intTypePromotion=1

Giáo trình Xã hội học gia đình: Phần 2

Chia sẻ: Vixyliton Vixyliton | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:105

0
102
lượt xem
21
download

Giáo trình Xã hội học gia đình: Phần 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo trình Xã hội học gia đình: Phần 2 trình bày về một số chủ đề gia đình hiện nay như: Nâng cao tính khoa học của nghiên cứu gia đình, cách nhận diện gia đình Việt Nam, nơi cư trú sau hôn nhân của người Việt ở đồng bằng sông Hồng, vài nhận xét về vai trò chăm sóc và dạy dỗ của người cha, một hình thái gia đình mới ở Thụy Điển và mấy vấn đề đặt ra cho xã hội học gia đình, góp phần tìm hiểu người nông dân Việt Nam thời kỳ đổi mới kinh tế xã hội. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Xã hội học gia đình: Phần 2

Phần II<br /> <br /> MỘT<br /> SỐ CHỦ ĐỂ_ GIA___ĐÌNH<br /> HIỆN___ NAY<br /> ■<br /> _______________■<br /> NÂNG CAO TÍNH KHOA HỌC<br /> CỦA NGHIÊN CỨU GIA ĐÌNH<br /> "Gần đây trong xã hội ta rất nhiều người bàn bạc về vấn đề gia đình, ở<br /> nông thôn vấn đề gia đình, họ hàng nổi lên khá rầm rộ" (Trần Đình Hượu,<br /> 1996:49) - đó là nhận xét xác đáng của một cô' học giả đáng kính. Gia đình<br /> là mối quan tâm không chỉ của người bình thường, mà của cả giới nghiên<br /> cứu. Vẫn theo lời học giả trên, "Nhiều chương trình nghiên cứu trong nirớc<br /> và hợp tác quốc tế do Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn thanh niẽn, Viện Xã hội<br /> học... chủ trương cũng thường gặp nhau ờ một điểm chung là gia đình".<br /> Những nghiên cứu vể gia đình dựa trên các phương pháp thu thập dữ liệu của<br /> xã hội học như điều tra dùng bảng hỏi, phỏng vấn, thảo luận nhóm v.v. đirợc<br /> triển khai ở nhiều nơi; các ấn phẩm nghiên cứu về gia đình được công bố<br /> ngày càng nhiều trong những năm gần đây.<br /> Có thể khẳng định rằng đã xuất hiện một phong trào nghiên cứu gia<br /> đình với một lực lượng nghiên cứu khá đỏng đảo. Các ấn phẩm nghiên cứu<br /> đã bao quát một diộn rộng nhiều vấn đề gia đình khác nhau và soi sáng<br /> nhiều khía cạnh cùa gia đình mà trước kia chưa hoặc ít ai biết tới.<br /> Nhưng không thể phủ nhận rằng, bên cạnh một sô' ít ấn phẩm nghiên<br /> cứu thực sự đáp ứng được những yêu cầu chặt chẽ về tính khoa học, khổng<br /> phải mọi nghiên cứu đã và đang tiến hành về gia đình theo phương pháp xã<br /> hội học đều đáp ứng đúng và đầy đủ đòi hỏi đó. Qua hai cuốn sách của các<br /> cơ quan nghiên cứu về gia đình và phụ nữ, một số chuyên đề về gia đình của<br /> Tạp chí Xã hội học (số 4, 1995), 2 sô' năm 1998 của Tạp chí Khoa học về<br /> phụ nữ, và 16 số ra năm 1997 và 1998 của Tạp chí Vãn hoá nghệ thuật,<br /> chúng tôi đã tìm được 45 bài viết về gia đình có áp dụng phương pháp<br /> nghiên cứu xã hội học. Bài viết này ạẽ phân tích một sô' vấn đề nổi bật về<br /> phương pháp nghiên cứu trong 45 ấn phẩm đó, với hy vọng góp phần nâng<br /> cao chất lượng của các nghiên cứu khoa học về gia đình.<br /> 1.<br /> "Ly hôn bừa bãi" là nhận xét được một tác giả nêu ra và nhắc lại<br /> trong cùng một bài viết (Trần Đình Hượu, 1996:52, 85). Nhận xét này hàm ý<br /> đánh giá tình trạng ly hôn gia tăng trong thời gian gần đây theo một quan<br /> điểm đạo đức truyền thống vốn được không ít người tán thành, coi ly hôn<br /> 164<br /> <br /> như một hành động vô trách nhiệm và vô đạo đức. Điều căn bàn hơn và cần<br /> nói nhất ở đây là nhận xét trên không dựa trên một sự tìm hiểu khách quan<br /> những cảm nghiệm mà đương sự trong một cuộc ly hỏn thường nếm trải.<br /> Trong khi đó, nhiều nghiên cứu xã hội học về ly hôn ờ các nước khác<br /> nhau trcn thê' giới đã cho thấy, ly hôn hầu như bao giờ cũng rất cãng thẳng<br /> và đớn đau vé tình cảm, thường tạo ra những khó khăn rất lớn về nhiều mặt<br /> với một hoặc cà hai đương sự. Chẳng hạn, nhà nghiên cứu người Mỹ RobÃt<br /> Weiss đã phỏng vấn hàng loạt nam nữ ly hôn và thấy rằng, vổ mặt tâm lý và<br /> xã hội, ly hôn gây đau khổ cho cả hai giới; chỉ một tỷ lệ nhỏ những người<br /> được hỏi có cảm giác khoan khoái vì được tự do và có khả năng sống theo ý<br /> mình. Trong phần lớn các trường hợp, sự tôn trọng và ưa thích mà một cặp<br /> vợ chồng vốn có với nhau đã mất đi trước khi họ ly thân. Thay vào đó là sự<br /> thù địch và bất tín. Những cuộc cãi cọ thường rất gay gắt. Các cặp vợ chồng<br /> nếm trải cái mà Weiss gọi là "sự trầm cảm chia lìa". Việc người vợ (người<br /> chổng) cũ đột ngột không chung sống nữa tạo nên cảm giác lo âu và hoảng<br /> loạn. Sau một thời gian nào đấy, cả nỗi đau khổ sự khoan khoái nhường chỗ<br /> cho Iihững cảm giác cô độc. Những người ly hỏn thấy mình đã lìa bỏ cái thế<br /> giới gia đình yên ổn mà những người khác, dù có mọi vấn đé, vẫn đang sống<br /> trong đó (Giddens, 1989:401). Chỉ bằng một thái độ vô tư và khách quan<br /> khoa học, kết hợp với những phương pháp nghiỏn cứu đáng tin cậy, cuộc<br /> khảo sát trôn mới phát hiện cho ta thấy những người ly hôn đau khổ như thế<br /> nào. Rất tiếc chúng ta chưa có nghiên cứu tương tự ờ Viột Nam để cho thấy<br /> các cặp ly hôn nếm trải những gì, liệu sô' đông trong họ có "bừa bãi" như<br /> nhận xét trích ra trẽn đây hay không?<br /> Nhận xét đó không phải là ngoại lộ duy nhất, mà những phán xét đôi<br /> tượng nghiôn cứu của mình vể mặt đạo đức rất phổ biến trong các án phẩm<br /> khoa học. Theo ý kiến của một nhà nghiên cứu nước ngoài (người tập hợp<br /> bài vở, biên tập và viết giới thiệu cho một cuốn sách chung giữa các tác giả<br /> Mỹ và Việt Nam), thì các nhà nghiên cứu Việt Nam trong cuốn sách "không<br /> tránh thứ ngôn ngữ mang đậm màu sắc đạo đức; họ cũng không thấy như<br /> nhiều người phương Tây rằng cần tránh cái vẻ phán xét hay suy lý vé đạo<br /> đức (...). Đúng và sai, công bằng và bất công đểu được khuôn vào dưới góc<br /> độ cà những giá trị xã hội chủ nghĩa và những dấu tích của đạo đức truyền<br /> thống. Điểu đó có xu hướng cho phép có một sự thuyết giáo đạo dức" (Barry,<br /> 1996:16)<br /> Tác phong phán xét đối tượng nghiên cứu của mình về đạo đức như trên<br /> xuÁt phát từ chỗ nhiều nhà nghiên cứu đã không phân biệt được sự khác<br /> nhau giữa cách tiếp cận mà trong xã hội học gọi là "chuẩn mực" (normative<br /> 165<br /> <br /> approach) với cách tiếp cận "thực nghiệm" khi nghiên cứu gia đình. Cách<br /> tiếp cận chuẩn mực được nhào nặn bởi các truyển thông đạo đức, tởn g iio và<br /> chính trị. Ở kháp nơi, các quy phạm, các chuẩn mực đạo đức, các giảo lý và<br /> luật nhà nước đểu cần thiết chế hoá hành vi gia đình: chọn vợ, chọn chốne<br /> như thế nào, giới hạn quan hẹ tình dục trong hôn nhãn, quyển lợi và nghĩa vụ<br /> vợ chồng, trách nhiệm làm cha mẹ v.v. Tóm lại, cách tiếp cận chuẩn mục đối<br /> với gia đình dé cập đến những khía cạnh chuẩn mực gia đình, những gì nén<br /> và phải làm, những gì được coi là tốt và xấu, đúng và sai.<br /> Khác vói cách tiếp cận chuẩn mực, cách tiếp cận thực nghiệm<br /> (empirical approach) nhằm trả lời cho những câu hói về gia đình trong thực<br /> tế, mà những câu trả lời này khòng thể rút ra từ các quy phạm có tính chuãn<br /> mực và những điểu đúng sai. Những câu hòi như: "Lứa tuổi trung bình khi<br /> kết hôn lần đầu là bao nhiêu? Người ta thường chọn vợ chọn chổng trong<br /> thực tế như thế nào? Tỷ lệ ly hôn so vối tỳ lệ kết hôn là bao nhiêu?", v.v và<br /> v.v. chi có thổ được trả lời bằng cách nghicn cứu gia đình như nó tổn tại<br /> trong thực tế, bằng thực nghiệm (tức là thòng tin và dữ liệu có thể được thu<br /> thập và đánh giá có hệ thống dê hiểu những gì diồn ra trong gia dìnli và tại<br /> sao). Cách tiếp cận thực nghiệm là dựa trên cơ sờ thu thập và phân tích dữ<br /> liệu để trả lời các câu hỏi đó.<br /> Lẫn lộn các cách tiếp cận chuẩn mực và thực nghiệm thường dẫn dến<br /> định kiến và sai lôch trong nghicn cứu, vi phạm nguyôn tắc cơ bản thứ nhất<br /> của khoa học là tính khách quan. Nhà nghiôn cứu cần cô gắng để những yếu<br /> tố riêng tư và chù quan của mình càng ít tham dự vào cuộc kháo sát càng tòt.<br /> Tất nhiên, ai cũng có quan điểm của mình về một vấn để gia đình nào đó.<br /> nhưng nhà nghiên cứu khác với người thường ờ chỗ anh ta phài tìm hiểu để<br /> mô tả, lý giải và dự đoán những chù đề được nghiồn cứu. Do đó, anh ta cần<br /> giảm ảnh hưởng của quan điểm riêng đến nghiên cứu của mình.<br /> 2.<br /> Đổ đánh giá chất lượng các nghiên cứu vể gia đình, chúng ta còn có<br /> thể tập trung vào. một khía cạnh quan trọng khác nữa trong nghiên cứu: quan<br /> điểm lý luân và khái niôm.<br /> Về mặt này, có thể nói lý luận vắng bóng hầu hốt các bài viết trên về<br /> gia đình; không có những nghiên cứu được chỉ đạo bởi các quan niệm lý<br /> thuyết; quá ít những nỗ lực nghiêm túc nhằm kiểm nghiệm lý thuyết và xây<br /> dựng lý thuyết. Ở các công trình này. lý luận xã hội học gia đình hẩu như<br /> không tồn tại đối với đa sô' các nghiên cứu thực nghiệm về gia dinh. Chi 5<br /> trong số 45 ấn phẩm có dổ cập đến lý luận vẻ gia đình. Trong một bài viết,<br /> tác giả cũng chỉ điểm lại các định nghĩa khác nhau về gia dinh, chứ không<br /> 166<br /> <br /> làm gì íơn. Ỏ loạt ba bài viết khác, tác giả trình bày một cách lộn xộn và rối<br /> rắm nhmg thòng tin vé các khuynh hướng, các quan niệm lý thuyết trong xã<br /> hội hợi gia dinh trên thế giới, chứ không liên quan gì tới Việt Nam. Theo<br /> nghĩa t ví dụ; "Gia đình Khổng giáo" là một khái niệm mang tính trừu tượng<br /> cao. Đi có thể đo lường nó trong nghiên cứu thực nghiệm, nhà nghiên cứu cần<br /> mõ xè íó thành những khái niệm cụ thể hơn (hay còn gọi là những "chi báo<br /> thực níniệm" có thê "càn đong đo đếm", lượng hoá được); nói cách khác, họ<br /> cần tha» tác hoá nó. Trong mổt nghiên cứu thực nghiệm cùa mình, có hai tác<br /> giả đã (Uy giàn khái niệm "gia đình Khổng giáo" thành gia đình "sông chung<br /> hoậc sèig gần" bô mẹ chồng (Hirschma & Vũ Mạnh Lợi, 1996:164). Nói cụ<br /> thể hơn họ cho rằng gia đình Khổng giáo là hình thái mà cô dâu chú rẽ’ "sống<br /> chung loặc sống gần" bố mẹ chú rể! Đâv là một trường hợp điển hình của việc<br /> quy già» một khái niệm lý luận tinh tế thành một chi báo thực nghiệm thò thiển.<br /> Liệu chíng ta có cần nhác lại ở dây những lời cùa Khồng từ về cách nên diễn<br /> giải và )iổu các khái niệm Khổng giáo như thế nào? Có Iigười hỏi Khổng Tử<br /> rằng "hếu" là gì, và nuôi bô mẹ có phài là "hiếu" không. Khổng Tử đáp: "Ngày<br /> nay hiéi nghĩa là nuôi dưỡng cha mẹ. Nhưng người ta cũng nuôi cả chó lẫn<br /> ngựa. Mu viộc chăm sóc cha ipẹ không kèm sự tòn kính, thì có khác gì giữa<br /> nuỏi chi mẹ và nuòi súc vật" (Lang, o . 1946:24). Như vậy, Khổng Từ nhấn<br /> mạnh "liếu" của con cái với cha mẹ; ỏng đòi hòi một người con trai có hiêu<br /> khAng pài sự thực thi nghĩa vụ một cách lạnh lùng, mà là thái độ nồng nhiệt và<br /> tôn kín). Nói cách khác, gia dinh Khổng giáo nhấn mạnh đặc biệt cách con cái<br /> tôn kínỉ cha mẹ, chứ khổng dưn giản chỉ nuôi cha mẹ. Theo nghĩa đó. khổng<br /> thê châ> nhận việc quy giàn gia đình Khổng giáo thành gia đình sòng cùng<br /> hoẠc gấi cha mẹ chổng!<br /> Qiv giàn thô thiển gia đình Khổng giáo như trôn không phái sai lầm<br /> duy nh.t của hai tác già trên; họ còn đặt câu hỏi sai và hỏi nhẩm đối tượng.<br /> Dựa tréi lời đáp cho các câu hỏi đặt sai của họ, họ đã đi đến kết luận rằng<br /> 80% nhíng người được hỏi không chung sống với ông bà nội (và ngoại nữa ),<br /> từ đó siy ra rằng đại đa sô' gia đình Việt Nam không phải mỏ hình Khổng<br /> giáo ( Hrschman & Vũ Mạnh Lợi, 1996:167).<br /> Tnng khi đó. nhiều nghiên cứu khác lại cho thấy mô hình gia đình phổ<br /> biến tạ châu thổ sông Hổng là cặp vợ chổng trẻ sống chung với bô' mẹ<br /> chổng au khi cưới, rồi dần dẩn tách ra thường bằng cách ãn riêng nhưng vản<br /> <br /> 167<br /> <br /> ở chung, rồi ăn riêng và ở riêng. Theo một nguồn, 93,7% trong số 206 phụ<br /> nữ kết hôn nói rằng họ khời đầu cuộc sống hôn nhàn ờ cùng một nhà với bô<br /> mẹ chồng, chỉ có 6,3% có nhà và tự lập hộ riêng ngay sau khi cưới (Võ<br /> Phương Lan, 1994). Một nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương tự: hầu hết<br /> trong sô' 1.200 phụ nữ có chồng ở sáu xã miền Bắc thích lập hộ riêng sau kh<br /> cưới, nhưng không đủ khả năng m u a hoặc làtn nhà mới, nên 73% son ,<br /> chung với bố mẹ chổng 1-2 năm để chuẩn bị cơ sở vật chất cho việc làm nl.a<br /> riêng, chỉ 10% có nhà ngay sau lễ cưới (Havanon et al., 1997:22). •<br /> Vậy các tác giả Hirschman và Vũ Mạnh Lợi đi đến kết luận sai lẩm đó<br /> như thế nào? May mắn thay họ có cho biết (trong bài viết của mình) nhừng<br /> phương pháp nghiên cứu họ đã áp dụng, cách họ chọn những người được hỏi<br /> ý kiến (tức là cách chọn mẫu nghiên cứu), và họ đặt câu hỏi như thế nào điều này khiến họ hoàn toàn khác với đa sô các nghiên cứu khác vé gia đình<br /> (như dưới đây ta sẽ rõ). Nhờ thế, người đọc đã biết sai lầm của hai nhà<br /> nghiên cứu này là:<br /> - Đặt câu hỏi chung chung và dễ gây sai sót. Hai câu hỏi của họ nhằm<br /> kiểm định có hay không mô hình gia đình sống chung hoặc gần bố mẹ<br /> chồng được đặt ra như sau: "Khi còn bé ông (bà) cố sống cùng làng hoặc<br /> gần gia đình bố đẻ hoặc gia đình mẹ đẻ không?" và "Khi còn nhỏ, anh (chị)<br /> có sống cùng với ông (bà) hoặc bà con họ hàng không?". Rõ rang các câu<br /> hỏi này quá mông lung, không xác định về mặt thời gian. "Khi còn bé (nhỏ)"<br /> chỉ một thời gian gần như vô định, trong khi đó thời kỳ một cặp vợ chổng<br /> mới cưới chung sống với bố mẹ chồng lại rất xác định, không kéo dài, nhất<br /> là trong trường hợp tập tục không đòi hỏi họ là người trực tiếp chịu trách<br /> nhiệm chãm sóc cha mẹ chồng.<br /> - Không hỏi trực tiếp các cặp vợ chồng về nơi cư trú của họ sau khi<br /> cưới, mà hỏi "tất cả những người trong độ tuổi 15-65 trong mỗi gia đình" vé<br /> ông bà nội (ngoại) cùa họ khi họ còn bé. Như vậy, hai tác giả đã hỏi nhầm<br /> đối tượng, và điều đó còn kéo theo những sai sót về trí nhớ của người được<br /> hỏi (nhất là khi hỏi về thời xa xưa, lúc họ còn nhỏ, thêm nữa, nhiều người<br /> được hỏi bây giờ đã già).<br /> Điểu cần lưu ý rằng chính các tác giả trên đã phê phán một số nhà<br /> nghiên cứu khác (những người đã khẳng định sự tồn tại của mô hình hôn<br /> nhân ở nhà chồng) rằng "chỉ với khối lượng thực nghiệm rất hạn chế, nhiểu<br /> học giả có khuynh hướng dựa trên những bằng chứng đầy ấn tượng để khái<br /> quát". Nghĩa là hai tác giả muốn bác bò điều đã được chứng minh là đúng,<br /> và bác bỏ một cách sai lầm.<br /> <br /> 168<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2