intTypePromotion=1

Giáo trình xuất khẩu Việt Nam

Chia sẻ: Nguyen The Anh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:121

0
381
lượt xem
134
download

Giáo trình xuất khẩu Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Năm 1986 Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường, và nền kinh tế từng bước được đổi mới. Đến năm 1993, khi Mỹ bỏ đi chính sách cấm vận cho Việt Nam thì hoạt động ngoại thương lúc này mới bắt đầu phát triển và kéo theo sự phục hồi nền kinh tế Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình xuất khẩu Việt Nam

  1. Giáo trình xuất khẩu Việt Nam 1
  2. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM. I. tổng quan nền kinh tế Việt Nam: Năm 1986 Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường, và nền kinh tế từng bước được đổi mới. Đến năm 1993, khi Mỹ bỏ đi chính sách cấm vận cho Việt Nam thì hoạt động ngoại thương lúc này mới bắt đầu phát triển và kéo theo sự phục hồi nền kinh tế Việt Nam. Vị trí xếp hạng trên thế giới: sự xếp hạng theo tốc độ tăng trưởng GDP: Việt Nam đứng hàng 28 trên thế giới, đứng hàng thứ 2 ở châu Á, sau Trung Quốc ( 11 trên thế giới). (Danh sách các nước xếp theo tốc độ tăng trưởng GDP tham khảo phần phụ lục.) GDP: Theo Thời Báo Kinh tế Việt Nam (ngày 7/9/2007), GDP bình quân đầu người năm 2005 là 638,4 USD năm 2006 đạt 725,3 USD, năm 2007 ước đạt 835 USD, năm 2008 phấn đấu đạt 1.000 USD. Như vậy là tốc độ tăng thu nhập bình quẩn đầu người năm tăng cao gần gấp đôi so với tốc độ tăng trưởng GDP. Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1995-2003 2
  3. (nguồn: Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam) Dưới đây bổ sung một số số liệu mới : Tốc độ tăng trưởng GDP của năm 2004 là 7,79%, năm 2005 là 8,43%, năm 2006 là 8,2%. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch - đầu tư, năm 2007, nền kinh tế tiếp tục phát triển ổn định và đạt mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 10 năm qua, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cả năm ước đạt 8,4- 8,5% (kế hoạch là 8,2-8,5%) và GDP bình quân đầu người tương đương 835 USD. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng năm 2008 phải đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 9,1-9,2% để đạt GDP bình quân đầu người 1.000 USD và giảm tỉ lệ nghèo xuống còn 11%. Lạm phát ,chỉ số giá tiêu dùng Điều đáng lo ngại ở đây là lạm phát tăng cao trong mấy năm gần đây, thể hiện qua sự tăng cao của chỉ số giá tiêu dung gần xấp xỉ tốc độ tăng trưởng GDP. Mặc dù chính phủ đã có nhiều biện pháp để hạn chế nhưng mục tiêu kiềm chế lạm phát vẫn không thực hiện được nguyên nhân là do giá xăng dầu tăng lên quá nhanh và cao.(55- 60$/thùng_số liệu năm 2005). Hiện nay giá xăng dầu vẫn đang ở mức cao gần 80$/thùng với mức kỉ lục là 78,5$/thùng kể từ 1983 vào ngày 31/7/2007. Giá dầu tăng lên cùng với dịch cúm gia cầm đã kéo theo sự tăng giá của các ngành kinh tế quan trọng khác như than, xi măng, vận tải, và thực phẩm,… Chỉ số giá tiêu dùng năm 2004 vượt mức tăng trưởng GDP lên đến 9,5%. Năm 20005 Việt Nam thực hiện thả nổi dần các loại giá. Giá viễn thông và xăng dầu được buông dần, chỉ còn duy nhất giá điện là quy định "cứng". Hầu hết các giá 3
  4. hàng hoá đều đã được vận hành theo tín hiệu thị trường. Và kết quả là lạm phát được duy trì ở mức Chỉ trong mấy tháng đầu năm 2007, chỉ số giá tiêu dung (CPI) là 6,19%, đặc biệt là tháng 7 tăng đến 0,94%. Lý do chính được nhận định là do lượng tiền lưu thông quá nhiều. Chỉ tính riêng sáu tháng đầu 2007, NHNN đã "bơm" ra lưu thông 112.000 tỉ đồng để mua vào bảy tỉ USD. Đây là một con số không nhỏ tạo áp lực tăng tiền trong lưu thông. (Nguồn: VNEconomy) Lo ngại này đã được đưa vào mục tiêu Quốc Hội: phải kiềm chế lạm phát ở mức thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế. Theo một số bài báo tuổi trẻ gần đây thì do lạm phát tăng quá nhanh nên gởi tiết kiệm vào ngân hang không có lời mà còn lỗ do giảm sút về mặt giá trị. Quan hệ thương mại với các nước Đến hết năm 2005, Việt Nam có quan hệ thương mại với 235 nước trong tổng số 255 nước và khu vực lãnh thổ của thế giới. Để thúc đẩy ngoại thương phát triển Chính phủ Việt Nam đã ký kết trên một trăm hiệp đinh thương mại song phương và đa phương, và một trong số các hiệp đinh quan trong gần đây nhât đó là hiệp định thương mại ASEAN, hiệp định thương mại Việt-Mỹ và hiệp định WTO. Những hiệp định này đã có tầm ảnh hưởng rất lớn đến tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam. Vốn đầu tư nước ngoài: Theo sự phân loại của chính phủ thì có 2 nguồn: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Tuy nhiên sự tiếp nhận này thiên hẳn về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). o Nguồn FDI tích luỹ từ năm 1988 đến năm 2003: Tổng số vốn đăng kí là 40,79 tỷ đô. Các nước và khu vực đầu tư nhiều vào Việt Nam (dựa trên số vốn): (1) Singapore, (2) Đài loan; (3) Nhật Bản; (4) Hàn Quốc; (5) Hồng Kông, (Trong số các nước đầu tư chính, Nhật Bản là nước đầu thứ lớn thứ ba với tổng số vốn đầu tư đạt 4,48 tỷ đô và là nước đứng thứ nhất với số vốn thực hiện đạt 3,95 tỷ đô) Số lượng các dự án đầu tư (các dự án đã được cấp giấy phép) là 4.324 Các ngành hoạt động chính (theo kim ngạch) là: (1) công nghiệp (chiếm 56,9% trổng kim ngạch), công nghiệp nặng (23,3%), công nghiệp nhẹ (15%), (2) nông lâm ngư nghiệp (7,1%), (3) dịch vụ (36%). o Tình hình vốn đầu tư tính đến 2006 o Tính riêng 8 tháng đầu năm 2007 8 tháng đầu năm, Việt Nam đã thu hút được trên 8,3 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tăng xấp xỉ 40% so với cùng kỳ năm trước. 4
  5. Trong số này, hơn 7 tỷ USD là tổng vốn đầu tư của 814 dự án đầu tư mới, phần còn lại là vốn bổ sung của 247 dự án đang triển khai. Vốn FDI trong 8 tháng qua chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và nông-lâm-ngư nghiệp với các địa bàn đầu tư chính vẫn là Bà Rịa-Vũng Tàu, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Hàn Quốc tiếp tục dẫn đầu trong số 40 quốc gia và vũng lãnh thổ có dự án đầu tư vào Việt Nam trong 8 tháng qua. 238 dự án, tổng vốn đăng ký trên 1,7 tỷ USD của các nhà đầu tư Hàn Quốc đã nhận giấy chứng nhận đầu tư tại Việt Nam. Xếp sau các nhà đầu tư Hàn Quốc, Xinhgapo có 50 dự án, tổng vốn trên 1,3 tỷ USD đã nhận giấy phép. Ngoài ra, Cục Đầu tư Nước ngoài cho biết hiện còn có 50 dự án với tổng vốn đăng ký dự kiến lên đến 50 tỷ USD đang xúc tiến đầu tư vào Việt Nam. Nổi bật trong số này là dự án đầu xây dựng nhà máy nhiệt điện công suất 2.640 MW, tổng vốn 3,8 tỷ USD của tập đoàn Sumitomo (Nhật Bản); dự án lớn khác là dự án xây dựng trung tâm tài chính, khách sạn và khu đô thị tổng hợp có số vốn 2,7 tỷ USD của Tập đoàn Trustee Suisse (Thụy Sỹ) và dự án xây dựng Trung tâm văn hóa-thương mại Giảng Võ cùng Triển lãm Mỹ Đình trị giá 2,5 tỷ USD của Tập đoàn Kumho Asiana (Hàn Quốc). Các nhà quản lý Việt Nam đang tỏ ra hết sức lạc quan về tình hình thu hút đầu tư nước ngoài trong năm nay. Ông Phan Hữu Thắng, Cục Trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, nhận định, với tốc độ tăng trưởng về thu hút vốn đầu tư nước ngoài như hiện nay, mục tiêu thu hút 12 tỷ USD vốn FDI trong năm 2007 của Việt Nam là hoàn toàn hiện thực./. ( Nguồn: Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư ) o Dự báo cho năm 2007: Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự báo, năm 2007, Việt Nam sẽ thu hút khoảng 13 tỷ USD vốn FDI, tăng 8,3% so với năm 2006. Dự báo khả quan này dựa trên cơ sở kết quả thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ đầu năm đến nay, đặc biệt trong 8 tháng qua, Việt Nam đã thu hút 8,3 tỷ USD vốn FDI, trong khi mục tiêu đặt ra là cả năm 2007 đạt khoảng 12 tỷ USD. Cục Đầu tư nước ngoài cho biết, hiện có nhiều nhà đầu tư lớn đang tìm hiểu xúc tiến đầu tư vào Việt Nam với các dự án có tổng số vốn lên đến 50 tỷ USD. Đáng chú ý là Dự án xây dựng một số khu công nghệ chuyên sản xuất các sản phẩm công nghệ cao của Tập đoàn Foxconn, Đài Loan với tổng số vốn 5 tỷ 5
  6. USD. Tiếp đến là Dự án Nhà máy Nhiệt điện than Vân Phong của Tập đoàn Sumitomo, Nhật Bản với 3,8 tỷ USD. Dự án khai thác và sản xuất thép ở Hà Tĩnh của Tập đoàn TaTa (Ấn Độ) với 3,5 tỷ USD... Với số lượng các nhà đầu tư đăng ký nhiều như hiện nay cộng với môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi thì khả năng Việt Nam thu hút khoảng 13 tỷ USD vốn FDI trong năm 2007 sẽ thực hiện được. ( nguồn: Website Chính phủ ) II. Tác động của các hiệp định đến xuất nhập khẩu Việt Nam: Với trên 100 hiệp định thương mại song phương và đa phương đã ký kết, chúng ta sẽ đi sâu vào phân tích tác động của 3 hiệp định thương mại quan trọng dưới đây đã và sẽ ảnh hưởng đến tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam như thế nào 1) Hiệp định thương mại ASEAN: Nội dung chính của hiệp định: Thực hiện cắt giảm thuế quan có hiệu lực chung ( CEPT), đưa thuế nhập khẩu đánh vào hàng hóa của các nước ASEAN khác khi đưa vào nước mình xuống còn 0%-5%. Ngoài ra