HẠ GLUCOSE MÁU
(Kỳ 1)
I. ĐỊNH NGHĨA
Hglucose máu còn được gọi là hđường huyết, để diễn đạt những biểu
hiện lâm sàng cận lâm sàng xảy ra đối với thể người khi nồng độ glucose
huyết tương tĩnh mạch dưới 50 mg/dl (2,7 mmol/l).
Hglucose máu là một trong những cấp cứu nội khoa thường gặp trên m
sàng, là một trong những nguyên nhân y t vong bệnh nhân đái tháo đường sử
dụng insulin hoặc sulfamide hạ đường huyết, trong đó tỷ lệ tử vong 3-7% bệnh
nhân đái tháo đường týp 1.
Tuy nhiên thực tế m sàng giới hạn nồng đđường máu nói trên th
thay đổi do tình huống lâm sàng cấp hay mạn tùy thuộc vào độ tuổi cũng như bệnh
lý đi kèm nhất là bệnh nhân đái tháo đường có thời gian mắc bệnh kéo dài.
II. BỆNH NGUYÊN
1. Hạ đường huyết lúc đói kèm cường insulin:
1.1. Phản ứng insulin:
- Chế độ ăn không đầy đủ về số lượng và chất lượng hoặc là do quên bữa ăn
ở bệnh nhân đái tháo đường điều trị.
- Hoạt động thể lực quá mức: người không bị đái tháo đường lượng thu
nhận glucose của cơ vân (tăng 20-30 lần trên mức căn bản) được bù tân sinh
đường gan. Điều này do gim insulin lưu hành do tăng catecholamine do vận
động làm ức chế tế bào β. Điều hòa này bgiảm ở bệnh nhân đang điều trị insulin.
Khi các nơi lắng đọng thuốc dưới da tiếp tục phóng thích insulin trong quá trình
hoạt động và tăng hấp thu insulin ở những vùng cơ gần gốc.
- H thống điều hòa glucose btổn thương bệnh nhân đái tháo đường bị
bệnh lâu ngày. Phần lớn bệnh nhân đái tháo đường p 1 sự kém đáp ứng
glucagon khi hđường huyết
- Quá liều insulin. Do không nhìn rõ hoặc do thay đổi nồng độ Insulin trong
lọ thuốc (40 UI/ml thay thế 100 UI/ml).
- Quá liều sulfamide hạ đường máu, thuốc tác dụng kéo dài
(Chlopropamide thời gian bán hủy trên 35 giờ...) Đặc biệt bệnh nhân thương
tổn gan, thận, người lớn tuổi dễ có nguy cơ hạ đường huyết.
- Các nguyên khác:
+ Stress: Khi bstress (bệnh tật, nhiễm trùng, phẫu thuật...) thường tăng
liều Insulin để cân bằng đường máu. Khi stress chấm dứt cần phải giảm liều.
+ Suy vthượng thn (bệnh Addison) gây hạ đường huyết vì thế cần giảm
liều Insulin.
+ Bệnh dạ dày đái tháo đường: Bệnh thần kinh thực vật các tạng làm
d dày giảm trương lực làm chm đưa thức ăn từ dạ dày vào ruột, nguy h
đường sau ăn ở bệnh nhân sử dụng Insulin.
+ Thai nghén. Nhu cầu tiêu thđường tăng trong thai nghén vì thế cần giảm
liều Insulin trong 3 tháng đầu.
+ Suy thận: Làm giáng hóa Insulin và thuốc hạ đường huyết bị kéo dài.
+ Thuốc dùng phối hợp: Bệnh nhân đái tháo đường phối hợp thuốc điều
tr như: Allopurinol, ức chế beta, clofibrate, cimetidine, thuốc chống đông,
hydralazine, indomethacine, Maleate de perhexilline, miconazole, phenolbarbitale
phenylbutazole, probenecide, salycile, sulfamide chống nhiễm khuẩn, IMAO,
quinine, quinidine, ức chế men chuyển, disopyramide, tricycliques, propoxyphene,
octreotide, tetracycline, mebendazole, cibenzoline, stanozolol, fluoxetine, ethanol,
sertaline, tromethamirne, gancilovir, lithium, temafloxacilline.
+ Hđường huyết giả (dùng lén lút Insulin các thuốc hạ đường huyết):
liên quan đến bệnh nhân có bệnh lý tâm thần phối hợp.
+ Hđường huyết tự miễn. kháng thể kháng Insulin. Hạ đường huyết
xảy ra 3-4 gisau ăn được quy cho sự phân ly giữa phức hợp miễn dịch kháng
thvà Insulin m phóng thích Insulin tdo... Hạ đường huyết tmiễn do tích lũy
slượng kháng thể lớn khả năng phản ứng với Insulin nội sinh, đã được ghi
nhận bệnh nhân điều trị methimazole trong bệnh Basedow tại Nhật Bản, cũng
như một sbệnh nhân lymphoma, đa u tủy, hội chứng lupus, trong đó paraprotein
và kháng thphản ứng chéo với Insulin.
Hđường huyết do kháng thể kháng thụ thể Insulin tương đối hiếm, bệnh
nhân này có thi kỳ đề kháng Insulin và chứng gai đen (acanthosis nigricans).
Hglucose máu cũng được ghi nhận sự đáp ứng với điều trị glucocorticoid
mà không thấy trong lọc huyết tương và ức chế miễn dịch.
- Hđường huyết do dùng Pentamydine: Loại thuốc dùng điều trị nhiễm
khuẩn Pneumocystic carinii bệnh nhân AIDS, thuốc m tăng Insulin cấp do tác
dụng trên tế bào β (10-20% bệnh nhân).
- U tế bào beta tuyến tuỵ.
1.2. Hạ đường huyết lúc đói không cường insulin.
1.2.1. Các rối loạn phối hợp với giảm lưu lượng glucose ở gan.
- Do mất một số lượng tế bào gan như teo gan vàng cp, nhiễm độc gan
cấp.
- Do rối loạn cung cấp acid amin đến gan (chán ăn thần kinh, nhịn đói lâu
ngày, hội chứng uree máu cao, suy vỏ thượng thận).
- Do bất thường chuyển hóa glucose trẻ sơ sinh (thiếu men thoái biến
glycogen, men tân sinh glucose).