intTypePromotion=4

Hiện trạng thực hành điều trị ở người mắc bệnh tăng huyết áp tại xã An Thạnh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An năm 2008

Chia sẻ: Trần Thị Hạnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
48
lượt xem
6
download

Hiện trạng thực hành điều trị ở người mắc bệnh tăng huyết áp tại xã An Thạnh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An năm 2008

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tăng huyết áp (THA) nếu không được kiểm soát sẽ gây nhiều hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, triệu chứng ban đầu lại rất mờ nhạt nên số bệnh nhận biết mình mắc bệnh còn thấp và ý thức tuân thủ điều trị bệnh thấp. Do đó, với bệnh THA cần đặt ra những vấn đề về kiến thức phòng chống và điều trị ở mức cộng đồng. Vì vậy nghiên cứu với mục đích xác định tỉ lệ thực hành điều trị dùng thuốc và không dùng thuốc của bệnh nhân THA.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hiện trạng thực hành điều trị ở người mắc bệnh tăng huyết áp tại xã An Thạnh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An năm 2008

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> HIỆN TRẠNG THỰC HÀNH ĐIỀU TRỊ Ở NGƯỜI MẮC BỆNH<br /> TĂNG HUYẾT ÁP TẠI XÃ AN THẠNH, HUYỆN BẾN LỨC,<br /> TỈNH LONG AN NĂM 2008<br /> Trần Cao Minh*, Phùng Đức Nhật* và Cs<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Đặt vấn đề: Tăng huyết áp (THA) nếu không được kiểm soát sẽ gây nhiều hậu quả nghiêm trọng. Tuy<br /> nhiên, triệu chứng ban đầu lại rất mờ nhạt nên số bệnh nhận biết mình mắc bệnh còn thấp và ý thức tuân thủ<br /> điều trị bệnh thấp. Do đó, với bệnh THA cần đặt ra những vấn đề về kiến thức phòng chống và điều trị ở mức<br /> cộng đồng.<br /> Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ thực hành điều trị dùng thuốc và không dùng thuốc của bệnh nhân<br /> THA.<br /> Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang<br /> Kết quả: Tỉ lệ thực hiện đúng điều trị THA bằng thuốc chỉ có 26,8%; thấy trong người vẫn khỏe mạnh,<br /> quên uống thuốc, huyết áp có cải thiện sau khi uống thuốc, không quan tâm đến bệnh…là các lí do ảnh hưởng<br /> đến việc thực hiện không đúng. Tỉ lệ thực hiện đúng điều trị THA không dùng thuốc lần lượt là: bỏ hút thuốc chỉ<br /> có 33% (lí do không bỏ: nghiện, buồn, giao tiếp); bỏ uống rượu/bia hoặc hạn chế ở mức điều độ chiếm 57,9% (lí do<br /> uống vượt mức cho phép: giao tiếp như đi đám, rủ rê; nghiện); thực hiện đúng chế độ ăn nhạt chiếm 60,7% (lí do<br /> không đúng: thói quen ăn mặn, ăn theo gia đình); thực hiện thể dục thể thao đúng cách chỉ có 28,4% (lí do không<br /> đúng: không có thời gian tập, sức khỏe không cho phép hoặc không thích tham gia); thực hiện cải thiện cân nặng<br /> chỉ chiếm 12%.<br /> Kết luận: Truyền thông, giáo dục người bệnh là vấn đề then chốt trong kiểm soát THA lâu dài. Nên truyền<br /> thông qua mạng lưới y tế cộng đồng và các phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình, phát thanh, báo chí, tờ<br /> rơi…). Điều quan trọng để điều trị và kiểm soát THA thành công là lôi kéo người bệnh tham gia và tạo mối quan<br /> hệ tốt giữa thầy thuốc với bệnh nhân.<br /> <br /> ABSTRACT<br /> TREATMENT OBEDIENT PRACTICE OF HYPERTENSIVES<br /> IN AN THANH VILLAGE, BEN LUC DISTRICT, LONG AN PROVINCE, IN 2008<br /> Tran Cao Minh, Phung Duc Nhat, et al<br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 12 - Supplement of No 4 - 2008: 89 – 94<br /> Background: Hypertension will cause many consequences unless controlled. Initial symptoms, however, are<br /> not also obvious so the proportion of patients identifying they are suffering from hypertension by themselves is<br /> somewhat low. Therefore, knowledge about prevention and treatment in the level of community need to be paid<br /> more attention.<br /> Objectives: to determine the proportion of hypertension patients practising drug treatment and lifestyle<br /> alterations.<br /> Method: Cross-sectional study.<br /> Result: the proportion of patients properly practising the using of drugs treatment is 26,8%. The reasons<br /> affecting proper practice involve healthy physical feeling by themselves, forget taking pills, blood pressure<br /> * Viện Vệ Sinh – Y tế Công Cộng TPHCM<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> improved after taking pills, no care for hypertension, ect. The proportion of patients not properly practising<br /> lifestyle alterations includes: 33% patients stop smoking (reasons of not quitting: addiction, sadness, for<br /> communication); 57,9% ones stop drinking alcohol or limiting in permitted level (reasons of exceeding drinking:<br /> for communication, from friends, addiction); 60,7% ones following the salt reduced practice in meals (reasons of<br /> not following: salty food eating habit, share salty food in meals of family); 28,4% ones doing appropriate physical<br /> exercises (reasons of not doing: have no time, weakness or no interest in participating); 12% ones following<br /> losing-weight regulation.<br /> Conclusion: communicating and educating patients is the important solution for controlling hypertension<br /> effectively, by means of public health network and media (television, broadcast, magazines, newspaper…). To cure<br /> and to control hypertension successfully it is essential by encouraging patients’ cooperation and creating good<br /> patient-physician relationship.<br /> cộng đồng vẫn chưa cao. Do đó, có một lượng<br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> khá lớn các bệnh nhân THA trong cộng đồng<br /> Tăng huyết áp hiện nay là một vấn đề thời<br /> không được theo dõi đầy đủ, tự ý bỏ điều trị do<br /> sự, là một gánh nặng cho Y tế Công cộng không<br /> nhiều nguyên nhân khác nhau và không được<br /> chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước<br /> cung cấp kiến thức phòng, chống THA(3). Chính<br /> đang phát triển. Một số yếu tố nguy cơ do lối<br /> vì thế, việc tiến hành nghiên cứu này nhằm mục<br /> sống đã được xác định qua nhiều nghiên cứu<br /> đích: tìm hiểu hiện trạng thực hành điều trị THA<br /> như: tăng cân quá mức, ít hoạt động thể lực,<br /> ở người lớn trong cộng đồng. Từ đó đề xuất<br /> uống rượu, ăn mặn, hút thuốc …ngày càng ảnh<br /> những phương pháp thích hợp để kiểm soát<br /> hưởng tới một bộ phận không nhỏ trong dân số;<br /> bệnh THA cũng như biến chứng do THA gây ra.<br /> đã làm cho tỷ lệ THA nói riêng và bệnh tim<br /> Mục tiêu nghiên cứu<br /> mạch nói chung ngày càng tăng(1).<br /> 1. Xác định tỉ lệ thực hành điều trị dùng<br /> Nhiều người đã không nhận thức được<br /> thuốc của bệnh nhân THA.<br /> những mối đe doạ của THA vì thường nó ít gây<br /> ra triệu chứng trực tiếp. Tuy nhiên nếu không<br /> được kiểm soát, bệnh gây nhiều hậu quả nghiêm<br /> trọng như nhồi máu cơ tim, đột quỵ, suy tim,<br /> suy thận... nhưng triệu chứng ban đầu lại rất mờ<br /> nhạt nên số bệnh nhân biết mình mắc bệnh cũng<br /> như ý thức tuân thủ điều trị bệnh còn thấp(3). Dù<br /> người bệnh sống sót được sau những hậu quả<br /> nghiêm trọng trên thì sau này cũng trở thành tàn<br /> phế hoặc liệt nửa người, hoặc suy tim nặng phải<br /> nằm kéo dài tới nhiều tháng nhiều năm. Trong<br /> bệnh tim mạch, THA là bệnh tai hại, không<br /> những đối với bệnh nhân mà còn với cả gia đình<br /> và xã hội nữa. Do đó, với bệnh THA cần đặt ra<br /> những vấn đề về kiến thức phòng chống và điều<br /> trị ở mức cộng đồng(1).<br /> Cho đến nay, ở nước ta có rất nhiều công<br /> trình nghiên cứu về bệnh THA, nhưng việc điều<br /> trị lâu dài và thực hiện đúng chiến lược điều trị<br /> cũng như kiến thức phòng chống bệnh trong<br /> <br /> 2. Xác định các tỉ lệ thực hành điều trị không<br /> dùng thuốc của bệnh nhân THA gồm: bỏ thuốc<br /> lá, hạn chế rượu/bia, ăn nhạt, giảm cân, luyện<br /> tập thể dục thể thao.<br /> 3. Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến thực<br /> hành điều trị dùng thuốc và không dùng thuốc<br /> của bệnh nhân THA.<br /> <br /> ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> Thiết kế nghiên cứu<br /> Điều tra cắt ngang.<br /> <br /> Địa điểm<br /> Xã An Thạnh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.<br /> <br /> Dân số mục tiêu<br /> Người mắc bệnh THA ≥18 tuổi tại xã An<br /> Thạnh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.<br /> <br /> Dân số chọn mẫu<br /> Người mắc bệnh THA ≥18 tuổi có trong hồ<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008<br /> sơ quản lý của Trạm Y tế xã An Thạnh, huyện<br /> Bến Lức, tỉnh Long An.<br /> <br /> Cỡ mẫu được tính theo công thức<br /> N=Z2(1-α/2).P.(1-P) / d2 = 384<br /> Với:<br /> <br /> d: độ chính xác mong muốn 5%<br /> <br /> P: tỉ lệ thực hành điều trị tăng huyết áp, chọn<br /> p=0,5; 1-p=0,5<br /> Z: mức ý nghĩa 0,05 ⇒ Z1-α/2 = 1,96<br /> <br /> Kỹ thuật chọn mẫu<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Thống kê mô tả<br /> Mô tả tần số và tỉ lệ % của các biến thực hành<br /> điều trị dùng thuốc và không dùng thuốc của<br /> bệnh nhân THA; mô tả các lí do liên quan đến<br /> thực hành điều trị dùng thuốc và không dùng<br /> thuốc của bệnh nhân THA tại xã An Thạnh.<br /> <br /> KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN<br /> Đặc tính của mẫu khảo sát<br /> <br /> Theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống,<br /> chọn 384 người THA trong số người THA ở hồ<br /> sơ quản lý của Trạm Y tế xã An Thạnh, huyện<br /> Bến Lức.<br /> <br /> Đa số bệnh nhân THA có tuổi từ 50 trở lên<br /> (92,2%) và tỉ lệ THA tăng dần theo nhóm tuổi; tỉ<br /> lệ nam:nữ xấp xỉ 1:2; trình độ học vấn thấp dưới<br /> cấp 1 (87,8%); lao động chân tay và thuộc nhóm<br /> già yếu, nội trợ do đây là nhóm người lớn tuổi.<br /> <br /> Tiêu chí chọn vào<br /> <br /> Sử dụng thuốc lá<br /> <br /> Tất cả bệnh nhân THA có trong hồ sơ quản<br /> lý tại Trạm Y tế xã An Thạnh, huyện Bến Lức,<br /> tỉnh Long An và đồng ý tham gia nghiên cứu.<br /> <br /> Bảng 1: Tần số, tỉ lệ thực hành hút thuốc, bỏ thuốc và<br /> không bỏ thuốc theo nhóm tuổi<br /> <br /> Tiêu chí loại ra<br /> Các bệnh nhân không đồng ý tham gia<br /> nghiên cứu; phụ nữ có thai; bệnh nhân mắc bệnh<br /> tăng huyết áp mới được phát hiện lần đầu tiên<br /> chưa trải qua thời gian điều trị.<br /> <br /> Kiểm soát sai lệch chọn lựa<br /> Chọn đúng đối tượng theo tiêu chí chọn vào<br /> và loại ra.<br /> <br /> Kiểm soát sai lệch thông tin<br /> <br /> Nhóm tuổi Bỏ thuốc (%)<br /> 35-49<br /> 50-64<br /> ≥65<br /> Tổng<br /> <br /> 0 (0)<br /> 12 (27,9)<br /> 18 (41,9)<br /> 30 (33)<br /> <br /> Khi xếp phân nhóm tuổi tăng dần: số người<br /> hút thuốc tăng dần; tỉ lệ bỏ hút thuốc trong cùng<br /> một nhóm cũng tăng dần.<br /> 10.4<br /> 7.8<br /> <br /> Phỏng vấn trực tiếp người bệnh qua bảng<br /> câu hỏi đã soạn sẵn.<br /> <br /> Công cụ thu thập<br /> Bảng câu hỏi, thước dây cuộn, cân.<br /> <br /> Phân tích số liệu<br /> Nhập số liệu sử dụng phần mềm Epi-Data<br /> 3.2 và được xử lý bằng phần mềm Stata 8.0.<br /> <br /> 5.2 0.3<br /> <br /> Không hút<br /> B?<br /> Gi?m<br /> <br /> Bộ câu hỏi được soạn sẵn, dễ hiểu phù hợp<br /> với mục tiêu. Có phỏng vấn thử 20 bệnh nhân để<br /> chỉnh sửa lại cho phù hợp. Tập huấn điều tra<br /> viên trước khi tiến hành phỏng vấn.<br /> <br /> Phương pháp thu thập số liệu<br /> <br /> Không bỏ thuốc Hút thuốc<br /> (%)<br /> (%)<br /> 5 (100)<br /> 5 (100)<br /> 31 (72,1)<br /> 43 (100)<br /> 25 (58,1)<br /> 43 (100)<br /> 61 (67)<br /> 91 (100)<br /> <br /> Như c?<br /> 76.3<br /> Tăng<br /> <br /> Hình 1: Mức độ hút thuốc lá so với trước khi mắc<br /> bệnh THA (%)<br /> Tỉ lệ đã từng hút thuốc là 23,7%, toàn là nam<br /> giới. Trong đó, bỏ hút thuốc chỉ có 33%. Các lí do<br /> tác động đến việc không bỏ hút thuốc là: nghiện,<br /> buồn, giao tiếp.<br /> <br /> Sử dụng rượu bia<br /> Tỉ lệ đã từng uống rượu/bia chỉ chiếm 19,8%<br /> là tương đối thấp, do nữ giới trong mẫu nghiên<br /> cứu chiếm tỉ lệ cao (65,4%) mà đa số lại không<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008<br /> biết uống rượu/bia. Trong số những người có<br /> uống rượu/bia thì nam chiếm đa số 97,4%; nữ chỉ<br /> có 2,6%; Nếu so trong cùng một giới thì tỉ lệ nam<br /> từng uống rượu/bia chiếm 55,6% (74/133).<br /> Bảng 2: Tần số, tỉ lệ của mức độ uống rượu/bia theo<br /> ly chuẩn so với trước khi mắc bệnh THA<br /> So với trước khi mắc THA<br /> Giảm<br /> Như cũ<br /> Tăng<br /> ≥5 ngày / tuần<br /> 1-4 ngày / tuần<br /> 1-3 ngày / tháng<br /> 1<br /> 8 (32%)<br /> 17 (68%)<br /> 1 (8,3%)<br /> 11(91,7%)<br /> 0 (0%)<br /> 1 (100%)<br /> 1 (20%)<br /> 4 (80%)<br /> 0 (0%)<br /> 4 (100%)<br /> 1 (7,7%)<br /> 12 (92,3%)<br /> 7 (43,8%)<br /> 9 (56,2%)<br /> 9 (23,7%)<br /> 29 (76,3%)<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Mức độ uống rượu/bia càng giảm (thực hành<br /> hạn chế tốt lên) thì tỉ lệ đạt mức điều độ (≤1 ly<br /> chuẩn) càng cao.<br /> Trong số những người có uống rượu/bia<br /> thì có 57,9% là bỏ uống hoặc hạn chế ở mức<br /> điều độ; còn 42,7% uống vượt mức cho phép.<br /> Con số thực hành đúng chỉ có mức tương đối,<br /> và góp phần vào lí do không hạn chế uống ở<br /> mức điều độ là do giao tiếp (đám tiệc, đám<br /> giỗ, tụ họp) và nghiện. Do đó, để thực hành<br /> đúng về rượu/bia phụ thuộc nhiều vào phong<br /> tục, tập quán nơi đây.<br /> <br /> Chế độ ăn nhạt<br /> <br /> 100%<br /> 90%<br /> 80%<br /> <br /> 31<br /> <br /> 23.1<br /> <br /> 22.3<br /> 39.3<br /> <br /> 70%<br /> Sai<br /> Đúng<br /> <br /> 60%<br /> 50%<br /> 40%<br /> 30%<br /> <br /> 69<br /> <br /> 76.9<br /> <br /> 77.7<br /> 60.7<br /> <br /> 20%<br /> 10%<br /> 0%<br /> Cho mu?i khi<br /> n?u ăn<br /> <br /> Ch?m thêm Ăn th?c ph?m C? ba hành vi<br /> nư?c m?m<br /> ch?a nhi?u<br /> nư?c tương<br /> mu?i<br /> <br /> Hình 2: Tỉ lệ các hành vi thực hiện đúng trong chế độ ăn nhạt (%)<br /> Thực hiện đúng hành vi cho muối khi nấu ăn<br /> (69%) khó hơn hai hành vi chấm thêm nước<br /> mắm/nước tương (76,9%) và ăn thực phẩm chứa<br /> nhiều muối (77,7%). Nhưng thực hiện đúng ba<br /> hành vi trên chỉ chiếm gần 2/3 (60,7%) trong tổng<br /> số đối tượng khảo sát. Khi xếp phân nhóm tuổi<br /> tăng dần: số người thực hành ăn nhạt tăng dần;<br /> tỉ lệ thực hành ăn nhạt trong nhóm 50-64 tuổi và<br /> nhóm ≥65 tuổi cao hơn nhóm ≤34 tuổi và nhóm<br /> 35-49 tuổi.<br /> <br /> Lí do không thực hiện ăn nhạt chủ yếu là:<br /> thói quen ăn mặn, ăn theo gia đình.<br /> <br /> Chế độ giảm cân<br /> Có 83 đối tượng là thừa cân, béo phì thì tỉ<br /> lệ thực hành cải thiện cân nặng chiếm rất thấp<br /> 12% (10/83). Các biện pháp giảm cân được<br /> thực hiện là: chế độ ăn kiêng và tăng hoạt<br /> động thể dục thể thao.<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008<br /> Hoạt động thể dục thể thao<br /> Bảng 3: Tần số, tỉ lệ tham gia hoạt động thể dục thể<br /> thao đúng cách<br /> Hoạt động thể dục thể thao<br /> Không tham gia<br /> Tham gia đúng<br /> Tham gia không đúng<br /> Tổng<br /> <br /> Tần số<br /> 241<br /> 109<br /> 34<br /> 384<br /> <br /> Tỉ lệ<br /> 62,8<br /> 28,4<br /> 8,8<br /> 100<br /> <br /> Tỉ lệ tham gia thể dục thể thao chỉ có 37,2%<br /> (143/384); điều này cũng hợp lý vì đây là vùng<br /> nông thôn, đa số người dân dành thời gian để<br /> làm ruộng là nghề thu nhập chính của gia đình.<br /> Tỉ lệ tham gia thể dục thể thao giữa nam và nữ<br /> gần như nhau: nam (36,8%), nữ (37,5%). Đi bộ là<br /> môn mà các đối tượng tham gia chủ yếu chiếm<br /> tới 69,9%. Các lí do không tham gia thể dục thể<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> thao: không có thời gian (45,2%); sức khỏe không<br /> cho phép (22,4%); không thích (9,5%).<br /> Trong số 384 đối tượng tham gia nghiên cứu<br /> thì chỉ có 28,4% là thực hiện đúng cách (khi đối<br /> tượng tập đều đặn mỗi ngày ít nhất 15 phút hoặc<br /> tập ít nhất 3 lần mỗi tuần, mỗi lần ít nhất 30<br /> phút). Điều này chứng tỏ kiến thức của người<br /> bệnh THA về thực hiện đúng hoạt động thể dục<br /> thể thao chưa cao.<br /> <br /> Sử dụng thuốc<br /> Bảng 4: Tần số thực hiện điều trị bằng thuốc giữa<br /> đều đặn liên tục và đủ liều<br /> Uống thuốc<br /> Đều đặn và liên tục<br /> <br /> Có<br /> Không<br /> <br /> Tổng<br /> <br /> 100%<br /> 90%<br /> 80%<br /> 70%<br /> 60%<br /> 50%<br /> 40%<br /> 30%<br /> 20%<br /> 10%<br /> 0%<br /> <br /> 39.3<br /> <br /> Đủ liều<br /> Có<br /> Không<br /> 103<br /> 5<br /> 50<br /> 136<br /> 153<br /> 141<br /> <br /> Tổng<br /> 108<br /> 186<br /> 294<br /> <br /> 42.1<br /> 67<br /> <br /> 71.6<br /> <br /> 73.2<br /> 88<br /> <br /> Không<br /> Có<br /> <br /> 60.7<br /> <br /> 57.9<br /> 33<br /> <br /> 28.4<br /> <br /> 26.8<br /> 12<br /> <br /> Ăn nh?t Rư?u<br /> bia<br /> <br /> Thu?c Th? d?c Dùng<br /> lá<br /> th? thao thu?c<br /> <br /> Gi?m<br /> cân<br /> <br /> Hình 3: Tỉ lệ thực hành điều trị dùng thuốc và không dùng thuốc của bệnh THA (%)<br /> Tỉ lệ đã từng uống thuốc là 76,6% (294/384).<br /> Trong đó, uống đều đặn và liên tục chiếm 36,7%;<br /> uống đủ liều chiếm 52%. Tỉ lệ thực hiện đúng<br /> dùng thuốc điều trị THA (vừa đều đặn liên tục<br /> vừa đủ liều) chỉ có 26,8% (103/384). Các lí do<br /> không uống đều đặn và liên tục lần lượt có tỉ lệ<br /> như sau: vẫn khỏe mạnh (46,8%), quên (23,1%),<br /> HA có cải thiện (16,1%), không quan tâm đến<br /> bệnh (10,8%)<br /> <br /> Tỉ lệ tái khám bệnh chiếm 54,2% (208/384).<br /> Thời điểm tái khám lần lượt có tỉ lệ là: ≤1 tháng<br /> (47,1%), >1 tháng (5,8%), khi mệt/nhức<br /> đầu/chóng mặt (44,7%). Các lí do không tái<br /> khám lần lượt có tỉ lệ như sau: tự mua thuốc<br /> (27,3%), không uống thuốc (12,5%), uống thuốc<br /> nam (4%), sợ đi bệnh viện (1,7%) và giá trị<br /> khuyết chiếm đến 50,5% góp phần làm ảnh<br /> hưởng đến các tỉ lệ trên.<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2