trình cấp thoát dựng nước và vệ sinh Bộ Giao Quy hoạch, xây dựng và quản lý các hệ thống giao thông thuỷ thông Bộ Thuỷ Bảo vệ và khai thác các nguồn lợi thuỷ sản sản Bộ Y tế Quản lý chất lượng nước dùng trong ăn uống Bộ KH Xây dựng kế hoạch đầu tư cho nguồn nước và Đầu tư Bộ Tài Xây dựng chính sách về thuế và phí tài nguyên nước chính
  16. 101 Hệ thống quan trắc tài nguyên nước Mạng lưới quan trắc thủy văn hiện có 232 trạm phân bố trên toàn bộ các hệ thống sông, đo đạc các yếu tố thủy văn theo quy phạm thống nhất, liên tục. Trách nhiệm xử lý và phân tích dữ liệu được giao cho 9 trung tâm khí tượng thủy văn cấp vùng. Mạng quan trắc môi trường năm 2002 có 21 trạm, quan trắc tại 250 điểm thuộc 45 tỉnh thành, bao gồm cả những điểm nóng như khu công nghiệp, thành phố lớn và các vùng sinh thái nhạy cảm. Tần suất quan trắc 6lần/năm. Kết quả quan trắc được giao cho phòng dữ liệu và thông tin cục bảo vệ môi trường. Mạng quan trắc nước dưới đất có 310 trạm với trên 600 điểm phủ rộng trên toàn quốc, do Cục địa chất khoáng sản quản lý. Bộ Thủy sản tiến hành quan trắc chất lượng nước ở các khu vực có hoạt động nuôi trồng thủy sản. Bộ Y tế chịu trách nhiệm giám sát chất lượng nước uống. 6.2 Các lưu vực sông lớn ở Việt Nam 6.2.1 Lưu vực sông Hồng - Thái Bình Đặc điểm hệ thống sông và tài nguyên nước Sông Hồng dài 1.126km, bắt nguồn từ núi Ngụy Sơn, Vân Nam Trung Quốc, vào Việt Nam tại Hà Khẩu, chảy theo hướng chính Tây Bắc - Đông Nam, đổ ra biển qua cửa chính Ba Lạt (dài 556km). Mật độ lưới sông 1 km/km2, hệ số uốn khúc 1,5. Lưu vực có độ cao bình quân 647m, độ dốc 29,9%, diện tích 143.700km2, phần thuộc Việt Nam là 61.400 km2. Tổng phụ lưu từ cấp 1 -6 là 614. Phân lưu hữu ngạn có: sông Đáy tách ra ở Hát Môn, sông Phủ Lý tách ra ở Hưng Yên, sông Nam Định, sông Ninh Cơ tách ra từ Xuân Trường. Phân lưu tả ngạn có: sông Trà Lý tách ra từ Thương Hộ, sông Đuống và sông Luộc chia nước sang hệ thống sông Thái Bình. Dòng chảy sông Hồng rất dồi dào nhưng phân bố không đều. Tổng lượng 126,8km3/năm, trong đó riêng sông Đà đóng góp 57%. Mô đun dòng chảy 25,7 l/s.km2. Phần lưu vực thuộc Trung Quốc chỉ tạo ra 40% lượng dòng chảy toàn hệ thống. Các tâm dòng chảy lớn đều ở Việt Nam và trùng với tâm mưa lớn là Bắc Quang, Hoàng Liên Sơn, Mường Tè, mô đun dòng chảy 70 - 100 l/s.km2. Tâm dòng chảy nhỏ nhất ở Đồng Văn, Sơn La, Mộc Châu, mô đun dòng chảy 15 - 20 l/s.km2. Tại Sơn Tây lưu lượng trung bình là 3.600m3/s, lớn nhất 37.800m3/s (tháng 7/1991), nhỏ nhất 840m3/s, chênh nhau 45 lần. Biến đổi lượng nước năm không nhiều, chênh lệch giữa năm nhiều nước và năm ít nước khoảng 2 - 3 lần. Phân phối dòng chảy theo mùa cực đoan. Mùa lũ, từ tháng 6 - 10, cung cấp 70 - 78 % tổng lượng dòng chảy năm, tháng 8 thường có lượng dòng chảy lớn nhất, 19 - 23%. Kiệt nhất thường gặp vào tháng 3, dòng chảy chỉ đạt 1,7 - 2,5%. Lũ sông Hồng phức tạp và ác liệt, đặc biệt là ở hạ lưu, do ba sông nhánh hợp lưu cùng một chỗ, bờ sông bị hệ thống đê khống chế, thềm bãi sông bị ngăn chặn. Đường quá trình dòng chảy có dạng răng cưa, lên xuống hàng chục lần trong mùa lũ, biên độ lũ lớn, cường suất lũ lên lớn, 3 - 7 m/ngày, tốc độ dòng chảy lũ lớn, 3 - 5 m/s.
  17. 102 Phù sa sông Hồng vào loại lớn, tại Sơn Tây độ đục là 1.310 g/m3, tổng lượng phù sa 120 triệu tấn/năm, trong đó sông Đà cung cấp 53%, sông Thao 35%. Phù sa mùa lũ lớn gấp 5 - 7 lần mùa kiệt, tại Sơn Tây mùa lũ 3.500g/m3, mùa kiệt - 500 g/m3. Sông Thái Bình bắt nguồn từ núi Va Ôn 1.060m, đổ ra biển qua cửa Thái Bình, Văn Úc, Cấm. Thái Bình do ba phụ lưu lớn là sông Cầu (từ Tam Đảo), sông Thương (từ Lạng Sơn) và sông Lục Nam (từ Đình Lập, là phụ lưu của sông Thương) hợp thành, dài 385km, diện tích lưu vực 12.680km2, độ cao trung bình 190m, độ dốc 16,1%.. Mạng lưới sông xếp theo hình nan quạt, xoè rộng ở Đông Bắc và quy tụ tại Phả Lại, mật độ 2,1 km/km2, hệ số uốn khúc 2,02; Tổng phụ lưu từ cấp 1 - 6 là 143. Lượng nước sông Thái Bình tại Phả Lại 9,19 km3/năm, trong đó dòng chảy ngầm chiếm 20%. Hàng năm, sông Thái Bình nhận được từ sông Hồng gần 33 tỷ m3 nước và 17 triệu tấn phù sa. Mùa lũ từ tháng 6 - 9,10 với dòng chảy chiếm 75% tổng lượng năm. Lưu vực sông Cầu khá ẩm ướt, mật độ sông suối phát triển 0,95 - 1,2 km/km2, lũ ác liệt, cường suất lũ 1 - 2,5 m/giờ, biên độ mực nước 4 - 10m. Mạng lưới sông Thương kém phát triển, nhất là vùng đá vôi bờ phải thượng và trung du, mật độ 0,5 - 0,7 km/km2. Vùng thượng lưu từ Chi Lăng lên thuộc loại ít nước nhất miền Bắc, 13,3 l/s.km2. Chế độ nước sông Lục Nam cực đoan nhất miền Bắc và dòng chảy ngầm bé nhất miền Bắc (17 - 20% tổng lượng dòng chảy năm). Đặc điểm dân cư kinh tế xã hội và hiện trạng khai thác tài nguyên nước Lưu vực sông Hồng - Thái Bình là nơi sinh sống của 1/3 dân số và sản xuất khoảng 1/5 lượng gạo cả nước. Riêng đồng bằng, diện tích 17.000 km2, là nơi cư trú của 17 triệu dân, tạo ra trên 4/5 thu nhập toàn lưu vực và 1/5 GDP. Cơ cấu kinh tế đồng bằng là nông nghiệp 35%, công nghiệp 24% và các dịch vụ 41%. Hiện tại nhu cầu nước dùng cho nông nghiệp là lớn nhất, chiếm khoảng 90% tổng lượng tiêu thụ. Gần như toàn bộ diện tích trồng lúa trong châu thổ này đều cần các biện pháp thuỷ lợi. Tưới bơm cấp nước cho khoảng 500.000ha, tiêu bằng bơm phục vụ 450.000ha, phần còn lại được tưới tiêu tự chảy. Hệ thống thuỷ lợi thiếu đồng bộ và kém hiệu quả đang gây tổn thất tài nguyên nước và thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp. Tài nguyên nước lưu vực phong phú, thuận lợi cho khai thác, đáp ứng đủ nhu cầu cấp nước trong tất cả các mùa cho trước mắt và trong tương lai gần. Nước tiêu thụ hiện chiếm 1/4 - 1/2 lượng nước trong sông, tháng 1 cần dưới 700 m3/s trong khi lưu lượng tại Sơn Tây là 1.367 m3/s, tháng 3 cần khoảng 300 m3/s, trong khi lưu lượng tại Sơn Tây là 1.270 m3/s. Một số nơi ở Thái Bình đã xảy ra thiếu nước vào những năm hạn lớn. Chất lượng nước mặt nhìn chung tốt, đáp ứng các nhu cầu sử dụng. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại ba vấn đề đáng lưu ý: Phù sa lớn không thuận lợi cho phục vụ sinh hoạt và sản xuất công nghiệp, nhiễm mặn vùng cửa sông ven biển làm giảm khả năng cấp nước và ảnh hưởng tới sản xuất, ô nhiễm nghiêm trọng tại những vùng trực tiếp nhận nước thải của các đô thị và trung tâm công nghiệp. Trữ lượng các tầng chứa nước đồng bằng khoảng trên 1 tỷ m3/năm. Khai thác nước ngầm chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt và một phần rất nhỏ để tưới. Các vấn đề về nước ngầm hiện nay liên quan chủ yếu tới chất lượng. Khoảng 50% số giếng trong lưu vực không đạt ít nhất một tiêu chuẩn cho phép nào đó, trong đó 19% bị nhiễm mặn bởi nước biển, 3% có hàm lượng nitơrat vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Thiên tai rủi ro lớn nhất liên quan tới nước trên lưu vực là lũ lụt. Trung bình cứ 10 năm thì có khoảng 15 trận bão đổ bộ vào bờ biển lưu vực gây gió to, mưa bão lớn trên diện rộng và
  18. 103 sóng cao. Tại hạ lưu sông Hồng vấn đề xói lở bờ sông cục bộ vẫn xảy ra liên tục và có xu thế ngày càng tăng. Điều kiện khí hậu và nhu cầu lương thực khiến hình thành trên đồng bằng châu thổ sông Hồng - Thái Bình truyền thống canh tác lúa nước hai ba vụ với yêu cầu chặt chẽ về thời vụ. Do các vụ đều có nguy cơ chịu rủi ro do lũ lụt, xâm nhập mặn, một tập quán lâu đời chung sống với lũ lụt đã khởi sinh từ đầu Công nguyên và đứng vững tại đây. Hiện lưu vực có khoảng 3.000 km đê sông và 1.500 km đê biển. Trong 80 năm thực dân Pháp đô hộ nước ta đã thống kê được 34 năm có vỡ đê sông Hồng và 18 năm vỡ đê Văn Giang. Mỗi lần vỡ đê là một thảm hoạ, ngoài tổn thất người và của do bị lũ cuốn trực tiếp thì tổn thất sau lũ do nạn đói và dịch bệnh hoành hành cũng rất nghiêm trọng. Điều tiết dòng chảy bằng hồ chứa đa mục đích đang được áp dụng đạt kết quả tại lưu vực sông Hồng, với hai hồ chứa lớn và rất nhiều hồ chứa nhỏ. Dung tích chứa nước thường xuyên của hồ Hoà Bình là 5,6 tỷ m3, của hồ Thác Bà là 1,2 tỷ m3, tuy nhiên chúng chỉ có khả năng cắt lũ cho Hà Nội ở mức hạn chế. Ngoài nhiệm vụ phòng lũ, các hồ chứa lớn còn có phục vụ phát điện, giao thông, cấp nước, nuôi trồng thuỷ sản, du lịch. Bất lợi của việc điều tiết dòng chảy bằng kho nước trên lưu vực sông Hồng là kéo dài thời gian lũ, tăng nguy cơ đe doạ các đoạn đê xung yếu. Việc xả nước trong mùa kiệt theo kế hoạch phát điện (xả không đều đặn) có thể làm tăng nguy cơ mặn xâm nhập sâu khi mực nước trong sông hạ thấp. Rủi ro vỡ đập có xác suất rất nhỏ nhưng lại có nguy cơ gây tổn thất rất cao. Tương lai, lưu vực sông Hồng - Thái Bình được qui hoạch phát triển mạnh, cư dân đô thị sẽ tăng đến 80% và sản lượng công nghiệp chiếm khoảng 1/2 tổng sản phẩm lưu vực. Điều này đồng nghĩa với sự tăng mạnh nhu cầu nước dùng chất lượng cao và tăng nguy cơ gây ô nhiễm các nguồn nước do nước thải. Mặt khác nhu cầu nước cho nông nghiệp có khả năng giảm do giảm diện tích đất nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Hiệu suất sử dụng nước chắc chắn sẽ được nâng cao nhờ hoàn thiện các hệ thống thuỷ nông và quản lý tốt tài nguyên. 6.2.2 Lưu vực sông Kỳ Cùng - Bằng Giang Hệ thống sông và tài nguyên nước Kỳ Cùng - Bằng Giang là hệ thống sông gồm hai nhánh lớn là Kỳ Cùng, Bằng Giang, chảy trong lòng máng Cao Lạng và gặp nhau ở Trung Quốc. Lưu vực có lượng mưa 1.422mm/năm, tập trung chủ yếu (85%) vào mùa mưa, từ tháng 4 - 10; Lượng bốc hơi 762 mm/năm. Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ đèo Xeo Bo cao 625m, dài 243 km, chảy theo hướng gần Đông Bắc - Tây Nam, lòng sông uốn khúc mạnh, mật độ sông suối 0,88 km/km2, tổng phụ lưu từ cấp 1 - 6 là 80, độ cao bình quân lưu vực 386m, độ dốc 18,8%, diện tích lưu vực thuộc Việt Nam 6.532 km2. Mô đun dòng chảy 17 l/s.km2, nhỏ so với các vùng Bắc Bộ. Tổng lượng dòng chảy 3,6 km3/năm, trong đó 70 - 75% là dòng chảy mùa lũ (tháng 6 - 10). Dòng chảy nhỏ nhất thuộc loại bé nhất vùng Đông Bắc, mô đun dòng chảy 30 ngày nhỏ nhất liên tục dưới 3 l/s.km2. Sông Bằng Giang dài 108 km, bắt nguồn từ Na Lượng Nưa cao 600m, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Diện tích lưu vực thuộc Việt Nam 4.000 km2, 40% là núi đá vôi, độ cao bình quân 482m, độ dốc 20,1%. Hệ số uốn khúc lòng sông 1,29; Mật độ lưới sông 0,91 km/km2, tổng phụ lưu từ cấp 1 - 6 là 26. Cao nguyên Pắc-pó và Bình Lạng có mật độ sông suối rất thấp 0,5 - 0,7 km/km2, vùng núi đất diệp thạch, sa thạch mật độ sông suối lớn hơn 0,9 - 1,24 km/km2. Tổng lượng dòng chảy năm 3,73 km3, trong đó 76% là dòng chảy mùa lũ (tháng 6 - 9).
  19. 104 Nhìn chung lượng nước hiện có trong sông ngòi lớn hơn nhu cầu dùng nước thường xuyên, nhưng vẫn tồn tại vấn đề thiếu nước địa phương do địa hình núi cao và dòng chảy phân phối cực đoan. Đặc biệt nghiêm trọng là thiếu nước sản xuất ở lưu vực sông Kỳ Cùng vào mùa khô, khi tổng dòng chảy ba tháng kiệt nhất chỉ bằng 3% dòng chảy năm, trong khi đó các thoả thuận với Trung Quốc đòi hỏi phải duy trì một lượng nước cần thiết trong sông ở biên giới. Trong các vùng núi đá vôi xa xôi, vào thời kỳ mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3, ngay nguồn nước cung cấp cho dân cư sinh hoạt cũng rất khan hiếm. Lũ mang tính chất núi rõ nét. Dòng chảy mùa lũ cao gấp 10 - 15 lần mùa kiệt. Tại lưu vực Kỳ Cùng mưa lũ tháng 7 có thể làm ngập tới 10.000ha đất nông nghiệp. Đặc điểm dân cư kinh tế xã hội và hiện trạng khai thác tài nguyên nước Cư dân lưu vực chỉ có 1,02 triệu người, đa phần là dân tộc thiểu số, mật độ dân thấp, 91 người/km2, sống rải rác trong các vùng núi, với 86% dân số nông thôn. Nông nghiệp hiện cung cấp 42% tổng sản phẩm khu vực, trong đó 40% là từ chăn nuôi. Chỉ có 10% diện tích lưu vực (tức 135.000ha) được sử dụng để trồng trọt, trong đó có 28.000 ha được tưới bằng các công trình thuỷ lợi nhỏ bơm và tự chảy. Diện tích lúa trong khu vực liên tục giảm và được thay thế bằng các loại cây trồng trên đất khô như ngô, khoai tây, khoai lang và sắn. Đây là một xu thế chuyển đổi đúng đắn, phù hợp với điều kiện tự nhiên khu vực. Rừng trước đây chiếm 90% diện tích lưu vực, hiện đã bị chặt phá nhiều, nhưng những diện tích này vẫn là đất tiềm năng thích hợp nhất cho trồng lại rừng và cây công nghiệp. Sử dụng đất theo hướng này cũng là một giải pháp tốt cho phát triển kinh tế trong điều kiện tài nguyên nước hạn chế. 6.2.3 Lưu vực sông Mã Dòng chính sông Mã bắt nguồn từ vùng núi PhoueiLong - Lai Châu, chảy theo hướng tây bắc - đông nam, qua Lào một đoạn, đổ ra biển Đông qua ba cửa Sung, Lạch Trường, Đồng Hới. Diện tích lưu vực 28.400 km2, dài 512 km, trong đó phần ở Việt Nam có diện tích 17.600 km2 (63%), dài 410 km. Độ cao bình quân lưu vực 762m, độ dốc 17,6%. Mật độ lưới sông 0,66km/km2, hệ số uốn khúc 1,79, tổng phụ lưu từ cấp 1 - 6 là 91. Hai phụ lưu lớn là sông Chu và sông Bưởi đều nhập vào sông Mã tại hạ lưu, cách cửa sông 25 - 48 km, tạo mạng lưới sông hình nan quạt rất nguy hiểm do tăng cường mức ác liệt của lũ. Tổng lượng dòng chảy năm 10,8 km3, dòng chảy phù sa 2,86 triệu tấn/năm. Dòng chảy phân bố không đều. Thượng và trung lưu mưa ít, gió tây khô nóng nên dòng chảy chỉ khoảng 10 - 20 l/s.km2, hạ lưu 25 l/s.km2. Nhiều nước nhất là vùng thượng nguồn các sông Luồng, Lò, Bưởi (25 - 35 l/s.km2). Mùa mưa và mùa lũ ở thượng nguồn bắt đầu sớm hơn hạ nguồn một tháng, khiến mùa lũ hạ nguồn kéo dài 5 tháng, từ tháng 6 - 10, dòng chảy mùa lũ chiếm 70 - 75% tổng lượng năm. Tại Hồi Xuân cường suất lũ lên trên 50 cm/giờ, biên độ mực nước trên 11m. Thời gian lũ lên tương đối ngắn, 2 - 3 ngày. Hạ lưu thường bị ngập úng trong mùa lũ do độ dốc đáy sông nhỏ và ảnh hưởng của triều. Nhật triều không đều, biên độ trung bình 1,3m, lớn nhất 2,5m gây ảnh hưởng vào sâu tới 35-40 km. Sông bị đê khống chế từ Cẩm Thuỷ. Sông Chu, phụ lưu lớn nhất, bắt nguồn từ Lào, diện tích 7.550 km2, dài 325 km. Phần thuộc Việt Nam có diện tích 2.050 km2, dài 160km, mạng lưới sông suối phát triển, 0,98 km/km2. Dòng chảy hạ lưu bị điều tiết từ đập Bái Thượng. Tổng lượng dòng chảy năm 4,6 km3. Chế độ lũ hai mùa: lũ tiểu mãn đầu hè và lũ chính từ tháng 7 - 11. Lũ ác liệt, cường suất lũ lên 40 - 60 cm/giờ trên sông chính và trên 100 cm/giờ trên sông nhánh. Biên độ lũ xấp xỉ 10m. Kiệt nhất vào tháng 3, dòng chảy chỉ đạt 1 - 3% tổng lượng năm. Mặn vào sâu 12 km trên sông Lèn.
  20. 105 Dân số lưu vực 3 triệu người, 93% sống ở nông thôn, mức sống thấp. Kinh tế lưu vực chủ yếu là nông nghiệp, sản xuất lúa gạo chiếm 90%. Công nghiệp tập trung vào chế biến nông sản, sản xuất xi măng và phân bón. Kinh tế và tăng trưởng trong lưu vực bị hạn chế bởi nguồn nước, đất đai kém màu mỡ và điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Diện tích đất nông nghiệp 240.000ha (75% tổng tiềm năng), trong đó 136.000ha được tưới và 27.000ha được tiêu bằng các công trình tự chảy hoặc bơm. Mỗi năm lưu vực chịu tác động của ít nhất một trận bão, kèm theo mưa lớn và lũ lụt. Diện tích bị ngập úng thường xuyên khoảng 44.000ha. Đê biển không đủ cao và vững chắc nên vẫn bị nước mặn tràn, vỡ đê, nhất là khi có bão, sóng lớn. Nguồn nước hiện có trong tháng 3, 4 không đủ đáp ứng cho nhu cầu canh tác vụ xuân ở các vùng sông Chu, Lèn, gây thiếu nước trên 27.000 ha. Ngập úng và hạn hán là những thiên tai gây tổn thất nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp. Mùa kiệt thiếu nước tưới và xâm nhập mặn sâu gây thiệt hại cho nông nghiệp khoảng 17 triệu đô la/năm, bão và ngập úng mùa mưa gây thiệt hại vài chục tỷ/năm. Khả năng tăng nhu cầu nước nông nghiệp trong tương lai có thể xảy ra do tăng vụ và tăng diện tích đất nông nghiệp, cũng như đất nông nghiệp được tưới. Nước dùng cho nông nghiệp và sinh hoạt sẽ tăng. Việc cấp nước đô thị, vùng đông dân và vùng cao sẽ có thể trở thành vấn đề nghiêm trọng trong tương lai. Chiến lược điều tiết dòng chảy hợp lý cho lưu vực là tăng cường xây dựng các hồ chứa đa năng, phục vụ phát điện và tưới. 6.2.4 Lưu vực sông Cả Sông Cả dài 531 km, bắt nguồn từ bản Khom Han, Lào trên độ cao 1.100m, chảy theo hướng chính là Tây Bắc - Đông Nam, đổ ra biển Đông qua ba cửa Hội, Sát và Lò. Diện tích lưu vực 27.000km2, phần thuộc Việt Nam 17.730 km2(66%) và sông dài 360km. Độ cao bình quân lưu vực 294m, độ dốc 18,3%. Tổng phụ lưu từ cấp 1 - 6 là 151, hệ số uốn khúc 1,74. Dòng chảy không lớn, 21 km3/năm (ở Lào 4,9 km3/năm). Dòng chảy phù sa 4,4 triệu tấn/năm. Mô đun dòng chảy ở thượng lưu 20 l/s.km2 và ở hạ lưu 30 l/s.km2. Lũ tiểu mãn tháng 5, 7. Mùa lũ chính từ tháng 7, 8 - 11, dòng chảy chiếm 65 - 75% tổng lượng năm. Biên độ mực nước 10 - 15m. Kiệt nhất là tháng 3 hoặc 4, mô đun 30 ngày liên tục nhỏ nhất là 4,8 - 5,5 l/s.km2. Phụ lưu lớn nhất là sông Hiếu (sông Con), diện tích lưu vực 5.340 km2, dài 228 km. Thượng lưu mưa nhiều, mật độ sông suối rất phát triển, 1 -1,28 km/km2, tổng lượng dòng chảy năm 5 km3. Mô đun dòng chảy trung bình 20 - 30 l/s.km2, mô đun dòng chảy nhỏ nhất 30 ngày liên tục chỉ có 2 - 3 l/s.km2. Phụ lưu lớn thứ hai là sông Ngàn Sâu, diện tích lưu vực 3.210 km2. Mật độ sông suối phát triển trên1 km/km2, nguồn nước phong phú, 6 km3/năm (40 - 70 l/s.km2). Lũ tiểu mãn tháng 5, 7. Mùa lũ chính ngắn, chậm, từ tháng 9 - 11, chiếm 50 - 60% tổng lượng nước năm. Mô đun dòng chảy liên tục 30 ngày nhỏ nhất 3 - 4 l/s.km2. Hệ thống thuỷ lợi được xây dựng khá tốt, như Nham Hùng Nghi, Diễn Yên Quỳnh, Nghệ An và Linh Cảm, nhưng hiệu quả sử dụng chưa cao, diện tích trồng trọt được tưới ước đạt 85.000 ha. Dân số lưu vực 3 triệu người, 90% sống ở nông thôn, 15% là dân tộc ít người. 60% GDP của lưu vực là từ nông nghiệp, trong đó sản xuất lúa gạo chiếm 80%. Công nghiệp chỉ giới hạn trong lĩnh vực xây dựng, sửa chữa đầu máy xe lửa, đóng tàu, chế biến chè và hải sản, với tỷ trọng khoảng 14% GDP. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, một số người dân sống rất nghèo khổ.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản