intTypePromotion=3

Hiện trạng, tiềm năng và các giải pháp quy hoạch, phát triển bền vững vùng nuôi nghêu (Meretrix lyrata Sowerby,1851) bãi triều ven biển huyện Thái Thụy- Thái Bình

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
46
lượt xem
1
download

Hiện trạng, tiềm năng và các giải pháp quy hoạch, phát triển bền vững vùng nuôi nghêu (Meretrix lyrata Sowerby,1851) bãi triều ven biển huyện Thái Thụy- Thái Bình

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên tiến hành trong thời gian từ tháng 01/2010 đến tháng 12/2010 tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Đối tượng nghiên cứu là nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata Sowerby, 1851), thông qua các cơ quan, phòng ban chức năng và phiếu điều tra nông hộ tại 3 xã: Thụy Hải, Thái Thượng, Thái Đô, tổng số phiếu điều tra là 100. Sau đó sử dụng các phương pháp nghiên cứu đánh giá cộng đồng chính. Kết quả cho thấy về tình hình kinh tế- xã hội ở đây rất thuận lợi, trung bình một hộ có khoảng 2,19 người trong độ tuổi lao động và nghề sản xuất chính ở đây là sản xuất thủy sản.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hiện trạng, tiềm năng và các giải pháp quy hoạch, phát triển bền vững vùng nuôi nghêu (Meretrix lyrata Sowerby,1851) bãi triều ven biển huyện Thái Thụy- Thái Bình

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 1/2014<br /> <br /> KEÁT QUAÛ NGHIEÂN CÖÙU ÑAØO TAÏO SAU ÑAÏI HOÏC<br /> <br /> HIỆN TRẠNG, TIỀM NĂNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP QUI HOẠCH,<br /> PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG NUÔI NGHÊU (Meretrix lyrata Sowerby,<br /> 1851) BÃI TRIỀU VEN BIỂN HUYỆN THÁI THỤY - THÁI BÌNH<br /> SITUATIONS, POTENTIALS AND SOLUTIONS FOR PROJECTS AND SUSTAINABLE<br /> DEVELOPMENT OF RAISING CLAM IN TIDAL FLAT OF COASTAL AREA,<br /> THAI THUY - THAI BINH<br /> Phạm Thị Lan1, Ngô Anh Tuấn2<br /> Ngày nhận bài: 04/5/2013; Ngày phản biện thông qua: 11/7/2013; Ngày duyệt đăng: 10/3/2014<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Nghiên tiến hành trong thời gian từ tháng 01/2010 đến tháng 12/2010 tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Đối tượng<br /> nghiên cứu là nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata Sowerby, 1851), thông qua các cơ quan, phòng ban chức năng và phiếu điều<br /> tra nông hộ tại 3 xã: Thụy Hải, Thái Thượng, Thái Đô, tổng số phiếu điều tra là 100. Sau đó sử dụng các phương pháp<br /> nghiên cứu đánh giá cộng đồng chính. Kết quả cho thấy về tình hình kinh tế- xã hội ở đây rất thuận lợi, trung bình một hộ có<br /> khoảng 2,19 người trong độ tuổi lao động và nghề sản xuất chính ở đây là sản xuất thủy sản. Về hiện trạng phát triển nghề<br /> nuôi nghêu đã hình thành từ rất sớm. Năm 1989: người dân địa phương đã dùng lưới khoanh vùng các bãi ngao giống,<br /> chăm sóc để thu hoạch. Năm 2001: sản lượng ngao thương phẩm đạt 6000 tấn. Năm 2003: sản lượng ngao chỉ đạt 2950<br /> tấn. Diện tích nuôi nghêu Bến Tre tăng từ 145 ha năm 2003 lên 700 ha năm 2005, chiếm 85% tổng diện tích nuôi nghêu.<br /> Hiện nay, diện tích nuôi nghêu Bến Tre là trên 920 ha. Tuy nhiên việc phát triển nay mang tính tự phát chưa có quy hoạch<br /> tổng thể nên luôn tiểm ẩn nguy cơ dẫn đến nghêu chết hàng loạt khi gặp điều kiện thời tiết khí hậu làm tổn thất về kinh tế,<br /> gây ô nhiêm về môi trường. Từ kết quả nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp về qui hoạch, phát triển bền vững vùng nuôi<br /> nghêu (Meretrix lyrata Sowerby,1851) bãi triều ven biển huyện Thái Thụy – Thái Bình.<br /> Từ khóa: nghêu Bến Tre, Meretrix lyrata, hiện trạng, tiềm năng, phát triển bền vững<br /> <br /> ABSTRACT<br /> The study was carried out from January, 2010 to December, 2010 at Thai Thuy, Thai Binh. The target species is Ben<br /> Tre clam (Meretrix lyrata Sowerby, 1851). The secondary data is reported by relevant agencies. The primary data is of 100<br /> farming households at 3 villages: Thuy Hai, Thai Thuong and Thai Do. The paticipatory rural appraisal was employed.<br /> The results showed that the economical and social situations in these areas are in good conditions, there are around 2.19<br /> working aged people per household in average and the main jobs are fisheries ones. The clam raising has been introduced<br /> for a long time. In 1989, the local people used nets to surround the parents clam areas, raised them to harvest. In 2001,<br /> the harvest was 6000 tonnes. In 2003, the harvest was reduced to 2950 tonnes. The clam raising area was increased from<br /> 145 ha in 2003 to 700 ha in 2005, equivalent to 85% of total clam raising area. There is more than 920 ha of Ben Tre clam<br /> raising area at present. However, raising clam is still spontaneous and has not been had a good project. A risk that a large<br /> amount of clam can die under a bad weather condition might be a case. This lead to an economic loss and environmental<br /> pollution. The results were bases for solution of making projects and developing sustainably raising areas of Ben Tre clam<br /> in tidal flat of coastal area, Thai Thuy-Thai Binh.<br /> Keywords: Ben Tre clam, Meretrix lyrata, status, potentiality, sustainable development<br /> <br /> 1<br /> 2<br /> <br /> Phạm Thị Lan: Cao học Nuôi trồng thủy sản 2009 – Trường Đại học Nha Trang<br /> TS. Ngô Anh Tuấn: Viện Nuôi trồng thủy sản – Trường Đại học Nha Trang<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 141<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 1/2014<br /> <br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Động vật thân mềm, đặc biệt là các loài hai<br /> mảnh vỏ với khả năng lọc nước làm sạch môi<br /> trường, cân bằng sinh thái được xem là đối tượng<br /> nuôi chính, nhiều triển vọng trong chiến lược qui<br /> hoạch và phát triển nuôi biển ở nước ta. Nghêu Bến<br /> Tre là đối tượng hai mảnh vỏ có thịt thơm ngon,<br /> hàm lượng dinh dưỡng cao (Prôtêin: 15,66%, Lipit:<br /> 3,43%, khoáng: 3-13%) [1], [2] và giá trị xuất khẩu<br /> lớn. Tháng 10/2008 Hội đồng bảo tồn biển quốc tế<br /> vừa cấp giấy chứng nhận tiêu chuẩn thương hiệu<br /> MSC cho nghêu Bến Tre trở thành đặc sản biển đầu<br /> tiên của cả khu vực Đông Nam Á, từ đó giúp nghêu<br /> Bến Tre có nhiều cơ hội xuất khẩu sang các thị<br /> trường thế giới [10] .<br /> Thái Thụy là huyện ven biển của tỉnh Thái Bình<br /> có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nghề<br /> nuôi trồng thủy sản nói chung và nghề nuôi nghêu<br /> nói riêng. Một số năm gần đây, nhân dân các xã<br /> ven biển của huyện đã tự phát đầu tư nuôi nghêu.<br /> Song, do chưa tổ chức quy hoạch, thiếu kỹ thuật và<br /> cơ chế chính sách… nên việc nuôi nghêu chưa đạt<br /> được kết quả [3], [4], [6]. Do đó nghiên cứu “Hiện<br /> trạng, tiềm năng và các giải pháp quy hoạch, phát<br /> triển bền vững vùng nuôi nghêu bãi triều ven biển<br /> huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình” được tiến hành<br /> để có cơ sở dữ liệu khoa học và thực tế giúp cho<br /> người nuôi nâng cao năng suất, sản lượng và phát<br /> triển nuôi bền vững. Nghiên cứu nhằm mục tiêu quy<br /> hoạch và phát triển hợp lý nguồn lợi nghêu nâng<br /> cao diện tích, năng suất, sản lượng nghêu và phát<br /> triển bền vững nguồn lợi thủy sản vùng bãi bồi, tạo<br /> công ăn việc làm và ổn định thu nhập cho cư dân<br /> địa phương ven biển huyện Thái Thụy – Thái Bình.<br /> <br /> tổng số phiếu là 100, phân bố như sau: xã Thụy<br /> Hải: 40 phiếu, xã Thái Thượng: 25 phiếu, xã Thái<br /> Đô: 35 phiếu. Số liệu thứ cấp được thu thập qua<br /> các cơ quan, phòng ban chức năng từ tỉnh Thái<br /> Bình, huyện Thái Thụy, xã Thái Đô, Thái Thượng,<br /> Thụy Hải về diễn biến diện tích, sản lượng sau đó<br /> sử dụng phần mềm MS.Excel để xử lý số liệu và<br /> vẽ biểu đồ, đồ thị. Các chỉ số thống kê đơn giản<br /> được áp dụng để phân tích và so sánh; Tìm hiểu<br /> các văn bản đã được ban hành của Nhà nước, của<br /> Bộ Thủy sản / Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông<br /> thôn [7], [8], [9], các quy định từ các cấp thuộc chính<br /> quyền địa phương cũng như các biện pháp đang<br /> được thực thi trong việc quản lý Nhà nước trên địa<br /> bàn; Thu thập và sàng lọc thông tin từ các công trình<br /> nghiên cứu trước đây liên quan đến qui hoạch phát<br /> triển nuôi ngao, đặc điểm sinh học, tiềm năng phát<br /> triển... từ các viện nghiên cứu, trường đại học đã<br /> được công bố; đặc biệt là kinh nghiệm thực tế của<br /> ngư dân địa phương nhằm tìm hiểu qui luật, vị trí<br /> xuất hiện, các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự<br /> xuất hiện của nghêu có trong vùng nghiên cứu …<br /> Dùng phương pháp phân tích, đánh giá:<br /> - Phương pháp đánh giá nông thôn có sự<br /> tham gia của cộng đồng (PRA-Paticipatory Rural<br /> Appraisal).<br /> - Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn<br /> có sự tham gia của cộng đồng (RRA-Rapid Rural<br /> Appraisal).<br /> Ưu điểm của hai phương pháp: Đánh giá hiện<br /> trạng kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu bằng phương<br /> pháp đánh giá nhanh nông thôn thông qua bộ câu<br /> hỏi chuẩn đã soạn thảo chi tiết. Mẫu câu hỏi này<br /> mang tính chất định tính cho nhóm nông dân nhằm<br /> kiểm tra lại kết quả từ điều tra cơ bản, đây là những<br /> thông tin chung của vùng nghiên cứu để hỗ trợ cho<br /> việc tìm hiểu sự tương quan, tương phản giữa các<br /> đối tượng giúp cho đánh giá khách quan hơn.<br /> <br /> II. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> Nghêu (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) được<br /> thu tại huyện Thái Thụy – Thái Bình từ tháng 01<br /> III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN<br /> đến tháng 12 năm 2010. Số liệu sơ cấp được thu<br /> thập thông qua phiếu điều tra nông hộ tại 3 xã (Thụy<br /> 1. Tình hình kinh tế - xã hội<br /> Hải, Thái Thượng, Thái Đô) với các hộ nuôi nghêu,<br /> 1.1. Tình hình nhân khẩu<br /> Bảng 1. Tình hình nhân khẩu các hộ gia đình trong vùng nghiên cứu<br /> Tổng số hộ<br /> Yếu tố<br /> <br /> Tổng số<br /> nhân khẩu<br /> <br /> Tổng số nhân<br /> khẩu/hộ<br /> <br /> Thấp nhất/hộ<br /> <br /> Cao<br /> nhất/hộ<br /> <br /> Tỉ lệ (%)<br /> <br /> Số hộ trả lời<br /> <br /> Số hộ không<br /> trả lời<br /> <br /> Tổng số nhân khẩu/hộ<br /> <br /> 100<br /> <br /> 0<br /> <br /> 378<br /> <br /> 3,78<br /> <br /> 1<br /> <br /> 6<br /> <br /> 100<br /> <br /> Nam<br /> <br /> 94<br /> <br /> 6<br /> <br /> 186<br /> <br /> 1,86<br /> <br /> 0<br /> <br /> 5<br /> <br /> 49,21<br /> <br /> Nữ<br /> <br /> 98<br /> <br /> 2<br /> <br /> 192<br /> <br /> 1,92<br /> <br /> 1<br /> <br /> 5<br /> <br /> 50,79<br /> <br /> 142 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 1/2014<br /> <br /> Qua bảng 1 ta thấy số nhân khẩu bình quân 1 hộ khoảng gần 4 người, dao động từ khoảng 1 – 6 người. Trong<br /> đó tỷ lệ nam và nữ trong cộng đồng xấp xỉ nhau (49,21% và 50,79%), tỉ lệ nam : nữ trong 1 hộ cũng tương đương<br /> nhau (1,86 : 1,92 người/hộ).<br /> 1.2. Tình hình lao động<br /> Bảng 2. Tình hình lao động vùng nghiên cứu<br /> Yếu tố<br /> <br /> Hộ<br /> <br /> Tổng số nhân khẩu<br /> <br /> Thấp nhất/hộ<br /> <br /> Cao nhất/hộ<br /> <br /> TB/hộ<br /> <br /> Tỉ lệ (%)<br /> <br /> Tổng số nhân khẩu<br /> <br /> 100<br /> <br /> 378<br /> <br /> 1<br /> <br /> 6<br /> <br /> 3,78<br /> <br /> 100<br /> <br /> Số người trong độ tuổi lao động<br /> <br /> 100<br /> <br /> 219<br /> <br /> 1<br /> <br /> 5<br /> <br /> 2,19<br /> <br /> 57,94<br /> <br /> Lao động tạo thu nhập<br /> <br /> 93<br /> <br /> 180<br /> <br /> 1<br /> <br /> 4<br /> <br /> 1,80<br /> <br /> 47,62<br /> <br /> Lao động không tạo thu nhập<br /> <br /> 32<br /> <br /> 39<br /> <br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> 0,39<br /> <br /> 10,32<br /> <br /> Tổng số lao động nam<br /> <br /> 75<br /> <br /> 108<br /> <br /> 1<br /> <br /> 4<br /> <br /> 1,08<br /> <br /> 28,57<br /> <br /> Tổng số lao động nữ<br /> <br /> 46<br /> <br /> 111<br /> <br /> 1<br /> <br /> 3<br /> <br /> 1,11<br /> <br /> 29,37<br /> <br /> Qua bảng 2 cho thấy, TB 1 hộ có khoảng 2,19<br /> người trong độ tuổi lao động. Trong đó: TB trên 1<br /> hộ có khoảng 1,8 lao động tạo thu nhập cho g.đình<br /> và 0,39 l.động không tham gia tạo thu nhập. Tùy<br /> vào mức độ thành viên nhiều hay ít, độ tuổi, sức<br /> khỏe mà số lượng lao động dao động thấp nhất là<br /> 1 người/hộ, cao nhất là 5 người/hộ; trong đó, lao<br /> động nam trung bình 1,08 người/hộ, lao động nữ<br /> trung bình 1,11 người/hộ. Vì lao động khai thác<br /> nghêu vốn không đòi hỏi kỹ thuật quá phức tạp, nên<br /> cả nam lẫn nữ đều có thể tham gia được, chính vì<br /> thế mà chênh lệch lao động giữa nam và nữ trong<br /> cộng đồng rất thấp.<br /> 1.3. Cơ cấu nghề<br /> <br /> ven biển Thái Đô, Thái Thượng, Thụy Hải phụ thuộc<br /> rất lớn vào ngành thủy sản, trong đó chủ yếu là<br /> nghề nuôi nghêu đang được chú trọng quan tâm.<br /> Ngoài ra, nguồn thu nhập từ con nghêu đem lại cho<br /> các hộ gia đình cũng khá ổn định hơn so với các<br /> nghề khác.<br /> 2. Hiện trạng nghề nuôi nghêu của huyện Thái Thụy<br /> Bảng 3. Tình hình nuôi nghêu thí điểm<br /> tại huyện Thái Thụy năm 2005 [5]<br /> Yếu tố<br /> <br /> Qua hình 1 cho thấy cơ cấu nghề nghiệp ở 3<br /> xã Thái Đô, Thái Thượng và Thụy Hải của huyện<br /> Thái Thụy được khảo sát phân bố như sau: 47% số<br /> hộ phỏng vấn có nghề sản xuất chính của gia đình<br /> là làm thủy sản (chủ yếu là nuôi trồng thủy sản và<br /> khai thác thủy sản ven bờ); 22% làm nông nghiệp<br /> như cấy lúa, trồng màu, trồng cây ăn trái; 16% đi<br /> làm thuê cho các công ty, xí nghiệp trong và ngoài<br /> huyện; 12% làm dịch vụ (đại lý thức ăn chăn nuôi,<br /> thủy sản tôm cá, bán tạp hóa, buôn bán nhỏ, cơ sở<br /> sửa chữa nhỏ,…); và 3% số hộ làm diêm nghiệp<br /> (sản xuất muối). Do các đặc trưng về vị trí địa lý,<br /> điều kiện tự nhiên vì thế cơ cấu lao động ở ba xã<br /> <br /> Thái<br /> Thụy Hải<br /> Thượng<br /> <br /> Tổng diện tích (ha)<br /> <br /> 105<br /> <br /> 70<br /> <br /> 224<br /> <br /> Số hộ dân<br /> <br /> 54<br /> <br /> 35<br /> <br /> 9<br /> <br /> 72,02<br /> <br /> 25<br /> <br /> 18<br /> <br /> Diện tích nuôi nghêu (ha)<br /> <br /> Hình 1. Cơ cấu nghề sản xuất chính của hộ<br /> <br /> Thái Đô<br /> <br /> Qua việc nuôi nghêu năm 2005, bước đầu cho<br /> thấy con nghêu nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên<br /> của vùng bãi bồi ven biển Thái Thụy. Đối với diện<br /> tích đã nuôi thí điểm ở 3 xã cho thấy nghêu nuôi<br /> có tốc độ sinh trưởng tốt. Tuy nhiên, do việc nuôi<br /> nghêu vùng bãi bồi ven biển Thái Thụy chưa được<br /> quy hoạch, tập huấn kỹ thuật nuôi và tích lũy đủ vốn,<br /> kinh nghiệm... nên chưa đạt được kết quả cao.<br /> 3. Hiện trạng kỹ thuật nuôi nghêu thương phẩm<br /> 3.1. Diện tích vây nuôi (dùng lưới và cọc quây xung<br /> quanh bãi nuôi nghêu gọi là vây nuôi)<br /> Thấp nhất là 1,5 ha và lớn nhất là 2,8 ha, trung<br /> bình là 2 ha để thuận tiện cho việc quản lý, chăm<br /> sóc thu hoạch.<br /> 3.2. Chuẩn bị bãi nuôi<br /> Làm vệ sinh mặt bãi: thu gom các loại rác như<br /> đá, sỏi lớn, túi bóng... Sau đó cày xới mặt bãi: sâu<br /> khoảng 5 – 10 cm → San phẳng mặt bãi → Phơi<br /> khô bãi và dánh luống: cùng hướng với dòng chảy<br /> của nước thủy triều lên xuống. Mỗi luống rộng<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 143<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> 1,5 m và cứ 2 - 3 luống thì đào một rãnh nhỏ có<br /> chiều rộng 50 cm, sâu 50 - 70 cm để giữ nước, tạo<br /> độ ẩm cho bãi nuôi.<br /> 3.3. Mùa vụ thả giống<br /> - Vùng nuôi có thời gian phơi bãi ngắn: Thời<br /> gian thả giống: tháng 2 - 3, kích cỡ giống: nghêu<br /> cám, 3.000 - 4.000 con/kg, mật độ thả: 500 kg/ha.<br /> Thời gian nuôi: 16 - 18 tháng. Mô hình nuôi khép<br /> kín: ương - nuôi lớn. Sau 4 - 5 tháng: nghêu đạt kích<br /> cỡ 600 - 800 con/kg → san thưa với mật độ 300 400 con/m2. Sau 10 - 12 tháng thu hoạch nghêu đạt<br /> kích cỡ từ 25 - 30 gam/con.<br /> - Vùng nuôi có thời gian phơi bãi dài: Thả<br /> giống vào tháng 8 - 9, kích cỡ giống lớn từ 600 800 con/kg, thời gian nuôi từ 10 - 12 tháng, mật<br /> độ thả 200 - 250 con/m2 (2.500 - 3.000 kg/ha) và<br /> thu hoạch vào tháng 6 - 7 năm sau, kích cỡ khi thu<br /> hoạch từ 20 - 25 gam/con.<br /> 3.4. Chăm sóc và quản lý môi trường<br /> Khi nghêu mới thả vỏ còn mỏng, lại chưa vùi<br /> sâu nên hạn chế đi lại trên mặt bãi làm cho nghêu bị<br /> chết. Nghêu là loài ăn lọc, thức ăn của chúng là các<br /> động vật, thực vật phù du, mùn bã hữu cơ trong môi<br /> trường nước, là đối tượng rất mẫn cảm với sự thay<br /> đổi đột ngột của môi trường như ngọt hóa, nhiệt độ<br /> nước cao (> 320C) kéo dài nhiều ngày, nguồn nước<br /> bị ô nhiễm làm nghêu chết hàng loạt. Khi điều kiện<br /> môi trường bất lợi nghêu phản ứng lại bằng cách<br /> trồi lên bề mặt bãi (nhờ các túi nhầy) và di chuyển<br /> đi nơi khác. Vì vậy khi nuôi phải căng các dây cước<br /> sát mặt đáy và trên mép lưới nhằm mục đich hạn<br /> chế việc nghêu di chuyển đi nơi khác (do nghêu bị<br /> cắt túi nhầy).<br /> Duy trì mật độ nuôi phù hợp và khi nước triều rút,<br /> nhặt bỏ các rác thải, vỏ nghêu chết trong bãi nuôi.<br /> Theo Nguyễn Chính [1] xác định độ mặn đặc<br /> trưng cho bãi nghêu là 7-25‰. Theo Ngô Anh Tuấn [2]<br /> xác định, độ mặn ảnh hưởng rất lớn đến sự phân bố<br /> của nghêu, nghêu chỉ tồn tại và phát triển ổn định<br /> <br /> Số 1/2014<br /> trong khoảng độ mặn nhất định, vào khoảng tháng<br /> 9-10 khi độ mặn giảm dưới 5‰ thì nghêu nhỏ (chiều<br /> dài 2,4cm) bắt đầu di chuyển hoặc chết đi, nghêu<br /> có kích thước lớn nặng nề khó di chuyển thường<br /> vùi sâu xuống cát khi nước triều rút xuống, độ mặn<br /> thấp. Khi nước biển tràn vào, độ mặn tăng, nghêu<br /> trồi lên mặt sinh sống bình thường.<br /> 3.5. Tốc độ sinh trưởng<br /> Bảng 4. Tốc độ sinh trưởng nghêu nuôi<br /> vùng nghiên cứu<br /> Kích cỡ thả giống<br /> (con/kg)<br /> <br /> Kích cỡ thu hoạch<br /> (gram/con)<br /> <br /> Thời gian nuôi<br /> trung bình (tháng)<br /> <br /> 3.000 - 4.000<br /> <br /> 25 - 30<br /> <br /> 16 – 18<br /> <br /> 600 - 800<br /> <br /> 20 - 25<br /> <br /> 10 – 12<br /> <br /> 3.6. Mùa vụ và kích cỡ thu hoạch nghêu thịt<br /> Đối với thị trường xuất khẩu thì kích cỡ nghêu<br /> thường từ 65-50 con/kg và với nghêu lớn từ 50 con<br /> trở xuống được tiêu thụ ở thị trường Châu Á và nội<br /> địa. Thời gian khai thác nghêu thịt rải rác trong năm<br /> tùy theo thời điểm giá cả hợp lý nhất, tuy nhiên, mùa<br /> vụ khai thác chính tập trung vào các tháng cuối năm.<br /> 3.7. Phương pháp thu hoạch<br /> Ngư cụ chuyên dùng: phương pháp cào,<br /> phương pháp chập, phương pháp dùng bàn cào có<br /> khung cào (50x10 cm) có túi lưới dài từ 1 – 2 m<br /> dùng tay kéo bàn cào, khi nước thủy triều rút.<br /> 4. Kết quả nuôi nghêu trong 6 năm (2005 - 2010)<br /> Qua hình 2 ta thấy: Diện tích nuôi nghêu bãi triều<br /> tăng từ 850 ha năm 2005 lên 1.089 ha năm 2010,<br /> bằng 128,12% so với năm 2005. Năm 2005 - 2007<br /> diện tích nuôi nghêu toàn huyện có chiều hướng gia<br /> tăng. Năm 2007 – 2010 diện tích đi vào ổn định do<br /> chưa được quy hoạch tổng thể, cơ chế chính sách hỗ<br /> trợ phát triển nuôi nghêu chưa quan tâm kịp thời. Tuy<br /> nhiên, sản lượng lại tăng nhanh do các hộ nông dân<br /> đã dần dần tích lũy được kinh nghiệm nuôi nghêu,<br /> sản lượng nghêu thương phẩm năm 2010 đạt 30.130<br /> tấn, tăng 20.980 tấn so với năm 2005.<br /> <br /> Hình 2. Diễn biến diện tích, sản lượng ngao huyện Thái Thụy<br /> <br /> 144 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> Qua hình 3 cho thấy: Năng suất nuôi bình quân<br /> từ 11,6 tấn/ha năm 2005 tăng lên 1,68 tấn/ha năm<br /> 2009 và 27,66 tấn/ha năm 2010. Trong thực tế nhiều<br /> hộ năng suất đạt 40 – 50 tấn/ha, có hộ đạt mức cao<br /> <br /> Số 1/2014<br /> 100 tấn/ha do mật độ nuôi cao, nhưng lại gặp rủi ro<br /> lớn trong sản xuất, khi điều kiện thời tiết khí hậu bất<br /> lợi dẫn đến nghêu chết hàng loạt, tổn thất về kinh tế<br /> và ô nhiễm môi trường ven biển.<br /> <br /> Hình 3. Biến động năng suất, sản lượng nghêu<br /> <br /> Qua hình 4 cho thấy: Giá trị sản lượng (theo giá cố định 94) đạt 52.505 triệu đồng năm 2006, tăng lên<br /> 148.150 triệu đồng năm 2010, tốc độ tăng trưởng đạt 19,2%/năm; Và giá trị thực tế năm 2006 đạt 73.034 triệu<br /> động, tăng lên 260.127 triệu đồng năm 2010. Bình quân 1 ha năm 2009 đạt 238,86 triệu đồng, năm 2010 là<br /> 314,74 triệu đồng.<br /> <br /> Hình 4. Diễn biến giá trị nghêu nuôi giai đoạn 2005 – 2010<br /> <br /> Bên cạnh những kết quả đạt được, nghề nuôi<br /> nghêu còn bộc lộ những tồn tại cần được nghiên<br /> cứu và có giải pháp khắc phục: Nghề nuôi nghêu<br /> phát triển mang tính tự phát, chưa được đầu tư quy<br /> hoạch tổng thể.<br /> Cơ sở hạ tầng chủ yếu do hộ dân tự bỏ vốn đầu<br /> tư xây dựng, chưa được quan tâm hỗ trợ của Nhà<br /> nước nên số lượng còn ít, lượng nghêu giống sản<br /> xuất năm 2009 và 2010 mới đáp ứng được 5 – 8%.<br /> Đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng trong sinh<br /> sản nhân tạo giống nghêu tại địa phương còn chậm<br /> so với yêu cầu thực tiễn sản xuất.<br /> <br /> Giống nghêu chủ yếu cung ứng từ các tỉnh phía<br /> Nam: Bến Tre, Tiền Giang, Cần Giờ - thành phố Hồ<br /> Chí Minh… nên chi phí, tỉ lệ hao hụt trong qua trình<br /> vận chuyển thường cao. Giống ngao dầu của địa<br /> phương chưa được bảo tồn phát triển. Năng suất<br /> một số hộ nuôi nghêu tuy đạt cao, nhưng do nuôi mật<br /> độ dày nên luôn tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến nghêu chết<br /> hàng loạt khi gắp điều kiện thời tiết khí hậu bất lợi,<br /> làm tổn thất về kinh tế, gây ô nhiễm về môi trường.<br /> 5. Tiềm năng phát triển nuôi nghêu<br /> 5.1. Một số yếu tố tự nhiên cần cho phát triển nuôi nghêu<br /> <br /> Bảng 5. Một số yếu tố thủy lý, thủy hóa của vùng nghiên cứu huyện Thái Thụy<br /> Yếu tố<br /> <br /> Tốc độ dòng chảy<br /> (m/s)<br /> <br /> Chất đáy<br /> <br /> Độ mặn ( ‰)<br /> <br /> Thời gian phơi<br /> bãi (h)<br /> <br /> DO (mg/L)<br /> <br /> pH<br /> <br /> Nhiệt độ oC<br /> <br /> Giá trị<br /> <br /> 0,1 – 0,25<br /> <br /> Bùn cát<br /> <br /> 15 – 25<br /> <br /> 4–6<br /> <br /> 4–6<br /> <br /> 6–7<br /> <br /> 5 – 35<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 145<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản