intTypePromotion=3

Hiện trạng kỹ thuật và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất tại ba trung tâm giống cá nước ngọt trọng điểm Nghệ An, Thừa thiên Huế và An Giang

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
18
lượt xem
1
download

Hiện trạng kỹ thuật và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất tại ba trung tâm giống cá nước ngọt trọng điểm Nghệ An, Thừa thiên Huế và An Giang

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghề sản xuất giống và nuôi cá nước ngọt ở nước ta đã phát triển mạnh mẽ trong nhiều năm trở lại đây với các đối tượng cá nước ngọt truyền thống, cá da trơn và cá rô phi. Nghiên cứu được thực hiện trong năm 2010 và 2011 tại 3 trung tâm sản xuất giống cá nước ngọt trọng điểm của cả nước là Nghệ An, Thừa Thiên Huế và An Giang nhằm đánh giá hiện trạng kỹ thuật và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất. Kết quả nghiên cứu cho thấy các điều kiện tự nhiên, sản xuất tại các trung tâm đáp ứng được yêu cầu của một trung tâm giống.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hiện trạng kỹ thuật và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất tại ba trung tâm giống cá nước ngọt trọng điểm Nghệ An, Thừa thiên Huế và An Giang

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 2/2014<br /> <br /> KEÁT QUAÛ NGHIEÂN CÖÙU ÑAØO TAÏO SAU ÑAÏI HOÏC<br /> <br /> HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ<br /> SẢN XUẤT TẠI BA TRUNG TÂM GIỐNG CÁ NƯỚC NGỌT<br /> TRỌNG ĐIỂM NGHỆ AN, THỪA THIÊN HUẾ VÀ AN GIANG<br /> TECHNICAL STATUS AND SOLUTIONS FOR IMPROVING PRODUCTION EFFICIENCY<br /> IN THE THREE MAJOR FRESHWATER FISH SEED PRODUCTION CENTERS<br /> IN NGHE AN, THUA THIEN HUE AND AN GIANG PROVINCES<br /> Nguyễn Trần Thọ1, Nguyễn Đình Mão2<br /> Ngày nhận bài: 08/10/2013; Ngày phản biện thông qua: 23/10/2013; Ngày duyệt đăng: 02/6/2014<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Nghề sản xuất giống và nuôi cá nước ngọt ở nước ta đã phát triển mạnh mẽ trong nhiều năm trở lại đây với các đối<br /> tượng cá nước ngọt truyền thống, cá da trơn và cá rô phi. Nghiên cứu được thực hiện trong năm 2010 và 2011 tại 3 trung<br /> tâm sản xuất giống cá nước ngọt trọng điểm của cả nước là Nghệ An, Thừa Thiên Huế và An Giang nhằm đánh giá hiện<br /> trạng kỹ thuật và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất. Kết quả nghiên cứu cho thấy các điều kiện tự nhiên,<br /> sản xuất tại các trung tâm đáp ứng được yêu cầu của một trung tâm giống cá nước ngọt quy mô lớn. Cả ba trung tâm đều<br /> lưu giữ đàn cá bố mẹ với số lượng lớn, trong đó Nghệ An có số lượng lớn nhất với 10.400 con, tiếp theo là An Giang 8.500<br /> con và Thừa Thiên Huế 7.520 con. Số lượng cá giống sản xuất được lớn nhất tại Trung tâm Giống An Giang (10,9 triệu con,<br /> 40%), tiếp theo Nghệ An (9,84 triệu con, 24,6%) và Thừa Thiên Huế (6,25 triệu con, 23,5%). Trong quá trình sản xuất, cá<br /> thường cảm nhiễm một số loại bệnh nhiễm khuẩn (5 - 16%) và ký sinh trùng (13 - 67%). Nghiên cứu cũng đề xuất một số<br /> giải pháp liên quan đến kỹ thuật, quản lý và chất lượng nguồn nhân lực nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất tại ba trung tâm.<br /> Từ khóa: cá nước ngọt, cá giống, trung tâm giống, An Giang, Nghệ An, Thừa Thiên Huế<br /> <br /> ABSTRACT<br /> The freshwater fish seed production and culture in our country has significantly developed in the recent years with<br /> traditional freshwater species, catfish and tilapia. The study was conducted between 2010 and 2011 in the three major<br /> freshwater fish seed production namely Nghe An, Thua Thien Hue and An Giang provinces in order to evaluate the technical<br /> status and put forward solutions for improving production efficiency. The results showed that natural conditions and<br /> production facilities in the three centers satisfied the requirements of the large scale seed production centers. All of the<br /> three centers maintained a great number of broodstocks, in which the center in Nghe An had the highest number at 10,400<br /> broodfishes, followed by An Giang at 8,500 and Thua Thien Hue at 7,520 broodfishes. The highest number of fingerlings<br /> produced was in An Giang center (10.9 million fingerlings, 40%), followed by Nghe An (9.84 million, 24.6%) and Thua<br /> Thien Hue (6.25 million, 23.5%). During production, fishes were commonly infected some bacterial diseases (5 - 16%) and<br /> parasites (13 - 67%). This study also put forward a number of solutions related to techniques, management and human<br /> resources in order to improve production efficiency.<br /> Keywords: freshwater fish, fingerling, seed production, An Giang, Nghe An, Thua Thien Hue<br /> <br /> 1<br /> 2<br /> <br /> Nguyễn Trần Thọ: Cao học Nuôi trồng thủy sản 2009 – Trường Đại học Nha Trang<br /> PGS.TS. Nguyễn Đình Mão: Trường Đại học Nha Trang<br /> <br /> 180 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Nước ta có tiềm năng lớn về diện tích mặt nước<br /> sử dụng cho nhiều mục đích, đặc biệt là nuôi trồng<br /> thủy sản. Theo thống kê, diện tích mặt nước có khả<br /> năng khai thác và nuôi trồng thủy sản nước ngọt<br /> của nước ta rất lớn, bao gồm ao, ruộng, mương<br /> vườn (khoảng 700.000 ha, 44% diện tích) và diện<br /> tích mặt nước lớn (340.000 ha, 30% diện tích), tập<br /> trung chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, tiếp<br /> theo là Bắc bộ và Nam Trung bộ. Khu hệ cá nước<br /> ngọt nước ta hết sức đa dạng với hơn 1.027 loài [5].<br /> Các loài cá này có thể chia thành hai nhóm cá đặc<br /> trưng cho khu hệ cá nước ngọt sông Hồng và sông<br /> Mê Kông. Trong số những loài cá này, họ cá chép có<br /> thành phần đa dạng nhất, tiếp theo là họ cá da trơn.<br /> Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản<br /> nước ngọt không ngừng gia tăng trong giai đoạn<br /> 2002 đến 2006, từ 299.209 ha và 580.369 tấn lên<br /> 4.65.000 ha và hơn 800.000 tấn [2]. Đồng bằng<br /> sông Cửu Long vẫn là vùng nuôi cá nước ngọt trọng<br /> điểm của cả nước với tổng diện tích hơn 140.000 ha<br /> năm 2008. Tùy theo đặc điểm của từng địa phương<br /> và các đối tượng nuôi có sự khác nhau nhưng tập<br /> trung chủ yếu vào nhóm cá chép, cá da trơn và rô<br /> phi [1], [3], [12].<br /> Về tình hình sản xuất giống, từ năm 1998 đến<br /> năm 2008, số lượng trại sản xuất giống và sản lượng<br /> con giống không ngừng gia tăng trên cả nước. Năm<br /> 1993 cả nước có hơn 200 cơ sở sản xuất giống với<br /> sản lượng 0,5 tỷ con, tuy nhiên đến năm 2008, con<br /> số này lần lượt là gần 1.100 trại và trên 25 tỷ con<br /> giống [2], [6], [11]. Các trại giống tập trung vào các<br /> đối tượng truyền thống, da trơn và rô phi. Nghiên<br /> cứu được thực điều tra hiện trạng sản xuất và đề<br /> xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất<br /> tại ba trung tâm giống cá nước ngọt trọng điểm tại<br /> Nghệ An, Thừa Thiên Huế và An Giang.<br /> II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> 1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu<br /> Đối tượng nghiên cứu là hiện trạng sản xuất<br /> giống tại 3 trung tâm giống thủy sản nước ngọt trọng<br /> điểm của Nghệ An, Thừa Thiên Huế và An Giang.<br /> Thời gian nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2011.<br /> 2. Phương pháp nghiên cứu<br /> Nghiên cứu được thực hiện trong năm 2010<br /> và 2011 thông qua việc điều tra hiện trạng sản xuất<br /> giống tại 3 trung tâm giống thủy sản nước ngọt<br /> trọng điểm tại Nghệ An, Thừa Thiên Huế và An<br /> Giang. Số liệu thứ cấp về tình hình sản xuất giống<br /> cá nước ngọt được thu từ các tài liệu đã công bố<br /> <br /> Số 2/2014<br /> của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở<br /> và Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các<br /> tỉnh Nghệ An, Thừa Thiên Huế và An Giang. Các<br /> số liệu còn được thu từ báo cáo tổng kết hàng năm<br /> của 3 trung tâm và các tài liệu đã công bố trước đó<br /> [7], [8], [9].<br /> Nguồn số liệu sơ cấp có được từ kết quả điều<br /> tra về hiện trạng sản xuất tại 3 trung tâm giống thủy<br /> sản nước ngọt trọng điểm ở các tỉnh Nghệ An, Thừa<br /> Thiên Huế và An Giang. Số liệu sơ cấp được thu<br /> thập thông qua phương pháp đánh giá nhanh nông<br /> thôn (RRA) và phương pháp điều tra qua phiếu<br /> (QS) [13]. Tiến hành phỏng vấn trực tiếp các cán bộ<br /> và công nhân tại 3 trung tâm giống. Những thông<br /> tin chính được thu thập gồm: quy mô, đặc điểm<br /> hệ thống công trình nuôi, chuẩn bị hệ thống nuôi,<br /> nguồn cá bố mẹ, cá giống, bệnh và biện pháp phòng<br /> trị, năng suất, sản lượng và sơ bộ đánh giá hiệu<br /> quả kinh tế. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp<br /> nhằm phát triển hoạt động sản xuất tại 3 trung tâm<br /> giống cá nước ngọt theo hướng bền vững. Các số<br /> liệu sau khi thu thập được xử lý, phân tích và trình<br /> bày bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.<br /> III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU<br /> 1. Quy mô sản xuất<br /> Quy mô sản xuất phụ thuộc vào khả năng đầu<br /> tư, trình độ nhân công, đối tượng sản xuất, thị<br /> trường tiêu thụ… Nhìn chung, nhờ được sự đầu tư<br /> khá lớn về cơ sở vật chất, cả 3 trung tâm đều thuộc<br /> loại quy mô lớn. Các trung tâm đều đạt tiêu chuẩn<br /> ngành về quy mô, diện tích và hệ thống trang thiết<br /> bị. Quy mô trung tâm giống tại Thừa Thiên Huế là<br /> lớn nhất với 12 ha, hai trung tâm còn lại có quy<br /> mô tương đương là 9,2 ha ở An Giang và 9,1 ha<br /> ở Nghệ An.<br /> 2. Hệ thống công trình<br /> Hệ thống công trình bao gồm các hạng mục<br /> như bể lọc, bể đẻ, bể ấp trứng và bể ương. Tổng<br /> thể tích bể lớn nhất tại An Giang với 877 m3 cao<br /> gần gấp đôi so với hai trung tâm giống tại Nghệ An<br /> (492 m3) và Thừa Thiên Huế (432 m3).