CEPT còn đề cập đến các biện pháp loại bỏ hạn chế số lượng nhập khẩu như: tiến tới xóa bỏ tất cả các hạn chế về số lượng đối với các sản phẩm thực hiện CEPT. Các hàng rào phi thuế quan khác sẽ được xóa bỏ dần dần trong vòng 5 năm kể từ khi sản phẩm được hưởng ưu đãi về thuế. Các hạn chể ngoại hối sẽ được ưu tiên dỡ bỏ đối với sản phẩm thực hiện CEPT. Trong trường hợp đột ngột tăng số lượng nhập khẩu gây hại đến sản xuất trong nước hoặc đe dọa cán cân thanh toán thì các nước ASEAN có quyền áp dụng biện pháp phòng ngừa để hạn chế hoặc dừng việc nhập khẩu. Việt Nam đã thực hiện xong Chương trình CEPT vào 01/01/2006 nên có trên 95% danh mục sản phẩm nhập từ ASEAN vào Việt Nam thuế chỉ còn ở mức 0-5%, theo dó thì cũng đã tiến hành dỡ bỏ nhiều biện pháp phi thuế quan thúc đẩy quan hệ thương mại của ASEAN phát triển. Những tác động thuận lợi và không thuận lợi đến hoạt động thương mại của Việt Nam:  Thuận lợi: o Hàng hóa, nguyên vật liệu, thiết bị nhập khẩu từ các nước ASEAN vào Việt Nam sẽ rẻ hơn làm nâng cao sức cạnh tranh về giá cho các ngành chủ lực như: dệt, may, giày dép, hàng điện tử…trên cả thị trương nội địa và quốc tế. 6
  7. o Thị trường hàng hóa ở Việt Nam se càng phong phú, đa dạng hơn, giúp người tiêu dung, nhà sản xuất Việt Nam có điều kiện thỏa mãn nhu cầu tốt hơn. o Thuận lợi hơn trong việc xuất khẩu hàng hóa, quảng bá sản phẩm sang các nước ASEAN. o Thúc đẩy các nhà sản xuất Việt Nam nâng cao sức cạnh tranh với dòng hàng hóa ASEAN.  Bất lợi: o Nguy cơ không thâm nhập được vào thị trường ASEAN mà còn mất luôn cả thị trường nội địa nếu không đủ sức cạnh tranh với những mặt hàng có lơi thế so sánh tương tự. o Sản phẩm Việt Nam được sản xuất dưới dạng gia công, lắp ráp sử dụng nguyên liệu ngoại nhập hoặc xuất khẩu nông sản dưới dạng thô khi xuất sang thị trường ASEAN thì ít được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi CEPT. o Nhiều sản phẩm Việt Nam có nguy cơ bị thay thế bởi hàng hóa của các nước ASEAN nếu không tạo được chỗ đứng vững vàng trong nước và trên thị trường các nước khu vực. 2) Hiệp định thương mại Việt-Mỹ nội dung chính: bao gồm 5 vấn đề mà các nhà kinh doanh thương mại nội địa và xuất nhập khẩu của Việt Nam cần nắm vững.  Về thương mại hàng hóa: yêu cầu Việt Nam phải hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng như các khu vực kinh tế khác. Ngay lập tức và vô điều kiện, 2 bên Việt Nam và Hoa Kỳ trao cho nhau Quy chế tối huệ quốc. Ngay lập tức Việt Nam được hưởng Chế độ đối xử quốc gia khi kinh doanh trên thị trường Hoa Kỳ tương tự như các bạn hàng khác của Mỹ. Theo lộ trình các nhà thương mại Hoa Kỳ được kinh doanh trên Việt Nam và được hưởng Quy chế đối xử quốc gia của Việt Nam  Quyền sở hữu trí tuệ: Các Bên cam kết sẽ xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ và đông bộ theo chuẩn mực quốc tế để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Các Bên Việt Nam và Hoa Kỳ thừa nhận các công ước quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Các Bên thực thi quyền sở hữu tí turj đặt trên Nguyên tắc đối xử quốc gia. Có 8 đối tượng có lien quan đến hàng hóa được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 1. Quyền tác giả và quyền có lien quan. 2. bảo hộ tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hóa. 3. nhãn hiệu hành hóa. 4. sang chế 5. thiết kế bố trí mạch tích hợp. 7
  8. 6. thông tin bí mật( bí mật thương mại). 7. kiểu dáng công nghiệp. 8. các loại giống thực vật Trong vòng 30 tháng kể từ khi Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ có hiệu lực (12/2001), lộ trình bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam thực thi xong.  Thương mại dịch vụ: Ngay lập tức và vô diều kiện, các nhà donah nghiệp Việt Nam có thể tiến hành kinh doanh các loại dịch vụ tại thị trường Hoa Kỳ trên Nguyên tắc tối huệ quốc và Nguyên tắc đối xử quốc gia (trừ một số trường hợp đặc biệt). Còn về phía Hoa Kỳ thị được tiến hành theo lộ trình.  Quan hệ đầu tư: Trong 4 năm kể từ khi Hiệp định thương mại Việt-Mỹ có hiệu lực, xóa bỏ phân biệt về giá và phí đối với các hàng hóa hoặc dịch vụ áp dụng cho cả nhà đầu tư trong và ngoài nước. Sau 7 năm xóa bỏ quy định phải xuất khẩu 80% sản phẩm đối với các ngành hàng không khuyến khích đầu tư vào Việt Nam.  Minh bạch và công khai: Minh bạch và công khai về môi trường kinh doanh: mọi quy định về thương mại đều công khai. Thuân lợi và thách thức của hiệp định:  Thuận lợi: hiệp định này sẽ tác động toàn diện đến hoạt động thương mại nội địa cũng như quốc tế của Việt Nam. Đây được xem là bước quan trọng đầu tiên tổ chức thực thi nội dung các hiệp định WTO. o Tạo môi trương pháp lý cho việc phát triển hoạt động thị trường ở Việt Nam. o Tạo điều kiên thuận lợi chó việc gia tăng xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đồng thời kích thích các nhà thương mại Việt Nam phát triển. o Xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, minhc bạch có thể kiểm soát được..khuyến khích mọi khu vực kinh tế, đặc biệt khu vực kinh tế tư nhân, đầu tư nước ngoài tham gia vào hoạt động thương mại.  Thách thức: o Các ngành dịch vụ sẽ khó khăn khi canh tranh với các nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ trên thị trường Việt Nam do sức cạnh tranh còn yếu. o Sức cạnh tranh của đa số nông sản còn thấp sẽ găp khó khăn khi mở cửa cho hàng hóa của Mỹ thâm nhập vào. o Các nhà bán buôn, bán lẻ của Việt Nam gặp khó khăn ngay trên thị trường nước mình. o Xuất khảu thuận lợi sang thị trường Hoa Kỳ sé có khả năng xuất hiện những thách thức mới: bị kiện bán phá giá hoặc các rào cản kỹ thuật tinh vi khác… 8
  9. o Thực hiện tốt nội dung Hiệp định Thương Mại Việt-Mỹ sẽ mở ra triển vọng cho hoạt động thương mại của Việt Nam tiếp cận và liên thông với thị trường thế giới. ngoài ra cần phải có các chiến lược phát triển để nắm bắt các cơ hội và hạn chế được các nguy cơ, thách thức. 3) Hiệp định thương mại của tổ chức thương mại thế giới WTO: Việt Nam đã kết thúc đàm phán thương mại với các nước vào tháng 09/2006 và với Mỹ vào … 01/2007 Việt Nam chính thức gia nhập vào WTO mở ra những cơ hội và thách thức cho Việt Nam. nội dung chính của hiệp định: dành cho các nước thành viên WTO và được hưởng từ họ Chế độ tối huệ quốc(MFN). o Tiến tới xóa bỏ hangsfrafo phi thuế quan, chuyển sang bảo hộ bằng hàng rào thuế quan., giúp đánh giá giám sát dễ dàng hơn về chính sách bảo hộ. o Giảm thuế quan bình quân xuống đưới 10% dể tọa điều kiện thuận lợi cho hàng nhập khẩu. o Tiến tới xóa bỏ tài trợ trực tiếp. o Thực thi Nguyên tắc Đối xử quốc gia để đảm bảo công bằng trong cạnh tranh. o Xác lập hệ thống luật để thực thi và kiểm soát việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, thừa nhận các công ước quốc tế về bảo hộ quyền sỏ hữu trí tuệ đối với hàng hóa. o Giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế thông qua cơ chế trong tài quốc tế của WTO. Cơ hội và thách thức của hiệp định:  Cơ hội: o Có môi trường pháp lý đầy đủ, đồng bộ, mang chuẩn mực quốc tế. o Các rào cản hành chính, kinh tế, kỹ thuật đối với hoạt động thương mại được giảm thiểu. o Các thành phần kinh tế được cạnh tranh bình đẳng trong môi trường kinh doanh mang tính thị trường. o Hàng hóa phong phú, phương thức cung cấp đa dạng với nhiều thành phần và khu vực kinh tế tham gia. o Xuât khẩu hàng hóa thuận lợi ra thị trường thế giới vì được hưởng Quy chế tối huệ quốc và Nguyên tắc đối xử quốc gia khác của các nước thành viên WTO khác. o Có khả năng linh động ứng phó vì được cung cấp thông tin về chính sách xuất nhâp khẩu rõ ràng, minh bạch. o Các doanh nghiệp thương mại bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình thuận lợi hơn trên thị trường trong và ngoài nước. 9
  10. o Tóm lại Việt Nam được hưởng rất nhiều quyền lợi từ việc tự do hóa thương mại khi gia nhập WTO, điều quan trọng là phải biết nắm bắt cơ hội này để làm bước đà đẩy kinh tế Việt Nam đi lên.  Thách thức: o 149 thành viên còn lại của WTO được hưởng Quy chế tôi huệ quốc và được xem xét hưởng Chế độ đối xử quốc gia, do đó các doanh nghiệp Việt Nam phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt hơn. o Nhiều donah nghiệp thương mại Việt Nam theo lộ trình sẽ mất độc quyền trong kinh doanh như: thương mại phân bón, xăng dầu, sách báo, bưu chính viễn thông,.. o Sức cạnh tranh hàng hóa của Việt Nam chưa cao, ngay cả nông sản vốn là lợi thế của ta ,nên khả năng thương mại sẽ gặp khó khăn ngay trên thị trường Việt Nam. o Việt Nam sẽ dễ mắc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ vì chưa xác lập được thương hiệu, mẫu mã riêng. o Nhiều loại hàn hóa xuất khẩu ra thị trường còn dưới dạng tho, nguyên liệu, bán thành phẩm, … khó được huwongr những ưu đãi thương mại ở nước nhập khẩu. III. Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam bảng 1: tổng hợp kim ngạch và tốc độ tăng kim ngạch của xuất nhập khẩu, nhập siêu và tỷ lệ nhập siêu qua các năm từ 2001-2006. Đvt: Triệu USD năm Xuất Tốc độ Nhập Tốc độ Nhập Tỷ lệ khẩu tăng(%) khẩu tăng(%) siêu nhập siêu (%) 2001 15,027 3.8 16,162 3.4 1,135 7.9 2002 16,705 11.2 19,733 21.8 3,027 18.2 2003 20,149 20.6 25,256 27.9 5,106 25.3 2004 26,504 31.5 31,954 26.5 5,450 20.6 2005 32,233 21.6 36,881 15.4 4,648 14.4 2006 39,5 22 44,8 22 5,3 12.8 10
  11. 45 40 35 30 25 xuất khẩu 20 nhập khẩu 15 10 5 0 2001 2002 2003 2004 2005 2006 ( Nguồn: Thời báo kinh tế Sài Gòn Nhận xét chung: mặc dù có rất nhiều thuận lợi do các hiệp định thương mại mang lại nhưng chính phủ cũng như các doanh nghiệpViệt Nam chưa nắm bắt hết được, chưa biết tận dụng những cơ hội này, do đó Việt Nam vẫn là một đất nước nhập siêu với tỉ lên nhập có thể không tăng mấy nhưng giá trị nhập siêu thì có xu hướng ngày càng tăng. 1) Tình hình xuất khẩu: cơ cấu thị trường xuất khẩu: thị trường xuất khẩu của Việt Nam trên 23 nước, trong đó có 9 thị trường xuất khẩu chủ lực có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD(2003-2005). Đvt: Triệu USD, % Nội dung Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 KN Tỉ KN Tỉ KN Tỉ KN Tỉ trọng trọng trọng trọng Tổng xk 20.149 100 26.503 100 32.442 100 100 hàng hóa Châu Á 9.756 48,4 12.634 47,7 16.383 50,5 ASEAN 2.958 14,7 3.885 14,7 5.450 16,8 Trung quốc 1.748 8,7 2.735 10,3 3.082 9,5 Nhật Bản 2.909 14,4 3.502 13,2 4.639 14,3 Châu Âu 4.326 21,5 5.412 20,4 5.872 18,1 EU-25 4.017 19,9 4.971 18,8 5.450 16,8 Châu Mỹ 4.327 21,5 5.642 21,3 6.910 21,3 Hoa Kỳ 3.939 19,5 4.992 18,8 6.553 20,2 Châu Phi 211 1,0 427 1,6 681 2,1 Châu Đại 1.455 7,2 1.879 7,1 2.595 8,0 11
  12. Dương Các mặt hàng xuất khẩu: nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chiếm vị trí xuất khẩu hàng đầu thế giới: hồ tiêu, và hạt điều đứng hàng đầu ( chiếm 1/3 thị phần thế giới); gạo chuyển từ vị trí thứ hai lên xuất khẩu với số lượng nhiều nhất thế giới, cà phê,.. dứng hàng thứ hai trên thế giới; trong số những mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao thì có đến 9 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD . (năm 2006) Xem bảng phía dưới. Tình hình xuất khẩu năm 2006: được xem là điểm sáng trong bức tranh kinh tế 2006 Với tổng kim ngạch trên 39,5 tỷ USD, tăng 22% so với năm 2005 và chiếm trên 60% GDP cả nước, xuất khẩu đã trở thành một trong những điểm sáng của bức tranh toàn cảnh kinh tế năm 2006. Năm 2006 được xem là năm ghi nhận nhiều kỷ lục của các sản phẩm nằm trong nhóm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, dù trong năm qua có khá nhiều biến động về thị trường và các rào cản thương mại. 9 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD Kim ngạch STT Mặt hàng (tỷ USD) 1 Dầu thô 8,3 2 Dệt may 5,8 3 Giày dép 3,5 4 Thuỷ sản 3,4 5 Sản phẩm gỗ 1,9 Điện tử và linh kiện máy 6 1,77 tính 7 Gạo 1,38 8 Cao su 1,3 9 Cà phê 1,1 (Nguồn: Bộ Thương mại) Hàng dệt may tiếp tục đứng ở vị trí đầu tiên (trừ dầu thô), với giá trị xuất khẩu đạt khoảng 5,9 tỷ USD, tăng 22% so với năm trước và chiếm 14,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Hai mặt hàng da giầy, thuỷ sản tuy bị áp thuế bán phá giá ở một số thị trường và đặc biệt là thuỷ sản còn chịu sự kiểm tra khắt khe về an toàn vệ sinh thực 12
  13. phẩm, song do có sự đầu tư chiều sâu, tạo mặt hàng mới và mở rộng thị trường nên đến hết 11 tháng cả hai mặt hàng trên đều vượt qua ngưỡng 3 tỷ USD. Đến hết năm, cả da giầy và thuỷ sản đều xác lập kỷ lục mới với con số 3,5 tỷ USD xuất khẩu da giầy và 3,4 tỷ USD xuất khẩu thuỷ sản. So với năm ngoái, năm nay “Câu lạc bộ xuất khẩu 1 tỷ USD” lại có thêm hai thành viên mới, là cao su và cà phê. Nhờ sự tăng giá đột biến (khoảng 40% so với năm trước), cao su đã đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1,3 tỷ USD, tăng 64% so với năm 2005. Như vậy, kết thúc năm 2006, "câu lạc bộ 1 tỷ USD" đã có 9 thành viên, gồm thủy sản, cao su, gạo, dầu thô, dệt may, giày dép, hàng điện tử và linh kiện máy tính, sản phẩm gỗ, cà phê. Sự bứt phá của một số hàng nhỏ lẻ, tuy còn ẩn danh trong danh mục "nhóm các mặt hàng khác" như sản phẩm từ gang thép, máy biến thế và sắn đã khẳng định sự đúng đắn của chủ trương chú trọng phát triển những mặt hàng trước mắt còn nhỏ song còn tiềm năng về sản xuất, chưa bị giới hạn về thị trường xuất khẩu và gần như không chịu rào cản để chọn các gương mặt vào "đội tuyển xuất khẩu quốc gia". Các địa phương có giá trị xuất khẩu tăng cao là Hải Phòng- lần đầu tiên đạt ngưỡng 1 tỷ USD, Thanh Hóa, Hà Tây , Vĩnh Phúc, Bà Rịa - Vũng Tàu, Hòa Bình, Kiên Giang và Quảng Nam. tình hình xuất khẩu 8 tháng đầu năm 2007  kim ngạch: ước tính xuất khẩu của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2007 đạt 31,2 tỷ USD, tăng 19,3% so với cùng kỳ năm 2006. , tuy nhiên so với mục tiêu tăng trưởng trên 20% trong năm 2007 do Bộ Thương mại đặt ra thì con số này lại chưa đạt. Riêng trong tháng 8, xuất khẩu đạt 4,4 tỷ USD, tăng 3,7% so với tháng 7 năm 2007, trong đó xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) ước đạt 1,8 tỷ USD.  các mặt hàng: kim ngạch 8 tháng đầu năm tăng nhanh như vậy là nhờ có 8 nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD, trong đó có 4 nhóm hàng đạt trên 2 tỷ USD o 4 nhóm hàng đạt trên 2 tỷ USD Dệt may Thủy sản Giày dép Dầu thô Kim ngạch 5 2.36 2.72 5.1 (tỷ USD) Tỷ lệ tăng(%) 29.6 14 14.3 -11.2 o 4 mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD Sản phẩm Cà phê Điện tử,vi Gạo gỗ tính, liên kiện 13
  14. Kim ngạch 1.5 1.4 1.3 1.1 (tỷ USD) Tỷ lệ tăng(%) 23.3 90.7 24.6 12.2 Một số mặt hàng tuy kim ngạch xuất khẩu chưa lớn nhưng đạt được tốc độ tăng trưởng cao là sản phẩm nhựa đạt 442 triệu USD (tăng 49,2%), túi xách, ví, vali, ô dù đạt 425 triệu USD (tăng 28,6%), hàng thủ công mỹ nghệ đạt 482 triệu USD (tăng 21%), dây điện và dây cáp điện đạt 544 triệu USD (tăng 24,5%).  thị trường xuất khẩu: Trong 8 tháng qua, xuất khẩu vào thị trường Liên minh Châu Âu (EU) và Mỹ (hai thị trường chiếm tỷ trọng lớn) tiếp tục tăng cao với tỷ lệ tăng tương ứng là 28% và 23% so với cùng kỳ năm 2006. 2) tình hình nhập khẩu kim ngạch nhập khẩu qua các năm: thể hiện qua bảng 1 Riêng 8 tháng đầu năm 2007, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 37.6 tỷ USD, tăng 29.9% so với cùng kỳ năm ngoái.( trong tháng 8/2007 ước đạt 5.2 tỷ USD) Về cơ cấu nhập khẩu: Năm 2006 khoảng 70% là hàng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất để tái xuất khẩu và sản xuất trong nước, bao gồm các mặt hàng: gỗ nguyên liệu, bột giấy, đồng nguyên liệu, bông và sợi các loại, phân bón, sắt thép, da nguyên liệu, máy móc thiết bị… các mặt hàng tiêu dùng khác chiếm khoảng 30% thì trong 7 tháng đầu năm 2007 kim ngạch nhập khẩu vẫn chủ yếu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất như máy móc, thiết bị dụng cụ, phụ tùng ước tính đạt 4,4 tỷ USD, tăng tới 46,4% so với cùng kỳ; xăng dầu 3,3 tỷ USD, tăng 8,2%; sắt thép 2,15 tỷ USD, tăng 60,9%, hóa chất tăng 47,1%, ô tô tăng 76,9%,tân dược tăng 25,6%. các thị trường chủ yếu Thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam là Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc với trị giá hàng hóa nhập khẩu từ 5 thị trường này chiếm hơn 50% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước Như vậy, nhập siêu 8 tháng đầu năm nay ở mức 6,4 tỷ USD, bằng 20,5% tổng kim ngạch xuất khẩu, cao hơn mức nhập siêu cùng kỳ năm 2006 cả về giá trị và tỷ lệ so với kim ngạch xuất khẩu (cùng kỳ năm 2006 nhập siêu 2,7 tỷ USD, bằng 10,5%). 3) thực trạng của kinh doanh xuất nhập khẩu: nhập siêu thực trạng: Nếu năm 1992 là năm đầu tiên và hầu như là duy nhất từ trước đó cho đến nay ta đã đạt được sự cân bằng cán cân ngoại thương, nếu tính cả lượng ngoại tệ quy đổi cũ thì ta xuất siêu khoảng 40 triệu R – USD. Nhưng từ đó đến nay đã 15 năm kinh tế Việt Nam liên tục đạt tăng trưởng cao 14
  15. và chắc chắn là đã có phần đóng góp rất lớn của các hoạt động ngoại thương, vậy mà nước ta vẫn nhập siêu thậm chí trong vài năm gần đây đã có xu hướng nhập siêu năm sau càng cao hơn năm trước nhiều. Nhập siêu từ 2001-2006 thể hiện ở bảng 1. Năm 2007: o trong 8 tháng đầu năm 2007, nhập siêu cả nước đang ở mức 6,4 tỉ USD. Tỉ lệ nhập siêu tính theo kim ngạch xuất khẩu bằng 20,5%, cao gần bằng tỉ lệ này cùng kỳ năm 2003 (25,3%) và tăng gần gấp đôi năm 2006 (10,41%). Nhập siêu tăng mạnh như vậy là do bình quân xuất khẩu tháng (3,9 tỉ USD) tăng chậm hơn bình quân nhập khẩu tháng (4,7 tỉ USD). So với cùng kỳ năm ngoái, bình quân xuất khẩu tháng chỉ tăng khoảng 382 triệu USD, trong khi nhập khẩu bình quân tháng tăng 1,083 tỉ USD o dự kiến, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá cả năm của nước ta sẽ đạt 48 tỷ USD (tăng 20,5% so với năm 2006) và tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá đạt 57 tỷ USD (tăng 27% so với năm 2006), nên nhập siêu dự kiến cho cả năm là 9 tỷ USD (bằng 18,8% kim ngạch xuất khẩu hàng hoá) (Nguồn:VNeconomy) nguyên nhân: Có nhiều yếu tố tác động đến nhập siêu của Việt Nam. Trước hết, việc bãi bỏ hàng rào hạn ngạch dệt may giữa các nước thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các vụ kiện bán phá giá và hàng rào kỹ thuật do các nước nhập khẩu dựng lên đã làm tốc độ xuất khẩu của các ngành chủ lực như dệt, may, giày, dép và thủy sản bị chậm lại. Mặc dù có những ngành hàng xuất khẩu chủ lực như dệt may (đạt 5,084 tỉ USD, chiếm 16,2% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước trong 8 tháng đầu năm), gỗ (đạt 1,4 tỉ USD, chiếm 4,5%),... nhưng cũng không góp phần đáng kể vào nỗ lực giảm nhập siêu. Nhu cầu nhập khẩu hàng hóa nguyên vật liệu, phụ liệu phục vụ cho sản xuất trong nước và sản xuất hàng xuất khẩu những ngành này đang tăng nhanh. Trong đó, nhập khẩu nguyên phụ liệu ngành dệt may chiếm khoảng 70%, nguyên liệu gỗ cũng gần như hoàn toàn nhập từ nước ngoài. Ở các ngành này, VN chỉ tham gia vào giai đoạn cuối là gia công nên giá trị gia tăng thu về không nhiều. (nguồn vnmedia.com) Cơn sốt giá dầu trên thị trường thế giới cũng có tác động không nhỏ. Việt Nam hiện phải nhập gần như 100% nhiên liệu, nhưng đồng thời cũng là nước xuất khẩu dầu thô. Sự kiện giá dầu tăng tuy không tác động trực tiếp tới nhập siêu, do mức tăng về giá giữa xuất khẩu dầu thô và nhập khẩu nhiên liệu vẫn cân bằng, nhưng nó lại tác động gián tiếp thông qua những nguyên liệu phụ thuộc vào giá dầu mà Việt Nam có nhu cầu nhập lớn. Ví dụ như thép. Tám tháng đầu năm nay lượng thép nhập khẩu chỉ tăng 14%, nhưng tính theo giá trị thì tăng tới 34,3%. Tương tự, lượng chất dẻo nhập về hầu như không tăng, nhưng giá thì tăng tới 31%. Các sản phẩm nhập khẩu khác như phân bón, sợi dệt, hóa chất… cũng diễn ra như vậy. Trong khi đó, các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam, trừ dầu thô, thì không được hưởng lợi nhiều từ yếu tố tăng giá này. 15
  16. Công nghiệp Việt Nam trong những năm gần đây phát triển khá mạnh, nhưng chủ yếu vẫn tập trung vào công đoạn gia công cuối cùng. Trong khi đó, các ngành phụ trợ còn khá yếu. Theo ước tính của Bộ Công nghiệp, ngành này hiện lệ thuộc đến 75-80% vào nguồn nguyên vật liệu nhập khẩu. Do vậy, sản xuất trong nước càng phát triển thì nhập khẩu càng tăng và mức “đóng góp” của ngành công nghiệp vào nhập siêu càng nhiều. Điều này có thể thấy rõ qua kết quả sản xuất kinh doanh trong tám tháng qua. Đa số những ngành đạt tốc độ tăng trưởng cao đều có mức tăng nhập khẩu tương ứng. Chẳng hạn công nghiệp ô tô, thép, xe gắn máy, chế biến gỗ, hàng điện tử và điện gia dụng… Ngược lại, một số ngành tuy xuất khẩu nhiều và tăng mạnh, nhưng tỷ lệ nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu trong giá sản phẩm quá cao (linh kiện điện tử nhập khẩu chiếm trên 95% giá trị sản phẩm xuất khẩu) nên tác động của nó tới giảm nhập siêu không đáng kể. Ngoài ra, nhập siêu nhiều còn có liên quan đến sự phát triển của đầu tư trong nước và nước ngoài. Tám tháng qua, Việt Nam nhập hơn 3,3 tỉ đô la Mỹ máy móc thiết bị. Bộ Công nghiệp cho rằng nhu cầu nhập máy móc thiết bị sẽ còn tăng mạnh trong những năm tới. Lý do chính là ngành cơ khí chế tạo trong nước chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ, thiết bị của các doanh nghiệp và nhược điểm này khó mà khắc phục trong thời gian ngắn. Trong khi đó, nhu cầu đầu tư để phát triển, nhất là nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sẽ tăng mạnh theo xu thế gia tăng đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam (Nguồn: bộ tài chính) Kết luận: Nhập siêu vẫn đang trong tình trạng có thể kiểm soát đươc nhưng đây là hiện trạng rất đáng lo ngại vì phần lớn không phải nhập để chuẩn bị cho cơ sở hạ tầng, bước chuẩn bị cho sự phát triển nền kinh tế sau khi gia nhập WTO. Do đó Bộ Thương mại cần phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan nhanh chóng hoàn tất các thủ tục để Việt Nam được công nhận là nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu, để giảm thiểu trường hợp xảy ra tranh chấp thương mại, bị kiện bán phá giá,…Đồng thời các doanh nghiệp phải biết tận dụng các cơ hội để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên trường quốc tế. 16
  17. CHƯƠNG 2: CÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM. CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU. Hiện tại các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam bao gồm 9 mặt hàng xuất khẩu chủ lực: dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, sản phẩm gỗ, điện tử và linh kiện máy tính, gạo, cao su, cà phê và 2 mặt hàng đứng đầu thế giới: tiêu-điều. Chúng ta sẽ đi sâu phân tích tình hình xuất khẩu của từng mặt hàng và các giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu 11 mặt hàng này I. Tiêu: 1) NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI VỀ CHẤT LƯỢNG HẠT TIÊU XUẤT KHẨU 17
  18. Một số chỉ tiêu đánh giá về chất lượng hạt tiêu: Độ ẩm: Quy định về độ ẩm theo tiêu chuẩn quốc tế là 12%. Nếu vượt quá 12% dẫn đến hiện tượng hạt tiêu bị nấm mốc, sai lệch về chỉ tiêu dung trọng. Tạp chất: Tạp chất là tất cả các chất ngoại lai không phải là hạt tiêu, ví dụ như dây nylon, đá sỏi, rác vụn… Nếu khâu chế biến, đóng gói không có máy sàng và hệ thống máy thổi sạch sẽ dẫn đến tiêu bị tạp chất tăng, làm giảm chất lượng lô hàng. Chỉ tiêu về an toàn vệ sinh: Bao gồm: Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật; nấm mốc Aflatoxin; các loại vi sinh vật gây bệnh (Coliform; E.Coli, Samonella…); mức độ nhiễm xạ. Tiêu chuẩn hạt tiêu xuất khẩu của Việt Nam và thế giới Theo quy định của IPC và Hiệp hội Hạt tiêu Việt Nam, hạt tiêu xuất khẩu cần phải đạt các chỉ tiêu trong Bảng 1.7. Tuy nhiên, mỗi nhà nhập khẩu đều có những quy định riêng của mình. Các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản thường đề ra các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm cao hơn các thị trường nhập khẩu khác. Theo quy định của Nhật Bản, thông thường, khi các lô hàng nông sản, thực phẩm về đến cửa khẩu thì Nhật chỉ kiểm tra đại diện 5%, nhưng khi bị phát hiện vi phạm thì không chỉ những lô hàng của doanh nghiệp đó mà có thể của các doanh nghiệp khác của nước đó có cùng loại hàng xuất khẩu sẽ bị kiểm tra 50% kéo dài trong một năm. Nếu tiếp tục vi phạm thì bị kiểm tra 100%. Trong thời gian bị kiểm tra 100%, nếu tiếp tục vi phạm thì toàn bộ mặt hàng đó có thể bị cấm nhập khẩu vào Nhật. Hàng nông sản nhập vào Hoa Kỳ phải chịu sự điều chỉnh bởi hệ thống luật chặt chẽ, thực thi bởi 5 cơ quan chính và một số uỷ ban điều hành nền ngoại thương của Hoa Kỳ gồm: Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (US FDA), Cục Bảo vệ môi trường (EPA), Bộ Nông nghiệp (US DA), Bộ Thương mại (US DOC), Bộ Nội vụ (US DI), Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ ( US ITC), Cục Hải quan (USCS), Uỷ ban An toàn sản phẩm tiêu dùng (CPSC)… Kể từ ngày 1/1/2006, quy định mới về vệ sinh thực phẩm của EU bắt đầu có hiệu lực nhằm mục đích bảo vệ người tiêu dùng khỏi những nguy cơ gây hại cho sức khoẻ. EU cũng đang tính đến việc phát triển một luật mới về vệ sinh thực phẩm để bảo vệ người tiêu dùng ở tất cả các công đoạn trong chuỗi thực phẩm ở mức cao nhằm giúp họ có được những sản phẩm an toàn, chất lượng cao. Điều này đồng nghĩa với hàng nhập khẩu vào EU sẽ ngày càng phải đáp ứng các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm và chất lượng cao hơn. Bảng 1.7 Tiêu chuẩn hạt tiêu xuất khẩu của Việt Nam và thế giới Tiêu đen Tiêu trắng CHỈ TIÊU Việt Nam Thế giới Việt Nam Thế giới Độ ẩm < 13% < 12-13%
  19. Tạp chất < 0,2 –1,0 %
  20. Xuất khẩu tiêu của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2006 “Nguồn: Hiệp hội Hạt tiêu Thế Giới (IPC), Jakarta” Chất lượng hạt tiêu của Việt Nam hàng năm được cải thiện rõ rệt, nhờ vậy giá cũng tăng lên. Việt Nam đang được đánh giá là nhà cung ứng hạt tiêu lý tưởng nhất thế giới với giá cả và chất lượng cạnh tranh. Năm 2006, Việt Nam đã xuất khẩu 106.000 tấn, chiếm gần 50% tổng lượng xuất khẩu toàn thế giới. Tỷ trọng tiêu trắng xuất khẩu đang ngày càng tăng. Việt Nam bắt đầu xuất khẩu tiêu trắng từ năm 2002 với khoảng 500 tấn, chỉ chiếm chưa đầy 1% tổng lượng xuất khẩu, nhưng mấy năm gần đây tỷ lệ này đã tăng lên khá nhanh. Năm 2004 lượng tiêu trắng xuất khẩu đạt 9.443 tấn, chiếm 10% tổng số xuất khẩu, năm 2005 đạt 9.946 tấn, chiếm 11 % và năm 2006 đạt 18.390 tấn, chiếm 17%/. Đây là mặt hàng có nhu cầu lớn, giá bán cao gấp đôi so với tiêu đen nhưng tỷ trọng xuất khẩu so với tiêu đen còn khá thấp (Xem bảng 2.1). Bảng 2.1 Xuất khẩu tiêu đen và tiêu trắng của Việt Nam (2002-2006) Chỉ 2002 2003 2004 2005 2006 tiêu Tiêu Tiêu Tiêu Tiêu Tiêu Tiêu Tiêu Tiêu Tiêu Tiêu đen trắng đen trắng đen trắng đen trắng đen trắng Số lượng 77.500 500 71.076 3.529 89.051 9.443 86.233 9.946 87.610 18.390 (Tấn) % 99,4 0,6 95 5 90 10 89 11 83 17 “Nguồn: Hiệp hội Hạt tiêu Việt Nam” Việt Nam cũng đang dồn hết sức để cải thiện chất lượng tiêu xuất khẩu và tăng sản lượng. Hiệp hội Hạt tiêu Việt Nam (VPA) luôn khuyến khích các thành viên của mình đáp ứng những yêu cầu của thị trường bằng việc đầu tư hơn nữa vào thiết bị chế biến phù hợp. 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2