intTypePromotion=1

Giọng điệu của cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Việt Nam 1965-1975

Chia sẻ: ViChoji2711 ViChoji2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

0
45
lượt xem
1
download

Giọng điệu của cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Việt Nam 1965-1975

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Thơ ca là tiếng nói khởi nguồn từ nhu cầu giãi bày của tâm hồn nghệ sĩ. Giọng điệu chính là một phương thức bộc lộ rõ nhất những trạng thái cảm xúc của cái tôi trữ tình. Với những biểu hiện đa dạng của cái tôi trữ tình, giọng điệu thơ trẻ Việt Nam 1965 - 1975 cũng mang nhiều sắc thái, cung bậc.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giọng điệu của cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Việt Nam 1965-1975

TAÏP CHÍ ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN Soá 8 - Thaùng 2/2012<br /> <br /> <br /> GIỌNG ĐIỆU CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH<br /> TRONG THƠ TRẺ VIỆT NAM 1965 - 1975<br /> <br /> BÙI BÍCH HẠNH(*)<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Thơ ca là tiếng nói khởi nguồn từ nhu cầu giãi bày của tâm hồn nghệ sĩ. Giọng điệu<br /> chính là một phương thức bộc lộ rõ nhất những trạng thái cảm xúc của cái tôi trữ tình. Với<br /> những biểu hiện đa dạng của cái tôi trữ tình, giọng điệu thơ trẻ Việt Nam 1965 - 1975<br /> cũng mang nhiều sắc thái, cung bậc. Đội ngũ sáng tác trẻ đã cùng hoà giọng, tạo nên nền<br /> thơ mang âm hưởng của một thời đại hào hùng. Khát vọng giải đáp những vấn đề nóng<br /> bỏng của hiện thực chiến tranh, khám phá bản chất cuộc sống đã tác động đến giọng điệu<br /> chung của cả nền thơ bấy giờ. Thế hệ nhà thơ trẻ có những bức chân dung tự hoạ với một<br /> sắc giọng mang tầm vóc thời đại mới, tạo nên bản sắc sáng tạo riêng của thơ trẻ Việt Nam<br /> 1965 - 1975 trong nền thơ hiện đại.<br /> <br /> ABSTRACT<br /> Poetry is the voice of artists, which is created from the needs of expressing their<br /> feelings. Tone is the mode which most clearly shows the emotional status of the lyrical ego.<br /> With the multiform expressions of the lyrical ego, the tone of the Vietnamese youth poetry<br /> of 1965 – 1975 carries many aspects and tones. Expressing the same voice, the young<br /> poets at that time together created the poetical background of a magnanimous age.<br /> Aspiration for answering the pressing problems of war reality and the discovery of the<br /> nature of life affected the common tone of the poetry at that time. The generation of young<br /> poets had their self-portraits with a tone of the new age’s stature, which created the<br /> creativity of the Vietnamese youth poetry of 1965 – 1975 in modern poetry.<br /> <br /> (*)<br /> Với tâm thế cả thế hệ dàn hàng gánh thúc bách của thời đại và cũng chính từ nhu<br /> đất nước trên vai, một lớp nhà thơ đã in dấu cầu tự thân bức bách. Với đội ngũ nhà thơ<br /> đậm nét vào hành trình thơ của thế hệ đi trẻ, còn giao hưởng nào hơn giao hưởng<br /> trước còn dang dở. Họ dấn thân vào cuộc Trường Sơn (Phạm Tiến Duật). Họ hướng<br /> đời sáng tác với nguyện ước làm thơ ghi lấy vọng về những âm thanh thật, những mảng<br /> cuộc đời mình (Hữu Thỉnh). Đó là lớp nhà màu thật, thậm chí những mảng màu tang<br /> thơ đối mặt với chiến tranh và nếm trải bi tóc của chiến tranh. Chính thơ trẻ 1965 -<br /> kịch chiến tranh - đội ngũ các nhà thơ trẻ. 1975 đã hoàn tất diện mạo thơ cách mạng<br /> Họ đến với thơ bằng trái tim tự nguyện của Việt Nam 1945 - 1975, với giọng điệu hoà<br /> lớp tuổi hai mươi, ba mươi xanh màu áo phối vào bản hùng ca của cả nền thơ mà<br /> lính (Thanh Thảo). Trưởng thành từ sự vẫn giữ được những sắc giọng riêng tây<br /> giằng xé mất mát trong chiến tranh, các cây không trộn lẫn. Các nhà thơ trẻ đã tiếp bước<br /> bút trẻ mang vào thơ chất liệu bộn bề của chặng đường thơ cách mạng lớp trước, với<br /> hiện thực. Họ đến với thơ ca như một sự những bản sắc thơ giàu cá tính sáng tạo và<br /> những hồn thơ làm xáo động một thời. Nền<br /> (*)<br /> ThS, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng<br /> BÙI BÍCH HẠNH<br /> <br /> <br /> thơ 1965 – 1975 là nơi quy tụ đông đảo đội nhau” [3,74-75].<br /> ngũ sáng tác trẻ sung sức, từ những vùng 1. GIỌNG HÀO SẢNG, NGỢI CA<br /> miền khác nhau của Tổ quốc. Nếu thơ trẻ Là một yếu tố của thi pháp, giọng điệu<br /> miền Bắc đã khắc dấu sắc cạnh vào nền thơ vừa có khả năng khu biệt sự độc đáo của<br /> hiện đại, thơ vùng giải phóng cũng tạo từng phong cách vừa thể hiện tư tưởng<br /> được nhiều phong cách riêng thì thơ thành nghệ sĩ. Giọng điệu chịu sự chi phối của<br /> thị miền Nam cũng tạo dựng được những điểm nhìn nghệ thuật. Bởi điểm nhìn - cái<br /> cá tính sáng tạo đáng ghi nhận. Tất cả sự nhìn nghệ thuật “thể hiện chiều sâu tư<br /> góp mặt đó đã mang đến cho thơ trẻ 1965 - tưởng và sự nhạy bén của nghệ sĩ”. Vì thế,<br /> 1975 sự đa dạng của diện mạo cái tôi trữ thơ trẻ thể hiện sự phong phú của giọng<br /> tình, vốn là một trong những phương diện điệu ứng với sự đa dạng điểm nhìn của chủ<br /> quan trọng hình thành tiếng nói trữ tình của thể trữ tình. Khi cái tôi hướng đến cái nhìn<br /> thơ ca. ngợi ca, tự hào trước chân dung đất nước<br /> Giọng điệu trong văn học thể hiện qua và con người, giọng thơ hào sảng mang<br /> lời văn nghệ thuật thấm đẫm cảm xúc, thái đậm chất sử thi. Đó là giọng thơ ngập tràn<br /> độ của chủ thể trữ tình trước hiện thực cảm xúc của một tâm hồn phơi phới đang<br /> cuộc sống. “Không thể có giọng điệu nếu mở lòng bắt nhịp thời đại. Với cái tôi<br /> không có những rung động sâu sắc, những hướng nhìn về tầm vóc đáng tự hào của đất<br /> nỗi đau, những xót xa trước thân phận con nước, giọng ngợi ca, hào sảng trở thành<br /> người” [2,34]. Là phạm trù thẩm mĩ của “chủ âm”.<br /> văn học, giọng điệu trong thơ trữ tình thấm Thơ ca kháng chiến vốn đã mang sắc<br /> đẫm tính chủ quan và mang đậm cá tính giọng trân trọng, tự hào lịch sử oanh liệt.<br /> sáng tạo của người nghệ sĩ. Chính vì vậy, Khi nhìn vào những đau xót trong quá khứ,<br /> khám phá giọng điệu trữ tình là cách đi sâu thấm hiểu cái giá của máu và nước mắt cha<br /> vào thế giới cái tôi trữ tình trong thơ trẻ ông, nghệ sĩ đã thể hiện sắc giọng hàm ơn.<br /> 1965 – 1975. Giọng điệu chính là “bản tự Đến thế hệ thơ trẻ, Nguyễn Khoa Điềm<br /> thuật của tâm trạng”. Hữu Thỉnh từng dõng cũng cất dựng một hình tượng đất nước<br /> dạc: Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời qua lăng kính ngưỡng vọng. Giọng thơ<br /> mình. Bằng Việt cũng hùng hồn cùng tuyên không giấu nổi niềm tha thiết, tự hào về<br /> ngôn: Cả thế hệ dàn hàng gánh đất nước hình tượng đất nước có từ trong truyền<br /> trên vai. Lâm Thị Mỹ Dạ thể hiện chất thống: Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi<br /> giọng vừa tự hào vừa đau xót trong một đâu ta cũng thấy/ Những cuộc đời đã hoá<br /> tiếng lòng đồng điệu. Xuân Quỳnh lại ám núi sông ta… (Đất Nước – Trích trường ca<br /> ảnh cùng những đam mê, tận tụy trong “Mặt đường khát vọng”). Nhà thơ mang<br /> từng sắc giọng yêu thương. Trần Quang chất giọng tin yêu, trân trọng, hân hoan khi<br /> Long da diết trong từng trăn trở. Ngô Kha nghĩ về cội nguồn của dân tộc: Ôi những<br /> lại mang sắc giọng ám ảnh va siết về dòng sông bắt nước từ đâu/ Mà khi về Đất<br /> những bi kịch chiến tranh… “Từ cảm hứng Nước mình thì bắt lên câu hát/ Người đến<br /> chủ đạo đến giọng điệu thi ca, nhà thơ luôn hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác/ Gợi<br /> cần phải hiện diện. Chính cái khác nhau trăm màu trên trăm dáng sông xuôi. Lưu<br /> của những cái tôi trữ tình góp phần quyết Quang Vũ miên man trong miền cảm xúc<br /> định tạo nên những tiếng nói thơ ca khác của người lính vừa vào quân ngũ, với niềm<br /> GIỌNG ĐIỆU CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ TRẺ VIỆT NAM 1965 - 1975<br /> <br /> <br /> tự hào rạng rỡ. Tác giả đưa thơ vào vùng mưa… (Tiểu đội bộ binh trên chốt mùa<br /> hân hoan, rạo rực. Giọng điệu thơ căng ra mưa - Nguyễn Đức Mậu). Đối mặt với nỗi<br /> trong niềm vui lí tưởng cách mạng và lí đau dân tộc bị đọa đày lăng nhục, các nhà<br /> tưởng cuộc đời: Con đường quê hương, thơ trẻ không đi ra khỏi mạch cảm hứng<br /> con đường yêu thương/ Nối với vạn nẻo chung – rửa sạch nỗi đau hận thù. Giọng<br /> đường đất nước/ Náo nức ngày đêm xe thơ như uất nghẹn, có lúc như vỡ ra trong<br /> xuôi ngược/ Đi ra tiền tuyến xa gần âm hưởng căm hờn. Trong cái tôi dấn thân<br /> (Những con đường). Với Phạm Ngọc Cảnh, và quả quyết hành động là sắc giọng của uy<br /> giọng điệu hừng hực khí thế của tuổi trẻ gửi quyền, thách thức: Nào thép gai, ta xé thép<br /> vào cả tình yêu dành cho đất Mẹ. Bao trùm gai!/ Nào xe Mĩ, ta đốt bùng xe Mĩ!/ Hồ sơ<br /> cả tập thơ “Ngọn lửa dòng sông” là sắc quân sự học đường thì ta quăng vào lửa/<br /> giọng của niềm hứng khởi, tự hào. Gần như Ảnh Thiệu, Ních - xơn ta vạch mặt, bôi vôi!<br /> tác phẩm nào cũng được phả vào giọng hào (Xuống đường – trích trường ca “Mặt<br /> sảng của thời đại chống Mĩ. Nghĩ về quá đường khát vọng”).<br /> khứ của cha ông, giọng thơ rộn ràng trong Khi thể hiện lòng căm phẫn tột cùng<br /> điệu hát; nhịp điệu câu thơ như dồn dập, thể đối với kẻ thù, thơ trẻ dấy lên giọng điệu<br /> hiện cảm xúc không thể kiềm nén trước của những tình cảm hân hoan mãnh liệt về<br /> tinh thần lạc quan đẹp đẽ của truyền thống một tương lai rạng ngời của dân tộc. Theo<br /> cha ông: Nghìn đời cha ông/ Lưng bầm vai quan niệm của đội ngũ thơ trẻ, đặc biệt là<br /> rát/ Một lưỡi cuốc cùn/ Một dây khố nát/ các cây bút trong lòng đô thị miền Nam,<br /> Đạp lên gai rừng/ Vừa đi vừa hát/ Máu thơ ca là tiếng hát say sưa với niềm tự hào,<br /> trộn đất bùn/ Gieo từng nắm hạt (Bài ca kiêu hãnh. Càng đau đớn, hi sinh, càng bội<br /> pháo thủ). phần căm thù thì sắc giọng ấy càng thường<br /> Giọng điệu trữ tình là biểu hiện rõ nét trực trong những trái tim rát bỏng căm thù:<br /> nhất thế giới tâm hồn của người sáng tạo. Định mệnh con người không ở trong tay<br /> Trong cái nhìn sử thi, không chỉ có nguồn thượng đế/ Tiền nhân dạy ta làm chủ đời<br /> cảm hứng ca ngợi, cổ vũ mà xuất phát từ mình/ Trong gió heo may mùa thu thế kỉ/<br /> tinh thần dân tộc, từ niềm kiêu hãnh về quê Có ai ngờ dân tộc đã vùng lên? (Mùa thu,<br /> hương đất nước…, thơ trẻ 1965 – 1975 còn trên đường về - Đông Trình).<br /> ngập tràn chất giọng sục sôi căm thù: Trận 2. GIỌNG NỒNG ẤM, TIN YÊU<br /> gió lốc xoáy vào lòng khẩu đội/ Nín lặng, Chính cái tôi trữ tình ắp đầy khát vọng<br /> cúi đầu, nghiến chặt hàm răng/ Một vòng đã tạo nên sắc giọng tin yêu đằm thắm<br /> người – quấn một vòng tang! (Viên đạn trong thơ trẻ. Dẫu ngợi ca mang hơi hướng<br /> căm thù – Phạm Ngọc Cảnh). Giọng căm của một thời đại cả đất nước lên đường ra<br /> hờn khi đã lên đến cao trào, người đọc bắt trận, song người nghệ sĩ còn chuyển mạch<br /> gặp trong thơ trẻ sắc giọng của sự quả cảm hứng hào sảng của một thời đại âm<br /> quyết. Tiếng nói đầy khí thế khắc cả vào vang vào những niềm tin giản dị - đằm<br /> những cung bậc thúc giục, vang dội của thắm mà cũng rất đỗi mãnh liệt. Đây chính<br /> tinh thần thế hệ: Mưa gầm lên tưởng cuốn là sắc giọng tạo dựng được từ điểm nhìn sử<br /> cả cây rừng/ Mây xám, mưa tuôn, kẻ thù: thi. Khi những cảm hứng hô hào, cổ vũ,<br /> mưa lửa/ Trăm trận đánh đồi xanh thành thậm chí lòng căm giận đã lên đến đỉnh<br /> đồi đỏ/ Thành màu cờ cháy rực suốt mùa điểm, con người thơ chạm vào những<br /> BÙI BÍCH HẠNH<br /> <br /> <br /> không gian của yêu tin, hứa hẹn. Giọng thơ Ngay cả tâm tưởng của con người khi<br /> vì thế chuyển sang một gam khác, thể hiện hướng về khoảng kí ức ngày xưa cũng ấm<br /> cái tôi đầy ắp niềm tin vào sự đổi đời của áp trong cái nhìn tin yêu. Giọng nồng ấm<br /> dân tộc và sự thay đổi thân phận con yêu thương, dịu dàng tình mẫu tử trong thế<br /> người: Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa/ giới hồi tưởng của Hoàng Nhuận Cầm ắp<br /> Hoa của đất, người trồng cây dựng cửa/ đầy những điều yên lành, xao động tâm tư.<br /> Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa/ Thì tin Tứ thơ mở ra một câu chuyện đẹp về hình<br /> yêu ngay thẳng đón ta vào/ Ta nghẹn ngào, tượng người mẹ có tình yêu với cái chấm<br /> Đất Nước Việt Nam ơi. (Đất Nước – nôi hiền thật bé, ở đó, giọng dịu ngọt là<br /> Nguyễn Khoa Điềm). Thế giới nghệ thuật gam chủ đạo:<br /> thơ Nguyễn Đức Mậu cũng bàng bạc giọng Cái chao nôi đủ thành con sóng bể<br /> yêu tin, lời thơ như ngân nga trong nguồn Mẹ đã nghiêng nôi - chấm vào giữa<br /> cảm xúc dâng trào về hình ảnh ngày vui trời xanh<br /> chiến thắng, một ngày mai đất nước là Chấm theo cả những khát khao đẹp nhất<br /> những bài ca: Cây phong lan giữa vùng Con ngước nhìn lên trời cao xanh<br /> bom đạn, mơ ngày mai đôi bờ mở hội, ngút mắt<br /> những khuôn mặt dáng người hồ hởi, cây Mẹ hiện ra như mây trời trong khúc<br /> đàn vang vọng mãi âm thanh… hát đầu tiên<br /> Trong tư duy thơ trẻ, điểm đến cuối (Má và mẹ)<br /> cùng của những tình cảm quê hương, niềm Từ cảm hứng lạc quan, các cây bút còn<br /> hướng vọng lớn lao nhất của con người tạo nên một cung bậc giọng điệu khác, làm<br /> thời chiến là khát vọng đoàn tụ, viên thành. nên nét duyên cho thơ trẻ giai đoạn này.<br /> Vì thế, trải trên khắp các tác phẩm thơ ca là Cái tôi trữ tình trong cái nhìn trẻ trung,<br /> niềm tin. Trước sự tan rã, thảm bại của kẻ tươi tắn đã tạo nên giọng thơ tinh nghịch,<br /> thù, giọng điệu yêu tin càng có chỗ để neo dí dỏm. Nguyễn Duy khám phá cái mái<br /> đậu, chắp cánh cho hồn thi sĩ thăng hoa, về tăng của mình là một bầu trời vuông. Với<br /> với bến đỗ của quan niệm nghệ thuật về một hồn thơ xao động, Hoàng Nhuận Cầm<br /> cuộc sống, chiến tranh – không thế lực nào, cũng lắng lòng mình bắt gặp âm thanh của<br /> không điều gì có thể xóa đi niềm tin của tiếng chim; thật lạ, thanh âm trở nên có<br /> con người. Thơ trẻ bấy giờ mang sắc giọng dáng, có hình và có cả cái xôn xao của tâm<br /> của lí tưởng sống vốn ăn sâu vào tâm thức hồn người lính: Mũ tai bèo khẽ nghiêng<br /> của con người đã phải trả giá quá đắt cho nghiêng/ Nghe lăn lăn những tiếng chim<br /> những tháng ngày tang tóc: Đạn bom giặc xuống hầm. Nguyễn Đức Mậu lại có cả<br /> hãy trả lên đầu giặc/ Người Việt Nam hãy ngăn yêu thương cho mảnh trời riêng;<br /> về với Việt Nam/ Đây bát cơm mẹ già đang giọng thơ thoảng niềm vui ngạc nhiên<br /> đợi chờ con/ Đây đồng ruộng mênh mông trước những điều giản dị trong chiến<br /> dang vòng tay đón/ Êm ấm làm sao, nghĩa trường: Người nằm nghiêng súng cũng nằm<br /> đồng bào rộng lớn/ Tha thiết làm sao tiếng nghiêng/ Người ngồi ngủ, súng ôm ghì<br /> gọi quê hương/ Khoác súng lên vai, kèn trước mặt (Đơn vị ngủ rừng theo đội hình<br /> trỗi lên đường/ Một đời mới khai sinh đánh giặc). Chính sự gắn bó cùng đời sống<br /> mùa xuân mới (Bài ca khởi nghĩa - Trần chiến trận với cái nhìn của người trong<br /> Quang Long). cuộc mà chất giọng lạc quan pha chút dí<br /> GIỌNG ĐIỆU CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ TRẺ VIỆT NAM 1965 - 1975<br /> <br /> <br /> dỏm nhẹ nhàng như thế đã tự nhiên đi vào chiến/ Thấy trời xanh xao xuyến ở trên<br /> thơ trẻ. đầu/ Ta vẫn thầm hái hoa tặng nhau (Bài<br /> Không chỉ có niềm tin vào tương lai thơ tình yêu - Dương Hương Ly).<br /> của cuộc chiến đấu, ngày mai của dân tộc Hầu hết vườn thơ tình yêu giai đoạn<br /> hay khoảng kí ức của đời người mới là 1965 – 1975 ngào ngạt sắc hương của lời<br /> mạch cảm hứng chủ đạo tạo nên sắc giọng tin yêu đằm thắm mà cũng không kém<br /> yêu tin, khát vọng trong thơ trẻ Việt Nam phần da diết, không chỉ hứa hẹn mà còn là<br /> 1965 – 1975 mà nét trong trẻo, đằm thắm trao gửi yêu tin. Hướng về tình cảm lớn lao<br /> trong những mối tình thời chống Mĩ cũng của dân tộc, những con người yêu nhau<br /> nhen lên trong thế giới nghệ thuật thơ trẻ trong thời khốc liệt vẫn gieo vào nhau niềm<br /> những âm sắc của giọng điệu nồng ấm, tin giản dị đến nao lòng. Ấp ủ trong những<br /> khao khát. Tình yêu trong giai đoạn này trái tim yêu đằm thắm vẫn là khát vọng và<br /> cũng thanh thoát, dịu nhẹ như không gian niềm tin cháy bỏng về một ngày mai gặp<br /> chiều, trong giọng thơ đằm thắm: Chiều mặt. Dẫu muôn trùng cách trở song sự chờ<br /> xuống cánh chim bay/ Như nụ cười thoáng đợi của họ vẫn là điểm đến của tình yêu:<br /> gặp/ Như vầng trăng mới mọc/ Như mối Cơn dông là đôi mắt em cười/ Chiều lạ<br /> tình mới yêu (Chiều - Lưu Quang Vũ). Hay quá, chiều ơi lay động mãi/ Giá lại phải<br /> có khi chất giọng trong trẻo, da diết của băng qua trăm ngả đường phá hoại/ Thì<br /> Lưu Quang Vũ lại bắt nhịp cho tác giả thổ hẳn chỗ cuối cùng, anh gặp vẫn là em<br /> lộ những tâm sự kín đáo: Giấc mơ lạ về (Những đoạn thơ tình viết giữa hai cuộc<br /> theo cơn gió lạ/ Cơn gió quen thầm thĩ giấc chiến tranh phá hoại - Bằng Việt).<br /> mơ quen/ Cầm tay nhau run rẩy cả trời Với cái tôi trữ tình đa đoan, lật trở<br /> đêm/ Trong mắt ướt một vì sao thoáng hiện nhiều nỗi niềm riêng tư thì giọng điệu bi<br /> (Mùa gió). Chất giọng trong vườn thơ tình quan, giằng xé có khi chi phối hồn thơ<br /> yêu của thời cả nước lên đường nhìn chung song không phải là nỗi buồn ám ảnh một<br /> ấm áp, nồng nàn. Nỗi nhớ cũng phả nét đời. Đó chỉ là chặng đổ vỡ lòng tin tạm<br /> thanh khiết, giản dị đến yên lòng: Nhớ em thời để về sau, lạc quan lại bừng sáng trong<br /> khi đang sang sông/ Nghe em là sóng bập giọng điệu đậm chất suy tư. Khi đời tư đã<br /> bùng đưa chân (Nhớ - Nguyễn Duy). lành lặn, giọng xốn xang hạnh phúc ngỡ òa<br /> Dù trong hoàn cảnh chiến tranh, chia lên nức nở: Bỗng một ngày em tới em ơi/<br /> cắt có khi là vĩnh viễn song hầu hết cái tôi Anh gặp biển khơi gặp nhà ga bóng mát/<br /> trữ tình trong thơ trẻ chống Mĩ sống cùng Anh thấy chân trời tuổi thơ bát ngát/ Em<br /> thế giới tình yêu với những cung bậc trong dạy anh nhìn cái thật của đời/ Hiểu bao<br /> trẻo, đằm thắm, dịu nhẹ. Giọng thơ tình vì điều lòng anh vẫn non tươi/ Chẳng còn là<br /> thế là hoà âm của những âm điệu dịu dàng, đám mây rách rưới/ Từ nay có nhau từ nay<br /> thanh thoát. Với cái nhìn về tình yêu thuở không còn bóng tối (Những ngày chưa có<br /> đầu trong sáng, lãng mạn, Dương Hương em… - Lưu Quang Vũ). Khi hạnh phúc tái<br /> Ly – nhà thơ đại diện cho đội ngũ trên tiền sinh, giọng thơ ấm áp trong lời tâm niệm<br /> tuyến lớn miền Nam – đã phối giọng trong hàm ơn cuộc sống: Chúng ta đi bên nhau<br /> trẻo, khỏe khoắn vào những lời tình tứ: trên mặt đất/ Dẫu chỉ riêng điều đó là có<br /> Một tiếng chim ngân/ Một làn gió biển/ thật/ Đủ cho anh mãi mãi biết ơn đời (Em -<br /> Một sớm mai xuân trước cửa hầm dã Lưu Quang Vũ).<br /> BÙI BÍCH HẠNH<br /> <br /> <br /> 3. GIỌNG NGHIỆM SUY, CHẤT VẤN trời đổ mưa/ tôi thấy người chị/ tay cầm<br /> Mang tâm thế tự nghiệm, cái tôi trữ cây nhang/ với vầng mây cô đơn trải làm<br /> tình trong thơ trẻ 1965 – 1975 luôn dằn vặt khăn chế/ tôi thấy người lính trẻ/ chĩa súng<br /> và không nguôi đi tìm lời giải đáp về nhiều dài trên mặt nước/ với giòng sông/ tôi thấy<br /> vấn đề bức thiết của đời sống chiến tranh, đứa bé mồ côi/ ngước nhìn ảnh cha/ với<br /> nhất là vấn đề thân phận dân tộc, số phận tương lai trên chiến địa (Mùa đông chiến<br /> con người, cái còn lại đằng sau những vinh tranh ở Huế - Ngô Kha). Những nghiệm<br /> quang, mất – còn… Chính vì thế, bên cạnh suy về bức tranh xót đau của cuộc sống đạn<br /> những sắc điệu hoan ca, lạc quan, đẫm yêu lửa có khi còn phối vào trong thơ trẻ âm<br /> tin, thơ trẻ còn dành một khoảng ngẫm suy điệu của niềm bi quan, tuyệt vọng. Trở đi<br /> trong sắc giọng suy tưởng, chất vấn. Ở đó, trở lại trong hồn thơ là nỗi ám ảnh về cái<br /> cái tôi trữ tình trải nghiệm cùng những điều chết, về sự ra đi, về những âm thanh tức<br /> lớn lao gắn chặt với sinh mệnh dân tộc, đến tưởi của con người. Đây là giọng điệu thể<br /> những điều tưởng rất đời thường. hiện rất rõ cái tôi nếm trải đến tận cùng<br /> Chiến tranh trong nhãn quan của thế hệ hiện thực đổ vỡ của chiến tranh. Giọng thơ<br /> thơ trẻ đâu chỉ là đường ra trận mùa này chùng xuống nhưng cũng thao thiết với<br /> đẹp lắm (Phạm Tiến Duật), không chỉ là niềm đau thấm thía. Giọng bi quan trải trên<br /> chiến công thành điệp khúc suốt mùa thu hàng loạt hình tượng thơ đầy ám gợi: Bây<br /> (Hoàng Nhuận Cầm) mà đó còn là tổn thất, giờ con sống đây/ Bên những người đã<br /> thương tật, di chứng. Dù trong dòng chung chết/ Bên những người đang chết/ Cuộc<br /> của thơ chống Mĩ, những ngẫm suy như thế sống mù lòa giữa mặt trời đen/ con mang<br /> không phải là tư tưởng chủ đạo song đó là máng thấy mình còn sống/ Khi ngồi âm<br /> sắc diện rất thật của cái tôi trữ tình. Trong thầm đếm nhịp trái tim/ Và con đếm nhịp<br /> tư duy thơ trẻ miền Nam, hằn sâu vào cuộc trái tim/ Trong cơn hấp hối (Thưa mẹ, trái<br /> sống là nỗi buồn chiến tranh. Cảnh tượng tim - Trần Quang Long).<br /> chới với của con người bị bỏ lại phía sau Thơ trẻ dường như có một sự chuyển<br /> những trận càn đã trở thành niềm đau dai đổi chất giọng trong trẻo hồn hậu sang bè<br /> dẳng, đâu đâu cũng là dấu vết của thương trầm của giọng buồn. Dấu ấn đời tư có khi<br /> tổn chiến tranh. Giọng điệu hẫng hụt gieo hằn vào thơ viết về dân tộc sự xót xa, hoài<br /> vào những dòng thơ tự do với biên độ câu nghi… trong tuyệt vọng. Đó là giọng điệu<br /> thơ dài ngắn đan xen càng tạo nên chất chất vấn trong niềm thổn thức của cái tôi<br /> trầm buồn, day trở: giữa lòng quê/ cuộc trữ tình: Đến bao giờ Người mới được nghỉ<br /> chiến bỏ quên người/ xe lăn đi/ đất mở ngơi/ Trong nắng ấm và tiếng cười trẻ<br /> rộng cơn đau/ đường gai chạy qua đồng nhỏ?/ Đến bao giờ đến bao giờ nữa/ Việt<br /> máu chảy (Hành trình - Ngô Kha). Nam ơi? (Việt Nam ơi - Lưu Quang Vũ).<br /> Sự thật của cuộc chiến là những vành Trong hoàn cảnh chống chọi với những<br /> khăn tang, những “vòng trắng”. Trong lòng cơn sốt rừng già, không ít người lính trong<br /> đô thị miền Nam, với cái tôi thơ trẻ, sự thật thời chống Mĩ đã ra đi và bỏ lại đằng sau<br /> nghiệt ngã về chiến tranh là những gì họ những lời đính hẹn dở dang, những mỏi<br /> phải chứng kiến hàng ngày, là hình ảnh tội mòn trông đợi. Cái tôi ngẫm ngợi về sự ra<br /> nghiệp của những con người hoảng hốt đi đột ngột của người lính trẻ, giọng thơ<br /> trong nỗi đau vĩnh viễn mất người thân: khi buồn thương, tiếc hẫng: Gió đi giật cục<br /> GIỌNG ĐIỆU CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ TRẺ VIỆT NAM 1965 - 1975<br /> <br /> <br /> bàng hoàng/ Mây đỉnh núi chít khăn tang kiếm suốt đời không tới đích (Di chúc tình<br /> ngang trời/ Bao người yêu đã chết rồi/ Còn yêu – Lưu Quang Vũ). Khi cuộc sống là<br /> đau chưa nói được lời yêu nhau (Người những ngày hứng chịu cái nghèo cay cực,<br /> đang yêu - Nguyễn Duy). khi tiếng máy bay uy hiếp lưng trời, con<br /> Nỗi đau mất mát không chỉ là câu người rơi vào cảm giác tủi phận trong tình<br /> chuyện bi kịch chiến tranh mà đó còn là yêu. Nhà thơ không giấu nổi giọng cay<br /> những thương tổn tinh thần, vì thế, có thể đắng xót lòng khi choáng hết tâm can là ám<br /> thấy suy tư, trải nghiệm là chất giọng thể ảnh áo cơm:<br /> hiện chiều sâu tư tưởng của đội ngũ thơ trẻ. Có tình yêu nào không cần cơm áo?<br /> Thường xuất hiện trong thơ những câu hỏi Em ơi…<br /> tu từ vừa như chất vấn vừa là tự vấn. Nhất Em đã thấy sáng nay từng mảng cuộc đời<br /> là ở mảng đời riêng tư, giọng thơ đầy dằn Buộc vào nhau bằng những manh áo<br /> vặt qua câu hỏi mang màu sắc hoài nghi, mỏng<br /> trăn trở: Em nơi đâu? bao năm tháng qua Những bát cơm không đủ níu lòng<br /> rồi/ Người ta bảo rằng em đã chết/ Người Đi giữa trời<br /> ta bảo quên đi đừng phí sức/ Hãy chấp Rét mướt<br /> nhận những vách tường có sẵn/ Em làm gì (Đi giữa rừng súng máy - Trần Phá Nhạc)<br /> có thật mà mong (Thơ tình viết về một Sự thể hiện cái tôi trăn trở về số phận<br /> người đàn bà không có tên III - Lưu Quang con người trong chiến tranh đã hình thành<br /> Vũ). Có lúc đối mặt với không gian tròng trong thơ trẻ chất đằm sâu, trầm buồn; đậm<br /> trành, hiểm trở, cái tôi như rơi vào vô tâm sự cá nhân mà giàu sức ám ảnh; nồng<br /> vọng; giọng thơ buồn chao chát: Đây cửa nàn mà rất thâm trầm trên nền cảm xúc và<br /> sông, nơi anh ra biển/ Nơi anh về. Mong suy tưởng.<br /> anh được bình yên/ Được bình yên trở lại 4. GIỌNG ÂU LO, DỰ CẢM<br /> cùng em/ Nhưng anh chỉ trở về trong Đến với thế giới riêng tư trong thơ trẻ<br /> những ngày bão tố (Một vùng cửa sông - 1965 - 1975, người đọc không khỏi thảng<br /> Xuân Quỳnh). Khi nỗi cô đơn và hụt hẫng thốt bởi vẫn phải đối diện với những góc<br /> đã tột cùng thì con người mang vào thơ khuất bi kịch. Như đã khẳng định, đây<br /> chất giọng tự trào. Nhưng chủ thể càng tỏ hoàn toàn không phải là trạng thái tinh thần<br /> ra bất cần, giọng thơ lại càng cay đắng: chủ đạo của cái tôi thơ trẻ giai đoạn này,<br /> Anh như thằng bờm/ Chẳng thiết trâu bò song chính sự xuất hiện của cái tôi chông<br /> chẳng thiết lim/ Chỉ nhận nắm xôi cười chênh trong cảm giác tất cả như sắp không<br /> ngặt nghẽo (Ngã tư tháng chạp - Lưu còn, sẽ mất trong thơ trẻ đã hình thành<br /> Quang Vũ). Trong suốt hành trình rong thanh âm dự cảm xót đau.<br /> ruổi giữa nhân gian, người nghệ sĩ vẫn Trong các nhà thơ nữ, phải nói Xuân<br /> khắc khoải với những ước vọng không Quỳnh đã đi đến cùng những tiên cảm về<br /> thỏa. Cái tôi đành gửi câu hỏi còn bỏ ngỏ hạnh phúc trần thế. Ngay trong chặng sống<br /> về bản ngã đích thực của con người vào “di hạnh phúc, bình yên nhất, thơ chị cũng<br /> chúc tình yêu”. Giọng thơ rơi vào nỗi rung lên những sắc giọng phấp phỏng,<br /> mong mỏi kiếm tìm, đầy chất nghiệm sinh: chênh chao: Mùa thu nay sao bão mưa<br /> Lẽ sống và lẽ chết của anh/ Ta đi mãi về nhiều/ Những cửa sổ con tàu chẳng đóng/<br /> nhau tìm mãi bản thân mình/ Cuộc tìm Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm/ Em<br /> BÙI BÍCH HẠNH<br /> <br /> <br /> lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh (Tự hát). điều quá mỏng manh trong hành trình con<br /> Cái tôi rơi vào trạng thái trơ trọi giữa người kiếm tìm hạnh phúc. Hay có thể<br /> không gian đầy bão gió, không gian hoang khẳng định giọng điệu dự cảm, tiên liệu<br /> lạnh. Giọng thơ chính là tiếng hớt hải của chính là âm bản của thăng trầm trong cuộc<br /> chủ thể đi tìm mình trong cõi lòng sâu hút đời người nghệ sĩ đa đoan này. Đến với thế<br /> của tình yêu. Bởi mang trái tim quá sức vì giới nghệ thuật thơ Lưu Quang Vũ, người<br /> chăm chút yêu thương, bởi khát khao thâu đọc hẳn đến được vùng cảm xúc không<br /> hết cõi nhớ cõi yêu về với thiên chức của bình lặng với giọng thảng thốt trong dự<br /> người phụ nữ và cũng bởi mang trái tim đa cảm chia xa, giọng hối hả trước bao dự<br /> đoan, thơ Xuân Quỳnh ăm ắp thanh âm dự định còn dang dở: Riêng lòng anh anh<br /> cảm cách ngăn. Nhiều khi, người thơ không quên đâu/ Chỉ sợ trời mưa đổi mùa<br /> không thể đặt hết niềm tin vào người mình theo gió/ Cây lá với người kia thay đổi cả/<br /> yêu. Trong tôi là giọng đan cài mâu thuẫn. Em không còn màu mắt xưa (Anh chỉ sợ rồi<br /> Nhớ mong rồi chất vấn, tự nhủ rồi lại tự trời sẽ mưa).<br /> vấn: Dẫu nhớ em xa quá không gian/ Chớ Trong thế giới nghệ thuật thơ trẻ, thiên<br /> thương em một mình vất vả/ Em ở đây bạn nhiên là đối tượng đồng hành với nhiều ẩn<br /> bè đông đủ cả/ Anh đi con đường này ức của con người và đó cũng là khoảng<br /> không anh? (Viết trên đường 20). Ngẫm không gian thành hình những dự cảm của<br /> nghiệm trước cái chênh vênh của tình yêu người nghệ sĩ. Hồn thơ Nguyễn Duy cũng<br /> diệu vợi, giọng thơ Xuân Quỳnh thao thiết từng khắc khoải trước cái phẳng lặng của<br /> với nghìn nỗi lo âu: Anh, con đường xa ngày mai, giọng thơ thảng thốt trong nỗi<br /> ngái/ Anh, bức vẽ không màu/ Anh, nghìn niềm khát gió: Trái đất sẽ ra sao khi một<br /> nỗi lo âu/ Anh, dòng thơ nổi gió…/ Mà em ngày nào kia không còn gió nữa (Gửi từ<br /> người đời thường/ Biết là anh có ở (Anh). vùng gió Phan Rang). Sống trong hiện thực<br /> Có lẽ bản chất của tình yêu là khao máu và súng luôn là nỗi đe doạ kinh hoàng,<br /> khát vươn đến sự hoàn thiện, vì thế trong những tưởng các nhà thơ trẻ trong lòng đô<br /> những câu chuyện tình tứ giản dị, sáng thị miền Nam chỉ có thể trải mình trong cái<br /> trong, người phụ nữ vẫn không giấu được tôi căm hận, oán thán; những tưởng xâm<br /> cảm thức e ngại, thậm chí không hài lòng chiếm hết hồn thơ họ chỉ là những niềm<br /> khi được người yêu bày tỏ lời khen. Điều đau chung đã ngấm lịm vào da thịt. Vậy<br /> tưởng nghịch lí trong hồn thơ Lâm Thị Mỹ mà trong tiếng lòng chung đó, người nghệ<br /> Dạ cũng trở nên có lí. Có lí một cách sĩ vẫn dành một góc nhỏ để trải nghiệm về<br /> duyên dáng, nũng nịu. Cái tôi cứ thành thật trạng thái cô độc của hiện tại và xót xa hơn<br /> trong giọng ưu tư, lo lắng: Em sợ lời khen là tiên liệu về một khoảng thời gian định<br /> của anh/ Như sợ chiều về, hắt tối/ Nhiều mệnh. Giọng thơ chùng xuống, đẫm buồn<br /> khi ngồi buồn một mình/ Trách anh sao mà song cái tôi vẫn gắng gượng trong sắc<br /> nông nổi (Anh đừng khen em). giọng da diết nhớ. Giọng giằng xé của cái<br /> Qua nhiều lần vay trả để có lại yêu tôi cô độc như lạc đi trong nước mắt của<br /> thương, sau nhiều đổ vỡ, phải nói trong thơ chia li: Bây giờ những buổi chiều còn lại<br /> trẻ Việt Nam 1965 – 1975, Lưu Quang Vũ một mình/ em có biết chăng đời tôi rồi sẽ<br /> là nhà thơ đã để lại nhiều nhất những cung có một sớm mai nào/ ra đi không ngày trở<br /> âm dự cảm, lo âu, phấp phỏng về những lại/ tôi vẫn nhớ em khi đêm tối về/ âm thầm<br /> GIỌNG ĐIỆU CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ TRẺ VIỆT NAM 1965 - 1975<br /> <br /> <br /> khóc trong chiếu chăn/ những giọt lệ vàng tôi trữ tình, vốn được xem là biểu hiện sắc<br /> thánh thiện như nước mắt chim khuyên nét của chân dung tinh thần thơ trẻ Việt<br /> (Những buổi chiều một mình - Thái Ngọc Nam giai đoạn này.<br /> San). Lê Văn Ngăn - cây bút của phong<br /> trào học sinh sinh viên thành thị miền Nam<br /> - cũng mang sắc giọng dự cảm chia xa<br /> trong tình yêu. Trong hồn thơ của một<br /> người đang rơi vào tuyệt vọng, mây trời u<br /> ám là không gian của mòn mỏi đợi chờ:<br /> Anh sẽ lui về thành thị cũ/ soi mắt em trong<br /> tấm gương mờ/ ngó qua mái ngói mây trời<br /> đục/ biết đến đêm này khuya có mưa (Bên<br /> hồ Thuỷ Ngữ).<br /> ***<br /> Tương ứng với từng biểu hiện của cái<br /> tôi trữ tình, các nhà thơ trẻ lựa chọn những<br /> hình thức biểu hiện phù hợp với thế giới<br /> quan, nhân sinh quan và phong cách sáng<br /> tạo của tác giả và thời đại. Sự lựa chọn thể<br /> loại, sự sáng tạo nên những hiệu ứng thẩm<br /> mĩ khá dụng công cho chất liệu ngôn ngữ<br /> và đặc biệt là sự thể hiện nhiều cung bậc<br /> giọng điệu đã đưa thế hệ thơ trẻ khám phá<br /> sâu vào bản chất của cái tôi trữ tình giai<br /> đoạn này. Thực tế chiến trường ác liệt và<br /> không khí chiến đấu của những năm chống<br /> Mĩ, cứu nước đã tạo điều kiện cho thơ trẻ<br /> bắt nhịp với cảm hứng dân tộc. Trong dàn<br /> hoà ca ấy, thơ trẻ đã xuất hiện nhiều nhiều<br /> sắc giọng đa dạng, hợp thành giọng điệu<br /> đặc trưng của nền thơ 1965 – 1975. Trong<br /> đó, sắc giọng nghiệm suy, chất vấn, dự<br /> cảm, âu lo đã tạo nên dấu ấn của một số<br /> phong cách thơ và có phần đậm hơn trong<br /> sáng tác của các nhà thơ trẻ thành thị miền<br /> Nam. Song dù là giọng ngợi ca hào sảng,<br /> giọng tin yêu đằm thắm, giọng suy tưởng<br /> trầm buồn hay giọng tiên cảm xót xa thì bật<br /> lên trên hết vẫn là chất đắm đuối trong<br /> những hồn thơ mặn mà với hiện thực đời<br /> sống. Giọng điệu trong thơ trẻ 1965 – 1975<br /> góp phần khắc sâu hơn sự đa diện của cái<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> 1. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỉ thơ Việt Nam 1945-1995 (Nhìn từ phương diện sự vận<br /> động của cái tôi trữ tình), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.<br /> 2. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội.<br /> 3. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục,<br /> Hà Nội.<br /> 4. Roman Jakobson (2001), “Chủ âm”, Nghệ thuật như là thủ pháp, Nxb Hội Nhà văn,<br /> Hà Nội.<br /> 5. Mã Giang Lân (2001), Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2