<br /> Trong số các loại bể phục vụ sản xuất giống tại<br /> cả 3 trung tâm, bể lọc chiếm tỷ lệ lớn nhất với tỷ lệ<br /> 71%, 69% và 23% tương ứng với các trại ở Nghệ<br /> An, Thừa Thiên Huế và An Giang. Tỷ lệ thể tích bể<br /> đẻ tương ứng tại 3 trại là 4, 17 và 6%, với bể ấp<br /> trứng là 9, 3 và 15%. Trong khi đó, tỷ lệ thể tích<br /> bể ương cao nhất ở An Giang với 45%, hai trung<br /> tâm còn lại lần lượt là Nghệ An 16% và Thừa Thiên<br /> Huế 10%.<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 181<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 2/2014<br /> <br /> Bảng 1. Số lượng và thể tích một số loại bể<br /> tại 3 trung tâm giống<br /> Trung tâm<br /> Tổng thể tích<br /> <br /> Nghệ An<br /> <br /> Bể lọc (m3)<br /> Tỷ lệ (%)<br /> Bể đẻ (m3)<br /> Tỷ lệ (%)<br /> Bể ấp (m3)<br /> Tỷ lệ (%)<br /> Bể ương (m3)<br /> Tỷ lệ (%)<br /> Tổng thể tích (m3)<br /> <br /> 350<br /> 71<br /> 20<br /> 4<br /> 45<br /> 9<br /> 77<br /> 16<br /> 492<br /> <br /> Thừa<br /> Thiên<br /> Huế<br /> <br /> 300<br /> 69<br /> 75<br /> 17<br /> 12<br /> 3<br /> 45<br /> 10<br /> 432<br /> <br /> An<br /> Giang<br /> <br /> 200<br /> 23<br /> 50<br /> 6<br /> 60<br /> 15<br /> 402<br /> 45<br /> 887<br /> <br /> 3. Hệ thống ao nuôi<br /> Hệ thống ao nuôi cá bố mẹ bao gồm các ao chứa<br /> lắng, ao lưu giữ cá bố mẹ, ao nuôi vỗ, ao ương cá<br /> bột và cá giống và ao ao xử lý nước thải. Trong tổng<br /> số các ao trên, ao ương cá bột và cá giống chiếm<br /> tỷ lệ nhiều nhất với 51% ở Nghệ An, 47% ở Thừa<br /> Thiên Huế và 44% ở An Giang. Sự phân bổ diện tích<br /> các ao có sự khác biệt ở cả 3 trung tâm nghiên cứu.<br /> Tổng diện tích ao nuôi tại Nghệ An và Thừa Thiên<br /> Huế bằng nhau cùng 6,9 ha trong khi đó con số này<br /> ở An Giang là 4,4 ha. Về phân bổ chi tiết, diện tích<br /> ao chứa lắng ở An Giang chiếm tỷ lệ cao nhất với 26<br /> và 10% so với Nghệ An và Thừa Thiên Huế lần lượt<br /> là 4, 0 và 3, 8%. Tỷ lệ diện tích ao nuôi vỗ cá bố mẹ<br /> và ao ương cao nhất ở Nghệ An với 30 và 51% trong<br /> khi đó ở Thừa Thiên Huế và An Giang lần lượt là 19,<br /> 47% và 22, 44%. Với ao lưu giữ cá bố mẹ, tỷ lệ diện<br /> tích tại trung tâm giống ở Thừa Thiên Huế cao nhất<br /> với 23%, trong khi đó ở Nghệ An 15%. Điều đáng chú<br /> ý là trung tâm ở Nghệ An không có ao xử lý nước thải<br /> trong khi ở An Giang không có ao lưu giữ cá bố mẹ.<br /> Bảng 2. Số lượng và thể tích một số loại ao<br /> tại 3 trung tâm giống<br /> Tổng diện<br /> tích ao (ha)<br /> <br /> Trung tâm<br /> <br /> Ao chứa lắng<br /> Tỷ lệ %<br /> Ao xử lý nước thải<br /> Tỷ lệ %<br /> Ao lưu giữ cá bố mẹ<br /> Tỷ lệ %<br /> Ao nuôi vỗ cá bố mẹ<br /> Tỷ lệ %<br /> Ao ương cá bột và giống<br /> Tỷ lệ %<br /> Tổng diện tích ao<br /> <br /> Nghệ<br /> An<br /> <br /> Thừa<br /> Thiên<br /> Huế<br /> <br /> An<br /> Giang<br /> <br /> 0,2<br /> 4<br /> 0<br /> 0<br /> 0,8<br /> 15<br /> 1,6<br /> 30<br /> 2,7<br /> 51<br /> 6,9<br /> <br /> 0,2<br /> 3<br /> 0,5<br /> 8<br /> 1,4<br /> 23<br /> 1,2<br /> 19<br /> 2,9<br /> 47<br /> 6,9<br /> <br /> 1<br /> 26<br /> 0,4<br /> 10<br /> 0<br /> 0<br /> 0,8<br /> 20<br /> 1,72<br /> 44<br /> 4,4<br /> <br /> 182 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> Nhìn chung, cả 3 trung tâm giống đều có tổ chức<br /> chặt chẽ về nhân lực lao động, từ cán bộ quản lý, đội<br /> ngũ nghiên cứu và công nhân lao động. Trung tâm<br /> giống An Giang có số lượng lao động lớn nhất, trong<br /> đó cán bộ quản lý chiếm 28%, đội ngũ nghiên cứu<br /> chiếm 25%, công nhân chiếm tỷ lệ cao nhất (47%).<br /> Xét về trình độ chuyên môn, đây cũng là trung tâm có<br /> số lao động tốt nghiệp Đại học cao nhất (58%), số lao<br /> động tốt nghiệp hệ Cao đẳng chiếm 6%, Trung cấp<br /> chiếm 25% và công nhân kỹ thuật chiếm 11%.<br /> Trung tâm giống Nghệ An có tổng số lao động<br /> thấp hơn so với An Giang (35 người), trong đó công<br /> nhân chiếm tỷ lệ cao nhất (69%), sau đó là đội ngũ<br /> nghiên cứu (20%), tỷ lệ cán bộ quản lý là 11%. Xét<br /> về trình độ chuyên môn, số lượng người có trình<br /> độ kỹ thuật rất cao, chiếm 80% (31% đại học, 34%<br /> cao đẳng và 14% trung cấp), số công nhân kỹ thuật<br /> chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng 20%.<br /> Trung tâm giống Thừa Thiên Huế có số lao động<br /> ít nhất (19 người), trong đó tỷ lệ số người nghiên<br /> cứu và công nhân xấp xỉ 1:1 (47 và 42%), cán bộ<br /> quản lý chiếm tỷ lệ thấp nhất (11%). Xét về trình độ<br /> chuyên môn, cán bộ có trình độ đại học chiếm đa số<br /> (58%), tiếp theo là công nhân kỹ thuật (37%) và trung<br /> cấp (5%).<br /> 4. Điều kiện môi trường nuôi<br /> Các yếu tố môi trường nước tại các trung tâm<br /> sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất<br /> giống các đối tượng thủy sản. Nhìn chung, do có sự<br /> khác biệt lớn về địa lý nên các yếu tố môi trường<br /> có sự thay đổi khá lớn. Nhiệt độ thường cao hơn<br /> ở An Giang (27 - 310C) so với Thừa Thiên Huế và<br /> Nghệ An (cùng 20 - 300C). Chỉ số pH khá ổn định ở<br /> cả 3 trung tâm nghiên cứu, dao động từ 6,5 - 8,5,<br /> thường thấp hơn ở An Giang do đáy ao nhiễm phèn.<br /> Hàm lượng oxy hòa tan 3,5 - 5,5 mg O2/l và độ trong<br /> 20 - 40 cm tùy thời điểm. Nhìn chung, các yếu tố<br /> môi trường ở các trung tâm đều khá ổn định và thích<br /> hợp với tiêu chuẩn môi trường cho quá trình sản<br /> xuất giống các đối tượng cá nước ngọt [10].<br /> 5. Các đối tượng sản xuất chủ yếu<br /> Bảng 3. Các loài cá được sản xuất giống<br /> tại 3 trung tâm nghiên cứu<br /> Chỉ tiêu<br /> <br /> Trung tâm<br /> <br /> Nghệ An<br /> Thừa<br /> An Giang<br /> (n =<br /> Thiên Huế<br /> (n = 8.500)<br /> 10.400) (n = 7.520)<br /> <br /> Cá truyền thống (%)<br /> <br /> 55<br /> <br /> 84<br /> <br /> 33<br /> <br /> Cá rô phi (%)<br /> <br /> 24<br /> <br /> 16<br /> <br /> 16<br /> <br /> 6<br /> <br /> 0<br /> <br /> 51<br /> <br /> 15<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> Cá tra (%)<br /> Các loài khác (%)<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> Các đối tượng cá được sản xuất giống tại 3<br /> trung tâm nghiên cứu khá đa dạng bao gồm các loài<br /> cá nước ngọt truyền thống, cá rô phi, cá tra và các<br /> loài cá khác. Trong số này, các đối tượng cá nước<br /> ngọt truyền thống (trắm, chép, mè, trôi,...) được sản<br /> xuất phổ biến nhất, chiếm đến 84% ở trung tâm<br /> giống Thừa Thiên Huế, 55% ở Nghệ An trong khi ở<br /> An Giang chỉ chiếm 33%. Cá rô phi là đối tượng phổ<br /> biến thứ hai với 24% ở Nghệ An và cùng 16% ở hai<br /> trung tâm còn lại. Cá tra là đối tượng được sản xuất<br /> giống phổ biến nhất tại An Giang với trên 50% trong<br /> khi ở Thừa Thiên Huế không sản xuất loài cá này, ở<br /> Nghệ An chiếm 6%. Các loài cá còn lại chiếm 15%<br /> ở Nghệ An trong khi đó ở 2 trung tâm giống còn lại<br /> không sản xuất đối tượng nào khác. Về số lượng<br /> cá bố mẹ, Nghệ An hiện lưu giữ số lượng cá bố mẹ<br /> nhiều nhất với 10.400 con, tiếp theo là An Giang<br /> với 8.500 con và thấp nhất ở Thừa Thiên Huế với<br /> 7.520 con.<br /> Do điều kiện môi trường nuôi tại An Giang rất<br /> thích hợp cho sản xuất giống cá tra và nhu cầu nuôi<br /> tại đồng bằng sông Cửu Long lớn, trại giống ở đây<br /> tập trung cho việc sản xuất loài cá này. Hai trại giống<br /> ở Nghệ An và Thừa Thiên Huế thường tập trung<br /> vào các đối tượng truyền thống và cá rô phi do phù<br /> hợp với nhu cầu nuôi và điều kiện tự nhiên của địa<br /> phương. Đây đều là những đối tượng có khả năng<br /> thích ứng tốt với các yếu tố môi trường, kỹ thuật sản<br /> xuất giống đơn giản và phổ biến. Tuy nhiên, công<br /> tác quản lý đàn cá bố mẹ vẫn chưa được chú trọng,<br /> vẫn chưa sử dụng các kỹ thuật về di truyền và chọn<br /> giống thủy sản áp dụng trong quá trình quản lý đàn<br /> cá bố mẹ.<br /> 6. Sản lượng giống<br /> <br /> Hình 1. Số lượng cá bột và cá giống sản xuất được<br /> tại các trung tâm nghiên cứu<br /> <br /> Kết quả điều tra cho thấy, số lượng cá bột được<br /> sản xuất tại trại giống Nghệ An chiếm cao nhất với<br /> 40 triệu con/năm, tiếp theo là các trại An Giang 27,2<br /> và Thừa Thiên Huế 25,5 triệu con/năm. Tuy nhiên,<br /> lượng cá giống tạo ra không tương xứng với sản<br /> lượng cá bột sản xuất được. Với số lượng cá bột<br /> lớn nhất tạo ra nhưng trung tâm giống Nghệ An<br /> <br /> Số 2/2014<br /> chỉ sản xuất được 9,84 triệu con cá giống/năm<br /> (tương ứng 24,6%) thấp hơn so với trung tâm giống<br /> An Giang với 10,9 triệu con/năm (tương ứng với tỷ<br /> lệ sống 40%). Số lượng cá giống được sản xuất ra<br /> tại trung tâm giống Nghệ An đạt 6,21 triệu con/năm<br /> (tương ứng 23,5%). Sự khác biệt giữa số lượng cá<br /> bột và cá giống tạo ra là do nhiều nhân tố, trong đó,<br /> sự phù hợp về điều kiện tự nhiên, đặc biệt là nhiệt<br /> độ, trình độ lao động, chất lượng đàn cá bố mẹ,...<br /> Các yếu tố này đều thuận lợi hơn ở An Giang so với<br /> 2 trung tâm giống còn lại do đó tỷ lệ sống của cá bột<br /> lên cá giống cao hơn. Trong khi đó, hai trung tâm<br /> giống còn lại ít nhiều chịu ảnh hưởng của sự biến<br /> động nhiệt độ, đặc biệt là vào mùa đông.<br /> 7. Bệnh và biện pháp phòng trị<br /> Cả 3 trung tâm giống trên đều sử dụng một số<br /> loại hóa chất trong suốt quá trình sản xuất giống. Vôi<br /> được sử dụng phổ biến nhất, cao nhất ở An Giang<br /> với 500 - 700 kg/ha do đáy ao nhiễm phèn, lượng<br /> vôi sử dụng trong cải tạo ao ở hai trung tâm còn<br /> lại thấp hơn từ 200 - 300 kg/ha. Các loại hóa chất<br /> khác được sử dụng như CuSO4 2 - 5 ppm, formalin<br /> 200 - 350 ppm. Để phòng trị bệnh nhiễm khuẩn, các<br /> loại thuốc kháng sinh được sử dụng khá phổ biến<br /> với liều lượng rất khác nhau. Hai loại phổ biến nhất<br /> là Erythromycine và Oxytetracycline. Trong nhiều<br /> trường hợp, hiệu quả khi sử dụng các loại thuốc<br /> kháng sinh thường không cao.<br /> Bảng 4. Một số loại bệnh thường gặp<br /> trên cá nuôi tại 3 trung tâm giống<br /> Trung tâm giống<br /> Tên bệnh<br /> <br /> Nghệ An<br /> <br /> Thừa<br /> Thiên<br /> Huế<br /> <br /> An<br /> Giang<br /> <br /> Bệnh trùng<br /> bánh xe (%)<br /> <br /> 40<br /> <br /> 67<br /> <br /> 34<br /> <br /> Bệnh trùng<br /> quả dưa (%)<br /> <br /> 35<br /> <br /> 13<br /> <br /> 42<br /> <br /> Bệnh trắng da,<br /> khoang thân (%)<br /> <br /> 16<br /> <br /> 5<br /> <br /> 8<br /> <br /> Các bệnh khác (%)<br /> <br /> 9<br /> <br /> 25<br /> <br /> 16<br /> <br /> Trong quá trình sản xuất, cá tại các trung tâm<br /> giống đều cảm nhiễm một số tác nhân gây bệnh,<br /> chủ yếu là vi khuẩn và ký sinh trùng. Tỷ lệ xuất<br /> hiện các bệnh có sự khác nhau tùy từng trung tâm.<br /> Trong số này, bệnh trùng bánh xe phổ biến nhất với<br /> 67% cá cảm nhiễm ở Trung tâm giống Thừa Thiên<br /> Huế, 40% ở Trung tâm giống Nghệ An và 34% ở<br /> Trung tâm giống An Giang. Bệnh trùng quả dưa xuất<br /> hiện nhiều ở Trung tâm giống An Giang và Nghệ<br /> An (42 và 35%) trong khi đó ở Thừa Thiên Huế<br /> với 13%. Bệnh vi khuẩn gây trắng da và khoang<br /> thân xuất hiện phổ biến tại trung tâm giống Nghệ<br /> An với 16% cao gấp đôi so với hai trung tâm giống<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 183<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> còn lại. Các bệnh khác xuất hiện với tỷ lệ 9 - 16%.<br /> Trong số các bệnh này, tỷ lệ chết cao khi cá nhiễm<br /> các bệnh trùng bánh xe và trắng da, đặc biệt giai<br /> đoạn giống nhỏ.<br /> 8. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất<br /> tại 3 trung tâm giống<br /> Để nâng cao hiệu quả sản xuất tại các trung<br /> tâm giống, cần tiến hành đồng bộ các giải pháp về<br /> kỹ thuật, quản lý và chất lượng nguồn nhân lực. Một<br /> mặt, các trung tâm giống cần tăng cường đào tạo,<br /> đồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn<br /> sâu về các lĩnh vực quản lý đàn cá bố mẹ, di truyền,<br /> chọn giống và quản lý dịch bệnh. Tăng cường công<br /> tác tập huấn cho cán bộ những công nghệ và kỹ<br /> thuật tiên tiến trong nuôi trồng thủy sản.<br /> Các giải pháp về kỹ thuật nên tập trung vào<br /> việc quản lý tốt đàn cá bố mẹ, chất lượng trứng và<br /> ấu trùng. Phối hợp với các trường, viện xây dựng<br /> chương trình chọn giống và chọn lọc di truyền nhằm<br /> hạn chế hiện tượng thoái hóa giống. Tăng cường<br /> công tác lưu giữ đàn cá bố mẹ hậu bị, thay thế các<br /> cá thể chất lượng kém. Trong quá trình sản xuất,<br /> tăng cường sử dụng các chế phẩm sinh học, hạn<br /> chế sử dụng thuốc kháng sinh và hóa chất nhằm<br /> nâng cao chất lượng con giống [4].<br /> Các giải pháp về quản lý nên tập trung vào việc<br /> tiếp tục duy trì cơ chế khoán chi, sản lượng tại các<br /> trại giống nhỏ sản xuất các đối tượng cụ thể. Tăng<br /> cường đấu thầu các đề tài dự án các các cấp từ<br /> trung ương đến địa phương nhằm nâng cao năng<br /> lực nghiên cứu khoa học và giải quyết các vấn đề<br /> <br /> Số 2/2014<br /> thực tiễn đòi hỏi. Tăng cường công tác quảng bá<br /> các sản phẩm và hướng nghiên cứu của trung tâm,<br /> phối hợp với các cơ quan Nhà nước và người dân<br /> trong quá trình sản xuất. Tăng cường trao đổi và<br /> nhập công nghệ sản xuất giống từ các trường, viện<br /> nhằm nâng cao hiệu quả và đáp ứng yêu cầu sản<br /> xuất. Tăng cường áp dụng các tiêu chuẩn, quy định<br /> ngành về sản xuất và kinh doanh các đối tương thủy<br /> sản trong và ngoài nước nhằm phát triển bền vững<br /> nghề nuôi trồng thủy sản.<br /> IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ<br /> Nhìn chung, cả ba trung tâm giống cá nước<br /> ngọt đều thuộc quy mô lớn, đạt tiêu chuẩn ngành<br /> về quy mô, diện tích. Các điều kiện tự nhiên và môi<br /> trường đều thuận lợi cho hoạt động sản xuất các đối<br /> tượng thủy sản nước ngọt.<br /> Số lượng cá bố mẹ ở Trung tâm Giống Nghệ An<br /> lớn nhất (10.400 con), tiếp theo là An Giang (8.500<br /> con) và Thừa Thiên Huế (7.520 con). Số lượng cá<br /> giống sản xuất được lớn nhất tại trung tâm giống<br /> An Giang (10,9 triệu con, tương ứng với tỷ lệ sống<br /> 40%), tiếp theo Nghệ An (9,84 triệu con, 24,6%) và<br /> Thừa Thiên Huế (6,25 triệu con, 23,5%).<br /> Trong quá trình sản xuất, cá thường cảm nhiễm<br /> một số loại bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng. Tỷ<br /> lệ xuất hiện bệnh ký sinh trùng chiếm tỷ lệ lớn từ<br /> 13 - 67%, bệnh nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ thấp<br /> 5 - 16% tùy trung tâm giống.<br /> Để nâng cao hiệu quả sản xuất tại các trung<br /> tâm giống cần tiến hành đồng bộ các giải pháp về kỹ<br /> thuật, quản lý và chất lượng nguồn nhân lực.<br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> Tiếng Việt<br /> Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2008. Báo cáo tình hình thực hiện chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản năm<br /> 2008, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch năm 2009. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 12.<br /> 2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2008. Báo cáo tóm tắt tình hình thực hiện chương trình phát triển nuôi trồng thủy<br /> sản 1999 - 2008. Ban chỉ đạo thực hiện chương trình 224, 9.<br /> 3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2009. Tuyển tập Nghề cá sông Cửu Long. NXB Nông nghiệp: 101-108.<br /> 4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2009. Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến 2020. Hà Nội.<br /> 5. Bộ Thủy sản, 1993 - 2008. Nguồn lợi thủy sản Việt Nam. NXB Nông nghiệp. Hà Nội.<br /> 6. Cục Nuôi trồng thủy sản, 2008. Báo cáo tình hình thực hiện chương trình phát triển giống thủy sản theo quyết định 112/2004/<br /> QĐ-TTg.<br /> 7. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ An, 2009 - 2011. Báo cáo tình hình nuôi trồng thủy sản tỉnh Nghệ An năm<br /> 2009, 2010 và 2011.<br /> 8. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thừa Thiên Huế, 2009 - 2011. Báo cáo tình hình nuôi trồng thủy sản tỉnh Thừa Thiên<br /> Huế năm 2009, 2010 và 2011.<br /> 9. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An Giang, 2009 - 2011. Báo cáo tình hình nuôi trồng thủy sản tỉnh An Giang năm<br /> 2009, 2010 và 2011.<br /> 10. Nguyễn Đình Trung, 2004. Quản lý chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản. NXB Nông nghiệp.<br /> 11. Tổng cục Thủy sản, 2010. Báo cáo tổng hợp Dự án điều tra, đánh giá hiệu quả đầu tư các trung tâm giống Quốc gia và trung<br /> tâm giống thủy sản cấp I theo nguồn vốn chương trình 112. Viện Kinh tế và Qui hoạch thủy sản.<br /> 12. Viện Kinh tế quy hoạch, 2010. Quy hoạch nuôi trồng thủy sản đồng bằng sông Cửu Long.<br /> 1.<br /> <br /> Tiếng Anh<br /> 13. Townsley, P., 1996. Rapid rural appraisal, participatory rural appraisal and aquaculture. Fao Fisheries Technical Paper No. 358.<br /> <br /> 184 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản