intTypePromotion=3

Giáo trình Vệ sinh gia súc: Phần 1 - NXB Nông Nghiệp

Chia sẻ: Hoa La Hoa | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:68

0
233
lượt xem
80
download

Giáo trình Vệ sinh gia súc: Phần 1 - NXB Nông Nghiệp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo trình Vệ sinh gia được chia thành hai phần. Phần 1 giới thiệu đến bạn đọc nội dung vệ sinh gia súc học đại cương, gồm có 3 chương, từ chương 1 đến chương 3 về các vấn đề vệ sinh môi trường không khí trong chăn nuôi, vệ sinh môi trường đất trong chăn nuôi và vệ sinh môi trường nước trong chăn nuôi. Hi vọng cuốn sách này sẽ giúp cho bạn đọc có thêm những kiến thức, kinh nghiệm trong việc chăn nuôi và nghiên cứu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Vệ sinh gia súc: Phần 1 - NXB Nông Nghiệp

  1. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ThS. VŨ ĐÌNH VƯỢNG, TS. ĐẶNG XUÂN BÌNH, TS. NGUYỄN VĂN SỬU, ThS. PHẠM THỊ PHƯƠNG LAN ThS. VŨ ĐÌNH VƯỢNG (Chủ biên) GIÁO TRÌNH VỆ SINH GIA SÚC (DÙNG CHO HỆ ĐẠI HỌC) NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI – 2007 1
  2. LỜI NÓI ĐẦU Trong chăn nuôi, việc hiểu rõ sự tác động của các yếu tố ngoại cảnh đối với cơ thể nhằm tạo ra những vật nuôi khoẻ mạnh, có sức chống đỡ với dịch bệnh là điều kiện cơ bản để cải tạo phẩm chất con giống và nâng cao sức sản xuất, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm phục vụ cho con người. Mặt khác, việc áp dụng các biện pháp cần thiết trong quy hoạch, thiết kế, xây dưng chuồng trại và xử lý chất thải chăn nuôi có một ý nghĩa hết sức quan trọng để hạn chế ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khoẻ cho con người, bảo vệ và phát triển động vật. Với mục đích nâng cao hơn nữa cháy t lương giảng dạy cho sinh viên hệ đại học chuyên ngành đào tạo Bác sĩ Thú y và Kỹ sư Chăn nuôi - Thú y, đồng thời góp phần bổ sung nguồn tài liệu tham khảo cho các cán bộ kỹ thuật trong ngành, chúng tôi đã biên soạn giáo trình Vệ sinh gia súc. Cuốn giáo trình Vệ sinh gia súc được biên soạn dựa trên cơ sở những kiến thức cơ bản, đồng thời cập nhật một số kết quả nghiên cứu mới ở trong và ngoài nước, có sự tham khảo ý kiến của một số nhà khoa học chuyên môn sâu trong lĩnh vực vệ sinh gia súc ở Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội và Viện thú y Quốc gia. Khi biên soạn giáo trình, chúng tôi đã cố gắng thể hiện tính cơ bản, khoa học, hiện đại và tính hệ thống của môn học nhằm cung cấp cho người đọc những thông tin cần thiết về khoa học vệ sinh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm nhưng do trình độ và khả năng có hạn nên sẽ không tránh khỏi những sai sót. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để từng bước hoàn thiện giáo trình trong lần tái bản sau. Chúng tôi xin chân thành tiếp thu và cảm ơn! Tập thể tác giả 2
  3. MỞ ĐÂU 1.KHÁI NIỆM MÔN HỌC Vệ sinh gia súc là môn khoa học nghiên cứu về sự ảnh hưởng của môi trường xung quanh đối với sức khoẻ và sức sản xuất của động vật. Mọi sự biến đổi quá mức của các yếu tố môi trường xung quanh (không khí, đất, nước vv. . .) đều có những tác động, ảnh hưởng đến cơ thể và sức khoẻ của vật nuôi. Do vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh tới động vật sẽ giúp tìm ra giải pháp để khắc phục, khống chế, điều chỉnh một cách tối ưu, phù hợp với đặc điểm sinh lý bình thường của cơ thể gia súc, đảm bảo cho sức khoẻ, sức sản xuất, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, hạn chế sự ô nhiễm môi trường sinh thái. 2. NHIỆM VỤ CỦA MÔN HỌC VỆ SINH GIA SÚC Vệ Sinh gia súc học là khoa học khảo sát mối quan hệ giữa điều kiện ngoại cảnh (bao gồm các yếu tố tự nhiên và điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng) với cơ thể gia súc, gia cầm, nhằm bảo vệ sức khoẻ và nâng cao sức sản xuất của chúng. Có thể nói khoa học vệ sinh gia súc là nghệ thuật giữ gìn sức khoẻ, phòng ngừa dịch bệnh, thể hiện phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Theo Pavlop, khi chúng ta khám phá được tất cả nguyên nhân của dịch bệnh thì y học sẽ trở thành y học của tương lai, tức là Vệ sinh học. Vận dụng trong thú y học càng cho thấy sự xác đáng, bởi phải phòng, trị bệnh cho cả đàn, không thể chỉ tập trung ở một vài con gia súc, gia cầm và việc phòng, in bệnh trước hết phải đạt được yêu cầu là có lợi về kinh tế. Đối với người chăn nuôi, việc hiểu rõ tác động của những nhân tố ngoại cảnh như điều kiện khí hậu, thời tiết, nhu cầu về thức ăn, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, việc khai thác, sử dụng vv., đến cơ thể gia súc sẽ góp phần tạo ra những vật nuôi khoẻ mạnh, có sức chống đỡ tốt với dịch bệnh, là điều kiện cơ bản để từng bước nâng cao chất lượng con giống và sức sản xuất của từng loại gia súc, gia cầm được chăn nuôi theo những mục đích khác nhau. 3. MỐI QUAN HỆ GIỮA VỆ SINH GIA SÚC HỌC VỚI CÁC KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH KHÁC Phạm vi của khoa học vệ sinh gia súc rất rộng. Phải vận dụng kiến thức của những môn học cơ sở như: Sinh lý học; Hoá học; Vật lý vv. . . Phải dựa vào những thành tựu của nhiều môn học khác để thúc đẩy khoa học vệ sinh gia súc: Khí tượng thuỷ văn giúp vệ sinh môi trường không khí, đất và môi trường nước; Thổ nhưỡng học giúp vệ sinh đồng cỏ trồng cây thức ăn, các bãi chăn thả gia súc; Đông y học giúp vệ sinh dinh dưỡng thức ăn và cây cỏ độc hại đối với gia súc, gia cầm; Dịch tễ học giúp nâng cao hiểu biết về các yếu tố bệnh nguyên, quy luật của sự phát sinh, phát triển và ngừng tắt của dịch bệnh gia súc, các biện pháp phòng, chống dịch bệnh vv . . . 3
  4. 4. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KHOA HỌC VỆ SINH GIA SÚC Cơ sở lý luận của khoa học vệ sinh gia súc là học thuyết duy vật biện chứng về Sinh vật học, nghiên cứu những quy luật cơ bản về quan hệ giữa cơ thể động vật và ngoại cảnh: ở đây chủ yếu dựa vào học thuyết của Michurin và học thuyết Pavlop. Học thuyết Michurin xây dựng trên nguyên tắc về sự thống nhất giữa cơ thể và ngoại cảnh; về tác động tích cực của ngoại cảnh trong quá trình hình thành cơ thể động vật; về sự di truyền của những đặc tính mới; về khả năng biến đổi của cơ thể phù hợp theo điều kiện ngoại cảnh. Theo quan điểm của Pavlop thì cơ thể của động vật cấp cao do có hoạt động của phản xạ có điều kiện nên đã tạo cho cơ thể sống và ngoại cảnh luôn có sự liên hệ thông qua hệ thống thần kinh. Một số phản xạ có điều kiện được xây dựng trong đời sống cá thể và có khả năng di truyền. Như vậy, các biện pháp vệ sinh chủ yếu nhằm tạo ra những điều kiện ngoại cảnh thích hợp làm cho cơ thể gia súc hình thành những phản xạ có điều kiện có lợi, dược cố định lại để gia tăng sức đề kháng chống dịch, bệnh và nâng cao sức sản xuất của chúng. Pavlop cho rằng, một cơ thể khoẻ mạnh sẽ luôn duy trì được trạng thái cân bằng với điều kiện ngoại cảnh. Một cơ thể mắc bệnh khi gặp phải những điều kiện ngoại cảnh không bình thường hoặc những hoàn cảnh thường gặp nhưng cường độ tăng quá ngưỡng, kết hợp với thời gian tác động kéo dài dẫn tới mất thăng bằng nội môi trong cơ thể, giữa cơ thể với môi trường bên ngoài. Nếu điều kiện vệ sinh thú y không đảm bảo, thì không những gia súc không thể hiện được những đặc tính di truyền quý, khả năng phản xạ tốt mà còn bị giảm sức đề kháng và có thể mắc bệnh. Cũng theo Pavlop, nghiên cứu đặc điểm sinh lý học của cơ thể động vật chính là cơ sở để xây dựng những tiêu chuẩn kỹ thuật về vệ sinh. Khi muốn xác định mức độ “dễ chịu” của các nhân tố ngoại cảnh đối với cơ thể trong những hoàn cảnh cụ thể, người ta thường căn cứ vào ngưỡng giới hạn cao nhất hoặc thấp nhất mà cơ thể chịu được. Vượt quá giới hạn này, cơ thể sẽ bị tác động dẫn tới sự hình thành trạng thái phản ứng sinh lý. Nếu cường độ và thời gian ảnh hưởng tiếp tục tăng lên, các cơ năng sinh lý chịu ảnh hưởng chủ yếu sẽ bị rối loạn, cơ thể gia súc rơi vào tình trạng bệnh lý. Tác dụng của phản xạ có điều kiện còn chứng minh một yếu tố ngoại cảnh vẫn coi là không có tác dụng trên cơ thể trong những điều kiện nhất định, có thể trở thành có hại cho cơ thể thông qua hệ thống thần kinh và những cơ quan mẫn cảm của cơ thể. Vì vậy, khoa học vệ sinh gia súc còn có thể khám phá trong những điều kiện nào, một yếu tố ngoại cảnh có thể trở nên có hại, phương pháp khắc phục sự ảnh hưởng có hại đó bằng cách giảm cường độ, thời gian tác động hoặc thay đổi những điều kiện khác như thay đổi phương thức cho ăn, uống, vận động, chăn thả, biện pháp nhốt giữ (chỗ ở cho gia súc) vv… Đồng thời tăng cường các yếu tố có lợi cho sức khoẻ của gia súc như vệ sinh chuồng trại, độ thông thoáng về mùa hè và ấm áp trong mùa đông, biện 4
  5. pháp tắm chải, vệ sinh lông, da, chân, móng vv . . . 5. YÊU CẦU ĐỐI VỚI KHOA HỌC VỆ SINH GIA SÚC Công tác vệ sinh gia súc phải góp phần tăng cường tác dụng phòng ngừa dịch bệnh, thực hiện phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, cải tiến điều kiện chăn nuôi, giữ gìn sức khoẻ và nâng cao sức đề kháng cơ thể của gia súc. Phải thực hiện các biện pháp ngăn chặn triệt để các hành vi buôn bán, giết mổ, vận chuyển gia súc ốm, chết. Thực hiện nghiêm công tác kiểm soát giết mổ, kiểm dịch vận chuyển động vật xuất, nhập khẩu, vận chuyển quá cảnh và lưu thông nội địa. Ban hành các quy định về sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y, quy định về công tác phòng chống dịch bệnh động vật, kiểm tra vệ sinh thú y nội địa và xuất nhập khẩu. Xây dựng các tiêu chuẩn về chăn nuôi và phát triển động vật, bảo vệ gia súc cày kẻo, gia súc sinh sản và gia súc non, thực hiện vệ sinh thức ăn, nước uống, thân thể, bãi chăn thả, chuồng trại, phương tiện vật dụng chăn nuôi, vệ sinh nước thải, chất thải chăn nuôi vv… Xây dựng và củng cố các hình thức chăn nuôi tập trung có quy mô lớn, phù hợp với từng đối tượng gia súc, gia cầm theo đặc thù riêng của khu vực nhằm thực hiện tốt việc quản lý, theo dõi và phòng chống dịch bệnh. Thường xuyên tuyên truyền, phát động phong trào thực hiện vệ sinh chăn nuôi ở hộ gia đình, vận động người dân thay đổi tập quán chăn nuôi lạc hậu, chuyển đổi sang các hình thức chăn nuôi phù hợp, khuyến khích tham gia thực hiện vệ sinh thú y phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm. 6. TÌNH HÌNH VỆ SINH GIA SÚC HIỆN TẠI Thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng gia súc không tuân thủ quy trình kỹ thuật: đặc biệt đối với gia súc cày kẻo (chủ yếu là trâu, bò), nguồn dự trữ thức ăn cho gia súc trong vụ đông luôn ở trong tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng nên hàng năm vẫn còn rất nhiều trâu, bò chết vì đói rét, bê nghé chết vì thiếu sữa. Mặt khác, do suy nhược cơ thể kéo dài vì thiếu thức ăn trong mùa thu - đông, đến vụ sản xuất đông - xuân gia súc lại thường phải làm việc nhiều nên dịch bệnh rất dễ phát sinh (ví dụ như bệnh Tụ huyết trùng trâu bò, Sán lá gan, các bệnh Ký sinh trùng đường máu vv…) gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến an ninh lương thực. Chưa thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng chống dịch, bệnh cho gia súc: chăn nuôi gia súc không đảm bảo vệ sinh, không thực hiện tiêm phòng đúng, đủ, đối với các bệnh truyền nhiễm hay gặp nên dẫn đến hàng năm dịch bệnh gia súc vẫn thường xuyên xảy ra: ví dụ như các bệnh Gà rù (Newcastle Diseases), Cúm gia cầm (Avian Influenza), bệnh Tụ huyết trùng (Pasteurellosis), bệnh Phó thương hàn 5
  6. (Salmonellosis), bệnh Phân trắng lợn con và Phù đầu lợn do E.coli (Colibacillosis), bệnh Dịch tả lợn (Hog cholera) bệnh Lở mồm long móng (Foot and Mouth Diseases), bệnh Viêm phổi địa phương (Enzooticpneumoniae) vv... Chuồng nuôi gia súc thiếu, không thiết kế theo tiêu chuẩn kỹ thuật, không đam bảo vệ sinh: đặc biệt ở các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên, chăn nuôi đại gia súc thường thả rông gây khó khăn không nhỏ cho công tác vệ sinh, kiểm soát phòng chống dịch bệnh và chăm sóc nuôi dưỡng gia súc non. Đối với lợn sinh sản, hầu hết các trại chăn nuôi hiện nay đều không đảm bảo vệ sinh thú y. Chăn nuôi gia cầm (đặc biệt ở các tỉnh phía Nam, đối với thuỷ cầm) chủ yếu được chăn thả tự do, người dân chưa có ý thức chấp hành Pháp lệnh thú y và Điều lệ về phòng chống dịch bệnh vv Do vậy, khi gặp điều kiện thuận lợi như chăm sóc, nuôi dưỡng kém, sự có mặt của nguồn bệnh kết hợp với yếu tố môi trường bất lợi (thời tiết nóng, lạnh, ẩm, thay đổi bất thường), dịch bệnh sẽ phát sinh. Chất thải chăn nuôi (nước, chất độn chuồng, phân, xác chết gia súc) chưa được thu gom và xử lý đúng quy trình kỹ thuật: hiện nay, vì nhiều lý do khác nhau ở hầu hết các cơ sở chăn nuôi, công tác vệ sinh đối với chất thải chăn nuôi đều chưa được chú ý đã và đang gây ra sự ô nhiễm nghiêm trọng cho con người, vật nuôi và môi trường sinh thái, đồng thời tạo điều kiện cho việc lưu giữ và phát tán dịch bệnh. 6
  7. Phần thứ nhất VỆ SINH GIA SÚC HỌC ĐẠI CƯƠNG Chương 1 VỆ SINH MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TRONG CHĂN NUÔI Sự tồn tại, sinh trưởng và phát triển của sinh vật tại một nơi nào đó thường phụ thuộc vào tổ hợp các điều kiện môi trường, trong đó khí hậu là một trong những điều kiện quan trọng và có ảnh hưởng sâu sắc nhất. Trong đời sống của sinh vật, yếu tố khí hậu thường xuyên tham gia chi phối các quá trình sinh trưởng, phát triển, ảnh hưởng đến tình trạng dịch bệnh, quyết định đến năng suất của cây trồng, vật nuôi. Tìm hiểu tác động của các yếu tố thời tiết, khí hậu (tức môi trường không khí nói chung) đối với đời sống của gia súc, gia cầm là một công việc không thể thiếu được. Hiểu biết này giúp các nhà khoa học khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên khí hậu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, kiểm soát phòng chống dịch bệnh cho con người và vật nuôi. Không khí là một trong những yếu tố ngoại cảnh quan trọng vây xung quanh cơ thể gia súc. Không những sự biến đổi về thành phần hoá học của không khí (như O2, CO2, N2 vv…) ảnh hưởng đến sự sống của gia súc mà trạng thái vật lý của không khí (như nhiệt độ, ẩm độ, tốc độ gió, áp suất, bức xạ mặt trời vv…) thay đổi cũng ảnh hưởng tới trạng thái sinh lý, sức khoẻ và sức sản xuất của gia súc. Lượng chiếu sáng của mặt trời, lượng mưa rơi, chế độ nhiệt, độ ẩm không khí, chế độ gió, đặc điểm địa hình vv…, sẽ tạo nên những yếu tố đặc thù của nền khí hậu một địa phương. Khí quyển là phần không khí bao quanh trái đất có độ cao đến 80km tính từ mặt biển. Căn cứ theo độ cao, khí quyển được chia thành 3 tầng: Tầng đối lưu, cách mặt đất từ 3 - 17km. Mọi sự biến đổi về vật lý không khí (như nhiệt độ, ẩm độ, bức xạ mặt trời, áp suất không khí, bụi vv…); hoá học không khí (các thành phần khí thể có lợi và có hại); vi sinh vật không khí ở trong tầng khí quyển này đều có những tác động, ảnh hưởng nhất định đến trạng thái sinh lý, sức khoẻ và sức sản xuất của gia súc. Tầng bình lưu, ngay phía trên của tầng đối lưu. Trong tầng bình lưu, ở độ cao khoảng 25km, khí ô - zôn (O3) được tập trung với mật độ lớn nhất, nó hấp thu hầu như 7
  8. hoàn toàn tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời, tạo thành một lớp áo bảo vệ cho sự sống trên trái đất. Tầng ion hay thượng tầng khí quyển, ngay phía trên của tầng bình lưu. Không khí ảnh hưởng đến cơ thể gia súc biểu hiện qua các tác động cụ thể như: trao đổi khí thể, điều tiết nhiệt và dịch bệnh. Nghiên cứu sự tác động của các yếu tố khí hậu tới cơ thể sẽ giúp tìm ra những biện pháp khắc phục tối ưu để bảo vệ sức khoẻ cho gia súc. 1.1 NHỮNG YẾU TỐ CHÍNH CỦA KHÍ HẬU VIỆT NAM Khí hậu Việt Nam mang tính chất nhiệt đới gió mùa có sự phân hoá mạnh mẽ. Nhiều chuyên gia về khí hậu thế giới khi nghiên cứu khí hậu nước ta đã coi Việt Nam là một trường hợp ngoại lệ của vùng nhiệt đới. Hơn nữa, điều kiện địa hình đã tạo nên những vùng khí hậu hết sức khác nhau mặc dù rất gần nhau về mặt địa lý. Đặc điểm tự nhiên đáng chú ý kết hợp với điều kiện địa hình là sự kéo dài của lãnh thổ nước ta theo phương kinh tuyến. Thiên nhiên, cảnh vật và con người phản ánh sâu sắc đặc điểm của khí hậu đất nước. Khí hậu nước ta có nhiều nét riêng biệt, đó là nền khí hậu nhiệt đới nhưng bị biến tính sâu sắc thể hiện ở chế độ nhiệt và chế độ ẩm. Việt Nam nằm ở vĩ độ địa lý từ 8030 N (điểm cực Nam mũi Cà Mau) đến 23022’ N (điểm cực Bắc huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang) và kinh độ từ 1020 10’ E đến 10902 1 E. Như vậy nước ta nằm trọn trong vùng nội chí tuyến hay vùng nhiệt đới bắc bán cầu. Việt Nam chịu ảnh hưởng của gió mùa Mậu dịch (còn gọi là Tín phong bắc bán cầu) quy định kiểu thời tiết mát, ít mưa. Đồng thời xen kẽ với 3 khu vực gió mùa: Gió mùa Đông Bắc á quy định kiểu thời tiết lạnh, ẩm có mưa phùn; Gió mùa Tây Nam á quy định kiểu thời tiết nóng và ẩm ướt; Gió mùa Đông Nam á, quy định kiểu thời tiết mát, ẩm. Ở miền Bắc Việt Nam, từ tháng 10 đến cuối tháng 3, khối không khí lạnh chuyển động từ phía Bắc xuống gây ra gió mùa Đông Bắc. Không khí lạnh, độ ẩm thấp nên trong những tháng này thường ít mưa. Trong những tháng nóng, gió vận động theo hướng ngược lại, từ phía Nam lên mang theo độ ẩm bão hoà của khí hậu xích đạo nên thường gây ra mưa lớn. Thông thường, trong khu vực khí hậu nhiệt đới, gió mùa (biểu hiện đặc trưng của khí hậu miền Nam Việt Nam), thời tiết được chia thành hai mùa rõ rệt, mùa nóng khô và mùa lạnh ẩm. Tuy nhiên, khí hậu miền Bắc Việt Nam lại có sự phức tạp hơn do ảnh hưởng của chí tuyến Bắc. Vì vậy, thời tiết miền Bắc được chia thành 4 mùa: Từ tháng 11 đến cuối tháng giêng là mùa đông, khô hanh, lạnh; Từ cuối tháng giêng đến đầu tháng 4 là mùa xuân, lạnh ẩm; Từ đầu tháng 5 đến tháng 7 là mùa hè, nắng nóng, bắt 8
  9. đầu có mưa rào, giông, thỉnh thoảng có gió Đông - Nam (còn gọi là gió nồm nam); Đến tháng 8 thời tiết chuyển hẳn sang mùa thu, nắng nóng, nhiệt độ cao, ẩm độ cao, đôi khi có bão. Mùa thu kéo dài đến cuối tháng 10. Độ cao (so với mặt biển trung bình) càng tăng thì nhiệt độ giảm đi rõ rệt. Trung bình khi lên cao 100m thì nhiệt độ sẽ giảm đi từ 4 – 50C đối với cả mùa nóng và mùa lạnh. Quy luật thay .đổi nhiệt độ này cũng giống như quy luật phân phối lượng mưa. ờ miền Bắc Việt Nam không thật sự có mùa đông giá tuyết. Nhiệt độ xuống thấp đến 00C chỉ có ở những nơi cao trên 500m. Mùa mưa ở Việt Nam phân bố hết sức phức tạp, thường có sự trùng lặp với thời kỳ thịnh hành của gió mùa Tây Nam hoặc Đông Nam (khoảng từ tháng 5 đến tháng 10). Tổng lượng mưa hàng năm khụ vực miền núi phía Bắc biến động từ 1500 - 2500mm (huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang có lượng mưa lớn nhất cả nước, > 4000mm/năm). Sự phân phối lượng mưa trong năm phụ thuộc vào sự thay đổi của gió mùa và đặc điểm địa hình. Thời kỳ gió nồm, nắng nóng lượng mưa chiếm xấp xỉ 85%; thời kỳ gió bắc mùa lạnh, lượng mưa chỉ chiếm 15% tổng lượng mưa cả năm. Mùa mưa bắt đầu và kết thúc cũng rất khác nhau giữa các vùng. ở Bắc Bộ thường bắt đầu từ tháng 4, kết thúc vào tháng 10. Miền Trung và Tây Nguyên mùa mưa kết thúc muộn hơn, khoảng tháng 11. Ở các tỉnh miền Nam, lượng mưa cao nhất không phải từ tháng 5 đến tháng 10 mà tập trung vào các tháng 9 - 10 - 11. Mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 8) và mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 4) lượng mưa giảm mạnh, trong những tháng còn lại, lượng mưa còn tiếp tục giảm thấp hơn nữa. Độ ẩm tương đối của không khí thay đổi trong năm từ 75% đến 90%, thấp nhất là 70%, cao nhất là 95%. Tuy nhiên, có nhiều thời điểm trong năm đã đo được độ ẩm cực đại tới 100%, cực tiểu chỉ có 10%. Nói chung độ ẩm không khí ở miền Bắc Việt Nam thường cao, ít cố sự thay đổi giữa các vùng, độ ẩm không khí cực đại cao tập trung chủ yếu từ tháng 2 đến tháng 3 hàng năm. Độ ẩm trung bình năm dao động trong khoảng từ 84% đến 88%, trong cả năm chỉ thay đổi từ 77% trên 85%hoặc cao hơn, từ 86% đến 91%. Ở miền Bắc Việt Nam ít khi có sương mù, trừ một số ngày trong năm (tháng 3, tháng 4 hoặc tháng 8 tháng 9) do có đặc điểm của kiểu thời tiết lạnh, ẩm, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm có sự dao động lớn. ở các tỉnh miền Trung, một số tỉnh miền Nam và Tây Nguyên, độ ẩm trong những tháng hanh khô trong khoảng từ 73% đến 74%. ầm độ chỉ giảm thấp đột ngột trong những tháng xuất hiện gió Lào có tính chất khô, nóng. Nói chung, độ ẩm cao nhất trong năm thường không thấp dưới 73%, nhiệt độ trung bình cao hơn 2305 trong suốt 7 tháng (từ tháng 3 đến tháng l0) rất bất lợi với cơ thể gia súc, trạng thái cân bằng nhiệt của cơ thể thường xuyên bị phá vỡ. Thời kỳ có mưa phùn (khoảng từ tháng 1 đến tháng 3), cơ thể gia súc lại rơi vào tình trạng thừa 9
  10. ẩm, thiếu nhiệt. Do vậy, khí hậu nhiệt đới đã gây ra những khó khăn không nhỏ cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ gia súc. Ngược lại, điều kiện thời tiết, khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm lại có những thuận lợi cho sự tồn tại, sinh trưởng, phát triển của các vi sinh vật gây bệnh (như virus, vi khuẩn, nấm mốc độc, ký sinh trùng). 1.2. NHIỆT ĐỘ KHÔNG KHÍ Nhiệt độ đất và nhiệt độ không khí dược quyết định bởi phần năng lượng bức xạ mặt trời hấp thụ trên trái đất. Vỉ thế yếu tố nhiệt độ thường xuyên có sự biến động phụ thuộc không những vào điều kiện vĩ độ địa lý, mùa trong năm, mà còn phụ thuộc vào đặc điểm vật lý của vật chất hấp thụ bức xạ. Các đặc trưng nhiệt lượng của đất như nhiệt dung, hệ số dẫn nhiệt, màu sắc, độ xốp, độ ẩm của đất vv…, và các đặc tính truyền nhiệt của không khí như truyền dẫn nhiệt phân tử, các dòng đối lưu, mật độ và thành phần không khí vv…, là những yếu tố tạo thành chế độ nhiệt. Chế độ nhiệt có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của động vật vì nó là yếu tố môi trường trực tiếp tác động đến nhịp điệu sống và các quá trình sinh trưởng, phát triển. Hơn nữa, nhiệt độ không khí còn đóng vai trò quan trọng đối với chu trình nước trong tự nhiên và sự phân bố khí áp trên bề mặt trái đất. Vì vậy, nhiệt độ biến đổi cũng là nguyên nhân gây ra mọi hiện tượng thời tiết phức tạp ở mỗi địa phương. Ở nước ta, nhiệt độ không khí có phạm vi thay đổi khá lớn, đặc biệt ở các tỉnh miền Bắc. Sự dao động này chủ yếu phụ thuộc vào vĩ độ, độ cao trung bình so với mặt biển, tốc độ gió đối lưu và địa hình đặc thù của mỗi địa phương. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất và thấp nhất có thể đạt từ 9 - 140C thậm chí có những ngày, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm có thể chênh lệch từ 10 - 120C. Khu vực Nam Bộ, sự chênh lệch về nhiệt độ không khí trong năm hầu như không đáng kể, chỉ từ 3 - 40C. Các tỉnh miền Trung, trong mùa đông, sự dao động của nhiệt độ không khí trong ngày là tương đối ôn định và ít khi thấp dưới 200C. Điều kiện địa hình cao, nhiệt độ không khí sẽ giảm di rõ rệt. Đường đẳng nhiệt nằm trên các vùng có độ cao 1500m so với mặt biển trung bình (như ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai). Nhiệt độ không khí nói chung có thể biến thiên từ +400, +500 (ở vùng xích đạo) đến - 400, - 500 (ở vùng Bắc cực, Nam cực). ở trong những hoàn cảnh như vậy, cơ thể của động vật máu nóng vẫn giữ được thân nhiệt tương đối ổn định do có quá trình điều tiết thể nhiệt Quá trình được thực hiện do sự sản nhiệt (nhiệt lượng sinh ra) và toả nhiệt (nhiệt lượng mất đi) của cơ thể gia súc. Đặc trưng quan trọng nhất của nhiệt độ không khí đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và chăn nuôi gia súc nói riêng là sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm (biên độ nhiệt) Đối với cây trồng, sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm càng lớn thì hiệu quả quang hợp càng cao (trong giới hạn mức chênh lệch dưới 1 sức). Với cơ thể động vật thì ngược lại, sự chênh lệch về biên độ nhiệt giữa ngày đêm lớn sẽ gây ra 10
  11. những ảnh hưởng bất lợi đến sinh trưởng, phát triển và khả năng sản xuất của gia súc. 1.2.1. Sự điều tiết thân nhiệt Nhiệt độ thân thể của gia súc luôn được duy trì trong một trạng thái tương đối ổn định Quá trình điều tiết thân nhiệt được thực hiện dưới sự điều khiển của hệ thống thần kinh trung ương, do sự sinh ra (sự sản nhiệt) và mất đi (sự toả nhiệt) của nhiệt năng trong cơ thể. 1.2.1.1. Sản sinh nhiệt năng Nhiệt năng sinh ra do quá trình trao đổi, oxy hoá các chất trong cơ thể động vật. Tất cả các tế bào của cơ thể luôn ở trong trạng thái không ngừng sản sinh nhiệt năng. Sự sản nhiệt ở từng cơ quan, tổ chức khác nhau trong cơ thể là không giống nhau, phụ thuộc chủ yếu vào tính chất và mức độ làm việc (mức độ sản nhiệt nhiều nhất tập trung chủ yếu ở bắp thịt, gan, thận, các tuyến nội tiết vv….). Ngoài ra, sự sản nhiệt còn phụ thuộc vào chế độ ăn, khẩu phần ăn (thức ăn giàu hoặc nghèo năng lượng, cho gia súc ăn nhiều hay ít). Ngoại cảnh không khí cũng tác động vào quá trình sản nhiệt như chế độ nhiệt, độ ẩm, tốc độ gió đối lưu vv…. 1.2.1.2. Sự toả nhiệt Nhiệt năng của cơ thể gia súc toả ra ngoài môi trường sẽ có tác dụng giúp cho quá trình giải phóng nhiệt lượng thừa, đồng thời tạo cho cơ thể một sự cân bằng nhiệt lượng. Quá trình điều tiết thân nhiệt chịu sự chi phối của hệ thần kinh trung ương (trung khu điều tiết nhiệt nằm trong mỏm dưới hành não) và một số nội tiết tố (nội tiết tố của tuyến giáp trạng, tuyến thượng thận vv….). Cơ thể động vật có nhiều cơ quan và hệ thống tham gia vào quá trình toả nhiệt: Toả nhiệt qua da và niêm mạc, toả nhiệt qua hệ hô hấp, tiêu hoá, hệ thống nội tiết, tiết niệu vv…, trong đó da là cơ quan toả nhiệt có vai trò chủ yếu ở động vật có tuyến mồ hôi phát triển. Ngược lại, ở những gia súc có tuyến mồ hôi kém phát triển (ví dụ như lợn, chó) thì sự toả nhiệt cơ thể qua đường hô hấp sẽ chiếm ưu thế. Sự toả nhiệt của cơ thể gia súc ra ngoài môi trường được thực hiện chủ yếu theo 3 cách: a. Truyền nhiệt (truyền dẫn đối lưu) Nguyên lý truyền nhiệt: Vật (cơ thể) có nhiệt độ cao khi tiếp xúc với vật (cơ thể) có nhiệt độ thấp tạo nên một sự chênh lệch nhiệt độ. Do vậy, nhiệt sẽ được truyền từ vật (cơ thể) có nhiệt độ cao sang vật (cơ thể) có nhiệt độ thấp (nên còn gọi là quá trình truyền nhiệt ngược chiều). Động vật có thể toả nhiệt trên khắp bề mặt của cơ thể ra ngoài môi trường tự nhiên. Nếu có thêm gió đối lưu hoặc khi gia súc chạy, vận động, sự toả nhiệt sẽ tăng lên. Ngoài ra, thông qua quá trình hô hấp, ăn uống, tiêu hoá, bài tiết, hoạt động giao phối, 11
  12. tiết sữa vv, cơ thể gia súc cũng bị tiêu hao nhiệt lượng đáng kể. Trong môi trường có hàm lượng hơi nước không khí cao, kết hợp với dòng khí chuyển động xung quanh cơ thể lớn thì sự hao tổn nhiệt năng của cơ thể sẽ tăng lên. Vì vậy, về mùa đông trong những ngày giá lạnh, khi nhiệt độ không khí hạ thấp cần có biện pháp chống lạnh cho gia súc bằng cách không chăn thả gia súc trên đồng cỏ hay ngoài bãi chăn, trong chuồng nuôi phải hạn chế độ ẩm và che chắn chuồng trại để tránh bị gió lùa. Để tính nhiệt năng của cơ thể truyền đi theo phương thức này, Haines và Hatch.F (Theo Đỗ Ngọc Hoè và cs, 2005) đã đưa ra công thức: Trong đó : C: Nhiệt năng mất đi bằng truyền dẫn đối lưu (B.T.U) B.T.U (đơn vị nhiệt lượng nước của Anh), là nhiệt lượng cần thiết để cho 1 pound nước tăng lên loF; 1 B.T.U = 252calo. V: Tốc độ gió (foot/giây) lfoot = 0,3048 m/giây ta: Nhiệt độ không khí (0F) b. Bức xạ Tất cả cơ thể người và động vật đều có khả năng bức xạ nhiệt, khi nhiệt độ cơ thể cao hơn nhiệt độ môi trường thì nhiệt của cơ thể toả ra ngoài dưới hình thức sóng hồng ngoại gọi là bức xạ. Nhiệt năng của cơ thể gia súc mất đi theo phương thức này có liên quan và phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ của các vật thể xung quanh và môi trường tự nhiên. Khi thân nhiệt tăng lên thì cường độ bức xạ cũng tăng theo. Tường, nền, vách của chuồng nuôi gia súc ẩm ướt, lạnh lẽo, nhiệt độ không khí thấp thì sự toả nhiệt qua con đường bức xạ của cơ thể sẽ tăng. Để tính nhiệt năng của cơ thể truyền đi theo phương thức này, Haines và Hatch.F (Theo Đỗ Ngọc Hoè và cs, 2005) đã đưa ra công thức: Trong đó: R: Nhiệt toả bằng bức xạ (B.T.U) B.T.U (đơn vị nhiệt lưng nước của Anh), là nhiệt lượng cần thiết để cho 1 pound nước tăng lên loF; 1 B.T.U = 252calo. tw: Nhiệt độ vật thể xung quanh (0F) c.Bốc hơi 12
  13. Khi nước bốc hơi (qua hơi thở, theo tuyến mồ hôi) sẽ lấy đi nhiệt năng của cơ thể động vật. Nếu nhiệt độ không khí của môi trường bên ngoài cao, độ ẩm không khí lớn thì sự bốc hơi nước của cơ thể sẽ bị trở ngại. Không khí càng khô hanh thì sự bốc hơi của cơ thể càng lớn. Về mùa hè, nhiệt lượng dư của cơ thể toả qua da theo phương thức bốc hơi (do hiện tượng toát mồ hôi) sẽ chiếm ưu thế, xấp xỉ khoảng 3/4 toàn bộ nhiệt lượng cơ thể toả ra ngoài môi trường. Gia súc toả nhiệt theo phương thức bốc hơi chủ yếu qua da (theo tuyến mồ hôi) và đường hô hấp (qua hơi thở). Đối với những gia súc không có hay có ít tuyến mồ hôi (ví dụ như lợn, chó, trâu) thì sự bốc hơi để toả nhiệt bằng phương thức hô hấp sẽ chiếm ưu thế. Nói chung, dựa theo diễn biến của điều kiện thời tiết, khí hậu thì vào mùa đông thường xảy ra sự truyền nhiệt ngược chiều, bức xạ lớn. Trong mùa hè, sự bốc hơi lớn. Để tính nhiệt năng truyền đi theo phương thức này, Haines và Hatch.F (Theo Đỗ Ngọc Hoè và cs, 2005) đã đưa ra công thức: Trong đó: E: Nhiệt toả bằng bốc hơi (B.T.U) B.T.U (đơn vị nhiệt lượng nước của Anh), là nhiệt lượng cần thiết để cho 1 pound nước tăng lên loF; 1 B.T.U : 252calo. V: Tốc độ gió (foot/s) lfoot : 0 3048 m/s Pa: áp lực hơi nước (mmHg) khồng khí Mùa hè, độ ẩm không khí thường cao nên sự toả nhiệt của cơ thể gia súc theo phương thức bốc hơi bị cản trở gây cảm giác nóng bức, ngột ngạt khó chịu. Ngoài việc toả nhiệt theo phương thức bốc hơi qua da hoặc theo đường hô hấp như qua hơi thở, cơ thể còn mất nhiệt do tiêu hao trong quá trình tiêu hoá, hấp thu. Theo Blaster, lượng nhiệt mất đi do sử dụng để hâm nóng thức ăn (chủ yếu xảy ra trong mùa đông hoặc khi thời tiết giá lạnh) được tính theo công thức: Trong đó: W: Nhiệt mất đi do hâm nóng thức ăn, nước uống (0C) I: Khối lượng thức ăn, nước uống (kg) Tr: Nhiệt độ cơ thể (0C) ta: Nhiệt độ của thức ăn, nước uống (0C) 13
  14. 1.2.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ không khí đen sự điều tiết thân nhiệt và sức kháng bệnh của cơ thể gia súc 1.2.2.1. Trạng thái cân bằng nhiệt Sự sinh nhiệt và toả nhiệt của cơ thể động vật không phải luôn giữ được mức độ ổn định ở trạng thái cân bằng. Trạng thái cân bằng nhiệt đạt được là kết quả của quá trình điều tiết trong cơ thể gia súc giữa sản nhiệt và toả nhiệt. Trạng thái cân bằng nhiệt (S) có thể là số không (0) hoặc là số dương (+), hoặc một số âm (-). Công thức biểu diễn trạng thái cân bằng nhiệt: Trong đó: S: Sự cân bằng nhiệt M: Nhiệt lượng do cơ thể sản sinh R: Nhiệt lượng toả ra bằng bức xạ W: Nhiệt mất đi do hâm nóng thức ăn, nước uống C: Nhiệt lượng toả ra bằng truyền dẫn đối lưu E: Nhiệt lượng toả ra bằng bốc hơi M: Nhiệt lượng do cơ thể sản sinh nên luôn là một số dương; R và C có thể dương hoặc âm; E thường là một số âm. Nếu S = 0, cơ thể ở trong trạng thái thăng bằng nhiệt, gia súc khoẻ mạnh, nếu S ≠ 0 (S > 0 hoặc S < 0), sự thăng bằng nhiệt bị phá vỡ, các phản ứng sinh lý xuất hiện, với cường độ mạnh và thời gian tác động kéo dài, cơ thể sẽ rơi vào trạng thái rối loạn sinh lý dẫn tới bệnh lý (bệnh cảm nóng hoặc cảm lạnh). 1.2.2.2. Khu nhiệt điều hoà, nhiệt độ giới hạn Ở trong nhiệt độ không khí nhất định, cơ thể sản sinh nhiệt lượng nhỏ nhất (trao đổi vật chất thấp nhất), toả nhiệt ít nhất (tiêu hao nhiệt lượng ít nhất) nhưng vẫn giữ được sự thăng bằng nhiệt (S = 0). Phạm vi nhiệt độ không khí như vậy gọi là khu nhiệt điều hoà. Trong khu nhiệt điều hoà, động vật cảm thấy dễ chịu, khoẻ mạnh, sự sinh trưởng, phát triển, nhịp điệu sống và khả năng sản xuất đều đạt ở mức cao nhất. 14
  15. Bảng 1.1: Khu nhiệt điều hoà và nhiệt độ giới hạn của cột số gia súc (Theo Đỗ Ngọc Hoè và cs, 2005) Loài gia súc Khu nhiệt điều hoà (0C) Nhiệt độ giới hạn (0C) Lợn nái chửa 13 - 18 13 Lợn nái nuôi con 24 - 29 24 Lợn con theo mẹ 28 - 33 28 Lợn thịt nuôi vỗ béo 18 - 21 18 cừu sản xuất lông 1 2 - 20 12 Bò sữa Holstein 10 - 15 10 Gà Broiler ngày thứ nhất 32 - 34 32 Gà đẻ 20 - 24 20 Nhiệt độ thấp nhất trong khu nhiệt điều hoà là nhiệt độ giới hạn. Nhiệt độ không khí thấp hơn nhiệt độ giới hạn sẽ kích thích cơ thể gia súc sản nhiệt. Khi nhiệt độ bên ngoài môi trường thấp hơn nhiệt độ giới hạn (dưới 100C chẳng hạn) thì cơ thể toả nhiệt nhiều, đồng thời tăng sản nhiệt. Ví dụ: ở nhiệt độ thấp hơn lọc, tác dụng trao đổi chất sẽ tăng từ 2 – 5%, con vật biểu hiện đói, muốn ăn thêm. Trong điều kiện này, nếu chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý, gia sức sẽ khoẻ mạnh, tăng trọng nhanh. Khi nhiệt độ bên ngoài cao hơn nhiệt độ giới hạn (trên 1 sóc chẳng hạn) sẽ gây ra tác động xấu, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển và sức sản xuất. Nếu quá thấp hoặc quá cao, có thể làm con vật phát bệnh. Khu nhiệt điều hoà còn liên quan mật thiết với khẩu phần ăn. Nếu gia súc ăn khẩu phần duy trì, khu nhiệt điều hoà sẽ tăng. Ngược lại, cho gia súc ăn khẩu phần sản xuất, khu nhiệt điều hoà sẽ giảm. Ví dụ: khi trâu, bò bị đói thì nhiệt độ giới hạn là 1 sắc; cho ăn khẩu phần duy trì, nhiệt độ giới hạn giảm đến toạc; cho ăn khẩu phần sản xuất, nhiệt độ giới hạn tiếp tục giảm xuống dưới tước. Như vậy, trong bất kỳ trường hợp nào, cho ăn tốt sẽ làm giảm ảnh hưởng của nhiệt độ thấp Gia súc bị đói sẽ giảm khả năng chống rét dẫn đến giảm sức sản xuất, giảm sức đề kháng từ đó sẽ tạo điều kiện cho dịch bệnh phát sinh. 1.2.2.3. Chi phối quá trình điều tiết nhiệt Trong vùng trung hoà nhiệt, hầu như toàn bộ sự điều chỉnh nhiệt ở động vật đẳng nhiệt được tiến hành bằng các cơ chế lý học hoặc sinh lý học. Cơ chế sinh lý bao gồm những sự thay đổi ở hệ cơ, tim mạch và trao đổi chất. Cơ chế vật lý bao gồm sự cưỡng 15
  16. bức phản xạ và những điều chỉnh tập tính tự động (Lê Viết Ly, 1995). Động vật nói chung có thói quen hoạt động vào ban ngày và nghỉ ngơi vào ban đêm. Tuy nhiên, trong lulullg tháng mùa hè, ban ngày thời tiết nóng bức chúng có thể trở thành động vật hoạt động vào ban đêm, nghỉ ngơi ban ngày. Mạt khác, gia súc có thể tăng cường hoạt động trao đổi nhiệt của cơ thể với môi trường bằng bức xạ, bốc hơi và truyền dẫn đối lưu. Trong tự nhiên, động vật thường có khuynh hướng tìm kiếm vùng tiểu khí hậu mà ở đó chúng cảm thấy dễ chịu nhất. Các thú hoang tìm hẻm đá làm rào chắn nóng tự nhiên, gia súc tìm bụi rậm và bóng cây râm mát để tránh nắng. Trong thời tiết nóng, trâu, lợn thường ngâm mình dưới nước hoặc tìm đến những chỗ ẩm ướt. Lợn thường ủi tung đất để áp mình xuống lớp đất bên dưới, mát hơn. Gia cầm, loài chim có thân nhiệt cao hơn so với động vật có vú và khả năng chịu nhiệt độ cao. Sự thoát hối qua hô hấp là phương thức toả nhiệt chủ yếu khi nhiệt độ môi trường tăng cao. Tuy nhiên, chúng cũng có thể sử dụng một số cơ chế toả nhiệt khác như xù lông ở đầu và lưng, né tránh ánh nắng mặt trời vv… Dưới stress nhiệt, gà thường nâng đôi cánh để tăng cường lưu thông không khí, nằm sát đất hoặc mở rộng miệng để tăng cường toả nhiệt. ở hầu hết các loài vạt, khả năng tự điều chỉnh cân bằng nhiệt của cơ thể trong giai đoạn sơ sinh thường rất kém. Khi thời tiết lạnh; động vật đa thai (lợn con) thường tụ tập lại với nhau để giữ ấm, giảm thất thoát nhiệt; động vật đơn thai (bê, nghé) dễ bị tử vong trong thời tiết giá lạnh khi ở ngoài trời hoặc chuồng trại ẩm ướt; để chống rét, gia cầm thường đứng bất động hoặc chụm lại với nhau, lông ngực bung lên vv… Ngủ đông là sự điều chỉnh sinh lý và tập tính đối với điều kiện lạnh. Trong pha này, nhiệt độ cơ thể được duy trì cao hơn nhiệt độ môi trường xung quanh, tốc độ trao đổi chất rất chậm để giảm tiêu hao năng lượng. Nói chung, động vật có thể sống trong khoảng từ - 600C đến +600C nhưng nhiệt độ thích hợp nhất ở gia súc trưởng thành chỉ trong khoảng từ 21 đến 260C. Trong nhiệt độ cực đoan động vật phải tăng cường hoạt động sinh lý và hành vi bảo vệ để sinh tồn. Vượt ra ngoài phạm vi của giới hạn nóng (>+600C) và lạnh (< - 600C), động vật sẽ bị tiêu diệt (Lê Viết Ly, 1995). 16
  17. a. Yếu tố chủ quan Hệ thống thần kinh trung ương (vai trò chủ yếu của hành tuỷ) cơ cấu quá trình điều tiết nhiệt một cách hoàn chỉnh, thực hiện thông qua hoạt động phản xạ (có điều kiện và không có điều kiện) để điều khiển hệ thống tuần hoàn, hô hấp, tiêu hoá. Hệ thống nội tiết cũng có vai trò nhất định tham gia điều tiết nhiệt. Ví dụ tiêm kích tố tuyến giáp trạng Tirozin cho loài chồn đang ngủ đông (có thân nhiệt trong khoảng từ 8 - 100C), sẽ kích thích trao đổi chất dẫn đến quá trình sản nhiệt tăng cao hơn bình thường làm con vật tỉnh lại. b. Yếu tố khách quan Đó chính là vai trò của con người trong việc cải tạo bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi. Điều hoà nhiệt độ, ẩm độ, sự lưu thông không khí trong chuồng trại bằng phương pháp nhân tạo sẽ giúp quá trình điều tiết nhiệt của cơ thể động vật được thuận lợi, hoặc dễ lấy lại sự thăng bằng. 1.2.2.4. Ảnh hưởng của nhiệt độ không khí quá cao đối với cơ thể a. Nguyên nhân Do nhiệt độ không khí cao (>300C); nhiệt độ cao không thay đổi nhưng độ ẩm quá cao (90 - 100%); nhiệt độ cao nhưng không khí không lưu thông hoặc lưu thông quá chậm; nhiệt độ cao kết hợp với mật độ nhốt giữ gia súc lớn, lớp mỡ dưới da dày, lông quá rậm; mùa hè cho ăn nhiều thức ăn tinh bột, trời nóng, không có gió đối lưu, cho gia súc vận động hoặc phải làm việc quá sức vv… Những nguyên nhân trên sẽ cản trở quá trình toả nhiệt làm cho gia súc mất đi trạng thái thăng bằng nhiệt dẫn đến xuất hiện các phản ứng sinh lý của cơ thể. b. Hậu quả của sự tích luỹ nhiệt quá cao và phản ứng điều tiết nhiệt của cơ thể động vật đối với nóng - Phản ứng sinh lý: Khi mất thăng bằng nhiệt, cơ thể gia súc sẽ bị nhiệt lượng thừa tích lại tác động gây ảnh hưởng đến cơ năng điều tiết nhiệt, dẫn tới giảm thấp sự 17
  18. sản sinh nhiệt, đồng thời tăng cường quá trình toả nhiệt qua da và đường hô hấp. Biểu hiện ra ngoài dễ nhận thấy là mao mạch trương to, máu dồn về nhiều, tăng nhiệt độ trên bề mặt da, tăng tiết mồ hôi, mạch đập và tần số hô hấp tăng lên. Kết quả: gia súc cử động chậm chạp, khả năng tiêu hoá hấp thu kém, con vật hầu như không muốn ăn, sức đề kháng tự nhiên của cơ thể giảm mạnh. - Phản ứng bệnh lý: Sự điều tiết nói trên chỉ làm giảm tích luỹ nhiệt, chưa đủ để loại trừ nhiệt đã tích luỹ. Mặt khác, khi hô hấp tăng cường, mao mạch xung huyết, nhiệt độ máu ngoại vi tăng thì quá trình phân giải protein, lipit và gluxit cũng tăng lên, đồng thời trung khu thần kinh do bị nhiệt độ nóng của máu kích thích nên cũng tăng sản nhiệt, sau dẫn đến sự rối loạn. Các sản phẩm oxy hoá không hoàn toàn sẽ được tích luỹ lại, tạo thành những chất độc đi vào máu gây trúng độc cho cơ thể. Nếu điều kiện ngoại cảnh (nhiệt độ không khí, sự thông thoáng, ẩm độ cao) không được cải thiện, gia súc phải sống liên tục dưới điều kiện nhiệt độ không khí cao, sự toả nhiệt của phản ứng sinh lý không đủ để điều tiết nhiệt. Sự thăng bằng nhiệt bị phá vỡ (S ≠ 0), dẫn tới gia súc bị rơi vào trạng thái bệnh lý, hôn mê, tê cứng và chết. Thân nhiệt tăng cao một cách nhanh chóng kết hợp với loạn nhịp tuần hoàn, hô hấp là triệu chứng lâm sàng rõ nhất của hiện tượng cảm nóng (còn gọi là bệnh cảm nóng). - Biện pháp đề phòng nhiệt độ không khỉ quá nóng: Nên tạo điều kiện cho cơ thể gia súc dễ dàng toả nhiệt bằng cách cải thiện bầu tiểu khí hậu chuồng trại thoáng mát, giảm độ ẩm, khí độc vv.., cho gia súc ở nơi yên tĩnh, râm mát, rộng rãi, khi chuyên chở lưu ý mật độ hợp lý, tránh di chuyển gia súc trong thời tiết nắng, nóng. Khi phát hiện gia súc biểu hiện phản ứng bệnh lý cần có biện pháp can thiệp kịp thời : Hộ lý, chuyển đến nơi râm mát, đắp khăn lạnh vào đầu, tăng cường trợ tim vv… Cần có chế độ sử dụng hợp lý gia súc cày kẻo trong mùa hè và những ngày nắng nóng. Phải căn cứ vào giống, tính biệt, tuổi, điều kiện khí hậu đặc thù của địa phương để quy định chế độ quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng và sử dụng gia súc cho hợp lý. 1.2.2.5. Ảnh hưởng của nhiệt để quá tư ấp đối với cơ thể a. Nguyên nhân Do nhiệt độ không khí thấp (thấp dưới khu nhiệt điều hoà và nhiệt độ giới hạn), tốc độ chuyển động của gió và ẩm độ không khí cao, gia súc nuôi nhốt thưa, lông ít, lớp mỡ dưới da mỏng (có thể do gia súc quá gày), hoặc gia súc bị đói do thiếu thức ăn, chuồng trại không được che chắn vv … Trong nhưng trường hợp như vậy, cơ thể gia súc sẽ điều chỉnh để giảm tối đa sự toả nhiệt, đứng yên hoặc hạn chế vận động, mao mạch ngoại vi co hẹp lại, nhiệt độ trên bề mặt da giảm thấp. b. Hậu quả của nhiệt độ không khí quá thấp và phản ứng điều tiết của cơ thể 18
  19. động vật đối với lạnh Những nguyên nhân nêu trên sẽ dẫn đến sự thúc đẩy quá trình toả nhiệt của cơ thể, nhiệt năng bị mất nhiều, cơ thể sẽ phản ứng lại để cố giữ được thăng bằng nhiệt. Phản ứng của cơ thể sẽ trải qua hai giai đoạn: - Phản ứng sinh lý: Nếu lạnh vừa phải, cơ thể tăng cường trao đổi chất, quá trình trao đổi khí và nhiệt cũng tăng. Quá trình tiêu hoá và hiệu suất sử dụng thức ăn tăng cao, gia súc được tăng cường sức đề kháng tự nhiên. Nếu nhiệt độ không khí tiếp tục hạ xuống thấp nữa, cơ thể sẽ tăng cường sản nhiệt để chống rét, cơ bắp run rẩy do mất nhiệt năng. Quá trình trao đổi chất và oxy hoá cung cấp năng lượng diễn ra nhanh nên gia súc chóng đói, mao mạch ngoại vi co hẹp, huyết áp cơ thể tăng, mạch chậm, hô hấp giảm thấp, tăng cường hoạt động tiết niệu (biểu hiện là gia súc đi tiểu nhiều), gia súc có thể bị tê cóng, các mao quản ở phổi xuất huyết, sức đề kháng tự nhiên của cơ thể giảm mạnh. - Phản ứng bệnh lý: Gia súc phải sống liên tục trong điều kiện nhiệt độ không khí giam thấp, cơ thể sản nhiệt không đủ để bù vào lượng nhiệt mất đi. Nhiệt lượng của cơ thể bị mất quá nhiều, thăng bằng nhiệt bị phá vỡ (S ≠ 0), gia súc xuất hiện phản ứng bệnh lý. Biểu hiện: Thân nhiệt giảm nhanh, da thiếu máu nhợt nhạt, huyết áp tăng, mạch chậm, hô hấp giảm, tăng bài tiết nước tiểu vv.., sau tất cả bị rối loạn cơ năng. Mao quản phổi xuất huyết nên gia súc dễ bị mắc bệnh đường hô hấp, cơ thể đáp ứng miễn dịch kém. Ở giai đoạn cuối, trao đổi chất giảm hẳn, huyết áp hạ thấp, gia súc mệt mỏi, thần kinh rối loạn, con vật có thể bị hôn mê và chết. - Ảnh hưởng cục bộ: Khi bị lạnh cục bộ, lạnh kéo dài dẫn đến sự chỉ phối cửa hoạt động thần kinh bị rối loạn, bắp thịt bị viêm, khớp xương tê cóng, phần dưới của chi rất mẫn cảm, trâu, bò dễ mắc các bệnh như viêm khớp, cước chân. - Biện pháp đề phòng nhiệt độ không khí quá lạnh: Huấn luyện cho gia súc khả năng chịu lạnh (ví dụ bằng các phản xạ có điều kiện và không có điều kiện). Cho gia súc ăn uống đầy đủ, khẩu phần ăn và chế độ dinh dưỡng hợp lý. Giữ bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi thích hợp, ấm về mùa đông, không để nhiệt độ biến đổi mạnh, che chuồng chống rét, hạn chế gió lùa, ẩm ướt, tránh để gia súc thoát mồ hôi. - Sự điều tiết nhiệt độ trong chuồng nuôi: Nguồn nhiệt tự nhiên trong chuồng nuôi gia sức do nhiệt độ không khí và thân nhiệt của gia súc cơ thể gia sức toả nhiệt qua da và hơi thở). Thân nhiệt gia súc do quá trình truyền nhiệt ngược chiều và sự đối lưu của không khí sẽ bốc lên cao theo phương thẳng đứng. Như vậy, ở trong chuồng nuôi, càng lên cao, nhiệt độ không khí càng tăng lên và chỗ gia súc nằm sẽ lạnh nhất. Nhiệt độ của môi trường không khí chịu ảnh hưởng của nhiệt độ mặt đất. Không 19
  20. khí trực tiếp hấp thụ nhiệt lượng của mặt trời, do tác dụng truyền dẫn và bức xạ. Ban ngày ờ chỗ thấp nhiệt độ không khí sẽ tăng cao nhất, càng lên trên nhiệt độ càng giảm. Ban đêm, mặt đất sẽ trở nên lạnh nhanh, lớp không khí gần mặt đất vì thế cũng lạnh theo (đặc trưng của kiểu khí hậu thung lũng). 1.3. ĐỘ ẨM KHÔNG KHÍ Độ ẩm là khái niệm để biểu thị hàm lượng hơi nước chứa trong không khí. Khi nguồn hơi nước trong không khí chưa đạt điểm bão hoà, hơi nước có thể tiếp tục được hấp thu và đạt độ lớn nhất khi tới điểm bão hoà. Nếu lượng hơi nước vượt qua điểm bão hoà sẽ chuyển thành mù (hơi nước bị ngưng tụ). Độ ẩm không khí có quan hệ với nhiệt độ, tốc độ chuyển động và áp suất không khí. Khi nhiệt độ không khí lên cao, khả năng tiếp thu hơi nước của không khí cũng tăng, nước bốc hơi tăng, do đó độ ẩm tuyệt đối cũng được tăng cường. Áp suất không khí tỷ lệ nghịch với lượng .nước bốc hơi, áp suất càng thấp thì khi nhiệt độ không khí tăng, nước bốc hơi càng nhiều. Không khí ẩm nhẹ hơn không khí khô, áp suất cũng thấp hơn. Ví dụ lm3 không khí có độ ẩm chưa bão hoà ở 200C, áp suất khí quyển là 760 mmHg sẽ nặng l,205g, nếu bão hoà thì nặng 1,196g. 1.3.1. Phương pháp biểu thị độ ẩm 1.3.1.1. Độ ẩm bão hoà Độ ẩm bão hoà là lượng hơi nước tính ra gam của 1m3 không khí bão hoà hơi nước ở nhiệt độ nhất định Đơn vị đo độ ẩm bão hoà: g/m3. công thức biểu thị: Trong đó : E: Độ ẩm bão hoà (g/m3) ở nhiệt độ t (0C) Pbh: áp Suất hơi bão hoà 1 α : Hệ số tăng thể tích khí đẳng áp của không khí, α = a = 273 273 t: Nhiệt độ không khí (0C) Nhiệt độ không khí càng cao, lượng hơi nước bão hoà (tính ra gam) chứa trong 1 3 m không khí càng lớn. Ngược lại, nhiệt độ không khí giảm sẽ làm hơi nước ngưng tụ khiên tường, nền chuồng trại ẩm ướt. 1.3.1.2. Độ ẩm tuyệt đối 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản