intTypePromotion=1
ADSENSE

Góp ý hoàn thiện một số nội dung của Dự thảo Luật Trợ giúp pháp lý

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

13
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2006 đang được xin ý kiến nhân dân để sửa đổi, bổ sung, nhằm điều chỉnh toàn diện các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động TGPL, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, phù hợp với Hiến pháp và thể chế hóa chính sách xã hội hóa hoạt động TGPL của Đảng và Nhà nước. Bài viết góp ý một số nội dung để hoàn thiện Dự thảo Luật TGPL (sửa đổi) này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Góp ý hoàn thiện một số nội dung của Dự thảo Luật Trợ giúp pháp lý

  1. BAÂN VÏÌ DÛÅ AÁN LUÊÅT GOÁP YÁ HOAÂN THIÏÅN MÖÅT SÖË NÖÅI DUNG CUÃA DÛÅ THAÃO LUÊÅT TRÚÅ GIUÁP PHAÁP LYÁ (SÛÃA ÀÖÍI) Trần Huy Liệu* * TS, LS. Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Thông tin bài viết: Tóm tắt: Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2006 đang được xin ý kiến nhân dân để Từ khoá: trợ giúp pháp lý. sửa đổi, bổ sung, nhằm điều chỉnh toàn diện các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động TGPL, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp Lịch sử bài viết: luật, phù hợp với Hiến pháp và thể chế hóa chính sách xã hội hóa hoạt động TGPL của Đảng và Nhà nước. Bài viết góp ý một số nội dung để hoàn thiện Nhận bài: 09/04/2017 Dự thảo Luật TGPL (sửa đổi) này1. Biên tập: 17/04/2017 Duyệt bài: 21/04/2017 Article Infomation: Abstract: The Law on Legal Aid (2006) is under consultation from the people for Keywords: legal aids. amendments in order to comprehensively govern the social relations arising in the legal aid activitíe, ensuring the consistency and unification of the legal system, in line with the Constitution and institutionalization of the Party and Article History: State's socialization policy of the legal aid activities. This article provides some ideas for improvements of the Bill of Law on Legal Aid (Amended). Received: 09 Apr. 2017 Edited: 17 Apr. 2017 Approved: 21 Apr. 2017 1. Chính sách trợ giúp pháp lý kế thừa chính sách TGPL quy định tại Điều Điều 4 Dự thảo Luật TGPL sửa đổi 6 Luật TGPL năm 2006, đồng thời bổ sung (Dự thảo Luật) quy định về chính sách thêm một số chính sách như chính sách xã TGPL nhưng chưa thể hiện đầy đủ được nội hội hóa hoạt động TGPL, thu hút và huy dung chính sách TGPL của Đảng và Nhà động mọi nguồn lực xã hội tham gia thực nước ta. Theo chúng tôi, Dự thảo Luật cần hiện TGPL cùng với Nhà nước; chính sách 1 Dự thảo trình Phiên họp thứ 6 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV (tháng 01/2017). NGHIÏN CÛÁU Söë 09(337) T5/2017 LÊÅP PHAÁP 27
  2. BAÂN VÏÌ DÛÅ AÁN LUÊÅT ưu đãi thuế thu nhập, hỗ trợ tổ chức xã hội nay, mà không cần thêm bất cứ điều kiện gì. tham gia TGPL. Những chính sách này mặc Nhưng theo quy định tại Điều 7 Dự dù chưa được Luật TGPL năm 2006 thể hiện thảo Luật, người khuyết tật (điểm d khoản trong các điều khoản quy định về chính 6); cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng của liệt sỹ, sách, nhưng đã được lồng ghép trong các con đẻ của liệt sỹ và người có công nuôi chế định về tổ chức thực hiện TGPL và dưỡng liệt sỹ (điểm e khoản 6); nạn nhân bị người thực hiện TGPL của Luật TGPL năm mua bán (điểm g khoản 6); trẻ em không 2006 và đã được áp dụng trong thực tiễn. thuộc trường hợp bị buộc tội (điểm b khoản 2. Người được trợ giúp pháp lý 6) lại phải có thêm điều kiện có hoàn cảnh - Về khoản 6 Điều 7 Dự thảo Luật: khó khăn về tài chính hoặc trẻ em bị buộc Theo Điều 10 Luật TGPL năm 2006 và Điều tội (khoản 3) mới có quyền được TGPL. Quy 2 Nghị định số 07/NĐ-CP ngày 12/01/2007 định này không phù hợp với quy luật phát của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật triển và chủ trương phát triển kinh tế - xã hội TGPL và Nghị định số 14/NĐ-CP ngày 5/2 gắn liền với công bằng và tiến bộ xã hội. 2013 sửa đổi Nghị định số 07/NĐ-CP thì Chúng tôi cho rằng, Dự thảo Luật cần kế người được TGPL bao gồm: người nghèo; thừa quy định về các đối tượng đã và đang người có công với cách mạng (trong đó liệt được hưởng TGPL từ năm 1998 đến nay. Cụ sỹ là người có công với cách mạng nhưng đã thể, Điều 7 Dự thảo Luật nên được thiết kế chết thì thân nhân của họ là cha đẻ, mẹ đẻ, như sau: vợ hoặc chồng, con đẻ của liệt sỹ và người “Điều 7. Người được trợ giúp pháp lý có công nuôi dưỡng liệt sỹ được hưởng chính 1. Người thuộc hộ nghèo theo quy sách ưu đãi của Nhà nước); người dân tộc định của pháp luật (Theo Quyết định số thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh 59/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 và chuẩn tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người già cô nghèo đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 của đơn, trẻ em, người tàn tật, người nhiễm HIV, Thủ tướng Chính phủ); nhiễm chất độc hóa học không nơi nương 2. Người có công với cách mạng theo tựa; trẻ em bị tước quyền tự do (hay còn gọi pháp luật về ưu đãi người có công với cách là bị buộc tội) theo Điều 37 Công ước quốc mạng (Theo Điều 2 Pháp lệnh Ưu đãi người tế về Quyền trẻ em năm 1990 mà Việt Nam có công với cách mạng); là thành viên; trẻ em (quy định tại Điều 30 3. Trẻ em theo pháp luật về trẻ em Luật Trẻ em năm 2016). (Điều 30 Luật Trẻ em 2016); Theo Điều 4 Luật Người khuyết tật 3. Người khuyết tật theo Luật Người năm 2010 thì người khuyết tật được TGPL khuyết tật (Điều 4 Luật Người khuyết tật (thay thế cho “người tàn tật không nơi năm 2010); nương tựa” quy định tại Luật TGPL năm 4. Nạn nhân bị mua bán theo Luật 2006 mà không phụ thuộc vào tình trạng có Phòng, chống mua bán người (Điều 32 Luật hoặc không có nơi nương tựa); Luật Phòng, Phòng, chống mua bán người 2011); chống mua bán người năm 2011 bổ sung 5. Người dân tộc thiểu số thường trú thêm nạn nhân bị mua bán được TGPL và tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc người khuyết tật và nạn nhân bị mua bán biệt khó khăn (Điều 10 Luật TGPL năm được hưởng TGPL từ năm 2010 - 2011 đến 2006); NGHIÏN CÛÁU 28 LÊÅP PHAÁP Söë 09(337) T5/2017
  3. BAÂN VÏÌ DÛÅ AÁN LUÊÅT 6. Người cao tuổi, người nhiễm HIV Luật TGPL năm 2006 đã tạo môi không nơi nương tựa2 (Điều 10 Luật TGPL trường pháp lý thuận lợi cho các tổ chức xã 2006 và Nghị định số 07/NĐ-CP ngày hội tham gia TGPL bằng quy định: Các tổ 12/01/2007 hướng dẫn thi hành Luật chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp TGPL); luật có nguyện vọng tham gia TGPL chỉ cần 7. Người được TGPL theo các điều đăng ký tham gia TGPL tại Sở Tư pháp. Khi ước quốc tế mà nước Cộng hòa XHCN Việt được cấp giấy đăng ký tham gia TGPL thì Nam là thành viên” (một số Công ước quốc có quyền thực hiện TGPL theo pháp luật về tế mà Việt Nam là thành viên có quy định về TGPL. Cơ quan QLNN làm nhiệm vụ một số đối tượng yếu thế được TGPL như QLNN, giám sát, thanh tra, kiểm tra việc Công ước quốc tế về Quyền trẻ em). thực hiện TGPL theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, cần căn cứ vào điều kiện Trong khi đó, quy định của điểm a khoản 2 phát triển kinh tế - xã hội của đất nước để Điều 10 Dự thảo Luật chủ yếu là định tính, cân nhắc việc mở rộng thêm các đối tượng mang nặng ý chí chủ quan của chủ thể đánh được TGPL như: người bị buộc tội thuộc hộ giá. Điều này gây ảnh hưởng tới quyền tham cận nghèo (khoản 5 Điều 7); người bị buộc gia thực hiện TGPL của các tổ chức hành tội dưới 18 tuổi (bổ sung thêm người chưa nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật. thành niên từ 16 đến 18 tuổi) (khoản 3 Điều Thứ hai, quy định của khoản 1 Điều 7); người từ đủ 16 đến 18 tuổi là người bị 13 Dự thảo Luật đặt ra các điều kiện để cơ hại trong vụ án hình sự (điểm c khoản 6 quan QLNN có thẩm quyền lựa chọn ký hợp Điều 7); nạn nhân bị bạo lực gia đình (điểm đồng thực hiện TGPL với tổ chức tham gia h khoản 6 Điều 7). TGPL, để các tổ chức hành nghề luật sư, tổ 3. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý chức tư vấn pháp luật tự nguyện đăng ký (Chương III) tham gia TGPL bằng nguồn lực của mình đã Thứ nhất, theo quy định tại điểm a làm phức tạp thêm thủ tục hành chính khi đi khoản 2 Điều 10 Dự thảo Luật, tổ chức hành đăng ký tham gia thực hiện TGPL. Các điều nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật muốn kiện này, vô hình chung trở thành các loại trở thành tổ chức thực hiện TGPL thì phải giấy phép con, gây trở ngại, phiền hà cho có đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều việc tham gia TGPL của các tổ chức hành 13 và được “cơ quan quản lý nhà nước nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật muốn (QLNN) có thẩm quyền về TGPL” ở trung tham gia TGPL. Điều này không phù hợp ương và địa phương lựa chọn và ký hợp với chương trình cải cách hành chính và đơn đồng thực hiện TGPL. giản hóa thủ thực hành chính, xây dựng 2 Theo Luật TGPL năm 2006 là Người già (người đủ 60 tuổi trở lên) cô đơn, không nơi nương tựa. Sau này Luật Người cao tuổi quy định Người cao tuổi là người đủ 60 tuổi trở lên, nên có thể sử dụng thuật ngữ người cao tuổi (thay cho người già) không nơi nương tựa cũng phù hợp. Về cụm từ “không nơi nương tựa” đã áp dụng nhiều năm không có vướng mắc bởi theo cách hiểu chung là người không có người thân có trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng. Vì vậy, không nên sử dụng cụm từ “có hoàn cảnh khó khăn về tài chính” mang chất định tính, chưa xác định, chưa có tiêu chí để hiều thống nhất thế nào là hoàn cảnh khó khăn về tài chính và ai là người có thẩm quyền xác nhận hoàn cảnh đó... dễ gây ra tiêu cực, quan liêu, cửa quyền, gây phiền hà cho dân. NGHIÏN CÛÁU Söë 09(337) T5/2017 LÊÅP PHAÁP 29
  4. BAÂN VÏÌ DÛÅ AÁN LUÊÅT Chính phủ kiến tạo và phục vụ nhân dân, gia thực hiện TGPL phải đăng ký bằng văn không tạo môi trường pháp lý thuận lợi thu bản về phạm vi, hình thức, lĩnh vực TGPL hút các tổ chức xã hội tham gia thực hiện tại Sở Tư pháp nơi đã cấp Giấy đăng ký hoạt TGPL cùng với Nhà nước, là rào cản cho động. việc thực hiện xã hội hóa hoạt động TGPL. 2. Tổ chức đề nghị đăng ký tham gia Thứ ba, Điều 22 Dự thảo Luật liệt kê thực hiện TGPL nộp cho Sở Tư pháp 01 một số chức danh tư pháp và người làm (một) bộ hồ sơ bao gồm: Giấy đề nghị đăng công tác pháp luật đã nghỉ hưu có thể cộng ký tham gia TGPL; danh sách luật sư, tư vấn tác viên TGPL, không bao gồm luật sư là viên pháp luật sẽ tham gia thực hiện TGPL. không phù hợp với Luật Luật sư năm 2013. 3. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, Vì vậy, chúng tôi cho rằng, Điều 22 cần bổ kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký, Sở Tư sung quy định luật sư, tư vấn viên pháp luật pháp cấp Giấy đăng ký tham gia TGPL cho được làm cộng tác viên TGPL. tổ chức đã đề nghị và thông báo cho Trung Thứ tư, Điều 14 Dự thảo Luật quy tâm TGPL nhà nước để phối hợp hoạt động. định về hợp đồng thực hiện TGPL giữa cơ Trong trường hợp từ chối phải thông báo rõ quan QLNN với tổ chức tham gia TGPL. lý do bằng văn bản. Chúng tôi cho rằng, về bản chất, đây 4. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, là hoạt động TGPL của Nhà nước. Do Trung kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký tham gia tâm TGPL chưa đủ nguồn lực thực hiện TGPL, tổ chức được cấp Giấy đăng ký thực TGPL nên phải ký hợp đồng thuê tổ chức hiện công bố công khai trên các phương tiện hành nghề luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý thông tin đại chúng ở địa phương về các nội và trả thù lao cho họ khi thực hiện xong vụ dung của Giấy đăng ký tham gia TGPL. việc TGPL theo hợp đồng. Việc lựa chọn tổ Việc thực hiện TGPL được tính từ khi đã chức, trình tự và hình thức hợp đồng (dân thực hiện việc công bố công khai Giấy đăng sự) cung cấp dịch vụ pháp lý đã được pháp ký tham gia TGPL. luật dân sự điều chỉnh, rất quen thuộc với 5. Giấy Đăng ký tham gia TGPL được các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch thực hiện theo mẫu thống nhất do Bộ trưởng vụ công. Vì vậy, không cần thiết phải quy Bộ Tư pháp ban hành và thực hiện TGPL định trong Luật TGPL, và càng không cần phù hợp với phạm vi, hình thức, lĩnh vực thiết phải giao cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp pháp luật được ghi trong Giấy đăng ký hoạt quy định cụ thể trình tự thực hiện hay bản động. mẫu của hợp đồng này. Việc đăng ký tham gia TGPL không Thứ năm, để tạo môi trường pháp lý phải trả lệ phí”. thuận lợi cho các tổ chức tham gia thực hiện 4. Người thực hiện trợ giúp pháp lý TGPL, đề nghị sửa đổi nội dung Điều 15 Dự (Chương IV) thảo Luật, quy định trực tiếp thủ tục đăng ký Thứ nhất, điểm b khoản 1 Điều 18 tham gia TGPL cho phù hợp với tên điều mà Dự thảo Luật quy định: “Luật sư thực hiện không cần giao cho Chính phủ hướng dẫn TGPL theo hợp đồng với Trung tâm TGPL nữa, cụ thể như sau: nhà nước”, trong khi Điều 49 Luật Luật sư “Điều 15. Đăng ký tham gia trợ năm 2013 không cho phép luật sư hành nghề giúp pháp lý tại Công ty luật và Văn phòng luật sư ký hợp 1. Tổ chức hành nghề luật sư, Trung đồng cung cấp dịch vụ pháp lý với một cơ tâm Tư vấn pháp luật có nguyện vọng tham quan, tổ chức khác. Trường hợp luật sư hành NGHIÏN CÛÁU 30 LÊÅP PHAÁP Söë 09(337) T5/2017
  5. BAÂN VÏÌ DÛÅ AÁN LUÊÅT nghề với tư cách cá nhân thì được ký hợp đ) Bị thu hồi Thẻ Trợ giúp viên pháp đồng lao động với cơ quan, tổ chức khác, lý, Chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc Giấy được nhận lương và chỉ bảo vệ quyền và lợi chứng nhận tư vấn viên pháp luật”. ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó. Thứ hai, cần quy định rõ ràng, cụ thể Vì vậy, để luật sư có điều kiện tham hình thức tham gia thực hiện TGPL của luật gia TGPL, ký hợp đồng cộng tác với Trung sư và tư vấn viên pháp luật đồng bộ với pháp tâm TGPL thì phải kế thừa chế định cộng tác luật về luật sư (Điều 21, 31 Luật Luật sư và viên TGPL theo quy định hiện hành. Với lý 4 Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư), với do đó, chúng tôi đề nghị Điều 18 Dự thảo pháp luật về tư vấn pháp luật. Theo hướng Luật cần được thiết kế như sau: này, đề nghị bổ sung vào Dự thảo Luật các “Điều 18. Người thực hiện trợ giúp điều quy định về tham gia TGPL của luật sư pháp lý và tư vấn viên pháp luật như sau: 1. Người thực hiện TGPL bao gồm: “Điều... luật sư tham gia thực hiện a) Trợ giúp viên pháp lý; trợ giúp pháp lý b) Cộng tác viên TGPL; Luật sư tham gia thực hiện TGPL c) Luật sư; bằng các hình thức sau đây: d) Tư vấn viên pháp luật làm việc 1. Luật sư tham gia TGPL với hình trong tổ chức tư vấn pháp luật (không cần thức thực hiện nghĩa vụ TGPL và đạo đức quy định có 02 năm kinh nghiệm mới được nghề nghiệp luật sư (đã quy định tại các TGPL như Dự thảo, bởi vì đây là điều kiện Điều 21, 31 Luật Luật sư và 4 Quy tắc đạo chỉ gây phiền hà cho tư vấn viên pháp luật). đức nghề nghiệp của luật sư); 3. Người thuộc một trong các trường 2. Luật sư thực hiện TGPL với tư cách hợp sau đây thì không được thực hiện TGPL hành nghề cá nhân ký hợp đồng lao động (kế thừa khoản 3 Điều 20 Luật TGPL năm với Trung tâm TGPL nhà nước (phù hợp với 2006): Điều 49 Luật Luật sư); a) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình 3. Luật sư thực hiện TGPL với tư cách sự; đã bị kết án mà chưa được xóa án tích cộng tác viên của Trung tâm TGPL nhà về tội phạm do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm nước theo quy định của Luật này (Điều 22 trọng do cố ý; đã bị kết án về tội phạm Dự thảo cần bổ sung quy định luật sư có nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm nguyện vọng được làm cộng tác viên trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm TGPL); trọng do cố ý kể cả trường hợp đã được xóa 4. Luật sư thực hiện TGPL tại tổ chức án tích; hành nghề luật sư đã đăng ký tham gia b) Đang bị áp dụng biện pháp xử lý TGPL; hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở 5. Luật sư thực hiện TGPL bằng tất cả giáo dục hoặc quản chế hành chính; các hình thức TGPL quy định tại khoản 2 c) Mất năng lực hành vi dân sự hoặc Điều 28 Luật này”. bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; Quy định như trên sẽ tạo môi trường d) Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức pháp lý cho luật sư lựa chọn hình thức tham buộc thôi việc mà chưa hết thời hạn ba năm, gia TGPL phù hợp với khả năng của mình. kể từ ngày quyết định buộc thôi việc có hiệu Luật sư thực hiện TGPL theo khoản 2, 3 lực; được Nhà nước trả lương hoặc tiền bồi NGHIÏN CÛÁU Söë 09(337) T5/2017 LÊÅP PHAÁP 31
  6. BAÂN VÏÌ DÛÅ AÁN LUÊÅT dưỡng vụ việc TGPL theo quy định của bên tranh chấp cùng chung sống trong phạm pháp luật. Luật sư thực hiện TGPL theo vi thôn, bản, ấp... Còn hòa giải trong TGPL khoản 1và khoản 4 Điều này thì thực hiện do người thực hiện TGPL thực hiện đối với bằng chính nguồn lực của mình. những tranh chấp dân sự phức tạp mà Hòa - Tương tự như quy định về luật sư, đề giải viên không đủ kiến thức và kỹ năng để nghị bổ sung thêm một điều quy định về tư thực hiện, những vụ việc mà tổ hòa giải đã vấn viên pháp luật tham gia TGPL, bởi điểm thực hiện nhưng không thành công, nên lại c khoản 1 Điều 18 quy định tư vấn viên pháp “đến tay” tổ chức TGPL; những vụ việc mà luật cũng là người thực hiện TGPL, nhưng các bên tranh chấp không ở cùng thôn, bản, chưa rõ ràng, cụ thể theo hướng kế thừa ấp mà ở các huyện, tỉnh khác nhau..., kể cả Điều 24 Luật TGPL năm 2006, như sau: những vụ việc đã khởi kiện tại Tòa án mà “Điều... Tư vấn viên pháp luật tham thấy rằng hòa giải sẽ tốt hơn thì cũng được gia trợ giúp pháp lý thực hiện để rút đơn khởi kiện tại Tòa án. 1. Tư vấn viên pháp luật tham gia Như vậy, việc hòa giải trong TGPL hoàn TGPL theo sự phân công của tổ chức tư vấn toàn vượt ra khỏi sự điều chỉnh của Luật pháp luật đã đăng ký tham gia TGPL, tham Hòa giải ở cơ sở do pháp luật dân sự, tố tụng gia TGPL với tư cách cộng tác viên của dân sự, pháp luật đất đai... điều chỉnh. Vì Trung tâm TGPL nhà nước. vậy, việc Dự thảo Luật bỏ hình thức hòa giải 2. Tư vấn viên pháp luật thực hiện sau 17 năm hình thành và phát triển hình TGPL bằng hình thức tư vấn pháp luật và thức TGPL là điều không phù hợp. hòa giải”. Thứ hai, Điều 30 Dự thảo Luật với tiêu 5. Hình thức, hoạt động trợ giúp pháp lý đề: “Tiếp nhận yêu cầu TGPL” là chưa phù (Chương V) hợp với nội dung của Điều này. Hơn nữa, Thứ nhất, về hình thức trợ giúp pháp quy định yêu cầu TGPL của người được lý (khoản 2 Điều 28 Dự thảo Luật) TGPL không rõ ràng về phương thức, thủ tục Khoản 2 Điều 28 Dự thảo Luật quy yêu cầu TGPL, gây khó khăn cho người định chỉ có 3 hình thức dịch vụ pháp lý là được TGPL khi thực hiện thủ tục hành chính tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật và đại này. Để khắc phục bất cập này, chúng tôi đề diện ngoài tố tụng (bỏ hình thức hòa giải). nghị sửa đổi lại tiêu đề của Điều 30 là “Yêu Một số ý kiến đóng góp cho Dự thảo cũng cầu TGPL” như Điều 33 Luật TGPL năm như bản Dự thảo Báo cáo giải trình, tiếp thu, 2006. Yêu cầu TGPL của người được TGPL chỉnh lý Dự thảo Luật TGPL cũng cho rằng, là thủ tục hành chính, vì vậy, nội dung Điều nên bỏ hình thức hòa giải bởi vì “hoạt động 30 cần quy định rõ ràng, cụ thể tên gọi, hồ hòa giải được điều chỉnh bằng Luật Hòa giải sơ yêu cầu TGPL cần có những gì, phải nộp ở cơ sở”. Chúng tôi cho rằng ý kiến này cho ai, theo phương thức nào và thủ tục thật không có tính thuyết phục, bởi hòa giải ở cơ sự cần thiết và đơn giản để người được sở và hòa giải trong TGPL có những điểm TGPL biết phải làm gì và làm như thế nào khác nhau về chủ thể thực hiện hòa giải, tính khi có yêu cầu TGPL. Cụ thể, Điều 30 Dự chất, độ phức tạp của tranh chấp và địa bàn thảo Luật nên được thể hiện như sau: của các bên tranh chấp. Hòa giải ở cơ sở do “Điều 30. Yêu cầu trợ giúp pháp lý Hòa giải viên thực hiện đối với tranh chấp 1. Khi có yêu cầu TGPL, người được (thường là những tranh chấp, vi phạm pháp TGPL phải nộp 01 bộ hồ sơ cho tổ chức thực luật nhỏ) trong cộng đồng dân cư mà các hiện TGPL. Hồ sơ gồm có: Đơn yêu cầu NGHIÏN CÛÁU 32 LÊÅP PHAÁP Söë 09(337) T5/2017
  7. BAÂN VÏÌ DÛÅ AÁN LUÊÅT TGPL, bản sao có chứng thực giấy tờ chứng có liên quan đến vụ việc TGPL thì người minh là người được TGPL và các giấy tờ, tài tiếp nhận hồ sơ phải hướng dẫn họ cung cấp liệu có liên quan đến vụ việc TGPL (nếu có). bổ sung các giấy tờ, tài liệu đó để thụ lý vụ 2. Hồ sơ yêu cầu TGPL được nộp trực việc TGPL. tiếp tại trụ sở của tổ chức thực hiện TGPL 3. Trong trường hợp yêu cầu TGPL hoặc được gửi đến tổ chức thực hiện TGPL không đủ điều kiện để thụ lý theo quy định qua dịch vụ bưu chính hoặc các hình thức tại khoản 1 Điều này thì tổ chức thực hiện khác. TGPL được từ chối thụ lý và thông báo rõ Trong trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp lý do bằng văn bản cho người có yêu cầu tại trụ sở của tổ chức thực hiện TGPL, người TGPL biết”. được TGPL chỉ cần nộp đơn yêu cầu TGPL Thứ tư, Điều 34 có tiêu đề là “Tư vấn và xuất trình bản chính giấy tờ chứng minh pháp luật”, tuy nhiên, trong nội dung lại quy mình là người được TGPL. Trường hợp định cả về hoạt động hòa giải, giải quyết chưa có đơn yêu cầu thì người thực hiện khiếu nại là không không logic. Vì vậy, TGPL có trách nhiệm phát mẫu tờ đơn và chúng tôi đề nghị chỉnh sửa lại Điều này như hướng dẫn họ điền vào mẫu đơn và ký hoặc sau: điểm chỉ vào đơn yêu cầu TGPL. Trường “Điều 31. Tư vấn pháp luật hợp người được TGPL không thể tự mình 1..... viết đơn yêu cầu thì người thực hiện TGPL 2. Đối với vụ việc đơn giản, người có trách nhiệm ghi các nội dung yêu cầu thực hiện TGPL phải tư vấn ngay và ghi TGPL vào mẫu đơn, để họ tự đọc hoặc đọc chép những nội dung chính trong phiếu tư lại cho họ nghe và yêu cầu họ ký tên hoặc vấn pháp luật. Phiếu tư vấn pháp luật được điểm chỉ vào đơn”. lập thành hai bản, một bản giao cho người được TGPL, một bản được lưu giữ trong hồ Thứ ba, Điều 31 Dự thảo Luật quy sơ vụ việc. định thủ tục thụ lý vụ việc TGPL nhưng 3. Đối với vụ việc phức tạp, cần có chưa rõ ràng, cụ thể, khó hiểu, đề nghị chỉnh thời gian nghiên cứu, xác minh hoặc vụ việc lý lại như sau: thiếu những giấy tờ, tài liệu có liên quan thì “Điều 31. Thụ lý vụ việc trợ giúp người thực hiện TGPL phải viết phiếu hẹn pháp lý hoặc yêu cầu bổ sung các giấy tờ, tài liệu 1. Người tiếp nhận hồ sơ yêu cầu còn thiếu. TGPL phải kiểm tra các giấy tờ, nội dung có Trong thời hạn không quá mười lăm liên quan đến yêu cầu TGPL; nếu hồ sơ có ngày, kể từ ngày thụ lý vụ việc hoặc nhận đủ đủ điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 30 các giấy tờ, tài liệu cần bổ sung, người thực (theo hướng sửa trên đây) và yêu cầu TGPL hiện TGPL có trách nhiệm nghiên cứu và trả thuộc vụ việc, đối tượng, phạm vi, hình thức lời bằng văn bản cho người được TGPL; TGPL quy định tại các Điều 7, 27 và 28 của trong trường hợp vụ việc cần có thời gian để Luật này thì phải thụ lý ngay, ghi vào Sổ thụ xác minh thì thời hạn này có thể kéo dài lý và đề nghị người có thẩm quyền phân nhưng không quá ba mươi ngày. công người thực hiện TGPL cho người được 4. Đối với vụ việc yêu cầu tư vấn được TGPL. chuyển đến bằng thư tín, người thực hiện 2. Trong trường hợp người được TGPL có trách nhiệm trả lời bằng văn bản TGPL còn thiếu những giấy tờ chứng minh trong thời hạn không quá mười lăm ngày, kể là người được TGPL hoặc giấy tờ, tài liệu từ ngày nhận được yêu cầu TGPL”n NGHIÏN CÛÁU Söë 09(337) T5/2017 LÊÅP PHAÁP 33
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD


intNumView=13

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2