intTypePromotion=3

Hệ thống bài đọc trong giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài (trình độ A) hiện có ở Việt Nam

Chia sẻ: NN NN | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
757
lượt xem
85
download

Hệ thống bài đọc trong giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài (trình độ A) hiện có ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết trình bày kết quả của quá trình khảo sát, điều tra, tìm hiểu hệ thống bài đọc trong giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài (trình độ A) hiện có ở Việt Nam. Kết quả khảo sát bài đọc trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài trình độ A hiện có ở Việt Nam chính là cơ sở quan trọng giúp cho việc đánh giá, phân loại và phục vụ đắc lực cho công tác biên soạn giáo trình. Mời các bạn tham khảo tài liệu chi tiết hơn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hệ thống bài đọc trong giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài (trình độ A) hiện có ở Việt Nam

  1. Số 8 (238)-2015 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG 53 tương lai chúng ta sẽ có động từ chuyển loại Đông Nam Á, Nxb KHXH, Hà Nội, tr. 141- ear với nghĩa là nghe? 144. NGUỒN DẪN LIỆU 6. Hồ Lê (2003), Cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội. (1): http://www.urbandictionary.com 7. Lê Quang Thiêm (2008), Ngữ nghĩa học, (2): http://www.oxforddictionaries.com Nxb Giáo dục. (3): http://www.thefreedictionary.com Tiếng Anh: (4): http://www.merriam-webster.com 8. Antrushina G.B., Afanasyeva O.V., Morozov N.N. (1985), English lexicology. (5): http://dictionary.cambridge.org Moscow: Vuxaia Skola (6): http://www.learnersdictionary.com 9. Bruce I. (1998), The role of "sense" in (7): http://dictionary.reference.com gottlob frege's theory of meaning. An essay. (8): Webster's Revised Unabridged Dictionary University of New England, NSW, Australia. (9): The Dog Who Looked at Heaven: Stories 10. Bybee J. (1985), Morphology. of Rescued and Adopted Pets, Shelly Dennis- Amsterdam: Benjamins. Orr 11. Dang Tran Cuong (2001), Lectures on (10): http://www.yourdictionary.com English lexicology. Unpublished. TÀI LIỆU THAM KHẢO 12. Greeraerts D. (2010), Theories of Tiếng Việt: lexical semantics. Oxford University Press. 13. Hoang Tat Truong (1993), Basic 1. Đỗ Hữu Châu (1997), Các bình diện của English lexicology. Hanoi: Vietnam National từ và từ tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà University Larson, M. L. (1998), Meaning- Nội. based translation. New York: University Press 2. Đỗ Hữu Châu (1996), Từ vựng ngữ nghĩa of America. tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 14. Lipka L. (1992), An outline of English 3. Lê Biên (1995), Từ loại tiếng Việt hiện lexicology. Max Niemeyer Verlag Tubingen. đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 15. Nguyen Hoa (2004), Understanding 4. Hoàng Văn Hành, Hà Quang Năng, English semantics. Hanoi: VNU Publishing Nguyễn Văn Khang (1998), Từ tiếng Việt. Nxb House. KHXH. 16. Plag I. (2002), Word formation in 5. Hà Quang Năng (1998), Đặc trưng ngữ English. Cambridge: Cambridge University nghĩa của hiện tượng chuyển loại các đơn vị từ Press. vựng tiếng Việt, Tiếng Việt và các ngôn ngữ NGOẠI NGỮ VỚI BẢN NGỮ HỆ THỐNG BÀI ĐỌC TRONG GIÁO TRÌNH DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI (TRÌNH ĐỘ A) HIỆN CÓ Ở VIỆT NAM RESEARCHING THE READING TEXTS IN THE TEXTBOOKS OF TEACHING VIETNAMESE LANGUAGE FOR FOREIGNERS (LEVEL A) CURRENTLY EXISTING IN VIETNAM LÊ THANH HƯƠNG (Ths; Viện Ngôn ngữ học) Abstract: The current paper is carried out on the base of studying and analyzing reading texts in the textbooks of teaching Vietnamese Language for foreigners (Level A) currently existing in Vietnam. The paper covers a number of new contents. The surveying results make significant
  2. 54 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG Số 8 (238)-2015 contributions to both the researching purpose and mission of the paper. The researching results in terms of both form and contents summarized from the reading texts in the textbooks of teaching Vietnamese Language at Level A at the time being is the latest findings and have significant importance in recommending accurate and persuasive suggestions for the purpose of the best editing work on the reading texts in the textbooks of teaching Vietnamese Language for foreigners. Key words: researching the reading texts; textbooks; teaching Vietnamese. 1. Dẫn nhập như: du lịch, kinh doanh, nghiên cứu,... Vì 1.2. Hiện nay, giáo trình dạy tiếng Việt cho vậy, phần lớn trong số họ ít nhất đã 18 tuổi trở người nước ngoài đã được đầu tư công phu lên. Với thực tế như vậy, cách dùng tập đọc hơn. Các nội dung chính về ngữ âm, từ vựng dường như không phù hợp, trong khi cách và ngữ pháp cũng được lựa chọn và biên soạn dùng đọc lại có vẻ hơi hụt hẫng, bài đọc cơ tốt hơn. Các kĩ năng cơ bản như nghe, nói, bản lại hơi dài. Bài đọc không những được đọc, viết cũng được chú ý bổ sung và điều nhiều giáo trình lựa chọn mà còn thể hiện chỉnh sao cho đạt được hiệu quả tốt nhất với được sự khoa học, phù hợp với mọi lứa tuổi, người học. Với tâm lí học để có thể giao tiếp với cả người dạy và người học. Như vậy, và ứng dụng một cách hiệu quả vào thực thế, chúng tôi cho rằng bài đọc là sự lựa chọn tốt yêu cầu của người học đối với người dạy và nhất hiện nay đối với việc gọi tên phần đọc đối với hệ thống giáo trình cũng ngày một cao hiểu trong giáo trình dạy tiếng Việt cho người hơn. Đáp ứng một phần những đòi hỏi chính nước ngoài. đáng của người học, chúng tôi đã vào cuộc Thứ hai, về trình tự giới thiệu bài đọc: tiến hành khảo sát, điều tra, tìm hiểu những Trình tự giới thiệu bài đọc cũng giống cách nguyện vọng thiết thực của người nước ngoài gọi tên phần bài đọc, vẫn chưa có sự thống học tiếng Việt. nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đồng ý với sự lựa 1.2. Tư liệu khảo sát gồm 12 cuốn (xem chọn của đa số các giáo trình. Trình tự giới Tư liệu khảo sát; được đánh số kí hiệu từ S1 thiệu bài đọc nêu ở sau phần luyện tập và đên S12). trước phần bài tập là hợp lí. Trước hết, luyện 2. Kết quả khảo sát tập là phần bài tập luyện các cấu trúc ngữ pháp 2.1. Về hình thức của bài đọc của phần chú giải ngữ pháp. Luyện tập là nội Chúng tôi khảo sát 14 giáo trình (trình độ dung đánh dấu sự kết thúc của phần chú giải A) nhưng chỉ có 12 giáo trình có biên soạn bài ngữ pháp. Bài tập là hình thức làm các bài tập đọc. Theo ý kiến của chúng tôi, các giáo trình luyện kiến thức chung cho cả bài học. Như không chỉ nên biên soạn bài đọc mà còn cần vậy, sau phần luyện tập, người học đã cơ bản phải đầu tư nhiều hơn nữa đối với nội dung nắm được toàn bộ cấu trúc của bài học. Bài này. Bài đọc không chỉ giúp người học rèn đọc giống như một dạng luyện tập về ngữ luyện và mở mang kiến thức mà còn là cầu nối pháp và từ vựng nhưng dưới hình thức đọc quan trọng giúp người học hiểu hơn về cuộc hiểu, đọc và cảm nhận văn bản. Vì vậy, bài sống, văn hóa và con người Việt Nam. đọc không phù hợp để kết thúc bài học. Phần Thứ nhất, về cách gọi tên bài đọc: Cách bài tập về nhà mới là nội dung kết thúc bài gọi tên bài đọc được sử dụng nhiều nhất, học. Với lí do đó, nếu xếp bài đọc vào phần chiếm 7/12 giáo trình, các cách gọi tên còn lại cuối cùng của bài học như S10 là chưa phù như: bài đọc cơ bản, tập đọc, đọc chỉ có từ 1 hợp. Chúng tôi cũng không đồng ý với cách đến 2 giáo trình sử dụng. Chúng tôi cho rằng sắp xếp bài đọc ở đồng thời hai vị trí như S11 sử dụng thuật ngữ bài đọc là hợp lí hơn cả. đã lựa chọn. Với S5 và S8 cũng như vậy. Người nước ngoài học tiếng Việt tại Việt Nam Trong khi S5 nêu phần bài tập trước chú giải đa số đều có khả năng sống tự lập. Họ học ngữ pháp, thì S8 lại nêu bài đọc trước bài tiếng Việt phục vụ nhiều mục đích khác nhau nghe. Việc phân bố bài đọc như vậy không
  3. Số 8 (238)-2015 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG 55 nhất quán, thiếu hợp lí và không phù hợp với phong tục, lễ tết, văn hóa cổ truyền (9 giáo nội dung của bài học. trình), thời gian (8 giáo trình), các mùa và Thứ ba, về độ dài của bài đọc : Độ dài của thời tiết (8 giáo trình), năm sinh, quê quán, bài đọc được chúng tôi phân thành 3 cấp độ chỗ ở hiện tại (8 giáo trình), nhật kí, tâm sự (8 như sau: Bài đọc dưới 100 chữ; bài đọc từ 100 - 200 chữ và bài đọc trên 200 chữ. Bài đọc giáo trình). dưới 100 chữ và bài đọc trên 200 chữ được sử Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát chủ đề dụng ở mức độ vừa phải và được phân bố hợp của bài học và có kết quả như sau: chủ đề của lí ở đầu và ở cuối giáo trình. Bài đọc từ 100 - bài học được nhiều giáo trình lựa chọn sử 200 chữ chiếm số lượng nhiều nhất và chủ yếu dụng gồm: ăn uống (12 giáo trình), chào hỏi được phân bố ở giữa giáo trình (giữa bài đọc (12 giáo trình), thời gian (12 giáo trình), năm dưới 100 chữ và bài đọc trên 200 chữ). Kết sinh (11 giáo trình), các mùa và thời tiết (10 quả khảo sát và sự phân bố độ dài của bài đọc giáo trình), giao thông và phương tiện đi lại, như vậy là khoa học và phù hợp với trình độ A mua bán, gia đình (9 giáo trình), làm quen (9 của người học. giáo trình). Kết quả khảo sát cho thấy chủ đề 2.2. Về nội dung của bài đọc của bài đọc được nhiều giáo trình lựa chọn gần 2.2.1. Chủ đề của bài đọc tương ứng với chủ đề của bài học trong mỗi giáo trình. Chúng ta có tới 7/9 chủ đề được a) Tên đầu đề của bài đọc: Trong quá trình nhiều giáo trình lựa chọn sử dụng là trùng khảo sát, chúng tôi nhận thấy, chỉ 1 giáo trình nhau. Các chủ đề không trùng nhau về phía S9 là không có tên đầu đề của mỗi bài đọc. Có chủ đề của bài học gồm giao thông và phương 3 giáo trình S2, S3 và S8 là không thống nhất, tiện đi lại, mua bán, về phía chủ đề của bài lúc có lúc lại không có tên đầu đề trong mỗi đọc gồm du lịch, danh lam thắng cảnh, phong bài đọc. Còn lại 8 giáo trình đều nhất quán có tục, lễ tết, văn hóa cổ truyền. Đối với chủ đề tên đầu đề của mỗi bài đọc. Chúng tôi cho của bài học đều là những chủ đề có xu hướng rằng mỗi bài đọc nên có tên đầu đề nhằm giới tạo thành các cuộc thoại trong giao tiếp đời sống hàng ngày. Vì vậy, chúng thường xuất thiệu cho người học biết nội dung kiến thức hiện trong phần hội thoại của bài học. Xét ở mà bài đọc sẽ cung cấp cho họ. Như vậy, tên một góc độ khác, nội dung chủ đề của bài học đầu đề của mỗi bài đọc không chỉ mang đến được sử dụng chỉ như một phương tiện để thực cảm hứng mới cho người học, mà quan trọng hiện một nội dung khác trong bài đọc và hơn là nó giúp người học tiếp cận bài đọc một ngược lại. Chẳng hạn, chủ đề giao thông và cách tốt nhất, giúp người học hình dung và phương tiện đi lại có mặt trong chủ đề du lịch, cảm nhận bài đọc mà chưa cần phải học qua từ danh lam thắng cảnh. Chủ đề mua bán có mặt trong phong tục, lễ tết, văn hóa cổ truyền. Đối mới hay cấu trúc cú pháp. Có thể nói tên đầu với các chủ đề được sử dụng nhiều trong bài đề của bài đọc là những gợi ý thiết thực đầu học và bài đọc cũng như đối với các chủ đề tiên mở đầu cho bài mới, giúp người học có khác trong giáo trình, các chủ đề có xu hướng thể tiếp thu một cách có hiệu quả nhất những lồng vào nhau để cùng thực hiện một nhiệm vụ kiến thức mà người dạy muốn truyền đạt sau chung là tạo sự đầy đủ, lôi cuốn và hấp dẫn đó. cho người học. b) Chủ đề của bài đọc: Chủ đề của bài đọc Chủ đề của bài đọc ít được lựa chọn gồm: được nhiều giáo trình lựa chọn bao gồm: giới Giáo dục ngôn ngữ, bưu điện, làng quê, đi công tác, kí túc xá, đặc sản, mời mọc, bạn bè, thiệu, làm quen (12 giáo trình), du lịch, danh màu sắc, sự tích, nhà cửa, bệnh viện, thư viện, lam thắng cảnh (10 giáo trình), gia đình (9 số đếm, quảng cáo, phim truyện. Những chủ giáo trình), nhà hàng, món ăn (9 giáo trình), đề trên chỉ được sử dụng từ 1 đến 2 lần trong
  4. 56 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG Số 8 (238)-2015 tổng số 12 giáo trình. Các chủ đề trên thường Bảng 1: Khảo sát số lượng câu đơn và câu chỉ được nhắc đến trong bài đọc, tức là nằm ghép trong bài đọc trong một chủ đề nào đó. Nhưng để đi sâu Tên sách Tổng số thành một chủ đề riêng thì ít giáo trình lựa (kí hiệu) bài đọc câu đơn câu ghép chọn. Xét các chủ đề trên, chúng tôi cho rằng S1 38 1434 4 chúng không phải khó hiểu, cũng không phải S2 27 594 6 S3 38 568 26 ít được nhắc đến trong đời sống hàng ngày. S4 12 179 2 Vậy, lí do gì khiến chúng ít được lựa chọn S5 18 343 15 thành một chủ đề trong bài đọc? S6 72 792 26 Chúng tôi cũng chưa tìm thấy tài liệu nào S7 14 184 13 khảo sát về việc người nước ngoài học tiếng S8 29 283 7 Việt thích học về chủ đề nào. Bài đọc có thể S9 20 257 32 được giảng dạy trong sách, cũng có thể do S10 20 132 2 người dạy cung cấp hoặc chính người học S11 45 406 18 cung cấp theo chủ đề mà mình có hứng thú. S12 27 268 12 Tuy nhiên, sự định hướng của các giáo trình, Tổng 360 5440 163 theo chúng tôi là một nội dung quan trọng Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận không thể thiếu. Vì vậy, trước sự chưa thống thấy sự khác nhau rất rõ giữa thời điểm bắt nhất về chủ đề của bài đọc, chúng tôi thiết đầu giới thiệu cấu trúc câu ghép trong phần nghĩ cần phải có một cuộc khảo sát về nguyện giải thích ngữ pháp và thời điểm bắt đầu giới vọng của người nước ngoài học tiếng Việt đối thiệu câu ghép trong bài đọc. Sự khác nhau với chủ đề của bài đọc cũng như chủ đề của này được thể hiện cụ thể trong bảng khảo sát bài học trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho sau: người nước ngoài. Bảng 2: Khảo sát thời điểm bắt đầu giới 2.2.2. Từ mới trong bài đọc thiệu mẫu câu ghép trong các giáo trình Tên sách Thời điểm bắt đầu Thời điểm bắt Theo kết quả khảo sát, giáo trình có cung (kí hiệu) giới thiệu cấu trúc đầu giới thiệu cấp từ mới chiếm số lượng lớn gấp đôi so với câu ghép trong câu ghép trong giáo trình không cung cấp từ mới. Chúng tôi giải thích ngữ bài đọc cho rằng, bài đọc ngoài cung cấp các thông tin pháp về ngữ pháp còn là một kênh thông tin quan S1 Bài 15 Bài 2 trọng cung cấp các nội dung phản ánh tri thức, S2 Bài 15 Bài 2 văn hóa, phong tục tập quán,... và con người S3 Bài 19 Bài 3 Việt Nam. Vì vậy, nội dung bài đọc thường có S4 Bài 13 Bài 13 S5 Bài 15 Bài 7 nhiều nội dung mới đòi hỏi sự tìm tòi và suy S6 Bài 11 Bài 15 nghĩ của người học. Chính vì vậy, cung cấp từ S7 Bài 10 Bài 8 mới là một nội dung không thể thiếu để người S8 Bài 22 Bài 4 học có thể nhanh chóng nắm bắt được nội S9 Bài 12 Bài 6 dung và tinh thần của bài đọc. S10 Bài 14 Bài 19 2.2.3. Số lượng câu trong bài đọc S11 Bài 19 Bài 7 Kết quả khảo sát cho thấy trong 360 bài S12 Bài 21 Bài 9 đọc, có tới 5440 câu đơn và chỉ có 163 câu Xét thời điểm bắt đầu giới thiệu mẫu câu ghép. Như vậy, tỉ lệ câu đơn nhiều gấp 33.37 ghép trong phần giải thích ngữ pháp, sớm nhất lần câu ghép. Và, trung bình trong hơn 2 (2.2) là giáo trình S7 bắt đầu với bài 10. Như vậy, ít bài đọc mới thấy xuất hiện 1 câu ghép, trong nhất trong khoảng 10 bài đầu tiên, các giáo khi câu đơn có độ phủ sóng gần như toàn bộ trình sẽ cung cấp chủ yếu là các mẫu câu đơn văn bản. Có thể hình dung bằng bảng dưới và sớm nhất từ bài 10 trở đi mới bắt đầu giới đây: thiệu cấu trúc mẫu câu ghép. Điều này là hoàn
  5. Số 8 (238)-2015 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG 57 toàn phù hợp với quy tắc đi từ đơn giản đến sự thay đổi trên là theo hướng tiến bộ hơn và phức tạp của công tác biên soạn các giáo trình. hợp lí hơn trong công tác biên soạn giáo trình Tuy nhiên, sự phù hợp trong việc giới thiệu dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Bài đọc cấu trúc mẫu câu ghép lại không hài hòa với của giáo trình nên có bài tập riêng để người thực tế thời điểm bắt đầu giới thiệu câu ghép học thuận tiện hơn trong việc tập trung xử lí trong bài đọc. trực tiếp các thông tin liên quan đến nội dung Chỉ có duy nhất giáo trình S4 có thời điểm bài đọc. Như vậy, việc trình bày hợp lí bài tập giới thiệu hai mốc trên là tương ứng với nhau trong bài đọc sẽ có ý nghĩa rất nhiều đối với (đều giới thiệu trong bài 13). Giáo trình S6 và khả năng tiếp nhận kiến thức của người học. S10 có phần giới thiệu câu ghép trong bài đọc b. Số lượng bài tập trong bài đọc: Trong sau hẳn 5 bài học so với thời điểm giới thiệu tổng số 12 giáo trình, bài đọc có 1 bài tập cấu trúc mẫu câu ghép trong phần giải thích chiếm số lượng lớn nhất gồm 145 bài đọc. Bài ngữ pháp trong bài học. Các giáo trình còn lại đọc có 2 bài tập đứng thứ hai với 122 bài. Bài gồm S1, S2, S3, S5, S7, S8, S9, S11, S12 có đọc có 3 bài tập và bài đọc không có bài tập có thời điểm giới thiệu câu ghép trong bài đọc số lượng gần ngang nhau tương ứng là 35 bài trước rất nhiều so với thời điểm giới thiệu cấu và 37 bài. Bài đọc có 5 bài tập chỉ có 6 bài. Bài đọc có 6 bài tập chỉ có duy nhất 1 bài đọc trúc câu ghép trong phần giải thích ngữ pháp. (thuộc S2). Bài đọc có 1 bài tập và bài đọc có Theo ý kiến của chúng tôi, việc giới thiệu 2 bài tập có số lượng lớn nhất và nhiều hơn cấu trúc mẫu câu ghép và việc vận dụng mẫu hẳn. câu ghép vào trong bài đọc cần phải tương ứng Bài tập trong bài đọc nếu chỉ có duy nhất 1 với nhau. Việc làm này không những tạo được bài theo dạng trả lời câu hỏi thì hơi ít và không sự logic và khoa học cho giáo trình mà còn đa dạng. Bài đọc có 2 bài tập là tương đối phù giúp người học vận dụng được kiến thức đã hợp. Chúng ta biết rằng trả lời câu hỏi là bài học một cách hiệu quả. tập thông dụng nhất của bài đọc. Tuy nhiên, 2.2.4. Bài tập trong bài đọc chúng tôi cũng đề xuất thêm bài tập dựa vào a.Vị trí của bài tập: Theo kết quả khảo sát, nội dung bài đọc chọn từ điền vào chỗ trống bài đọc có bài tập riêng chiếm số lượng lớn hoặc điền từ thích hợp vào chỗ trống. Vì đây gấp đôi so với bài đọc không có bài tập riêng. là dạng bài có thể kích thích sự ham học hỏi Nếu như bài đọc không có bài tập riêng thì bài của người học. Để có đáp án đúng buộc người tập của bài đọc sẽ được soạn chung với phần học phải nắm được nội dung thông tin của bài luyện tập cuối bài. Kết quả khảo sát cho thấy, đọc. Hơn nữa, người học có thể nhận biết đáp giáo trình có bài đọc có bài tập chung với phần án chính xác thông qua sự so sánh với các đáp luyện tập cuối bài gồm S1, S2, S3 và S6. Các án còn lại. Điều này sẽ làm tăng khả năng tư giáo trình này hầu hết được biên soạn từ rất duy cũng như nâng cao kiến thức cho người lâu, điển hình như S1 (1980), S2 (1985), S3 học. (1992), riêng chỉ có S6 được biên soạn năm Chúng tôi cho rằng đối với giáo trình trình 2005. Như vậy, các giáo trình có bài đọc có độ A thì việc từ 2 đến 3 bài đầu tiên không bài tập riêng có thời gian biên soạn từ 2004 trở biên soạn bài tập cũng dễ hiểu. Ngược lại, bài lại đây. đọc biên soạn quá nhiều bài tập như S1 và S2 Có thể nói, khoảng 10 năm trở lại đây, cách có tới 4, 5 hay 6 bài tập thì lại được coi là quá biên soạn bài tập trong bài đọc đã có nhiều nhiều và quá sức của người học trình độ A. thay đổi. Bài đọc đã có bài tập riêng, không Chính vì vậy, việc đưa ra một lượng bài tập còn để chung với bài luyện tập cuối bài học vừa đủ và thống nhất là một yêu cầu bắt buộc trong mỗi giáo trình. Tuy mỗi giáo trình có đối với các giáo trình dạy tiếng Việt cho người cách biên soạn riêng và có mục đích biên soạn nước ngoài. Hơn nữa, các dạng bài tập được riêng, nhưng chúng tôi vẫn mạnh dạn cho rằng
  6. 58 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG Số 8 (238)-2015 biên soạn như thế nào cũng đang là một vấn đề S8 30% 70% cần được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. S11 32.5% 67.5% c. Các dạng bài tập trong bài đọc: Bài tập S12 39.2% 60.8% nói chung thường được chia thành 3 dạng như Như vậy, trong cả 3 giáo trình, bài tập trắc sau: bài tập thay thế, bài tập trắc nghiệm giả nghiệm giả thuyết luôn ít hơn so với bài tập thuyết và bài tập tạo lập. Kết quả khảo sát cho tạo lập. Tỉ lệ của cả 3 giáo trình giữa 2 dạng thấy bài đọc không có bài tập thay thế. Bài tập bài tập là tương đối đồng đều. Bài tập trắc trắc nghiệm giả thuyết chỉ có 3 giáo trình lựa nghiệm giả thuyết chiếm từ 30% đến 39% chọn gồm S8, S11 và S12. Trong khi đó, bài trong khi bài tập tạo lập chiếm từ 60% đến tập tạo lập được tất cả các giáo trình lựa chọn. 70%. Ngoài 3 giáo trình có phần bài tập của bài đọc Theo ý kiến của chúng tôi, bài tập tạo lập là theo dạng trắc nghiệm giả thuyết thì các giáo một dạng bài tập không thể thiếu đối với bài trình còn lại có phần bài tập tạo lập tương ứng tập của bài đọc. Tuy nhiên, nếu chỉ như vậy thì với số lượng bài tập của bài đọc trong giáo sẽ gò bó và đơn điệu. Bài tập thay thế không trình. thật phù hợp. Bài tập trắc nghiệm giả thuyết về Bài tập trắc nghiệm giả thuyết gồm S8 mặt hình thức giúp cho người học không cảm (15bài), S11 (13 bài) và S12 (20 bài). Tỉ lệ của thấy áp lực và mệt mỏi. Về mặt nội dung, nó bài tập trắc nghiệm giả thuyết so với bài tập giúp giáo viên có thể kiểm tra kiến thức mà tạo lập của 3 giáo trình trên như sau: người học thu nhận được một cách nhanh Bảng 3: Khảo sát tỉ lệ của bài tập trắc chóng và chính xác. Bài tập trắc nghiệm giả nghiệm giả thuyết so với bài tập tạo lập của 3 thuyết là một phương án hay cần được xem xét giáo trình S8, S11, S12 vận dụng trong quá trình biên soạn bài tập của Tên Bài tập phần bài đọc trong giáo trình dạy tiếng Việt sách cho người nước ngoài. (kí hiệu) trắc nghiệm giả thuyết tạo lập 2.2.5. Chủ đề văn hóa trong bài đọc Bảng 4: Khảo sát chủ đề văn hóa Việt Nam trong bài đọc STT Sách (S) 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Chủ Tổng đề văn hóa VN 1 Danh nhân X X X 3 2 Di tích lịch sử X X X X 4 3 Danh lam thắng cảnh X X X X X X X 7 4 Nghệ thuật truyền X X X X X 5 thống 5 Văn hóa cổ truyền X X X X 4 6 Văn hóa ẩm thực X X 2 7 Truyện cổ, sự tích X 1 Như vậy, có 10/12 giáo trình biên soạn bài Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận đọc có nội dung văn hóa. Hai giáo trình S4 và thấy chủ đề truyện cổ, sự tích và chủ đề danh S7 không có yếu tố văn hóa trong các bài đọc nhân đúng là có hơi khó tiếp nhận, nhưng chủ của giáo trình (Các bài đọc trong hai giáo trình đề về văn hóa ẩm thực thì không như vậy. Đây này chỉ có tính chất kể một câu chuyện hoặc là một chủ đề hay, dễ tiếp nhận. Chủ đề này kể chuyện về nhân vật). số lượng 10/12 là tưởng khó tìm kiếm những thực ra nó xuất tương đối nhiều, và chúng tôi cảm thấy tình hiện khá thường xuyên trong đời sống hàng hình như vậy là tương đối khả quan. ngày. Thông qua cách chọn thực phẩm, cách chọn gia vị, cách chế biến,... đến các món
  7. Số 8 (238)-2015 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG 59 ngon nổi tiếng đều thể hiện văn hóa ẩm thực hình ảnh đẹp của đất nước và con người Việt của người dân Việt Nam. Văn hóa ẩm thực rất Nam. dễ cảm nhận, dễ phổ biến và dễ nhớ, nhất là Có thể nói, chủ đề văn hóa Việt Nam đã đối với bạn bè quốc tế đến Việt Nam nói riêng được đề cập trong phần bài đọc của các giáo và thưởng thức văn hóa ẩm thực của Việt Nam trình trình độ A, nhưng vẫn chưa thật sự ở mọi nơi trên thế giới nói riêng. Có thể nói chuyên sâu bởi vốn từ vựng và ngữ pháp của đây là một kênh thông tin quan trọng để quảng người học chưa đủ. Với một số chủ đề được bá hình ảnh của Việt Nam với bạn bè trên đưa ra, chúng tôi cho rằng chủ đề về văn hóa khắp thế giới. Việt Nam ngoài việc giúp người học tiếp thu Các chủ đề văn hóa cổ truyền, di tích lịch kiến thức lí thuyết qua bài đọc còn cần tạo ra sử và nghệ thuật truyền thống cũng là những bài học từ thực tế. Điều này không những kích nội dung văn hóa hay có từ 4/10 - 5/10 giáo thích sự hiểu biết của người học mà còn giúp trình lựa chọn. Chủ đề văn hóa cổ truyền người học nắm vững cũng như mở mang thông thường có nội dung về các lễ tết, tục lệ. Đối tin. Đồng thời chủ đề văn hóa Việt Nam nếu với chủ đề này, người học sẽ được giới thiệu được biên soạn tốt sẽ góp phần quảng bá hình thêm về các ngày lễ tết lớn và quan trọng của ảnh của Việt Nam đến với bạn bè thế giới. Việt Nam. Chủ đề về các di tích lịch sử 3. Kết luận thường xuất hiện ở những bài cuối của giáo Kết quả khảo sát bài đọc trong các giáo trình. Đây là một chủ đề rất thú vị. Ngoài học trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tiếng Việt, người học sẽ biết thêm về lịch sử trình độ A hiện có ở Việt Nam chính là cơ sở của dân tộc Việt Nam. Chủ đề nghệ thuật quan trọng giúp cho việc đánh giá, phân loại truyền thống giới thiệu cho người học về sân và phục vụ đắc lực cho công tác biên soạn khấu truyền thống của Việt Nam như múa rối giáo trình. Kết quả khảo sát cho thấy rằng: tuy nước, đàn bầu cũng là một nội dung hay trong không thể kết luận việc dựa vào sự lựa chọn việc phát huy vẻ đẹp nghệ thuật truyền thống của phần lớn các giáo trình là đúng đắn và phù của dân tộc. hợp nhưng có thể khẳng định rằng những kết Chủ đề danh lam thắng cảnh được nhiều quả đó là dấu hiệu chung của những nhà giáo trình lựa chọn nhất. Trước hết, danh lam nghiên cứu và biên soạn giáo trình dạy tiếng thắng cảnh được hiểu là cảnh quan thiên nhiên Việt cho người nước ngoài hàng đầu ở Việt hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan Nam. Và vì những cái chung đó vẫn được duy thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị trì biên soạn trong các giáo trình mà những cái tiêu biểu, là khu vui chơi giải trí có các công riêng chưa thể thay đổi được. Vì vậy, chúng trình xây dựng của con người nhằm thỏa mãn vẫn có những giá trị sử dụng trong hiện tại và nhu cầu ngày càng cao của chính con người. có thể cả trong tương lai. Như vậy, chỉ cần nghe đến ý nghĩa của từ danh Ngoài việc căn cứ vào kết quả khảo sát để lam thắng cảnh là hẳn người học đã rất hứng đưa ra những đánh giá thực tế phục vụ cho thú. Giống như khi ta đến một đất nước mới, việc biên soạn giáo trình dạy tiếng Việt cho mặc dù học ngoại ngữ là một điều quan trọng người nước ngoài, chúng ta cần đánh giá đúng nhưng có thể đi tham quan các địa danh nổi mức vai trò của giáo trình trong từng giai đoạn tiếng ở đất nước đó thì lại càng có ý nghĩa. nhất định. Vì theo nghiên cứu của chúng tôi, Chủ đề danh lam thắng cảnh giống như một bí mỗi giáo trình đều ra đời theo từng giai đoạn, mật lớn đòi hỏi hành động khám phá, sự tìm không tập trung xuất bản ồ ạt. Vì vậy, xét ở tòi, sự hiểu biết của con người. Vì vậy, việc một thời điểm nhất định trong quá khứ, mỗi giới thiệu các chủ đề danh lam thắng cảnh giáo trình cũng đã hoàn thành tốt vai trò của trong bài đọc của các giáo trình vừa tạo được mình. hứng thú cho người học vừa có thể quảng bá
  8. 60 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG Số 8 (238)-2015 Kết quả khảo sát cũng cho thấy từng nội tiếng Việt cho người nước ngoài ở giai đoạn đầu, Tạp dung trong phần bài đọc đều cần có sự nghiên chí Ngôn ngữ, số 4, trang 8-11. cứu và khảo sát sâu hơn nữa, đặc biệt là ý 2. Mai Ngọc Chừ (2002), Dạy tiếng Việt với tư cách một ngoại ngữ, Tạp chí Ngôn ngữ, số 5, trang kiến, mong muốn và nguyện vọng của người 65-69. nước ngoài học tiếng Việt. Từ đó, công tác 3. Nguyễn Chí Hòa (2008), Nội dung và phương biên soạn sẽ tốt hơn trong việc đáp ứng được pháp dạy giảng dạy ngữ pháp tiếng Việt thực hành, nhu cầu cũng như mục tiêu của người học. Nxb ĐHQG HN. Chất lượng giáo trình vì thế cũng sẽ được nâng 4. Nguyễn Văn Huệ (2007), Vấn đề dạy ngữ pháp cao hơn. tiếng Việt cho người nước ngoài, Kỷ yếu hội thảo TƯ LIỆU KHẢO SÁT khoa học "Nghiên cứu và giảng dạy Việt Nam học S1: Giáo trình tiếng Việt cơ sở thực hành, tập 1 cho người nước ngoài", Nxb ĐHQG, trang 191-195. (1980), Nxb Đại học Tổng hợp; S1: Bộ Giáo dục 5. Nguyễn Việt Hương, Nguyễn Thanh Huyền (1985), Học tiếng Việt: Sách dành cho người nước (2004), Một số vấn đề về việc biên soạn bài đọc tiếng ngoài (tập 1), Nxb Đà Nẵng; S3: Bùi Phụng (chủ Việt cho sinh viên nước ngoài trong "Tiếng Việt và biên) (1992), Tiếng Việt cho người nước ngoài, Nxb phương pháp dạy tiếng", Kỉ yếu hội thảo khoa học, KhoA tiếng Đức ĐH Tổng hợp; S4: Mai Ngọc Chừ Nxb ĐHQG HN. (2004), Tiếng Việt cho người nước ngoài, Nxb Thế 6. Vũ Thị Thanh Hương (2008), Sử dụng các giới; S5: Nguyễn Văn Phúc (chủ biên), Đào Văn thông tin cảnh huống và tri thức nền vào dạy kĩ năng Hùng, Nguyễn Văn Chính (2004), Tiếng Việt cho đọc hiểu cho người nước ngoài học tiếng Việt, trong người nước ngoài = Vietnamese for foreigners: "Ngôn ngữ học - Một số phương diện nghiên cứu liên Chương trình cơ sở, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; ngành", Nxb KHXH. S6: Nguyễn Anh Quế (2005), Tiếng Việt cho người 7. Nguyễn Văn Khang (1997), Giáo trình tiếng nước ngoài, Nxb VHTT; S7: Nguyễn Việt Hương Việt với vấn đề giảng dạy tiếng Việt cho người nước (2006), Thực hành tiếng Việt (dành cho người nước ngoài nhìn từ góc độ giao tiếp ngôn ngữ , "Những ngoài) (quyển 1), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; S8: vấn đề cơ bản về dạy - học ngoại ngữ", Nxb ĐHQG Nhiều tác giả (2007), Quê Việt - sách dạy tiếng Việt HN. (trình độ A), Nxb Thế giới; S9: Vũ Văn Thi, Bùi Duy 8. Đặng Thái Minh, Nguyễn Văn Phổ (1996), Giải Dân, Nguyễn Hồng Ngọc (2008), Tiếng Việt cơ sở, pháp tần số trong việc soạn bài đọc tiếng Việt cho Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; S10: Phan Văn học viên nước ngoài, Ngữ học trẻ 96. Giưỡng (2009), Tiếng Việt hiện đại (Tập 1), Nxb Văn 9. Nguyễn Thiện Nam (2001), Một vài suy nghĩ về hóa Sài Gòn; S11: Đoàn Thiện Thuật (2009), Tiếng khái niệm ngữ pháp trong giáo trình tiếng Việt cho Việt A (tập 1, tập 2), Nxb Thế Giới; S12: Mai Ngọc Chừ, Trịnh Cẩm Lan (2011), Tiếng Việt cơ sở, Nxb người nước ngoài, Kỉ yếu hội thảo khoa học "Tiếng Phương Đông. Việt và văn hóa Việt Nam". TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 10. Đỗ Thanh (1997), Tiếng Việt và việc dạy tiếng 1. Mai Ngọc Chừ (2001), Quan điểm giao tiếp- Việt cho người nước ngoài, Nxb ĐHQGHN. thực tiễn trong việc viết giáo trình tiếng Việt và dạy 11. Trần Anh Thơ (1990), Lí thuyết ngôn ngữ học ứng dụng với việc dạy tiếng ở Việt Nam trước mắt và lâu dài, Tạp chí Ngôn ngữ số 3.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản