intTypePromotion=1
ADSENSE

Giáo trình Tổ chức công tác kế toán: Phần 2 - PGS. TS. Đoàn Vân Anh, PGS. TS. Phạm Đức Hiếu (Chủ biên)

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:230

18
lượt xem
4
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo trình "Tổ chức công tác kế toán" được biên soạn nhằm mục tiêu đáp ứng nhu cầu tài liệu giảng dạy, học tập giúp sinh viên hệ thống hóa các kiến thức khoa học về tổ chức công tác kế toán phù hợp với phát triển của nghề nghiệp và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật trong kế toán. Phần 2 của giáo trình gồm có 3 chương với những nội dung sau: Chương 4 tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin kế toán; chương 5 tổ chức cung cấp và phân tích thông tin kế toán; chương 6 tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Tổ chức công tác kế toán: Phần 2 - PGS. TS. Đoàn Vân Anh, PGS. TS. Phạm Đức Hiếu (Chủ biên)

  1. Chương 4 TỔ CHỨC XỬ LÝ, HỆ THỐNG HÓA THÔNG TIN KẾ TOÁN Mục tiêu: Chương này giúp người học: - Nắm vững các yêu cầu và nguyên tắc tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin kế toán - Vận dụng các nội dung của tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin Kế toán tài chính trong tổ chức tính giá, tổ chức tài khoản và sổ kế toán - Vận dụng các nội dung của tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin Kế toán quản trị phục vụ công tác lập kế hoạch, thực hiện, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định. 4.1. YÊU CẦU VÀ NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC XỬ LÝ, HỆ THỐNG HÓA THÔNG TIN KẾ TOÁN 4.1.1. Yêu cầu tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin kế toán Kế toán là công cụ quản lý quan trọng trong hệ thống các công cụ quản lý kinh tế, với chức năng phản ánh, kiểm tra và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính về đơn vị kế toán cho nhiều đối tượng sử dụng thông tin khác nhau. Để thông tin được truyền tải đến người sử dụng, kế toán thực hiện hàng loạt các công việc thu nhận, xử lý, hệ thống hóa, trình bày và công bố thông tin. Trong đó, tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin là một mắt xích quan trọng trong chuỗi các công việc của kế toán. Tại khâu này, kế toán tiến hành tổ chức xử lý các dữ 135
  2. liệu thu thập được để tính giá cho từng chỉ tiêu kinh tế cụ thể, sau đó hệ thống hóa thông tin theo từng đối tượng đã xác định để ghi nhận vào các tài khoản kế toán, sổ kế toán tổng hợp, sổ chi tiết, trên cơ sở đó để tổng hợp thông tin lập báo cáo tài chính, báo cáo quản trị. Xử lý, hệ thống hóa thông tin kế toán có thể được hiểu như sau: Xử lý, hệ thống hóa thông tin kế toán là một khâu trong quy trình kế toán của đơn vị kế toán, là việc áp dụng các kỹ thuật tính giá để xác định giá trị cho từng đối tượng tính giá, hệ thống hóa thông tin để ghi chép trên tài khoản, sổ kế toán và thực hiện tính toán số dư cho từng đối tượng kế toán, nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho việc lên Báo cáo của đơn vị. Để đảm bảo cung cấp thông tin kế toán có chất lượng tốt, phục vụ nhu cầu kiểm tra, đánh giá và ra quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin kế toán, khi tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin kế toán đảm bảo các yêu cầu sau: - Tổ chức xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán phải đảm bảo độ tin cậy, kịp thời, đầy đủ, trung thực, khách quan: mọi thông tin khi ghi chép vào tài khoản và sổ kế toán đều phải được căn cứ vào chứng từ hợp pháp hợp lệ để đảm bảo độ tin cậy. Đối với các thông tin khi xác định giá trị phải dựa trên các ước tính kế toán phải đảm bảo tính trung thực, khách quan. Tổ chức xử lý và hệ thống hóa là khâu trung gian quan trọng để tổng hợp chỉ tiêu lên báo cáo tài chính, báo cáo quản trị. Vì vậy, việc tổ chức xử lý hệ thống hóa thông tin phải đảm bảo đầy đủ, kịp thời, đáp ứng yêu cầu sử dụng thông tin của các bộ phận quản lý chức năng trong đơn vị và người sử dụng thông tin bên trong và ngoài đơn vị kế toán. - Tổ chức xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán phải đảm bảo yêu cầu phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy kế toán của đơn vị. Bộ máy kế toán trong một đơn vị kế toán là sự phân công nhiệm vụ giữa các phần hành kế toán trong phòng, ban kế toán đến 136
  3. từng nhân viên kế toán. Khi tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin phải có sự phân định rõ ràng: xác định rõ trách nhiệm cũng như phạm vi công việc cần thực hiện giữa bộ phận KTTC và KTQT, giữa bộ phận kế toán với các bộ phận chức năng có liên quan. Tổ chức xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán phải phù hợp với trình độ năng lực chuyên môn của cán bộ nhân viên quản lý, kế toán và điều kiện ứng dụng CNTT trong đơn vị. - Tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin đáp ứng yêu cầu quản trị đơn vị Đối với kế toán tài chính, tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin phải đảm bảo tính tuân thủ theo các yêu cầu và hướng dẫn của Nhà nước. Đối với kế toán quản trị, để thông tin kế toán thực sự có chất lượng và là kênh thông tin quan trọng để ra quyết định quản lý đơn vị, khi tổ chức xử lý hệ thống hóa thông tin phải đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của nhà quản lý bao gồm: Nhà quản trị cấp cao, cấp trung gian và cấp cơ sở. Nhằm phục vụ cho mục đích quản trị ở các cấp, các thông tin sau khi được thu nhận phải được xử lý, hệ thống hóa ở tất cả các giai đoạn điều hành hoạt động kinh doanh bao gồm: lập kế hoạch, thực hiện, kiểm tra và ra quyết định. 4.1.2. Nguyên tắc tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin kế toán Để thông tin kế toán đảm bảo yêu cầu đặt ra, khi thực hiện xử lý, hệ thống hóa thông tin phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bản sau: - Tổ chức xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán cần tuân thủ khung pháp lý về kế toán. Tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin kế toán cần tuân thủ theo quy định của luật kế toán, chuẩn mực kế toán, các thông tư hướng dẫn chế độ kế toán áp dụng cho DN, đơn vị hành chính sự 137
  4. nghiệp và các thông tư hướng dẫn khác. KTTC phải đảm bảo tính tuân thủ theo các hướng dẫn của Nhà nước. Đối với KTQT, đây là hệ thống thông tin hướng dẫn, nhà nước không đặt ra khuôn khổ pháp lý áp đặt cho đơn vị khi thực hiện kế toán quản trị. Tuy nhiên, khi tổ chức xử lý thông tin kế toán quản trị cũng tuân thủ theo các nguyên tắc nhất định, để đảm bảo tính khách quan và hiệu quả phục vụ cho nhu cầu quản trị. - Tổ chức xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán phải phù hợp với đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh, tổ chức quản lý của đơn vị. Khi tổ chức chọn mô hình tính giá, lựa chọn và xây dựng hệ thống tài khoản kế toán, sổ kế toán, phải cân nhắc phù hợp với đặc điểm và mục đích tổ chức của đơn vị. Tùy theo đơn vị là DN hay đơn vị hành chính sự nghiệp, là đơn vị có quy mô lớn hay vừa và nhỏ, hoạt động chuyên doanh hay kinh doanh tổng hợp, thị trường rộng hay hẹp, mô hình quản lý tập trung hay phân tán, sự phân cấp trong quản lý tài chính kế toán… để tổ chức và sử dụng công cụ xử lý và hệ thống hóa thông tin phù hợp. - Tổ chức xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán phải đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ về tình hình kinh tế, tài chính của đơn vị. Tổ chức xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán phải đảm bảo cung cấp các thông tin để thực hiện báo cáo về: tình hình tài sản, công nợ, vốn chủ, hoạt động kinh doanh, các dòng tiền… của đơn vị. Đối với kế toán tài chính, phải đảm bảo thuận lợi nhất trong việc tổng hợp thông tin để lên Báo cáo tài chính, trình bày được tổng quát tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị trong kỳ kế toán theo quy định trong khuôn khổ pháp lý của nhà nước. Đối với kế toán quản trị, việc tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin về các hoạt động kinh tế, tài chính trong đơn vị có ý nghĩa 138
  5. đặc biệt quan trọng, nhằm đảm bảo cung cấp thông tin để ra quyết định quản lý. Vì vậy, khi tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin, kế toán quản trị phải đảm bảo được mức độ chi tiết cụ thể, đảm bảo xử lý và hệ thống hóa thông tin quá khứ, hiện tại và tương lai, thông tin tài chính và phi tài chính… để có thể cung cấp rõ nét nhất về tình hình kinh tế, tài chính của đơn vị. - Tổ chức xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán phải đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả. Khi thực hiện việc lựa chọn mô hình tính giá (giá gốc hay giá hợp lý), lựa chọn hệ thống tài khoản, sổ kế toán, mức độ chi tiết đến đâu hay quá trình xử lý các thông tin trong từng khâu: lập kế hoạch, thực hiện, kiểm tra và cung cấp thông tin về từng hoạt động cho các cấp quản lý, phải có sự tính toán giữa chi phí bỏ ra trong tổ chức xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán với hiệu quả đem lại cho đơn vị. 4.2. TỔ CHỨC XỬ LÝ, HỆ THỐNG HÓA THÔNG TIN KẾ TOÁN TÀI CHÍNH Kế toán tài chính (KTTC) là công việc thu thập, kiểm tra, xử lý, phân tích và cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin. KTTC phản ánh thực trạng hiện có và các biến động về tài sản và nguồn vốn của đơn vị dưới dạng tổng quát hay phản ánh các dòng vật chất và dòng tiền tệ trong mối quan hệ giữa đơn vị với môi trường kinh tế bên ngoài. Thông tin KTTC cung cấp chủ yếu cho đối tượng bên ngoài đơn vị, do đó để đảm bảo tính khách quan, thống nhất KTTC phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực và chế độ hiện hành về kế toán của từng quốc gia. Tổ chức công tác kế toán trong một đơn vị, khâu xử lý và hệ thống thông tin kế toán là khâu trung gian và là mắt xích quan 139
  6. trọng, cầu nối thông tin, thu nhận thông tin ban đầu với thông tin đầu ra của KTTC. Xuất phát từ đặc điểm của KTTC, việc tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin phải đảm bảo thông tin định lượng được (dưới hình thái giá trị), tổng hợp được thông tin cho từng đối tượng để lên BCTC và thông tin phải đảm bảo tuân thủ theo các quy định thống nhất. Do đó, việc tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin KTTC là việc vận dụng các nguyên tắc và phương pháp kế toán để thực hiện việc tính giá và hệ thống được thông tin kế toán, cụ thể bao gồm các công việc: tổ chức vận dụng phương pháp tính giá, tổ chức vận dụng phương pháp tài khoản và tổ chức vận dụng hệ thống sổ kế toán. 4.2.1. Tổ chức vận dụng phƣơng pháp tính giá Để phục vụ cho quá trình ghi nhận và cung cấp thông tin về tình hình tài chính và hoạt động của đơn vị, kế toán phải đo lường được các đối tượng kế toán thông qua việc lượng hóa chúng theo thước đo phù hợp gồm thước đo hiện vật, thước đo lao động và thước đo giá trị. Tuy nhiên, với đặc điểm của KTTC là cung cấp thông tin tổng quát về tài sản, nguồn vốn và quá trình hoạt động của đơn vị, do đó thước đo giá trị là thước đo bắt buộc và chủ yếu của KTTC. Các đối tượng của KTTC dù là tài sản hiện hữu hay vô hình, là một khoản công nợ phải thu hay khoản đầu tư tài chính, là nợ phải trả hay vốn chủ sở hữu… đều phải lượng hóa dưới hình thái giá trị. Trong KTTC, để đo lường các đối tượng kế toán dưới hình thái giá trị, kế toán sử dụng phương pháp tính giá. Tổ chức vận dụng phương pháp tính giá là việc xem xét lựa chọn nguyên tắc, cơ sở dữ liệu và kỹ thuật tính toán để đo lường giá trị của các chỉ tiêu kinh tế tương ứng với đối tượng tính giá. Đo lường là kỹ thuật đầu tiên, quan trọng nhất trong chuỗi công việc của kế toán, thông qua đo lường thông tin kế toán sẽ được lượng hóa bằng một thước đo chung là đơn vị tiền tệ để đảm bảo tính thống nhất và có thể cộng dồn nhằm cung cấp thông tin tổng hợp về 140
  7. báo cáo tài chính của đơn vị. Tổ chức vận dụng phương pháp tính giá bao gồm các nội dung sau đây: 4.2.1.1. Tổ chức vận dụng nguyên tắc tính giá Kỹ thuật tính toán xác định giá trị cho từng đối tượng có thể khác nhau, phụ thuộc vào bằng chứng mà kế toán thu thập được liên quan đến đối tượng tính giá. Khi tính giá trước tiên phải đảm bảo các nguyên tắc chung của kế toán: giá gốc, cơ sở dồn tích, nhất quán, trọng yếu, phù hợp… các nguyên tắc này chi phối toàn bộ quy trình kế toán (bao gồm cả khâu thu nhận, xử lý, hệ thống hóa và cung cấp thông tin). Đối với khâu tính giá có thể khái quát theo 2 nguyên tắc sau: - Tính giá phải đảm bảo tính tin cậy Giá trị của các đối tượng tính giá (tài sản, công nợ hay vốn chủ…) phải được xác định dựa trên những căn cứ, bằng chứng tin cậy. Về nguyên tắc, khi ghi nhận ban đầu phải đảm bảo nguyên tắc giá gốc, việc xác định giá gốc căn cứ vào nguồn dữ liệu thu thập được liên quan đến việc hình thành đối tượng tính giá. Trường hợp đối tượng kế toán được hình thành từ các hợp đồng mua, bán, góp vốn rõ ràng, việc xác định giá trị ban đầu có thể dựa trên bằng chứng đáng tin cậy thu thập được khi phát sinh giao dịch. Trường hợp đối tượng tính giá được hình thành từ các nguồn khác như biếu tặng, trao đổi… việc xác định giá trị ghi nhận ban đầu phải dựa trên bằng chứng về giá trị hợp lý trên thị trường, việc xác định giá trị hợp lý cũng phải đảm bảo trung thực, khách quan để thông tin tính giá đảm bảo tính tin cậy. Sau khi ghi nhận ban đầu, đối tượng tính giá được trình bày theo giá gốc. Một số đối tượng có sự thay đổi nhiều theo thị trường phải được đánh giá lại theo giá hợp lý trên thị trường để trình bày thông tin. Việc đánh giá lại này phải đảm bảo dựa trên quan sát trên thị trường và các bằng chứng thu thập được, có như vậy việc tính giá mới đảm bảo nguyên tắc tin cậy. 141
  8. - Tính giá phải đảm bảo tính thống nhất và nhất quán Giá trị của các đối tượng là: tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu… có thể được sử dụng nhiều phương pháp tính giá cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, khi tính giá phải đảm bảo thống nhất về phương pháp tính, nguồn dữ liệu tính toán, đồng thời khi đã sử dụng thống nhất phương pháp phải đảm bảo nhất quán ở các kỳ, giữa các đơn vị trong cùng một công ty, tổng công ty hay đơn vị hành chính sự nghiệp. Thực hiện nguyên tắc này, đảm bảo các chỉ tiêu có thể so sánh được với nhau và có thể tổng hợp được các chỉ tiêu cho toàn đơn vị, toàn ngành (nếu có). 4.2.1.2. Tổ chức lựa chọn cơ sở dữ liệu phục vụ cho tính giá Đối tượng tính giá nghĩa rộng là tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập, chi phí hay kết quả hoạt động kinh doanh. Khi xác định giá trị của tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, chi phí, thu nhập và kết quả hoạt động kinh doanh cần phải tôn trọng các nguyên tắc kế toán chung như: nguyên tắc giá gốc, cơ sở dồn tích, nhất quán, thận trọng, phù hợp… lý tưởng nhất khi tính giá là xác định được giá trị thực của đối tượng tính giá. Tuy nhiên, trong 1 số trường hợp việc xác định giá trị thực của từng đối tượng không phải lúc nào cũng thực hiện được, do đó buộc kế toán phải có các kỹ thuật tính toán tương ứng để đảm bảo xác định giá trị trung thực, khách quan. Hay nói cách khác, việc tính giá phụ thuộc rất lớn vào cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc tính giá. Dựa vào dữ liệu thu thập được liên quan đến đối tượng tính giá để lựa chọn cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc tính giá cho đối tượng là tài sản, công nợ, vốn chủ sở hữu… có thể khái quát cơ sở dữ liệu theo các trường hợp sau: - Thứ nhất, tính giá dựa trên những căn cứ, bằng chứng tin cậy về số tiền đã trả hoặc phải trả liên quan đến đối tượng tính giá. Đây 142
  9. là nguồn dữ liệu có thể tính toán được giá trị của tài sản, công nợ hay đối tượng tính giá khác một cách sát thực nhất. Theo quy định hiện hành về hoạt động KTTC, các đối tượng tính giá (tài sản, công nợ, vốn chủ…) phải được ghi nhận và trình bày theo giá gốc. Vì vậy, khi tính giá nguồn dữ liệu là các bằng chứng trên các chứng từ liên quan đến đối tượng tính giá là nguồn thông tin quan trọng nhất để xác định được giá gốc của đối tượng tính giá. Tuy nhiên, không phải mọi sự biến động tăng lên hay giảm xuống của các đối tượng kế toán đều có thể căn cứ bằng dòng tiền đơn vị bỏ ra hay thu về. Ví dụ như: trường hợp tài sản nhận biếu tặng, hoặc tài sản đem đi tặng, hay tài sản đem đi trao đổi hoặc thanh toán… Với các trường hợp như vậy, căn cứ để tính giá là nguồn dữ liệu quan sát trên thị trường còn gọi chung là giá trị hợp lý. - Thứ hai, tính giá dựa trên các dữ liệu quan sát trên thị trường của đối tượng tính giá là tài sản, công nợ… tương đương, dữ liệu quan sát trên thị trường của các đối tượng tính giá là nơi có thị trường hoạt động công khai, niêm yết. Trường hợp đối tượng tính giá không có thị trường giao dịch công khai thì có thể dựa trên các dữ liệu quan sát trên thị trường thứ cấp làm căn cứ để tính giá. Nếu cả thị trường công khai và thị trường thứ cấp liên quan đến đối tượng tính giá không hoạt động thì phải căn cứ vào tất cả các dữ liệu quan sát được và dùng các kỹ thuật tính giá để tính giá cho từng đối tượng. Như vậy, khi tổ chức lựa chọn nguồn dữ liệu để phục vụ cho tính giá, kế toán cần căn cứ vào nguyên tắc tính giá, sau đó dựa trên bằng chứng có thể thu thập được để lựa chọn nguồn dữ liệu hợp lý nhất, xác định giá trị đảm bảo tính tin cậy, trung thực và khách quan. 4.2.1.3. Tổ chức vận dụng kỹ thuật tính giá Mặc dù về nguyên lý có nhiều mô hình tính giá có thể vận dụng để xác định giá trị của tài sản, công nợ… như: mô hình tính 143
  10. giá theo giá gốc, giá hiện hành, giá đầu ra, giá hợp lý… Nhưng KTTC phải đảm bảo tính tuân thủ. Do vậy, khi vận dụng kỹ thuật tính giá phải đảm bảo theo quy định hiện hành tại Việt Nam (Luật kế toán số 88/2015/QH13): “Giá trị tài sản và nợ phải trả được ghi nhận ban đầu theo giá gốc. Sau ghi nhận ban đầu, đối với một số loại tài sản hoặc nợ phải trả mà giá trị biến động thường xuyên theo giá thị trường và giá trị của chúng có thể xác định lại một cách đáng tin cậy thì được ghi nhận theo giá trị hợp lý tại thời điểm cuối kỳ lập báo cáo tài chính”. Giá gốc là giá trị nhận ban đầu của tài sản hoặc nợ phải trả. Giá gốc của tài sản được tính bao gồm chi phí mua, bốc xếp, vận chuyển, lắp ráp, chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác theo quy định của pháp luật đến khi đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. Giá trị hợp lý là giá trị được xác định phù hợp với giá thị trường, có thể nhận được khi bán một tài sản hoặc chuyển nhượng một khoản nợ phải trả tại thời điểm xác định giá trị. Như vậy, khi tính giá đơn vị kế toán xác định nguồn dữ liệu thu thập được để xác định kỹ thuật tính giá (lựa chọn cơ sở tính giá) phù hợp và đảm bảo nguyên tắc tuân thủ. Để hiểu rõ hơn việc vận dụng kỹ thuật tính giá, dưới đây đề cập đến áp dụng tính giá cho một số tài sản, nợ phải trả cơ bản trong đơn vị kế toán: a. Vận dụng giá gốc để tính giá trị cho tài sản và nợ phải trả trong đơn vị (i) Ghi nhận ban đầu: * Tính giá đối với tài sản hình thành từ nguồn mua vào: Tài sản mua vào bao gồm: hàng hóa, nguyên vật liệu, tài sản cố định, bất động sản đầu tư… tại thời điểm ghi nhận ban đầu căn 144
  11. cứ vào chứng từ tổng hợp từ khâu mua, các chi phí phát sinh khâu mua để tổng hợp tính giá cho từng đối tượng. Giá gốc của tài sản mua bao gồm: giá mua ghi trên hóa đơn trừ các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá (nếu có), cộng với các khoản thuế phát sinh trong khâu mua (không bao gồm thuế được hoàn lại) và cộng các khoản chi phí phát sinh trong khâu mua như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ, phí bảo hiểm, chi phí môi giới… * Tính giá đối với tài sản sản xuất mới được hình thành trong nội bộ của đơn vị: Là giá thành thực tế của tài sản tính toán được dựa trên tổng chi phí đơn vị đã chi ra để có được tài sản đó. Việc lựa chọn sử dụng kỹ thuật tính giá thành phụ thuộc vào quy trình sản xuất, yêu cầu quản lý và năng lực thực tế tổ chức tính giá của đơn vị để lựa chọn tính giá thành theo các phương pháp: tính giá thành giản đơn, hệ số, tỷ lệ, định mức hay tính giá thành phân bước. * Tính giá đối với tài sản hình thành từ các nguồn khác: biếu tặng, nhận góp vốn, trao đổi Khi xác định giá gốc của tài sản hình thành từ các nguồn này căn cứ vào giá hợp lý do các bên tham gia giao dịch quy định trên hợp đồng. Khi xác định giá quy định trong hợp đồng góp vốn, trao đổi, biếu tặng tài sản phải dựa trên dữ liệu khách quan thu thập được trên thị trường của các tài sản tương tự, để xác định giá của tài sản đảm bảo tính giá theo đúng nguyên tắc. * Tính giá các khoản nợ phải trả: giá gốc của khoản nợ phải trả là giá thực tế của khoản nợ phải trả, giá thực tế là nghĩa vụ hiện tại phát sinh từ các giao dịch, sự kiện mà đơn vị có trách nhiệm phải thanh toán bằng nguồn lực của mình. Căn cứ để xác định nghĩa vụ hiện tại là dựa vào các hợp đồng mua bán, hợp đồng tín dụng, hợp đồng lao động… 145
  12. Trong một số trường hợp, với các hợp đồng, giao dịch không xác lập ngay được giá trị của các khoản nợ ví dụ: hợp đồng mua trả góp, trái phiếu chuyển đổi… giá trị của các khoản nợ được xác định trên dòng tiền tương lai, khi xác định giá trị thực tế phải căn cứ vào giá trị hiện tại của luồng tiền trong tương lai về giá trị hiện tại. (ii) Sau ghi nhận ban đầu: * Tính giá đối với trường hợp giảm tài sản: Về nguyên tắc khi giảm tài sản kế toán ghi nhận giảm theo giá gốc của tài sản tương ứng. Tuy nhiên, giá gốc của một tài sản ở các thời điểm mua khác nhau, giá có thể khác nhau, do đó khi xác định giá trị của tài sản giảm phải xem xét sử dụng giá gốc ở thời điểm mua nào cho hợp lý với giao dịch thực tế. Theo quy định hiện hành, tùy theo yêu cầu và đặc điểm giao dịch để lựa chọn các phương pháp tính giá xuất, bao gồm: Phương pháp giá thực tế đích danh, phương pháp bình quân gia quyền, phương pháp nhập trước, xuất trước. * Đối với tài sản cố định, bất động sản đầu tư do tính chất hao mòn trong quá trình sử dụng, kế toán tính giá trị hao mòn thông qua việc sử dụng các phương pháp khấu hao, cuối kỳ trình bày chỉ tiêu về tài sản cố định, bất động sản đầu tư theo 3 chỉ tiêu: Nguyên giá (giá gốc), giá trị hao mòn và giá trị còn lại. b. Tính giá với một số trường hợp yêu cầu sử dụng giá trị hợp lý Theo quy định của các chuẩn mực kế toán Việt Nam, về cơ bản, tài sản, nợ phải trả sau ghi nhận ban đầu, kế toán tuân thủ việc trình bày thông tin theo giá gốc. Việc trình bày thông tin theo giá gốc đảm bảo tính khách quan và đặc biệt là thuận lợi cho việc kiểm tra, kiểm toán. Tuy nhiên, trong một số trường hợp tài sản có dấu hiệu suy giảm giá giá trị và đơn vị có bằng chứng tin cậy về sự suy giảm giá giá trị. Lúc này, yêu cầu kế toán phải trình bày thông tin về tài sản theo giá trị thuần có thể thực hiện được. Một số tài sản hoặc 146
  13. khoản công nợ có sự biến động thường xuyên theo giá thị trường và có bằng chứng tin cậy về sự thay đổi đó cần được trình bày theo giá trị hợp lý. Việc tính giá để trình bày thông tin theo giá trị hợp lý hay giá trị thuần lưu ý một số điểm sau: - Đối với hàng tồn kho, trình bày giá trị hàng tồn kho theo giá gốc, đối với hàng tồn kho có dấu hiệu suy giảm giá trị do giảm giá thị trường, hoặc bị giảm chất lượng trong quá trình bảo quản, nếu có bằng chứng tin cậy về sự suy giảm giá trị, yêu cầu kế toán thực hiện việc trích lập dự phòng và trình bày thông tin về hàng tồn kho theo giá trị thuần có thể thực hiện được. - Các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ như: tiền, công nợ phải thu, công nợ phải trả, các khoản vay khi trình bày phải được đánh giá theo tỷ giá giao dịch cuối kỳ. - Công cụ tài chính theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán phải ghi nhận và đánh giá lại theo giá trị hợp lý. Đến thời điểm hiện tại, mặc dù chuẩn mực kế toán Việt Nam chưa quy định cụ thể về đánh giá lại với công cụ tài chính và trình bày theo giá trị hợp lý. Tuy nhiên, về mặt nguyên tắc nếu có các bằng chứng tin cậy về sự biến động theo thị trường thường xuyên và đây là các công cụ có tính thanh khoản cao, đơn vị có thể thực hiện trình bày theo giá trị hợp lý tuân thủ theo quy định của Luật kế toán. 4.2.2. Tổ chức vận dụng phƣơng pháp tài khoản kế toán Phương pháp tài khoản kế toán là phương pháp kế toán phân loại để phản ánh và kiểm tra một cách thường xuyên, liên tục, toàn diện, có hệ thống về tình hình và sự vận động của từng đối tượng kế toán. Sử dụng phương pháp tài khoản thực hiện được chức năng xử lý và hệ thống hóa thông tin, vì nhờ phương pháp tài khoản kế toán thu thập và cung cấp thông tin tổng hợp, kịp thời về tình hình và sự 147
  14. biến động của từng đối tượng kế toán trong quá trình hoạt động của đơn vị. Đồng thời, phương pháp tài khoản kế toán có thể hệ thống hóa được số liệu theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính để lập các báo cáo định kỳ, phục vụ cho công tác quản lý và điều hành đơn vị. Tổ chức vận dụng phương pháp tài khoản kế toán để xử lý, hệ thống hóa thông tin được thực hiện theo hai nội dung cơ bản đó là: tổ chức xây dựng và lựa chọn hệ thống tài khoản kế toán; tổ chức ghi ghép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên tài khoản kế toán. 4.2.2.1. Tổ chức xây dựng và lựa chọn hệ thống tài khoản kế toán Tài khoản kế toán là hình thức biểu hiện của phương pháp tài khoản kế toán, được sử dụng để phản ánh một cách thường xuyên, liên tục, có hệ thống số hiện có và sự vận động của đối tượng kế toán cụ thể. Nguyên tắc xây dựng hệ thống tài khoản kế toán căn cứ vào yêu cầu quản lý và mục đích hệ thống hóa thông tin để xây dựng hệ thống tài khoản phù hợp với đơn vị. Tổ chức xây dựng hệ thống tài khoản bao gồm các công việc sau: a. Xác định, xây dựng hệ thống tài khoản cho đơn vị Hệ thống tài khoản bao gồm: danh mục các tài khoản tổng hợp, tài khoản chi tiết và nội dung, kết cấu và nguyên tắc sử dụng các tài khoản kế toán. Tổ chức xây dựng hệ thống tài khoản lưu ý các điểm sau đây: - Do KTTC phải đảm bảo tính tuân thủ nên khi tổ chức xây dựng hệ thống tài khoản phải dựa vào hệ thống tài khoản kế toán do Bộ Tài chính ban hành, đơn vị căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và tính chất hoạt động của đơn vị mình cũng như đặc điểm sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý để nghiên cứu, lựa chọn các tài khoản kế toán phù hợp, cần thiết để hình thành một hệ thống tài khoản kế toán cho đơn vị mình. 148
  15. - Trong trường hợp đơn vị có hoạt động đặc thù, có yêu cầu quản lý riêng, đơn vị có thể căn cứ vào nguyên tắc chung được thừa nhận và các quy định hướng dẫn trong chuẩn mực kế toán, căn cứ vào yêu cầu quản lý, nhu cầu sử dụng thông tin và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán, để đơn vị có thể tự xây dựng hệ thống tài khoản cho đơn vị mình. Hệ thống tài khoản phải đảm bảo dùng để hệ thống hóa thông tin và lên được dữ liệu trên báo cáo tài chính theo đúng bản chất và yêu cầu trình bày thông tin trên báo cáo trong các chuẩn mực kế toán. b. Tổ chức lựa chọn vận dụng hệ thống tài khoản kế toán phù hợp với đơn vị kế toán (i) Đối với doanh nghiệp, hiện có 2 hệ thống tài khoản để doanh nghiệp có thể lựa chọn là hệ thống tài khoản ban hành kèm theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp (Phụ lục 4.1) và hệ thống tài khoản ban hành theo Thông tư số 133/2016/TT-BTC ngày 26/08/2016 của Bộ Tài chính về chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thông tư số 200/2014/TT-BTC hướng dẫn áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện theo chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ ban hành theo Thông tư số 133/2016/TT-BTC hoặc chế độ kế toán theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC và phải thực hiện nhất quán trong niên độ kế toán. Trường hợp, doanh nghiệp lựa chọn áp dụng Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo Thông tư số 133/2016/TT-BTC thì không bắt buộc phải điều chỉnh, sửa đổi theo những nội dung thay đổi của chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC. Theo quy định đó, tùy theo quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, yêu cầu tổ chức quản lý để doanh nghiệp xác định lựa chọn hệ thống tài khoản phù hợp và đảm bảo tính tuân thủ và nhất quán. 149
  16. Một số doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực đặc thù như: Bảo hiểm, bưu chính viễn thông… có thể dựa trên nền hướng dẫn của của Bộ Tài chính để xây dựng hệ thống tài khoản riêng của các doanh nghiệp có đăng ký với Bộ Tài chính. (ii) Đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp: xây dựng hệ thống tài khoản đảm bảo tuân thủ theo hướng dẫn hệ thống tài khoản ban hành theo Thông tư số 107/TT-BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính về chế độ kế toán đơn vị hành chính, sự nghiệp (Phụ lục 4.2). Khi tổ chức lựa chọn xây dựng hệ thống tài khoản cho đơn vị sự nghiệp cần lưu ý các điểm sau: - Hệ thống tài khoản với 10 loại tài khoản, bao gồm: Các loại tài khoản trong bảng: là tài khoản từ loại 1 đến loại 9 (tài khoản trong bảng) và tài khoản loại 0 (tài khoản ngoài bảng). Các tài khoản trong bảng được phân chia theo tình hình tài chính (gọi tắt là KTTC) tại đơn vị phản ánh tình hình tài sản, công nợ, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, thặng dư (thâm hụt) của đơn vị trong kỳ kế toán. Về cơ bản các tài khoản này được ghi nhận trên cơ sở kế toán dồn tích (tương tự doanh nghiệp). Loại tài khoản ngoài bảng: là tài khoản loại 0, được hạch toán đơn (không hạch toán bút toán đối ứng giữa các tài khoản). Các tài khoản ngoài bảng liên quan đến ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc ngân sách nhà nước được phản ánh theo mục lục ngân sách nhà nước, theo niên độ và theo các yêu cầu quản lý khác của ngân sách nhà nước và được ghi nhận trên cơ sở tiền. - Nếu một nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh mà liên quan đến thu, chi ngân sách nhà nước thì kế toán vừa phải hạch toán kế toán tài chính và đồng thời hạch toán kế toán ngân sách. c. Tổ chức xây dựng hệ thống tài khoản chi tiết Đơn vị kế toán căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán do Bộ Tài chính ban hành hoặc được Bộ Tài chính chấp thuận áp dụng cho 150
  17. đơn vị để chi tiết hoá theo các cấp (cấp 2, 3, 4…) phù hợp với yêu cầu quản lý, kế hoạch, dự toán đã lập và yêu cầu cung cấp thông tin của kế toán các đối tượng sử dụng thông tin. Việc tổ chức xây dựng hệ thống tài khoản chi tiết dựa trên các yêu cầu sau: - Xuất phát từ yêu cầu cung cấp thông tin kế toán quản trị của từng cấp quản lý. - Các tài khoản có mối quan hệ với nhau cần đảm bảo tính thống nhất về ký hiệu, cấp độ... Ví dụ: tài khoản cấp 1 là TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”, TK 5111 “Doanh thu bán hàng hóa”, phải tuân thủ theo quy định hiện hành, đơn vị có thể mở tài khoản cấp 3 là TK 51111 “Doanh thu bán hàng hóa A”… - Việc chi tiết hoá tài khoản không được làm sai lệch nội dung, kết cấu và phương pháp ghi chép của tài khoản. 4.2.2.2. Tổ chức ghi ghép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên tài khoản kế toán Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh được thu nhập vào chứng từ kế toán, chứng từ sau khi được kiểm tra đảm bảo tính hợp pháp và hợp lệ là căn cứ để ghi chép, hệ thống hóa vào tài khoản kế toán. Tổ chức ghi chép trên tài khoản kế toán được thực hiện theo hai cách sau đây: a. Ghi đơn Mỗi nghiệp vụ kinh tế phát sinh được phản ánh và ghi chép vào một tài khoản riêng biệt, độc lập mà không tính đến mối quan hệ với các tài khoản kế toán khác (chỉ ghi vào một bên Nợ hoặc Có của tài khoản kế toán). Khi tổ chức ghi đơn cần chú ý các điểm sau: - Ghi đơn được sử dụng trong các trường hợp: Phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào tài khoản chi tiết, với mục đích để 151
  18. giải thích cụ thể hóa số liệu đã kế toán vào tài khoản tổng hợp tương ứng. Ghi đơn còn dùng để ghi chép vào các tài khoản phản ánh các chỉ tiêu ngoài bảng cân đối kế toán. - Tổ chức ghi đơn hạn chế sẽ không phản ánh được mối quan hệ với các tài khoản khác, không phù hợp với các đơn vị có nhiều giao dịch kinh tế phát sinh. Tuy nhiên, tổ chức ghi đơn vẫn được thực hiện khi hệ thống hóa thông tin để trình bày các chỉ tiêu ngoài bảng cân đối, ví dụ: ghi đơn vào các tài khoản loại 0 đối với đơn vị hành chính sự nghiệp và trình bày thông tin chi tiết về một đối tượng kế toán theo yêu cầu cần theo dõi chi tiết sự biến động tăng giảm của riêng đối tượng đó. b. Ghi kép Mỗi nghiệp vụ kinh tế phát sinh được phản ánh một cách đồng thời vào các tài khoản kế toán có liên quan theo đúng nội dung kinh tế của nghiệp vụ và theo đúng mối quan hệ khách quan giữa các đối tượng kế toán mà nghiệp vụ tác động đến. Ghi kép là việc ghi chép vào ít nhất hai tài khoản kế toán theo đúng nội dung kinh tế và quan hệ đối ứng của tài khoản kế toán. Khi tổ chức thực hiện ghi kép cần chú ý các điểm sau: - Mỗi nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến ít nhất hai đối tượng kế toán cụ thể, nên kế toán ghi vào ít nhất hai tài khoản kế toán. Sự tác động kép đến các đối tượng kế toán cụ thể và quy ước ghi chép trên tài khoản kế toán, dẫn đến ghi kép bao giờ cũng phải ghi Nợ và tài khoản này đối ứng với ghi Có vào tài khoản kế toán khác, số tiền phát sinh bên Nợ của các tài khoản kế toán luôn bằng số tiền bên Có của các tài khoản đối ứng trong ghi kép. - Ghi kép được sử dụng phổ biến trong các đơn vị kế toán do có tính ưu việt đó là sử dụng ghi chép giúp dễ dàng kiểm tra đối chiếu phát hiện sai sót về số liệu kế toán, kiểm soát được đối tượng 152
  19. kế toán trong đơn vị, thấy được nguồn gốc của sự chuyển hóa cũng như mối quan hệ giữa các đối tượng kế toán do nghiệp vụ kinh tế phát sinh tác động đến. Trong đơn vị kế toán, căn cứ vào giao dịch phát sinh, yêu cầu và mục đích hệ thống hóa thông tin dùng để lên báo cáo tài chính hay để theo dõi chi tiết đối tượng, căn cứ vào điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán để kế toán lựa chọn cách ghi chép phù hợp, đảm bảo chức năng hệ thống hóa thông tin tốt nhất cho việc lập báo cáo tài chính. 4.2.3. Tổ chức hệ thống sổ kế toán Sổ kế toán dùng để ghi chép, hệ thống và lưu giữ toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã phát sinh theo nội dung kinh tế và theo trình tự thời gian có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Nội dung sổ phải bao gồm các thông tin sau đây: - Sổ kế toán dùng để ghi chép, hệ thống và lưu trữ toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phát sinh có liên quan đến đơn vị kế toán. Sổ kế toán phải ghi rõ: Tên đơn vị; tên sổ; ngày, tháng, năm lập sổ, ngày, tháng, năm khoá sổ; chữ ký của người lập sổ, kế toán trưởng và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; số trang, đóng dấu giáp lai. - Sổ kế toán phải có các nội dung chủ yếu sau: ngày tháng ghi sổ; số hiệu và ngày tháng của chứng từ kế toán dùng làm căn cứ ghi sổ; tóm tắt nội dung của nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh; số tiền của nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh; số dư đầu kỳ, cuối kỳ của các tài khoản kế toán. (Mẫu một số sổ kế toán Phụ lục 4.3, 4.4) Tổ chức hệ thống sổ kế toán là việc căn cứ vào yêu cầu xử lý và hệ thống hóa thông tin để thực hiện các công việc: Xây dựng danh mục hệ thống sổ kế toán, tổ chức công việc mở sổ, ghi sổ, chữa sổ, khóa sổ và lưu trữ sổ kế toán cho một đơn vị kế toán. 153
  20. 4.2.3.1. Tổ chức xây dựng danh mục sổ kế toán a. Nguyên tắc xây dựng danh mục sổ kế toán Xây dựng danh mục hệ thống sổ kế toán phục vụ cho hệ thống hóa thông tin KTTC đảm bảo tính tuân thủ theo các quy định của nhà nước về sổ kế toán, tùy theo đặc thù của đơn vị để lựa chọn, xây dựng hệ thống sổ kế toán phù hợp để đảm bảo cung cấp thông tin về giao dịch kinh tế một cách minh bạch, phản ánh đầy đủ, kịp thời, dễ kiểm tra, kiểm soát và đối chiếu. Khi tổ chức hệ thống sổ cho đơn vị, cần đảm bảo nguyên tắc: - Đơn vị kế toán phải căn cứ vào hệ thống sổ kế toán do Bộ Tài chính quy định để chọn một hệ thống sổ kế toán áp dụng ở đơn vị. - Mỗi đơn vị kế toán chỉ sử dụng một hệ thống sổ kế toán cho một kỳ kế toán năm. - Đơn vị kế toán được cụ thể hoá các sổ kế toán đã chọn để phục vụ yêu cầu kế toán của đơn vị. b. Căn cứ xây dựng danh mục sổ kế toán Tổ chức xây dựng hệ thống sổ kế toán dựa trên các quy định của Luật kế toán số 88/2015/QH-13, sau đó căn cứ vào hướng dẫn hệ thống sổ cho doanh nghiệp ban hành theo TT200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp và hệ thống sổ hướng dẫn trong TT133/2016/TT-BTC ngày 26/08/2016 của Bộ Tài chính về chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đối với các đơn vị hành chính, sự nghiệp căn cứ vào hướng dẫn hệ thống sổ kế toán ban hành theo TT107/TT-BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính về chế độ kế toán đơn vị hành chính, sự nghiệp. Tùy theo quy mô của đơn vị, yêu cầu hệ thống hóa và xử lý thông tin, yêu cầu về quản lý để tổ chức xây dựng lựa chọn sổ kế toán tổng hợp phù hợp với đơn vị mình. 154
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2