intTypePromotion=3

Hiệu quả của ondansetron trong việc phòng ngừa ngứa sau tiêm morphine trong khoang dưới nhện

Chia sẻ: ViHephaestus2711 ViHephaestus2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
2
lượt xem
0
download

Hiệu quả của ondansetron trong việc phòng ngừa ngứa sau tiêm morphine trong khoang dưới nhện

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Morphine trong khoang dưới nhện đã được chứng minh là mang lại hiệu quả giảm đau sau mổ tốt, tuy nhiên tác dụng phụ thường gặp nhất là ngứa. Kích hoạt thụ thể trung tâm 5-hydroxytryptamine phân nhóm 3 (5-HT3) là một trong những cơ chế đã được chấp nhận. Tuy nhiên, vai trò của thuốc kháng 5-HT3 trong việc phòng ngừa ngứa chưa được xác định rõ ràng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hiệu quả của ondansetron trong việc phòng ngừa ngứa sau tiêm morphine trong khoang dưới nhện

  1. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ bản Tập 21 * Số 3 * 2017 Nghiên cứu Y học HIỆU QUẢ CỦA ONDANSETRON TRONG VIỆC PHÒNG NGỪA NGỨA SAU TIÊM MORPHINE TRONG KHOANG DƯỚI NHỆN Bùi Ngọc Uyên Chi*, Nguyễn Ngọc Anh**, Trần Thị Xuân Mai*** TÓM TẮT Đặt vấn đề: Morphine trong khoang dưới nhện đã được chứng minh là mang lại hiệu quả giảm đau sau mổ tốt, tuy nhiên tác dụng phụ thường gặp nhất là ngứa. Kích hoạt thụ thể trung tâm 5-hydroxytryptamine phân nhóm 3 (5-HT3) là một trong những cơ chế đã được chấp nhận. Tuy nhiên, vai trò của thuốc kháng 5-HT3 trong việc phòng ngừa ngứa chưa được xác định rõ ràng. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiền cứu, ngẫu nhiên, mù đôi, có nhóm chứng. Chúng tôi đánh giá hiệu quả phòng ngừa của ondansetron đối với tình trạng ngứa do morphine trong khoang dưới nhện. Bệnh nhân được chia ngẫu nhiên thành hai nhóm ondansetron 4 mg truyền tĩnh mạch (n = 86) và natri clorua 0,9% truyền tĩnh mạch (n = 84) 30 phút trước khi gây tê tủy sống với bupivacaine, fentanyl 25 mcg và morphine 0,1 mg để phẫu thuật hậu môn – trực tràng. Bệnh nhân được đánh giá về tỉ lệ ngứa sau gây tê tủy sống 15, 30 phút, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 24 giờ. Đồng thời bệnh nhân cũng được đánh giá về mức độ – thời gian và yêu cầu điều trị ngứa. Bệnh nhân thuộc nhóm ondansetron còn được đánh giá các tác dụng phụ của ondnasetron. Kết quả: Tỉ lệ ngứa thực sự thấp hơn ở nhóm ondansetron so với nhóm chứng (37% so với 64%, p< 0,001). Cả hai nhóm có mức độ, thời gian và yêu cầu điều trị ngứa như nhau (p>0,01). Trong nhóm ondansetron, không có bệnh nhân nào bị tác dụng phụ. Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy sử dụng ondansetron dự phòng có tác dụng làm giảm tỉ lệ ngứa do morphine trong khoang dưới nhện, tuy nhiên chưa thấy sự khác biệt về mức độ, thời gian và yêu cầu điều trị ngứa giữa hai nhóm nghiên cứu. Từ khóa: ngứa do morphine, morphine trong khoang dưới nhện, thuốc kháng thụ thể 5-HT3, ondansetron ABSTRACT PROPHYLACTIC INTRAVENOUS ONDANSETRON IN INTRATHECAL MORPHINE-INDUCED PRURITUS: A RANDOMIZED, DOUBLE-BLINDED, PLACEBO-CONTROLLED STUDY Bui Ngoc Uyen Chi, Nguyen Ngoc Anh, Tran Thi Xuan Mai * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Supplement Vol. 21 - No 3 - 2017: 97 - 102 Background: Intrathecal morphine has been used effectively for postoperative pain relief; however, the most common side effect is pruritus. Activation of central 5-hydroxytryptamine subtype 3 (5-HT3) receptors is one of its possible mechanisms. The role of 5-HT3 antagonists in the prevention of pruritus has not been clearly established. Method: In a prospective, randomized, double-blind, placebo-controlled study, we evaluated the efficacy of prophylactic administration of ondansetron for the prevention of intrathecal morphine-induced pruritus. The patients were randomized into 2 groups to receive either 4 mg ondansetron pIV (group O, n=86), or sodium chloride 0,9% pIV (group C, n=84) 30 min before administration of spinal anesthesia with 0.5% hyperbaric bupivacaine, 25 mcg of fentanyl and 0.1 mg of morphine for colorectal surgery. Patients were evaluated for incidence of pruritus at 15 min – 30 min – 1 – 2 – 3 – 4 – 5 – 6 – 7 – and 24h after spinal anesthesia. Patients * Khoa GMHS, Bệnh viện Hạnh Phúc ** Bệnh viện Nhân Dân 115 *** Bệnh viện Đại Học Y Dược Tp.HCM Tác giả liên lạc: BS CK2 Bùi Ngọc Uyên Chi ĐT: 0918509788, Email: bnuyenchi@gmail.com Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức 97
  2. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ bản Tập 21 * Số 3 * 2017 were also asked of severity, location, duration and request for treatment for pruritus. Results: The incidence and severity of pruritus was significantly less frequent in the ondansetron group compared with placebo (37% and 64% respectively, p0.01). There were no side effects of ondansetron in the controlled group. Conclusion: We conclude that the prophylactic use of ondansetron helps to reduce the incidence of intrathecal morphine-induced pruritus, but not in severity and duration of pruritus. Key words: morphine-induced pruritus, intrathecal morphine, 5-HT3 antagonists, ondansetron ĐẶT VẤN ĐỀ trực tràng với gây tê tủy sống. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm bệnh nhân dị ứng ondnansetron, Morphine trong khoang dưới nhện mang lại đang sử dụng thuốc steroid – kháng histamin hiệu quả giảm đau sau mổ tốt, tuy nhiên thường – kháng thụ thể serotonin, có triệu chứng gây tác dụng phụ là ngứa, buồn nôn và nôn sau ngứa toàn thân – vùng mặt trước mổ, phụ nữ mổ(3,6). Ngứa là một trong những tác dụng phụ mang thai hoặc cho con bú, ECG có khoảng thường gặp nhất của morphine trong khoang QT dài, nhiễm ký sinh trùng, suy tế bào gan- ứ dưới nhện, với tỉ lệ là 83% ở những bệnh nhân mật, suy thận mạn – các bệnh lý tăng urea sản khoa và khoảng 69% ở những bệnh nhân trong máu, bệnh nhân không hiểu cách đánh không có thai bao gồm cả nam và nữ(2). Ngứa giá ngứa - buồn nôn và nôn và các thông tin gây khó chịu cho bệnh nhân và rất khó điều trị, thu thập khác. Bệnh nhân cũng bị loại khỏi việc phòng ngừa ngứa vẫn còn là thách thức đối nghiên cứu nếu được gây tê tủy sống bằng với BS GMHS. Mặc dù cơ chế chính xác chưa kim < 27G, gây tê tủy sống thất bại – phải được biết rõ, morphine trong khoang dưới nhện chuyển sang gây mê để mổ, bệnh nhân sử tương tác với các thụ thể 5-hydoxytryptamine dụng nhóm opioid để giảm đau sau mổ, tai phân nhóm 3 (5-HT3) có đóng vai trò trong cơ biến do phẫu thuật, bệnh nhân dị ứng thuốc chế bệnh sinh gây ngứa. Kết quả là, thuốc kháng trong quá trình điều trị, bệnh nhân không thể thụ thể 5-HT3 có hiệu quả trong việc phòng hợp tác cung cấp thông tin do tình trạng bệnh. ngừa và điều trị ngứa(2,9,14). Ondansetron đã được Nghiên cứu được thiết kế theo kiểu nghiên sử dụng với mục đích này, tuy nhiên các kết quả cứu tiền cứu, ngẫu nhiên, mù đôi, có nhóm nghiên cứu còn mâu thuẫn(7). Vì vậy, chúng tôi chứng. Bệnh nhân và người thu dữ liệu không thực hiện nghiên cứu tiền cứu, ngẫu nhiên, mù biết bệnh nhân thuộc nhóm nào. Một BS GM, đôi, có nhóm chứng với giả thuyết sử dụng thuộc khoa GMHS BV ĐH Y Dược không tham ondansetron dự phòng làm giảm 50% tỉ lệ ngứa gia vào quá trình điều trị bệnh nhân, làm một do morphine trong khoang dưới nhện ở bệnh danh sách ngẫu nhiên, tạo 176 cái thăm ghi tên nhân phẫu thuật hậu môn – trực tràng với gây tê nhóm và số ngẫu nhiên cho vào phong bì. Khi có tủy sống. Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá hiệu bệnh nhân đủ điều kiện đưa vào nghiên cứu, bác quả dự phòng ngứa sau tiêm morphine khoang sĩ phụ trách phòng chờ trước mổ sẽ mở một dưới nhện của ondansetron. phong bì để biết bệnh nhân thuộc nhóm nào, ghi PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU số ngẫu nhiên vào tờ thu dữ liệu, đồng thời cho Sau khi được sự đồng ý của Hội đồng Y y lệnh truyền thuốc theo mô tả dưới đây. Nhóm đức Đại học Y Dược TP.HCM và ban Nghiên O: Ondansetron 4 mg pha trong Natri clorua cứu Khoa học bệnh viện Đại học Y Dược 0.9% 100 ml truyền tĩnh mạch trong 15 phút. TP.HCM, chúng tôi nghiên cứu 172 bệnh nhân Nhóm C: Natri clorua 0,9% 100 ml truyền tĩnh có ASA I-II thực hiện phẫu thuật hậu môn- mạch trong 15 phút. Điều dưỡng phụ trách 98 Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức
  3. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ bản Tập 21 * Số 3 * 2017 Nghiên cứu Y học phòng chờ trước mổ sẽ truyền thuốc theo y lệnh sau sử dụng morphine 0,1 mg trong khoang trước khi bệnh nhân vào phòng mổ 30 phút. dưới nhện là 50%. Giả định rằng sử dụng Bệnh nhân được gây tê tủy sống L4-L5, ondansetron làm giảm tỉ lệ ngứa 50%. Chún tôi hoặc L3-L4 với kim 27G hoặc 29G, tính được cỡ mẫu là 79 bệnh nhân cho mỗi bupivacaine 0,5% tăng trọng (liều tùy thuộc nhóm. Chúng tôi giả định rằng tỉ lệ mất mẫu là bác sĩ gây mê phụ trách phòng mổ), fentanyl 10%. Như vậy mỗi nhóm cần 88 bệnh nhân. Các 25 mcg, morphine 0,1 mg (tất cả không có chất biến số định lượng có phân phối chuẩn được bảo quản). Bệnh nhân được theo dõi liên tục trình bày theo giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn. từ lúc truyền ondansetron hoặc natri clorua Các biến số định tính được trình bày theo tần số 0,9%, ghi nhận các biến số ở các thời điểm 15 và tỉ lệ phần trăm. Biến số định lượng được kiểm phút, 30 phút, 1 – 2 – 3 – 4 – 5 – 6 – 7 và 24 giờ định bằng kiểm định t mẫu độc lập. Biến số định sau gây tê tủy sống. Bệnh nhân được đánh giá tính được kiểm định bằng kiểm định chi bình về ngứa bao gồm: có ngứa hay không, mức độ, phương và Fisher. Chúng tôi cũng tính tỉ lệ giảm thời gian và yêu cầu điều trị ngứa. Ngứa được nguy cơ (RRR = Risk reduction rate) khi sử dụng định nghĩa là cảm giác kích thích, khó chịu ở ondansetron dự phòng và số cần điều trị. Các da, gây ra mong muốn hay phản xạ gãi. Ngứa phép kiểm có giá trị p < 0,05 được xem là khác là biến số nhị giá, giá trị là có hoặc không biệt có ý nghĩa thống kê. Bệnh nhân được xem là không có triệu chứng KẾT QUẢ ngứa nếu bệnh nhân có thời gian khởi phát Từ tháng 12/2015 đến tháng 05/2016, chúng ngứa trước 2 giờ sau gây tê tủy sống và thời tôi có 172 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, trong gian ngứa ngắn hơn 2,5 giờ. Mức độ ngứa đó có 2 bệnh nhân bị loại. Bệnh nhân 1 (nhóm được chia thành 3 độ: 1 = ngứa ít, 2 = ngứa chứng): Suy hô hấp sau mổ. Bệnh nhân 2 (nhóm vừa, 3 = ngứa nhiều. Bệnh nhân ngứa nhiều ondansetron): Gây tê tủy sống thất bại, phải được điều trị theo phác đồ bệnh viện chuyển qua gây mê toàn thể để mổ. Hai bệnh (naloxone tiêm mạch, dò liều). Bệnh nhân có nhân này được theo dõi trong 24 giờ sau mổ. Kết sử dụng ondansetron còn được theo dõi thêm quả cuối cùng nhóm Ondansetron có 86 bệnh các tác dụng phụ của thuốc bao gồm đau đầu, nhân, nhóm chứng có 84 bệnh nhân. mệt, hồi hộp và rối loạn nhịp tim. Bệnh nhân của hai nhóm nghiên cứu không Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS 16.0. Lực có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi, giới, phân tích tính cỡ mẫu với nguy cơ sai lầm loại II cân nặng, chiều cao và phân độ ASA. là 0,1 và nguy cơ sai lầm loại 1 là 0,05. Tác giả Nguyễn Văn Minh et al(12) nhận thấy tỉ lệ ngứa Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ học của dân số nghiên cứu Nhóm Ondansetron n (%) Nhóm chứng n (%) p Tuổi (năm)* 37±11 40±11 0,095 Giới nam 43 (50) 50 (59.5) 0,212 Cân nặng (kg)* 60±11 63±12 0,062 Chiều cao (cm)* 162±7 163±7 0,1 ASA 1 65 (76) 53 (63) 0,077 ASA 2 21 (24) 31 (37) *: trung bình ± độ lệch chuẩn Tỉ lệ ngứa ngứa (chiếm 64%), với p < 0,001. Nhóm ondansetron có 32 bệnh nhân bị ngứa Tỉ lệ giảm nguy cơ - RRR = 0,43 với khoảng (chiếm 37%), nhóm chứng có 54 bệnh nhân bị tin cậy 95% là 0,21 – 0,60, p < 0,001. Ondansetron Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức 99
  4. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ bản Tập 21 * Số 3 * 2017 làm giảm nguy cơ bị ngứa xuống 43%. Số cần mỡ ví dụ như fentanyl thường khởi phát sớm và điều trị là 3,7. Chúng tôi cần phải điều trị 4 bệnh nhanh hết hơn. Ngứa do morphine trong nhân để giảm một bệnh nhân bị ngứa so với khoang dưới nhện thường khởi phát chậm, kéo nhóm chứng. dài và khó điều trị. Cơ chế gây ngứa của morphine trong khoang dưới nhện rất phức tạp và chưa được biết rõ. Nhiều cơ chế đã được chấp nhận, nhưng không có một cơ chế đơn thuần nào có thể giải thích cho tất cả mọi hiện tượng. Một số cơ chế đã được chấp nhận bao gồm(3,6,9,14): Có một “trung tâm ngứa” ở hệ thần kinh trung ương Kích hoạt sừng sau tủy sống và hoạt động Hình 1: So sánh tỉ lệ ngứa giữa hai nhóm nghiên cứu đối kháng các chất dẫn truyền ức chế Mức độ ngứa ít – vừa – nhiều ở nhóm Điều hòa hoạt động phóng thích serotonin ondansetron là 34 – 41 – 25% và ở nhóm chứng là của tế bào thần kinh 28 – 61 – 11% với p = 0,12. Thời gian ngứa trung bình là 3,68±1,44 giờ ở nhóm ondansetron và Lý thuyết về sự liên hệ giữa đau và ngứa 3,42±1,10 giờ ở nhóm chứng, với p = 0.347. Nhóm Mặc dù đường dẫn truyền thần kinh của ondansetron có 16 (50%) và nhóm chứng có 29 ngứa khác với đường dẫn truyền đau, chúng lại (54%) bệnh nhân yêu cầu điều trị ngứa, với có tương tác rất gần. Hoạt động liên tục của hệ p=0,74. Tuy nhiên, sau khi được giải thích, không thống dẫn truyền đau ức chế hoạt động của các có bệnh nhân nào sử dụng naloxone để điều trị nơ ron dẫn truyền ngứa của tủy sống. Do đó, ngứa. Nhóm Ondansetron có 86 bệnh nhân, sau phong bế đau có thể làm kích hoạt ngứa (ví dụ, khi sử dụng Ondansetron 4 mg, theo dõi trong ngứa do morphine trong khoang dưới nhện) và 24 giờ không có bệnh nhân nào bị nhức đầu, ngứa có thể bị ức chế do đau (ví dụ tác dụng mệt, hồi hộp, rối loạn nhịp tim. chống ngứa do gãi). Hệ thống serotonin dường như cũng đóng vai trò điều hòa, tạo sự cân bằng BÀN LUẬN giữa cảm nhận đau và chống đau trong hệ thống Trong nghiên cứu của chúng tôi, sau khi thần kinh dẫn truyền đau. Thụ thể 5-HT3 có rất tiêm morphine trong khoang dưới nhện, nhóm nhiều ở sừng sau tủy sống và nhân cảm giác của sử dụng ondansetron dự phòng có 37%, nhóm thần kinh sinh ba trong hành não. Tác giả Fan(5) chứng có 64% bệnh nhân bị ngứa, có sự khác biệt đã chứng minh thụ thể serotonin 5-HT3 bị kích giữa hai nhóm nghiên cứu (p
  5. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ bản Tập 21 * Số 3 * 2017 Nghiên cứu Y học Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ủng hộ sự khác biệt giữa 2 nhóm. Nhiều nghiên cứu đã cho giả thuyết này, cho thấy những bệnh nhân chứng minh được ngoài việc làm giảm tỉ lệ ngứa sử dụng thuốc kháng thụ thể 5-HT3 dự phòng có do opioid trục thần kinh, sử dụng ondansetron tỉ lệ ngứa thấp hơn. Thuốc kháng thụ thể dự phòng còn giúp giảm mức độ ngứa(2,7,8). serotonin đã được chứng minh là có hiệu quả dự Chúng tôi cho rằng cần phải thực hiện nghiên phòng và điều trị ngứa do morphine trong cứu với mẫu lớn hơn để tìm sự khác biệt về mức khoang dưới nhện trong nhiều nghiên cứu(7,8,11,13). độ ngứa giữa hai nhóm, tương tự như kết quả Các thuốc kháng thụ thể serotonin 5-HT3 làm nghiên cứu và đề xuất của tác giả Pirat và giảm tỉ lệ ngứa do morphine trong trục thần Chaluruxananan(4,13). kinh nhưng không có tác dụng đối với các thuốc Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm phiện tan trong mỡ. Một cơ chế đã được chấp ondansetron và nhóm chứng không có sự khác nhận là morphine ít tan trong mỡ hơn nên có biệt về yêu cầu điều trị ngứa với tỉ lệ lần lượt là nồng độ trong dịch não tủy cao hơn và di 50% và 54%. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh chuyển về hướng đầu nhiều hơn(3). Một lý do được ngoài việc làm giảm tỉ lệ ngứa do opioid khác là thuốc kháng thụ thể serotonin 5-HT3 có trục thần kinh, sử dụng ondansetron dự phòng thể gắn vào thụ thể 5-HT3 trong tủy sống trước còn giúp giảm yêu cầu điều trị ngứa(2,7,8,11,13). Kết morphine nhưng sau thuốc phiện tan trong mỡ. quả nghiên cứu cho nếu số bệnh nhân có yêu Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã loại trừ cầu điều trị ngứa thấp 0%, 11%(8,11) thì việc sử những bệnh nhân bị ngứa do fentanyl. Dựa vào dụng thường quy ondansetron có thể không cần dược động học của fentanyl trong khoang dưới thiết ở những bệnh nhân không bị ngứa hoặc bị nhện và kết quả nghiên cứu khác, ngứa do ngứa mà không có yêu cầu điều trị. Điều này còn fentanyl có đặc điểm là khởi phát sớm (trước 2 được củng cố qua 2 phân tích gộp cho thấy số giờ sau tiêm fentanyl vào khoang dưới nhện) và cần điều trị để giảm ngứa khá cao là 7 và 10(2,7). thời gian ngứa ngắn (dưới 2,5 giờ)(2,3,6,9). Những Tuy nhiên, vì không có các yếu tố mạnh đủ để bệnh nhân bị ngứa trong nghiên cứu của chúng tiên lượng bệnh nhân có bị ngứa hay không, và tôi là do morphine trong khoang dưới nhện. Vì giả định rằng hầu hết bệnh nhân đều không vậy, sự khác biệt về tỉ lệ ngứa giữa hai nhóm muốn bị phiền nạn này, chúng tôi cho rằng việc trong hai nhóm nghiên cứu là do hiệu quả dự sử dụng ondansetron dự phòng có thể mang lại phòng của ondansetron đối với morphine. sự hài lòng cho một số lượng lớn bệnh nhân vì tỉ Mặc dù đã sử dụng thuốc để dự phòng lệ cao dân số bệnh nhân bị ngứa do morphine ngứa, tỉ lệ ngứa ở nhóm sử dụng ondansetron trong khoang dưới nhện. trong nghiên cứu của chúng tôi còn cao, lên Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có đến 37%. Việc này chứng tỏ mức độ phức tạp bệnh nhân nào bị tác dụng phụ của ondansetron trong cơ chế bệnh sinh của ngứa. Bên cạnh thụ với liều 4 mg. Nhiều nghiên cứu cũng chứng thể serotonin, ngứa do morphine trong minh tính an toàn của ondansetron(2,7). Tuy khoang dưới nhện liên quan đến thụ thể µ, nhiên, một số báo cáo ca lâm sàng về tác dụng dopamine D2, gapabentin, glycine và hệ thống phụ gây rối loạn nhịp và co giật của ondansetron prostaglandin(3,6,9,14). Vì vậy, việc phòng ngừa đã được công bố(1,10). Mặc dù ondansetron liều và điều trị ngứa cần phối hợp nhiều loại thuốc thấp được báo cáo là an toàn nhưng bệnh nhân với nhau để mang lại hiệu quả tốt hơn cho vẫn có thể gặp nguy hiểm nếu có bệnh tiềm ẩn bệnh nhân. không có biểu hiện lâm sàng trước đó, hoặc đôi Trong nghiên cứu của chúng tôi, mức độ khi xảy ra ở những bệnh nhân không có tiền sử ngứa ít và vừa ở nhóm ondansetron là 34% và gì đặc biệt. Do đó, bệnh nhân cần được theo dõi 41% so với 28% và 61% ở nhóm chứng, không có sát khi sử dụng thuốc. Những bệnh nhân có Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức 101
  6. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ bản Tập 21 * Số 3 * 2017 nguy cơ cao chỉ nên sử dụng thuốc kháng cesarean delivery with intrathecal morphine: A systematic review and meta-analysis", Anesth Analg, 109 pp. 174-182. serotonin trong bệnh viện. 8. Koju RB, Gurung BS, Dongol Y (2015), "Prophylactic administration of ondansetron in prevention of intrathecal KẾT LUẬN morphine-induced pruritus and post-operative nausea and vomiting in patients undergoing caesarean section", Kết quả nghiên cứu cho thấy sử dụng BMC Anesthesiology, 15 (1), pp. 1-6. ondansetron dự phòng có tác dụng làm giảm tỉ 9. Kumar K, Singh SI (2013), "Neuraxial opioid-induced lệ ngứa do morphine trong khoang dưới nhện, pruritus: an update", J Anaesthesiol Clin Pharmacol, 29 pp. 303-307. tuy nhiên chưa thấy sự khác biệt về mức độ, thời 10. McKechnie K, Froese A (2010), "Ventricular tachycardia gian và yêu cầu điều trị ngứa giữa hai nhóm after ondansetron administration in a child with nghiên cứu. undiagnosed long QT syndrome", Can J Anaesth, 57 (5), pp. 453-457. TÀI LIỆU THAM KHẢO 11. Moustafa AAM, Baaror AS, Abdelazim IA (2016), "Comparative study between nalbuphine and 1. Azza HA, Hanan HS (2013), "Repeated generalized ondansetron in prevention of intrathecal morphine seizures shortly after single intramuscular dose is an induced pruritus in women undergoing cesarean section", additional reasonable cause to restrict the use of Anesth Essays, 10 pp. 238-244. ondansetron: A case report", Advances in Biological 12. Nguyễn Văn Minh, Hồ Khả Cảnh, Trần Thị Thu Lành Chemistry, 3 pp. 518-520. (2007), "Đánh giá tác dụng giảm đau sau mổ của morphin 2. Bonnet M P, Marret E, Josserand J, et al. (2008), "Effect of kết hợp bupivacain trong gây tê tủy sống để mổ lấy thai", prophylactic 5-HT3 receptor antagonists on pruritus Tạp chí Khoa học (Đại học Huế), 7 (41), pp. 99-105. induced by neuraxial opioids: a quantitative systematic 13. Pirat A, Tuncay SF, Torgay A, et al. (2005), "Ondansetron, review", Br J Anaesth, 101 pp. 311-319. orally disintegrating tablets versus intravenous injection 3. Bujedo BM, Santos SG, Azpiazu AU (2012), "A review of for prevention of intrathecal morphine-induced nausea, epidural and intrathecal opioids used in the management vomiting, and pruritus in young males", Anesth Analg, 101 of postoperative pain", J Opioid Manag, 8 (3), pp. 177-192. (5), pp. 1330-1336. 4. Charuluxananan S, Kyokong O, Somboonviboon W, et al. 14. Szarvas S, Harmon D, Murphy D (2003), "Neuraxial (2003), "Nalbuphine versus ondansetron for prevention of opioid induced pruritus: a review", J Clin Anesth, 15 pp. intrathecal morphine-induced pruritus after cesarean 234-239. delivery", Anesth Analg, 96 pp. 1789-1793. 5. Fan P (1995), "Nonopioid mechanism of morphine modulation of the activation of 5-hydroxytryptamine type Ngày nhận bài báo: 15/02/2017 3 receptors", Mol Pharmacol, 47 (3), pp. 491-495. 6. Gehling M, Tryba M (2009), "Risks and side-effects of Ngày phản biện đánh giá bài báo: 28/02/2017 intrathecal morphine combined with spinal anaesthesia: a Ngày bài báo được đăng: 05/04/2017 meta-analysis", Anaesthesia, 64 (6), pp. 643-651. 7. George RB, Allen TK, Habib AS (2009), "Serotonin receptor antagonists for the prevention and treatment of pruritus, nausea, and vomiting in women undergoing 102 Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản