Hồ Biểu Chánh
Hai V
Mc Lục
Thông tin ebook
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Thông tin ebook
Tên truyn : Hai V
Tác giả : Hồ Biểu Chánh
Nguồn : http://vnthuquan.net
Convert : Bùi Xuân Huy (santseiya_TVE)
Ngày hn thành : 19/03/2007
Nơi hoàn thành : Hà Nội
Chương 1
Gần đây, một khách giang hồ trót my mươi năm bôn ba gic khắp non sông, tình cờ tr lại nguồn
Khổng Tước, nhìn cảnh cũ, nh người xưa bỗng cảm hng nên ngâm một bài thi tht ngôn bát cú, tả
phong cảnh Gò Công có haiu trạng như vầy:
Sơn Qui phưởng phất hồn văn vật
Vàm Láng ồ ào sóng cạnh tranh.
Chắc có nhiều anh ch em bốn phương chưa biết Sơn Qui là cái gì đâu.
Sơn Qui là một giồng cát trong tnh Gò Công.
Vùng Gò Công nằm dựa mé biển, nên thấp thỏi nh lầy, nhưngmấy cái giồng cát nổi lên ngang dọc,
giữa những cánh đồng ruộng vui vẻ, với màu lúa hết xanh rồi vàng, bằng thng một mực dầu phía trên
hay phía dưới.
Những giồng Tháp, giồng Tre, giồng Nâu, giồng Cát, giồng Găng, giồng Trôm, giồng Ông Huê, giồng
Sơn Qui, giồng nào cũng có trải qua những giai đoạn thăng trầm, ng được thế cuộc ghi dấu lch sử
hoặc hùng hào, hoặc xán lạn.
Giồng n Qui là trung tâm khai hóa trong vùng Khổng Tước, nguyên là i lò nung đúc nhân tài để
giúp chúa Nguyễn trung hưng hồi cuối thế k 18.
Thiệt như vậy, giồng Sơn Qui đầu trong ti mé sông Gò Công, còn đầu ngoài đụng con đưng quan
lGò Công lên ChLn. Hiện gi du khách đến đó thì thy dân cư thưa thớt, nhà cửa xơ rơ, ch còn
ph thvới my ngôi mcủa quí tộc Phạm Đăng, là ngọai thích của vua Tự Đức, vẫn khư khư chống
chỏi mà chu đựng với tuế nguyệt, ch nhng rẫy cải xanh tươi, nhng đám bắp ngon ngọt, là những
nguồn li ca người trong giồng, thì không còn nữa.
Nhìn cảnh n Qui suy sp y gi, ai cũng phải chạnh lòng nh nhơn vật vẻ vang ca n Qui ngày
trước.
Hồi giữa thế k 19, sau khi Triu chúa Nguyễn Huế đưc nắm ch quyn thống trị cả vùng đất Việt
Nam nầy thì phân ranh chia mấy trấn, mỗi trn chia mấy đạo, rồi đặt quan cai tr, cho nhân dân t
Quảngnh tr vô được đem gia quyến đến khai lp nghiệp.
Vùng Gò Công hồi đó gọi là Kiến Hòa đạo thuộc về trấn Định Tường, là M Tho bây gi.
C Phạm Đăng Xương một nhà học uyên thâm, gốc Hương Trà thuộc vùng Huế bây gi, ch gia
quyến vào Nam, chọn giồng n Qui trong đạo Kiến Hòa làm chđịnh cư. C đốt cây cất nhà qui
dân về chung quanh c. Đin địa phì nhiêu, trên giồng cải rau bắp đậu thnào cũng dễ trồng, i
ruộng thì lúa cấy đám nào đám ny ng xanh tốt. Nhơn dân thấy vậy bèn t tập về đó làm ăn, gây
cho Sơn Qui một thời phong phú thạnhng.
C Phạm Đăng Xương thấy vậy mi mtrường dạy học. Người gần kxa hay việc ấy thì lần lượt đến
xin thgiáo, đạo học của cụ Phạm vừa uyên thâm vừa hoạt t, nên môn đệ ca cụ ngưi nào ng
nên danh. Thu ấy người ta kính mến cụ nên kẻ ln người nhỏ đều gọi cụ là “Kiến Hòa Tiên Sanh.
Chừng qua đời, con của c là Phạm Đặng Long nối nghiệp mà dạy học.
Thinh danh Kiến Hòa Tiên Sanhng lng lẫy hơn đời tc bởi cụ Phạm Đặng Long đào tạo
môn đệ được nhiều người rất hiển đạt, như ba c Võ Văn Lượng, Nguyễn Văn Hiếu, Mạc Văn Tô. Khi
cụ Hi Quốc Công Võ Tánh đến giồng Tre chiêu binh khi nghĩa, ba cụ ra giúp làm phó tướng đắc
lực, sau giúp chúa Nguyễn lp được đại công.
C Nguyễn Hoài Qunh thi đậu khóa Tân Hợi (1791) m đầu tại Gia Đnh ng là môn đệ của cụ
Phạm Đặng Long, sau làm quan lên ti những chức NghAn Hiệp trấn, Thanh Hóa Hip trấn, Thanh
Hóa điện phu đạo, Bắc Thành Binh Tào chừng mất được tặng Chánh Trị Khanh.
Mà công ln hơn hết ca c Phạm Đặng Long là công cụ dạy ngưi con của cụ, là cụ Phm Đăng
Hưng, khóa Bính Thìn (1796) thi đậu th khoa, đưc sung vào bộ Tham mưu chúa Nguyễn Ánh, luôn
luôn theo chúa ra chinh pht đàng ngoài.
Cuộc đại định đã xong, chúa Nguyễn Ánh lên ngôi cữu ngũ xưng hiu Gia Long, thì cụ Phạm Đăng
Hưng làm đại thn tại Triều đình Huế. Đến năm 1813 c được thăng chức Thượng Thơ Bộ Lễ, c
ngồi địa vịy luôn cho ti khi c tht lộc, là năm 1825, về đời vua Minh Mạng.
Năm 1824 vua Minh Mạng đã có nạp con gái của cụ o tim để làm vợ Đông cung Thái tử. Năm
1841, Đông cung lên ngôi xưng hiệu là Thiệu Trị, thì con gái c Phm Đăng Hưng lên ngôi Hoàng
Hu.
Năm 1847 vua Thiệu Trị băng, Hoàng thái tnối ngôi xưng hiu Tự Đc, mi phong cho mlà con
của c Phạm Đăng Hưng, chc Từ Dũ Hng thái hu.
Vua Tự Đức li truy phong:
1. C Phạm Đăng Hưng tước Đc quốc công
2. C Phạm Long tước Phước An Hầu
3. C Phạm Đăng Xương tưc Bình Thành
4. C Phạm Đăng Thiên tước M Khánh Tử
5. C Phạm Đăng Khoa tước Trung Thuận, Đi phu
Ph th lập ti giồng n Qui là lp để th 5 vị nầy, 11 ngôi mcủa Phạm Tộc nằm phía sau ph
th.
y vậy hồi thế k 19 giồng n Qui nổi danh hưng thnh là nh văn học uyên thâm ca Phạm tộc,
ng như giồng Tre nm gn đó nổi danh là nh tài oanh liệt của c Hoài Quốc Công Võ Tánh; ngày
nay tại đó vẫn còn đền th.
Nh hai trưng hp đó, sau còn nh cụ Tơng Công Định ẩn núp theo mấy giồng mà kháng chiến với
binh đội Pháp khi nước Pháp mi chiếm trị vùng Công, nên Công mới được tiếng “Đa linh
nhơn kit".
Người nh đất mà kiệt?
Hay là đất nhờ người mà linh?
Hai vấn đề ấy ai muốn phân gii thế nào tùy ý.
Từ khi cụ Phạm Đăng Hưng thi đậu đi làm quan, thì cụ Phạm Đăng Long một là già yếu, hai là
thy loạn Tây n ép buộc hng thanh niên cường tráng ai ng phải lo giúp nước dẹp loạn, không th
ngồi yên mà học được nữa, nên c thôi dạy đạo học, để cho môn đệ trong giồng dạy trem đồng ấu
lần lần vậy thôi.
Đến na thế k 19, ông Phm Chí Hiền, nhà giồng Sơn Qui thuộc miêu ducủa Phạm Tộc ngày
trước, ông m trường dạy đạo học lại, ý muốn kế chí cho tiền nhơn. Môn đệ gn xa đến xin thgiáo
với ông được vài chc ngưi, cả thảy đều mn cán, quyết đi đưng khoa cử.
Trong đám môn đệ này, ông Phạm Chí Hiền nhn thy có cậu Lê Hữu Hào, gốc ở xóm Tre, học lc trội
hơn hết. Ông đặt hy vọng vào tài học của cậu, tin chắc khoa thi sắp ti cậu sẽ gi bước thang mây.
Nào đến đầu năm Tự Đức th 12 là năm 1859, thầy tlại nghe tin binh thuyền Pháp quốc vào cửa
Cần Gi bắn phá những pháo đài của Việt Nam đóng dài theo mé sông, dưng như muốn quyết ý muốn
tiến vào mà đánh thành Gia Đnh.
Nghe tin y ông Phạm Chí Hiền n luận với môn đệ; thy trò đều không an trong lòng. vài cậu
nóng ny xin đi nghe tin tức.
Cách ít ngày t của quan Tổng Đốc Gia Định gi ti Công lúc đó gọi là Huyện Tân Hòa, cho
hay quân đội Pháp đã chiếm thành Gia Đnh khuyên nhân dânng tráng hãy đến tnh xin đầu quân
mà tiêu trừ gic ngoại xâm.
Thầy buồn rầu về nạn nước, trò bối rối về phận làm trai, thầy trò bàn tính với nhau mi định đóng cửa
trường, ai về nhà ny, đặng lo sắp đặt việc nhà rồi ra hiến thân cứu nước.