BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

TRƯƠNG VĂN KHÁNH

HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG QUỸ BẢO LÃNH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH

TRƯƠNG VĂN KHÁNH

HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG QUỸ BẢO LÃNH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: Tài chính, ngân hàng

Mã ngành: 62 34 02 01

Người hướng dẫn khoa học:

- Hướng dẫn 1: TS. Phan Ngọc Minh

- Hướng dẫn 2: TS. Lâm Thị Hồng Hoa

TP. HỒ CHÍ MINH – 2013

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là: Trƣơng Văn Khánh.

Sinh ngày 18 tháng 02 năm 1974.

Quê quán: Xã Phổ Khánh, Huyện Đức Phổ, Tỉnh Quảng Ngãi.

Hiện công tác tại: Khoa Tài chính kế toán- Trƣờng Đại học Sài Gòn - Số 273

An Dƣơng Vƣơng, Quận 5- TP. HCM.

Là nghiên cứu sinh khóa: 14 của Trƣờng Đại Học Ngân Hàng Tp.Hồ Chí Minh.

Mã số nghiên cứu sinh: 010114090006.

Cam đoan đề tài: “Hiệu quả hoạt động Quỹ Bảo lãnh tín dụng đối với doanh

nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam”.

Chuyên ngành: Tài chính, ngân hàng.

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Phan Ngọc Minh và TS. Lâm Thị Hồng Hoa.

Luận án đƣợc thực hiện tại Trƣờng Đại Học Ngân Hàng Tp.Hồ Chí Minh.

Đề tài này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính

độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chƣa đƣợc công bố toàn bộ nội

dung này bất kỳ ở đâu; các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận án đƣợc chú thích

nguồn gốc rõ ràng, minh bạch.

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi.

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 04 năm 2013

Tác giả

TRƢƠNG VĂN KHÁNH

ii

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .................................................................................................. xi

CHƢƠNG 1: QUỸ BẢO LÃNH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH

NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA ......................................................................... 1

1.1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA .................................. 1

1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa ........................................................... 1

1.1.2. Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa ................................................................. 2

1.1.2.1. Tham khảo cách phân loại DNNVV của một số nước trên thế giới ............. 3

1.1.2.2. Theo cách phân loại của Việt Nam ............................................................... 5

1.1.3. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa .......................................................... 6

1.1.4. Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế nhiều thành phần ................................ 9

1.1.5. Cơ hội và thách thức đối với DNNVV khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế.

.......................................................................................................................... 9

1.1.5.1. Những cơ hội ............................................................................................... 10

1.1.5.1.1. Những thách thức ..................................................................................... 11

1.2. QUỸ BẢO LÃNH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNNVV ....................................... 14

1.2.1. Sự cần thiết hình thành và phát triển của Quỹ BLTD đối với DNNVV ........ 14

1.2.2. Khái niệm về Quỹ BLTD ............................................................................... 16

1.2.3. Mô hình hoạt động ......................................................................................... 17

1.2.4. Các khái niệm có liên quan đến hoạt động của Quỹ BLTD .......................... 18

1.2.5. Chức năng của Quỹ BLTD đối với DNNVV ................................................. 19

1.2.5.1. BLTD cho các DNNVV ................................................................................ 19

1.2.5.2. Tư vấn về đầu tư tài chính và đào tạo nguồn nhân lực nhằm hỗ trợ các

DNNVV phát triển..................................................................................... 20

1.2.5.3. Kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay và tài sản hình thành từ vốn vay của

bên được bảo lãnh .................................................................................... 21

iii

1.2.6. Vai trò của Quỹ BLTD đối với DNNVV ....................................................... 22

1.2.6.1. Góp phần thực hiện chủ trương, chính sách của nhà nước đối với

DNNVV ....................................................................................................... 22

1.2.6.2. Tạo điều kiện cho DNNVV tíêp cận vốn tín dụng tại các TCTD................. 23

1.2.6.3. Góp phần gián tiếp trong việc ổn định và thu hút lao động cho các

DNNVV ....................................................................................................... 24

1.2.6.4. Góp phần tăng năng lực quản lý và điều hành cho các DNNVV ................ 24

1.2.7. Mối quan hệ giữa Quỹ BLTD, TCTD và DNNVV ....................................... 25

1.2.8. Hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD tác động đến DNNVV ......................... 26

1.3. LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ BẢO LÃNH TÍNH

DỤNG ĐỐI VỚI DNNVV ........................................................................... 27

1.3.1. Khái niệm về hiệu quả.................................................................................... 27

1.3.2 Các chỉ tiêu đo lƣờng hiệu quả....................................................................... 28

1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG QUỸ BLTD ĐỐI VỚI

DNNVV ............................................................................................................ 33

1.4.1. Môi trƣờng chính trị, pháp lý, kinh tế xã hội ................................................. 33

1.4.1.1. Môi trường chính trị .................................................................................... 33

1.4.1.2. Môi trường pháp lý ...................................................................................... 34

1.4.1.3. Môi trường kinh tế xã hội ............................................................................ 34

1.4.2. Chính sách bảo lãnh tín dụng hỗ trợ phát triển của DNNVV của nhà nƣớc .. 35

1.4.3. Năng lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ................................................... 36

1.4.4. Năng lực của các ngân hàng thƣơng mại ....................................................... 37

1.4.5. Nhu cầu bảo lãnh tín dụng của các DNNVV ................................................. 37

1.4.5.1. Cơ sở lý thuyết mô hình nghiên cứu ............................................................ 38

1.4.5.2. Các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu ................................................... 42

1.5. KINH NGHIỆM HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ BẢO LÃNH TÍN DỤNG ĐỐI

VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN

THẾ GIỚI ....................................................................................................... 42

1.5.1. Quỹ bảo lãnh tín dụng ở một số nƣớc ............................................................ 42

iv

1.5.1.1. Quỹ BLTD tại Trung Quốc ......................................................................... 43

1.5.1.2. Quỹ BLTD tại Hàn Quốc ............................................................................ 46

1.5.1.3. Quỹ BLTD tại Malaysia ............................................................................. 47

1.5.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ............................................................... 48

TÓM LƢỢC CHƢƠNG 1 ...................................................................................... 51

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ

BẢO LÃNH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

TRONG THỜI GIAN QUA .................................................................. 52

2.1. SƠ LƢỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUỸ BLTD

ĐỐI VỚI DNNVV Ở VIỆT NAM .......................................................................... 52

2.1.1. Vốn hoạt động ................................................................................................ 52

2.1.2. Mô hình hoạt động ......................................................................................... 54

2.1.3. Điều kiện thành lập ........................................................................................ 57

2.1.4. Cơ cấu tài chính .............................................................................................. 58

2.1.4.1. Đối với Quỹ BLTD hoạt động độc lập ......................................................... 58

2.1.4.2. Đối với trường hợp không thành lập Quỹ BLTD ......................................... 60

2.2. THỰC TRẠNG VỀ NHU CẦU BLTD CỦA CÁC DNNVV TẠI VIỆT NAM

.......................................................................................................................... 61

2.2.1. Qui trình nghiên cứu ...................................................................................... 61

2.2.2. Thiết kế thang đo ............................................................................................ 63

2.2.3. Thang đo của các nghiên cứu trƣớc ............................................................... 63

2.2.4. Thiết kế bảng câu hỏi ..................................................................................... 63

2.2.5. Nghiên cứu định lƣợng................................................................................... 64

2.2.5.1. Phương thức lấy mẫu ................................................................................. 64

2.2.5.2. Cỡ mẫu ........................................................................................................ 64

2.2.5.3. Xử lý và phân tích dữ liệu ........................................................................... 64

2.2.6. Kiểm định và đánh giá thang đo .................................................................... 70

2.2.6.1. Phân tích Cronbach’s Alpha ....................................................................... 70

v

2.2.6.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) ............................................................. 72

2.2.7. Kiểm định mô hình và các giả thuyết ............................................................ 75

2.2.8. Kết luận qua kiểm định mô hình .................................................................... 84

2.3. THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ BLTD TRONG

THỜI GIAN QUA .......................................................................................... 85

2.3.1. Hiệu quả hoạt động ........................................................................................ 85

2.3.1.1. Hiệu quả về mặt kinh tế .............................................................................. 85

2.3.1.2. Hiệu quả về mặt xã hội ................................................................................ 92

2.3.2. Những hạn chế của Quỹ BLTD đối với DNNVV .......................................... 94

2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế ................................................................... 96

2.3.3.1. Về phía chính sách và các cơ quan quản lý nhà nước ................................ 96

2.3.3.2. Về phía Quỹ bảo lãnh tín dụng .................................................................. 103

2.3.3.3. Về phía các tổ chức tín dụng ..................................................................... 108

2.3.3.4. Về phía bản thân các doanh nghiệp nhỏ và vừa ....................................... 109

2.3.3.5. Về phía các tổ chức hiệp hội ..................................................................... 111

TÓM LƢỢC CHƢƠNG 2 .................................................................................... 113

CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG

QUỸ BẢO LÃNH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ

VỪA Ở VIỆT NAM ............................................................................. 114

3.1. MỤC TIÊU, ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN QUỸ BẢO LÃNH TÍN DỤNG

ĐỐI VỚI DNNVV CỦA NHÀ NƢỚC ........................................................ 114

3.1.1. Định hƣớng phát triển DNNVV của đất nƣớc ............................................. 114

3.1.2. Mục tiêu, yêu cầu và định hƣớng phát triển Quỹ Bảo lãnh tín dụng đối với

DNNVV của nhà nƣớc ................................................................................. 116

3.2. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUỸ BLTD Ở VIỆT NAM ........................... 117

3.3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG QUỸ BLTD ĐỐI VỚI

DNNVV Ở VIỆT NAM ................................................................................ 119

3.3.1. Giải pháp đối với Quỹ bảo lãnh tín dụng ..................................................... 119

vi

3.3.2. Giải pháp đối với DNNVV .......................................................................... 122

3.3.3. Lộ trình hoàn thiện hoạt động Quỹ BLTD ................................................... 125

3.4. CÁC GIẢI PHÁP BỔ TRỢ .......................................................................... 127

3.4.1. Đối với các tổ chức tín dụng ........................................................................ 127

3.4.2. Đối với các tổ chức hiệp hội ........................................................................ 129

3.5. KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN.......... 130

3.5.1. Cải thiện môi trƣờng pháp lý ....................................................................... 130

3.5.2. Xây dựng mô hình hoạt động của Quỹ BLTD ............................................. 134

3.5.3. Chính sách hỗ trợ ......................................................................................... 135

3.5.4. Quản lý thống nhất về nghiệp vụ ................................................................. 144

TÓM LƢỢC CHƢƠNG 3 .................................................................................... 144

KẾT LUẬN ........................................................................................... 146

Danh mục các công trình nghiên cứu đã công bố của tác giả ............... 148

Danh mục tài liệu tham khảo ................................................................. 149

vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa tiếng nƣớc ngoài Nghĩa Tiếng Việt

Bảo lãnh tín dụng BLTD

Doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV

Uỷ ban nhân dân UBND

Thành phố Hồ Chí Minh TP. HCM

Ngân hàng thƣơng mại NHTM

Ngân hàng nhà nƣớc NHNN

Tổ chức tín dụng TCTD

Sản xuất kinh doanh SXKD

Tổ chức hiệp hội TCHH

Ngân sách nhà nƣớc NSNN

Thu nhập doanh nghiệp TNDN

Doanh nghiệp nhà nƣớc DNNN

Hợp tác xã HTX

Cán bộ tín dụng CBTD

World Trade Organization Tổ chức thƣơng mại thế giới WTO

Exploratory Factor Analysis Phân tích nhân tố khám phá EFA

Phƣơng sai trích KMO

Cronbach’s Cronbach’s Alpha Phép kiểm định mức độ tƣơng

quan lẫn nhau Alpha

Eigenvalue Eigenvalue Giá trị phƣơng sai tách ra đƣợc

của mỗi nhân tố

Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức ODA

Vietnam Chamber of Commerce Phòng Thƣơng mại và Công VCCI

and Industry nghiệp Việt Nam

viii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Stt Tên bảng, biểu đồ Trang Số bảng, biểu đồ

Phân loại DNNVV theo khu vực kinh tế Bảng 1.1 6 1

Các Quỹ BLTD hoạt động trực thuộc Quỹ hỗ trợ phát Bảng 2.1 56 2

triển địa phƣơng

Vốn điều lệ của các Quỹ BLTD hoạt động độc lập 3 Bảng 2.2 56

tính đến thời điểm 31/12/2011.

Các bƣớc thực hiện trong quá trình nghiên cứu Bảng 2.3 61 4

Kết quả khảo sát 243 DNNVV về nhu cầu BLTD. Bảng 2.4 67 5

Kết quả nghiên cứu định tính và hiệu chỉnh thang đo. Bảng 2.5 68 6

Phân tích Cronbach’s Alpha cho các biến độc lập và Bảng 2.6 71 7

biến phụ thuộc.

Kết quả phân tích EFA cho các biến độc lập. Bảng 2.7 72 8

Kết quả phân tích EFA cho biến phụ thuộc. Bảng 2.8 73 9

Tổng kết mô hình hồi qui. 10 Bảng 2.9 75

Các hệ số hồi qui. 76

80

80

11 Bảng 2.10 12 Bảng 2.11 Mức độ đánh giá loại hình doanh nghiệp. 13 Bảng 2.12 Mức độ đánh giá qui mô doanh nghiệp. 14 Bảng 2.13 Mức độ đánh giá thời gian hoạt động của doanh 81

nghiệp.

82

83

15 Bảng 2.14 Mức độ đánh giá giá trị tài sản cố định. 16 Bảng 2.15 Mức độ đánh giá động lực phát triển. 17 Bảng 2.16 Mức độ đánh giá nhận thức niềm tin. 83

ix

Giá trị BLTD của các Quỹ BLTD so với nhu cầu vay 18 Bảng 2.17 86

vốn của các DNNVV đã tiếp cận Quỹ từ năm 2008

đến năm 2011

Bảng tính toán bội số BLTD so với vốn điều lệ Quỹ 19 Bảng 2.18 87

BLTD.

Số lƣợt các DNNVV đƣợc các Quỹ BLTD tƣ vấn, 20 Bảng 2.19 89

hỗ trợ từ năm 2008 đến năm 2011.

Các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh của Quỹ BLTD 21 Bảng 2.20 90

TP. HCM.

Kết quả kinh doanh và sử dụng lao động qua các năm 22 Bảng 2.21 91

của 107 DNNVV đƣợc Quỹ BLTD cấp BLTD.

Kết quả khảo sát đánh giá chất lƣợng phục vụ của 23 Bảng 2.22 92

Quỹ BLTD TP. HCM (107 doanh nghiệp đã đƣợc

Quỹ BLTD cấp BLTD).

24 Bảng 2.23 Nhu cầu vốn của DNNVV và khả năng đáp ứng nhu 94

cầu của Quỹ BLTD trên địa bàn TP.HCM từ năm

2008 đến 2011.

Kết quả khảo sát 107 DNNVV tiếp cận với Quỹ 25 Bảng 2.24 96

BLTD TP. HCM

17

25

26 Biểu đồ 1.1 Mô hình hoạt động các Quỹ BLTD 27 Biểu đồ 1.2 Mối quan hệ giữa Quỹ BLTD, DNNVV và TCTD 28 Biểu đồ 1.3 Mô hình nghiên cứu định lƣợng về nhu cầu BLTD 41

của các DNNVV

55

29 Biểu đồ 2.1 Mô hình 1_ Quỹ BLTD hoạt động độc lập 30 Biểu đồ 2.2 Mô hình 2_ Quỹ BLTD trực thuộc Quỹ hỗ trợ phát 55

triển địa phƣơng

31 Biểu đồ 2.3 Qui trình nghiên cứu 62

x

142

32 Biểu đồ 3.1 Mô hình khu công nghiệp hỗ trợ 33 Biểu đồ 3.2 Cụm liên kết ngành trong trƣờng hợp các DNNVV 143

không nằm trong khu công nghiệp hỗ trợ

xi

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam chiếm hơn 97% trong tổng số doanh

nghiệp của cả nƣớc, thu hút một lƣợng lớn lao động, giải quyết công ăn việc làm,

đóng góp đáng kể vào GDP, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và duy trì các

ngành nghề truyền thống. Đặc thù của DNNVV ở Việt Nam là trình độ quản lý yếu

kém, sử dụng chủ yếu là lao động phỗ thông, máy móc thiết bị, công nghệ lạc hậu và

đặc biệt là thiếu vốn hoạt động.

DNNVV là đối tƣợng đang đƣợc quan tâm mật thiết của các tổ chức xã hội,

các cấp quản lý. Chính vì vậy, nhằm gián tiếp hỗ trợ các DNNVV, Chính phủ đã chỉ

đạo một trong những giải pháp để cải tiến, nâng cao hiệu quả hoạt động của các Quỹ

BLTD.

Thực tế, một số địa phƣơng đã thành lập các Quỹ BLTD DNNVV từ năm

2001. Tuy nhiên, hiện nay các Quỹ BLTD vẫn chƣa hoạt động hiệu quả, chƣa góp

phần hỗ trợ các DNNVV phát triển.

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài: “Hiệu quả hoạt động Quỹ BLTD đối với

DNNVV tại Việt Nam” đã đƣợc chọn để nghiên cứu.

2. Mục đích nghiên cứu

- Mục đích của nghiên cứu là phát triển sự hiểu biết về khoản vay có bảo đảm

từ Quỹ BLTD đối với DNNVV cũng nhƣ vai trò của Quỹ BLTD trong phát triển kinh

tế, đặc biệt là tại các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam.

- Xác định nhu cầu đƣợc cấp BLTD để tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng

của DNNVV.

- Phân tích tìm ra những nguyên nhân và những hạn chế của Quỹ BLTD

DNNVV hiện nay ở Việt Nam.

Từ đó đƣa ra các giải pháp để các Quỹ BLTD đối với DNNVV hoạt động có

hiệu quả, góp phần vào sự phát triển của DNNVV ở Việt Nam.

xii

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là thực trạng hoạt động của các Quỹ BLTD

đối với DNNVV ở Việt Nam và những giới hạn của DNNVV ở Việt Nam để từ đó

đƣa ra các giải pháp hỗ trợ các doanh nghiệp này tiếp cận với các nguồn vốn tín

dụng.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài giới hạn nghiên cứu sự phát triển của

Quỹ BLTD DNNVV, những giới hạn của DNNVV; đề tài không nghiên cứu sự hình

thành và phát triển của DNNVV.

4. Tình hình các nghiên cứu trƣớc đây

Liên quan đến DNNVV, những vấn đề lý luận cũng nhƣ tín dụng hỗ trợ phát

triển DNNVV đã thu hút nhiều sự quan tâm nghiên cứu ở trong nƣớc và quốc tế. Có

thể kể ra một số công trình nghiên cứu quan trọng gần nhất có liên quan đến Luận án

này, nhƣ:

- Trong Luận án tiến sĩ kinh tế: “Phát triển DNNVV ở Việt Nam trong quá

trình hội nhập quốc tế”, tác giả Phạm Văn Hồng (2007) đã tập trung vào đánh giá

những khó khăn cũng nhƣ thuận lợi khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thƣơng mại quốc

tế, từ đó đƣa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV tại

Việt Nam.

- Trong Luận án tiến sĩ kinh tế: “Phát triển dịch vụ ngân hàng hỗ trợ DNNVV”,

tác giả Nguyễn Minh Tuấn (2008) đã nghiên cứu và hệ thống hoá các vấn đề lý luận

về dịch vụ ngân hàng và DNVVN, đề cập những vấn đề quản lý rủi ro, chi phí giao

dịch và chi phí hành chính, sự cần thiết có hệ thống kế toán tài chính đặc thù cho

doanh nghiệp vừa và nhỏ…, xem xét các DNVVN nhƣ là các khách hàng tiêu dùng

cá nhân, phân loại các DNVVN thành nhóm đại chúng và nhóm có nhiều lợi nhuận.

Đề tài đã đƣa ra các giải pháp chuyên sâu, có khả năng ứng dụng thực tiễn cao. Phân

tích kinh nghiệm quốc tế từ các nền kinh tế có mức độ phát triển khác nhau để định

vị hệ thống các DNVVN Việt Nam và các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam trên bản

xiii

đồ toàn cầu từ đó tạo điều kiện cho công tác hoạch định chiến lƣợc và định hƣớng đối

với các cơ quan hoạch định chính sách của Việt Nam.

- Trong Luận án tiến sĩ Kinh tế: “Tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

của các ngân hàng thƣơng mại Cổ phần trên địa bàn TP. HCM”, tác giả Võ Đức Toàn

(2012) đã phân tích tìm ra những nguyên nhân và những hạn chế làm cho DNNVV

khó tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng nói chung và của các NHTM Cổ phần

trên địa bàn Tp.HCM nói riêng. Góp phần đƣa ra các giải pháp để các DNNVV có

điều kiện tiếp cận với nguồn vốn của ngân hàng dễ dàng hơn, đồng thời ngân hàng

cũng có cái nhìn mới về các DNNVV trong hoạt động tín dụng của mình.

- Trong Luận án tiến sĩ Kinh tế: “Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tƣ

phát triển của nhà nƣớc”, tác giả Trần Công Hoà (2007) đã tập trung nghiên cứu về

hệ thống các chỉ tiêu đo lƣờng hiệu quả hoạt động của tín dụng nhà nƣớc đối với các

chƣơng trình, dự án của Chính phủ và các doanh nghiệp nhà nƣớc; đồng thời đề xuất

các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng phát triển của nhà nƣớc.

- TS. Trƣơng Quang Thông (2010): “Tài trợ tín dụng ngân hàng cho doanh

nghiêp nhỏ và vừa, một nghiên cứu thực nghiệm tại Khu vực TP. HCM”, tác giả đã

nghiên cứu thực trạng về qui mô vốn, số lƣợng và sự đóng góp của các DNNVV

trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2007, đồng thời đƣa ra những khó khăn của loại

hình doanh nghiệp này trong việc tiếp cận với nguồn vốn tín dụng.

- Một số bài viết về DNNVV và Quỹ BLTD đối với DNNVV của các tác giả

có uy tín trên cả nƣớc nhƣ PGS.,TS. Võ Văn Nhị, TS. Phạm Xuân Quang,... là những

thông tin quý báu giúp tác giả có những nhận định và phân tích khoa học chính xác

hơn trong Luận án.

Tuy có nhiều nghiên cứu về DNNVV, về các dịch vụ hỗ trợ cho DNNVV

nhƣng chƣa có một nghiên cứu nào về Quỹ BLTD và các loại hình BLTD đối với

những DNNVV có phƣơng án sản xuất kinh doanh khả thi, mang lại hiệu quả cao về

mặt kinh tế và xã hội nhƣng lại thiếu tài sản thế chấp và những điều kiện khác để tiếp

cận với nguồn vốn tín dụng của ngân hàng.

xiv

5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu tổng quan về hình thức hỗ trợ của Quỹ BLTD

đối với DNNVV. Qua đó, giúp cho các Quỹ BLTD có thể dự đoán đƣợc tiềm năng

trong việc mở rộng các hình thức hỗ trợ; đồng thời, giúp các Quỹ BLTD và DNNVV

nhận thức đƣợc rằng hình thức hỗ trợ từ Quỹ BLTD là sự cần thiết để có hƣớng phát

triển trong tƣơng lai, từ đó lan rộng ra cả nƣớc nói chung, cũng nhƣ việc nhân rộng

ứng dụng cho nhiều địa phƣơng thực hiện hiệu quả.

6. Những hạn chế trong nghiên cứu

Nghiên cứu này đem lại kết quả và những đóng góp nhất định, phần nào giúp

cho cơ quan quản lý nhà nƣớc hiểu rõ đƣợc các yếu tố ảnh hƣởng đến nhu cầu BLTD

của DNNVV và mức độ tác động của các yếu tố đến nhu cầu vay hiện nay. Tuy

nhiên, nghiên cứu này vẫn còn những điểm hạn chế.

Thứ nhất, hầu hết những khái niệm cơ bản về DNNVV đã đƣợc nhiều tác giả

nghiên cứu trong thời gian gần đây, cụ thể là những đặc điểm của DNNVV, khái

niệm, vai trò, cơ hội và thách thức đối với DNNVV khi Việt Nam gia nhập WTO,...

nên trong việc tiếp cận, tổng hợp lý luận chung trong nghiên cứu của Luận án không

tránh khỏi những trùng lắp nhất định. Tuy nhiên, cần khẳng định dù có những khía

cạnh trùng lắp khó tránh khỏi, song đó không phải là sự sao chép mà đƣợc trình bày

với văn phong và cách tiếp cận riêng của tác giả.

Thứ hai, việc chọn mẫu nghiên cứu có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với

chất lƣợng thông tin trong nghiên cứu định lƣợng. Nếu kích cỡ mẫu nhỏ thì độ tin

cậy của thông tin kém. Do số lƣợng các DNNVV ở Việt Nam là rất lớn (Theo kết

quả rà soát doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê đến 01/01/2012 số lƣợng doanh

nghiệp trong cả nƣớc là 541.103 doanh nghiệp, nếu loại trừ 92.710 doanh nghiệp

không thể xác minh đƣợc, thì tổng số doanh nghiệp của toàn bộ nền kinh tế là

448.393 doanh nghiệp; trong tổng số doanh nghiệp thì DNNVV chiếm khoảng 97%),

trong khi đó số lƣợng các DNNVV tiếp cận với Quỹ BLTD còn rất ít (khoảng 200

doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ khá nhỏ 0,04%) nên việc thu thập các biến độc lập tác

động đến hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD thông qua khảo sát các DNNVV không

xv

đồng nhất, khó có độ tin cậy cao trong khoa học (nếu khảo sát ngẫu nhiên trong

448.393 doanh nghiệp thì hầu hết các doanh nghiệp không biết đến sự tồn tại của

Quỹ BLTD, nếu khảo sát trong khoảng 200 doanh nghiệp đã đƣợc Quỹ BLTD thì các

doanh nghiệp đều đánh giá là Quỹ BLTD hoạt động tốt vì các doanh nghiệp này đã

đƣợc thoả mãn nhu cầu vốn tín dụng). Do đó việc dùng thuật toán trong mô hình kinh

tế lƣợng trong Luận án sẽ không có ý nghĩa về mặt khoa học, việc khảo sát các doanh

nghiệp còn bị hạn chế, kích thƣớc mẫu đại diện không đủ lớn để vận dụng mô hình

định lƣợng hiệu quả hoạt động của các Quỹ BLTD ở Việt Nam bằng các phần mềm

nhƣ Eview, Amos, phần mềm SPSS,... đây là những hạn chế của Luận án. Luận án

chỉ đạt đƣợc ở việc kiểm định mô hình về nhu cầu BLTD để tiếp cận nguồn vốn tín

dụng ngân hàng của DNNVV bằng phần mềm SPSS (sử dụng công cụ phân tích

Cronbach’s Alpha, nhân tố khám phá EFA). Các nội dung khác trong Luận án chủ

yếu sử dụng phƣơng pháp thống kê mô tả để đƣa ra những nhận định, các kết quả

nghiên cứu mang tính truyền thống.

Thứ ba, do hạn chế về điều kiện nghiên cứu nhƣ thời gian, chi phí… nên

nghiên cứu để thực hiện mô hình định lƣợng chỉ tập trung thực hiện trong phạm vi

những đơn vị Tp. Hồ Chí Minh do vậy có thể không phản ánh hết thực trạng nhu cầu

BLTD ở những địa phƣơng khác. Đây là một hƣớng cho nghiên cứu tiếp theo.

Thứ tư, phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc thực hiện trong đề tài này là phƣơng

pháp lấy mẫu thuận tiện, số lƣợng mẫu nhỏ và phân bố không đồng đều giữa các

nhóm. Nếu có thể lấy số lƣợng mẫu lớn hơn và phƣơng pháp lấy mẫu theo xác suất

kết hợp với phƣơng pháp lấy mẫu theo tỉ lệ thì kết quả nghiên cứu sẽ sâu sắc hơn và

đúng với thực tế hơn.

Trong các nghiên cứu tiếp theo, khi số lƣợng các DNNVV tiếp cận Quỹ BLTD

đủ kích cỡ mẫu thì có thể tiến hành khảo sát để vận dụng mô hình định lƣợng về hiệu

quả hoạt động của các Quỹ BLTD ở Việt Nam một cách toàn diện hơn.

7. Phƣơng pháp nghiên cứu

Trên cơ sở của phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ

nghĩa duy vật lịch sử, các phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong quá trình thực hiện Luận

xvi

án bao gồm: phƣơng pháp thống kê, phân tích thống kê, phƣơng pháp điều tra khảo

sát, kiểm định mô hình định lƣợng, tham vấn ý kiến của các nhà doanh nghiệp, các

nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia trong lĩnh vực tín dụng đối với các

DNNVV.

8. Những đóng góp của Luận án

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về BLTD đối với DNNVV. Đề tài

đƣa ra những chỉ tiêu đo lƣờng hiệu quả của Quỹ BLTD đối với DNNVV.

Đề tài này góp phần làm rõ những nguyên nhân dẫn đến hệ quả là các Quỹ

BLTD DNNVV ở Việt Nam hoạt động không hiệu quả và chƣa góp phần đáng kể

vào sự phát triển của DNNVV ở Việt Nam.

Đối với các DNNVV: giúp cho doanh nghiệp nhận thấy những điểm mạnh để

tiếp tục phát huy và những hạn chế đáng kể của mình nhằm hoàn thiện để phát triển

tốt hơn.

Đối với cơ quan quản lý vĩ mô: góp phần gợi ý để cơ quan quản lý các cấp có

những chính sách nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD

DNNVV trong thời gian tới.

9. Kết cấu của Luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục các chữ viết tắt, Danh mục

tài liệu tham khảo và các phụ lục, Luận án đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng:

Chƣơng 1: Quỹ BLTD đối với DNNVV

Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD đối với DNNVV ở

Việt Nam trong thời gian qua.

Chƣơng 3: Giải pháp hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD ở Việt Nam trong

thời gian tới.

1

CHƢƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUỸ BẢO LÃNH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI

DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

1.1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo Luật Doanh nghiệp ngày 29/11/2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế

có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo

quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản,

có quyền và nghĩa vụ dân sự, hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự

chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế và chịu sự quản lý của Nhà nước bởi

luật Doanh nghiệp và các quy định khác của pháp luật. Nói cách khác, doanh nghiệp

là một đơn vị kinh tế được thành lập và tổ chức sản xuất ra sản phẩm để kinh doanh

hoặc cung ứng dịch vụ, kể cả những sản phẩm hàng hóa không do mình làm ra

nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường và kết quả thu về là lợi nhuận, tích lũy được

vốn để tiếp tục tái đầu tư phát triển kinh doanh ngày càng cao hơn. Như vậy, doanh

nghiệp là một tổ chức kinh doanh không kể thuộc sở hữu của thành phần kinh tế nào

và nó không phụ thuộc vào quy mô hoạt động của doanh nghiệp.

Loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) phát triển khá phổ biến ở các

nước đang phát triển, nhất là ở các nước trong khu vực ASEAN. Ở Việt Nam, nhóm

doanh nghiệp này vị thế quan trọng trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá_hiện

đại hoá đất nước.

Có nhiều định nghĩa khác nhau về DNNVV: Theo hầu hết các nước trên thế

giới, DNNVV được định nghĩa là các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, thực

hiện hoạt động kinh doanh với số vốn và lực lượng lao động có qui mô nhỏ và trung

bình so với các doanh nghiệp có qui mô lớn khác.

Ở Việt Nam, DNVVV được định nghĩa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập,

đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ

2

đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 200 người (theo định nghĩa

tại Công văn 681/CP – KTN ngày 20 tháng 6 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ).

Theo điều 3 của Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001

về trợ giúp phát triển DNNVV thì DNNVV được định nghĩa như sau: DNNVV là cơ

sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành,

có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không

quá 300 người.

Theo định nghĩa này, các DNNVV ở Việt Nam bao gồm các DNNN có quy

mô nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh theo Luật DNNN, các công ty cổ phần, công ty

trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ và vừa được đăng ký

theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, cá nhân có hoạt động SXKD theo hình

thức hộ kinh doanh cá thể được điều chỉnh bởi quy định của Chính phủ.

Theo Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 06

năm 2009 về trợ giúp phát triển DNNVV, thì: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã

đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ,

vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được

xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân

năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”.

Tóm lại, DNNVV là những doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ, xét trên tiêu

chí doanh thu, số lượng lao động bình quân hoặc nguồn vốn kinh doanh xét trên các

qui tắc phân loại qui mô của các loại hình doanh nghiệp.

1.1.2. Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa

Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại doanh nghiệp. Việc quy định tiêu

thức như thế nào là doanh nghiệp lớn, DNNVV là tùy thuộc vào điều kiện kinh tế,

xã hội của từng nước trong từng giai đoạn cụ thể. Việc phân loại DNNVV cũng như

các tiêu chí phân loại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố; phải phù hợp với trình độ phát

triển, điều kiện và mục đích phân loại của mỗi nước. Sau đây là một số cách phân

loại doanh nghiệp:

3

Thứ nhất, dựa vào tiêu thức qui mô vốn người ta chia doanh nghiệp thành

doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Mỗi quốc gia có thể có

những qui định khác nhau về số vốn kinh doanh để phân loại cho từng loại hình

doanh nghiệp.

Thứ hai, dựa vào tiêu thức lao động người ta chia doanh nghiệp thành doanh

nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ.

Thứ ba, dựa vào hình thức kinh doanh người ta chia doanh nghiệp thành

doanh nghiệp hoạt động độc lập, doanh nghiệp liên kết, doanh nghiệp vệ tinh

(doanh nghiệp chuyên gia công hoặc sản xuất chuyên biệt một bộ phận trong sản

phẩm của các doanh nghiệp lớn).

Nhìn chung, cách phân loại doanh nghiệp ở mỗi nước có nhiều điểm khác

nhau nhưng vẫn có một số điểm chung giống nhau. Ví dụ, việc phân loại DNNVV ở

các nước vẫn có điểm tương đồng, vì tất cả các nước có cùng chung một mục đích

là hỗ trợ các doanh nghiệp này DNNVV phát triển để thực hiện các mục đích như

huy động mọi tiềm năng vào sản xuất kinh doanh; đáp ứng nhu cầu phong phú, đa

dạng của xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; tăng sự năng động, hiệu

quả của nền kinh tế.

1.1.2.1. Tham khảo cách phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số nước

trên thế giới

- Đài Loan:

Khái niệm DNNVV đã bắt đầu được sử dụng trên lãnh thỗ này từ năm 1967.

Trong 40 năm qua, Đài Loan đã sáu lần thay đổi tiêu thức phân loại DNNVV. Sự

thay đổi trong khái niệm DNNVV theo hướng tăng dần giá trị vốn góp (số vốn góp

từ 5 triệu lên 40 triệu Đài tệ). Hiện nay, ở Đài Loan DNNVV là doanh nghiệp:

- Trong lĩnh vực khai khoáng: có vốn góp dưới 40 triệu Đài tệ, lao động thường

xuyên dưới 500 người.

- Trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng: có vốn góp dưới 40 triệu Đài tệ, lao

động thường xuyên dưới 300 người.

4

- Trong lĩnh vực thương mại, vận tải và dịch vụ khác: có doanh thu hàng năm

dưới 40 triệu Đài tệ, lao động thường xuyên dưới 50 người [32].

- Philippines:

Theo số liệu của Viện Công nghiệp vừa và nhỏ Philipppines thì trong sản

xuất, doanh nghiệp được chia thành 4 loại:

- Doanh nghiệp cực nhỏ và hộ gia đình: có vốn dưới 1,5 triệu pesos

- Doanh nghiệp nhỏ: có vốn từ 1,5 đến 15 triệu pesos

- Doanh nghiệp vừa: có vốn từ 15 đến 60 triệu pesos

- Doanh nghiệp lớn: có vốn trên 60 triệu pesos [32].

- Hàn Quốc:

Theo sắc lệnh cơ bản của Hàn Quốc về DNNVV, việc phân loại quy mô

doanh nghiệp được thực hiện theo hai nhóm ngành:

- Ngành chế tạo, khai thác, xây dựng: Doanh nghiệp có vốn đầu tư dưới

600.000 USD và số lao động thường xuyên từ 20 đến 300 người là doanh nghiệp

vừa; doanh nghiệp có dưới 20 lao động thường xuyên là doanh nghiệp nhỏ.

- Ngành thương mại: Doanh nghiệp vừa và nhỏ là doanh nghiệp có doanh thu

dưới 250.00 USD/ năm. Doanh nghiệp có dưới 05 lao động thường xuyên là doanh

nghiệp nhỏ, doanh nghiệp có từ 6 đến 20 lao động là doanh nghiệp vừa [32].

- Nhật Bản:

DNNVV được phân loại theo khu vực:

- Khu vực sản xuất: Doanh nghiệp có dưới 300 lao động và vốn đầu tư là 1 triệu

USD.

- Khu vực thương mại và dịch vụ: Doanh nghiệp có dưới 100 lao động (đối với

doanh nghiệp bán buôn) hay 50 lao động (đối với doanh nghiệp bán lẻ và dịch vụ),

vốn đầu tư dưới 300.000 USD (đối với doanh nghiệp bán buôn) hay 100.000 USD

(đối với doanh nghiệp bán lẻ và dịch vụ) [33].

- Liên minh Châu Âu (EU):

5

Theo quỹ phát triển DNNVV (SMEDF – Small And Medium Enterprise

Development Fund), thuộc liên minh Châu Âu thì một doanh nghiệp được xem là

DNNVV phải đáp ứng được các điều kiện sau đây:

- Số nhân viên từ 10 người đến 500 người

- Số vốn đăng ký từ hơn 50.000 USD đến 300.000 USD

Tóm lại, ở các nước, DNNVV được phân chia theo từng ngành nghề và khác

nhau trong từng thời kỳ. Tại các nước trên thế giới tiêu thức thường được sử dụng

phỗ biến là số lao động thường xuyên, vốn đầu tư và doanh thu. Tiêu chí phân loại

của mỗi tiêu thức rất khác nhau và tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội

của từng nước, trong từng thời kỳ [33].

1.1.2.2. Theo cách phân loại của Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam phân loại DNNVV dựa vào 2 tiêu thức: lao động thường

xuyên và vốn sử dụng bình quân. Hai tiêu thức này được đông đảo các doanh

nghiệp chấp nhận vì tất cả các doanh nghiệp đều có số liệu về hai tiêu thức này và

có thể xác định tương đối chính xác số liệu của chúng; ngoài ra có thể xác định

được hai tiêu thức này ở mọi cấp độ: toàn bộ nền kinh tế, ngành, doanh nghiệp.

Như vậy, hai tiêu thức này hội đủ tính phỗ biến, tính khái quát và xác thực.

Tiêu chí phân loại doanh nghiệp được quy định tạm thời tại Công văn 681/CP –

KTN ngày 20 tháng 6 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ. Theo quy định tại Công

văn này, tiêu chí xác định DNNVV là vốn điều lệ và lao động của doanh nghiệp. Cụ

thể DNNVV là doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số lao động trung

bình hàng năm dưới 200 người.

Theo Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 06

năm 2009 về trợ giúp phát triển DNNVV, phân loại DNNVV cụ thể như sau:

6

Bảng 1.1: Phân loại DNNVV theo khu vực kinh tế

Doanh

nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

nhỏ

Tổng Tổng nguồn Số lao động Số lao động Số lao động nguồn vốn vốn

1. Nông, 20 tỷ Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 10 người trở lâm nghiệp đồng trở người đến tỷ đồng đến người đến xuống và thủy sản xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người

2. Công 20 tỷ Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 10 người trở nghiệp và đồng trở người đến tỷ đồng đến người đến xuống xây dựng xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người

3. Thương 10 tỷ Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 10 người trở mại và dịch đồng trở người đến tỷ đồng đến người đến xuống vụ xuống 50 người 50 tỷ đồng 100 người

Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP [22]

Tuy nhiên, qua bảng 1.1, chúng ta thấy rằng phân loại DNNVV theo qui mô

nguồn vốn (được chú trọng nhiều) sẽ có nhiều bất hợp lý, bởi vì:

Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.

Đối với các doanh nghiệp lớn, nguồn vốn chủ sỡ hữu có tính ổn định hơn, trong khi

đó DNNVV thì nợ phải trả và nguồn vốn thường xuyên biến động, tuỳ theo đặc

điểm và ngành nghề kinh doanh thì một doanh nghiệp bây giờ là DNNVV nhưng

sau đó một thời gian ngắn do có trị giá nhập hàng lớn nhưng chưa trả nợ cho nhà

cung cấp sẽ làm cho nợ phải trả tăng lên và lúc này đã trở thành doanh nghiệp lớn

và ngược lại.

1.1.3. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Đặc điểm của các DNNVV xuất phát trước hết từ qui mô của doanh nghiệp.

Cũng như các DNNVV trên thế giới, với quy mô nhỏ, DNNVV Việt Nam cũng có

7

những đặc điểm tương tự như DNNVV tại các quốc gia khác. Ngoài ra, do đặc

trưng riêng của nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch

hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên các

DNNVV Việt Nam còn có những đặc trưng riêng. Những đặc điểm cơ bản của các

DNNVV Việt Nam thể hiện như sau:

- Thứ nhất: Các DNNVV ở Việt Nam thuộc nhiều thành phần kinh tế với

nhiều hình thức tổ chức doanh nghiệp, bao gồm từ doanh nghiệp nhà nước, doanh

nghiệp và các công ty tư nhân đến các hợp tác xã. Trong một thời gian dài, các

doanh nghiệp thuộc các thành phần khác nhau không được đối xử bình đẳng, bị

phân biệt đối xử, điều đó ảnh hưởng đến tâm lý, phong cách kinh doanh của các

doanh nghiệp hiện nay, đồng thời cũng tạo ra những điểm xuất phát về tiếp cận

nguồn lực không như nhau (trong giao đất, trong vay vốn ngân hàng …).

- Thứ hai: Là những doanh nghiệp có quy mô vốn và lao động nhỏ, đây

thường là những doanh nghiệp khởi sự thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Đặc điểm này

đã làm cho các DNNVV gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động của mình.

- Thứ ba: Khả năng quản lý hạn chế. Các chủ doanh nghiệp thường là những

kỹ sư hoặc kỹ thuật viên tự đứng ra thành lập và vận hành doanh nghiệp. Họ vừa là

người quản lý doanh nghiệp, vừa tham gia trực tiếp vào sản xuất nên mức độ

chuyên môn trong quản lý không cao. Đôi khi, việc tách bạch giữa các bộ phận

không rõ ràng, những người quản lý các bộ phận cũng thường tham gia trực tiếp vào

quá trình sản xuất. Phần lớn những người chủ doanh nghiệp đều không được đào

tạo qua một khóa quản lý chính quy nào, thậm chí có người còn chưa qua một khóa

đào tạo nào. Mặc dù vậy, họ thường không quan tâm đến việc đào tạo để nâng cao

năng lực quản lý.

- Thứ tư: Trình độ tay nghề của người lao động thấp. Các chủ DNNVV

thường không đủ khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê

những người lao động có tay nghề cao do hạn chế về tài chính. Bên cạnh đó, định

kiến của người lao động cũng như của những bạn bè, người thân của họ về khu vực

này vẫn còn khá lớn. Người lao động ít được đào tạo (hay đào tạo lại) do kinh phí

8

hạn hẹp hoặc người chủ không muốn đào tạo người lao động, vì vậy trình độ và kỹ

năng làm việc của người lao động thấp. Ngoài ra, sự không ổn định khi làm việc

cho các DNNVV, cơ hội để phát triển thấp tại các doanh nghiệp này cũng làm cho

nhiều lao động có kỹ năng không muốn làm việc cho khu vực này.

- Thứ năm: Khả năng về công nghệ thấp do không đủ tài chính cho nghiên

cứu triển khai, mặc dù nhiều DNNVV có những sáng kiến công nghệ tiên tiến

nhưng không đủ tài chính cho việc nghiên cứu triển khai nên không thể hình thành

công nghệ mới hoặc bị các doanh nghiệp lớn mua với giá rẻ. Tuy nhiên, các

DNNVV rất linh hoạt trong việc thay đổi công nghệ sản xuất do giá trị của dây

chuyền công nghệ thường thấp và họ thường có những sáng kiến đổi mới công nghệ

phù hợp với quy mô của mình từ những công nghệ cũ và lạc hậu. Điều này thể hiện

tính linh hoạt trong đổi mới công nghệ và tạo nên sự khác biệt về sản phẩm để các

DNNVV có thể tồn tại trên thị trường.

- Thứ sáu: Các DNNVV Việt Nam thường thuê mặt bằng với diện tích hạn

chế và cách xa trung tâm hoặc sử dụng những diện tích đất riêng của mình làm mặt

bằng sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, các doanh nghiệp này sẽ gặp khó khăn trong

việc mở rộng sản xuất kinh doanh khi quy mô doanh nghiệp được mở rộng.

- Thứ bảy: Khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biệt đối với thị trường

nước ngoài. Nguyên nhân chủ yếu là do các DNNVV thường là những doanh

nghiệp mới hình thành, khả năng tài chính cho các hoạt động marketing rất hạn chế

và họ chưa có nhiều khách hàng truyền thống. Thêm vào đó, quy mô thị trường của

các doanh nghiệp này thường bó hẹp trong phạm vi địa phương, việc mở rộng ra các

thị trường mới là rất khó khăn.

- Thứ tám: Các DNNVV khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, do đó họ

thường sử dụng nguồn vốn vay từ bạn bè, người thân. Nguyên nhân là do các

DNNVV thiếu tài sản đảm bảo, sổ sách chứng từ kế toán không rõ ràng, minh bạch,

chưa có uy tín trên thị trường.

Các DNNVV có lợi thế là chi phí đầu tư không lớn, dễ thích nghi với sự biến

đổi của thị trường, phù hợp với trình độ quản lý kinh doanh của phần lớn chủ doanh

9

nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên các doanh nghiệp này đang gặp rất nhiều

khó khăn cả từ bên trong (như năng lực quản lý kém, công nghệ lạc hậu,… đặc biệt

là vốn ít … ) và từ môi trường kinh doanh bên ngoài (như lãi vay cao, sự cạnh tranh

ngày càng gay gắt từ các cty nước ngoài do các hàng rào thuế quan, phi thuế quan

đang dần được dỡ bỏ; …). Để có thể tồn tại, phát triển và tiến hành hoạt động kinh

doanh hiệu quả, các doanh nghiệp này rất cần sự quan tâm, hỗ trợ của Chính phủ.

1.1.4. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế nhiều thành

phần

- Các DNNVV cung cấp một lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ đáng kể cho

nền kinh tế, các DNNVV hoạt động trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau

trong nền kinh tế, cung cấp nhiều chủng loại cũng như số lượng hàng hoá, sản phẩm

đáng kể cho thị trường trong nước và tiến ra thị trường nước ngoài; đồng thời là vệ

tinh cung cấp hàng hoá đến tay người tiêu dùng cho những doanh nghiệp lớn.

- Các DNNVV trong nền kinh tế góp phần tạo việc làm và thu nhập cho

người lao động. DNNVV qua đó góp phần xoá đói giảm nghèo, thực hiện công

bằng xã hội.

- Hoạt động của các DNNVV góp phần làm cho nền kinh tế năng động, đạt

hiệu quả kinh tế cao. Với bộ máy quản lý nhỏ, gọn DNNVV sẽ dễ dàng kinh doanh,

xâm nhập vào hầu hết các ngõ ngách của thị trường mà doanh nghiệp lớn không thể

làm được, đồng thời là mạng lưới tiêu thụ cho những doanh nghiệp lớn.

Với quy mô vốn và lao động không lớn, các DNNVV dễ dàng được thành

lập, chuyển đổi mặt hàng sản xuất kinh doanh. Điều đó cho thấy, các doanh nghiệp

này đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hóa và cung cấp hàng hóa, dịch

vụ bổ sung cho các doanh nghiệp lớn, là những vệ tinh, những xí nghiệp gia công

cho những doanh nghiệp lớn cùng hệ thống, đồng thời là mạng lưới tiêu thụ hàng

hóa cho doanh nghiệp lớn, góp phần tích cực trong khâu phân phối hàng hoá, đảm

bảo nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội và bình ổn giá cả giữa các vùng và các địa

phương.

10

Các DNNVV đáp ứng tích cực, kịp thời nhu cầu tiêu dùng ngày càng phong

phú và đa dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được. DNNVV đã góp

phần tạo môi trường kinh doanh, tự do cạnh tranh và giảm độc quyền, đẩy nhanh

tiến trình hội nhập quốc tế; phát huy được tiềm lực trong nước trong điều kiện nền

kinh tế có xuất phát điểm với nguồn vốn thấp, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu,

trình độ kỹ năng lao động còn yếu, góp phần tạo lập sự phát triển cân bằng giữa các

vùng, miền trong một quốc gia. Các DNNVV tạo được mối liên kết chặt chẽ với các

tổng công ty nhà nước, các tập đoàn xuyên quốc gia ….

- Các DNNVV có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương,

khai thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng.

Phát triển các DNNVV sẽ giúp các địa phương khai thác thế mạnh về đất đai,

tài nguyên, lao động trong mọi lĩnh vực phục vụ phát triển kinh tế địa phương.

- Các DNNVV góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao

động và phân công lao động giữa các vùng, địa phương. Sự phát triển của DNNVV

có thể góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trong một

nước, thu hút được ngày càng nhiều lao động ở nông thôn, chủ yếu tập trung vào

các ngành phi nông nghiệp, công nghiệp và đã giúp phần chuyển đổi cơ cấu kinh

địa phương, cơ cấu ngành, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của quốc gia

[11].

1.1.5. Cơ hội và thách thức đối với DNNVV khi Việt Nam hội nhập kinh tế

quốc tế

1.1.5.1. Những cơ hội

- Mở rộng thị trường cho các DNNVV

Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam,

đặc biệt là DNNVV tiếp cận và tăng cường khả năng thâm nhập vào thị trường thế

giới. Khi Việt Nam gia nhập WTO, theo nguyên tắc tối huệ quốc, Việt Nam sẽ được

tiếp cận mức độ tự do hóa này mà không phải đàm phán hiệp định thương mại song

phương với từng nước. Hàng hóa của Việt Nam vì vậy sẽ có cơ hội lớn hơn và bình

đẳng hơn trong việc thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế.

11

Do điều kiện tự nhiên và chi phí lao động rẻ, Việt Nam có lợi thế trong một

số ngành, đặc biệt là trong ngành nông nghiệp và dệt may. Đây là hai ngành được

WTO rất quan tâm và đã đề ra nhiều biện pháp để xóa bỏ dần các rào cản thương

mại. Chẳng hạn, theo hiệp định Dệt may của WTO, mọi hạn chế định lượng đối với

mặt hàng dệt may được xóa bỏ từ ngày 1/1/2005.

- Tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Vốn luôn là vấn đề hàng đầu khi thực hiện các phương án đầu tư. Quá trình

hội nhập quốc tế sẽ giúp cho các DNNVV Việt Nam tận dụng tốt hơn các nguồn

vốn quốc tế di chuyển tự do (như các nguồn vốn vay ưu đãi chính thức, vay thương

mại, các nguồn viện trợ của nước ngoài hoặc qua con đường hợp tác liên doanh,

liên kết, đầu tư FDI...), bù đắp được những hạn chế đang tồn tại để từng bước phát

triển. Tuy nhiên, để khai thác được lợi thế từ nguồn vốn nước ngoài, ngoài sự nỗ

lực từ bản thân các DNNVV còn cần sự hỗ trợ tích cực từ phía Chính phủ trong

việc cải cách thủ tục hành chính, tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho nhà đầu

tư trong nước cũng như nước ngoài, tạo sự bình đẳng cho các thành phần kinh tế

cùng tham gia vào thị trường [2] .

- Tăng cường chuyển giao, đổi mới công nghệ

Hội nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện cho các DNNVV có cơ hội để tiếp cận với

các nguồn tín dụng nước ngoài, điều đó sẽ giúp cho các DNNVV có nhiều cơ hội,

nhiều cách thức hơn để tiếp cận nhanh chóng khoa học công nghệ tiên tiến áp dụng

cho hoạt động kinh doanh, từ đó nâng cao năng suất lao động, cải tiến chất lượng

sản phẩm, chủ động tham gia vào thị trường quốc tế. Thông qua chuyển giao công

nghệ, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ rút ngắn những bước đi mang tính chất dọ

dẫm, tận dụng thế mạnh về KHCN tiên tiến của nước ngoài để nhanh chóng áp

dụng vào Việt Nam.

1.1.5.2. Những thách thức

 Thách thức về nguồn vốn

Đây là một thách thức lớn đối với DNNVV ở Việt Nam hiện nay. Theo ước

tính có đến 27,30% số doanh nghiệp có số vốn điều lệ đăng ký dưới 1 tỷ đồng; gần

12

46,71% số doanh nghiệp có mức vốn từ 1 tỷ đồng đến dưới 5 tỷ đồng; 11,12% số

doanh nghiệp có mức vốn từ 5 tỷ đồng đến dưới 10 tỷ đồng và chỉ 14,87% số doanh

nghiệp có số vốn từ 10 tỷ đồng trở lên. Hiện nay có khoảng 70% doanh nghiệp ở

Việt Nam đang gặp khó khăn về tài chính, đa số là các DNNVV. Các doanh nghiệp

thuộc dạng siêu nhỏ thì càng gặp khó khăn về tài chính trầm trọng hơn vì các doanh

nghiệp này đa số là hoạt động kinh doanh từ nguồn vốn tự có là chính, hầu hết các

doanh nghiệp này đều không có nhiều tài sản nên việc tiếp cận với nguồn vốn bên

ngoài gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là nguồn vốn ngân hàng [14].

Trong thời kỳ hội nhập như ngày nay, việc thiếu vốn sẽ làm cho DNNVV

gặp nhiều khó khăn trong các vấn đề về cạnh tranh, mở rộng sản xuất kinh doanh,

thu hút nhân viên giỏi.… Như vậy, chỉ cần có một sự biến động trên thị trường như

có một sản phẩm cùng loại của một công ty nước ngoài nào đó xâm nhập vào thị

trường Việt Nam chất lượng tốt hơn và giá bán thấp hơn, sẽ có thể dẫn đến việc

thâu tóm, sáp nhập hoặc phá sản của doanh nghiệp trong nước.

- Thách thức về công nghệ lạc hậu, sức cạnh tranh thấp

So với các quốc gia trong khu vực, DNNVV Việt Nam hiện đang phải đối

mặt với tình trạng máy móc thiết bị cũ kỹ, lạc hậu dẫn đến năng suất lao động thấp,

chất lượng sản phẩm không cao, tính cạnh tranh thấp. Hơn nữa, khi gia nhập WTO

thì Việt Nam phải cắt giảm thuế, xoá bỏ hàng rào phi thuế quan, loại bỏ trợ cấp, mở

cửa thị trường dịch vụ … sẽ khiến môi trường kinh doanh ở nước ta ngày càng trở

nên cạnh tranh hơn. Đây là thách thức không nhỏ đối với doanh nghiệp nói chung

và DNNVV nói riêng, nhất là các doanh nghiệp đã quen với cơ chế bao cấp của nhà

nước. Tuy nhiên, các doanh nghiệp sẽ không có cách nào hơn là chủ động và sẵn

sàng đối diện với thách thức này bởi đó là hệ quả tất yếu của sự phát triển, là chặng

đường mà mọi quốc gia đều phải đi qua trên con đường hướng tới hiệu quả và phồn

vinh.

 Thách thức của chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Một trong những hệ quả tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế là chuyển dịch

cơ cấu và bố trí lại nguồn lực. Dưới sức ép của cạnh tranh, một ngành sản xuất

13

không hiệu quả sẽ bị mất đi để nhường chỗ cho một ngành khác hiệu quả hơn. Quá

trình này tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, trong đó có cả những rủi ro về mặt xã hội (như tỷ

lệ thất nghiệp gia tăng, chuyển dịch cơ cấu không hợp lý làm giảm sức cạnh tranh

của nền kinh tế…). Đây là thách thức hết sức to lớn. Chúng ta chỉ có thể vượt qua

thách thức này nếu có chính sách đúng đắn nhằm tăng cường hơn nữa tính năng

động và khả năng thích ứng nhanh của toàn bộ nền kinh tế.

 Thách thức về nguồn nhân lực

Để quản lý một cách nhất quán toàn bộ tiến trình hội nhập, hoàn thiện khuôn

khỗ pháp lý, tạo dựng môi trường cạnh tranh năng động và cải cách có hiệu quả nền

hành chính quốc gia, bên cạnh quyết tâm về mặt chủ trương, cần phải có một đội

ngũ cán bộ đủ mạnh xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương. Đây cũng là một

thách thức to lớn đối với nước ta do trình độ cán bộ của ta còn bị hạn chế về kinh

nghiệm điều hành một nền kinh tế mở, có sự tham gia của yếu tố nước ngoài. Nếu

không có sự chuẩn bị từ bây giờ, thách thức này sẽ chuyển thành những khó khăn

dài hạn rất khó khắc phục. Ngoài ra, để tận dụng được cơ chế giải quyết tranh chấp

của WTO và tham gia có hiệu quả vào các cuộc đàm phán trong tương lai của tổ

chức này, chúng ta cũng phải cần một đội ngũ cán bộ thông thạo quy định và luật lệ

của WTO, có kinh nghiệm và kỹ năng đàm phán quốc tế.

 Thách thức của việc hoàn thiện thể chế và cải cách nền hành chính quốc gia

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực để hoàn thiện khuôn khỗ pháp lý liên quan đến

kinh tế thương mại, Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm khi gia nhập WTO.

Trước hết, phải liên tục hoàn thiện các quy định về cạnh tranh để đảm bảo một môi

trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng khi hội nhập. Sau đó, phải liên tục hoàn

thiện môi trường kinh doanh để thúc đẩy tính năng động và khả năng thích ứng

nhanh, yếu tố quyết định sự thành bại của chuyển dịch cơ cấu kinh tế và bố trí lại

nguồn lực. Cuối cùng, những cam kết mở cửa thị trường của ta là cam kết theo lộ

trình nên tiến trình hoàn thiện khuôn khỗ pháp lý sẽ diễn ra trong một thời gian dài.

Một trong những nguyên tắc chủ đạo của WTO là tính minh bạch hóa. Đây là

thách thức to lớn đối với mọi nền hành chính quốc gia. Gia nhập WTO, nền hành

14

chính quốc gia chắc chắn sẽ có sự thay đổi theo hướng công khai hơn và hiệu quả

hơn. Đó phải là một nền hành chính vì quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp và

doanh nhân, coi trọng doanh nghiệp và doanh nhân hơn nữa, khắc phục sức ỳ của tư

duy và khắc phục những biểu hiện trì trệ, vô trách nhiệm. Nếu không tạo ra được

một nền hành chính như vậy, sẽ không thể tận dụng được các cơ hội do việc gia

nhập WTO đem lại.

1.2. QUỸ BẢO LÃNH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

1.2.1. Sự cần thiết hình thành và phát triển Quỹ Bảo lãnh tín dụng đối với

doanh nghiệp nhỏ và vừa

Hạn chế lớn nhất của các DNNVV là vốn ít, từ đó hạn chế đến việc trang bị

máy móc, thiết bị và công nghệ tiên tiến, đồng thời cũng rất khó khăn trong việc mở

rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Để thực hiện hoạt động kinh doanh, các doanh

nghiệp phải sử dụng vốn chủ sở hữu đồng thời phải huy động nguồn vốn từ bên

ngoài. Nhưng đối với các DNNVV, khả năng vay vốn trên thị trường vốn và các

TCTD rất hạn chế. Một mặt, do vốn chủ sở hữu của các DNNVV thường ít, các

NHTM và các TCTD rất nghi ngờ khả năng trả nợ của các doanh nghiệp này. Mặt

khác, một trong những điều kiện bắt buộc để vay vốn là phải có tài sản thế chấp,

trong khi đó phần lớn các DNNVV không có tài sản thế chấp.

Khắc phục những khó khăn nói trên và tạo điều kiện thuận lợi, bổ sung khả

năng vay vốn cho DNNVV, ở nhiều nước đã thực hiện hình thức BLTD cho

DNNVV. Theo hình thức này, Chính phủ đứng ra thành lập Quỹ BLTD cho

DNNVV hoặc các DNNVV thông qua Hiệp hội tự thành lập quỹ. Quỹ BLTD do

Chính phủ thành lập hoạt động với tư cách là một tổ chức tài chính của Nhà nước.

Nguồn hình thành quỹ là từ vốn ngân sách và sự tài trợ, đóng góp của các TCTD, tổ

chức tài chính, tín dụng trong nước và quốc tế. Quỹ BLTD sẽ góp phần khơi thông

thêm nguồn vốn tín dụng, tăng khả năng vay vốn cho các DNNVV, giúp các doanh

nghiệp thực thi có hiệu quả các phương án đầu tư, tăng cường năng lực tài chính để

phát triển SXKD.

15

Theo ngân hàng phát triển Châu Á (2007): Tổ chức BLTD hoạt động như là

một tổ chức trung gian nhằm chia sẻ rủi ro tín dụng và giúp cho quá trình xét duyệt

tín dụng giữa ngân hàng và DNNVV trở nên nhanh chóng hơn. Mục đích của những

tổ chức BLTD là nhằm giảm thiểu những tổn thất có thể phát sinh cho ngân hàng

trong trường hợp DNNVV mất khả năng chi trả. Để đền bù rủi ro mà các tổ chức

BLTD phải chịu, thông thường các DNNVV phải mất một khoản phí, gọi là phí bảo

lãnh. Các ngân hàng thường có xu hướng hạn chế cho DNNVV vay vì chi phí quản

lý cao, thông tin bất cân xứng về khả năng cũng như ý chí trả nợ của doanh nghiệp,

rủi ro tiềm ẩn cao, và thiếu tài sản thế chấp. Bằng việc chia sẻ những rủi ro có thể

phát sinh, các tổ chức BLTD đã thúc đẩy các ngân hàng mạnh dạn hơn trong việc

cấp tín dụng, giúp cho các doanh nghiệp này dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn ngân

hàng, từ đó giúp cho nền kinh tế phát triển và tạo thêm việc làm cho xã hội.

Tổ chức BLTD thông thường tập trung hỗ trợ cho những DNNVV, vì những

doanh nghiệp này rất cần nguồn vốn của ngân hàng nhưng lại không thể tiếp cận

được (do nhiều lý do khác nhau) nếu không có sự hỗ trợ của các tổ chức BLTD.

Hay nói cách khác, các DNNVV này rất đáng tin cậy, nhưng họ lại thiếu tài sản thế

chấp hay những báo cáo tài chính đáng tin cậy để bảo đảm cho khoản vay của mình.

Nếu những tổ chức BLTD có cơ cấu và cách thức quản lý phù hợp, chính xác thì

những tổ chức này có thể làm giảm những khó khăn mà DNNVV gặp phải khi tiếp

cận với nguồn vốn ngân hàng, và là một công cụ hữu hiệu để thúc đẩy DNNVV

phát triển; vì Tổ chức bảo lãnh góp phần giảm chi phí cho các khoản vay có quy mô

nhỏ, cung cấp thêm các thông tin về DNNVV, giúp cải thiện thời gian vay,...; từ đó,

giúp DNNVV tăng cường khả năng cạnh tranh và mở rộng hoạt động kinh doanh.

Tổ chức BLTD cũng giúp bổ sung, chỉnh sửa những khiếm khuyết của thị trường, ví

dụ: sự thiếu thông tin cần thiết của các DNNVV đã khiến các ngân hàng ngại cho

những doanh nghiệp này vay, mặc dù họ là người đại diện cho phân khúc phát triển

nhanh và vững chắc của nền kinh tế. Ngân hàng ở những nước phát triển không

dám đầu tư tất cả vốn của họ vào DNNVV (vì những doanh nghiệp này luôn tiềm

ẩn rủi ro cao), nhưng tổ chức BLTD có thể giúp các doanh nghiệp này tiếp cận với

16

nguồn vốn ngân hàng cũng như các nguồn tài chính khác một cách hiệu quả hơn.

Ngoài ra, tổ chức BLTD còn giúp ngân hàng tránh được việc hao tốn thời gian và

tiền bạc trong việc tịch biên và xử lý các tài sản thế chấp của DNNVV [38].

Hơn nữa, các tập đoàn kinh tế lớn hiện nay trên thế giới đều được cấu thành từ

hàng trăm DNNVV độc lập trên toàn thế giới. Mỗi DNNVV chỉ chuyên sản xuất

một chi tiết nào đó của một sản phẩm hoàn chỉnh. Quá trình chuyên môn hoá này sẽ

tạo ra năng suất, lợi nhuận cao cho cả Tập đoàn và cho từng DNNVV. Do đó, kinh

nghiệm kinh doanh quốc tế cho thấy để hình thành các Tập đoàn kinh tế mạnh, cần

phải phát triển khu vực DNNVV. Trong thời kỳ đầu DNNVV cần phải có sự hỗ trợ

về vốn và bảo lãnh vay vốn tín dụng từ Nhà nước, Hiệp hội và từ các Tập đoàn Mẹ.

Sự ra đời của các Quỹ BLTD để trợ giúp tài chính cho các DNNVV là một

tất yếu khách quan, giúp cho những DNNVV có phương án SXKD khả thi, nhưng

thiếu tài sản thế chấp để tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

1.2.2. Khái niệm về Quỹ Bảo lãnh tín dụng

Theo Jacob Levitsky (1997) Quỹ BLTD đối với DNNVV là: “Hệ thống các

tổ chức ra đời nhắm đến khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm giúp các doanh

nghiệp này vượt qua được những khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn ngân

hàng; đồng thời giúp ngân hàng có thể cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn

mà vẫn hạn chế được các rủi ro có liên quan” [32].

Theo Alvaro Ruiz Navajas (2001) thì Quỹ BLTD là “Tổ chức ra đời để bảo

lãnh cho những đối tượng nhằm đảm bảo trả nợ vay một phần hoặc toàn bộ, thúc

đẩy các đối tượng đi vay chưa đủ điều kiện tiếp cận với vốn tín dụng” [32].

Tại Việt Nam, theo Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20/12/2001 của

Thủ tướng Chính phủ, Thông tư số 93/2004/TT-BTC ngày 29/09/2004 hướng dẫn

một số nội dung qui chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ BLTD cho các

DNNVV và Quyết định số 53/2007/QĐ-UBND ngày 30/03/2007 của UBND

TP.HCM về ban hành Điều lệ tổ chức hoạt động của Quỹ BLTD TP.HCM: Quỹ

BLTD là một tổ chức tài chính hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, đảm bảo

hoàn vốn và bù đắp chi phí. Quỹ BLTD có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có

17

bảng cân đối, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, các

NHTM trong nước [8, 9].

Theo quan điểm của tác giả, dựa vào các loại hình BLTD tại các nước trên

thế giới và xét trong điều kiện ở Việt Nam thì Quỹ BLTD đối với DNNVV là: Một

định chế tài chính trung gian có tư cách pháp nhân, thực hiện cấp BLTD và hỗ trợ

các DNNVV có phương án kinh doanh hiệu quả nhưng chưa đủ điều kiện vay vốn

trực tiếp từ các TCTD, nhằm giúp DNNVV có thể tiếp cận với nguồn vốn từ các tổ

chức này”. Theo định nghĩa này thì tổ chức có thể do nhà nước thành lập, không vì

mục đích lợi nhuận, cũng có thể là do các hiệp hội thành lập để giúp đỡ các doanh

nghiệp thành viên, hoặc cũng có thể là do một tổ chức được thành lập như mô hình

của một công ty hoạt động vì mục đích lợi nhuận.

1.2.3. Mô hình hoạt động

Từ các khái niệm của Quỹ BLTD, và dựa vào mô hình hoạt động của các

nước trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia thì mô hình hoạt động

của Quỹ BLTD trong việc hỗ trợ chính sách tài chính cho DNNVV có ba loại, đó là:

một là do Chính phủ thành lập, hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận; hai là do các tổ

chức hiệp hội thành lập (vốn hoạt động của Quỹ BLTD do các thành viên trong tổ

chức hiệp hội đóng góp) nhằm bảo lãnh, trợ giúp các DNNVV thành viên, hoạt

động phi lợi nhuận; ba là do các tổ chức, công ty thành lập, hoạt động kinh doanh

chính là bảo lãnh, trợ giúp các doanh nghiệp, doanh thu là từ phí thu được từ hoạt

động cấp BLTD và tư vấn, trợ giúp các khách hàng là các DNNVV, hoạt động vì

mục đích lợi nhuận.

18

Biểu đồ 1.1: Mô hình hoạt động các Quỹ BLTD

Tổ chức BLTD do Chính phủ thành lập Tổ chức BLTD do các TCHH thành lập Tổ chức BLTD do các doanh nghiệp thành lập

Các DNNVV

Nguồn: Tác giả tổng hợp [29, 30, 31].

1.2.4. Các khái niệm có liên quan đến hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng

- BLTD: Là cam kết bằng văn bản của Quỹ BLTD (bên bảo lãnh) với TCTD

(bên nhận bảo lãnh) về việc trả nợ thay cho khách hàng/người vay vốn (bên được

bảo lãnh) trong trường hợp khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ, đúng hạn

nợ vay (gốc và lãi) đối với bên nhận bảo lãnh.

- Cấp BLTD: Là việc Quỹ BLTD thực hiện BLTD cho khách hàng/người

vay vốn thuộc phạm vi đối tượng được BLTD tại các TCTD.

- Mức BLTD: Là số tiền mà Quỹ BLTD bảo lãnh cho khách hàng tiếp cận

vốn tín dụng tại các TCTD để thực hiện phương án SXKD hay các dự án đầu tư và

mức BLTD tối đa bằng 15% vốn hoạt động của Quỹ BLTD.

Số tiền được bảo lãnh tối đa bằng 100% số nợ gốc và lãi phát sinh theo hợp

đồng tín dụng ký giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Đồng tiền bảo lãnh

là đồng Việt Nam hoặc đồng ngoại tệ tự do chuyển đổi.

- Hợp đồng BLTD: Là thỏa thuận bằng văn bản được ký giữa bên bảo lãnh

và bên được bảo lãnh về việc Bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho

19

Bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy

đủ theo cam kết với bên nhận bảo lãnh.

Hợp đồng BLTD do cơ quan điều hành tác nghiệp Quỹ BLTD thoả thuận và

ký kết với tổ chức tín dụng nhận bảo lãnh, khách hàng được bảo lãnh. Khi có sự

thay đổi các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, khách hàng có trách nhiệm thông

báo cho Bên BLTD xem xét chấp thuận việc điều chỉnh hợp đồng bảo lãnh. Hợp

đồng bảo lãnh được sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ khi các bên có liên quan thỏa

thuận.

- Cho vay bắt buộc: Trong trường hợp khách hàng không trả hoặc trả không

đầy đủ, đúng hạn nợ vay (gốc và lãi) đối với bên nhận bảo lãnh, Quỹ BLTD sẽ phải

trả nợ thay cho khách hàng và khách hàng phải nhận nợ từ Quỹ BLTD thông qua

hợp đồng cho vay bắt buộc [21].

1.2.5. Chức năng của Quỹ Bảo lãnh tíndụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.2.5.1. Bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Đây là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất của Quỹ BLTD. Nguyên lý hoạt động

cơ bản của Quỹ BLTD là Quỹ thực hiện vai trò cầu nối giữa tổ chức tín dụng với

DNNVV trong việc thẩm định dự án của doanh nghiệp để kiến nghị ngân hàng cho

vay. Vai trò cầu nối của Quỹ được thực hiện dưới hình thức: (1) Quỹ BLTD thẩm

định dự án, nếu dự án mang lại hiệu quả và có tính khả thi thì Quỹ sẽ giới thiệu

doanh nghiệp đến TCTD có phối hợp để tiếp cận với nguồn vốn tín dụng, (2) Quỹ

bảo lãnh cho những doanh nghiệp còn thiếu tài sản thế chấp và trả nợ thay cho các

doanh nghiệp nếu doanh nghiệp chưa có khả năng trả nợ. Các DNNVV luôn có nhu

cầu về vốn rất lớn để đầu tư xây dựng nhà xưởng, đối mới công nghệ, xúc tiến

thương mại, nâng cao trình độ quản lý, đào tạo nhân lực,... nhưng với đặc điểm

chung của hầu hết các DNNVV ở Việt Nam (như qui mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé,

tỷ lệ nợ phải trả so với vốn tự có cao...), là nguyên nhân chính làm cho các doanh

nghiệp này khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng. Do đó, Quỹ BLTD phải đảm đương

vai trò là cầu nối giữa người đi vay và người cho vay, đôi khi cũng là điều kiện tiền

đề để các DNNVV tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

20

1.2.5.2. Tư vấn về đầu tư tài chính và đào tạo nguồn nhân lực nhằm hỗ trợ các

doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển

Một trong những chức năng quan trọng khác của Quỹ BLTD đối với DNNVV

là cung cấp dịch vụ về đầu tư tài chính và đào tạo nguồn nhân lực nhằm hỗ trợ cho

các DNNVV phát triển.

Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ về trợ

giúp phát triển DNNVV thì các hoạt động trợ giúp bao gồm:

-Trợ giúp tài chính thông qua BLTD, tạo cơ chế khuyến khích và dành một số

dự án hỗ trợ kỹ thuật để tăng cường năng lực cho các tổ chức tài chính phù hợp

nhằm mở rộng tín dụng cho DNNVV; đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ phù hợp

với DNNVV, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ về tư vấn tài chính, quản lý đầu tư và các

dịch vụ hỗ trợ khác. Thông qua các chương trình trợ giúp đào tạo, Nhà nước hỗ trợ

các DNNVV nâng cao năng lực lập dự án, phương án kinh doanh nhằm đáp ứng

yêu cầu của các TCTD khi thẩm định hồ sơ vay vốn của DNNVV

- Tài trợ các chương trình trợ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cho DNNVV,

chú trọng hỗ trợ hoạt động đổi mới phát triển sản phẩm có tính cạnh tranh và thân

thiện với môi trường; đầu tư đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến;

phát triển công nghiệp hỗ trợ; nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp. Uỷ thác cho

các TCTD cho vay ưu đãi các DNNVV có dự án đầu tư khả thi thuộc lĩnh vực ưu

tiên, khuyến khích của Nhà nước.

- Tạo điều kiện về mặt bằng sản xuất bằng cách dành quỹ đất và thực hiện các

biện pháp khuyến khích xây dựng các khu, cụm công nghiệp cho các DNNVV thuê

làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh.

- Trợ giúp đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật thông qua

chương trình hỗ trợ nghiên cứu, phát triển công nghệ sản xuất các sản phẩm mới,

chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Giới

thiệu, cung cấp thông tin về công nghệ, thiết bị cho các DNNVV, hỗ trợ đánh giá,

lựa chọn công nghệ.

21

- Tạo điều kiện phát triển thị trường thông qua thực hiện các hoạt động xúc

tiến mở rộng thị trường cho DNNVV. Bên cạnh, dành tỉ lệ nhất định cho các

DNNVV thực hiện các hợp đồng hoặc đơn đặt hàng để cung cấp một số hàng hoá,

dịch vụ công.

- Cung cấp thông tin về các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của doanh

nghiệp, các chính sách, chương trình trợ giúp phát triển DNNVV và các thông tin

khác hỗ trợ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

- Trợ giúp phát triển nguồn nhân lực, trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực cho các

DNNVV, chủ yếu tập trung vào quản trị doanh nghiệp.

Thành lập vườn ươm doanh nghiệp để thực hiện hỗ trợ có thời hạn doanh

nghiệp trong giai đoạn khởi sự theo quy trình và có hệ thống thông qua việc cung

cấp cho các doanh nghiệp được ươm tạo không gian, các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh

và các nguồn lực cần thiết nhằm giúp các doanh nghiệp hiện thực hoá, thương mại

hoá các ý tưởng kinh doanh và công nghệ.

Các hoạt động trên, khi được gắn kết đồng bộ với hoạt động phối hợp của Quỹ

BLTD với các TCTD tại các địa phương để cấp tín dụng và BLTD cho các

DNNVV sẽ tăng thêm nguồn lực tài chính cho các DNNVV, đồng thời thực hiện

các chương trình trợ giúp phát triển có hiệu quả cao hơn.

1.2.5.3. Kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay và tài sản hình thành từ vốn vay

của bên được bảo lãnh

Khi thực hiện chức năng cấp BLTD cho DNNVV, Quỹ cũng có thể gánh

chịu những rủi ro khi doanh nghiệp không có khả năng hoặc không muốn trả nợ. Do

đó công tác kiểm tra, giám sát tín dụng là khâu khá quan trọng nhằm mục tiêu bảo

đảm cho tiền vay được sử dụng đúng mục đích đã cam kết. Việc kiểm soát rủi ro tín

dụng, phát hiện và chấn chỉnh kịp thời những sai phạm có thể ảnh hưởng đến khả

năng thu hồi nợ sau này, đảm bảo việc bảo lãnh vay vốn hiệu quả, Quỹ không phải

trả nợ thay cho doanh nghiệp. Các phương pháp giám sát tín dụng có thể áp dụng

bao gồm:

 Giám sát hoạt động tài khoản của khách hàng tại ngân hàng;

22

 Phân tích các báo cáo tài chính của khách hàng theo định kỳ;

 Giám sát khách hàng thông qua việc trả lãi định kỳ;

 Viếng thăm và kiểm soát địa điểm hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nơi

cư ngụ của khách hàng đứng tên vay vốn;

 Giám sát hoạt động khách hàng thông qua mối quan hệ với khách hàng

khác;

 Giám sát khách hàng thông qua những thông tin thu thập khác.

Việc kiểm tra, giám sát tín dụng theo các hình thức kể trên phải tiến hành

thường xuyên, liên tục nhưng phải có sự phối hợp với bên cho vay (TCTD) để tránh

gây nên sự khó khăn cho khách hàng, tránh rườm rà, khách hàng không mất nhiều

thời gian để cung cấp thông tin.

1.2.6. Vai trò của Quỹ Bảo lãnh tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.2.6.1. Góp phần thực hiện chủ trương, chính sách của Nhà nước đối với doanh

nghiệp nhỏ và vừa

Hoạt động BLTD của Quỹ BLTD nhằm thực hiện chủ trương, chính sách của

nhà nước trong việc hỗ trợ các DNNVV tiếp cận vốn tín dụng. Quỹ BLTD sẽ tư

vấn, hỗ trợ cho các DNNVV lập phương án, dự án đầu tư phát triển SXKD để vay

vốn đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho DNNVV, hỗ trợ hoạt động đổi

mới phát triển sản phẩm có tính cạnh tranh cao và thân thiện với môi trường, đầu tư,

đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, phát triển công nghiệp hỗ trợ,

nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp.

Các Quỹ BLTD địa phương đều hoạt động gắn liền với các TCHH để trợ

giúp cho các DNNVV theo chủ trương, chính sách của Nhà nước như Câu lạc bộ

doanh nghiệp trẻ, Câu lạc bộ nữ doanh nghiệp, Các hiệp hội ngành nghề thuộc các

lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, giao thông, nông nghiệp,

Hội Liên hiệp phụ nữ, ... Các TCHH bước đầu đã phát huy vai trò quan trọng trong

việc chia sẻ thông tin, hỗ trợ về kinh nghiệm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp,

chính đáng của các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động, kinh doanh. Quỹ BLTD

cùng với các TCHH đã trở thành cầu nối giữa các doanh nghiệp với Uỷ Ban nhân

23

dân tỉnh và các Ngành, các cấp trong việc cung cấp thông tin về chủ trương chính

sách đồng thời tiếp thu những ý kiến, kiến nghị của các doanh nghiệp về những khó

khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp trong hoạt động SXKD; phản ánh với Uỷ

ban nhân dân tỉnh kịp thời chỉ đạo các ngành, các cấp hỗ trợ cho các DNNVV.

1.2.6.2. Tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn tín dụng tại các

tổ chức tín dụng

Quỹ BLTD ngoài việc thực hiện nhiệm vụ của mình, góp phần thực hiện chủ

trương, chính sách của Nhà nước về trợ giúp phát triển DNNVV, còn có thể bảo

lãnh cho các DNNVV vay vốn tại các TCTD để đầu tư và bổ sung vốn phát triển

SXKD, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị

trường; đổi mới công nghệ, thay đổi cơ cấu sản xuất và khai thác tốt các cơ hội kinh

doanh.

Các DNNVV đều muốn gia tăng đầu tư và mở rộng SXKD, nhưng phần lớn

các doanh nghiệp vốn ít. Khi đã sử dụng hết vốn chủ sở hữu, các doanh nghiệp này

có nhu cầu vay vốn từ các TCTD, cũng như huy động nguồn vốn khác khá lớn.

Trong khi đó, các TCTD yêu cầu các chủ thể vay vốn phải có tài sản đảm bảo nợ

vay, mà đây là điều kiện mà hầu hết các DNNVV khó đạt được. Do vậy đối với

DNNVV chưa đủ tài sản đảm bảo nợ, nhưng có phương án SXKD, dự án đầu tư khả

thi, đảm bảo thu hồi vốn và hoàn trả nợ vay sẽ được Quỹ BLTD bảo lãnh để vay

vốn tại các TCTD. Qua đó, Quỹ BLTD góp phần khơi thông thêm nguồn vốn tín

dụng của các TCTD, tăng khả năng tiếp cận và sử dụng vốn vay cho các DNNVV,

giúp các doanh nghiệp thực thi có hiệu quả các phương án đầu tư, phát triển SXKD,

tăng thu nhập, tạo tích luỹ, tiếp tục đầu tư mở rộng để đáp ứng nhu cầu phát triển

của thị trường, cũng như nhu cầu đa dạng hoá lĩnh vực hoạt động…

Để tiếp tục đầu tư phát triển SXKD và vay vốn đáp ứng nhu cầu, các

DNNVV phải có vốn tham gia tối thiểu theo quy định, do vậy các DNNVV thường

chủ động bổ sung vốn từ tích luỹ thu nhập hàng năm, tăng thêm vốn điều lệ để tiếp

tục sử dụng vốn vay cho nhu cầu bổ sung vốn, nhu cầu đầu tư phát triển.

24

1.2.6.3. Góp phần gián tiếp trong việc ổn định và thu hút lao động cho các

doanh nghiệp nhỏ và vừa

Qua hoạt động BLTD, các DNNVV tăng quy mô SXKD, tăng tích luỹ và

năng lực tài chính, giúp cho SXKD được ổn định lâu dài và mở rộng. Từ đó giúp

cho lao động tại DNNVV ổn định hơn và thu hút thêm nhiều lao động để đáp ứng

nhu cầu lao động theo quy mô gia tăng, góp phần tăng thu nhập cho người lao động

tại các DNNVV.

1.2.6.4. Góp phần tăng năng lực quản lý và điều hành cho các doanh nghiệp nhỏ

và vừa

Quỹ BLTD chỉ chấp nhận bảo lãnh cho doanh nghiệp nếu doanh nghiệp đó

đáp ứng được các điều kiện theo qui định, trong đó có qui định phương án SXKD

phải thuyết phục, báo cáo tài chính phải rõ ràng và minh bạch. Để giúp cho các

DNNVV đáp ứng các điều kiện này, Quỹ BLTD sẽ tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp

thiết lập phương án SXKD có tính thuyết phục.

Qua hoạt động tư vấn, hướng dẫn doanh nghiệp chuẩn bị các điều kiện để

được cấp BLTD, Quỹ BLTD đã giúp cho các DNNVV điều chỉnh và tăng thêm

năng lực quản lý điều hành trong kinh doanh, trong hoạt động tài chính, cũng như

hoạt động quản lý sản xuất,...

Qua hoạt động hướng dẫn, Quỹ góp phần hỗ trợ và thúc đẩy các DNNVV

chấp hành tốt hơn các quy định, chuẩn mực về tài chính kế toán góp phần nâng cao

năng lực quản trị tài chính. Vì để được BLTD phải có dự án đầu tư, phương án

SXKD tốt, cam kết trả được nợ, quản lý nguồn vốn, sử dụng vốn đúng mục đích,...,

các DNNVV phải chấp hành tốt các quy định về ghi nhận và báo cáo kế toán, cũng

như lập báo cáo tài chính; có đội ngũ quản lý chuyên môn nghiệp vụ để chuẩn bị hồ

sơ, lập dự án theo quy định và phải có tính thuyết phục để có thể vay vốn các

TCTD.

25

1.2.7. Mối quan hệ giữa Quỹ Bảo lãnh tín dụng, tổ chức tín dụng và doanh

nghiệp nhỏ và vừa

Hoạt động của Quỹ BLTD có hiệu quả hay không phụ thuộc chủ yếu vào ba

chủ thể, đó là Quỹ BLTD, các TCTD (NHTM) và các DNNVV. Việc cải tiến và

phối hợp của cả ba đối tượng này sẽ giúp cho hiệu quả Quỹ BLTD phát huy tác

dụng, giúp doanh nghiệp khai thông vốn, có đủ nguồn lực về tài chính, nhân sự,...

đứng vững trên thị trường, cạnh tranh trong điều kiện hội nhập và góp phần đáng kể

vào sự phát triển kinh tế của đất nước.

Biểu đồ 1.2: Mối quan hệ giữa Quỹ BLTD, DNNVV và TCTD

(1) Quỹ BLTD DNNVV

(2 )

(3) (4)

TCTD

Nguồn: Tác giả tổng hợp [29, 30, 31, 34]

(1) Quỹ BLTD cấp BLTD cho DNNVV.

(2) DNNVV vay TCTD thông qua sự BLTD của Quỹ BLTD;

(3) DNNVV trả vốn gốc và lãi vay cho TCTD;

(4) Quỹ BLTD trả nợ thay cho DNNVV nếu DNNVV không thực hiện đúng

cam kết trả nợ.

26

Khi DNNVV yêu cầu Quỹ BLTD cấp BLTD thì Quỹ BLTD chủ động phối

hợp với TCTD để cùng đồng thẩm định hồ sơ, tránh cho DNNVV cảm thấy phiền

hà khi một hồ sơ tín dụng phải thực hiện thẩm định hai lần (một lần ở Quỹ BLTD

khi xét cấp BLTD, một lần ở TCTD khi xét cho vay).

Sau khi DNNVV đã được Quỹ BLTD cấp BLTD và được TCTD cho vay thì

hai tổ chức Quỹ BLTD và TCTD phải phối hợp với nhau để cùng theo dõi, giám sát

khách hàng trong quá trình sử dụng vốn vay nhằm phát hiện và xử lý kịp thời những

dấu hiệu bất thường để tránh rủi ro tín dụng.

Nếu DNNVV không thực hiện đúng cam kết trả nợ thì Quỹ BLTD sẽ phải trả

nợ thay cho DNNVV và lúc này DNNVV phải nhận nợ từ Quỹ BLTD thông qua

hợp đồng cho vay bắt buộc.

Như vậy, trong mối quan hệ này rủi ro lớn nhất thuộc về Quỹ BLTD. Trong

trường hợp DNNVV không trả hoặc trả không đầy đủ, đúng hạn nợ vay (gốc và lãi)

cho TCTD thì Quỹ BLTD sẽ phải trả nợ thay. Xét về mặt lý thuyết thì khi DNNVV

đã được cấp BLTD, có nghĩa rằng khoản vay đã được đảm bảo về khả năng trả nợ,

vì vậy cho vay đối với những trường hợp này, TCTD có rủi ro xem như bằng

không.

1.2.8. Hiệu quả hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng tác động đến doanh

nghiệp nhỏ và vừa

Để xem xét hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD đối với việc phát triển SXKD

của các DNNVV (có sử dụng nguồn vốn tín dụng thông qua BLTD), phương pháp

tốt nhất là xem xét hiệu qủa hoạt động cuối cùng sau một chu kỳ SXKD nhất định

của doanh nghiệp, một số chỉ tiêu xem xét như sau:

Mức độ tăng trưởng lợi nhuận trước và sau khi được bảo lãnh: Nếu hoạt

động SXKD của doanh nghiệp sau khi đã tiếp cận với nguồn vốn tín dụng thông qua

bảo lãnh của Quỹ tăng trưởng cao hơn trước khi được bảo lãnh thì chứng tỏ hiệu

quả hoạt động của Quỹ tác động tốt đến doanh nghiệp và ngược lại.

Năng lực cạnh tranh, mở rộng sản xuất: Sau khi được BLTD từ Quỹ BLTD,

các DNNVV phát triển SXKD, tăng thu nhập, tạo tích luỹ, nhiều DNNVV tiếp tục

27

đầu tư mở rộng để đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường, cũng như nhu cầu đa

dạng hoá lĩnh vực hoạt động. Mặt khác, để tiếp tục đầu tư phát triển SXKD và vay

vốn đáp ứng nhu cầu, các DNNVV phải có vốn tham gia tối thiểu theo quy định, do

vậy các DNNVV thường chủ động bổ sung vốn từ tích luỹ thu nhập hàng năm, tăng

thêm vốn điều lệ để tiếp tục sử dụng vốn vay cho nhu cầu bổ sung vốn, nhu cầu đầu

tư phát triển, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.

Các chỉ tiêu đo lường mức độ này thường là chỉ tiêu tăng trưởng doanh thu,

tỷ suất lợi nhuận, số lao động, khả năng đáp ứng nhu cầu vốn,…

Năng lực quản lý: Qua hoạt động tư vấn, hướng dẫn của Quỹ BLTD, góp

phần cho các DNNVV điều chỉnh và tăng thêm năng lực quản lý điều hành trong

kinh doanh, trong hoạt động tài chính, cũng như trong hoạt động quản lý SXKD của

doanh nghiệp.

1.3. Ý LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ BLTD ĐỐI VỚI

DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

1.3.1. Khái niệm về hiệu quả

Hiệu quả là một phạm trù khoa học phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả và

chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó. Hiệu quả có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ khác

nhau. Theo phạm vi tác dụng trong xã hội, hiệu quả được chia thành hiệu quả kinh

tế và hiệu quả xã hội. Trong đó hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh quan hệ

so sánh giữa các kết quả kinh tế trực tiếp và gián tiếp mà các chủ thể kinh tế thu

được với các chi phí trực tiếp và gián tiếp mà chủ thể kinh tế phải bỏ ra để đạt được

các kết quả đó. Về mặt định tính, hiệu quả kinh tế phản ánh sự gắn bó giữa kết quả

thực hiện những mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị xã hội

[7].

Hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD được xem xét trên cả hai mặt: các khía

cạnh kinh tế và các khía cạnh hiệu quả đối với xã hội:

Về mặt kinh tế: biểu hiện ở mức độ thực hiện các chỉ tiêu kinh tế tài chính và

phi tài chính nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất của xã hội, biểu hiện cụ thể ở: Số

lượng các DNNVV được bảo lãnh thông qua Quỹ BLTD, giá trị BLTD so với vốn

28

tín dụng các DNNVV đã tiếp cận, giá trị BLTD so với vốn điều lệ Quỹ BLTD, số

lượng các DNNVV được tư vấn trợ giúp từ Quỹ BLTD,... Hiệu quả kinh tế có thể

đo lường một cách định tính hoặc định lượng, thông qua hệ thống các chỉ tiêu đo

lường.

- Về mặt xã hội: thể hiện ở việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội. Tuy

nhiên, các lợi ích xã hội do hoạt động của Quỹ BLTD đem lại khó có thể lượng hoá

được mà chủ yếu được đánh giá một cách định tính, thông qua đánh giá mức độ

hiệu quả gián tiếp do các DNNVV được cấp BLTD mang lại như: thực hiện chủ

trương chính sách của nhà nước ra sao (như tạo thêm được bao nhiêu việc làm, góp

phần như thế nào trong việc phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng lãnh thỗ…),

năng lực quản lý và điều hành doanh nghiệp được cải thiện ra sao,…

1.3.2. Các chỉ tiêu đo lƣờng hiệu quả hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng

Khi xem xét hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD, ngoài việc phân tích các chỉ

tiêu có liên quan trực tiếp đến hoạt động của Quỹ, chúng ta còn phải xem xét đến

hiệu quả hoạt động của DNNVV sau khi được Quỹ cấp BLTD, vì hoạt động của

Quỹ BLTD là nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho các DNNVV để góp phần phát triển

kinh tế, xã hội; nên khi DNNVV sử dụng đồng vốn này hiệu quả, nâng cao năng lực

sản xuất, cạnh tranh, ... có khả năng hoàn trả nợ vay tức là hoạt động của Quỹ có

hiệu quả và ngược lại. Do vậy, hiệu quả hoạt động của Quỹ không thể tách rời hiệu

quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Nói một cách khác, việc đánh giá hiệu quả

hoạt động của Quỹ BLTD không thể bỏ qua sự đánh giá về hiệu quả SXKD của các

dự án mà doanh nghiệp đã nhận tài trợ vốn thông qua Quỹ BLTD. Nói một cách

khác, hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD là một bộ phận trong hiệu quả hoạt động

của doanh nghiệp, nhưng hoàn toàn không đồng nhất với hiệu quả SXKD hay hiệu

quả hoạt động chung của doanh nghiệp mà chỉ có quan hệ mật thiết với nhau.

- Hiệu quả về mặt kinh tế

+ Chỉ tiêu tỷ lệ giá trị bảo lãnh so với nhu cầu vốn: Chỉ tiêu này phản ánh

khả năng trợ giúp các DNNVV, đó là tỷ lệ giữa số vốn Quỹ BLTD sẵn sàng đứng ra

29

bảo lãnh so với tổng nhu cầu vốn của các DNNVV trong nền kinh tế. Chỉ tiêu này

càng cao càng chứng tỏ Quỹ hoạt động càng hiệu quả. Công thức:

K1 =

Trong đó: K1 là tỷ lệ giá trị bảo lãnh so với nhu cầu vốn của các DNNVV

trong nền kinh tế.

G: Giá trị BLTD của Quỹ BLTD

N: Nhu cầu vốn các DNNVV trong nền kinh tế.

Chỉ tiêu này được xem là lý tưởng khi K = 100%, vì nhu cầu về vốn của các

DNNVV đã tiếp cận với Quỹ đều được cấp 100% BLTD. Tuy nhiên, trên thực tế

rất khó để Quỹ BLTD đáp ứng 100% nhu cầu vốn của các DNNVV vì nhiều lý do

khách quan lẫn chủ quan (sẽ được phân tích ở những phần sau).

+ Chỉ tiêu tỷ lệ giá trị bảo lãnh so với vốn tín dụng: Phản ánh khả năng

trợ giúp cho các DNNVV tiếp cận Quỹ BLTD và sử dụng nguồn vốn tín dụng, phục

vụ nhu cầu vốn cho SXKD và đầu tư phát triển, qua đó góp phần thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế. Chỉ tiêu này cho thấy một đồng vốn bảo lãnh giúp doanh nghiệp tiếp

cận được bao nhiêu đồng vốn tín dụng, công thức:

K2 =

Trong đó: K2 là tỷ lệ giá trị bảo lãnh so với vốn tín dụng các DNNVV đã

được vay từ các TCTD thông qua BLTD của Quỹ BLTD và sử dụng vào đầu tư,

SXKD.

G: Giá trị BLTD của Quỹ BLTD

V1: Vốn tín dụng các DNNVV đã được vay từ các TCTD thông

qua BLTD của Quỹ BLTD và sử dụng vào đầu tư, SXKD.

30

Các chỉ tiêu K1 và K2 càng lớn thì phản ánh hiệu quả khai thác, huy động vốn

cho nền kinh tế càng cao. Đồng thời các chỉ tiêu này cũng thể hiện sự đóng góp của

Quỹ BLTD đối với việc thúc đẩy các DNNVV vào sự phát triển kinh tế.

+ Chỉ tiêu số lượt doanh nghiệp được Quỹ BLTD tư vấn, hỗ trợ: Phản

ánh số lượt các DNNVV đã được Quỹ BLTD tư vấn dịch vụ về kỹ năng lập

phương án SXKD, tư vấn đầu tư giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất,

phát triển công nghệ sản xuất các sản phẩm mới, chuyển giao công nghệ, lựa chọn

công nghệ,... Hoạt động của Quỹ có hiệu quả khi số lượt tư vấn năm sau cao hơn

năm trước.

+ Chỉ tiêu bội số BLTD: để xem xét lượng vốn tín dụng bảo lãnh cho

DNNVV, chúng ta còn có thể sử dụng chỉ tiêu bội số BLTD, theo qui định tại Điều

22 Quyết định số 193/2001/QĐ-CP ngày 20/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ thì

chỉ tiêu này không được vượt quá 5 lần nhằm đảm bảo an toàn vốn cho Quỹ BLTD,

công thức:

B =

Trong đó: B là bội số BLTD

G: Giá trị BLTD

V2: Vốn điều lệ của Quỹ BLTD

Ưu điểm của công thức này là thể hiện được qui mô hoạt động bảo lãnh của

Quỹ BLTD đối với DNNVV, đặc biệt trong nền kinh tế còn đang phát triển như ở

Việt Nam, (yêu cầu về vốn là hết sức cần thiết và cấp bách đối với DNNVV), thì chỉ

tiêu này càng được đặc biệt quan tâm.

Tuy nhiên, hạn chế của các chỉ tiêu này là chưa thể hiện được tỷ lệ đáp ứng

vốn đối với DNNVV thông qua bảo lãnh so với tổng nhu cầu về vốn của DNNVV

trong nền kinh tế theo từng thời kỳ là bao nhiêu, do có nhiều DNNVV có nhu cầu

về vốn nhưng không tiếp cận với các TCTD cũng như Quỹ BLTD. Thường những

doanh nghiệp này có đặc điểm là có xuất phát điểm thấp, khó tiếp cận với nguồn

31

vốn tín dụng chính thức nên khi có nhu cầu về vốn, các doanh nghiệp chọn cách tìm

kiếm thông qua các hình thức như: huy động nguồn vốn tự có, vốn ứng trước, tìm

kiếm nguồn vốn của bạn bè và gia đình, các nhà cung cấp,…

+ Chỉ tiêu dư nợ cho vay bắt buộc so với số dư BLTD: Khi xem xét hiệu quả

hoạt động của Quỹ BLTD, chúng ta không thể bỏ qua chỉ tiêu này. Theo qui định,

khi doanh nghiệp không trả được nợ cho TCTD hoặc trả nợ không đúng hạn, Quỹ

BLTD sẽ sử dụng quỹ dự phòng nghiệp vụ để trả thay cho doanh nghiệp và chuyển

sang cho vay bắt buộc đối với doanh nghiệp theo phần trách nhiệm cam kết bảo

lãnh của Quỹ. Số nợ cho vay bắt buộc mà Quỹ BLTD thu hồi được sẽ được bồi

hoàn vào quỹ dự phòng nghiệp vụ. Đây được xem là loại rủi ro thất thoát tài chính

có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện một nghĩa vụ tài chính hoặc

nghĩa vụ theo hợp đồng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ hoặc trễ

hẹn thanh toán, cho dù là nợ gốc hay nợ lãi. Do đó, nếu chỉ tiêu này càng cao thì

khả năng thất thoát tài chính của Quỹ sẽ càng cao và hiển nhiên hiệu quả hoạt động

của Quỹ sẽ không được đánh giá cao. Công thức:

D =

Trong đó: D là tỷ lệ giữa dư nợ cho vay bắt buộc so với số dư BLTD

N: Dư nợ cho vay bắt buộc

S: Số dư BLTD

+ Chỉ tiêu số vốn Quỹ BLTD trả thay cho DNNVV đã thu hồi/ Tổng số vốn

đã trả thay: Chỉ tiêu này phản ánh số vốn mà Quỹ BLTD đã trả thay cho doanh

nghiệp khi doanh nghiệp không trả được nợ cho TCTD hoặc trả nợ không đúng hạn,

nay thu hồi được. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng thất thoát tài chính của

Quỹ càng ít và hiệu quả hoạt động sẽ càng cao.

+ Chỉ tiêu Lợi nhuận/Vốn: Chỉ tiêu này cho thấy một đồng vốn bỏ ra sẽ thu

về bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tuy nhiên, Quỹ BLTD là một tổ chức phi lợi nhuận,

không hoạt động như một tổ chức kinh tế nên chỉ tiêu này chỉ nhằm cho chúng ta có

32

cái nhìn tổng quát hơn về hoạt động của Quỹ BLTD khi so sánh với các tổ chức

kinh tế khác.

- Hiệu quả về mặt xã hội

Hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD về mặt xã hội được thể hiện thông qua

các chỉ tiêu gián tiếp, khi các DNNVV được cấp BLTD hoạt động có hiệu quả về

mặt xã hội điều đó đồng nghĩa là Quỹ BLTD cũng có hiệu quả về mặt xã hội.

Khi đánh giá hiệu quả về mặt xã hội, thường xem xét một số chỉ tiêu:

+ Tạo việc làm cho người lao động: Các DNNVV khi được Quỹ BLTD bảo

lãnh để các TCTD cấp vốn thực hiện dự án, thông qua đó sẽ tạo thêm việc làm cho

người lao động, góp phần nâng cao mức sống người dân, thu hẹp khoảng cách giữa

người giàu và nghèo.

+ Nâng cao mức sống dân cư: Được thể hiện gián tiếp thông qua các chỉ tiêu

thu nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng trưởng kinh tế, mức giá tăng tổng sản

phẩm quốc gia,...

+ Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân công lao động giữa các vùng

miền: Nhà nước có thể sử dụng chính sách bảo lãnh để hướng các DNNVV phát

triển ở những ngành nghề cần ưu tiên phát triển, những vùng hải đảo, miền núi xa

xôi hẻo lánh để khai thác tiềm năng tại địa phương, góp phần xoá bỏ sự chênh lệch

giữa nông thôn và thành thị, cũng như khuyến khích sự phát triển các ngành nghề

mới, tạo điều kiện cho các DNNVV phát triển lớn mạnh.

+ Bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái: Trong nền kinh tế thị

trường, rất nhiều doanh nghiệp đặt ra mục tiêu lợi nhuận là trên hết, đã bỏ qua các

yếu tố môi trường. Hơn đất nước nào hết, ở Việt Nam đã chứng kiến nhiều doanh

nghiệp chạy theo lợi nhuận, không đầu tư vào các thiết bị xử lý nước thải, mà trực

tiếp thoát ra các nguồn nước, gây ô nhiễm nghiêm trọng. Việc các DNNVV thực

hiện các dự án đầu tư máy móc thiết bị, xử lý ô nhiễm môi trường thông qua vốn

vay đã góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái.

+ Xem xét mức độ hài lòng của khách hàng về hoạt động của Quỹ: Ngoài

các chỉ tiêu đo lường về mặt kinh tế và xã hội nêu trên, để xem xét hiệu quả hoạt

33

động của Quỹ, chúng ta cũng có thể lấy ý kiến của khách hàng đã tiếp cận với Quỹ

trong thời gian qua để đánh giá hiệu quả hoạt động. Nếu đa số các khách hàng cho

rằng đã hài lòng với những sản phẩm do Quỹ cung cấp thì đây là tín hiệu thể hiện

hoạt động của Quỹ hiệu quả, nếu ngược lại sẽ thể hiện kém hiệu quả. Đây là một chỉ

tiêu quan trọng thể hiện sự đánh giá của thị trường đối với hoạt động bảo lãnh và trợ

giúp các DNNVV của nhà nước. Việc đánh giá này thường thông qua khảo sát, điều

tra, nắm bắt tin tức trên các phương tiện thông tin đại chúng.

1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG QUỸ BẢO LÃNH

TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

1.4.1. Môi trƣờng chính trị, pháp lý, kinh tế xã hội

1.4.1.1. Môi trường chính trị

Chính trị và kinh tế là hai nhóm yếu tố có liên quan mật thiết với nhau.

Chính trị ổn định là điều kiện cho kinh tế phát triển và ngược lại, kinh tế phát triển

là yếu tố quan trọng góp phần làm cho chính trị ổn định. Mặt khác thể chế và đường

lối chính trị quyết định đường lối các chính sách kinh tế. Chính trị ảnh hưởng đến

các doanh nghiệp trước hết là thông qua kinh tế.

Môi trường chính trị ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của bất kỳ tổ chức

kinh tế - xã hội nào trong xã hội. Quỹ BLTD hiện nay ở Việt Nam do nhà nước

thành lập, hoạt động dưới sự lãnh đạo của nhà nước, do đó môi trường chính trị sẽ

có ảnh hưởng đáng kể hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD. Trong tình hình chính trị

bất ổn như: đình công, bãi công, biểu tình, chiến tranh, tranh chấp biên giới,... sẽ

ảnh hưởng vừa trực tiếp vừa gián tiếp đến hoạt động BLTD của Quỹ. Cụ thể là:

Tác động trực tiếp: Trong điều kiện môi trường chính trị xấu, hoạt động

BLTD của Quỹ với tư cách là công cụ của chính phủ nhằm thực hiện các mục tiêu

trợ giúp phát triển DNNVV sẽ bị ảnh hưởng ngay từ khâu hoạch định chính sách và

tổ chức hoạt động. Khi môi trường chính trị không ổn định, tổ chức hoạt động của

Quỹ sẽ bị phân tán, không tập trung thực hiện nhiệm vụ của mình. Ngược lại, nếu

môi trường chính trị tốt thì những tiêu cực này sẽ bị hạn chế và hoạt động của Quỹ

sẽ được nâng cao và hiệu quả.

34

Tác động gián tiếp: Khi môi trường chính trị không ổn định, các doanh

nghiệp sẽ không lo tập trung vào sản xuất, không mở rộng sản xuất kinh doanh, hiệu

quả kinh doanh giảm sút,... khả năng làm đình trệ sản xuất, gia tăng nợ xấu đối với

các TCTD, thậm chí dẫn đến phá sản. Mặt khác, khi môi trường chính trị bất ổn,

người dân sẽ không tin tưởng vào các tổ chức chính trị, chính trị xã hội làm cho

việc huy động vốn cho nền kinh tế khó khăn, khả năng tích luỹ hạn chế, không có

nguồn vốn để cấp tín dụng cho doanh nghiệp [7].

1.4.1.2. Môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý là tổng thể các yếu tố, điều kiện do các quy định pháp

luật xác lập, trong đó các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, các đơn vị

kinh tế và mọi công dân thực thi các nhiệm vụ, quyền hạn của mình hoặc tương tác

lẫn nhau. Theo nghĩa rộng, môi trường pháp lý gồm hệ thống các quy định pháp

luật, việc giải thích pháp luật, thực thi pháp luật và ý thức pháp luật của công dân.

Môi trường pháp lý đầy đủ, đồng bộ sẽ giúp cho các chủ thể tham gia vào nền kinh

tế yên tâm hoạt động trong khuôn khỗ của pháp luật, hiệu quả hoạt động sản xuất

kinh doanh sẽ ngày càng cao. Quỹ BLTD ở Việt Nam được thành lập đã lâu nhưng

hệ thống các văn bản pháp lý vẫn chưa được hoàn thiện, đang tiếp tục nghiên cứu

để triển khai. Hệ thống pháp lý về Quỹ BLTD chưa đồng bộ đã ảnh hưởng đáng kể

đến hiệu quả hoạt động của Quỹ.

Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, mọi

chủ thể hoạt động trong nền kinh tế đều chịu sự chi phối của hệ thống pháp luật. Do

đó, một hệ thống pháp luật đầy đủ, minh bạch, đồng bộ sẽ giúp cho các chủ thể tuân

thủ pháp luật và từ đó sẽ làm hạn chế những rủi ro không đáng có như lừa đảo để

chiếm đoạt tiền từ các TCTD, gia tăng nợ xấu, tham nhũng,...

1.4.1.3. Môi trường kinh tế xã hội

Môi trường kinh tế xã hội là tổng hoà các mối quan hệ về kinh tế và xã hội

tác động lên mọi chủ thể tham gia vào nền kinh tế. Môi trường kinh tế xã hội ổn

định sẽ tạo điều kiện cho lưu thông hàng hoá, thúc đẩy sản xuất phát triển, làm cho

hoạt động tín dụng sẽ thuận lợi hơn. Tốc độ phát triển kinh tế ổn định sẽ giúp cho

35

các TCTD huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng; các doanh nghiệp

sẽ hoạt động hiệu quả và tăng khả năng tích luỹ, vì thế sẽ có khả năng hoàn trả nợ

vay cho các TCTD và Quỹ BLTD sẽ giảm thiểu rủi ro về hoạt động bảo lãnh. Môi

trường kinh tế xã hội không ổn định sẽ ảnh hưởng đến các dự án mà Quỹ đã cấp

BLTD cho các doanh nghiệp, các doanh nghiệp không triển khai được dự án hoặc

dự án không có hiệu quả sẽ dẫn đến doanh nghiệp không có khả năng trả được nợ

vay cho các TCTD; lúc này Quỹ BLTD sẽ đứng ra trả nợ thay và làm tăng khả năng

rủi ro trong hoạt động bảo lãnh.

1.4.2. Chính sách Bảo lãnh tín dụng hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và

vừa của Nhà nƣớc

Chính sách BLTD hỗ trợ phát triển DNNVV của nhà nước (bao gồm chính

sách tín dụng và chính sách nguồn vốn) cũng ảnh hưởng đến việc hỗ trợ các

DNNVV của Quỹ BLTD.

Chính sách tín dụng bao gồm chính sách lãi suất, quản lý và giám sát tín

dụng cũng như các điều kiện tín dụng như: tài sản đảm bảo, lãi suất cho vay, phí

BLTD, hạn mức tín dụng, thời hạn vay, điều kiện bắt buộc nhận nợ,…

Mặc dù hoạt động BLTD cho DNNVV là hoạt động không vì mục tiêu lợi

nhuận nhưng Quỹ BLTD vẫn phải bảo tồn được vốn của mình nhằm có nguồn vốn

tái đầu tư, hạn chế sự bao cấp của nhà nước, phát triển hoạt động, thực hiện đắc lực

hơn mục tiêu đã đề ra cho hoạt động này. Trong trường hợp thị trường biến động,

lãi suất cho vay của các TCTD quá cao thì nhiều DNNVV sẽ quan ngại đi vay, do

đó hoạt động BLTD của Quỹ sẽ bị ảnh hưởng rất mạnh. Bên cạnh đó, các chính

sách về hạn chế bảo lãnh, giám sát tín dụng nếu không được xây dựng chặt chẽ,

đồng bộ và phù hợp thực tiễn sẽ dẫn tới những nguy cơ về rủi ro đạo đức, rủi ro tín

dụng, tác động trực tiếp đến hiện quả hoạt động của Quỹ BLTD.

Chính sách nguồn vốn là một yếu tố sống còn của bất kỳ một tổ chức nào,

hiện nay nhiều Quỹ BLTD ở các địa phương chưa có đủ nguồn vốn điều lệ tối thiểu

(30 tỷ đồng) để hoạt động là một minh chứng cho chính sách nguồn vốn. Việc nhà

nước có những chính sách về nguồn vốn hợp lý để Quỹ BLTD có thể huy động

36

ngoài vốn ngân sách là hết sức quan trọng (như huy động từ các TCTD, các tổ chức

hiệp hội, …). Nếu thiếu vốn để bảo lãnh hoặc nguồn vốn điều lệ quá ít sẽ không đáp

ứng được yêu cầu của các DNNVV. Nếu như vốn không được đảm bảo đầy đủ, liên

tục và kịp thời thì cũng đồng nghĩa với việc Quỹ BLTD không đảm đương được vai

trò, nhiệm vụ của mình chứ chưa nói đến hiệu quả. Do đó, nếu chính sách về nguồn

vốn (gồm: chính sách huy động, lãi suất cho vay của TCTD, phí bảo lãnh, chính

sách đãi ngộ,…) không hợp lý sẽ dẫn đến không huy động đủ nguồn vốn để cấp

BLTD cho DNNVV.

1.4.3. Năng lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Năng lực của các DNNVV bao gồm: năng lực tài chính, năng lực sản xuất

kinh doanh, năng lực quản lý của doanh nghiệp. Năng lực của DNNVV cũng là

nhân tố ảnh hưởng đến sự hỗ trợ phát triển DNNVV của Quỹ BLTD.

Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở khối lượng vốn tự có và tỷ

trọng vốn tự có trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp sử dụng. Điều kiện tín

dụng qui định một tỷ lệ cụ thể, tối thiểu của vốn tự có trong tổng số nguồn vốn hoạt

động hay tỷ lệ vốn tự có tương ứng với khối lượng vốn vay, tỷ lệ vốn tự có tham gia

vào dự án. Năng lực tài chính của doanh nghiệp còn thể hiện ở khả năng thanh toán

của doanh nghiệp, đó là sự so sánh giữa số tiền có thể thanh toán và các khoản nợ

thanh toán. Việc đáp ứng các yêu cầu thanh toán còn lệ thuộc khá lớn vào cơ cấu tài

sản của doanh nghiệp xếp theo tính lỏng của tài sản. Năng lực tài chính của doanh

nghiệp trong tín dụng trung dài hạn còn đòi hỏi doanh nghiệp phải có vốn lưu động

tối thiểu cho việc duy trì hoạt động thường xuyên của TSCĐ. Năng lực tài chính của

doanh nghiệp càng cao, khả năng đáp ứng các điều kiện tín dụng cũng như BLTD

của Quỹ BLTD càng lớn, góp phần nâng cao hoạt động BLTD.

Năng lực sản xuất kinh doanh biểu hiện cụ thể ở quá trình sản xuất sản phẩm,

công nghệ sản xuất, quá trình phát triển của doanh nghiệp. Năng lực sản xuất kinh

doanh thể hiện ở qui mô của doanh nghiệp. Việc nghiên cứu năng lực sản xuất kinh

doanh cho thấy tính cấp thiết và qui mô phải đầu tư mới. Năng lực thị trường và

năng lực sản xuất tạo nên khả năng tìm kiếm lợi nhuận. Tình hình sản xuất ổn định

37

và kinh doanh có lãi thể hiện ở năng lực thị trường và năng lực sản xuất tốt của

doanh nghiệp.

Năng lực tổ chức, quản lý của doanh nghiệp thể hiện ở bộ máy quản lý phù

hợp, trình độ quản lý tồi thì dù dự án được tính toán là rất hiệu quả nhưng vẫn có

thể bị thua lỗ và sẽ không trả được nợ vay. Năng lực quản lý còn thể hiện ở hệ

thống tổ chức bộ máy kế toán phù hợp, tuân thủ pháp luật kế toán, thống kê và thuế.

Việc chú trọng nâng cao hệ thống báo cáo tài chính thể hiện tính minh bạch trong

hoạt động SXKD của doanh nghiệp sẽ làm cho các TCTD cũng như Quỹ BLTD yên

tâm hơn trong việc cấp BLTD và cấp tín dụng cho doanh nghiệp [14].

1.4.4. Năng lực của các ngân hàng thƣơng mại

Năng lực của NHTM thể hiện chủ yếu qua năng lực cạnh tranh. Năng lực

cạnh tranh của NHTM, đó là khả năng mà do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy

trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm củng cố và mở rộng thị phần; gia tăng

lợi nhuận và có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi

trường kinh doanh. Năng lực cạnh tranh của NHTM được đánh giá qua các yếu tố:

năng lực tài chính (vốn và tài sản); năng lực công nghệ; nguồn nhân lực; năng lực

quản trị điều hành; mạng lưới hoạt động; khả năng cạnh tranh lãi suất, khả năng

chịu đựng rủi ro; mức độ đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh; …trong đó, năng lực

tài chính và năng lực công nghệ được xem là những yếu tố quan trọng hàng đầu

quyết định năng lực cạnh tranh của NHTM. Hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD

cũng phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của NHTM, đặc biệt là năng lực tài chính,

chẳng hạn như NHTM chỉ được cấp tín dụng không quá 15% vốn điều lệ cho một

khách hàng; nếu như NHTM có vốn điều lệ cao thì khả năng cấp tín dụng cho khách

hàng thông qua Quỹ BLTD càng cao.

1.4.5. Nhu cầu Bảo lãnh tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Quỹ BLTD sẽ không hoạt động có hiệu quả nếu như DNNVV không có nhu

cầu BLTD. Tuy nhiên, điểm yếu cơ bản nhất của DNNVV là thiếu vốn hoạt động,

một số DNNVV thì có đủ tài sản thế chấp tại các TCTD để được cấp tín dụng, số

khác thì huy động vốn thông qua bạn bè, người thân, cổ đông,.... Thực tế các doanh

38

nghiệp sử dụng các nguồn vốn này là rất ít, hầu hết các DNNVV thiếu vốn SXKD

nhưng không có tài sản thế chấp ngân hàng. Do đó, nhu cầu cần Quỹ BLTD hỗ trợ

để các doanh nghiệp này tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng là rất lớn. Khi

doanh nghiệp có vốn ít, qui mô nhỏ bé thì nhu cầu bảo lãnh vay vốn cao, ngược lại

khi doanh nghiệp lớn mạnh, qui mô vốn tăng thì nhu cầu bảo lãnh vay vốn sẽ giảm.

Để thấy được thực trạng về nhu cầu BLTD của các DNNVV, đề tài tiến hành khảo

sát và kiểm định mô hình định lượng về nhu cầu BLTD của các DNNVV tại Việt

Nam.

1.4.5.1 Cơ sở lý thuyết mô hình nghiên cứu

Theo “Lý thuyết trật tự phân hạng” (Pecking order theory), khi lựa chọn các

nguồn vốn đề tài trợ cho các hoạt động của mình, các doanh nghiệp ưu tiên sử dụng

các nguồn nội bộ, kế đến là nợ vay và cuối cùng là phát hành cổ phiếu mới (Myers

và Majluf, 1984). Theo Mayer và Majluf (1984), các nhà quản lý doanh nghiệp

thường đi theo thứ bậc tài trợ sau: tự tài trợ, nợ không rủi ro, nợ có rủi ro và tăng

vốn. Nhiều nghiên cứu thực nghiêm để kiểm chứng trật tự này đã được thực hiện

trên thế giới và trong nước (Titman và Wessels, 1988; Rajan và Zingales , 1995;

Jordan và các tác giả, 1998; Michaelas và các tác giả, 1999; Nguyen và

Ramachandran, 2006, Nguyễn Thanh Cường, 2001; Trần Hùng Sơn, 2001); [1, 14,

41, 42, 43, 44]. Kết quả của phần lớn các nghiên cứu này đều xác nhận trật tự phân

hạng như đã nêu trên. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Cường (2001) dựa trên số liệu

từ năm 2004-2008 của các doanh nghiệp chế biến thủy sản và các doanh nghiệp chế

biến khác ở nước ta cho thấy quy mô và giá trị tài sản thế chấp là các nhân tố quan

trọng quyết định sự lựa chọn cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nghiên

cứu của Trần Hùng Sơn (2001) cho thấy các doanh nghiệp điều chỉnh tỷ lệ nợ mục

tiêu của mình dựa trên lợi nhuận, tỷ lệ tài sản cố định, quy mô và các cơ hội tăng

trưởng của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sẽ lựa chọn nguồn vốn vay từ ngân

hàng sau khi cân nhắc các nguồn vốn nội bộ và các nguồn vốn rẻ, ít rủi ro khác như

tín dụng thương mại [1, 14]. Cụ thể:

39

Về nguồn vốn nội bộ: Doanh nghiệp có thể tự tài trợ các nguồn vốn chủ sở

hữu hay lợi nhuận giữ lại. Jordan và các tác giả (1998) nhận thấy rằng lợi nhuận cao

giúp các doanh nghiệp có thể tự tài trợ cho kinh doanh cũng như các dự án đầu tư

mới của mình nên ít có nhu cầu vay vốn. Tuy nhiên các nghiên cứu của tác giả

Michaelas và các tác giả (1999) lại cho thấy doanh nghiệp có lợi nhuận cao lại

muốn vay nhiều hơn do chi phí lãi vay được khấu trừ thuế. Lợi nhuận của doanh

nghiệp cao phản ánh cơ hội kinh doanh tốt khiến doanh nghiệp muốn đi vay vốn để

mở rộng quy mô. Do vậy, tác động của lợi nhuận đối với nhu cầu vay vốn có tính

hỗn hợp. Nhưng đối với các DNNVV, các nguồn vốn này thường rất hạn chế nên

sau khi sử dụng hết nguồn vốn chủ sở hữu các doanh nghiệp phải nhờ đến nguồn

vốn từ bên ngoài. Các nghiên cứu của Petersen và Rajan (1997) và Danielson và

Scott (2004) cho thấy có mối quan hệ nghịch biến giữa tín dụng thương mại và nhu

cầu đối với tín dụng ngân hàng. Khi nhu cầu vốn để tận dụng các cơ hội đầu tư cao

hơn khả năng tự tài trợ và các nguồn vốn có chi phí thấp, doanh nghiệp sẽ vay từ

bên ngoài mà chủ yếu từ các ngân hàng thương mại vì đây là nguồn có chi phí

tương đối thấp so với việc phát hành cổ phiếu [41].

Về nguồn vốn vay: Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây đều cho thấy: Quỹ

BLTD thường có tác động tích cực đối với DNNVV, giúp các doanh nghiệp này gia

tăng doanh số bán hàng và giảm chi phí của các công ty (Cowling (2010) đối với

Anh; Riding Madill, và Haines (2007) cho Canada; Uesugi, Sakai , và Yamashiro

(2010) cho Nhật Bản, và Zecchini và Ventura (2009) cho Italy) [38, 40, 41].

Nghiên cứu này nhằm phân tích yếu tố chủ yếu quyết định nhu cầu BLTD,

bao gồm:

Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp: Các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh

vực khác nhau thì có nhu cầu BLTD khác nhau. Ví dụ: Doanh nghiệp trong ngành

nông, lâm, thủy sản và xây dựng thường cần nhiều vốn do quy mô đầu tư lớn và

thường bán hàng trả chậm, do vậy, các doanh nghiệp này cần nhiều vốn vay hơn các

doanh nghiệp trong các ngành khác để bổ sung vốn lưu động và thanh toán cho các

công trình.

40

Quy mô doanh nghiệp: Các doanh nghiệp tư nhân thường có cơ cấu tổ chức đơn

giản, sản xuất kinh doanh những hàng hóa, dịch vụ truyền thống, đơn giản và có

quy mô hoạt động nhỏ so với các loại hình doanh nghiệp khác nên nhu cầu vốn của

họ cũng có thể nhỏ hơn các công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần.

Thời gian hoạt động của doanh nghiệp: theo Berger và Udell (1998), các doanh

nghiệp có thời gian hoạt động dài có thể tự tài trợ cho hoạt động kinh doanh của

mình bằng vốn tự có nên ít có nhu cầu BLTD. Nghiên cứu của Adaskou (2009)

cũng cho rằng số năm hoạt động của doanh nghiệp tương quan âm với tỷ lệ nợ [37].

Giá trị tài sản cố định: Theo Titman và Wessels (1988), Rajan và Zingales (1995),

giá trị tài sản cố định hữu hình có mối quan hệ đồng biến với nhu cầu BLTD của

doanh nghiệp ở các nước phát triển. Berger và Udell (1998) thấy rằng các công ty

có quy mô nhỏ, thời gian hoạt động ngắn có khả năng phải đối mặt với chi phí tài

chính cao và họ được yêu cầu cung cấp tài sản thế chấp, hoạt động của các ngân

hàng Việt Nam hiện nay vẫn dựa vào tài sản thế chấp đảm bảo cho việc an toàn vốn.

Vì vậy tài sản thế chấp trở thành nhân tố được các ngân hàng xem xét đầu tiên.

Trong công tác thẩm định cho vay, các ngân hàng luôn chú trọng đến quy mô của

doanh nghiệp mà đặc biệt đó là giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp vì đó cũng

là một trong những điều kiện để ngân hàng có thể thu hồi khoản cho vay khi doanh

nghiệp không có khả năng trả nợ vay. Do vậy, trong bài nghiên cứu này, giá trị tài

sản cố định của doanh nghiệp được dùng như là một chỉ tiêu biểu hiện quy mô của

doanh nghiệp thay cho các chỉ tiêu khác như doanh số hay số lao động trong doanh

nghiệp. [36, 37, 39].

Động lực phát triển

Động lực phát triển doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến có nhu cầu vay

vốn ngân hàng do nhu cầu mở rộng sản xuất, duy trì công nhân lành nghề, tạo ra

nhiều sản phẩm mới tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Nhằm mục đích cạnh tranh

thị trường trong nước cũng như nước ngoài, nhu cầu BLTD của nhà đầu tư được

xác định bởi nhiều yếu tố thay đổi trong điều kiện kinh tế - xã hội và công nghệ ảnh

41

hưởng đến việc đầu tư (Ví dụ như: lãi suất, điều kiện kinh tế, cạnh tranh thị trường,

v.v ...).

Niềm tin:

Niềm tin của doanh nghiệp đối với Quỹ BLTD là yếu tố quan trọng trong

nhu cầu BLTD gồm các thành phần sau:

o Niềm tin của doanh nghiệp về sự hỗ trợ tốt trong hoạt động của Quỹ.

o Niềm tin của doanh nghiệp với vào sự bảo mật thông tin của Quỹ

BLTD.

o Niềm tin của doanh nghiệp vào tính hợp pháp của Quỹ BLTD.

o Mức độ tin cậy của doanh nghiệp vào phương thức bảo lãnh vay.

Nhu cầu BLTD có thể chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố khác nhau nên trong

nghiên cứu này, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như sau:

Biểu đồ 1.3: Mô hình nghiên cứu định lượng về nhu cầu BLTD của các DNNVV

Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp

Quy mô doanh nghiệp

Nhu cầu BLTD Thời gian hoạt động của doanh nghiệp

Giá trị tài sản cố định

Động lực phát triển

Niềm tin

42

1.4.5.2. Các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu

Giả thuyết H1: Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp tương quan dương với

nhu cầu BLTD càng tăng và ngược lại.

Giả thuyết H2: Quy mô doanh nghiệp tương quan dương với nhu cầu BLTD

càng tăng và ngược lại.

Giả thuyết H3: Thời gian hoạt động tương quan dương với nhu cầu BLTD

càng tăng và ngược lại.

Giả thuyết H4: Gía trị tài sản cố định tương quan dương với nhu cầu BLTD

càng tăng và ngược lại.

Giả thuyết H5: Động lực phát triển tương quan dương với nhu cầu BLTD

càng tăng và ngược lại.

Giả thuyết H6: Niềm tin tương quan dương với nhu cầu BLTD càng tăng và

ngược lại.

Trên cơ sở các mô hình nghiên cứu của các tác giả nêu trên, có sự chọn lọc,

hiệu chỉnh cho phù hợp với vấn đề cần nghiên cứu, tác giả đưa ra mô hình nghiên

cứu nhu cầu BLTD gồm 6 yếu tố là (1) Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, (2)

Quy mô doanh nghiệp, (3) Thời gian hoạt động, (4) Giá trị tài sản cố định , (5)

Động lực phát triển và (6) Niềm tin. Các yếu tố này có tương quan dương đến nhu

cầu BLTD hiện nay, kết quả nghiên cứu khảo sát thực nghiệm được trình bày trong

Chương 2.

1.5. KINH NGHIỆM TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ BẢO LÃNH TÍN

DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở MỘT SỐ QUỐC GIA

TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM

1.5.1. Quỹ Bảo lãnh tín dụng ở một số nƣớc

Để thúc đẩy DNNVV phát triển, Chính phủ các nước đã nhận thấy cần phải

hỗ trợ các DNNVV trong việc vay vốn từ các TCTD do các doanh nghiệp này

không có khả năng nhận được các khoản vay trực tiếp vì thiếu các điều kiện về tài

sản thế chấp. Tuy nhiên, để việc hỗ trợ DNNVV trở thành một hệ thống và hoạt

động chuyên nghiệp, chính phủ và chính quyền địa phương đã lựa chọn một trong

43

các tổ chức tài chính nhà nước. Một số nước khác thì thành lập Quỹ BLTD

DNNVV nhằm đáp ứng nhu cầu vốn.

Thực tế ở nhiều nước, hệ thống BLTD cho DNNVV được ra đời từ sớm như

chương trình BLTD cho doanh nghiệp nhỏ được triển khai từ năm 1981 ở Anh; Hà

Lan đã thực hiện kế hoạch đảm bảo 100% tín dụng thương mại cho các DNNVV

được khởi xướng từ năm 1931 và hình thành năm 1958. Hệ thống đảm bảo cho

DNNVV cũng đã được các nước Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia,…thực

hiện.

1.5.1.1. Quỹ Bảo lãnh tín dụng tại Trung Quốc

- Về mô hình hoạt động:

Ở Trung Quốc hiện nay có 3 loại hình tổ chức BLTD:

+ Tổ chức bảo lãnh phi lợi nhuận: hoạt động như là tổ chức trung gian của

Chính phủ, hoạt động theo chính sách tài chính mà Chính phủ đề ra nhằm giúp cho

các DNNVV phát triển, hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận.

+Tổ chức bảo lãnh thương mại: nhằm hỗ trợ cho các DNNVV dễ dàng hơn

trong việc tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng, nhưng lợi nhuận vẫn là mục tiêu hàng

đầu.

+ Tổ chức bảo lãnh tương hỗ: nhằm hỗ trợ tài chính cho các thành viên trong

nội bộ tổ chức thông qua bảo lãnh.

- Về nguồn vốn hoạt động:

+ Tổ chức bảo lãnh phi lợi nhuận: hoạt động dựa vào ngân sách và tài sản

được chuyển nhượng của Chính phủ, tiền quỹ BLTD của khu vực đầu tư tư nhân và

khu vực Chính phủ chuyên dụng, tiền tái bảo lãnh dự phòng, tiền ký quỹ phòng rủi

ro của các thành viên, nguồn tài trợ nước ngoài…

+ Tổ chức bảo lãnh thương mại: hoạt động dựa vào nguồn vốn đầu tư tư

nhân, tiền ký quỹ bảo đảm của khách hàng, nguồn tài trợ trong và ngoài nước …

+ Tổ chức bảo lãnh tương hỗ: Nguồn vốn hoạt động là do các thành viên

trong tổ chức tự đóng góp, những khoản đầu tư tư nhân khác, tiền ký quỹ phòng rủi

ro của các thành viên, nguồn tài trợ trong và ngoài nước …

44

- Về phí bảo lãnh, giá trị bảo lãnh

+ Phí bảo lãnh: Phụ thuộc vào hình thức vay (type of loan), mức độ rủi ro

(risk analysis), tỷ lệ bảo lãnh (guarantee coverage) và thời gian khoản vay (period

of loan).

+ Giá trị bảo lãnh: Hầu hết những tổ chức bảo lãnh sẽ bảo lãnh 100% giá

trị khoản nợ; một vài tổ chức chỉ bảo lãnh một phần, ví dụ: nhiều tổ chức bảo lãnh

chỉ nhận trách nhiệm bảo lãnh từ 70%-90% giá trị khoản vay.

- Về doanh thu bảo lãnh (trong năm 2009)

Trong năm 2009, cả nước có 5.547 tổ chức BLTD với tổng số vốn điều lệ là

52.14 tỷ USD, tăng lần lượt là 30.6% và 58.4% so với năm 2008, điều này đã giúp

cho số lượng khách hàng được bảo lãnh tăng thêm 60.8% so với năm trước.

Cụ thể, trong năm 2009, đã có 370.000 DNNVV được bảo lãnh với tổng số

tiền bảo lãnh lên đến 166.1 tỷ USD (trong đó: có 236.000 DNNVV mới với số vốn

bảo lãnh là 111 tỷ USD). Những tổ chức bảo lãnh đã kiếm được 2.77 tỷ USD, trả

0.25 tỷ USD tiền thuế và đã kiếm được lợi nhuận ròng là 0.68 tỷ USD.

Tuy nhiên, số lợi nhuận trên không chia đều cho tất cả các tổ chức bảo lãnh

mà chỉ tập trung vào một số tổ chức bảo lãnh lớn (vì họ giữ một vị trí rất quan trọng

trên thị trường). Trong năm 2009, cả nước có 1.263 tổ chức bảo lãnh lớn (chỉ chiếm

22.7% trên tổng số tổ chức bảo lãnh); nhưng tổng vốn điều lệ của các tổ chức này

lên đến 31.54 tỷ USD (chiếm đến 62% trên tổng vốn điều lệ của các tổ chức bảo

lãnh trên toàn quốc), với tốc độ tăng là 63.4% so với năm trước. Hoạt động của

những tổ chức bảo lãnh lớn này rất đáng chú ý, họ đã bảo lãnh 270.000 hợp đồng

cho 130.000 DNNVV với tổng số tiền bảo lãnh lên đến 123.65 tỷ USD (đại diện

cho 74.4% số tiền bảo lãnh toàn quốc).

Nhìn chung, các tổ chức bảo lãnh hoạt động rất hiệu quả. Trong năm 2009,

sự bồi thường cho các chủ nợ là 0.46 tỷ USD, chỉ chiếm 0.27% tổng số tiền bảo

lãnh mới trong năm. Tuy nhiên, số tiền bảo lãnh mất chỉ có 0.08 tỷ USD, chiếm

0.05% tổng số tiền bảo lãnh của năm.

Trong năm 2009, tổ chức bảo lãnh tư nhân chiếm ưu thế. Cụ thể:

45

+ Có 1.501 tổ chức bảo lãnh do Nhà nước quản lý (chiếm 27% tổng số tổ chức

bảo lãnh); với tổng số vốn điều lệ là 13.33 tỷ USD (tăng 3.86 tỷ USD so với năm

2008) và chiếm 25.5% tổng số vốn điều lệ của các tổ chức bảo lãnh trên cả nước.

+ Vốn điều lệ của tổ chức bảo lãnh tư nhân là 38.82 tỷ USD, chiếm 74.5% tổng

số vốn điều lệ của các tổ chức bảo lãnh.

- Vai trò của Quỹ BLTD:

Tổ chức BLTD chính là cầu nối giữa DNNVV với ngân hàng vì tổ chức BLTD

có thể:

+ Giúp ngân hàng kiểm soát được chi phí điều hành và rủi ro trong hoạt động

+ Giúp ngân hàng giảm bớt và kiểm soát rủi ro tín dụng

+ Giúp xúc tiến quá trình xem xét và phê duyệt hồ sơ nhanh chóng hơn

+ Thúc đẩy việc cấp tín dụng (kể cả khi có khủng hoảng tài chính)

Qua đó, ta thấy rằng những tổ chức BLTD đóng vai trò rất quan trọng trong nền

kinh tế. Như trong năm 2009, những DNNVV được bảo lãnh có tổng số nhân viên là

21.52 triệu người và lợi nhuận bán hàng đạt 787.7 tỷ USD, thuế thu nhập những

DNNVV này đóng là 6.83 triệu USD. Nhờ vào việc tiếp cận được với nguồn vốn

ngân hàng thông qua hình thức bảo lãnh, các DNNVV này đã tạo thêm được 6.68

triệu việc làm, lợi nhuận bán hàng tăng thêm 230.77 tỷ USD và nâng thuế phải đóng

lên 18.78 tỷ USD; góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển và tạo thêm nhiều việc

làm cho nền kinh tế.

Chính vì những đóng góp trên, nên trong cuộc khủng hoảng tài chính, các tổ chức

BLTD đã nhận được rất nhiều chính sách hỗ trợ từ Chính phủ (nhằm gián tiếp giúp

cho các DNNVV dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng để vượt qua khủng

hoảng).

+ Trong năm 2008, chính phủ đã lập ngân sách 30.77 triệu USD để bồi thường

tổn thất và thành lập một quỹ đặc biệt có giá trị lên tới 153.85 triệu USD để hỗ trợ

những tổ chức bảo lãnh. Ngoài ra, Chính quyền địa phương cũng cung cấp những

hỗ trợ về tài chính. Ví dụ: 15 chính quyền cấp tỉnh (như tỉnh Anhui, tỉnh Jiangsu…)

trong quý 2 năm 2008 đã hỗ trợ 1.54 tỷ USD.

46

+ Tăng cường vốn bảo lãnh: Trong năm 2009, vốn bảo lãnh trên toàn quốc là

52.14 tỷ USD), đã tăng 58.4% so với năm trước.

+ Mỗi năm, chính phủ sẽ sử dụng quỹ đặc biệt để đền bù rủi ro cho một vài tổ

chức BLTD.

+ Chính quyền trung ương và địa phương sẽ khen thưởng những tổ chức bảo lãnh

thực hiện tốt nhất.

+ Những tổ chức BLTD thỏa điều kiện sẽ được miễn thuế thu nhập trong 3 năm.

+ Thiết lập những tổ chức tái bảo lãnh cấp tỉnh và thành phố: Cuối tháng 3 năm

2010, đã có 14 tổ chức tái bảo lãnh trải ra khắp 17 tỉnh và thành phố. Trong số này,

12 tổ chức là do nhà nước sở hữu (chiếm 86%) với tổng số vốn là 1.32 tỷ USD,

chiếm 96.5% tổng số vốn.

Không chỉ nhà nước, mà ngay cả những ngân hàng cũng có chính sách riêng

dành cho các DNNVV đã được các tổ chức bảo lãnh như: thủ tục xem xét và quy

trình phê chuẩn đơn giản, nhanh chóng, nhằm tăng cường sự cộng tác với các tổ

chức bảo lãnh [31].

1.5.1.2. Quỹ Bảo lãnh tín dụng tại Hàn Quốc

Việc BLTD cho các DNNVV ở Hàn Quốc được thực hiện thông qua Quỹ

BLTD. Quỹ BLTD là một bộ phận trong chiến lược và chính sách của Chính phủ

Hàn Quốc nhằm hỗ trợ các DNNVV. Mục tiêu chính của các quỹ là nhằm hỗ trợ

các doanh nghiệp này có thể vay vốn để hoạt động SXKD bằng cách bảo lãnh các

khoản vay và các tài sản nợ khác của doanh nghiệp không có tài sản thế chấp nhưng

có đủ điều kiện để vay vốn khác.

- Hiện tại ở Hàn Quốc có 3 tổ chức Quỹ bảo lãnh tín dụng đó là:

+ Quỹ BLTD Hàn Quốc (Korea Credit Guarantee Fund – KCGF): hoạt động

theo luật Quỹ BLTD số 2696 ngày 21/12/1974 và hiện nay đã có 7 lần sửa đổi bổ

sung, lần sửa đổi cuối cùng gần đây nhất là ngày 13/01/1998.

+ Quỹ BLTD công nghệ Hàn Quốc (KOTCH): thành lập từ tháng 4/1986 theo

Nghị định của Chính phủ khuyến khích các DNNVV phát triển kỹ thuật, công nghệ

mới nhưng thiếu vốn sản xuất.

47

+ Quỹ BLTD địa phương: do các chính quyền địa phương thành lập và hoạt

động theo nghị quyết riêng của mình. Hiện nay chưa có luật điều chỉnh chung cho

các quỹ BLTD địa phương. Hiện Hàn Quốc có 10 quỹ BLTD cho các DNNVV địa

phương thuộc các vùng lớn trong toàn quốc như Thủ đô Seoul, Thành phố Pusal.

Các Quỹ bảo lãnh cho các DNNVV là các tổ chức tài chính phi lợi nhuận do

Chính phủ hoặc chính quyền địa phương lập ra. Trừ Quỹ BLTD địa phương tổ chức

theo mô hình 1 cấp (có thể lập chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của Quỹ), KCGF

và KOTECH được tổ chức theo mô hình hệ thống hoàn chỉnh 3 cấp:

+ Hội sở chính của KCGF tại Seoul và KOTECH tại Pusal.

+ Quỹ BLTD vùng: cả KCGF và KOTECH đều có trụ sở tại 4 vùng.

+ Quỹ BLTD tỉnh, thành phố: dưới Quỹ BLTD vùng, KCGF có 76 chi nhánh và

KOTECH có 54 chi nhánh.

Quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động của Quỹ: Bộ Tài chính thực

hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với tổ chức và hoạt động của Quỹ, có sự phối

hợp chặt chẽ giữa Bộ Tài chính với Tổng cục các DNNVV thuộc Bộ Công nghiệp.

Các quỹ BLTD ở địa phương chịu sự quản lý trực tiếp của Chính quyền địa phương

chủ yếu thông qua hoạt động tái bảo lãnh.

- Vốn hoạt động của Quỹ: Vốn hoạt động của KCGF từ các nguồn sau:

+ Đóng góp của Chính phủ theo luật định.

+ Đóng góp của các NHTM từ các khoản cho vay có lãi suất được phân chia như

sau: mỗi khoản cho vay có lãi suất được tính 0,3% số tiền vay để hình thành vốn

hoạt động cho KCGF và KOTECH, trong đó 0,2% số tiền vay để hình thành vốn

hoạt động cho KCGF và 0,1% số tiền vay để hình thành vốn hoạt động cho

KOTECH.

+ Ngoài ra còn từ doanh nghiệp và các cá nhân.

Nguồn vốn của Quỹ BLTD Hàn Quốc chủ yếu là từ đóng góp của Chính phủ

(khoảng hơn 80%) và các NHTM (ngân hàng Phát triển Hàn Quốc, ngân hàng Công

nghiệp Hàn Quốc, ngân hàng nhà Hàn Quốc, Ngân hàng xuất khẩu Hàn Quốc…)

48

Vốn của các quỹ BLTD địa phương được hình thành từ nguồn: Vốn của ngân

sách địa phương đóng góp chủ yếu, ngoài ra còn vốn hỗ trợ của chính phủ, đóng

góp của các NHTM và các tổ chức cũng như doanh nghiệp [32].

1.5.1.3. Quỹ Bảo lãnh tín dụng tại Malaysia

Theo Viện nghiên cứu kinh tế Malaysia (2000), các DNNVV ở Malaysia

chiếm khoảng 90% tổng số doanh nghiệp của cả nước và giải quyết 29,7% tổng số

việc làm. Nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp này tiếp cận vốn nguồn vốn tín dụng, tại

Malaysia đã tồn tại 4 hệ thống (schemes) BLTD, đó là:

+ Hệ thống BLTD chung (General Guarantee schemes) được thành lập từ

năm 1972;

+ Hệ thống bảo lãnh các khoản vay đặc biệt (Special Loan schemes): tài trợ

cho những doanh nghiệp xuất khẩu, có các dự án đặc biệt,… được thành lập từ năm

1981;

+ Hệ thống BLTD cơ bản (Principal Guarantee schemes) được thành lập từ

năm 1989;

+ Hệ thống BLTD chủ yếu_mới (New Principal Guarantee schemes) được

thành lập từ năm 1994;

Hệ thống BLTD chung được gọi là Tổng Công ty BLTD Malaysia (CGC), là

tổ chức ra đời sớm nhất để phục vụ cho việc BLTD cho các DNNVV do Chính phủ

khởi xướng thành lập từ năm 1972, với số vốn góp từ các NHTM, các công ty tài

chính của Chính phủ. Hiện nay, hệ thống này có doanh số bảo lãnh cao nhất trong 4

hệ thống bảo lãnh nêu trên. Tổng công ty BLTD đến 90% giá trị khoản vay (người

được bảo lãnh phải có ít nhất 10% vốn tự có tham gia dự án); phí bảo lãnh từ 0,5%

đến 1% giá trị bảo lãnh.

Ba hệ thống BLTD (Special loan, Principal, New principal) hoạt động vì

mục đích lợi nhuận, do các tổ chức tư nhân thành lập (có sự góp vốn của các

NHTM) nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng về sản phẩm của DNNVV. Mức phí dịch

vụ cao hơn so với CGC, tuỳ thuộc và thoả thuận giữa bên bảo lãnh và bên được bảo

49

lãnh. Ba hệ thống này đã góp phần đáng kể vào việc BLTD, giúp các DNNVV tiếp

cận với nguồn vốn tín dụng tại Malaysia [31].

1.5.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Qua nghiên cứu hoạt động của Quỹ BLTD tại Trung Quốc, Hàn Quốc,

Malaysia về việc BLTD cho DNNVV có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm:

Thứ nhất, Chính phủ coi DNNVV là thành phần kinh tế quan trọng bậc nhất

và có nhiều chính sách để hỗ trợ phát triển. Xuất phát từ chính sách của Chính phủ

về việc BLTD cho các DNNVV, Quỹ BLTD được xây dựng sớm và thống nhất với

các chính sách khác, có tính thực thi cao.

Thứ hai, chính sách BLTD cho DNNVV là một chính sách quan trọng trong

hầu hết chính sách kinh tế quốc gia và được hình thành từ rất sớm do vậy sự phát

triển của DNNVV ở các nước này luôn đạt được tốc độ cao và tạo tiền đề cho nền

kinh tế phát triển mạnh mẽ.

Thứ ba, Chính sách bảo đảm tín dụng phải đảm bảo được lợi ích của các bên

như người bảo lãnh (quỹ BLTD), người thụ hưởng bảo lãnh (TCTD) và người được

bảo lãnh (DNNVV).

- Người bảo lãnh: an toàn tương đối về vốn, thu được phí, phục vụ được nhiều

đối tượng cần bảo lãnh, bảo toàn và phát triển được vốn.

- Người nhận bảo lãnh: cho vay an toàn và thu hồi được đầy đủ nợ gốc và lãi

đúng hạn.

- Người được bảo lãnh: nhận được vốn dễ dàng, thủ tục nhanh gọn và sử dụng

vốn tạo giá trị thặng dư.

Thứ tư, hầu hết các nước đều thành lập các Quỹ BLTD chuyên ngành, như

Quỹ BLTD công nghệ chuyên BLTD cho các DNNVV trong lĩnh vực công nghệ

thông tin, viễn thông; Quỹ BLTD nông nghiệp chuyên BLTD cho các DNNVV

trong lĩnh vực nông nghiệp; Quỹ BLTD trong lĩnh vực xuất khẩu,...

Thứ năm, các mô hình Quỹ BLTD bao gồm mô hình 1 cấp và mô hình 2 cấp.

Hầu hết các các nước trên thế giới đều có mô hình Quỹ BLTD đối với DNNVV

50

thống nhất từ Trung ương đến địa phương, Quỹ BLTD Trung ương được xem là “bà

đỡ” để các Quỹ BLTD địa phương ra đời và phát triển.

Thứ sáu, về mô hình Quỹ BLTD có ba mô hình, đó là: một là do Chính phủ

thành lập, hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận (như mô hình hiện nay ở Việt Nam);

hai là do các tổ chức hiệp hội thành lập (vốn hoạt động của Quỹ BLTD do các thành

viên trong tổ chức hiệp hội đóng góp) nhằm bảo lãnh, trợ giúp các DNNVV thành

viên, hoạt động phi lợi nhuận; ba là do các tổ chức, công ty thành lập, hoạt động

kinh doanh chính là bảo lãnh, trợ giúp các doanh nghiệp, doanh thu là từ phí thu

được từ hoạt động cấp BLTD và tư vấn, trợ giúp các khách hàng là các DNNVV,

hoạt động vì mục đích lợi nhuận; thực tế trên thế giới mô hình này chiếm một tỷ lệ

cấp BLTD cao nhất trong ba mô hình kể trên.

51

TÓM LƢỢC CHƢƠNG 1

Trong chương 1, Luận án đã làm rõ những vấn đề lý luận về DNNVV, Quỹ

BLTD cho DNNVV, nguồn vốn hoạt động của Quỹ BLTD, các chỉ tiêu đo lường

hiệu qủa hoạt động của Quỹ BLTD. Những vấn đề chính là:

Việc xem xét, đánh giá hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD cần được xem xét

toàn diện về phương diện kinh tế và xã hội, gồm: (i) hiệu quả về mặt kinh tế; (ii)

hiệu quả về mặt xã hội; và (iii) hiệu quả SXKD của các DNNVV được cấp BLTD

để đầu tư, mở rộng hoạt động SXKD. Đây là ba mặt không thể tách rời trong việc

đánh giá hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD. Do yêu cầu về hiệu quả xét trên các

phương diện và mỗi chủ thể khác nhau nên cần có hệ thống các chỉ tiêu xem xét,

đánh giá hiệu quả một cách phù hợp cả về định tính và định lượng.

Hiệu quả hoạt động BLTD đối với DNNVV có thể chịu tác động từ các nhân

tố về môi trường hoạt động (môi trường chính trị, pháp lý, kinh tế-xã hội); về phía

các DNNVV (chủ thể đi vay), các NHTM (chủ thể cho vay). Các nhân tố này tác

động tương hỗ lẫn nhau vừa trực tiếp, vừa gián tiếp theo cả hai chiều tích cực và

tiêu cực.

Thông qua việc sử dụng chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của Quỹ

BLTD, các phương pháp đánh giá hiệu quả về định tính và định lượng được nêu

trong chương này, thực trạng hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD và các nguyên

nhân tác động đến hiệu quả sẽ được phân tích, đánh giá cụ thể trong Chương tiếp

theo: Thực trạng hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD đối với DNNVV trong thời

gian qua.

52

CHƢƠNG 2

THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ BẢO LÃNH

TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

TRONG THỜI GIAN QUA

2.1. SƠ LƢỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUỸ

BẢO LÃNH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT

NAM

2.1.1. Vốn hoạt động

Hoạt động hỗ trợ phát triển DNNVV tiếp cận với nguồn vốn tín dụng thông

qua Quỹ BLTD hiện nay ở Việt Nam là sự hỗ trợ của nhà nước đối với những

DNNVV có phương án SXKD hiệu quả, khả thi nhưng doanh nghiệp không có

(hoặc không đủ) tài sản thế chấp tại NHTM để được cấp tín dụng. Hoạt động của

Quỹ BLTD hiện nay ở Việt Nam do nhà nước thành lập, có số vốn tối thiểu là 30 tỷ

đồng, hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận, nhưng phải bảo toàn nguồn vốn ban đầu.

Hệ thống pháp lý về thành lập Quỹ BLTD cho các DNNVV đã được từng

bước hoàn thiện; nhưng từ năm 2001 đến năm 2004, quá trình thành lập quỹ BLTD

cho các DNNVV tại nhiều địa phương vẫn còn nhiều vướng mắc. Đến năm 2004

mới chỉ có 2 địa phương là tỉnh Trà Vinh và tỉnh Yên Bái đã thành lập Quỹ BLTD,

nguyên nhân là do khó khăn trong việc đáp ứng mức vốn pháp định để thành lập

quỹ. Trong khi đó, định hướng chính của việc thành lập quỹ BLTD là dựa trên cơ sở

các TCHH của các doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV. Tuy nhiên, trên thực tế các

TCHH của các DNNVV chưa thể có nguồn vốn để góp. Về phía ngân sách nhà

nước, phần lớn các địa phương có ngân sách rất hạn hẹp, nên việc góp vốn gặp

nhiều khó khăn. Trong khi đó, số lượng các NHTM góp vốn thành lập quỹ BLTD

còn rất ít, do các NHTM cho rằng việc góp vốn thành lập quỹ BLTD rồi lại cho

khách hàng do Quỹ BLTD giới thiệu vay là không có ý nghĩa thực tiễn và lo ngại về

tính bền vững của tổ chức này. Bên cạnh đó còn nhiều yếu tố pháp lý chưa chặt chẽ,

chưa xác định cụ thể trách nhiệm trong quá trình góp vốn, sử dụng vốn và quy định

53

về nghiệp vụ, bộ máy tổ chức,…Nên một số địa phương khác mặc dù đang triển

khai thành lập Quỹ BLTD cho các DNNVV nhưng tốc độ triển khai trong những

năm này còn rất chậm.

Đến đầu năm 2007, ngoài 2 tỉnh Trà Vinh và Yên Bái (được thành lập 2004),

Quỹ BLTD đối với DNNVV được thành lập thêm tại các tỉnh: Bà Rịa_Vũng Tàu,

TP. Hà Nội, Tây Ninh (Quỹ hoạt động phụ thuộc); TP. Hồ Chí Minh, Bình Thuận

và Vĩnh Phúc. Tuy nhiên, phần lớn hoạt động các Quỹ BLTD tại các địa phương

vẫn còn trong giai đoạn đầu của quá trình thành lập, chưa thực sự phát huy hết vai

trò của Quỹ BLTD trong việc trợ giúp các DNNVV phát triển [45].

Trong giai đoạn hiện nay, hoạt động BLTD cho các DNNVV không chỉ do

Quỹ BLTD cho các DNNVV thực hiện mà còn được Ngân hàng Phát triển Việt

Nam triển khai. Hệ thống các quy định pháp lý ngày càng hoàn thiện, tạo điều kiện

hơn cho hoạt động BLTD cho các DNNVV. Trong đó, Quyết định số 14/2009/QĐ-

TTg ngày 21/01/2009 của Chính phủ, Ban hành Quy chế bảo lãnh cho DNNVV vay

vốn của NHTM; Quyết định số 60/2009/QĐ-TTg ngày 17/04/2009 của Chính phủ,

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg ngày 21/01/2009

của Thủ tướng Chính phủ, ban hành Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn tại

các NHTM; Thông tư số 12/2009/TT-NHNN ngày 28/05/2009 của NHNN, hướng

dẫn một số nội dung trong cho vay có bảo lãnh của Ngân hàng Phát triển Việt Nam

theo Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của NHTM ban hành theo Quyết

định số 14/2009/QĐ-TTg và Quyết định số 60/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính

phủ; Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg ngày 10/01/2011 của Chính phủ, Ban hành

Quy chế bảo lãnh cho DNNVV vay vốn tại NHTM. Các quy định này đã tạo điều

kiện thuận lợi hơn trong việc trợ giúp các DNNVV tiếp cận vốn tín dụng của Ngân

hàng Phát triển Việt Nam trong điều kiện nhiều địa phương chưa thành lập được lập

Quỹ BLTD cho các DNNVV (Ngân hàng phát triển cho vay theo từng dự án trong

đó không chỉ có DNNVV mà còn những doanh nghiệp lớn).

54

2.1.2. Mô hình hoạt động

Tại Việt Nam, chính sách phát triển DNNVV được cụ thể hóa bằng Nghị

định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về việc trợ giúp phát triển

DNNVV. Để tăng cường trợ giúp về tiếp cận vốn tín dụng cho phát triển SXKD của

các DNNVV, Thủ tướng Chính phủ đã có các Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg

ngày 20/12/2001, Quyết định số 115/2004/QĐ-TTg ngày 25/6/2004 sửa đổi, bổ

sung Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế thành lập, tổ chức

và hoạt động của Quỹ BLTD đối với DNNVV. Các Bộ ngành đã có nhiều thông tư

hướng dẫn thực hiện Nghị định và các Quyết định của Chính phủ.

Theo đó, tuỳ điều kiện và khả năng của từng địa phương, Chủ tịch Ủy ban

nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xem xét, quyết định cơ cấu tổ chức

quản lý và điều hành tác nghiệp Quỹ BLTD theo một trong các mô hình sau:

- Mô hình một: Quỹ BLTD có tư cách pháp nhân độc lập bao gồm Hội đồng

quản lý, Ban kiểm soát và Ban điều hành theo qui định hiện hành.

- Mô hình hai: Không thành lập Quỹ BLTD có tư cách pháp nhân độc lập.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quyết định giao

nhiệm vụ BLTD cho các DNNVV cho Quỹ hỗ trợ phát triển địa phương.

Trong trường hợp mức vốn phải bổ sung tối thiểu cho Quỹ hỗ trợ phát triển

địa phương để thực hiện nhiệm vụ BLTD là 30 tỷ đồng từ vốn cấp của Ngân sách

địa phương và vốn góp của các tổ chức [22].

Như vậy, hiện nay Quỹ BLTD đối với DNNVV tại Việt Nam có hai mô hình

hoạt động cùng tồn tại song song:

+ Các Quỹ BLTD hoạt động độc lập tại các địa phương là TP.HCM, Yên

Bái, Vĩnh Phúc, Trà Vinh, Bắc Ninh, Bình Thuận, Đồng Tháp, Hà Giang, Bà

Rịa_Vũng Tàu.

+ Các Quỹ BLTD tại các địa phương như Hà Nội, Kon Tum, Ninh Thuận,

Kiên Giang, Cần Thơ, Tây Ninh…giao cho Quỹ hỗ trợ phát triển địa phương quản

lý và điều hành. Hiện nay các Quỹ BLTD này đã thành lập nhưng vẫn chưa hoạt

động, chưa cấp BLTD và hỗ trợ cho bất kỳ một DNNVV nào.

55

Biểu đồ 2.1: Mô hình 1_ Quỹ BLTD hoạt động độc lập

UBND Cấp Tỉnh/TP trực thuộc Trung ương

Quỹ BLTD đối với DNNVV

Nguồn: Quỹ BLTD các địa phương [45]

Biểu đồ 2.2: Mô hình 2_ Quỹ BLTD trực thuộc Quỹ hỗ trợ phát triển địa phương

UBND Cấp Tỉnh/TP trực thuộc Trung ương

Quỹ phát triển địa phƣơng

Quỹ BLTD đối với DNNVV

Nguồn: Quỹ BLTD các địa phương [45]

56

Bảng 2.1: Các Quỹ BLTD hoạt động trực thuộc Quỹ hỗ trợ phát triển địa phương

(hiện nay các Quỹ BLTD này đã thành lập nhưng chưa hoạt động)

Số vốn điều lệ (tỷ STT Quỹ BLTD Năm thành lập đồng)

1 2006 Hà Nội 30

2 2011 Kon Tum 30

3 2008 Ninh Thuận 30

4 2010 Kiên Giang 30

5 2010 Cần Thơ 30

6 2002 Tây Ninh 30

Tổng cộng 180

Nguồn: Quỹ BLTD các địa phương và tổng hợp của tác giả [45]

Bảng 2.2: Vốn điều lệ của các Quỹ BLTD hoạt động độc lập tính đến thời

điểm 31/12/2011

Số vốn điều lệ (tỷ STT Quỹ BLTD Năm thành lập đồng)

1 2008 Tỉnh Bắc Ninh 30

2 2005 Tỉnh Yên Bái 20,98

3 2007 Tỉnh Vĩnh Phúc 50

4 2008 Tỉnh Hà Giang 24

5 2007 Tỉnh Bình Thuận 30

6 2003 Tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu 30

7 2006 Thành phố Hồ Chí Minh 196,172

8 2010 Tỉnh Đồng Tháp 30

9 2002 Tỉnh Trà Vinh 38,7

Tổng cộng 449,852

Nguồn: Bộ Tài chính [45]

57

Các Quỹ BLTD đã đi vào hoạt động tại các địa phương đã tạo điều kiện cho

các DNNVV tiếp cận vốn tín dụng,; đồng thời, các quỹ này còn tăng cường công

tác tư vấn, hướng dẫn, trợ giúp cho các DNNVV tiếp cận nguồn vốn nhanh chóng,

nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho phát triển kinh doanh và đầu tư. Mặc dù

trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nhưng các Quỹ BLTD địa phương đã góp phần

vào sự phát triển của các DNNVV; đồng thời, đã có những định hướng mở rộng quy

mô, củng cố chất lượng và gia tăng thêm số lượng các Quỹ BLTD trong tương lai

tại nhiều địa phương khác để phát huy vai trò của Quỹ BLTD đối với DNNVV.

2.1.3. Điều kiện thành lập

Một là, có đề án thành lập Quỹ BLTD đã được Chủ tịch uỷ ban nhân dân

tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt. Nội dung đề án phải chứng minh

được nhu cầu về cấp BLTD của các DNNVV hoạt động trên địa bàn, phương án tổ

chức và hoạt động của Quỹ BLTD trong 3 năm đầu khả thi.

Hai là, có đủ mức vốn điều lệ tối thiểu 30 tỷ đồng do Ngân sách tỉnh, thành

phố trực thuộc trung ương cấp và các tổ chức, cá nhân trong, ngoài nước tham gia

góp vốn.

Ba là, có danh sách dự kiến cán bộ thuộc Hội đồng quản lý, ban kiểm soát,

ban điều hành là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tốt nghiệp đại học

và có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực kinh tế hoặc tài chính -

ngân hàng.

Bốn là, có dự thảo điều lệ phù hợp với qui định tại điều 6 qui chế thành lập,

tổ chức và hoạt động Quỹ BLTD ban hành kèm theo quyết định số 193/2001/QĐ-

TTg của Thủ tướng Chính phủ và các qui định khác của pháp luật.

Chậm nhất trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày được Chủ tịch uỷ ban nhân dân

tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra quyết định thành lập, Quỹ BLTD phải khai

trương hoạt động. Trước khi khai trương hoạt động tối thiểu 30 ngày, Quỹ BLTD

phải đăng báo hoặc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa

phương ba số liên tiếp về quyết định thành lập Quỹ BLTD, nội dung hoạt động,

phạm vi hoạt động, đối tượng khách hàng [22].

58

2.1.4. Cơ cấu tài chính

2.1.4.1. Đối với Quỹ Bảo lãnh tín dụng hoạt động độc lập

- Nguồn vốn hoạt động: Vốn hoạt động của Quỹ BLTD hình thành từ các

nguồn sau:

(i) Vốn điều lệ: Là tổng số vốn do các tổ chức, cá nhân góp và được ghi vào

điều lệ Quỹ BLTD. Vốn điều lệ Quỹ BLTD được hình thành từ:

+ Vốn cấp của Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

+ Vốn góp của các TCTD.

+ Vốn góp của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

+ Vốn góp của các hiệp hội ngành nghề, các tổ chức đại diện và hỗ trợ

cho các DNNVV.

(ii) Vốn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước bao gồm cả vốn

hỗ trợ phát triển chính thức ODA phục vụ cho mục tiêu phát triển DNNVV, các hợp

tác xã, các chương trình phát triển nông, lâm, ngư nghiệp.

(iii) Vốn tự bổ sung từ kết quả hoạt động của Quỹ BLTD.

Vốn hoạt động của Quỹ BLTD phải được sử dụng đúng mục đích, có hiệu

quả, đảm bảo an toàn cho các mục tiêu sau:

+ Cấp BLTD cho các khách hàng theo qui định.

+ Đầu tư, mua sắm tài sản cố định phục vụ cho hoạt động của Quỹ

BLTD theo nguyên tắc giá trị còn lại của tài sản cố định không vượt quá

7% vốn điều lệ của Quỹ. Toàn bộ công tác đầu tư, mua sắm tài sản cố

định của Quỹ BLTD phải được thực hiện theo đúng các qui định của Nhà

nước về quản lý đầu tư, xây dựng. Hàng năm Quỹ BLTD phải xây dựng

kế hoạch đầu tư, mua sắm tài sản cố định trình Hội đồng quản lý xem xét

phê duyệt và thực hiện công tác đầu tư, mua sắm trong phạm vi kế hoạch

được duyệt.

+ Gửi tại Kho bạc nhà nước và các TCTD trong nước đóng trên cùng địa

bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

+ Mua trái phiếu Chính phủ.

59

+ Thực hiện nghĩa vụ cam kết bảo lãnh của Quỹ đối với TCTD khi khách

hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho TCTD.

- Quỹ dự phòng nghiệp vụ:

Quỹ dự phòng nghiệp vụ được trích lập từ chi phí bằng 50% số phí BLTD

thu được từ khách hàng. Quỹ dự phòng nghiệp vụ dùng để:

+ Cho vay bắt buộc đối với khách hàng theo phần trách nhiệm cam kết bảo

lãnh của Quỹ trong trường hợp khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không

đúng hạn cho TCTD. Số nợ cho vay bắt buộc mà Quỹ BLTD thu hồi được sẽ được

bồi hoàn vào quỹ dự phòng nghiệp vụ.

+ Bù đắp những khoản nợ đã cho khách hàng vay bắt buộc nhưng không thu

hồi được nợ. Việc xử lý tài chính đối với những khoản cho vay bắt buộc nhưng

không thu được Quỹ BLTD thực hiện theo qui chế do Hội đồng quản lý Quỹ ban

hành.

Trường hợp Quỹ dự phòng nghiệp vụ không đủ để cho vay bắt buộc đối với

khách hàng và bù đắp những khoản nợ đã cho vay bắt buộc nhưng không thu hồi

được nợ thì Quỹ BLTD được sử dụng vốn hoạt động để thực hiện nghĩa vụ cam kết

bảo lãnh.

- Thu nhập- chi phí - Lợi nhuận:

+ Về thu nhập: Thu nhập của Quỹ BLTD là các khoản thực thu trong năm,

bao gồm: như thu phí BLTD, phí thẩm định hồ sơ, lãi tiền gửi, lãi cho vay quá hạn

(cho vay bắt buộc) đối với khách hàng. Lãi đầu tư trái phiếu Chính phủ,…

+ Về chi phí: Là các khoản thực chi cần thiết cho hoạt động của Quỹ BLTD,

có hoá đơn, chứng từ hợp lệ. Mức chi, đối tượng chi được thực hiện theo qui định

của pháp luật. Trường hợp pháp luật chưa có qui định, Quỹ BLTD căn cứ vào khả

năng tài chính xây dựng định mức, quyết định việc chi tiêu và chịu trách nhiệm

trước pháp luật. Các khoản chi phí phải nằm trong kế hoạch tài chính năm đã được

Hội đồng quản lý phê duyệt.

60

+ Lợi nhuận: Lợi nhuận của Quỹ BLTD chính là chênh lệch thu chi thực

hiện trong năm; được xác định là số chênh lệch giữa tổng số thu nhập và tổng số chi

phí hợp lý, hợp lệ.

2.1.4.2. Đối với trường hợp không thành lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng

Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố giao nhiệm vụ BLTD cho Quỹ hỗ

trợ phát triển địa phương:

Quỹ hỗ trợ phát triển địa phương có trách nhiệm hạch toán và theo dõi riêng

toàn bộ vốn hoạt động của Quỹ BLTD. Vốn hoạt động của Quỹ BLTD phải được sử

dụng đúng mục đích, có hiệu quả và cho các mục tiêu sau:

- Cấp BLTD cho các khách hàng theo qui định.

- Sử dụng tối đa 7% vốn hoạt động của Quỹ BLTD để bổ sung vốn đầu tư,

mua sắm tài sản cố định phục vụ cho hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển địa

phương.

- Gửi tại Kho bạc nhà nước và các TCTD trong nước đóng trên cùng địa bàn

tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

- Mua trái phiếu Chính phủ.

- Thực hiện nghĩa vụ cam kết bảo lãnh của Quỹ đối với TCTD khi khách hàng

không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho TCTD.

- Trích lập 50% số phí BLTD thực thu được để hình thành quỹ dự phòng

nghiệp vụ. Quỹ dự phòng nghiệp vụ được sử dụng theo qui định đã được nêu

trên.

- Trích lập 15% số phí BLTD thực thu được để hình thành quỹ dự trữ bổ sung

vốn hoạt động cho Quỹ BLTD.

Hoạt động BLTD của Quỹ BLTD thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia

tăng. Quỹ hỗ trợ phát triển địa phương có trách nhiệm kê khai, nộp các loại thuế,

phí, lệ phí khác phát sinh trong quá trình hoạt động theo qui định hiện hành của

pháp luật [21].

61

2.2. THỰC TRẠNG VỀ NHU CẦU BẢO LÃNH TÍN DỤNG CỦA CÁC

DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM

Cơ sở lý thuyết nhu cầu BLTD đã được trình bày tại Chương 1, phần này

Luận án sẽ giới thiệu nhu cầu BLTD của các DNNVV tại Việt Nam thông qua việc

khảo sát các doanh nghiệp và kiểm định mô hình giả thuyết đã đề ra bằng phương

pháp định lượng.

2.2.1. Qui trình nghiên cứu

Nghiên cứu sẽ được thực hiện theo 2 bước chính: (1) nghiên cứu sơ bộ dùng

phương pháp định tính và (2) nghiên cứu chính thức dùng nghiên cứu định lượng.

Bảng 2.3: Các bước thực hiện trong quá trình nghiên cứu

Phương pháp nghiên Kỹ thuật cứu

Tập trung tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng sử

Định tính (sơ bộ) dụng trong mô hình nghiên cứu, hiệu chỉnh thang đo, các

khái niệm, thuật ngữ liên quan.

Định lượng (chính Thu thập dữ liệu sơ cấp.

thức) Hình thức khảo sát: phát bảng câu hỏi tại hội nghị.

62

Biểu đồ 2.3: Qui trình nghiên cứu

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU & THANG ĐO SƠ BỘ

NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH

BẢNG CÂU HỎI HOÀN CHỈNH

Cỡ mẫu: 243

NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƢỢNG

KIỂM ĐỊNH THANG ĐO CROBACH’S ALPHA & EFA

HIỆU CHỈNH MÔ HÌNH - Loại các biến quan sát

- Kiểm tra biến có hệ số factor loading nhỏ

PHÂN TÍCH HỒI QUY ĐA BIẾN

- Kiểm tra độ tin cậy và giá trị

- Kiểm tra nhân tố trích

PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng

- Kiểm định các giả thuyết KẾT LUẬN

63

2.2.2. Thiết kế thang đo

Nhu cầu BLTD là có mối quan hệ trực tiếp giữa doanh nghiệp và cơ quan

Quỹ BLTD. Vì vậy thang đo của đề tài sẽ dựa trên thang đo “Nhu cầu” sau đó sẽ

loại bỏ các yếu tố không phù hợp và bổ sung các yếu tố còn thiếu để tạo nên thang

đo cho đề tài.

2.2.3. Thang đo của các nghiên cứu trƣớc

Các thang đo khái niệm trong mô hình nghiên cúu được kế thừa và hiệu

chỉnh cho phù hợp từ các nghiên cứu:

1. Joongho Ahn, Jinsoo Park, và Dongwon Lee (2001, mô hình e-CAM): gọi

tắt tên mô hình e-CAM (2001) cho tham khảo về thang đo.

2. Mitra Karami (2006, các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đươc chấp nhận):

gọi tắt theo tên tác giả Mitra Karami (2006) cho tham khảo về thang đo.

2.2.4. Thiết kế bảng câu hỏi

Sau khi hoàn tất việc hiệu chỉnh và xây dựng các thang đo phù hợp với việc

khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu BLTD tác giả tiến hành thiết kế bảng

câu hỏi nhằm phục vụ cho việc thu thập dữ liệu. Bảng câu hỏi chính thức được sử

dụng trong nghiên cứu định lượng gồm 2 phần:

- Thông tin kiểm soát

Nhằm xác định đối tượng nghiên cứu được chọn khảo sát và loại những đối

tượng không phù hợp với nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu là những người đang

làm việc tại các công ty và có những hiểu biết về Quỹ BLTD.

- Thông tin các phát biểu về nhu cầu BLTD

Ghi nhận mức độ đồng ý về các biến quan sát (được diễn tả bằng các phát

biểu) đo lường cho các khái niệm trong mô hình. Đây cũng là thành phần chính của

bảng câu hỏi giúp khảo sát nhu cầu BLTD hiện nay như loại hình hoạt động của

doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, thời gian hoạt động của doanh nghiệp, giá trị

tài sản cố định, động lực phát triển và niềm tin. Sau khi tiến hành nghiên cứu định

tính, 29 biến có liên quan được đưa vào khảo sát. Để đo lường các biến này, tác giả

64

đã sử dụng thang đo Likert 5 mức độ từ “1 – Hoàn toàn không đồng ý” đến “5 –

Hoàn toàn đồng ý”.

Bảng câu hỏi sau khi hiệu chỉnh được trình bày ở phần phụ lục 1.

2.2.5. Nghiên cứu định lƣợng

2.2.5.1. Phương thức lấy mẫu

Trong nghiên cứu này, phương pháp lấy mẫu được chọn là lấy mẫu thuận

tiện, dữ liệu được thu thập thông qua các hình thức phỏng vấn trực tiếp người đại

diện doanh nghiệp đã tham gia lớp tập huấn về BLTD.

2.2.5.2. Cỡ mẫu

Đối với phân tích nhân tố (EFA), cỡ mẫu tối thiểu là N ≥ 5*x (x: tổng số biến

quan sát) (Hair & ctg, 1998 – Michele, 2005). Trong nghiên cứu này, tổng số biến

quan sát là 29, như vậy số mẫu tối thiểu cần đạt được là 150. Tác giả đã phát 350

bảng câu hỏi, trong đó có 243 bảng thỏa mãn yêu cầu và được sử dụng để phân tích.

2.2.5.3. Xử lý và phân tích dữ liệu

Dữ liệu sau khi được thu thập sẽ được mã hóa và thực hiện quá trình phân

tích như sau:

- Kiểm định và đánh giá thang đo:

Để đánh giá thang đo các khái niệm trong nghiên cứu cần kiểm tra độ tin

cậy, độ giá trị của thang đo. Dựa trên các hệ số độ tin cậy Cronbach’s Alpha, hệ số

tương quan biến - tổng (Item-to-total correlation) giúp loại ra những biến quan sát

không đóng góp vào việc mô tả khái niệm cần đo, hệ số Cronbach’s alpha if Item

Deleted để giúp đánh giá loại bỏ bớt biến quan sát nhằm nâng cao hệ số tin cậy

Cronbach’s Alpha cho khái niệm cần đo, và phương pháp phân tích nhân tố khám

phá (EFA) nhằm kiểm tra độ giá trị của thang đo các khái niệm nghiên cứu.

+ Phân tích Cronbach’s Alpha

Phân tích Cronbach’s Alpha thực chất là phép kiểm định mức độ tương quan

lẫn nhau của các mục hỏi trong thang đo qua việc đánh giá sự tương quan giữa bản

thân các mục hỏi và tương quan của điểm số trong từng mục hỏi với điểm số toán

bộ các mục hỏi cho từng trường hợp trả lời. Một tập hợp các mục hỏi được đánh giá

65

tốt khi hệ số alpha lớn hơn hoặc bằng 0,8, hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,6 trở lên là

có thể sử dụng được (Peterson, 1994). Theo Nunnally & Burnstein (1994), các biến

có hệ số tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0,3 sẽ bị loại khỏi thang đo do có tương

quan kém với các biến khác trong cùng mục hỏi.

Hệ số tin cậy Alpha chỉ cho biết các đo lường có liên kết với nhau hay

không, nhưng không cho biết mục hỏi (biến quan sát) nào cần bỏ đi và mục hỏi nào

cần giữ lại. Khi đó, việc tính toán hệ số tương quan giữa biến - tổng (item-total

correlation) sẽ giúp loại ra những mục hỏi không đóng góp nhiều cho sự mô tả của

khái niệm cần đo [18, 19].

Sử dụng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha trước khi phân tích

nhân tố EFA nhằm loại ra các biến không phù hợp vì các biến này có thể tạo ra các

yếu tố giả [19].

Các tiêu chí được sử dụng khi thực hiện đánh giá độ tin cậy thang đo:

Loại các biến quan sát có hệ số tương quan biến - tổng nhỏ (nhỏ hơn 0,3). Hệ

số tương quan biến - tổng là hệ số tương quan của một biến với điểm trung bình của

các biến khác trong cùng một thang đo. Do đó, hệ số này càng cao thì sự tương

quan giữa biến với các biến khác trong nhóm càng cao. Theo Nunnall & Burnstein

(1994) cho rằng các biến có hệ số tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0,3 được coi là

biến rác và sẽ loại ra khỏi mô hình; tiêu chuẩn chọn thang đo khi có độ tin cậy

Alpha lớn hơn 0,6 (Alpha càng lớn thì độ tin cậy nhất quán nội tại càng cao) [18,

19].

+ Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Sau khi loại bỏ các biến không đảm bảo độ tin cậy, phương pháp phân tích

nhân tố EFA được sử dụng để xác định độ giá trị hội tụ (convergent validity), độ giá

trị phân biệt (discriminant validity), và đồng thời thu gọn các tham số ước lượng

theo từng nhóm biến.

Để thang đo đạt giá trị hội tụ thì hệ số tương quan đơn giữa các biến và các

nhân tố (factor loading) phải lớn hơn hoặc bằng 0,4 trong một nhân tố (Jun & Ctg

66

2002). Để đạt độ giá trị phân biệt, khác biệt giữa các nhân tố phải lớn hơn hoặc

bằng 0,3.

Số lượng nhân tố được xác định dựa trên chỉ số Eigenvalue (Giá trị phương

sai tách ra được của mỗi nhân tố) - đại điện cho phần biến thiên được giải thích bởi

mỗi nhân tố. Theo tiêu chuẩn Kaiser, những nhân tố có Eigenvalue nhỏ hơn 1 sẽ bị

loại ra khỏi mô hình.

Tiêu chuẩn phương sai trích (Variance explained criteria): tổng phương sai

trích phải lớn hơn 50%.

Xem xét giá trị KMO: 0,5 < KMO < 1 thì phân tích nhân tố là thích hợp với

dữ liệu; ngược lại KMO<0,5 thì phân tích nhân tố có khả năng không thích hợp với

các dữ liệu [18, 19].

Sử dụng phương pháp trích nhân tố Principal components với phép xoay

Varimax và điểm dừng khi trích các yếu tố có Eigenvalues lớn hơn 1 với các biến

quan sát.

+ Phân tích hồi quy đa biến:

Sau khi hoàn tất việc phân tích đánh giá độ tin cậy thang đo (sử dụng hệ số

tin cậy Cronbach’s Alpha) và kiểm định giá trị khái niệm của thang đo (phân tích

nhân tố khám phá EFA), các biến không đảm bảo độ giá trị hội tụ tiếp tục bị loại

khỏi mô hình cho đến khi các tham số được nhóm theo các nhóm biến. Việc xác

định mối quan hệ giữa các nhóm biến này cũng như xác định mối quan hệ giữa các

nhóm biến độc lập (yếu tố thành phần) và nhóm biến phụ thuộc (xu hướng sử dụng)

trong mô hình nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp phân tích hồi quy bội.

Giá trị của biến mới trong mô hình nghiên cứu là giá trị trung bình của các

biến quan sát thành phần của biến đó, giá trị của các thành phần được phần mềm

SPSS tính một cách tự động từ giá trị trung bình có trọng số của các biến quan sát

đã được chuẩn hóa. Tuy nhiên, trước khi tiến hành phân tích hồi quy, một phân tích

quan trọng cần được thực hiện đầu tiên là phân tích tương quan nhằm kiểm định

mối tương quan tuyến tính giữa các biến trong mô hình.

+ Phân tích tƣơng quan

67

Kiểm định mối tương quan tuyến tính giữa các biến trong mô hình: giữa biến

phụ thuộc với từng biến độc lập và giữa các biến độc lập với nhau. Sử dụng hệ số

tương quan Pearson để lượng hóa mức độ chặt chẽ mối liên hệ tuyến tính giữa hai

biến định lượng. Giá trị tuyệt đối của hệ số Pearson càng gần đến 1 thì hai biến này

mối tương quan tuyến tính càng chặt chẽ [19].

Trong mô hình nghiên cứu, kỳ vọng có mối tương quan tuyến tính chặt chẽ

giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập.

+ Phân tích hồi quy đa biến

Nghiên cứu thực hiện hồi quy đa biến theo phương pháp Enter: tất cả các

biến được đưa vào một lần và xem xét các kết quả thống kê liên quan đến các biến

được đưa vào trong mô hình.

- Kiểm định các giả thuyết, sử dụng với phần mềm SPSS Đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy đa biến: R2, R2 hiệu chỉnh.

Kiểm định giả thuyết về độ phù hợp của mô hình.

Kiểm định giả thuyết về ý nghĩa của hệ số hồi quy riêng phần (i = 1..5).

Xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến nhu cầu BLTD: yếu

tố có hệ số lớn hơn thì có thể nhận xét rằng yếu tố đó có mức độ ảnh hưởng cao

hơn các yếu tố khác trong mô hình nghiên cứu.

Bảng 2.4: Kết quả khảo sát 243 DNNVV về nhu cầu BLTD

Phân bố mẫu Tỷ lệ (%)

Ngành nông lâm thủy sản 30.9

Ngành xây dựng 40.5

Ngành thương mại, dịch vụ 12.1 Lĩnh vực hoạt động

Ngành công nghiệp 10,1 của doanh nghiệp

Ngành giao thông vận tải 5,2

Ngành khác 1.2

Dưới 3 năm 8.2 Thời gian hoạt

68

Từ 3 đến 5 năm 24.7 động của doanh

nghiệp Từ 5 đến 10 năm 35.8

Trên 10 năm 31.3

Nhỏ 24.7

Vừa 25.9 Quy mô doanh

Vừa và nhỏ 32.9 nghiệp

Lớn 16.5

Nguồn: Kết quả khảo sát năm 2012.

Bảng 2.5: Kết quả nghiên cứu định tính và hiệu chỉnh thang đo

STT Biến quan sát Mã hóa

Các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau thì

LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP LH

có nhu cầu vay vốn ngân hàng khác nhau.

Ngành nông lâm thủy sản có nhu cầu BLTD để đáp ứng nhu

1 LH1

cầu vốn sản xuất hàng hóa xuất khẩu.

Ngành xây dựng có nhu cầu BLTD để đáp ứng nhu cầu vốn

2 LH 2

phục vụ đầu tư xây dựng cơ bản.

Ngành thương mại, dịch vụ có nhu cầu BLTD để có nguồn vốn

3 LH 3

lưu động thuận lợi.

Ngành công nghiệp có nhu cầu BLTD để đáp ứng nhu cầu vốn

4 LH 4

phục vụ đầu tư trang thiết bị mới.

Ngành giao thông vận tải có nhu cầu BLTD trong việc tăng

cường các phương tiện giao thông đáp ứng nhu cầu khách

5 LH 5

hàng.

6 LH 6

Các doanh nghiệp tư nhân thường có cơ cấu tổ chức đơn giản,

sản xuất kinh doanh những hàng hóa, dịch vụ truyền thống,

QUY MÔ QM

đơn giản và có quy mô hoạt động nhỏ hơn so với các loại hình

doanh nghiệp khác nên có nhu cầu vốn cao hơn.

Quỹ BLTD hỗ trợ các DNNVV đáng kể trong việc tiếp cận

7 QM7

QM8 8

nguồn vốn tín dụng ngân hàng, giúp DNNVV giảm chi phí

kinh doanh đáng kể đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ.

Quỹ BLTD cung cấp nhu cầu BLTD đa dạng cho doanh

69

nghiệp có quy mô nhỏ.

Các công ty có quy mô nhỏ hơn, thời gian hoạt động ngắn hơn

có nhu cầu cấp BLTD từ Quỹ BLTD phải đối mặt với chi phí

9 QM9

tài chính cao hơn.

10 QM10

THỜI GIAN HOẠT ĐỘNG

Doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng vốn tự có mà không

TG

cần vay ngân hàng trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh.

Các doanh nghiệp có thời gian hoạt động trên 5 năm có thể tự

tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình bằng vốn tự có nên

TG11 11

ít có nhu cầu vay vốn

Các doanh nghiệp có thời gian hoạt động trên 10 năm có thể tự

tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình bằng vốn tự có nên

12 TG12

không có nhu cầu vay vốn.

Các doanh nghiệp mới thành lập có nhu cầu vay vốn nhiều hơn

13 TG13

các doanh nghiệp đã có thời gian hoạt động lâu dài.

TG14 14

GIÁ TRỊ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH

DNNVV luôn có đủ tài sản thế chấp, cầm cố để vay vốn ngân

TSCD

hàng.

Cấp BLTD cho các DNNVV không có tài sản thế chấp để vay

vốn ngân hàng là nhu cầu cần thiết đối với doanh nghiệp hiện

TSCD15 15

nay.

Quỹ BLTD cấp BLTD cho các DNNVV sẽ giải quyết được

16 TSCD16

việc thiếu hụt tài sản thế chấp.

Các ngân hàng luôn chú trọng đến quy mô tài sản cố định của

TSCD17 17

doanh nghiệp.

TSCD18 18

ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN

Các doanh nghiệp tư nhân thường có nhu cầu BLTD thiết thực

DL

trong việc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh

DL19 19

Các doanh nghiệp trong các ngành đều có nhu cầu bổ sung

70

vốn lưu động và đầu tư dài hạn.

Các doanh nghiệp trong các ngành khác nhau đều có nhu cầu

20 DL19B

BLTD giảm chi phí đầu tư ngắn hạn

Các doanh nghiệp trong các ngành khác nhau đều có nhu cầu

BLTD nhằm tăng cường sức ép cạnh tranh trong nước và xuất

21 DL20

khẩu

22 DL21

NIỀM TIN

Chúng tôi tin tưởng các Quỹ BLTD ở Việt Nam sẽ hỗ trợ tốt

NT

các DNNVV để tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

Quỹ BLTD tư nhân sẽ đáp ứng nhu cầu BLTD đa dạng cho

23 NT22

DNNVV.

Quỹ BLTD hiện nay hỗ trợ tốt nhu cầu các DNNVV tiếp cận

24 NT23

nguồn vốn tín dụng ngân hàng do mức độ tin cậy cao.

Quỹ BLTD hỗ trợ tốt các DNNVV tiếp cận vốn tín dụng ngân

25 NT23A

hàng do có tính pháp lý cao.

26 NT23B

NHU CẦU BLTD

NC

Chúng tôi muốn tiếp cận đến Quỹ BLTD hiện nay.

27 Chúng tôi rất quan tâm đến Quỹ BLTD hiện nay. NC24

28 NC25

29 Chúng tôi muốn tham gia vào Quỹ BLTD hiện nay. NC26

2.2.6. Kiểm định và đánh giá thanh đo

Việc kiểm định và đánh giá thang đo được thực hiện qua 2 bước. Bước 1

thực hiện phân tích Cronbach’s Alpha nhằm loại ra những biến quan sát không đóng

góp vào việc mô tả khái niệm cần đo. Bước 2 thực hiện phân tích nhân tố khám phá

(EFA) nhằm kiểm tra độ giá trị của thang đo các khái niệm nghiên cứu.

2.2.6.1. Phân tích Cronbach’s Alpha

Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha cho các biến quan sát được mô tả trong

bảng 2.6.

71

Bảng 2.6 Phân tích Cronbach’s Alpha cho các biến độc lập và biến phụ thuộc

Hệ số tương quan Hệ số Cronbach Alpha Biến quan sát biến - tổng nếu loại bỏ biến

.719

.903

Loại hình doanh nghiệp (LH), Cronbach Alpha = 0,913

.714

.903

LH1

.760

.896

LH2

.719

.903

LH3

.738

.900

LH4

.896

.876

LH5

LH6

.681

.843

Quy mô (QM), Cronbach Alpha = 0.866

.651

.854

QM7

.664

.853

QM8

.886

.759

QM9

QM10

.690

.782

Thời gian hoạt động (TG), Cronbach’s Alpha = 0.836

.618

.813

TG11

.725

.766

TG12

.637

.806

TG13

TG14

.650

.851

Tài sản cố định (TSCD), Cronbach’s Alpha = 0.864

.722

.822

TSCD15

.633

.857

TSCD16

.851

.765

TSCD17

TSCD18

.637

.893

Động lực phát triển (DL), Cronbach’s Alpha = 0.884

.780

.839

DL19

DL19B

.700

.869

72

.888

.798

DL20

DL21

.646

.822

Niềm tin (NT), Cronbach’s Alpha = 0.846

.533

.866

NT22

.710

.794

NT23

.863

.724

NT23A

NT23B

.654

.657

Nhu cầu BLTD (NC), Cronbach’s Alpha = 0.779

.708

.595

NC24

.495

.825

NC25

NC26

Nhìn chung, tất cả các thang đo đều đạt mức độ tin cậy, tất cả đều có hệ số

alpha lớn hơn 0,6 và hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3.

2.2.6.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Phân tích nhân tố cho các yếu tố độc lập

Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho các yếu tố độc lập được trình

bày trong bảng 2.7.

Bảng 2.7: Kết quả phân tích EFA cho các biến độc lập

Yếu tố

Biến quan sát

1

2

3

4

5

6

LH1

.725

LH2

.746

LH3

.719

LH4

.786

LH5

.750

LH6

.878

DL19

.739

DL19B

.850

DL20

.775

DL21

.896

NT22

.758

NT23

.628

NT23A

.794

NT23B

.906

QM7

.772

QM8

.787

QM9

.681

QM10

.894

TG11

.719

TG12

.757

TG13

.774

TG14

.632

TSCD15

.603

TSCD16

.833

TSCD17

.669

TSCD18

.734

73

Eigenvalues

9.913

2.546

1.902

1.836

1.327

1.216

Phƣơng sai trích (%)

38.128

9.794

7.317

7.063

5.105

4.676

Cronbach’s Alpha

0.913

0.884

0.846

0.866

0.836

0.864

Sig.

0.000

KMO

0.888

- Kết quả phân tích EFA cho thấy:

 Kiểm định Bartlett’s: Sig. = 0.000 < 5% : Các biến quan sát trong phân tích

nhân tố trên có tương quan với nhau trong tổng thể.

 Hệ số KMO = 0.888 > 0.5: phân tích nhân tố thích hợp với dữ liệu nghiên

cứu.

 Có 6 nhân tố được trích ra từ phân tích EFA.

 Giá trị hệ số Eigenvalues của các nhân tố đều lớn hơn 1: đạt yêu cầu. Tất cả

các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố (factor loading) > 0.4: đạt yêu cầu.

Kết quả phân tích nhân tố không có sự thay đổi nhóm biến so với kết quả

nghiên cứu định tính ban đầu.

74

- Phân tích nhân tố cho biến phụ thuộc

Thực hiện phân tích EFA theo phương pháp trích yếu tố Principal components với

phép quay Varimax.

Bảng 2.8: Kết quả phân tích EFA cho biến phụ thuộc

.864

Biến quan sát Xu hƣớng sử dụng

.891

NC24

.739

NC25

0.779

NC26

0.000

Cronbach’s Alpha

0.647

Sig

2.086

KMO

69.529

Eigenvalues

Phương sai trích (%)

- Kết quả phân tích EFA cho biết phụ thuộc cho thấy:

 Hệ số KMO = 0.647 > 0.5: phân tích nhân tố thích hợp với dữ liệu nghiên

cứu.

 Giá trị Eigenvalues = 2.086 > 1: đạt yêu cầu.

 Giá trị tổng phương sai trích: 69.529%: đạt yêu cầu.

 Tất cả các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố > 0.4: đạt yêu cầu.

 Như vậy, thang đo “Nhu cầu” đạt giá trị hội tụ.

- Tóm tắt kết quả phân tích nhân tố (EFA):

Kết quả phân tích nhân tố cho thấy các biến độc lập và biến phụ thuộc trong

mô hình đều đạt giá trị hội tụ và giá trị phân biệt chấp nhận được: phân tích EFA là

thích hợp với dữ liệu nghiên cứu. Có 7 nhân tố được trích ra từ kết quả phân tích

bao gồm 29 biến quan sát. Tất cả các biến quan sát trong từng nhân tố tương ứng

được trích đều đạt yêu cầu và được sử dụng trong các phân tích tiếp theo. Do vậy

không hiệu thang đo và mô hình nghiên cứu đã đề xuất ban đầu. Kết quả phân tích

cụ thể được trình bày ở phụ lục,3

75

2.2.7. Kiểm định mô hình và các giả thuyết

- Phân tích tƣơng quan:

Kết quả phân tích tương quan cho thấy, tất cả các biến độc lập đều có tương

quan với biến phụ thuộc ở mức ý nghĩa 1%. Biến phụ thuộc NC có tương quan

mạnh nhất với biến độc lập TSCD (hệ số Pearson = 0.775) và tương quan yếu nhất

với biến độc lập NT (hệ số Pearson = 0.525). Sự tương quan chặt này rất được

mong đợi vì chính những mối quan hệ chặt, tuyến tính giữa các biến giải thích được

sự ảnh hưởng đến kết quả mô hình. Do đó, các biến độc lập này có thể đưa vào phân

tích hồi quy để giải thích ảnh hưởng đến kết quả của mô hình nghiên cứu.

Giữa một số biến độc lập cũng có tương quan khá mạnh với nhau ở mức ý

nghĩa 1%. Do đó, trong phân tích hồi quy sẽ thận trọng với trường hợp đa cộng

tuyến có thể xảy ra ảnh hưởng đến kết quả phân tích. Kết quả phân tích cụ thể được

trình bày ở phụ lục 4.

- Phân tích hồi quy đa biến:

Phân tích hồi quy được thực hiện với 6 biến độc lập và phương pháp chọn là

Enter. Kết quả phân tích hồi quy đa biến như sau (xem chi tiết trong phụ lục 5).

Change Statistics

Std. Error

R

Adjusted

Model

R

of the

R Square

F

Sig. F

Square

R Square

df1

df2

Estimate

Change

Change

Change

1

.844a

.713

.706

.23783

.057

97.741

6

236

.000

Bảng 2.9: Tổng kết mô hình hồi quy

76

Hệ số chuẩn hóa

Đa cộng tuyến

Độ chấp

Hệ số phóng

Mô hình

t

Sig.

Std.

B

Beta

nhận

đại phương

Error

(Tolerance)

sai (VIF)

1

(Constant)

.518

.135

3.830

.000

Tblh

.127

.036

.169

3.558

.000

.536

1.864

Tbdl

.114

.035

.138

3.270

.001

.681

1.469

Tbnt

.084

.040

.096

2.091

.038

.579

1.726

Tbqm

.371

.039

.465

9.464

.000

.503

1.990

Tbtg

.100

.031

.133

3.183

.002

.701

1.426

Tbtscd

.066

.032

.088

2.093

.037

.687

1.455

Biến phụ thuộc: NC

Bảng 2.10: Các hệ số hồi quy

Kết quả của mô hình cho thấy R2 hiệu chỉnh là 0.706, có nghĩa là 70.6% sự

biến thiên của biến phụ thuộc NC được giải thích chung bởi các biến độc lập trong

mô hình. Bên cạnh đó, kiểm định F cũng cho thấy giá trị Sig. rất nhỏ (Sig. = .000),

cho thấy mô hình trên phù hợp với tập dữ liệu đang khảo sát.

Các biến độc lập LH, QM, TG, DLV, NT, TSCD đều có ý nghĩa về mặt

thống kê (Sig. < 0.05).

Kết quả cho thấy hệ số chấp nhận (Tolerance) khá cao (từ 0.536 đến 0.701)

và hệ số phóng đại phương sai VIF thấp (từ 1.426 đến 1.990, nhỏ hơn 2). Do vậy,

có thể kết luận mối liên hệ giữa các biến độc lập này không đáng kể, không có hiện

tượng đa cộng tuyến.

Phương trình hồi quy bội biểu diễn mối quan hệ giữa các nhân tố và nhu cầu

BLTD như sau:

Y = 0.518 + 0.127 X1 + 0.114 X2 + 0.084 X3 + 0.371 X4 + 0.1 X5 + 0.066 X6

Trong đó: Y là biến phụ thuộc thể hiện nhu cầu BLTD.

X1, X2, X3, X4, X5, X6 là các biến độc lập theo thứ tự là : Loại hình hoạt động của

doanh nghiệp, Quy mô doanh nghiệp, Thời gian hoạt động của doanh nghiệp, Giá

trị tài sản cố định, Động lực phát triển và Niềm tin.

77

. Loại hình hoạt động

+0.169 Quy mô doanh nghiệp

+0.138

Thời gian hoạt động +0.096

NHU CẦU BLTD

Giá trị tài sản cố định +0.465

+0.133 +0.088 Động lực phát triển

Niềm tin

- Kết quả mô hình hồi quy đa biến

Căn cứ vào kết quả phân tích hồi quy, mục tiêu thứ nhất của đề tài đã được

trả lời: có 6 yếu tố có ảnh hưởng đến nhu cầu BLTD là (1) Loại hình hoạt động của

doanh nghiệp, (2) Quy mô doanh nghiệp, (3) Thời gian hoạt động của doanh

nghiệp, (4) Giá trị tài sản cố định, (5) Động lực phát triển và (6) Niềm tin.

Trong 6 yếu tố trên, yếu tố “ Giá trị tài sản cố định ” có tác động lớn nhất

đến nhu cầu BLTD với hệ số hồi quy là 0.465, tiếp đến là yếu tố “ Loại hình hoạt

động của doanh nghiệp ” có hệ số hồi quy là 0.169, yếu tố “ Quy mô doanh nghiệp ”

có tác động thấp hơn với hệ số hồi quy 0.138, yếu tố “ Động lực phát triển ” với hệ

số hồi quy là 0.133, yếu tố “ Thời gian hoạt động của doanh nghiệp ” với hệ số hồi

quy 0.096 và yếu tố “ Niềm tin ” với hệ số hồi quy thấp nhất là 0.088. Đây cũng

chính là câu trả lời cho mục tiêu của đề tài.

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy các yếu tố có ảnh hưởng đến nhu cầu

BLTD như sau:

 Giá trị tài sản cố định:

78

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy có sự tương quan dương giữa yếu tố

“ Giá trị tài sản cố định ” và nhu cầu BLTD. Hệ số hồi quy là 0.465, điều này có

nghĩa là trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi Giá trị tài sản cố định tăng 1

đơn vị thì nhu cầu BLTD sẽ tăng lên 0.465 đơn vị.

Điều này phù hợp với tình hình thực tế các doanh nghiệp hiện nay do phải có

tài sản cố định thế chấp thì được Ngân hàng xem xét cho vay. Nếu giảm thiểu tài

sản cố định hoặc không cần thế chấp thì nhu cầu BLTD ngày càng tăng.

 Loại hình hoạt động của doanh nghiệp:

Kết quả ước lượng cho thấy mối quan hệ giữa loại hình hoạt động của doanh

nghiệp và nhu cầu BLTD là 0.169. Điều này có nghĩa là với các yếu tố khác không

đổi, khi tăng yếu tố loại hình hoạt động của doanh nghiệp lên 1 đơn vị thì nhu cầu

BLTD sẽ tăng 0.169 đơn vị. Như vậy, loại hình hoạt động của doanh nghiệp là một

trong những yếu tố có ảnh hưởng đến nhu cầu BLTD.

 Quy mô doanh nghiệp:

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy có sự tương quan dương giữa yếu tố “

quy mô doanh nghiệp ” và nhu cầu BLTD. Hệ số hồi quy là 0.138, điều này có

nghĩa là trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi quy mô doanh nghiệp tăng

lên 1 đơn vị thì nhu cầu BLTD sẽ tăng lên 0.138 đơn vị.

Trên thực tế quy mô doanh nghiệp nhỏ có nhu cầu BLTD nhiều hơn do thiếu

nguồn lực tài chính phát triển quy mô thu hút lao động và tăng cường trang thiết bị

tiên tiến tạo ra nhiều sản phẩm mới cạnh tranh thị trường.

 Động lực phát triển

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy có sự tương quan dương giữa yếu tố

“Động lực phát triển” và nhu cầu BLTD. Hệ số hồi quy là 0.133, điều này có nghĩa

là trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi động lực phát triển tăng lên 1 đơn

vị thì nhu cầu BLTD sẽ tăng lên 0.133 đơn vị.

Hiện nay các DNNVV gặp rất nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh với các

doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài do lan truyền công nghệ tiên tiến tạo ra

79

nhiều sản phẩm mới, giá thành thấp, thu hút lao động lành nghề…..Cho nên động

lực phát triển và nhu cầu BLTD là yếu tố sống còn của nhiều DNNVV hiện nay.

 Thời gian hoạt động của doanh nghiệp:

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy có sự tương quan dương giữa yếu tố

“Thời gian hoạt động của doanh nghiệp” và nhu cầu BLTD. Hệ số hồi quy là 0.096,

điều này có nghĩa là trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi Thời gian hoạt

động của doanh nghiệp tăng lên 1 đơn vị nhu cầu BLTD sẽ tăng lên 0.096 đơn vị.

Hiện nay các DNNVV bắt đầu thành lập đi vào hoạt động có được tồn tại lâu

dài hay không đều lệ thuộc vào nguồn tài trợ từ bên ngoài như vốn lưu động, lao

động lành nghề, sản phẩm, thị trường...... nhu cầu BLTD là một nhu cầu cần thiết

trong thời gian hoạt động do vốn tự có rất hạn chế.

 Niềm tin:

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy có sự tương quan giữa yếu tố “Niềm tin”

và nhu cầu BLTD. Hệ số hồi quy là 0.088, điều này có nghĩa là trong điều kiện các

yếu tố khác không đổi, khi niềm tin tăng lên 1 đơn vị thì nhu cầu BLTD sẽ tăng lên

0.088 đơn vị.

Các DNNVV hiện nay nếu tin tưởng rằng BLTD hỗ trợ được cho doanh

nghiệp tiếp cận được với nguồn vốn ngân hàng mà không có hoặc không đủ tài sản

thế chấp tài sản như yêu cầu của Ngân hàng hiện nay, thì nhu cầu BLTD sẽ hấp dẫn

và được nhiều doanh nghiệp tham gia trong thời gian sắp tới.

- Kiểm định các giả thuyết

Giả thuyết H1: Loại hình doanh nghiệp càng phát triển thì có nhu cầu

BLTD ngày càng cao.

Kết quả ước lượng cho thấy mối quan hệ giữa loại hình doanh nghiệp và nhu

cầu BLTD là 0.169 ở mức ý nghĩa thống kê Sig. = 0.000 nên giả thuyết H1 được

ủng hộ với mẫu dữ liệu khảo sát. Như vậy loại hình doanh nghiệp là một trong

những yếu tố có ảnh hưởng đến nhu cầu BLTD. Kết quả thống kê chỉ ra nhu cầu

BLTD trên mức trung bình (Mean = 3.6557). (xem chi tiết trong phụ lục 6):

80

Bảng 2.11: Mức độ đánh giá loại hình doanh nghiệp

Mức độ đánh giá Điểm trung

Các doanh nghiệp hoạt động

Chỉ tiêu 1 (%) 2 (%) 3 (%) 4 (%) 5 (%) bình

trong các lĩnh vực khác nhau

Ngành nông lâm thủy sản

2.1 26.3 63.8 7.8 0 3.77

Ngành xây dựng

0 3.74 2.5 29.2 59.7 8.6

Ngành thương mại, dịch vụ

0 3.55 8.2 33.7 53.1 4.9

Ngành công nghiệp

0 3.53 9.1 33.7 51.9 5.3

Ngành giao thông vận tải

0 3.73 7.8 21.4 60.9 9.9

0 3.60 7.4 32.1 53.1 7.4

Giả thuyết H2: Quy mô doanh nghiệp DNVVN càng phát triển thì nhu cầu

BLTD càng cao.

Kết quả ước lượng cho thấy mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và nhu

cầu BLTD là 0.138 ở mức ý nghĩa thống kê Sig. = 0.001 nên giả thuyết H2 được

ủng hộ với mẫu dữ liệu khảo sát. Như vậy, quy mô doanh nghiệp là một trong

những yếu tố có ảnh hưởng đến nhu cầu BLTD. Theo kết quả phân tích hồi quy, yếu

tố quy mô doanh nghiệp có tác động khá mạnh đến nhu cầu BLTD. Kết quả thống

kê cho thấy yếu tố này trên mức trung bình (Mean = 3.5658)..

Bảng 2.12: Mức độ đánh giá quy mô doanh nghiệp

Mức độ đánh giá Trung bình

0

4.1

37.9

54.7

3.3

3.57

Quy mô hoạt động nhỏ

0

3.7

38.3

56.0

2.1

3.56

Giảm chi phí kinh doanh

0

6.6

35.8

53.5

4.1

3.55

Hỗ trợ trong những thời điểm

kinh tế khó khăn như hiện nay

Đối mặt với chi phí tài chính

0

3.7

37.4

56.4

2.5

3.58

cao

Chỉ tiêu 1 (%) 2 (%) 3 (%) 4 (%) 5 (%) điểm

81

Giả thuyết H3: Thời gian hoạt động của doanh nghiệp càng lâu thì nhu cầu

BLTD càng cao.

Kết quả ước lượng cho thấy mối quan hệ giữa thời gian hoạt động của doanh

nghiệp và nhu cầu BLTD là 0.096 ở mức ý nghĩa thống kê Sig. = 0.038 nên giả

thuyết H3 được ủng hộ với mẫu dữ liệu khảo sát. Như vậy, thời gian hoạt động của

doanh nghiệp là một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến nhu cầu BLTD khi được

sự ủng hộ của những đối tượng có liên quan càng cao thì công ty mới thành lập sẽ

có nhu cầu BLTD.

Theo kết quả phân tích hồi quy, yếu tố thời gian hoạt động của doanh nghiệp

có tác động không cao đến nhu cầu BLTD. Theo kết quả thống kê cho thấy mức độ

đánh giá của doanh nghiệp về yếu tố này không cao (Mean = 3.4187).

Bảng 2.13: Mức độ đánh giá thời gian hoạt động của doanh nghiệp

Mức độ đánh giá Trung bình

Thời gian hoạt động dưới 5 năm

Chỉ tiêu 1 (%) 2 (%) 3 (%) 4 (%) 5 (%) điểm

Thời gian hoạt động trên 5 năm

0 3.3 47.3 47.3 1.2 3.48

thời gian hoạt động trên 10 năm

0 3.7 50.2 44.9 2.1 3.44

Mới thành lập

0 5.3 47.7 44.9 2.1 3.44

0 8.2 52.3 38.7 0.8 3.32

Giả thuyết H4: Giá trị tài sản cố định thấp thì có nhu cầu BLTD càng cao.

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, có sự tương quan thuận giá trị tài sản cố

định và nhu cầu BLTD. Hệ số tương quan giữa “Giá trị tài sản cố định” và “nhu cầu

BLTD” là 0.465 với mức ý nghĩa Sig. = 0.000 < 0.05: giả thuyết H4 không bị bác

bỏ. Như vậy, giá trị tài sản cố định cũng là một yếu tố có ảnh hưởng đến nhu cầu

BLTD.

Theo kết quả phân tích hồi quy, yếu tố giá trị tài sản cố định có tác động

mạnh nhất đến đến nhu cầu BLTD. Theo kết quả thống kê cho thấy mức độ đánh

giá của doanh nghiệp về yếu tố này trên mức trung bình (Mean = 3.5535). Điều này

có nghĩa là doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài sản thế chấp như hiện nay theo

82

tiêu chí đánh giá tài sản của doanh nghiệp để các ngân hàng xem xét cho vay. Có

nghĩa là khả năng tiếp cận với nguồn vốn tín dụng thấp do không có tài sản thế

chấp.

Bảng 2.14: Mức độ đánh giá giá trị tài sản cố định

Mức độ đánh giá Trung bình

BLTD giải quyết khó khăn về

Chỉ tiêu 1 (%) 2 (%) 3 (%) 4 (%) 5 (%) điểm

tài sản thế chấp.

BLTD không cần tài sản thế

2.9 40.3 51.9 4.9 3.59 0

chấp.

Giá trị tài sản cố định của DN là

0 2.5 39.9 51.0 6.6 3.62

tiêu chí Ngân hàng cho vay

Ngân hàng luôn chú trọng đến

0 3.7 44.9 46.9 4.5 3.52

tài sản thế chấp.

0 5.8 44.9 44.4 4.9 3.49

Giả thuyết H5: Động lực phát triển càng cao thì nhu cầu BLTD càng cao.

Kết quả ước lượng cho thấy mối quan hệ giữa động lực phát triển và nhu cầu

BLTD là 0.133 ở mức ý nghĩa thống kê Sig. = 0.002 nên giả thuyết H5 được ủng hộ

với mẫu dữ liệu khảo sát. Như vậy, động lực phát triển là một trong những yếu tố có

ảnh hưởng đến nhu cầu BLTD.

Theo kết quả phân tích hồi quy, yếu tố động lực phát triển có tác động tương

đối mạnh đến nhu cầu BLTD. Theo kết quả thống kê cho thấy mức độ đánh giá của

doanh nghiệp về yếu tố này trên mức trung bình (Mean = 3.517).

83

Bảng 2.15: Mức độ đánh giá động lực phát triển

Mức độ đánh giá Trung bình

Mở rộng quy mô sản xuất kinh

1 (%) 2 (%) 3 (%) 4 (%) 5 (%) điểm Chỉ tiêu

doanh

Bổ sung vốn dài hạn và đầu tư

0 6.2 34.6 54.7 4.5 3.58

dài hạn.tin

Giảm chi phí đầu tư ngắn hạn

0 7.0 39.1 49.4 4.5 3.51

Cạnh tranh trong nước và xuất

0 6.6 44.4 44.9 4.1 3.47

khẩu

0 4.1 44.4 47.3 4.1 3.51

Giả thuyết H6: Niềm tin càng cao, xu hướng chọn BLTD càng cao (nhu cầu càng

cao).

Kết quả cho thấy có sự tương quan giữa niềm tin và nhu cầu BLTD. Hệ số

tương quan giữa “Niềm tin” và “nhu cầu BLTD” là 0.088. Giả thuyết này có t =

2.093 với mức ý nghĩa Sig. = 0.037 < 0.05: giả thuyết H6 không bị bác bỏ.

Theo kết quả phân tích hồi quy, yếu tố niềm tin có tác động không cao đến

nhu cầu BLTD. Theo kết quả thống kê cho thấy mức độ đánh giá của doanh nghiệp

về yếu tố này không cao (Mean = 3.3333)

Bảng 2.16: Mức độ đánh giá nhận thức niềm tin

Mức độ đánh giá Trung bình

Chỉ tiêu 1 (%) 2 (%) 3 (%) 4 (%) 5 (%) điểm

Đảm bảo an toàn thông tin 0 6.2 34.6 54.7 4.5 3.58

Bảo mật thông tin 0 7.0 39.1 49.4 4.5 3.51

Có tính pháp lý cao 0 6.6 44.4 44.9 4.1 3.47

Nói chung đáng tin cậy 0 4.1 44.4 47.3 4.1 3.51

Kết quả kiểm định thang đo thông qua đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha

và phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm định sự phù hợp của mô hình cùng các

84

giả thuyết đi kèm về việc đánh giá các thành phần theo các thuộc tính của đối tượng

nghiên cứu. Phần mềm SPSS 16.0 được sử dụng để phân tích dữ liệu. Kiểm định

mô hình cho thấy mô hình nghiên cứu không có sự thay đổi so với ban đầu. Sau đó,

sự phù hợp của mô hình nghiên cứu được kiểm định bằng phân tích hồi quy đa biến

và cuối cùng là kiểm định giả thuyết.

2.2.8. Kết luận qua kiểm định mô hình

Qua kết quả kiểm định mô hình cho thấy nhu cầu BLTD của các DNNVV

tương quan với các nhân tố sau: (1) Loại hình doanh nghiệp càng phát triển thì nhu

cầu BLTD càng cao, (2) Qui mô doanh nghiệp càng phát triển nhu cầu BLTD càng

cao, (3) Thời gian hoạt động của doanh nghiệp ảnh hưởng không cao đến nhu cầu

BLTD, (4) Doanh nghiệp có giá trị tài sản cố định thấp thì có nhu cầu BLTD càng

cao, (5) Động lực phát triển càng cao thì nhu cầu BLTD càng cao, và (6) Niềm tin

ảnh hưởng không cao đến nhu cầu BLTD. Trong 6 nhân tố ảnh hưởng thì nhân tố tài

sản cố định có mức độ ảnh hưởng lớn nhất, điều này có nghĩa là các doanh nghiệp

hiện nay hầu hết đều thiếu tài sản thế chấp để trực tiếp tiếp cận với nguồn vốn ngân

hàng, khả năng tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng kém.

Từ kết quả trên cho thấy DNNVV có nhu cầu BLTD để tiếp cận với nguồn

vốn tín dụng ngân hàng là rất lớn trong hiện tại và tương lai nhằm giúp doanh

nghiệp vượt qua những khó khăn về vốn, lao động, đối thủ cạnh tranh và phát triển

công nghệ tiên tiến. Tuy nhiên, hiện nay các Quỹ BLTD tại Việt Nam chỉ mới đáp

ứng nhu cầu BLTD với một tỷ lệ rất nhỏ cả về số lượng cũng như nhu cầu về vốn

cho các DNNVV (sẽ được phân tích cụ thể trong mục 2.3). Kết luận này cũng là

luận cứ khoa học nhằm định hướng phải tiếp tục cho ra đời Quỹ BLTD trong cả

nước, với nhiều mô hình hoạt động khác nhau để đáp ứng nhu cầu được hỗ trợ tài

chính của DNNVV.

85

2.3. THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ BẢO LÃNH

TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

2.3.1. Hiệu quả hoạt động

2.3.1.1. Hiệu quả về mặt kinh tế

- Đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng cao cho DNNVV:

Hầu hết các DNNVV đều rất khó khăn khi tiếp cận với nguồn vốn tín dụng

ngân hàng do không có tài sản thế chấp. Khi Quỹ BLTD ra đời đã giúp cho các

doanh nghiệp khơi thông nguồn vốn tín dụng, có thể nói rằng Quỹ BLTD là cầu nối

giữa ngân hàng với các DNNVV không có tài sản thế chấp nhưng có phương án

SXKD hiệu quả, khả thi.

Việc đáp ứng nhu cầu vốn đã giúp các doanh nghiệp thực thi có hiệu quả các

phương án đầu tư, tăng cường năng lực tài chính để phát triển SXKD. Sau khi được

BLTD từ Quỹ BLTD, các DNNVV phát triển SXKD, tăng thu nhập, tạo tích luỹ,

nhiều DNNVV tiếp tục đầu tư mở rộng để đáp ứng nhu cầu phát triển của thị

trường, cũng như đa dạng hoá lĩnh vực hoạt động nên tiếp tục có nhu cầu sử dụng

vốn vay từ các TCTD.

86

Bảng 2.17: Giá trị BLTD của các Quỹ BLTD so với nhu cầu vay vốn của các DNNVV đã tiếp cận Quỹ từ năm 2008 đến năm 2011.

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Nhu cầu

Số tiền

Tỷ lệ giá

Nhu cầu

Số tiền

Tỷ lệ giá

Nhu cầu

Số tiền

Tỷ lệ giá

Nhu cầu

Số tiền

Tỷ lệ giá

vay vốn của

đƣợc bảo

trị bảo

vay vốn của

đƣợc bảo

trị bảo

vay vốn

đƣợc bảo

trị bảo

vay vốn của

đƣợc

trị bảo

STT

Tên Quỹ BLTD

các DN đã

lãnh

lãnh so

các DN đã

lãnh

lãnh so

của các

lãnh

lãnh so

các DN đã

bảo

lãnh so

tiếp cận

với nhu

tiếp cận

với nhu

DN đã

với nhu

tiếp cận

lãnh

với nhu

Quỹ

cầu (%

Quỹ

cầu (%

tiếp cận

cầu (%

Quỹ

cầu (%

Quỹ

hệ số K1)

hệ số K1)

hệ số K1)

hệ số K1)

5= 4:3

11 =10:9

1

2

3

4

6

7

8=7:6

9

10

12

13

14 =13:12

382,11

211,36

290,22

210,58

1

TP. HCM

60

40

425,808

250,062

2

Bắc Ninh

50

20

70

140,310

46,440

202

59

27

3

Vĩnh Phúc

160

110

200

300

276

320

285

150

4

Bình Thuận

20

12

30

45

18,1

50

17,6

16,5

5

Hà Giang

18

10

16

35

20

42

25

8,5

6

Bà Rịa Vũng Tàu

130

120

180

220

190,8

225

196

150

7

Yên Bái

38

23

95

110

80

115

82

75

8

Trà Vinh

65

48

76

80

60

82

65

52

9

Đồng Tháp

-

-

38

45

34,83

48

36

27

Cộng

541

383

70,79

1.087,11

717,36

65,99

1.401,118

976,232

69,67

1.374,22

976,18

71,04

Nguồn: Quỹ BLTD các địa phương và tổng hợp của tác giả [45]

87

Qua chỉ tiêu trên, ta thấy rằng tỷ lệ BLTD các Quỹ đã đáp ứng cho các

DNNVV là khá cao qua các năm, năm 2009 là 65,99%, năm 2010 là 69,67% và

năm 2011 là 71,04%; chứng tỏ các Quỹ BLTD đã ngày càng phát huy hiệu quả,

nâng cao chất lượng, góp phần thực hiện chủ trương, chính sách của nhà nước trong

việc trợ giúp phát triển các DNNVV tại Việt Nam.

- Rủi ro BLTD của Quỹ BLTD ở mức an toàn: để xem xét hiệu quả an toàn,

khả năng thu hồi vốn khi cấp BLTD cho các DNNVV, ta xem xét chỉ tiêu bội số

BLTD. Theo qui định hiện hành chỉ tiêu này không được vượt quá 5 lần nhằm đảm

bảo an toàn vốn cho Quỹ BLTD. Sử dụng số liệu ở bảng 2.2 và 2.17, ta có bảng tính

toán bội số BLTD qua các năm như sau:

Bảng 2.18: Bảng tính toán bội số BLTD so với vốn điều lệ Quỹ BLTD độc lập

Số vốn điều lệ Số tiền bảo lãnh Bội số (lần) Năm (tỷ đồng) (tỷ đồng)

G V2 B = G:V2

419,852 383,000 0,91 2008

449,862 717,360 1,59 2009

449,862 976,232 2,17 2010

Nguồn: Quỹ BLTD các địa phương và tổng hợp của tác giả [45]

449,862 976,180 2,17 2011

Hệ số B (Bội số bảo lãnh) theo qui định không được vượt 5 lần vốn điều lệ

của Quỹ BLTD, trong các năm từ 2008 đến 2011, các hệ số này lần lượt là: 0,91

lần, 1,59 lần, 2,17 lần và 2,17 lần, chứng tỏ Quỹ BLTD đang có hệ số an toàn cao.

Tuy nhiên, hệ số này chưa cao chứng tỏ Quỹ hoạt động chưa hiệu quả, vẫn còn vốn

để cấp BLTD cho DNNVV. Hệ số này tiến gần về mức 5 lần sẽ chứng tỏ Quỹ đã sử

dụng tốt nguồn vốn nhưng vẫn đảm bảo mức an toàn theo qui định.

- Chỉ tiêu dư nợ cho vay bắt buộc so với số dư BLTD hay tổng số tiền Quỹ

BLTD trả thay cho DNNVV so với tổng giá trị BLTD ở mức an toàn cao: Theo

88

báo cáo của các Quỹ BLTD tại các địa phương thì cho đến hết năm 2011 chưa có

Quỹ BLTD nào sử dụng Quỹ dự phòng nghiệp vụ để trả thay cho doanh nghiệp và

chuyển sang cho vay bắt buộc đối với doanh nghiệp theo phần trách nhiệm cam kết

bảo lãnh của Quỹ. Tất cả các doanh nghiệp được cấp BLTD đều sử dụng vốn có

hiệu quả, trả lãi và vốn gốc đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng.

- Số lượt các DNNVV được các Quỹ BLTD tư vấn, hỗ trợ tăng cao qua các

năm: Các Quỹ BLTD tại các địa phương đã ngày càng đa dạng các hình thức tư

vấn, trợ giúp các doanh nghiệp thông qua nhiều hình thức khác nhau như: cung cấp

thông tin trên Website của Quỹ, tổ chức hội thảo, tiếp xúc trực tiếp, diễn đàn đối

thoại,… nhằm truyền đạt thông tin về chủ trương chính sách, hỗ trợ thiết lập hồ sơ

vay vốn; hướng dẫn về quản lý tài chính, quản lý kinh doanh, đánh giá thị trường,

chọn lựa các phương án kinh doanh, đầu tư trên cơ sở năng lực tài chính cũng như

phương án tài chính tối ưu; hướng dẫn xây dựng phương án SXKD, dự án đầu tư để

tiếp cận vốn vay các NHTM, các TCTD. Tuy nhiên, số lượng các doanh nghiệp

được tư vấn, trợ giúp còn rất ít so với số lượng các DNNVV đã tiếp cận Quỹ BLTD

(DNNVV có nhu cầu), năm 2009 tỷ lệ giữa DNNVV đã được trợ giúp, tư vấn so với

các DNNVV đã tiếp cận Quỹ BLTD là 4,52%, năm 2010 và năm 2011 tỷ lệ này lần

lượt là 5,21% và 6,10%. Bảng 2.8 cho thấy số liệu về các DNNVV được tư vấn

thiết lập phương án SXKD, dự án đầu tư để tiếp cận vốn vay các NHTM, các

TCTD.

89

Bảng 2.19: Số lượt các DNNVV được các Quỹ BLTD tư vấn, hỗ trợ từ năm

2008 đến năm 2011

Năm Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011

- Số lượt DNNVV đã tiếp cận Quỹ 7.700 11.500 16.300 20.500

BLTD (số lượt)

+ Qua tiếp xúc trực tiếp 4.100 5.200 6.500 8.000

+ Qua hội thảo, diễn đàn 1.900 2.800 4.200 6.100

+ Qua các hình thức khác (tờ rơi, 1.700 3.500 5.600 6.400

báo, đài, truyền hình,…)

- Số lượt DNNVV được trợ giúp 340 520 850 1.250

thiết lập phương án SXKD, dự án

đầu tư (số lượt)

- Số lượt các DNNVV ký hợp đồng 08 22 37 52

tư vấn (số lượt)

- Doanh số tư vấn (triệu đồng) 120,000 600,060 835.100 1.250.000

- Tỷ lệ (%) giữa số lượt DNNVV

được trợ giúp so với các DNNVV 4,42 4,52 5,21 6,10

đã tiếp cận Quỹ

Nguồn: Quỹ BLTD các địa phương và tổng hợp của tác giả [45]

- Doanh số của hoạt động tư vấn, hỗ trợ của các Quỹ ngày càng tăng: Số

lượng các DNNVV tìm đến Quỹ BLTD để được hướng dẫn lập phương án SXKD,

tư vấn tài chính kế toán ngày càng nhiều; doanh số hoạt động tư vấn, hỗ trợ đều

tăng qua các năm (bảng 2.19). Tuy nhiên, so với các tổ chức cung cấp dịch vụ tư

vấn tài chính kế toán, tư vấn đầu tư thì doanh số của các Quỹ BLTD là một con số

khá khiêm tốn.

- Doanh thu và lợi nhuận của Quỹ BLTD ngày càng cao: Mặc dù mục đích

hoạt động của Quỹ là vì sự phát triển của DNNVV, không vì lợi nhuận, tuy nhiên,

90

với sự hoạt động ngày càng hiệu quả. Quỹ BLTD TP.HCM không những đã bảo tồn

được nguồn vốn do nhà nước cấp mà còn mang lại lợi nhuận ngày càng cao qua các

năm.

Bảng 2.20: Các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh của Quỹ BLTD TP. HCM

Đơn vị tính: triệu đồng

Năm Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011

Doanh thu 9.484 20.932 30.561 5.895

Trong đó: doanh thu phí bảo 1.276 1.478 1.637 74

lãnh

Lợi nhuận trước thuế TNDN 4.840 5.291 14.950 23.889

Thuế TNDN 1.055 3.579 5.780 -

Lợi nhuận sau thuế TNDN 4.236 11.371 18.109 4.840

Vốn điều lệ cuối năm 190.237 191.720 191.720 46.130

Vốn chủ sở hữu cuối năm 202.813 214.923 227.407 46.408

Tổng tài sản cuối năm 206.791 218.234 235.232 51.662

Tỷ suất lợi nhuận/Vốn chủ 2,09 5,29 7,96 10,43

sở hữu (%)

Nguồn: BCTC Quỹ BLTD TP. HCM [27]

- Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được cấp BLTD ngày càng phát

triển: Thông qua cấp BLTD, Quỹ BLTD đã có những tác động tốt đến hiệu quả

kinh doanh của các DNNVV. Các DNNVV sau khi được Quỹ cấp BLTD đã không

ngừng phát triển. Qui mô về nguồn vốn, doanh thu, lợi nhuận ngày càng cao, và tạo

thêm công ăn việc làm cho người lao động. Kết quả khảo sát 107 DNNVV đã được

các Quỹ BLTD cấp BLTD thể hiện ở bảng 2.21.

91

Bảng 2.21: Kết quả kinh doanh và sử dụng lao động qua các năm của 107

DNNVV đã được Quỹ BLTD cấp BLTD

Năm Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011

Tổng nguồn vốn (triệu đồng) 1.998.171 2.771.167 4.760.606 6.445.603

Doanh thu (triệu đồng) 3.893.579 5.947.352 7.604.493 10.412.597

Lợi nhuận sau thuế (triệu đồng) 47.593 59.246 68.372 104.230

Số lượng lao động (người) 4.281 5.992 7.356 8.260

Nguồn: Kết qủa khảo sát 107 DNNVV [28]

- Về nguồn vốn: Qua bảng số liệu trên, chúng ta thấy rằng tổng nguồn vốn

của các DNNVV sau khi được Quỹ BLTD cấp BLTD và vay vốn từ ngân hàng đã

tăng qua các năm, từ 1.998.171 triệu đồng vào năm 2008 lên 6.445.603 triệu đồng

vào năm 2011 (tăng 322,58%); điều này chứng tỏ các doanh nghiệp đã chủ động

tăng cường nguồn vốn kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.

- Về doanh thu_lợi nhuận: Doanh thu và lợi nhuận của các doanh nghiệp có

sử dụng nguồn vốn do Quỹ BLTD cấp đã tăng qua các năm, doanh thu tăng từ

3.893.579 triệu đồng vào năm 2008 lên 10.412.597 triệu đồng vào năm 2011 (tăng

267,43%), lợi nhuận sau thuế tăng tương ứng từ 47.593 triệu đồng lên 104.230 triệu

đồng (tăng 219%); chứng tỏ các DNNVV đã sử dụng nguồn vốn tín dụng có hiệu

quả, tạo tích luỹ, việc gia tăng lợi nhuận đã giúp cho DNNVV có nguồn trả nợ vay

đúng thời hạn qui định.

- Về thu hút lao động: Lao động làm việc trong các doanh nghiệp đã tăng từ

4.281 lao động vào năm 2008 lên 8.260 lao động vào năm 2011. Qua hoạt động

BLTD, các DNNVV tăng quy mô sản xuất kinh doanh, tăng tích luỹ và năng lực tài

chính, hoạt động sản xuất kinh doanh được ổn định lâu dài và mở rộng. Từ đó thu

hút thêm nhiều lao động để đáp ứng nhu cầu lao động do quy mô gia tăng. Bên cạnh

góp phần tạo thêm việc làm còn góp phần tăng thu nhập cho người lao động tại các

DNNVV.

92

2.3.1.2. Hiệu quả về mặt xã hội

- Tạo việc làm cho người lao động: Các DNNVV khi được Quỹ BLTD bảo

lãnh để các TCTD cấp vốn thực hiện dự án, thông qua đó sẽ tạo thêm việc làm cho

người lao động, góp phần nâng cao mức sống người dân, thu hẹp khoảng cách giữa

người giàu và nghèo. Theo báo cáo tổng kết về hoạt động BLTD của các địa

phương thì thông qua việc cấp BLTD cho các DNNVV, các doanh nghiệp đã sử

dụng vốn vay được từ các TCTD để đầu tư vào các dự án, mở rộng qui mô hoạt

động từ đó có nhu cầu tăng thêm về nguồn nhân lực. Bảng 2.21 qua kết quả khảo sát

các doanh nghiệp đã được cấp BLTD cho thấy các DNNVV đã góp phần tạo thêm

nhiều việc làm cho người lao động do qui mô gia tăng.

- Nâng cao mức sống dân cư: Thông qua Quỹ BLTD để được vay vốn ngân

hàng thực hiện các dự án, phương án SXKD, các DNNVV đã góp phần quan trọng

trong việc nâng cao mức sống dân cư, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế.

Năm 2011, theo số liệu của Bộ Công thương Việt Nam, mức GDP đạt 119 tỷ USD,

thu nhập bình quân đầu người là 1.300USD (tương đương 27 triệu đồng/năm), so

với năm 2010 con số này lần lượt là 104,6 tỷ USD và 1.160 USD/đầu người. Mức

sống dân cư ngày càng được nâng cao, dự kiến đến năm 2020 là 4.000USD/đầu

người.

- Bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái: Nhiều DNNVV thông

qua sự BLTD của Quỹ BLTD đã thực hiện các dự án đầu tư máy móc thiết bị, xử lý

ô nhiễm môi trường với số vốn của dự án đã góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên,

môi trường sinh thái. Theo báo cáo của hiệp hội các DNNVV đánh giá trong những

năm qua, nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư máy móc thiết bị tiên tiến, kỹ

thuật cao, không còn nhập khẩu những máy móc thiết bị cũ kỹ như những năm

trước đây nữa. Nhiều doanh nghiệp đã thông qua Quỹ BLTD để vay vốn ngân hàng

thực hiện chủ trương di dời những ngành nghề có gây ô nhiễm ở nội thành ra các

khu công nghiệp và đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải an toàn, góp phần bảo

vệ môi trường tự nhiên. Theo báo cáo của UBND TP. HCM, đã có 1.235 doanh

nghiệp thực hiện di dời từ nội thành tập trung vào các khu công nghiệp Lê Minh

93

Xuân, Hiệp Phước, Tân Phú Trung,… góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường trên

địa bàn TP. HCM.

- Mức độ hài lòng của khách hàng về hoạt động của Quỹ cao: Do hạn chế

về mặt số liệu nên đề tài lấy kết quả khảo sát các DNNVV đã tiếp cận Quỹ BLTD

TP. HCM để đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng. Qua kết quả khảo sát cho

thấy hầu hết các doanh nghiệp đều hài lòng với việc trợ giúp của Quỹ BLTD trong

việc cấp BLTD và tư vấn cho các doanh nghiệp này thực hiện thiết lập phương án

SXKD, tư vấn tài chính kế toán. Tuy nhiên, đa số các doanh nghiệp đều cho rằng

Quỹ BLTD cần gia tăng khả năng cấp BLTD (số tiền cấp BLTD) để thoả mãn nhu

cầu của doanh nghiệp và tăng cường hoạt động tư vấn hỗ trợ các doanh nghiệp về

quản trị doanh nghiệp, tài chính kế toán.

Bảng 2.22: Kết quả khảo sát đánh giá chất lượng phục vụ của Quỹ BLTD

TP. HCM (107 doanh nghiệp đã được Quỹ BLTD cấp BLTD)

Tỷ lệ hài lòng (%)

Mức độ đánh giá

Về cấp BLTD

Nhanh chóng

45,71

Trung bình

22,86

Phiền hà

20

Chậm

11,43

Cộng

100

Về tƣ vấn, hỗ trợ doanh nghiệp

Nhanh chóng

51,14

Trung bình

25,72

Không nhiệt tình

0

Chậm

17,14

Cộng

100

Nguồn: Kết qủa khảo sát 107 DNNVV [28]

94

2.3.2. Những hạn chế trong hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng

- Khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho các DNNVV còn nhiều hạn chế: Để

xem xét Quỹ BLTD đã đáp ứng được bao nhiêu % nhu cầu về vốn của DNNVV, ta

xem xét tỷ lệ giá trị bảo lãnh so với nhu cầu vốn của các DNNVV. Do bị hạn chế về

mặt số liệu nên đề tài giới hạn chỉ xem xét tỷ lệ này trên địa bàn TP. HCM.

Bảng 2.23: Nhu cầu vốn của DNNVV và khả năng đáp ứng nhu cầu

BLTD của Quỹ BLTD trên địa bàn TP.HCM từ năm 2008 đến 2011

Năm

Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011

1. Nhu cầu vốn bình

quân một doanh nghiệp 4.524 4.701 5.415 4.788

(triệu đồng)

2. Số lượng doanh 60.881 76.083 85.000 95.000 nghiệp (số lượng)

3. Tổng nhu cầu vốn của

các doanh nghiệp (triệu 205.425.644 357.666.183 460.275.000 454.860.000

đồng)

4. Số lượt khách hàng 2 35 36 39

được bảo lãnh (số lượt)

5. Doanh số bảo lãnh 6.080 211.360 250.062 210.580 (triệu đồng)

6. Số dư BLTD (triệu 10.080 199.493 301.742 331.960

đồng)

7. Tỷ lệ (%) giữa doanh

số bảo lãnh so với nhu

cầu vốn của các 0,002 0,059 0,054 0,047

DNNVV trong nền kinh

tế (6 = 5:3)

Nguồn: Tổng cục thống kê, báo cáo tổng kết 2011_Quỹ BLTD TP. HCM và tổng

hợp của tác giả [22, 24].

95

Qua chỉ tiêu tỷ lệ giá trị bảo lãnh so với nhu cầu vốn của các DNNVV trong

nền kinh tế tại TP. HCM được tính toán trong các năm từ năm 2007 đến năm 2011

bảng 2.23 cho thấy doanh số cấp BLTD cho các DNNVV năm sau cao hơn năm

trước, chứng tỏ Quỹ BLTD đã có nhiều nỗ lực trong việc cấp BLTD. Tuy nhiên,

nhu cầu vốn của DNNVV là rất lớn và tốc độ tăng về nhu cầu vốn của doanh nghiệp

luôn tăng cao hơn tốc độ tăng về doanh số cấp BLTD của Quỹ nên chỉ tiêu tỷ lệ

không tăng nhiều, thậm chí năm 2011 còn thấp hơn so với năm 2009 và năm 2010.

Quỹ BLTD chỉ mới đáp ứng một tỷ lệ rất nhỏ so với nhu cầu về vốn của các

DNNVV tại TP. HCM nói riêng và tại Việt Nam nói chung.

Tại Quỹ BLTD TP. HCM (là Quỹ BLTD lớn nhất trong cả nước), qua bảng

số liệu 2.9 cho thấy trong tổng doanh thu hoạt động của Quỹ qua các năm thì doanh

doanh thu từ phí bảo lãnh chiếm tỷ trọng rất nhỏ: năm 2008 là 1,26% (74 triệu đồng

trong tổng số 5.895 triệu đồng), năm 2009 là 13,45% (1.276 triệu đồng trong tổng

số 9.484 triệu đồng), năm 2010 là 7,06% (1.478 triệu đồng trong tổng số 20.932

triệu đồng) và năm 2011 là 5,36% (1.637 triệu đồng trong tổng số 30.561 triệu

đồng) . Chủ yếu doanh số của Quỹ BLTD TP. HCM là lãi tiền gửi ngân hàng (số

vốn điều lệ nhà nước cấp Quỹ gửi ở ngân hàng để hưởng lãi và đảm bảo an toàn).

- Mức độ hài lòng của doanh nghiệp về thủ tục, hồ sơ đề nghị cấp tín

dụng chƣa cao: Do hiện nay chưa có sự phối hợp giữa Quỹ BLTD với các TCTD

trong việc xây dựng qui trình đồng thẩm định nên một hồ sơ tín dụng phải thực hiện

thẩm định hai lần: lần một là Quỹ thẩm định để cấp BLTD, sau đó NHTM lại phải

tiếp tục thẩm định hồ sơ này làm cho doanh nghiệp tốn nhiều thời gian và công sức

cũng như chi phí để được tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng. Mặt khác mỗi địa

phương đều tự xây dựng một qui trình cấp BLTD riêng nên các doanh nghiệp lúng

túng khi nộp hồ sơ đề nghị cấp BLTD.

Kết quả khảo sát 107 DNNVV đã tiếp cận với Quỹ BLTD TP. HCM cho

thấy nhiều doanh nghiệp chưa hài lòng về thời gian từ khi tiếp cận Quỹ BLTD đến

khi được NHTM giải ngân và trình tự cấp BLTD.

96

Bảng 2.24: Kết quả khảo sát 107 DNNVV tiếp cận với Quỹ BLTD TP. HCM

Mức độ đánh giá về

trình tự thủ tục cấp Số lƣợng doanh nghiệp Tỷ lệ (%)

BLTD

Thuận tiện. 23 25

Phiền hà (tác phong, thái 14 16

độ,…).

Chậm. 19 21

Rất chậm. 42 45

Nguồn: Kết qủa khảo sát 107 DNNVV [28]

- Hạn chế về sản phẩm bảo lãnh: Hiện nay hoạt động BLTD của Quỹ chỉ

dừng lại ở lĩnh vực cho các DNNVV vay vốn tại các NHTM theo các phương thức

cho vay theo hạn mức, cho vay từng lần và cho vay theo dự án đầu tư, Quỹ vẫn

chưa thực hiện BLTD cho các DNNVV tiếp cận vốn vay tại các NHTM theo

phương thức cho vay hợp vốn, cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức thấu chi và

cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng. Bên cạnh đó Quỹ cũng không BLTD để

thực hiện hoạt động bao thanh toán và bảo lãnh ngân hàng. Mặt khác, đối với các

DNNVV có phạm vi hoạt động tại nhiều địa phương khác nhau, Quỹ BLTD chưa

phối hợp cùng với các Quỹ BLTD ở các địa phương để cùng thực hiện đồng cấp

BLTD cho doanh nghiệp.

2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế

2.3.3.1. Về phía chính sách và các quản lý nhà nước

- Chính sách nhà nước chưa đầy đủ, đồng bộ và hợp lý:

Thứ nhất, chính sách về Quỹ BLTD chưa đồng bộ, chưa đầy đủ: Mô hình

hoạt động của Quỹ BLTD còn quá mới tại Việt Nam, những chính sách chỉ đạo từ

Trung ương đến địa phương về hoạt động của Quỹ BLTD còn mang tính thử

nghiệm nên dẫn đến triển khai còn thận trọng. Chưa có chính sách hỗ trợ Quỹ

BLTD trong việc hạn chế rủi ro, xử lý rủi ro; cũng như chưa có chính sách quy định

rõ ràng về chế độ trách nhiệm của cán bộ quản lý điều hành Quỹ BLTD trong

97

trường hợp xảy ra rủi ro thiếu hụt vốn do các khoản nợ không trả được của các

doanh nghiệp.

Về quy định nghiệp vụ bảo lãnh chưa phù hợp, do thực tế nhu cầu của bảo

lãnh của các DNNVV là rất lớn và rất đa dạng như: BLTD (vay vốn), bảo lãnh dự

thầu, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh nộp thuế, bảo lãnh

hoàn tiền ứng trước, bảo lãnh đối ứng, bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm

.v.v… Tuy nhiên, hiện nay quy định nghiệp vụ của Quỹ BLTD chỉ đơn thuần là

BLTD để các doanh nghiệp vay vốn tại các TCTD, chức năng này phụ thuộc nhiều

vào chính sách hạn chế tăng trưởng tín dụng của Ngân hàng Nhà nước, vì thế đã hạn

chế rất lớn việc hỗ trợ các nhu cầu cần thiết khác cho các DNNVV hoạt động.

Mục tiêu hoạt động của Quỹ BLTD theo hướng phi lợi nhuận với mức phí

thu thấp (là 0,5%/năm của số tiền bảo lãnh) trong khi mục tiêu đầu tư của các tổ

chức tín dụng và doanh nghiệp là lợi nhuận, do vậy việc kêu gọi góp vốn nhằm gia

tăng vốn điều lệ từ các ngân hàng và các doanh nghiệp rất khó khăn.

Về cơ chế phối hợp chưa thực sự hiệu quả, còn mang tính cục bộ, chưa thống

nhất, nên còn nhiều NHTM chưa nắm rõ hoạt động BLTD cho DNNVV nói chung

và hoạt động của Quỹ BLTD nói riêng. Do vậy, việc mở rộng hoạt động BLTD gặp

nhiều khó khăn.

Thứ hai, mô hình hoạt động Quỹ BLTD chưa phù hợp: Qua thực tiễn thực

hiện mô hình Quỹ BLTD cho thấy mô hình hoạt động độc lập có nhiều ưu điểm và

hiệu quả hơn so với mô hình giao cho các Quỹ hỗ trợ phát triển địa phương quản lý

và điều hành. Điều này được thể hiện ở các mặt sau:

- Có bộ máy quản lý và điều hành hoàn chỉnh.

- Có bộ máy nghiệp vụ, hoạt động tác nghiệp phù hợp.

- Trách nhiệm quản lý và điều hành cụ thể cho ban điều hành.

- Thực hiện nhiệm vụ tập trung vào trợ giúp phát triển và BLTD cho các

DNNVV.

- Có chương trình hành động, kế hoạch hoạt động chi tiết và điều hành sát

với diễn biến thực tế tại địa phương.

98

- Dễ thu hút và cân đối được các nguồn lực để đáp ứng nhu cầu BLTD

cho các DNNVV trên địa bàn.

- Nâng cao chất lượng BLTD và quản lý hoạt động BLTD. Bên cạnh đó,

mở rộng thêm các hoạt động trợ giúp cho các DNNVV như phối hợp cùng các

NHTM để giúp các DNNVV tiếp cận vốn tín dụng, tư vấn để lựa chọn phương

án đầu tư thích hợp,…

Việc các quỹ BLTD địa phương chưa được tổ chức theo mô hình độc lập mà

trực thuộc Quỹ hỗ trợ phát triển địa phương thì việc quản lý và điều hành chưa thực

sự phát huy hết vai trò của mình trong việc trợ giúp DNNVV phát triển. Quỹ BLTD

không phát triển được vì: thiếu tính chủ động, ban điều hành không chuyên trách,

phải cân đối với lợi ích chung của Quỹ hỗ trợ phát triển địa phương; nghiệp vụ

chuyên môn ít được chú trọng phát triển; tâm lý của cán bộ làm việc cho Quỹ

BLTD không ổn định, giảm bớt nhiệt huyết và tính sáng tạo, do luôn có sự so sánh

về lợi ích với các cán bộ làm việc trong Quỹ hỗ trợ phát triển địa phương. Việc các

Quỹ BLTD “ẩn mình” sau Quỹ hỗ trợ phát triển địa phương cũng có thể làm cho

DNNVV khó nhận biết hoạt động của Quỹ.

Mặt khác, với số lượng các DNNVV hiện nay ở Việt Nam (khoảng 500.000

doanh nghiệp), nếu chỉ có Quỹ BLTD do nhà nước thành lập sẽ không đáp ứng

được nhu cầu vốn rất lớn của doanh nghiệp. Thực tế, các quốc gia trên thế giới đã

tồn tại ba mô hình Quỹ BLTD, đó là: một là do Chính phủ thành lập, hoạt động vì

mục tiêu phi lợi nhuận (hiện nay ở Việt Nam); hai là do các tổ chức hiệp hội thành

lập (vốn hoạt động của Quỹ BLTD do các thành viên trong tổ chức hiệp hội đóng

góp) nhằm bảo lãnh, trợ giúp các DNNVV thành viên, hoạt động phi lợi nhuận; ba

là do các tổ chức, công ty thành lập, hoạt động kinh doanh chính là bảo lãnh, trợ

giúp các doanh nghiệp, doanh thu là từ phí thu được từ hoạt động cấp BLTD và tư

vấn, trợ giúp các khách hàng là các DNNVV, hoạt động vì mục đích lợi nhuận; thực

tế trên thế giới mô hình này chiếm một tỷ lệ cấp BLTD cao nhất trong ba mô hình

kể trên.

Thứ ba, qui định về đối tượng cấp BLTD chưa phù hợp với thực tế: Quỹ

BLTD cấp BLTD cho các khách hàng có nhu cầu vay vốn các TCTD để phát triển,

99

nhưng chưa có khả năng đáp ứng các điều kiện về bảo đảm tiền vay, bao gồm các

đối tượng cụ thể sau:

- Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được xếp loại DNNVV

theo quy định của pháp luật.

- Các hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã.

- Các hộ kinh doanh theo quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15

tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh (trước đây là Nghị định

88/2006/NĐ-CP).

Trước đây, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được xếp loại

DNNVV theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ là cơ

sở sản xuất, kinh doanh độc lập đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có

vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không

quá 300 người. Hiện nay thực hiện theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày

30/06/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV thì các DNNVV được

chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động

bình quân năm tùy theo lĩnh vực. Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực

Nông, lâm nghiệp, thủy sản, Công nghiệp và xây dựng quy định quy mô tổng nguồn

vốn tối đa là 100 tỷ đồng hoặc tối đa 300 lao động. Đối với doanh nghiệp hoạt động

trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ quy định quy mô tổng nguồn vốn tối đa là 50

tỷ đồng hoặc tối đa 100 lao động.

Quy định này có những nội dung chi tiết và cụ thể cho từng lĩnh vực ngành

nghề kinh doanh, tạo điều kiện cho công tác xác định DNNVV trong trợ giúp phát

triển và BLTD. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện tại việc xác định DNNVV trong

một số trường hợp thật sự gặp nhiều khó khăn để tiến hành BLTD theo nhu cầu của

doanh nghiệp. Cụ thể như một số trường hợp:

- Các doanh nghiệp có số lao động rất ít, dưới 100 lao động, nhưng quy mô

vốn rất cao, hoạt động SXKD và đầu tư các dự án nhiều ngàn tỷ đồng, nhưng có

nhu cầu BLTD. Trong trường hợp này các nhà quản lý thường dè dặt trong xét chọn

đối tượng BLTD.

100

- Khi tính theo quy mô tổng nguồn vốn, các doanh nghiệp có vốn điều lệ

dưới 50 tỷ, hoặc dưới 100 tỷ, nhưng xét đến tổng nguồn vốn lại vượt quy định.

Trong khi số lao động lại vượt quá yêu cầu, nhất là trong lĩnh vực sản xuất hàng

may mặc.

- Quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm tăng, giảm theo

thời gian, nên từng thời điểm phải xác định lại đối tượng DNNVV. Có những doanh

nghiệp khi xét theo tiêu thức nguồn vốn là DNNVV nhưng vài ngày sau trở thành

doanh nghiệp lớn hoặc ngược lại.

Thứ tư, qui định về điều kiện để được cấp BLTD chưa thông thoáng cho

DNNVV: Theo qui định, để được cấp BLTD, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều

- Thuộc đối tượng và phạm vi được bảo lãnh quy định.

kiện sau:

- Có dự án đầu tư, phương án SXKD khả thi, có khả năng hoàn trả vốn vay

đúng hạn, có vốn tự có tham gia tối thiểu 10% tổng giá trị dự án đầu tư.

- Có tổng giá trị tài sản để thế chấp, cầm cố tại TCTD theo quy định của

pháp luật tối thiểu bằng 30% giá trị khoản vay.

- Không có các khoản nợ đọng thuế, nợ vay quá hạn tại các TCTD hoặc tổ

chức kinh tế khác tại thời điểm cấp BLTD.

- Các trường hợp cá biệt khác, doanh nghiệp không hội đủ điều kiện trên

nhưng xét thấy cần thiết phải hỗ trợ BLTD để vay vốn, tạo điều kiện cho doanh

nghiệp phát triển thì Giám đốc Quỹ trình Hội đồng quản lý Quỹ để báo cáo Ủy ban

nhân dân địa phương xem xét quyết định.

Theo điều kiện này, nhiều DNNVV gặp khó khăn về tài sản thế chấp, cầm cố

tại TCTD, chưa đáp ứng bằng 30% giá trị khoản vay, nên chưa thể thực hiện BLTD.

Nếu như vận dụng điều kiện BLTD theo Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg ngày

21/01/2009 của Chính phủ, ban hành Quy chế bảo lãnh cho DNNVV vay vốn của

NHTM là sử dụng 100% giá trị tài sản hình thành từ vốn vay (tối đa 90%) và vốn

chủ sở hữu (tối thiểu 10%) để thế chấp bảo đảm bảo lãnh tại Bên bảo lãnh, thì sẽ

mở rộng BLTD cho rất nhiều DNNVV. Tuy nhiên, nếu vận dụng hiện nay theo

Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg ngày 10/01/2011 của Chính phủ, Ban hành Quy

101

chế bảo lãnh cho DNNVV vay vốn tại NHTM đã thay thế Quyết định số

14/2009/QĐ-TTg ngày 21/01/2009 của Chính phủ, Ban hành Quy chế bảo lãnh cho

DNNVV vay vốn của ngân hàng thương đã giới hạn mức BLTD từ 90% xuống còn

85% (vốn chủ sở hữu DNNVV tham gia phải tăng từ 10% lên 15%) đã làm giảm số

lượng đối tượng được BLTD, nên tại thời điểm này việc xem xét từng trường hợp

BLTD cũng gặp nhiều khó khăn.

Thứ năm, qui định về mức cấp BLTD tối đa chưa phù hợp: Theo qui định tại

Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 201/12/2001 của Chính phủ: “Quỹ BLTD

chỉ cấp BLTD tối đa bằng 80% phần chênh lệch giữa giá trị khoản vay và giá trị tài

sản thế chấp, cầm cố của khách hàng tại TCTD.

Mức BLTD tối đa cho một khách hàng không vượt quá 15% vốn chủ sở hữu của

Quỹ BLTD” [22].

Quy định cấp BLTD tối đa bằng 80% phần chênh lệch giữa giá trị khoản vay

và giá trị tài sản thế chấp đã làm cho công tác BLTD cho các DNNVV gặp khó

khăn vì trên thực tế có nhiều DNNVV có phương án SXKD tốt nhưng không có tài

sản thế chấp. Hoặc có tài sản thế chấp nhưng chỉ được bảo lãnh tối đa 80% giá trị

chênh lệch giữa khoản vay và tài sản thế chấp đã làm cho DNNVV không tiếp cận

được với nguồn vốn của các TCTD. Từ đó đã làm hạn chế vai trò của Quỹ BLTD

trong thời gian qua.

Đối với DNNVV trong quá trình thực hiện cũng gặp phải khó khăn là luôn bị

thiếu hụt một khoản vốn khi thực hiện một dự án.

Ví dụ: Doanh nghiệp xây dựng dự án cần vay 10 tỷ đồng, doanh nghiệp có

tài sản thế chấp là 3 tỷ đồng mới được xét cấp BLTD. Sau đó, Quỹ chỉ bảo lãnh 5,6

tỷ đồng ((10 tỷ đồng - 3 tỷ đồng)*80%). Tổng số vốn doanh nghiệp có thể vay ngân

hàng là 8,6 tỷ đồng (3 tỷ đồng + 5,6 tỷ đồng), số vốn còn thiếu cần thiết cho dự án

là 1,4 tỷ đồng. Ngoài ra, để có được tài sản thế chấp được ngân hàng đánh giá là 3

tỷ đồng thì giá trị thực trên thị trường của tài sản đó 5 tỷ đồng (ngân hàng chỉ cho

vay khoảng 60% tài sản thế chấp) [22].

Thứ sáu, chưa thành lập được hệ thống Quỹ BLTD từ Trung ương đến địa

phương: Hiện nay, các địa phương phải tự đứng ra thành lập Quỹ BLTD theo qui

102

định, thế nhưng nhiều Tỉnh/thành không có đủ nguồn vốn điều lệ tối thiểu 30 tỷ

đồng để thành lập do ngân sách Tỉnh/thành không có; hơn nữa việc kêu gọi vốn góp

từ các NHTM cũng gặp nhiều khó khăn do mục đích hoạt động của Quỹ là phi lợi

nhuận.

Thứ bảy, chưa thành lập được các cụm liên kết các DNNVV trong các lĩnh

vực khác nhau: Cụm liên kết ngành tạo ra sự thay đổi về quy mô sản xuất. Khi các

doanh nghiệp tham gia vào cụm, họ đã liên kết với nhau làm thành mạng lưới. Các

doanh nghiệp tập trung thành cụm sẽ dễ dàng thu hút khách hàng và các nhà cung

ứng. Khách hàng, các nhà lắp ráp chẳng hạn, thường không chú ý nếu doanh nghiệp

hoạt động riêng lẻ, nhưng khi một loạt các doanh nghiệp tập trung sản xuất một loại

hàng hoá thì thị trường của sản phẩm đó dần dần được hình thành. Khi các doanh

nghiệp liên kết với nhau theo hình thức cụm, việc chia sẻ nhân công sẽ thuận tiện

hơn và doanh nghiệp dễ dàng tìm được lực lượng lao động cần thiết. Cụm liên kết

ngành cũng giúp cho doanh nghiệp có thể tăng năng suất khi chia sẻ kinh nghiệm về

kỹ thuật, công nghệ, về tổ chức quản lý sản xuất. Các doanh nghiệp cũng có thể

giảm chi phí đầu vào khi chia sẻ các đơn hàng nguyên phụ liệu, giảm thiểu tối đa

các chi phí do thiếu thông tin hoặc bị ép giá. Bên cạnh đó, cụm cũng giúp doanh

nghiệp đa dạng hoá sản phẩm, cải thiện năng lực kỹ thuật, nhân lực, tăng cường tiếp

cận thị trường, tạo khả năng tiếp xúc với các khách hàng lớn. Ở quy mô phát triển

hơn, các Cụm liên kết ngành có thể phát triển thành các khu công nghiệp chuyên

cung cấp linh kiện, như: linh kiện cơ khí, linh kiện nhựa, linh kiện điện tử…

- Các cấp quản lý nhà nước chưa quan tâm đúng mức đến Quỹ BLTD đối

với DNNVV:

Hiện nay còn nhiều Tỉnh/thành chưa thành lập Quỹ BLTD đối với DNNVV,

có nhiều nguyên nhân khác nhau, ngoài nguyên nhân chủ yếu nhất là không có đủ

vốn điều lệ tối thiểu 30 tỷ đồng để thành lập Quỹ thì có thể kể một nguyên nhân nữa

là các cấp chính quyền địa phương chưa quyết liệt tìm nguồn vốn để cho ra đời Quỹ

BLTD ở địa phương mình. Lý do là các cấp chính quyền địa phương chưa thấy

được lợi ích của việc hỗ trợ các DNNVV phát triển, họ vẫn còn có tâm lý coi nhẹ sự

đóng góp của loại hình doanh nghiệp này ở địa phương.

103

2.3.3.2. Về phía Quỹ Bảo lãnh tín dụng

Thứ nhất, cơ cấu tổ chức của một số Quỹ BLTD chưa hợp lý: Các Quỹ

BLTD được tổ chức theo mô hình có Hội đồng Quản lý và Ban điều hành. Tuy

nhiên, hầu hết thành viên Hội đồng quản lý và Ban điều hành của Quỹ là cán bộ

kiêm nhiệm của UBND và các Sở, Ban ngành của địa phương. Các Quỹ BLTD giao

cho Quỹ hỗ trợ phát triển địa phương thì lãnh đạo của các tổ chức này sẽ kiêm Giám

đốc Quỹ BLTD, một phòng chức năng của các tổ chức sẽ kiêm xử lý các hoạt động

của Quỹ BLTD. Cán bộ chuyên môn của các Quỹ chủ yếu được điều động từ các

Sở, Ban ngành của tỉnh, chủ yếu là có chuyên môn về quản lý tài chính nhà nước.

Với cơ cấu Hội đồng Quản lý và Ban điều hành như hiện nay đã gây khó

khăn lớn cho các Quỹ BLTD tại các địa phương phát triển và mở rộng hoạt động.

Do Hội đồng quản lý và Ban điều hành của Quỹ thiếu thời gian tập trung chỉ đạo,

bám sát công tác để điều hành, quản lý công tác hàng ngày tại Quỹ. Mặt khác, nhân

sự phần lớn kiêm nhiệm có chuyên môn về quản lý tài chính nhà nước, nhưng

chuyên môn về tín dụng và bảo lãnh là rất thấp so với yêu cầu cần phát triển.

Thứ hai, vốn điều lệ của Quỹ BLTD chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu BLTD

cho các DNNVV: Thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tham gia góp

vốn vào Quỹ BLTD đối với các NHTM thực hiện chưa rõ ràng, theo văn bản số

1070/NHNN-TD ngày 3/10/2002; Thông tư số 01/2006/TT-NHNN ngày

20/02/2006 của Thống đốc NHNN về việc yêu cầu các NHTM tham gia góp vốn

vào Quỹ BLTD nhưng hiện nay hầu hết các NHTM chưa góp vốn vào Quỹ BLTD.

Nguyên do là về phía các NHTM, các ngân hàng này cho rằng Quỹ BLTD hoạt

động không vì mục tiêu lợi nhuận nên cần phải cân nhắc kỹ lợi ích khi tham gia góp

vốn, vì vốn góp sẽ không tạo ra thu nhập. Ngoài ra, việc các NHTM dùng vốn điều

lệ và Quỹ dự trữ để góp vào Quỹ cũng rất khó khăn, vì với số lượng Quỹ BLTD tại

tất cả các tỉnh, thành phố thì tổng nguồn vốn cần góp cũng là con số rất lớn so với

khả năng của các NHTM. Mặt khác, chưa có qui định của Chính phủ về việc rút

vốn, chuyển nhượng vốn góp của các tổ chức, cá nhân sau khi tham gia góp vốn.

Phần lớn các Quỹ BLTD có mức vốn điều lệ đăng ký từ 30 tỷ đồng đến 50 tỷ

đồng, nhưng việc góp vốn gặp nhiều khó khăn và hầu hết chỉ hoạt động bằng nguồn

104

vốn ngân sách tại địa phương cấp, nên nhiều Quỹ BLTD chưa góp đủ vốn điều lệ.

Riêng Quỹ BLTD TP. HCM là Quỹ BLTD có mức vốn điều lệ lớn nhất tại các địa

phương hiện nay, với mức vốn điều lệ gần 195 tỷ đồng đã tạo điều kiện cho đơn vị

này phát triển nhanh hoạt động của mình trong những năm vừa qua.

Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay mức vốn điều lệ như nêu trên chưa thực

sự phù hợp với nhu cầu của các DNNVV trên các địa bàn. Nguyên do, theo như quy

định, mức BLTD cho một doanh nghiệp không được vượt quá 15% vốn chủ sở hữu

của Quỹ BLTD. Như vậy, với mức vốn chủ sở hữu từ 30 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng chỉ

có thể BLTD tối đa 4,5 tỷ đồng đến 7,5 tỷ đồng, hay với mức vốn chủ sở hữu đạt

gần 195 tỷ đồng (như Quỹ BLTD TP. HCM), cũng chỉ có thể BLTD ở mức tối đa

khoảng 29 tỷ đồng cho một doanh nghiệp. Trong khi, giá trị đầu tư của các dự án,

phương án mỗi năm đều tăng cao do trượt giá trong 10 năm qua (đặc biệt trong 4

năm gần đây tốc độ lạm phát gia tăng cao), thì mức vốn điều lệ cho hoạt động của

Thứ ba, Quỹ BLTD chưa phát huy hết vai trò tư vấn, hoạt động phối hợp để

các Quỹ BLTD chưa thể đáp ứng được nhiều nhu cầu của các DNNVV hiện nay.

góp phần trợ giúp các DNNVV phát triển: Các Quỹ BLTD tại các địa phương phần

lớn thực hiện các chức năng:

- Cấp BLTD cho các DNNVV theo đúng đối tượng, đúng quy định hiện hành

và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

- Thu hút vốn góp của các TCTD, các doanh nghiệp, các hiệp hội ngành

nghề, các tổ chức đại diện và hỗ trợ cho các DNNVV; cũng như thu hút vốn tài trợ

hợp pháp của các tổ chức, cá nhân (kể cả vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA)

trong và ngoài nước cho mục tiêu phát triển các DNNVV.

Riêng đối với Quỹ BLTD TP.HCM ngoài thực hiện các chức năng trên, còn

tiến hành đồng bộ các chức năng:

- Tư vấn về đầu tư - tài chính và đào tạo nguồn nhân lực, nhằm hỗ trợ các

DNNVV phát triển.

- Phối hợp các TCTD, các hiệp hội ngành nghề, tạo điều kiện cho các

DNNVV tiếp cận các nguồn vốn của các TCTD.

- Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Ủy ban nhân dân Thành phố giao.

105

Hoạt động tư vấn, hoạt động phối hợp và thực hiện các nhiệm vụ khác do Ủy

ban giao là những hoạt động tác động tích cực, góp phần thúc đẩy cho hoạt động

BLTD gia tăng, nâng cao chất lượng và hiệu quả BLTD. Tuy nhiên, các quỹ BLTD

địa phương hiện nay vẫn chưa phát huy hết vai trò tư vấn, hoạt động phối hợp để

góp phần trợ giúp các DNNVV phát triển.

Thứ tư, qui trình thẩm định tín dụng chưa đồng bộ: Các Quỹ BLTD tại từng

địa phương có trách nhiệm xây dựng Quy trình thẩm định tính hiệu quả của dự án

đầu tư, phương án SXKD của khách hàng; vì nếu có một quy trình thẩm định rõ

ràng để tuân thủ, các Quỹ có thể đáp ứng nhu cầu cho các DNNVV một cách khách

quan hơn, cung ứng vốn cho đúng đối tượng hơn.Tuy nhiên, việc để cho mỗi địa

phương tự xây dựng riêng cho mình quy trình thẩm định đã làm cho công tác quản

lý chung về hoạt động BLTD của nhà nước gặp khó khăn. Đối với doanh nghiệp

cũng gặp khó khăn vì có thể họ đã quen với qui trình thẩm định ở địa phương này

nhưng khi qua địa phương khác lại có qui trình khác đi gây mất thời gian và chi phí

cho doanh nghiệp.

Thứ năm, hoạt động phối hợp của Quỹ BLTD còn thụ động, và chưa đồng

bộ: Hoạt động phối hợp của Quỹ BLTD với các tổ chức, hiệp hội, các TCTD, các

DNNVV là một hoạt động không thể thiếu trong suốt quá trình hoạt động của Quỹ

BLTD, không những có tác động tích cực cho hoạt động BLTD, mà còn góp phần

quan trọng vào trợ giúp phát triển các DNNVV; đồng thời, tăng cường phối hợp là

một trong những hoạt động hàng đầu của các Quỹ BLTD hiện nay. Tuy nhiên, hoạt

động phối hợp của Quỹ BLTD với các tổ chức, hiệp hội, các TCTD, các DNNVV

vẫn còn những hạn chế, tồn tại nhất định. Sau đây là những hạn chế, tồn tại trong

thời gian qua:

+ Quỹ BLTD vẫn còn nhiều thụ động, chưa tích cực tìm đến doanh nghiệp:

Mặc dù Quỹ BLTD trong thời gian vừa qua đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để thông tin

trên các phương tiện đại chúng về mục đích, nhiệm vụ và vai trò của mình; tuy

nhiên, công tác này vẫn mang tính phong trào, hình thức, chưa thực hiện thường

xuyên. Quỹ BLTD phải có những chương trình quảng bá hình ảnh của mình một

106

cách thường xuyên, liên tục sao cho khi DNNVV gặp khó khăn về vốn là họ nghĩ

ngay đến Quỹ BLTD.

+ Hoạt động phối hợp chưa đồng bộ: Hoạt động phối hợp giữa Quỹ BLTD

với các TCTD vẫn chưa đồng bộ, nhiều TCTD còn nghi ngờ về năng lực cũng như

hiệu quả hoạt động của Quỹ nên chưa mạnh dạn trong việc phối hợp thẩm định hồ

sơ của DNNVV để cấp tín dụng. Một số trường hợp, Quỹ BLTD đã thẩm định hồ sơ

của doanh nghiệp nhưng khi đến TCTD, DNNVV vẫn phải mất thời gian để TCTD

thẩm định lại hồ sơ, từ đó làm cho DNNVV cảm thấy thủ tục hành chính rườm rà,

khó tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng.

+ Hoạt động phối hợp chưa đa dạng: Khi nói về vai trò của Quỹ BLTD, thì

ngoài nhiệm vụ cơ bản nhất là cấp BLTD, Quỹ BLTD còn có vai trò, trong việc tạo

cơ chế khuyến khích và dành một số dự án hỗ trợ kỹ thuật để tăng cường năng lực

cho các tổ chức tài chính phù hợp nhằm mở rộng tín dụng cho DNNVV; đa dạng

hóa các sản phẩm, dịch vụ, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ về tư vấn tài chính, quản lý

đầu tư và các dịch vụ hỗ trợ khác cho các DNNVV. Tuy nhiên, thực tế cho thấy,

phần lớn hoạt động của các Quỹ BLTD hiện nay là tập trung vào phối hợp trợ giúp

các DNNVV lập phương án SXKD, các dự án đầu tư, hướng dẫn, phỗ biến thông tin

pháp luật, chủ trương, chính sách của Nhà nước,.... Chính vì vậy, trong tương lai,

các Quỹ BLTD cần phát triển các hoạt động phối hợp đa dạng hơn nữa, như: cung

cấp các thông tin giúp các DNNVV nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật

thông qua chương trình hỗ trợ nghiên cứu, phát triển công nghệ sản xuất các sản

phẩm mới, chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản

xuất.; Giới thiệu, cung cấp thông tin về công nghệ, thiết bị cho các DNNVV, hỗ trợ

đánh giá, lựa chọn công nghệ,,…

Thứ sáu, việc xây dựng niềm tin dựa trên khả năng thực hiện các nghĩa vụ cam

kết của Quỹ BLTD đối với các TCTD chưa cao: Nhiều CBTD còn nghi ngờ về sự

tồn tại của Quỹ BLTD. Do hiện nay chỉ mới có một số ít địa phương thành lập Quỹ

BLTD, các địa phương khác chưa thành lập do nhiều lý do khác nhau, trong đó chủ

yếu là không có đủ số vốn ban đầu 30 tỷ đồng. Điều này đã làm cho một bộ phận

CBTD không tin tưởng vào sự hoạt động của Quỹ, thậm chí nghi ngờ sự tồn tại của

107

Quỹ nên không tích cực tham gia trong công tác phối hợp. Mặt khác, do một số Quỹ

BLTD tại các địa phương, cán bộ không có trình độ chuyên môn nhất định trong

lĩnh vực tài chính ngân hàng nên việc thẩm định hồ sơ chưa chuẩn xác làm cho các

TCTD không tin tưởng vào Quỹ BLTD.

Việc xử lý nợ xấu của các DNNVV được cấp BLTD đã phát sinh nhiều mâu

thuẫn giữa ngân hàng thương mại và Quỹ BLTD: Trong quá trình thẩm định hồ sơ

xin vay vốn của DNNVV, doanh nghiệp chịu sự thẩm định rất chặt chẽ của Ngân

hàng và Quỹ BLTD. Sau khi DNNVV đã đảm bảo đủ điều kiện theo qui định của cả

ngân hàng và Quỹ BLTD thì các bên tiến hành ký kết hợp động BLTD.

Theo thỏa thuận trong hợp đồng BLTD thì Quỹ BLTD có quyền ngưng bão

lãnh khi doanh nghiệp vi phạm hợp đồng, tuy nhiên cần phải có sự đồng ý của ngân

hàng cho vay, điều này đã gây ra mâu thuẫn giữa Quỹ BLTD và ngân hàng thương

mại vì doanh nghiệp vi phạm hợp đồng đến mức độ nào thì mới ngưng bão lãnh,

ngoài ra quan điểm về vi phạm hợp đồng của Quỹ BLTD và ngân hàng thương mại

lại có thể khác nhau.

Việc thực hiện nghĩa vụ BLTD của Quỹ BLTD cũng không rõ ràng, khi có

phát sinh nghĩa vụ bão lãnh do doanh nghiệp không thanh toán tiền lãi và vốn gốc

đúng hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, thì ngân hàng sẽ gửi thông báo

đề nghị Quỹ BLTD thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, khi đó Quỹ BLTD sẽ thực hiện

việc xác minh các điều kiện và phải cho ngân hàng biết có chấp nhận hay không.

Việc chấp nhận hay không chấp nhận thực hiện nghĩa vụ bão lãnh là vấn đề lớn và

đầy tranh cãi giữa Quỹ BLTD và ngân hàng thương mại, Quỹ BLTD thường sẽ yêu

cầu ngân hàng thương mại thực hiện tất cả các biện pháp để thu hồi nợ trong đó có

biện pháp khởi kiện ra tòa, tuy nhiên, đây là biện pháp mà ngân hàng không mong

muốn vì mất rất nhiều thời gian và công sức, chưa kể việc thắng kiện thì doanh

nghiệp có trả được nợ hay không, nếu doanh nghiệp vẫn không trả được nợ thì Quỹ

BLTD có thực hiện nghĩa vụ của mình không.

Ngoài ra quy trình phối hợp xử lý nợ giữa Quỹ BLTD, DNNVV và ngân hàng

thương mại còn nhiều thủ tục rườm rà, gây mất thời gian của các bên, chính vì vậy

108

mà một số ngân hàng thương mại rất ngại cho vay đối với các DNNVV thông qua

hình thức bão lãnh tín dụng này.

2.3.3.3. Về phía các Tổ chức tín dụng

Thứ nhất, TCTD chưa quan tâm đúng mức đến các khách hàng là DNNVV:

Nhiều TCTD vẫn xem DNNVV là đối tượng cần phải thận trọng trong việc thẩm

định tín dụng vì loại hình doanh nghiệp này tiềm ẩn nhiều rủi ro, tài chính không

minh bạch; nghĩa là họ chỉ quan tâm đến những mặt hạn chế của loại hình doanh

nghiệp này, rất ít CBTD quan tâm đến những mặt mạnh của DNNVV để có cái nhìn

thiện cảm hơn trong việc thẩm định tín dụng; hơn nữa tâm lý hiện nay của hầu hết

các CBTD là vẫn chưa xem các DNNVV được cấp BLTD có rủi ro bằng không

phần trăm (0%) nên thường thoả thuận với doanh nghiệp một tỷ lệ lãi suất cho vay

cao hơn các loại hình doanh nghiệp khác. Điều này đã gây cho DNNVV có tâm lý

là thủ tục ở NHTM còn nhiều rườm rà, nhiêu khê, NHTM không quan tâm đúng

mức đến mình.

Thứ hai, thiếu sự tác động, thúc đẩy của NHNN: để cho các TCTD tham gia

phối hợp với Quỹ BLTD thì việc tác động, chỉ đạo thường xuyên của NHNN sẽ tác

động rất lớn đến các TCTD tham gia tích cực trong hoạt động phối hợp;

Thứ ba, nhiều TCTD chưa nắm rõ hoạt động của Quỹ BLTD: Mặc dù các

Quỹ BLTD đã được thành lập và hoạt động tương đối hiệu quả, góp phần trợ giúp

các DNNVV phát triển nhưng hiện nay nhiều TCTD (đặc biệt là các NHTM tư

nhân) vẫn chưa nắm rõ hoạt động và mục đích của Quỹ nên chưa tham gia phối

hợp.

Thứ tư, lãi suất cho vay chưa phân biệt giữa doanh nghiệp đã được BLTD

và các doanh nghiệp khác: lãi suất cho vay đối với khoản vay BLTD chưa có quy

định cụ thể. Theo Quyết định 60/2009/QĐ-TTg, Ngân hàng nhà nước phải hướng

dẫn và có cơ chế để tạo điều kiện cho các NHTM áp dụng mức lãi suất cho vay có

bảo lãnh thấp hơn lãi suất cho vay thông thường của NHTM, nhằm đảm bảo tính ưu

đãi về lãi suất cho vay thực tế đối với doanh nghiệp. Như vậy, nhà nước mới chỉ

khuyến khích ngân hàng cho vay thấp hơn chứ chưa có quy định cụ thể. Điều này

bề ngoài được coi là linh hoạt, nhưng lại khiến cho nhiều doanh nghiệp thiếu cơ sở

109

để được vay vốn với chi phí sử dụng vốn thấp, nhất là trong điều kiện khó khăn.

Trong khi đó, ngoài lãi suất vay phải chịu với NHTM như trên, doanh nghiệp phải

chịu thêm mức phí bảo lãnh tối đa bằng 0,5%/năm/số tiền được bảo lãnh vay vốn.

Đây là khoản chi phí không nhỏ làm cho lãi suất mà doanh nghiệp (trong đó có các

DNNVV đang gặp khó khăn về tài chính) phải gánh lên cao.

2.3.3.4. Về phía bản thân các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ngoài những nguyên nhân nêu trên có liên quan trực tiếp đến bản thân Quỹ

BLTD, còn một số nguyên nhân khác liên quan đến bản thân các DNNVV, có thể

nêu một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, tình hình tài chính của một số doanh nghiệp yếu kém và thiếu minh

bạch: Qui mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm

chung của hầu hết các DNNVV ở Việt Nam cũng như thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn

chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực. Do vậy, sổ sách

kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho Ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính hình

thức hơn là thực chất. Khi cán bộ Quỹ BLTD lập các bảng phân tích tài chính của

doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực

tế và xác thực. Đây cũng là nguyên nhân vì sao Ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần

tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để thu hồi tài sản.

Thứ hai, hầu hết các DNNVV không có nhân viên có khả năng lập được

phương án SXKD tốt: đa số các chủ doanh nghiệp nhỏ thường không có nhiều kiến

thức về lĩnh vực tài chính, quản trị kinh doanh. Họ thường thuê những người làm kế

toán có trình độ thấp vì ngại việc trả lương, thậm chí không ít các doanh nghiệp

thuê người làm dịch vụ kế toán hàng tháng họ chỉ đến vài ngày. Do đó, khi muốn

vay vốn ngân hàng thì họ không có khả năng lập được dự án kinh doanh tốt. Các

DNNVV khi lập phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, dự án còn mang nặng

tính chủ quan, áp đặt của lãnh đạo doanh nghiệp, hoặc dựa trên kinh nghiệm thuần

tuý. Nội dung của phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư đôi khi

được thiết lập sơ sài. Do vậy, thiếu tính thuyết phục ngân hàng khi xem xét thẩm

định cho vay.

110

Thứ ba, nhiều DNNVV chưa biết sự tồn tại của Quỹ BLTD: Do hiện nay chỉ

mới có một số ít địa phương thành lập Quỹ BLTD, các địa phương khác chưa thành

lập do nhiều lý do khác nhau, trong đó chủ yếu là không có đủ số vốn ban đầu 30 tỷ

đồng. Sự thành lập quá ít Quỹ BLTD địa phương đã làm cho các DNNVV không

biết có sự tồn tại của Quỹ hoặc biết nhưng không biết các sản phẩm của Quỹ là

những gì; thậm chí một bộ phận CBTD không tin tưởng vào sự hoạt động của Quỹ,

nghi ngờ sự tồn tại của Quỹ nên không tích cực tham gia trong công tác phối hợp để

cấp BLTD.

Thứ tư, khả năng liên kết của DNNVV ở Việt Nam hiện nay rất yếu: Một

trong những điểm yếu khác của các DNNVV là mối liên kết rất hạn chế. Điều này

thể hiện cả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh lẫn năng lực tạo dựng một tiếng

nói chung có thể mang lại lợi ích chung cho cộng đồng. Ngoài ra, khả năng quản lý,

nhận biết về kinh doanh, văn hóa kinh doanh, trình độ xúc tiến và quảng bá thương

mại cũng như lao động hoạt động trong nhiều DNNVV cũng rất hạn chế.

Thứ năm, hạn chế về năng lực quản trị doanh nghiệp: Nhiều DNNVV bị hạn

chế về năng lực quản trị doanh nghiệp, mặc dù loại hình doanh nghiệp này rất năng

động nhưng thiếu chiến lược kinh doanh nên khi có sự cố tác động từ bên ngoài hay

bên trong doanh nghiệp thì thiếu sự chủ động, thiếu giải pháp kịp thời để giải quyết

vấn đề. Kỹ năng phân tích thị trường, phân tích sản phẩm còn hạn chế nên năng lực

cạnh tranh chưa cao, sản phẩm làm ra chất lượng còn thấp, mẫu mã còn nghèo nàn

và sao chép ... từ khả năng tiếp cận thị trường bị hạn chế nên sản phẩm khó có khả

năng cạnh tranh cao với sản phẩm nước ngoài.

Thứ sáu, tuân thủ pháp luật chưa nghiêm: Do công tác tổ chức điều hành

quản trị còn hạn chế, còn mang tính gia đình, đa số đều từ cảm tính nên chưa quen

với việc sử dụng dịch vụ tư vấn. Vì vậy, các báo cáo tài chính còn sơ sài, chưa minh

bạch, số liệu chưa chính xác còn mang tính đối phó, ý thức chấp hành luật thuế

chưa cao, … nên chưa tạo được niềm tin đối với các tổ chức tín dụng. Từ thực tiễn

còn cho thấy nguồn vốn của các DNNVV thường được huy động phi chính thức nên

chi phí trả lãi vay lớn chiếm tỷ trọng cao trong giá thành và mức độ rủi ro cao; sử

dụng vốn vay sai mục đích; mức vốn điều lệ tối thiểu không đủ. Vấn đề chấp hành

111

luật pháp, các chính sách của Nhà nước,chưa được xem trọng nên dẫn đến sai sót

trong quá trình điều hành quản lý, chưa có sự minh bạch về tài chính, chưa có sự

khai báo thuế nghiêm túc, để thua lỗ kéo dài, phát sinh nợ quá hạn, nợ xấu …

2.3.3.5. Về phía các Tổ chức hiệp hội

Các hiệp hội doanh nghiệp đã và đang rất tích cực triển khai các hoạt động

hỗ trợ các doanh nghiệp thành viên phát triển. Hoạt động của các Hiệp hội ngày

càng phong phú hướng tới chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm sử dụng các công cụ

quản lý hiện đại như tổ chức hội thảo, đào tạo, tư vấn, xúc tiến thương mại, xuất bản

các bản tin. Hoạt động của các Hiệp hội đã từng bước tạo được niềm tin và góp

phần vào sự phát triển của DNNVV. Một số Hiệp hội đã mở rộng mạng lưới hoạt

động tới các địa phương bằng việc thành lập các chi nhánh tại các địa phương (Hiệp

hội DNNVV Việt Nam, Hiệp hội DNNVV ngành nghề nông thôn Việt Nam, Hiệp

hội Làng nghề Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp trẻ…). Cùng với những sáng kiến

hỗ trợ của Chính phủ và các đối tác phát triển, các DNNVV Việt Nam cũng rất chủ

động trong việc tìm kiếm nguồn hỗ trợ cho chính mình. Những nỗ lực này bao gồm

việc thành lập các Hiệp hội kinh doanh nhằm mục đích hỗ trợ các thành viên vượt

qua một loạt các khó khăn, thử thách, chẳng hạn như: tiếp cận thông tin của các thị

trường nước ngoài, tổ chức các khóa đào tạo, marketing phối hợp… Hầu hết các

Hiệp hội kinh doanh được đều được hình thành đối với từng ngành nghề kinh doanh

cụ thể, ví dụ hải sản, giày dép, may mặc hoặc nhựa nhưng cá biệt có một vài hiệp

hội kinh doanh được thành lập theo địa phương, ví dụ Hiệp hội doanh nghiệp trẻ Hà

Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, quan điểm về các Hiệp hội kinh doanh

vẫn còn tương đối mới ở Việt Nam và do đó, giống như các DNNVV, các Hiệp hội

này cũng cần phải học hỏi điều tốt nhất để phát triển, và nhiều Hiệp hội kinh doanh

cho đến nay đã chứng tỏ sự phát triển vững chắc.

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cũng rất chủ động

trong việc hỗ trợ các DNNVV địa phương, thông qua hàng loạt các hoạt động và dự

án liên kết. Trong số xấp xỉ 5.000 hội viên của VCCI, có khoảng 1/3 là DNNVV.

[10].

112

Tuy nhiên, các TCHH vẫn còn một số hạn chế trong việc trợ giúp các

DNNVV phát triển như sau:

Thứ nhất, chưa có các chương trình để thu hút các doanh nghiệp tham gia:

số lượng các đơn vị thành viên tham gia còn quá ít, chưa có các chương trình nhằm

quảng bá hình ảnh nhằm thu hút sự tham gia của các DNNVV, doanh nghiệp; chưa

thấy lợi ích của việc tham gia vào các TCHH nên hoạt động còn mang tính độc lập,

thiếu sự liên kết,…

Thứ hai, chưa quan tâm đúng mức đến các đơn vị thành viên: chưa có chiến

lược lâu dài giúp đỡ các thành viên phát triển SXKD, hoạt động của các TCHH chỉ

mới dừng lại ở những việc như phỗ biến chính sách pháp luật, giới thiệu các dự án

SXKD theo qui hoạch của nhà nước,…

113

TÓM LƢỢC CHƢƠNG 2

Trong chương 2, Luận án đã tập trung nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề sau:

Thứ nhất, nghiên cứu thực trạng hoạt động của các Quỹ BLTD tại các địa

phương đã thành lập Quỹ BLTD, đưa ra những kết quả đã đạt được trong quá hoạt

động của Quỹ BLTD trong thời gian qua về mặt kinh tế cũng như về mặt xã hội. Về

mặt kinh tế: đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng cao cho DNNVV, rủi ro BLTD ở Quỹ

vẫn ở mức an toàn, doanh thu và lợi nhuận của Quỹ ngày càng cao, hiệu quả kinh

doanh của doanh nghiệp ngày càng phát triển. Về mặt xã hội là tạo việc làm cho

người lao động, nâng cao mức sống dân cư, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế-

phân công lao động giữa các vùng miền, bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường

sinh thái và mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với Quỹ BLTD ở mức cao.

Thứ hai, kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy tất cả các thang đo các khái

niệm đều đạt độ tin cậy và độ giá trị khái niệm; mô hình lý thuyết đề xuất cho

nghiên cứu phù hợp với dữ liệu thu thập; 6 yếu tố của mô hình nghiên cứu đề xuất

đều có tác động đến nhu cầu BLTD là: (1) Loại hình hoạt động của doanh nghiệp,

(2) Quy mô doanh nghiệp, (3) Thời gian hoạt động của doanh nghiệp, (4) Giá trị tài

sản cố định, (5) Động lực phát triển và (6) Niềm tin. Như vậy, các DNNVV có nhu

cầu về BLTD từ Quỹ BLTD rất lớn trong hiện tại và tương lai nhằm hỗ trợ doanh

nghiệp vượt qua những khó khăn về vốn, lao động, đối thủ cạnh tranh và phát triển

công nghệ tiên tiến.

Thứ ba, đã cho thấy được những hạn chế về các chính sách của nhà nước có liên

quan đến hoạt động của Quỹ BLTD. Luận án cũng đã nêu được những khó khăn và

hạn chế của Quỹ BLTD trong thời gian qua. Đưa ra nguyên nhân của hạn chế từ

phía các bản thân Quỹ BLTD; từ phía các DNNVV; từ phía các chính sách, pháp

luật và sự quan tâm của các cấp quản lý; và từ phía các TCHH. Do đó, việc đưa ra

các giải pháp để hoạt động của Quỹ có hiệu quả là hết sức cấp bách và cần thiết. Đó

cũng là nội dung tiếp theo của Luận án: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của

Quỹ BLTD cho các DNNVV trong thời gian tới.

114

CHƢƠNG 3

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG QUỸ BẢO

LÃNH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở

VIỆT NAM

3.1. MỤC TIÊU, ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN QUỸ BẢO LÃNH TÍN

DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NHÀ NƢỚC

3.1.1. Định hƣớng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo Nghị quyết 14-NQ/TW, Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương

Đảng Khoá IX ngày 18 tháng 03 năm 2002 về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách,

khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân thì quan điểm của Đảng về

phát triển kinh tế “Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá

nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh đều là bộ phận cấu thành

quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển

lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”.

Nhà nước tạo môi trường về pháp luật và các cơ chế, chính sách thuận lợi

cho DNNVV thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng và cạnh tranh lành

mạnh nhằm huy động mọi nguồn lực trong nước kết hợp với nguồn lực từ bên ngoài

cho đầu tư phát triển.

Phát triển DNNVV theo phương châm tích cực, vững chắc, nâng cao chất

lượng, phát triển về số lượng, đạt hiệu quả kinh tế, góp phần tạo nhiều việc làm, xoá

đói, giảm nghèo, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội; phát triển DNNVV gắn với các

mục tiêu quốc gia, các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với điều kiện của

từng vùng, từng địa phương, khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn, làng

nghề truyền thống; chú trọng phát triển DNNVV ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có

điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; ưu tiên phát triển và hỗ trợ các DNNVV do

đồng bào dân tộc, phụ nữ, người tàn tật … làm chủ doanh nghiệp; chú trọng phát

triển DNNVV đầu tư sản xuất một số lĩnh vực có khả năng cạnh tranh cao.

115

Hoạt động trợ giúp của Nhà nước chuyển dần từ hỗ trợ trực tiếp sang hỗ trợ

gián tiếp để nâng cao năng lực cho các DNNVV. Gắn hoạt động kinh doanh với bảo

vệ môi trường, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Tăng cường nâng cao nhận thức của

các cấp chính quyền về vị trí, vai trò của DNNVV trong phát triển kinh tế - xã hội.

Gắn hoạt động kinh doanh bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường

hiện tại và tương lai. Yếu tố môi trường sẽ ngày càng trở nên thách thức đối với

DNNVV bởi sự phát triển bền vững cũng như kiểm soát nghiêm ngặt của các nhà

nhập khẩu, người tiêu dùng và pháp luật.

Nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền về vị trí, vai trò của DNNVV,

phát huy vai trò các hiệp hội của DNNVV như Hiệp hội DNNVV, Liên minh HTX

Việt Nam, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, hiệp hội và Câu lạc bộ

doanh nhân, tạo ra sự đồng thuận và hài hoà lợi ích của các bên: nhà nước- hiệp hội

– DNNVV và xã hội.

Từ năm 2000 đến nay, nền kinh tế Việt Nam có nhiều chuyển biến, với

những thuận lợi và khó khăn đan xen lẫn nhau. Nước ta đã ký kết nhiều Hiệp định

hợp tác đa phương và song phương với các tổ chức quốc tế và các quốc gia trên thế

giới, đã gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007. Thực hiện các

cam kết WTO, các hiệp định song phương và đa phương sẽ tạo ra các cơ hội mở

rộng thị trường xuất khẩu, đồng thời đặt ra thách thức trong cạnh tranh quốc tế đối

với sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là DNNVV.

Nền kinh tế nước ta thời gian qua đã đạt một số thành tựu khả quan: Tốc độ

tăng trưởng kinh tế ổn định, thể chế kinh tế và chính sách quản lý đang dần hoàn

thiện, hệ thống tài chính tiền tệ hoạt động hiệu quả, nguồn nhân lực, khoa học và

công nghệ phát triển mạnh mẽ,…Tuy nhiên, nước ta vẫn còn phải đối mặt với nhiều

khó khăn thách thức như lạm phát cao, một số cân đối vĩ mô trong nền kinh tế còn

hạn hẹp, dễ bị mất cân đối bởi những đóng góp từ yếu tố khách quan bên ngoài, qui

mô nền kinh tế còn nhỏ.

Theo tiến trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp Việt

Nam phải “chơi cùng sân” với các doanh nghiệp quốc tế- có tiềm lực kinh tế, tài

chính mạnh. Nhà nước sẽ phải cắt giảm những chính sách bảo hộ đối với sản xuất

116

trong nước (bãi bỏ ưu đãi về thuế, xoá bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan,…)

và từ bỏ chính sách bao cấp. Vì vậy, việc chọn hướng đi nào cho phù hợp để vừa

phát huy những thuận lợi và hạn chế những khó khăn, nhằm phát triển kinh tế - xã

hội hướng tới mục tiêu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 [11].

Việc phát triển các DNNVV cũng không nằm ngoài định hướng này, do đó

cần tiếp tục phát triển và hỗ trợ tối đa các DNNVV phát triển, tạo mọi điều kiện

thuận lợi về chính sách, cơ chế, môi trường kinh doanh để loại hình doanh nghiệp

này tiếp tục đóng góp to lớn vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

3.1.2. Mục tiêu, yêu cầu và định hƣớng phát triển Quỹ Bảo lãnh tín dụng đối

với doanh nghiệp nhỏ và vừa của nhà nƣớc

Quỹ BLTD là một tổ chức tài chính do Nhà nước thành lập và đóng góp vốn

chủ yếu, nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua BLTD cho các

DNNVV.

Quỹ BLTD hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, ngoài hoạt động BLTD

còn tham gia vào một số hoạt động trợ giúp phát triển DNNVV thông qua tư vấn và

hướng dẫn về lập phương án SXKD, lập dự án đầu tư, hướng dẫn quản lý tài chính,

quản lý kinh doanh,...

Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ về trợ

giúp phát triển DNNVV, trong đó, trợ giúp tài chính là:

- Nhà nước khuyến khích thành lập quỹ BLTD đối với DNNVV. Bộ Tài

chính chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng cơ chế thành lập và hoạt

động của các quỹ BLTD trình Thủ tướng Chính phủ quyết định và hướng dẫn thực

hiện nghiệp vụ BLTD cho DNNVV.

- Ngân hàng Nhà nước chủ trì và phối hợp với các cơ quan liên quan trình

Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế khuyến khích, dành một số dự án hỗ trợ kỹ

thuật để tăng cường năng lực cho các tổ chức tài chính phù hợp mở rộng tín dụng

cho các DNNVV: đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với DNNVV, cung

cấp các dịch vụ hỗ trợ về tư vấn tài chính, quản lý đầu tư và các dịch vụ hỗ trợ khác

cho khách hàng là đối tượng DNNVV. Thông qua các chương trình trợ giúp đào

tạo, Nhà nước hỗ trợ các DNNVV nâng cao năng lực lập dự án, phương án SXKD

117

nhằm đáp ứng yêu cầu của TCTD khi thẩm định hồ sơ vay vốn của DNNVV. Mục

tiêu từ nay đến năm 2015 tất cả các Tỉnh/Thành phố trực thuộc Trung ương đều có

Quỹ BLTD để cấp BLTD cho các DNNVV trên địa phương mình.

3.2. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUỸ BẢO LÃNH TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM

- Xây dựng chiến lược phát triển hoạt động Quỹ BLTD dài hạn:

Các Quỹ BLTD tại mỗi địa phương cần xây dựng chiến lược phát triển hoạt

động mang tính dài hạn để làm cơ sở và tạo điều kiện phát huy tốt vai trò của Quỹ

BLTD. Việc xây dựng chiến lược cần tập trung vào các nguyên tắc và mục tiêu:

+ Chiến lược phát triển phù hợp với định hướng và chính sách phát triển

DNNVV và làm nền tảng để xây dựng kế hoạch hoạt động hàng năm;

+ Chiến lược cần thể hiện nội dung toàn diện về các mặt hoạt động, các

nguồn lực để triển khai thực hiện chiến lược, các công cụ thực hiện chiến lược phù

hợp với từng giai đoạn phát triển;

+ Phát huy được lợi thế của Quỹ BLTD là một tổ chức tài chính do Nhà nước

thành lập nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua BLTD cho các

DNNVV. Đồng thời sớm khắc phục những khó khăn, hạn chế về quy mô, nhân

lực,... để tăng cường năng lực hoạt động cho Quỹ BLTD ngày càng phát huy vai trò

của mình đối với các DNNVV;

+ Tận dụng được các cơ hội phát triển, những thuận lợi về chính sách, cũng

như hạn chế những rủi ro trong quá trình hoạt động. Trong đó chú trọng các cơ hội

ngày càng có nhiều DNNVV, các chính sách trợ giúp phát triển DNNVV càng hoàn

thiện dần và có các biện pháp hạn chế, xử lý rủi ro phù hợp như xây dựng hệ thống

quản trị rủi ro, gia tăng kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau BLTD,...

+ Định hướng chiến lược tập trung đẩy mạnh hoạt động BLTD cho các

DNNVV phù hợp với đề án cơ cấu lại hoạt động các TCTD, nhằm tạo nền tảng thúc

đẩy cho các DNNVV vay vốn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư đổi

mới máy móc thiết bị, đầu tư mới theo định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế,

chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế.

- Đa dạng hóa và hoàn thiện các sản phẩm hỗ trợ cho DNNVV:

118

Nhà nước có quy định cho phép các Quỹ BLTD tại các địa phương thực hiện

đa dạng các loại bảo lãnh như:

+ Bảo lãnh vay vốn: là cam kết của Quỹ BLTD với bên nhận bảo lãnh, về

việc sẽ trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả hoặc

không trả đầy đủ, đúng hạn nợ vay đối với bên nhận bảo lãnh.

+ Bảo lãnh thanh toán: là cam kết của Quỹ BLTD với bên nhận bảo lãnh, về

việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng trong trường hợp khách

hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình

khi đến hạn.

+ Bảo lãnh dự thầu: là cam kết của của Quỹ BLTD với bên mời thầu, để bảo

đảm nghĩa vụ tham gia dự thầu của khách hàng. Trường hợp, khách hàng phải nộp

phạt do vi phạm quy định đấu thầu mà không nộp hoặc không nộp đầy đủ tiền phạt

cho bên mời thầu thì Quỹ BLTD sẽ thực hiện thay.

+ Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của Quỹ BLTD với bên nhận bảo

lãnh, bảo đảm việc thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của khách hàng theo hợp

đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng

và phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện hoặc thực hiện

không đầy đủ thì Quỹ BLTD sẽ thực hiện thay.

+ Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm: là cam kết của của Quỹ BLTD với

bên nhận bảo lãnh, bảo đảm việc khách hàng thực hiện đúng các thoả thuận về chất

lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp

khách hàng vi phạm chất lượng sản phẩm và phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh

mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì Quỹ BLTD sẽ thực hiện thay.

+ Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước: là cam kết của Quỹ BLTD với bên nhận

bảo lãnh về việc bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước của khách hàng theo hợp

đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng

và phải hoàn trả tiền ứng trước mà không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ thì

Quỹ BLTD sẽ thực hiện thay.

+ Bảo lãnh đối ứng là cam kết của Quỹ BLTD (bên bảo lãnh đối ứng) với

bên bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính cho bên bảo lãnh, trong trường

119

hợp bên bảo lãnh thực hiện bảo lãnh và phải trả thay cho khách hàng của bên bảo

lãnh đối ứng với bên nhận bảo lãnh.

+ Xác nhận bảo lãnh là cam kết bảo lãnh của Quỹ BLTD (bên xác nhận bảo

lãnh) đối với bên nhận bảo lãnh, về việc bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo

lãnh của bên bảo lãnh đối với khách hàng.

Đây là những loại bảo lãnh đang có nhu cầu rất lớn tại nhiều DNNVV, khi

cho phép triển khai đa dạng các loại BLTD sẽ tạo điều kiện cho các Quỹ BLTD

tăng cường vai trò trong hoạt động bảo lãnh.

- Mở rộng đối tượng BLTD cho các DNNVV:

Mở rộng các đối tượng được BLTD, bao quát hết tất cả các ngành nghề, lĩnh

vực SXKD với điều kiện đảm bảo các yêu cầu có phương án SXKD, dự án đầu tư

khả thi, đảm bảo hoạt động kinh doanh có hiệu quả, hoàn vốn và đủ khả năng trả

nợ.

- Sửa đổi qui định về mức cấp bảo lãnh cho các DNNVV:

Quy định cấp BLTD tối đa bằng 80% phần chênh lệch giữa giá trị khoản vay

và giá trị tài sản thế chấp đã làm cho công tác BLTD cho các DNNVV gặp khó

khăn vì trên thực tế có nhiều DNNVV có phương án SXKD tốt nhưng không có tài

sản thế chấp. Hoặc có tài sản thế chấp nhưng chỉ được bảo lãnh tối đa 80% giá trị

chênh lệch giữa khoản vay và tài sản thế chấp đã làm cho DNNVV không tiếp cận

được với nguồn vốn của các TCTD. Từ đó đã làm hạn chế vai trò của Quỹ BLTD

trong thời gian qua.

Đối với DNNVV sau khi đã được thẩm định có phương án sản xuất kinh

doanh tốt thì Quỹ có thể cấp BLTD 100% chênh lệch giữa khoản vay và tài sản thế

chấp để doanh nghiệp có thể được tài trợ 100% vốn để thực hiện dự án.

3.3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG QUỸ BẢO LÃNH TÍN

DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM

3.3.1. Giải pháp đối với Quỹ Bảo lãnh tín dụng

- Tăng cường năng lực quản trị:

* Nâng cao năng lực quản lý và trình độ chuyên môn: Với năng lực của đội

ngũ cán bộ quản lý yếu, trình độ chuyên môn thấp dẫn đến việc tiếp nhận hồ sơ, thủ

120

tục không đảm bảo quy định. Chất lượng thẩm định phương án SXKD, dự án đầu tư

bị kéo dài từ đó hiệu quả BLTD thấp, rủi ro cao.

Để nâng cao trình độ chuyên môn thì ngay công tác tuyển dụng nhân sự phải

đảm bảo tuyển dụng người có năng lực, trình độ chuyên môn theo yêu cầu, bên

cạnh cần phát triển công tác đào tạo, huấn luyện thường xuyên để cập nhật kiến

thức mới.

Do vậy việc nâng cao năng lực quản lý và trình độ chuyên môn là một giải

pháp quan trọng để phát triển, phát huy vai trò của Quỹ BLTD đối với các DNNVV

lâu dài.

* Tăng cường công tác quản lý rủi ro của hoạt động BLTD: Hiện tại, nhiều

Quỹ BLTD triển khai công tác quản lý rủi ro bằng biện pháp kiểm tra trước, trong

và sau khi BLTD. Tuy nhiên, cần tăng cường hơn nữa công tác quản trị rủi ro bằng

cách:

+ Thực hiện công tác thẩm định hồ sơ BLTD cho doanh nghiệp theo đúng

quy trình, quy định và tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát trong hoạt động

BLTD nhằm phòng ngừa và tránh rủi ro.

+ Nâng cao trình độ và năng lực thẩm định của Quỹ nhằm góp phần hạn chế

rủi ro trong hoạt động BLTD. Tập trung đào tạo huấn luyện nguồn nhân lực về

chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công tác BLTD về số lượng lẫn chất lượng,

về chuyên môn lẫn đạo đức nghề nghiệp, qua đó góp phần phòng ngừa, hạn chế rủi

ro BLTD.

+ Xây dựng hệ thống quản lý rủi ro hoàn chỉnh để đảm bảo an toàn, không

chỉ dừng lại ở việc thực hiện kế hoạch kiểm tra sau BLTD định kỳ, mà phải xác

định rõ đâu là hoạt động kiểm soát có hệ thống và thực hiện một cách chuyên

nghiệp.

+ Trích lập dự phòng rủi ro trên cơ sở mức BLTD, xếp hạng BLTD, ngành

nghề của DNNVV. Vì hiện tại trích lập quỹ dự phòng rủi ro chỉ dựa vào nguồn thu

phí BLTD là rất thấp, trong khi hoạt động BLTD là hoạt động có nhiều rủi ro, do

đó, ta cần phải điều chỉnh tỷ lệ trích lập dự phòng theo các tiêu chí phù hợp hơn.

121

- Tăng cường hoạt động phối hợp:

Quỹ BLTD cần phối hợp chặt chẽ với các TCTD, các TCHH, Sở ngành, Ban

quản lý các khu công nghiệp thành phố chức năng để cùng trợ giúp cho các

DNNVV, phát huy vai trò của Quỹ BLTD đồng hành cùng các DNNVV. Tiếp tục

tăng cường phối hợp và mở rộng mối quan hệ hợp tác tốt với các TCTD trong hoạt

động BLTD. Đặc biệt là các TCTD có uy tín. Đồng thời, phối hợp với ngân hàng

tăng cường công tác kiểm tra giám sát tình hình sử dụng vốn của DNNVV sau khi

vay để chắc chắn rằng doanh nghiệp sử dụng vốn vay đúng mục đích, từ đó mang

lại an toàn cao trong hoạt động cấp BLTD.

Nên có quy định cho phép DNNVV đăng ký vay vốn trước đối với Quỹ

BLTD, căn cứ vào đơn xin phép, tình hình hoạt động cũng như tài sản thế chấp,

cầm cố: Quỹ BLTD phối hợp với ngân hàng để cấp cho doanh nghiệp một hạn mức

tín dụng. Khi doanh nghiệp có nhu cầu thì sẽ tiến hành thủ tục cho vay, điều này sẽ

làm giảm thời gian đề nghị vay của doanh nghiệp, đáp ứng được nhu cầu vốn nhanh

và kịp thời cho doanh nghiệp.

- Đẩy mạnh hoạt động tiếp thị:

Quỹ BLTD cần tăng cường hơn nữa công tác quảng bá hình ảnh đến các

doanh nghiệp thông qua các hình thức như: Hội thảo, các chương trình xúc tiến, các

buổi tọa đàm chuyên đề…để từ đó tiếp cận đến các DNNVV có phương án SXKD,

dự án đầu tư khả thi, đảm bảo hoạt động kinh doanh có hiệu quả, hoàn vốn và đủ

khả năng trả nợ; đồng thời đẩy mạnh hoạt động tư vấn theo hướng trợ giúp phát

triển DNNVV trong công tác lập dự án đầu tư, phương án SXKD, tư vấn tài chính

kế toán vừa giúp doanh nghiệp lành mạnh tình hình tài chính, vừa tác động tích cực

đến gia tăng doanh số BLTD và hạn chế rủi ro trong hoạt động bảo lãnh.

Bên cạnh việc quảng bá hình ảnh của mình, Quỹ BLTD cũng cần thường

xuyên cập nhật danh sách các DNNVV mới thành lập để tổ chức hội thảo giới thiệu

về các hoạt động cấp BLTD, tư vấn hỗ trợ của Quỹ cho các doanh nghiệp.

- Xây dựng qui chế cấp BLTD riêng cho những DNNVV có tham gia vào

cụm liên kết ngành:

122

Những DNNVV tham gia vào cụm liên kết ngành là những doanh nghiệp đã

có dự án SXKD ổn định, có đầu ra vững chắc để tạo ra doanh thu và lợi nhuận;

những doanh nghiệp này có mối liên hệ chặt chẽ không thể thiếu trong quá trình sản

xuất. Do đó, độ an toàn trong việc cấp BLTD rất cao, rủi ro có thể xem như không

đáng kể. Vì vậy, Quỹ BLTD nên có qui chế riêng cho những doanh nghiệp này, tạo

điều kiện thuận lợi về thời gian cũng như hồ sơ để được cấp BLTD.

3.3.2. Giải pháp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Hoàn thiện bộ máy kế toán_tài chính:

Thực tế hiện nay bộ máy kế toán_ tài chính của DNNVV còn rất nhiều bất

cập, trình độ của kế toán trưởng hoặc phụ trách kế toán chưa đúng qui định về trình

độ theo Luật kế toán số 03/2003 (có hiệu lực từ 01/01/2004) nên công tác tổ chức

hạch toán kế toán còn nhiều hạn chế, đa số các DNNVV thuê người ngoài làm báo

cáo thuế và báo cáo tài chính (không trực tiếp làm việc tại trụ sở doanh nghiệp) nên

việc cập nhật sổ sách kế toán không kịp thời, đầy đủ và không tuân thủ chuẩn mực,

nguyên tắc và chế độ kế toán. Do đó, các DNNVV cần chú trọng hơn đến công tác

này, xem đây là nhiệm vụ sống còn để phát triển.

- Thay đổi thói quen dùng tiền mặt sang thanh toán qua ngân hàng:

Việc thay đổi thói quen từ tiền mặt sang thanh toán qua ngân hàng thể hiện

sự hiện đại và minh bạch về tài chính của doanh nghiệp cũng như phù hợp với

thông lệ quốc tế: việc này sẽ làm cho các tổ chức tín dụng, Quỹ BLTD và các cấp

quản lý tin tưởng hơn vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp dễ

dàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

- Xây dựng thương hiệu, xây dựng mạng thông tin về doanh nghiệp:

Thương hiệu là tài sản vô hình, đóng vai trò hết sức quan trọng trong bối

cảnh hội nhập quốc tế, khi có thương hiệu sẽ giúp DNNVV vững vàng hơn đối với

sản phẩm của mình và bản thân mình trước sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường.

Các doanh nghiệp nên có Website riêng để giới thiệu về doanh nghiệp mình

với khách hàng, với người tìm việc …. Đồng thời đây cũng là một kênh thông tin để

các TCTD đặc biệt là ngân hàng tham khảo khi họ đưa ra quyết định cho vay.

123

- Tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp trong và ngoài nước, tham gia

vào cụm liên kết ngành hoặc khu công nghiệp hỗ trợ:

Việc tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp trong và ngoài nước sẽ giúp

các DNNVV duy trì ngành nghề truyền thống, phát huy lợi thế so sánh giữa các

doanh nghiệp với nhau cũng như các quốc gia khác nhau, nâng cao khả năng cạnh

tranh trên thị trường.

Tăng cường liên kết, hợp tác theo chiều dọc lẫn chiều ngang giữa các doanh

nghiệp để tận dụng nguồn lực của nhau. Hiện nay, việc hợp tác giữa doanh nghiệp

lớn với doanh nghiệp nhỏ vẫn chưa được các doanh nghiệp quan tâm, các doanh

nghiệp lớn chưa có chính sách tín dụng (tín dụng thương mại) hợp lý hỗ trợ cho các

doanh nghiệp nhỏ cùng ngành. Chính vì vậy các DNNVV cần chủ động hợp tác với

các doanh nghiệp lớn cùng ngành với mình để tận dụng những ưu thế sẵn có của

doanh nghiệp lớn như nguồn vốn, quan hệ các đối tác trong và ngoài nước, kinh

nghiệm quản lý điều hành, …. Từ đó sẽ tăng được thương hiệu, uy tín của doanh

nghiệp trên thị trường.

Việc tăng cường liên kết giữa các DNNVV có mối quan hệ trong kinh doanh

với nhau cũng cần được các doanh nghiệp quan tâm hơn nữa, vì sẽ giúp cho các

doanh nghiệp tận dụng được các lợi thế, các nguồn lực, và học tập được những kinh

nghiệm lẫn nhau đề cùng nhau phát triển.

Nếu việc liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp được phát triển cả chiều rộng

lẫn chiều sâu sẽ là điều kiện thuận lợi cho các DNNVV phát huy vai trò của mình,

tăng uy tín, tăng năng lực quản lý, tăng khả năng cạnh tranh từ đó có thể tăng khả

năng tiếp cận nguồn vốn vay từ các NHTM.

- Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng:

Việc xây dựng hệ thống quản lý chất lượng cũng không kém phần quan

trọng, chẳng hạn như: Hệ thống quản lý chất lượng – các yêu cầu (ISO 9001: 2000),

Hệ thống quản lý chất lượng về môi trường (ISO 1400). Trong thời kỳ hội nhập như

ngày nay việc quản lý và sản xuất theo một tiêu chuẩn quốc tế nào đó phù hợp cho

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình sẽ tạo được một thương hiệu nhất

124

định trên thị trường trong và ngoài nước cũng như sự đánh giá tốt của ngân hàng khi

muốn vay vốn.

- Chú trọng công tác đào tạo và đào tạo lại nhân viên, nâng cao trình độ

quản lý của ban lãnh đạo:

Các DNNVV ít chú trọng vào công tác đào tạo nhân viên của mình, doanh

nghiệp càng nhỏ thì càng ít chú trọng hơn. Có hai nguyên nhân chính của thực trạng

này: Thứ nhất, doanh nghiệp thấy không cần thiết vì không có giúp ích gì cho doanh

nghiệp; thứ hai, doanh nghiệp không muốn bỏ tiền ra để đào tạo. Hầu như nhân viên

tự túc trong việc học tập nâng cao trình độ, khi họ có kiến thức tốt và kinh nghiệm

thì họ sẽ rời bỏ doanh nghiệp điều này đã gây không ít khó khăn cho DNNVV, đặc

biệt là doanh nghiệp nhỏ. Do đó, doanh nghiệp nên quan tâm đến việc đào tạo nhân

viên và sẽ làm cam kết để nhân viên đó phục vụ lại cho doanh nghiệp trong một thời

gian nhất định.

Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập

kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ như ngày nay, việc nâng cao trình độ quản lý là

điều rất cần thiết đối với Ban lãnh đạo doanh nghiệp, đặc biệt là nâng cao về trình

độ quản trị kinh doanh, quản trị nhân sự, quản trị tài chính. Hiện nay, có khoảng

40% chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ sơ cấp và phỗ thông các cấp trở

xuống, trong khi đó cơ hội và môi trường học tập ở Việt Nam đang rất thuận lợi. Vì

vậy, các chủ doanh nghiệp nên tham gia học tập để nâng cao trình độ quản lý của

mình và đó cũng là lợi thế trong việc tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng cũng như

các nguồn vốn khác (các quỹ tín dụng).

- Chú trọng đổi mới và hiện đại hóa công nghệ:

Hiện nay các DNNVV, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ đang sử dụng công

nghệ lạc hậu, chính vì vậy chi phí sản xuất tăng làm cho giá thành sản phẩm tăng từ

đó sẽ mất ưu thế trong cạnh tranh về giá, mặc khác công nghệ lạc hậu cũng làm cho

năng suất sản xuất thấp, sản phẩm chưa đảm bảo chất lượng. Tuy nhiên, việc đổi

mới và hiện đại hóa công nghệ không phải dễ dàng đối với các DNNVV vì xuất

phát từ hai nguyên nhân: thứ nhất, các DNNVV không đủ vốn để đầu tư; thứ hai,

125

các doanh nghiệp vẫn chưa thể đánh giá được tính hiệu quả của đầu tư do đó họ

không dám mạo hiểm.

- Tăng cường bổ sung nguồn vốn chủ sở hữu:

Thực trạng các DNNVV ở Việt Nam là các doanh nghiệp gia đình hay các

doanh nghiệp do một nhóm bạn bè có cùng ngành nghề lập nên. Trong quá trình

kinh doanh thường nảy sinh các mâu thuẫn về quyền lợi của nhau, do đó các doanh

nghiệp thường bị tách ra thành hai hay nhiều doanh nghiệp nhỏ hơn cạnh tranh với

nhau để giành khách hàng quen biết. Trong thực tế ở Việt Nam ít khi các doanh

nghiệp nhỏ sáp nhập lại thành một doanh nghiệp lớn. Chính vì đặc điểm như vậy

nên các DNNVV không thích kết nạp thêm thành viên, cổ đông mới mà chỉ sử dụng

vốn tự có của mình, nếu thiếu thì đi vay gia đình, bạn bè hoặc ngân hàng, thậm chí

có doanh nghiệp suy nghĩ có bao nhiêu vốn kinh doanh bấy nhiêu, chưa quan tâm

đến huy động vốn vì sợ rủi ro. Do đó, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp thường rất

nhỏ. Chính vì vậy, để tăng cường tiềm lực tài chính, tăng cường khả năng cạnh

tranh, mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh, các DNNVV cần huy động thêm nguồn

vốn chủ sở hữu bằng cách kêu gọi thêm thành viên, cổ đông góp vốn.

- Thường xuyên tìm hiểu và tham gia góp ý về các chính sách hỗ trợ của

nhà nước:

Để các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đi vào thực tiễn, các DNNVV cần

quan tâm tìm hiểu các chính sách hỗ trợ của nhà nước để có những ý kiến đóng góp

hữu ích giúp Chỉnh phủ điều chính các chính sách hỗ trợ hợp lý, thiết thực và cụ thể

hơn. Từ đó giúp cho DNNVV dễ dàng tiếp nhận những hỗ trợ từ chính sách của

Chính phủ, đó chính là chất xúc tác giúp cho DNNVV vượt qua được khó khăn và

từng bước phát triển và phát huy vai trò quan trọng của doanh nghiệp.

3.3.3. Lộ trình hoàn thiện hoạt động Quỹ Bảo lãnh tín dụng

Nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của

DNNVV, tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, lành mạnh để các

DNNVV đóng góp ngày càng cao vào phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh

tranh quốc gia và hội nhập kinh tế quốc tế. Theo Quyết định 1231/QĐ-TTg ngày

126

07/9/2012 và Quyết định 1556/QĐ-TTg ngày 17/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ

mục tiêu phát triển DNNVV giai đoạn 2011 đến 2015 như sau:

- Số DNNVV thành lập mới giai đoạn 2011 - 2015 dự kiến đạt 350.000 doanh

nghiệp; tính đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2015 cả nước có 600.000 doanh

nghiệp đang hoạt động;

- Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của khu vực DNNVV chiếm 25% tổng kim

ngạch xuất khẩu toàn quốc;

- Đầu tư của khu vực DNNVV chiếm 35% tổng vốn đầu tư toàn xã hội;

- Khu vực DNNVV đóng góp khoảng 40% GDP; 30% tổng thu ngân sách nhà

nước;

- DNNVV tạo thêm khoảng 3,5 - 4 triệu chỗ làm việc mới trong giai đoạn

2011 - 2015.

Để góp phần thực hiện mục tiêu trên của Chính phủ, căn cứ vào thực tiễn hoạt

động của quỹ BLTD tính đến tháng 12/2012 theo như đánh giá của luận án, lộ trình

dự kiến để hoàn thiện hoạt động Quỹ BLTD như sau:

Năm 2013 đến 2015:

- Hoàn thiện mô hình tổ chức và điều kiện hoạt động của quỹ BLTD gồm:

Thống nhất sử dụng mô hình tổ chức Quỹ BLTD thống nhất từ Trung ương đến địa

phương, nguồn vốn hoạt động cho Quỹ BLTD; có chính sách cho phép thành lập

các Quỹ BLTD đối với DNNVV do TCHH và doanh nghiệp thành lập vì mục tiêu

lợi nhuận để đáp ứng nhu cầu BLTD rất cao của DNNVV;…

- Thành lập Quỹ BLTD Trung ương và các địa phương; thành lập Quỹ phát

triển DNNVV; mục tiêu đến 31/12/2015 tất cả các địa phương đều có Quỹ BLTD

đối với DNNVV;

- Hoàn thiện các tiêu chí xác định hiệu quả hoạt động Quỹ BLTD; các tiêu chí

đảm bảo an toàn vốn;

- Hoàn thiện qui chế thẩm định tín dụng thống nhất giữa Quỹ BLTD và các

TCTD;

- Xây dựng qui trình phối hợp dài hạn trong công tác BLTD giữa Quỹ BLTD

và các TCTD;

127

- Xây dựng chính sách thu hút vốn góp vào Quỹ BLTD từ các tổ chức, cá nhân

trong xã hội.

Năm 2016 đến 2020:

- Tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức, xây dựng chiến lược phát triển hệ thống

Quỹ BLTD dài hạn;

- Xây dựng chính sách quản lý nhà nước đối với các Quỹ BLTD do TCHH và

doanh nghiệp thành lập vì mục tiêu lợi nhuận.

3.4. CÁC GIẢI PHÁP BỔ TRỢ

3.4.1. Đối với các Tổ chức tín dụng

- Có chính sách lãi suất riêng đối với DNNVV đã được cấp BLTD:

Cần có quy định cụ thể về lãi suất vay vốn đối với hình thức bảo đảm tiền vay

bằng BLTD, nên chăng thấp hơn lãi suất tín dụng cho vay bình thường của các

NHTM một khoản đúng bằng mức phí bảo lãnh nhằm giảm bớt chi phí cho các đối

tượng là các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNVV vốn đã gặp nhiều khó khăn.

Bởi vì, trong lãi suất cho vay của các NHTM có một phần dùng để bù đắp rủi ro

trong khi đó khi DNNVV đã được cấp BLTD, có nghĩa rằng khoản vay đã được

đảm bảo về khả năng trả nợ, vì vậy khi cho vay đối với những trường hợp này,

TCTD có rủi ro thấp hơn các đối tượng khác.

Nhà nước nên khuyến khích các ngân hàng kết hợp với Quỹ BLTD bằng cách:

không bắt các ngân hàng trích lập dự phòng khi cho những doanh nghiệp đã được

bảo lãnh vay, hoặc không tính doanh số cho vay loại hình doanh nghiệp này vào

tăng trưởng tín dụng… nhằm khuyến khích các ngân hàng giảm lãi suất cho vay đối

với loại hình này và chủ động hơn trong việc hợp tác với các quỹ bảo lãnh.

- Tăng cường sự quan tâm cấp tín dụng của các TCTD cho DNNVV:

DNNVV đang ngày càng có một vị trí to lớn trong nền kinh tế của nước ta.

Sự phát triển của các DNNVV ngày càng lớn mạnh, góp phần không nhỏ vào thu

hút lao động, giải quyết việc làm, tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, cần nhận thức đúng

đắn tầm quan trọng của các DNNVV đối với nền kinh tế nói chung, cũng như đối

với sự phát triển của ngành ngân hàng nói riêng vì:

128

+ Hiện nay hoạt động tín dụng đang trong cơ chế thị trường đầy cạnh tranh, các

DNNVV là nguồn khách hàng tiềm năng giúp ngân hàng gia tăng doanh số đầu ra.

+ Đa dạng hoá khách hàng, đa dạng hoá tài sản đảm bảo nhằm phân tán rủi ro.

Hiện nay, Chính phủ và NHNN đã có những sửa đổi trong các qui định về tín

dụng mới theo hướng tạo một môi trường bình đẳng giữa các thành phần kinh tế,

tạo thuận lợi cho khách hàng vay, đồng thời trao quyền tự chủ hơn cho NHTM. Tuy

nhiên, vẫn còn nhiều NHTM cũng như các CBTD còn tâm lý phân biệt khách hàng

vay (như cho DNNVV vay với lãi suất cao hơn các doanh nghiệp khác bất chấp tình

hình và năng lực tài chính của các DNNVV như thế nào), tâm lý ngán ngại khi cho

các DNNVV vay. Do đó, cần phải xoá bỏ tâm lý phân biệt này để từ đó xem xét

khách quan hơn các quyết định cho vay theo đúng nhu cầu và khả năng đáp ứng

điều kiện tín dụng cho DNNVV.

Hầu hết các TCTD hiện nay đều xem các DNNVV là đối tượng khách hàng

chiến lược của họ, nhưng hình như vẫn còn những khác biệt về góc độ nhận thức,

đánh giá cũng như chính sách tín dụng đối với các doanh nghiệp này. Việc cho vay

tín chấp vẫn còn xa tầm tay của đa số các DNNVV. Các TCTD vẫn chưa chủ động

lắm trong việc tiếp cận, tư vấn tín dụng cho các DNNVV cũng như nhận biết những

nhu cầu riêng biệt của họ [14].

Các TCTD cũng cần xây dựng một số chính sách ưu đãi cần thiết đối với

DNNVV như: chính sách ưu đãi lãi suất, ưu đãi về phí dịch vụ, quyền mua bán

ngoại tệ, điều kiện vay vốn, thế chấp,… theo hướng các khách hàng có quan hệ vay

vốn thường xuyên, trả nợ tốt sẽ áp dụng lãi suất cho vay ưu đãi, khách hàng mở

quan hệ lần đầu sẽ được miễn giảm phí dịch vụ,…

- Tăng cường công tác tiếp thị, giới thiệu sản phẩm cho vay đối với các

DNNVV:

Công tác tiếp thị, giới thiệu các sản phẩm dịch vụ là việc cần phải quan tâm

đối với các doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng. Trong xu hướng hội nhập

quốc tế và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì vấn đề công tác tiếp thị, giới thiệu về

các sản phẩm dịch vụ càng trở nên hết sức cần thiết và góp phần quyết định sự

thành bại của doanh nghiệp. Chính vì lẽ đó, các NHTM cần tiếp tục quan tâm, xây

129

dựng chiến lược tiếp thị, giới thiệu sản phẩm dịch vụ, đặc biệt là các sản phẩm cho

vay đối với các DNNVV. Việc làm này sẽ giúp ngân hàng từng bước chiếm dần thị

phần cho vay, nâng cao và củng cố vị thế của mình trên thị trường tài chính. Công

tác tiếp thị, giới thiệu về các sản phẩm dịch vụ phải được quán triệt từ nhận thức

đến các công việc cụ thể nhất từ cấp lãnh đạo cao cấp đến từng nhân viên trong hệ

thống của ngân hàng mình, để mỗi đơn vị, mỗi cá nhân thấy được tầm quan trọng

của việc làm này. Để làm được việc này, Luận án xin đề xuất một số vấn đề mà

NHTM cần thực hiện như sau:

+ Tổ chức tuyển dụng, đào tạo và huấn luyện các kỹ năng cho các cán bộ

chuyên phụ trách công tác tiếp thị, giới thiệu về các sản phẩm dịch vụ.

+ Ngân hàng nên thành lập trung tâm tư vấn, tuyên truyền và hỗ trợ khách

hàng trực thuộc chi nhánh ở các tỉnh thành nhằm hỗ trợ, tư vấn và giải đáp mọi thắc

mắc cho khách hàng về các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mình. Trong đó phải

có bộ phận chuyên trách về khách hàng DNNVV.

+ Định kỳ (ba tháng, sáu tháng hoặc một năm) tổ chức hội thảo giới thiệu sản

phẩm dịch vụ với khách hàng, trong đó chú trọng khách hàng là DNNVV.

+ Bộ phận chuyên trách công tác tiếp thị, giới thiệu về các sản phẩm dịch vụ

phải thường xuyên cập nhật thông tin về các doanh nghiệp mới thành lập để thực

hiện công tác tiếp thị, giới thiệu về các sản phẩm dịch vụ cho các doanh nghiệp.

+ Tăng cường quảng bá hình ảnh của mình ra công chúng thông qua các

phương tiện thông tin đại chúng như báo đài, truyền hình, bảng hiệu ….

3.4.2. Đối với các Tổ chức hiệp hội

Quỹ BLTD hoạt động hiệu quả không thể thiếu vai trò của các TCHH doanh

nghiệp, các hiệp hội ngành nghề. Các DNNVV sẽ chỉ có sức mạnh khi mà chúng

được liên kết với nhau theo từng ngành nghề, tạo thành sức mạnh tổng hợp trên

thương trường. Vai trò của các TCHH thể hiện đậm nét ở chỗ liên kết sự manh mún,

nhỏ lẻ của từng DNNVV lại thành một sự thống nhất về giá cả hàng hoá, chất lượng

và số lượng sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao tính cạnh tranh của các DNNVV.

Vai trò của các hiệp hội ngày càng thể hiện rõ nét và ảnh hưởng to lớn đến định

hướng và quá trình hoạt động của các doanh nghiệp. Các TCHH không đơn thuần

130

chỉ giữ vai trò cầu nối, xúc tiến mà còn hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp về các

lĩnh vực như tư vấn, cung cấp thông tin, tham gia đàm phán, bảo vệ quyền và lợi ích

của các doanh nghiệp. Chính vì vậy, cần chú trọng nâng cao vai trò và khả năng

hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp của các TCHH.

Để trợ giúp các DNNVV phát triển, các TCHH cần thực hiện các giải pháp

sau:

Một là, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia hiệp hội bằng các chương

trình hữu ích.

Hai là, quan tâm hơn nữa đến các thành viên trong hiệp hội, đặc biệt là trong

việc hỗ trợ tìm kiếm nguồn vốn.

Ba là, khuyến khích, động viên các DNNVV tham gia vào các cụm liên kết

các DNNVV trong các lĩnh vực khác nhau.

Việc có chính sách hỗ trợ, khuyến khích các hiệp hội doanh nghiệp phát triển

có vai trò rất lớn đối với doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng. Hiệp hội

doanh nghiệp có thể hỗ trợ cho các DNNVV trong việc vay vốn, tìm đối tác kinh

doanh. Đặc biệt, hiệp hội là người hỗ trợ DNNVV nâng cao kiến thức và kinh

nghiệm quản lý, tạo điều kiện để các DNNVV có thể đáp ứng yêu cầu của NHTM

xem xét cho vay.

Đối với những vùng còn khó khăn, nhà nước phải đứng ra thành lập hiệp hội

và kêu gọi các doanh nghiệp trong vùng tham gia, khi hiệp hội đủ mạnh nhà nước sẽ

chuyển giao lại cho các doanh nghiệp tự quản lý và hoạt động.

Việc thành lập các hiệp hội doanh nghiệp cần chú trọng cả hai hình thức đa

dạng hóa và chuyên môn hóa. Đa dạng hóa là có nhiều doanh nghiệp hoạt động ở

nhiều ngành nghề khác nhau, chuyên môn hóa là hiệp hội có nhiều doanh nghiệp

hoạt động cùng ngành nghề không phân biệt doanh nghiệp nhỏ, vừa hay lớn.

3.5. KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN

3.5.1. Cải thiện môi trƣờng pháp lý

- Nhà nước cần hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp lý cho Quỹ BLTD cũng

như cho DNNVV hoạt động trong môi trường bình đẳng, thông thoáng:

131

Hệ thống pháp lý cho thành lập và hoạt động của Quỹ BLTD đã từng bước

hoàn thiện dần, nhưng đến nay chưa thực sự đồng bộ để tạo điều kiện tốt hơn cho

Quỹ BLTD phát huy vai trò đối với các DNNVV. Cần hoàn thiện đồng bộ hệ thống

pháp lý theo hướng sau:

(1) Xây dựng lại các quy định pháp lý về thành lập và hoạt động phù hợp với

điều kiện mới trong giai đoạn hiện nay, (2) Quy định tăng mức vốn điều lệ ban đầu

phù hợp với nhu cầu BLTD của các DNNVV, (3) Quy định bộ máy quản lý độc lập,

tiêu chuẩn lãnh đạo, quản lý điều hành; tiêu chuẩn và trình độ chuyên môn nghiệp

vụ; (4) Hướng dẫn xây dựng xếp hạng BLTD cho DNNVV; (5) Điều chỉnh tiêu chí

để trích lập dự phòng cho hợp lý hơn; (6) Quy định về quản lý rủi ro; (7) Quy định

cụ thể về cho vay bắt buộc; (8) Quy định lại tiêu chí xếp loại DNNVV chi tiết cho

từng ngành cụ thể, phù hợp với đặc điểm DNNVV của Việt Nam hiện nay; (9) Ban

hành quy định của Nhà nước về cơ chế tài chính đối với DNNVV; (10) Xây dựng

các quy định liên quan đến lao động, tiền lương nhằm khuyến khích và thu hút lao

động có trình độ chuyên môn cao.

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý chung cho doanh nghiệp thuộc các thành

phần kinh tế, đặc biệt là DNNVV cùng phát triển bình đẳng. Đồng thời, tạo điều

kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp gia nhập thị trường và đẩy mạnh sản xuất

kinh doanh. Cụ thể, hoàn thiện qui định pháp lý trong các lĩnh vực như:

+ Gia nhập thị trường, thủ tục đầu tư: Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật

hợp tác xã,... Trong thời gian sắp tới, Việt Nam sẽ tập trung và phát triển mạnh về

số lượng các DNNVV dựa trên nền tảng khuyến khích mọi người dân thành lập

doanh nghiệp và khuyến khích các hộ kinh doanh cá thể chuyển lên hoạt động dưới

dạng công ty theo Luật doanh nghiệp. Song song với việc phát triển mạnh về số

lượng là tăng cường hiệu lực của hệ thống luật pháp kinh doanh; xây dựng hệ thống

pháp luật hoàn thiện sẽ giúp các DNNVV nâng cao năng lực cạnh tranh, đầu tư

chiều sâu, kinh doanh lành mạnh, có hiệu quả và minh bạch hơn.

+ Các qui định trong lĩnh vực đất đai, mặt bằng sản xuất, xây dựng: Hiện

nay, nhiều DNNN được giao đất nhưng sử dụng không hiệu quả, đất đai bỏ hoang

hoặc sử dụng không đúng mục đích, trong khi đó DNNVV (chủ yếu thuộc khu vực

132

tư nhân) lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm mặt bằng kinh doanh với

chi phí rất lớn. Ngay cả khi doanh nghiệp có mặt bằng sản xuất thì việc lo đủ các

thủ tục cần thiết để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để có thể thế chấp,

cấm cố cũng đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian, công sức và tiền bạc. Do đó, để tạo

điều kiện cho DNNVV trong việc tiếp cận đất và có thể dùng quyền sử dụng đất

làm tài sản thế chấp, cầm cố vay vốn từ các TCTD, các cơ quan chức năng cần tập

trung giải quyết một số vấn đề như: đổi mới thủ tục giao đất, cho thuê đất, cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất, các thủ tục hành chính có liên quan đến quyền sử

dụng đất theo hướng cải cách thủ tục hành chính; thiết lập hệ thống cơ quan đăng ký

đất đai thống nhất trên toàn quốc; hình thành hệ thống qui hoạch, kế hoạch sử dụng

đất đảm bảo tính ổn định, chắc chắn, công khai, minh bạch đáp ứng yêu cầu của

người sử dụng đất, đồng thời giúp nhà nước quản lý đất đai thông qua việc xác định

mục đích sử dụng đất; xây dựng được hệ thống phát triển quỹ đất, giải quyết những

vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, đền bù, tái định cư và thu hồi đất đối với

những khu vực sử dụng đất sai mục đích, không hiệu quả, lãng phí tài nguyên đất.

Chi phí cho thuê mặt bằng đắt đỏ, khó khăn tiếp cận đất sạch, phức tạp trong

thủ tục đền bù giải phóng mặt bằng,… khiến DNNVV mất nhiều chi phí và khó ổn

định sản xuất kinh doanh. Vì vậy, bên cạnh việc công khai minh bạch quy hoạch,

quy trình, thủ tục tiếp cận đất đai (chung cho các doanh nghiệp), cần nghiên cứu

ban hành cơ chế ưu đãi (về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và hỗ trợ tín dụng đầu tư)

nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng hạ tầng các khu, cụm công

nghiệp dành cho DNNVV.

Nghiên cứu ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể hoá ưu đãi đầu tư tài chính

về đất đai nhằm hỗ trợ các DNNVV có cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm di

dời ra khỏi đô thị, khu dân cư; cho phép chuyển quyền sử dụng đất từ đất sản xuất

kinh doanh sang đất ở và đất thương mại nhằm mục đích bán và trang trải chi phí di

chuyển.

+ Hoàn thiện hệ thống thuế: Hệ thống thuế Việt Nam đã được cải thiện nhiều

trong những năm qua nhằm đảm bảo sự công bằng trong nghĩa vụ với NSNN. Tuy

nhiên, một số sắc thuế vẫn còn nhiều bất cập, không đồng bộ. Đặc biệt là thuế

133

TNDN vẫn còn quy định nhiều khoản chi hợp lệ của doanh nghiệp nhưng không

hợp pháp, tình trạng doanh nghiệp mua bán hoá đơn vẫn còn nhiều làm ảnh hưởng

đến việc xác định chi phí được trừ khi tính thuế TNDN. Đối với các doanh nghiệp

có hoạt động nhập khẩu thì việc xác định mã hàng hoá để áp thuế hiện nay cũng còn

nhiều khó khăn, việc không thống nhất khi áp mã hàng giữa cơ quan Hải quan và

doanh nghiệp đã tốn rất nhiều thời gian, tiền bạc của doanh nghiệp.

+ Hoàn thiện chế độ kế toán, tài chính: Hiện nay DNNVV đã có chế độ kế

toán riêng áp dụng (Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/08/2006). Tuy nhiên,

qua một thời gian áp dụng, chế độ kế toán này đã bộc lộ một số hạn chế cần phải

tiếp tục hoàn thiện như: Việc quy định hai chế độ kế toán (một cho DNNVV và một

cho các doanh nghiệp khác đã tạo ra sự chồng chéo khi áp dụng do tiêu chuẩn xác

định quy mô doanh nghiệp không rõ ràng, thống nhất; đồng thời không có ràng

buộc doanh nghiệp khi lựa chọn chế độ kế toán để áp dụng; Chế độ kế toán áp dụng

cho DNNVV chậm thay đổi để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế cũng như

yêu cầu hội nhập nên không đáp ứng được nhu cầu thông tin hữu ích cho các đối

tượng sử dụng khác nhau; Công việc kế toán theo chế độ kế toán này không đơn

giản và không tiết kiệm thời gian như suy nghĩ của các nhà nghiên cứu, soạn thảo

chế độ kế toán và ngược lại nó đặt lên vai người làm kế toán áp lực hơn do việc chi

tiết hoá quá nhiều do thiếu tính khoa học và thực tiễn của hệ thống tài khoản kế

toán; Hệ thống báo cáo tài chính được xây dựng có tính cứng nhắc vừa không thoả

mãn nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng, vừa thiếu tính liên thông trong tổ

chức thực hiện kế toán khi doanh nghiệp có sự thay đổi về qui mô hoạt động [10].

- Cung cấp thông tin kinh tế- xã hội minh bạch, hạn chế tình trạng bất cân

xứng thông tin:

Nhà nước kịp thời có những thông tin định hướng mang tính chiến lược phát

triển thị trường, quy hoạch phát triển kinh tế theo ngành, vùng, miền… để hỗ trợ

doanh nghiệp trong việc xây dựng định hướng và kế hoạch phát triển SXKD sát với

định hướng, mục tiêu chiến lược của nhà nước.

134

Cung cấp và công khai, minh bạch các thông tin về quy hoạch để hỗ trợ cho

các DNNVV, cũng như Quỹ BLTD cho các dự án đầu tư đúng quy định, đúng quy

hoạch và góp phần nâng cao chất lượng BLTD.

3.5.2. Xây dựng mô hình hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng

- Có cơ chế cho thành lập các loại hình Quỹ BLTD đối với DNNVV khác

nhau, kể cả vì mục tiêu lợi nhuận:

Hiện nay ở Việt Nam chỉ có một mô hình Quỹ BLTD cho các DNNVV là do

nhà nước thành lập, không vì mục tiêu lợi nhuận. Thực tế số lượng các DNNVV tại

Việt Nam là khá lớn (ước tính khoảng 500.000 doanh nghiệp vào cuối năm 2012)

nên nhu cầu vốn của các doanh nghiệp này là rất cao. Do đó, Quỹ BLTD do nhà

nước thành lập không thể đáp ứng thỏa mãn nhu cầu vốn của DNNVV.

Thực tế, các quốc gia trên thế giới đã tồn tại ba mô hình Quỹ BLTD, đó là:

một là do Chính phủ thành lập, hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận (hiện nay ở Việt

Nam); hai là do các tổ chức hiệp hội thành lập (vốn hoạt động của Quỹ BLTD do

các thành viên trong tổ chức hiệp hội đóng góp) nhằm bảo lãnh, trợ giúp các

DNNVV thành viên, hoạt động phi lợi nhuận; ba là do các tổ chức, công ty thành

lập, hoạt động kinh doanh chính là bảo lãnh, trợ giúp các doanh nghiệp, doanh thu

là từ phí thu được từ hoạt động cấp BLTD và tư vấn, trợ giúp các khách hàng là các

DNNVV, hoạt động vì mục đích lợi nhuận. Thực tế trên thế giới mô hình này chiếm

một tỷ lệ cấp BLTD cao nhất trong ba mô hình kể trên.

Qua tham khảo ba mô hình đang tồn tại ở các nước trên thế giới, để thoả mãn

nhu cầu vốn đa dạng của các DNNVV, Việt Nam nên có chính sách cho phép ra đời

Quỹ BLTD do các tổ chức, hiệp hội thành lập và các tổ chức, doanh nghiệp chuyên

doanh thực hiện cấp BLTD cho các DNNVV.

- Thành lập Quỹ BLTD thống nhất từ Trung ương đến địa phương

Thực tế các quốc gia trên thế giới khi thành lập Quỹ BLTD để trợ giúp

DNNVV phát triển đều thực hiện theo mô hình cấp 1 và cấp 2: Từ Trung ương đến

địa phương. Việt Nam hiện nay chưa có cấp Trung ương, mà các địa phương trên cơ

sở các Nghị định và Thông tư hướng dẫn đã có sẽ đứng ra tự thành lập Quỹ BLTD,

vốn thì lấy từ ngân sách địa phương; thế nhưng không phải địa phương nào cũng có

135

đủ số vốn điều lệ tối thiểu 30 tỷ đồng để thành lập. Mặt khác, việc kêu gọi vốn góp

từ các TCHH, TCTD cũng gặp nhiều khó khăn do mục tiêu hoạt động của Quỹ là

phi lợi nhuận; việc rút vốn cũng chưa có qui định. Do đó hầu hết các địa phương

đều rất khó khăn khi thực hiện chủ trương trợ giúp phát triển DNNVV của Chính

phủ.

Việc nhà nước có chính sách thành lập hệ thống Quỹ BLTD thống nhất từ

Trung ương đến địa phương sẽ giúp cho các địa phương nhanh chóng cho ra đời

Quỹ BLTD để trợ giúp phát triển DNNVV ở địa phương mình. Quỹ BLTD Trung

ương được xem như “bà đỡ” của các Quỹ BLTD địa phương.

Bên cạnh đó khuyến khích thành lập các Quỹ BLTD chuyên ngành như các

quốc gia trên thế giới, như Quỹ BLTD công nghệ, Quỹ BLTD xuất khẩu, Quỹ

BLTD nông nghiệp,… nhằm có chính sách khuyến khích các DNNVV trong lĩnh

vực chuyên ngành.

- Hoàn thiện mô hình hoạt động và bộ máy tổ chức:

Khuyến khích các địa phương thành lập Quỹ BLTD độc lập, không trực

thuộc vào các Quỹ hỗ trợ phát triển địa phương nhằm tăng tính chủ động và tăng

cường trách nhiệm quản lý.

Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy theo hướng thiết lập đồng bộ các bộ phận

chuyên môn về thẩm định, quản lý rủi ro, tư vấn hướng dẫn, BLTD và kiểm tra

kiểm soát sau BLTD nhằm có sự phối hợp đồng bộ trong quy trình từ khi tiếp xúc

DNNVV đến khi BLTD, kiểm tra sau BLTD, phòng ngừa rủi ro.

3.5.3. Chính sách hỗ trợ

- Cần nhanh chóng thành lập Quỹ phát triển DNNVV

Với mục đích hoạt động là tài trợ các chương trình giúp nâng cao nâng lực

cạnh tranh cho DNNVV, chú trọng hỗ trợ hoạt động đổi mới phát triển sản phẩm có

tính cạnh tranh cao và thân thiện với môi trường; đầu tư và đổi mới trang thiết bị kỹ

thuật, công nghệ tiên tiến; phát triển công nghiệp hỗ trợ; nâng cao năng lực quản trị

doanh nghiệp; Quỹ phát triển DNNVV thực hiện các hoạt động hỗ trợ phát triển

DNNVV theo quy định của pháp luật. Tài trợ kinh phí cho các chương trình, các dự

án trợ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực kỹ thuật, công nghệ, năng lực

136

quản trị doanh nghiệp cho DNNVV do các Bộ, ngành, địa phương, hiệp hội doanh

nghiệp triển khai thực hiện sau khi được cấp thẩm quyền phê duyệt và ủy thác cho

các TCTD cho vay ưu đãi các DNNVV khả thi thuộc lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích

của Nhà nước và phù hợp với mục đích hoạt động của Quỹ.

Chính những hoạt động trợ giúp kỹ thuật của Quỹ phát triển DNNVV như

nêu trên sẽ tác động tích cực đến hoạt động DNNVV và tạo điều kiện cho Quỹ

BLTD phát triển hoạt động BLTD thuận lợi hơn.

- Cần có chính sách ưu đãi, khuyến khích và hỗ trợ DNNVV:

Kế hoạch phát triển DNNVV lần thứ nhất do Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực

hiện đã đưa ra khung chung về các chính sách trợ giúp DNNVV giai đoạn 2006 –

2010. Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, do các hạn chế mang tính đặc thù

của khu vực DNNVV cũng như bản chất liên ngành, đan xen của chính sách trợ

giúp DNNVV, ngoài khung pháp lý chung cho phát triển các loại hình doanh

nghiệp, cần có các chính sách, thể chế cụ thể (có thể lượng hoá được) trợ giúp các

DNNVV.

Cần có chính sách hỗ trợ DNNVV tiếp cận nguồn cung tài chính phù hợp với

điều kiện của DNNVV: Tình trạng mặt bằng lãi suất cao kéo dài liên tục gây nhiều

khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp nói chung, đặc biệt khu vực DNNVV với

quy mô vốn còn nhiều hạn chế. Do đó, cần có giải pháp trợ giúp các DNNVV tiếp

cận nguồn cung tài chính thuận lợi hơn, cụ thể một số giải pháp như sau:

+ Hợp tác với các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế thực hiện các hoạt động

BLTD cho DNNVV: Đây là một hoạt động cần đẩy mạnh. Trong quá trình hội nhập

kinh tế quốc tế, các DNNVV sẽ tham gia nhiều hơn vào hoạt động xuất nhập khẩu,

điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp cần có một tiềm lực tài chính lớn hơn mà đây lại

là một trong những điểm yếu cơ bản của các DNNVV. Trong khi đó khả năng tiếp

cận các nguồn tín dụng trong nước rất khó khăn vì bản thân các TCTD trong nước

cũng bị hạn chế về năng lực tài chính. Chính vì vậy, việc mở rộng hợp tác với các

TCTD nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế BLTD cho các DNNVV là một

hướng đi có hiệu quả.

137

Các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế như Tập đoàn Tài chính Quốc tế

(IFC), Quỹ Phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEDF) của Cộng đồng Châu Âu,

Quỹ Phát triển Nông thôn (RDF) của Ngân hàng Thế giới và Quỹ hỗ trợ phát triển

(JBIC) của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản, Cơ quan phát triển quốc tế Hoa

Kỳ - USAID (United States Agency For Internation Development) … thường có

những nguồn vốn tín dụng ủy thác cho các nước kém và đang phát triển với lãi suất

thấp để hỗ trợ cho các DNNVV.

Chính vì vậy, Ngân hàng Nhà nước cần tăng cường hợp tác với các tổ chức

này để tranh thủ nguồn vốn tín dụng ủy thác đó. Khi có được nguồn vốn tín dụng,

Ngân hàng Nhà nước có thể ủy thác cho các NHTM tiến hành cho vay hỗ trợ các

DNNVV ở Việt Nam nói chung và ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng với lãi suất

ưu đãi.

+ Cần có cơ chế về hỗ trợ đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ kỹ thuật cho

các DNNVV: Chính phủ cần có cơ chế hỗ trợ một phần (%) chi phí xây dựng

thương hiệu, thực hiện đăng ký và bảo hộ, cấp chứng chỉ chất lượng sản phẩm,

chứng chỉ thân thiện môi trường, chứng chỉ qui trình sản xuất (ISO,…) cho

DNNVV. Nghiên cứu, ban hành chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh thực

hiện cơ chế, chính sách hỗ trợ DNNVV ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đầu tư đổi mới

trang thiết bị, nâng cao năng lực công nghệ và chuyển giao công nghệ. Ban hành

chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động

khoa học và công nghệ, xem xét nâng mức hỗ trợ từ NSNN tối đa không quá 50%

tổng kinh phí thực hiện đề tài nghiên cứu đổi mới công nghệ của các DNNVV, sửa

đổi các quy định liên quan đến việc cấp phát, thủ tục thanh quyết toán kinh phí được

hỗ trợ. Quỹ Phát triển Khoa học công nghệ quốc gia hàng năm nên dành ra một

phần kinh phí (theo một tỷ lệ %) hỗ trợ các DNNVV đổi mới, nâng cao năng lực

công nghệ.

+ Cần có chính sách hỗ trợ DNNVV tiếp cận thị trường, mở rộng sản xuất

kinh doanh: Nghiên cứu xây dựng các văn bản quy định về cơ chế khuyến khích các

DNNVV tham gia cung ứng các sản phẩm dịch vụ công như: thừa phát lại, dịch vụ

đại lý thuế_hải quan, công chứng tư,…; chỉnh sửa, bổ sung các mẫu tài liệu đấu

138

thầu, trong đó khuyến khích các DNNVV tham gia đấu thầu cung cấp dịch vụ tư

vấn hàng hoá, dịch vụ. Nghiên cứu, đề xuất quy định tỷ lệ tối thiểu (%) DNNVV

được tham gia vào các chương trình xúc tiến thương mại thị trường trong nước, xúc

tiến thương mại quốc gia.

+ Trợ giúp phát triển nguồn nhân lực có tay nghề cho DNNVV: Các cơ quan

chức năng cần xây dựng kế hoạch đào tạo, quản lý và sử dụng kinh phí hỗ trợ từ

NSNN để thực hiện đào tạo quản trị doanh nghiệp cho các DNNVV; Lồng ghép,

chú trọng đối tượng DNNVV trong chương trình quốc gia về giải quyết việc làm.

+ Tiếp tục đổi mới chế độ kê khai và nộp thuế phù hợp với đặc điểm của

DNNVV, vừa tạo thuận lợi cho người kinh doanh, vừa chống thất thu thuế. Tạo

điều kiện cho DNNVV sử dụng dịch vụ kiểm toán, thực hiện công khai tình hình tài

chính doanh nghiệp hàng năm.

+ Do Quỹ BLTD là tổ chức phi lợi nhuận nên nhà nước cần có cơ chế tài

chính khuyến khích các NHTM, TCHH và các doanh nghiệp như khi góp vốn vào

Quỹ BLTD sẽ được miễn một phần thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỷ lệ giữa số

vốn góp so với tổng vốn hoạt động kinh doanh.

- Bổ sung thêm lĩnh vực hoạt động cho Quỹ BLTD:

Bổ sung thêm hoạt động đầu tư trực tiếp của Quỹ BLTD vào các DNNVV,

thông qua hoạt động đầu tư này sẽ thực hiện được các yêu cầu sau: (1) Tạo điều

kiện thuận lợi để phát huy vai trò của Quỹ BLTD cho các DNNVV có nhiều dự án

đầu tư có hiệu quả cao, trong khi đã sử dụng hết mức BLTD theo quy định; (2) Tạo

điều kiện cho việc góp phần trợ giúp phát triển DNNVV thông qua đầu tư gián tiếp

có thời hạn thoát vốn khi các DNNVV đã phát triển mạnh; (3) Thông qua đầu tư

trực tiếp, giúp cho công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của các DNNVV có nhiều

thuận lợi, góp phần hạn chế rủi ro của BLTD. Đồng thời phát huy thêm vai trò của

Quỹ BLTD trong công tác tư vấn, hướng dẫn cho các DNNVV.

- Tăng cường vai trò thu hút vốn dài hạn cho Quỹ BLTD

Chính phủ nên có cơ chế khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong xã hội

tích cực tham gia góp vốn vào Quỹ BLTD; NHNN có văn bản chỉ đạo các NHTM

sử dụng một phần lợi nhuận hàng năm của mình để bổ sung vào các Quỹ BLTD địa

139

phương nơi ngân hàng đang hoạt động (NHMM nên ban hành Thông tư hướng dẫn

cụ thể một tỷ lệ phần trăm (%) trích từ lợi nhuận sau thuế hàng năm của các NHTM

chi nhánh cấp 1 để góp vốn và bổ sung vốn góp hàng năm cho Quỹ BLTD). Chính

phủ cũng cần có Nghị định qui định cụ thể về việc góp vốn cũng như rút vốn áp

dụng chung cho các tổ chức cá nhân khi tham gia vào Quỹ BLTD.

- Chính quyền các cấp cần tăng cường công tác chỉ đạo việc thành lập

Quỹ BLTD:

Cơ quan ban ngành và các cấp cần nhận thức vai trò to lớn của DNNVV để

có những chỉ đạo quyết liệt trong việc thành lập Quỹ BLTD để hỗ trợ loại hình

doanh nghiệp này tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

Sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương, các sở ngành, tạo thuận

lợi, tạo điều kiện cho cho hoạt động của các DNNVV phát triển và hoạt động của

Quỹ BLTD mở rộng quy mô BLTD.

Làm trong sạch dần môi trường kinh doanh của khu vực doanh nghiệp, tạo

sân chơi bình đẳng không chỉ giữa các doanh nghiệp; coi việc đẩy mạnh đổi mới và

nâng cao hiệu quả quản lý hành chính công là những điều kiện cơ bản để phát triển

khu vực doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng.

Ngoài ra, tình hình kinh tế của nước ta hiện nay đang trong tình trạng hết sức

khó khăn, nợ xấu của hệ thống ngân hàng cao nên ngân hàng có xu hướng thắt chặt

tín dụng, doanh nghiệp không có vốn hoạt động dẫn đến thu hẹp sản xuất hoặc phá

sản hàng loạt. Chính vì vậy, đây tuy là giai đoạn khó khăn cho các doanh nghiệp

cũng như ngân hàng nói chung, nhưng lại chính là cơ hội vàng để các Quỹ BLTD có

thể phát huy được vai trò của mình (cầu nối giữa DNNVV với ngân hàng). Nhưng

“một tay vỗ không ra tiếng”, do đó, Nhà nước cần phải có những chính sách mạnh

mẽ hơn để hỗ trợ các Quỹ BLTD trong thời gian này, cụ thể như:

+ Lập ra một quỹ đặc biệt để sẵn sàng đền bù phần nào tổn thất trong quá trình

hoạt động của các Quỹ BLTD, nhằm khuyến khích các Quỹ này “mạnh dạn” hơn

trong vấn đề bảo lãnh cho các DNNVV. Lưu ý: Chính phủ chỉ nên đền bù theo tỷ lệ

(%) nhất định chứ không nên bồi hoàn 100% để tránh xảy ra rủi ro đạo đức.

140

+ Đề ra những tiêu chí nhất định, và nếu Quỹ BLTD nào đạt được thì có cơ chế

khen thưởng phù hợp, như giảm thuế trong 3 năm, hay Nhà nước sẽ rót thêm tiền để

nâng mức vốn điều lệ của Quỹ lên…

- Các cơ quan ban ngành phối hợp với nhau trong việc đẩy mạnh phát

triển cụm liên kết ngành.

Phát triển cụm liên kết ngành đang được xem là giải pháp hỗ trợ tăng cường

năng lực cạnh tranh cho các DNNVV và mô hình này đã được thử nghiệm khá

thành công ở một số nước châu Á như: Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản... Với đặc

điểm 75% dân số sống ở nông thôn, trong những năm qua, công nghiệp ở thành thị

có sự phát triển nhưng vẫn không đủ sức để thu hút hết lao động từ các vùng nông

thôn đến thành phố kiếm việc làm ngày càng tăng nhanh. Do đó, việc phát triển cụm

công nghiệp được xem là giải pháp cần thiết trong quá trình công nghiệp hóa, hiện

đại hóa ở Việt Nam. Theo đánh giá của các chuyên gia, các tỉnh, thành ở Việt Nam

có nhiều lợi thế phát triển mô hình cụm công nghiệp nói chung và cụm ngành công

nghiệp nói riêng. Thực tế mô hình này đã và đang hoạt động rất sôi động, phát triển

rộng khắp trên các vùng miền, góp phần tích cực vào việc giải quyết việc làm, thúc

đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng

công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

Theo Ông Nguyễn Trọng Hiệu - Giám đốc Quốc gia Dự án, Phó Cục trưởng

Cục Phát triển Doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết: “Các DNNVV đơn

lẻ thường ít có khả năng xác định và nắm bắt các cơ hội kinh doanh chủ yếu do quy

mô nhỏ bé, năng lực cạnh tranh yếu kém. Việc các DNNVV liên kết, phối hợp hoạt

động sản xuất kinh doanh theo mô hình cụm công nghiệp liên kết sẽ tạo ra khả năng

nắm bắt cơ hội, tăng cường năng lực cạnh tranh tốt hơn”.

Việc thành lập cụm liên kết ngành cần có sự quyết tâm thực hiện giữa các

DNNVV, các TCHH và hệ thống các cơ quan ban ngành.

Để phát triển cụm liên kết ngành, Luận án đề xuất hai mô hình sau:

Mô hình 1: Phát triển các khu công nghiệp hỗ trợ, các DNNVV tập trung vào

khu công nghiệp này để cùng nhau cung ứng sản phẩm hàng hoá cho các doanh

nghiệp cung ứng đầu ngành (doanh nghiệp này cung ứng cho các tập đoàn đa quốc

141

gia hoặc xuất khẩu hoặc cung ứng cho các doanh nghiệp trong nước nằm bên ngoài

khu công nghiệp hỗ trợ) hoặc từng DNNVV cũng có thể cung ứng cho các doanh

nghiệp trong nước (ngoài việc cung ứng chính cho doanh nhiệp cung ứng đầu ngành

Các bƣớc thực hiện khu công nghiệp hỗ trợ:

Bước 1. Xây dựng các khu công nghiệp hỗ trợ để thu hút các lớp phụ trợ cao

là các doanh nghiệp lớn chuyên cung ứng cho các tập đoàn đa quốc gia đang có mặt

tại Việt Nam hoặc ở nước ngoài, vì đặc thù của công nghiệp hỗ trợ là phụ thuộc

mạnh vào các nhà lắp ráp, Chính phủ cần có chương trình xây dựng các khu công

nghiệp hỗ trợ với sự tham gia của các tập đoàn đa quốc gia có chi nhánh ở Việt

Nam. Chỉ khi có sự hợp tác này, các công nghiệp hỗ trợ mới có thể được lấp đầy bởi

các nhà cung ứng.

Bước 2. Thu hút các DNNVV nội địa vào các khu công nghiệp hỗ trợ này,

định hướng các nhà đầu tư trong nước hướng đến việc cung ứng cho các nhà cung

ứng lớn hơn trong các khu công nghiệp hỗ trợ hoặc có thể trực tiếp bán cho các

doanh nghiêp khác trong nước.

Bước 3. Sau quá trình chuyển giao công nghệ, trợ giúp để các doanh nghiệp

nội địa trong các khu công nghiệp hỗ trợ có thể cung ứng trực tiếp linh kiện sản

phẩm cho các tập đoàn đa quốc gia trong nước và xuất khẩu linh kiện ra nước ngoài.

142

Biểu đồ 3.1: Mô hình khu công nghiệp hỗ trợ

Nguồn: Tác giả đề xuất

Như vậy, đặc thù của các khu công nghiệp hỗ trợ là chủ yếu thu hút các

DNVVV, kể cả đầu tư nước ngoài cũng là các doanh nghiệp có quy mô loại này. Vì

vậy, các khu công nghiệp hỗ trợ cần cung cấp hạ tầng đầy đủ cho các nhà đầu tư,

bao gồm hệ thống nhà xưởng, điện nước hoàn chỉnh trong công trình, hệ thống xử

lý môi trường, và các dịch vụ mềm khác, nhưng với diện tích tối thiểu để chi phí

thấp nhất.

Mô hình 2: Phát triển cụm liên kết ngành cho các DNNVV không nằm trong

khu công nghiệp hỗ trợ: Các doanh nghiệp nội địa tham gia cụm liên kết ngành này

có thể nằm xa nhau, không bị giới hạn về địa lý hay không gian, nhưng quan trọng

là cần có phân chia và liên kết theo các công đoạn sản xuất.

Biểu đồ 3.2 cho thấy mô hình của một cụm liên kết ngành và cách thức gia

tăng quy mô năng lực sản xuất bằng liên kết giữa các DNNVV. Việc tạo dựng các

cụm liên kết ngành nên giao cho các địa phương; dù vậy mô hình này không nên

143

phát triển tràn lan mà cần tập trung vào các địa phương đã có tích tụ tập trung công

nghiệp: Hà Nội và các tỉnh phụ cận, TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phụ cận [2].

Biểu đồ 3.2: Cụm liên kết ngành trong trường hợp các DNNVV không

nằm trong khu công nghiệp hỗ trợ

MÔI TRƯỜNG CHÍNH SÁCH

Các nhà cung cấp dịch vụ hàng hoá (nhà thiết kế, nhà vận chuyển, nhà hoạt động tài chính, đại lý nhập khẩu,…)

Hệ thống sản xuất Các mối liên kết đầu ra Các mối liên kết đầu vào

DN DN

Nhà đại lý bán hàng DN DN Nhà cung ứng NVL thô

DN DN DN Các khách hàng trực tiếp Nhà cung cấp máy móc

Nguồn: UNIDO [44]

Hỗ trợ (nhà nước và tư nhân) và tổ chức dịch vụ

MÔI TRƯỜNG QUỐC TẾ

Do đặc thù ở Việt Nam có nhiều DNNVV nằm rải rác ở những nơi khác

nhau, nhiều doanh nghiệp sản xuất theo kiểu phân tán, thậm chí có thể sản xuất tại

gia đình nên để thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia và cụm liên kết ngành thì cần

phát triển song song cả hai mô hình: Vừa phát triển thành lập các khu công nghiệp

hỗ trợ, kêu gọi các DNNVV tham gia vào nếu đủ điều kiện, vừa phát triển cụm liên

kết ngành cho các DNNVV không bị giới hạn về không gian.

144

Việc các DNNVV liên kết với nhau để cùng phát triển, thống nhất chung

tiếng nói sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh, từ đó các dự án sẽ có tính khả thi cao

hơn, các hợp đồng liên kết sẽ an toàn hơn; điều này sẽ làm cho DNNVV có cơ hội

tiếp cận hơn đối với Quỹ BLTD và trực tiếp mang lại hiệu quả hoạt động đối với

Quỹ BLTD.

3.5.4. Quản lý thống nhất về mặt nghiệp vụ

- Cần nhanh chóng ban hành quy trình nghiệp vụ thống nhất chung cho

Quỹ BLTD:

Hiện nay, các Quỹ BLTD tại mỗi địa phương đều tự xây dựng quy trình

nghiệp vụ riêng cho mình, nhằm thống nhất quản lý từ phía Nhà nước và có cơ chế

phối hợp đồng bộ trong quá trình xét duyệt cho vay của các TCTD và xét duyệt

BLTD của các Quỹ BLTD, Nhà nước cần sớm ban hành quy trình nghiệp vụ để áp

dụng thống nhất chung trong cả nước bao gồm các bước tiến hành thực hiện BLTD

từ giai đoạn đầu tiếp xúc doanh nghiệp cho đến khi thanh lý hợp đồng BLTD. Bên

cạnh còn quy định việc xây dựng quy định về quản trị rủi ro, nhằm đảm bảo an toàn

hoạt động để ngày càng tăng cường và phát huy vai trò của Quỹ BLTD.

- NHNN cần có văn bản chỉ đạo các NHTM có chính sách tín dụng riêng

đối với các DNNVV:

Hiện nay nhiều NHTM không quan tâm đúng mức đến các DNNVV; do

vậy, NHNN cần có văn bản chỉ đạo thực hiện thống nhất để các NHTM có cái nhìn

chính xác hơn về sự đóng góp của DNNVV, từ đó có chính sách lãi suất cũng như

các chương trình cấp tín dụng riêng, có ưu đãi đối với loại hình doanh nghiệp này

trong thời gian tới.

TÓM LƢỢC CHƢƠNG 3

Trong Chương 3 của Luận án, tác giả đã đưa ra các giải pháp để nâng cao

hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD đối với DNNVV tại Việt Nam. Các giải pháp và

kiến nghị được đưa ra trên cơ sở các luận cứ khoa học trên cơ sở lý luận của chương

1, thực tiễn của chương 2 và định hướng phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước và

của chính các tổ chức có liên quan đến hoạt động của Quỹ BLTD đối với DNNVV,

đó là: Quỹ BLTD đối với DNNVV, các TCTD, các TCHH và các DNNVV.

145

Một là, đưa ra quan điểm, định hướng hoạt động của các DNNVV và của

Quỹ BLTD đối với DNNVV tại Việt Nam của Đảng, nhà nước trong thời gian từ

nay đến năm 2020.

Hai là, để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD đối với

DNNVV; Luận án đưa ra 4 nhóm giải pháp:

+ Đối với bản thân Quỹ BLTD: cần xây dựng chiến lược phát triển hoạt

động; đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ bảo lãnh, tư vấn; tăng cường công tác quản lý

rủi ro hoạt động cấp BLTD; năng cao năng lực quản lý và trình độ chuyên môn;

phối hợp chặt chẽ với các TCTD, các TCHH; mở rộng đối tượng cấp BLTD; đẩy

mạnh hoạt động tư vấn; đầu tư trực tiếp vào DNNVV; có qui chế riêng cho những

DNNVV tham gia vào cụm liên kết ngành.

+ Đối với các DNNVV: cần hoàn thiện bộ máy tài chính kế toán; thay đổi

thói quen thanh toán bằng tiền mặt để tạo sự minh bạch về tài chính; xây dựng

thương hiệu; tăng cường hợp tác, tham gia vào cụm liên kết ngành hoặc khu công

nghiệp hỗ trợ.

+ Đối với các TCTD: cần có chính sách lãi suất riêng đối với những

DNNVV đã được cấp BLTD; tăng cường sự quan tâm cấp tín dụng đối với loại hình

doanh nghiệp này.

+ Đối với các TCHH: cần nâng cao vai trò hơn nữa để thu hút các thành

viên, có chiến lược hoạt động dài hạn để đảm bảo lợi ích cho các thành viên tham

gia.

Ba là, để thực hiện các giải pháp, Luận án đã đưa ra những kiến nghị đối với

các cơ quan ban ngành như ổn định chính sách kinh tế vĩ mô, chính quyền địa

phương cần quan tâm đến DNNVV và hoạt động của Quỹ BLTD, nâng cao vai trò

các TCHH, tăng cường thu hút vốn cho Quỹ BLTD, có chính sách cho phép thành

lập các Quỹ BLTD do các TCHH và doanh nghiệp thành lập vì mục đích lợi nhuận

để đáp ứng nhu cầu BLTD của DNNVV, đồng thời đưa ra các mô hình cũng như

các bước thực hiện cụm liên kết ngành để nâng cao năng lực cho các DNNVV tại

Việt Nam.

146

KẾT LUẬN

Hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD đối với DNNVV là một phạm trù khoa

học khá phức tạp, liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau và có tác động vừa trực

tiếp vừa gián tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội đất nước; những chủ thể liên quan

chủ yếu đến hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD bao gồm: (i) Bản thân Quỹ BLTD

đối với DNNVV; (ii) Bản thân các DNNVV; (iii) Các TCTD.

Đối với mỗi chủ thể sẽ có những yêu cầu về hiệu quả khác nhau. Với các

Quỹ BLTD đó là đảm bảo sự an toàn về vốn, tăng cao doanh số cấp BLTD và

doanh số tư vấn, hỗ trợ DNNVV. Với các DNNVV là tiếp cận với nguồn vốn tín

dụng để nâng cao lợi nhuận và gia tăng giá trị doanh nghiệp. Với các TCTD là

doanh số cấp tín dụng, đảm bảo an toàn vốn và gia tăng lợi nhuận. Do vậy, hiệu quả

hoạt động của Quỹ BLTD là tập hợp các lợi ích mang lại cho nền kinh tế và các chủ

thể tham gia trong nó, bao gồm cả hai khía cạnh: hiệu quả về mặt kinh tế và hiệu

quả về mặt xã hội.

Hoạt động của Quỹ BLTD có hiệu quả hay không phụ thuộc chủ yếu vào ba

chủ thể, đó là bản thân Quỹ BLTD, các TCTD (NHTM) và bản thân các DNNVV.

Việc cải tiến và phối hợp của cả ba đối tượng này sẽ giúp cho hiệu quả Quỹ BLTD

phát huy tác dụng, giúp doanh nghiệp khai thông vốn, có đủ nguồn lực về tài chính,

nhân sự,... đứng vững trên thị trường, cạnh tranh trong điều kiện hội nhập và góp

phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế của đất nước.

Với mục tiêu nghiên cứu của Luận án là hiệu qủa hoạt động của Quỹ BLTD

đối với DNNVV ở Việt Nam, Luận án đã đạt một số kết quả và có những đóng góp

mới chủ yếu sau đây:

1. Hệ thống hoá và đưa ra những lý luận cơ bản về DNNVV, về Quỹ BLTD

đối với DNNVV; làm rõ vai trò cũng như mô hình của Quỹ BLTD hiện nay ở Việt

Nam.

2. Phân tích và đưa ra những điểm mới về hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD

tác động đến DNNVV, đồng thời lý luận và đưa ra các chỉ tiêu đo lường hiệu quả

hoạt động của Quỹ BLTD trên cả hai mặt kinh tế và xã hội.

147

3. Khái quát kinh nghiệm của một số nước về Quỹ BLTD đối với DNNVV và

từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi hoàn thiện hệ thống BLTD

đối với DNNVV.

4. Kiểm định mô hình (định lượng) về nhu cầu được cấp BLTD để cho thấy

nhu cầu được cấp BLTD là rất lớn trong hiện tại cũng như trong tương lai nhằm

định hướng phải tiếp tục cho ra đời Quỹ BLTD trong cả nước, với nhiều mô hình

hoạt động khác nhau để đáp ứng nhu cầu được hỗ trợ tài chính của DNNVV.

5. Phân tích và làm rõ thực trạng của Quỹ BLTD trong thời gian qua; Luận án

đã nêu lên những kết quả đạt được và chỉ ra những hạn chế của Quỹ BLTD; đồng

thời tìm ra nguyên nhân của những hạn chế đó;

6. Trên cơ sở những lý luận cơ bản và thực trạng hiệu quả, về nguyên nhân

của những hạn chế; tác giả mạnh dạn đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao

hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD đối với DNNVV ở Việt Nam, trong đó có một

số giải pháp còn khá mới mẻ có tính thực tiễn cao để có thể ứng dụng ở Việt Nam

như: Thành lập Quỹ BLTD thống nhất từ Trung ương đến địa phương; nhà nước có

cơ chế cho phép thành lập Quỹ BLTD do doanh nghiệp hoặc TCHH thành lập vì

mục tiêu lợi nhuận (như doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm) để phục vụ cho nhu cầu rất

cao của DNNVV trong việc tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng; thành lập

cụm liên kết ngành hoặc khu công nghiệp hỗ trợ để nâng cao năng lực SXKD của

DNNVV. Ở mỗi giải pháp, Luận án đã đưa ra các nội dung và những biện pháp

thực hiện cụ thể. Những giải pháp Luận án đưa ra là những ý tưởng mới, được hình

thành một cách có căn cứ khoa học trên cơ sở lý luận cơ bản và thực trạng về những

khó khăn của DNNVV cũng như thực trạng về hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD

đối với DNNVV.

Tuy đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong nghiên cứu để thực hiện đề tài; tác giả

đã có những đánh giá khá cẩn trọng, nhưng do hạn chế về năng lực cũng như việc

tiếp cận các nguồn thông tin, các nghiên cứu và kết luận của Luận án khó tránh khỏi

các thiếu sót mang tính chủ quan hoặc chưa thật sự đại diện, tác giả rất mong nhận

được các ý kiến góp ý để có thể hoàn thiện nghiên cứu một cách tốt nhất.

148

DANH MỤC

Các công trình nghiên cứu có liên quan của tác giả đã đƣợc công bố

1. Trương Văn Khánh (2009), “Hoạt động các Quỹ BLTD DNNVV tại Việt Nam”,

Tạp chí Thanh tra tài chính_ Bộ Tài chính, số 85, tháng 07/2009.

2. Trương Văn Khánh, Võ Đức Toàn (2011), “Hoạt động phối hợp của Quỹ BLTD

với các ngân hàng thương mại và các tổ chức hiệp hội trong việc BLTD và trợ

giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam”, Tạp chí Đại học Sài Gòn,

ISSN-1859-3208, số 07, tháng 09/2011.

3. Trương Văn Khánh, Hà Văn Dương (2012), “DNNVV tiếp cận và sử dụng vốn

vay thông qua hoạt động BLTD”, Tạp chí Quản trị chuỗi cung ứng Việt

Nam_Supply Chain insight, ISSN- 1859-2988, số 26-Q2.2012.

4. Trương Văn Khánh (2012), “Cấu trúc lại hệ thống ngân hàng”, Tạp chí Quản trị

chuỗi cung ứng Việt Nam_Supply Chain insight, ISSN- 1859-2988, số 27-

Q3.2012.

5. Trương Văn Khánh (2012), “Hoạt động phối hợp của Quỹ BLTD với các ngân

hàng thương mại và các tổ chức hiệp hội”, Tạp chí Khoa học thương mại, ISSN-

1859-3666, số 49, tháng 08/2012.

6. Trương Văn Khánh (2012), “Hiệu quả hoạt động các Quỹ BLTD doanh nghiệp

nhỏ và vừa tại Việt Nam”, Tạp chí Ngân hàng (Ngân hàng nhà nước Việt Nam),

ISSN-0866-7462, số 11_tháng 6/2012.

7. Trương Văn Khánh (2012), “Mấy vấn đề về hoạt động tín dụng”, Tạp chí Kinh

tế và dự báo, Bộ Kế hoạch và đầu tư, ISSN-0866-7120, số 23_tháng 12/2012.

8. Trương Văn Khánh (2013), “Chính sách tài chính hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và

vừa vượt qua giai đoạn khó khăn”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, Bộ Kế hoạch và

đầu tư, ISSN-0866-7120, số 04_tháng 02/2013.

149

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Nguyễn Thanh Cường (2011), Các nhân tố ảnh hưởng đến đến cấu trúc vốn của

các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản Việt Nam, Tạp chí phát triển Khoa học và

công nghệ, T.14, S.1Q.

2. Nguyễn Công Bình (2008), Cẩm nang dành cho chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ,

Nhà xuất bản Giao thông vận tải, Tp. Hồ Chí Minh.

3. Trương Thị Chí Bình (2008), Phát triển công nghiệp hỗ trợ trong ngành điện tử

gia dụng ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.

4. Lê Xuân Bá, Trần Kim Hào, Nguyễn Hữu Thắng (2006), Doanh nghiệp nhỏ và

vừa của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản chính

trị quốc gia, Hà Nội.

5. Vũ Bá Định (2001), Chính sách huy động vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa,

Tạp chí phát triển kinh tế, TP. HCM.

6. Phạm Văn Hồng (2007), Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong

quá trình hội nhập quốc tế, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân,

Hà Nội.

7. Trần Công Hoà (2007), Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển

của nhà nước, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.

8. Ngô Hướng - Tô Kim Ngọc (2001), Giáo trình Lý thuyết Tiền tệ Ngân hàng,

Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.

9. Bộ Kế hoạch và đầu tư _ Cục phát triển DNNVV (2008), Báo cáo thường niên

về doanh nghiệp nhỏ và vừa.

10. Võ Văn Nhị, Nguyễn Ngọc Dung (2011), Tình hình hoạt động kinh doanh và

công tác kế toán tại các DNNVV ở Việt Nam, Tạp chí phát triển kinh tế (249)

11. Nguyễn Thanh Nhã (2007), Giải pháp hỗ trợ tài chính đối với các DNNVV ở

Việt Nam giai đoạn từ nay đến 2010, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế

TP. HCM.

150

12. Nguyễn Bá Ngọc (2005), WTO thuận lợi và thách thức cho các doanh nghiệp

Việt Nam, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội.

13. Trần Anh Phương (2009), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế -Thực trạng và những vấn

đề đặt ra, Tạp chí Cộng sản số 1 (169).

14. Trần Hùng Sơn (2011), Đặc điểm doanh nghiệp và tốc độ điều chỉnh cấu trúc

vốn mục tiêu của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp niêm yết tại Việt Nam,

Tạp chí Phát triển Khoa học và công nghệ, T.14, S.3Q.

15. Trương Quang Thông (2010), Tài trợ tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp nhỏ

và vừa, một nghiên cứu thực nghiệm tại khu vực TP. HCM, Nhà xuất bản tài

chính.

16. Hoàng Tùng (2012), Nhận dạng rủi ro trong hoạt động của các doanh nghiệp

nhỏ và vừa ở Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng (NHNN), số 11_tháng 6/2012.

17. Phạm Lê Thông, Trần Thị Tố Như (2012), Nhu cầu tín dụng ngân hàng của

doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Tỉnh Sóc Trăng, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng số

80_ tháng 11/2012.

18. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu

với SPSS, Nhà xuất bản Hồng Đức.

19. Nguyễn Đình Thọ (2011), Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh,

Nhà xuất bản Lao động xã hội.

20. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20/12/2001, về

việc ban hành qui chế thành lập, tổ chức và hoạt động của quỹ BLTD cho doanh

nghiệp nhỏ và vừa.

21. Chính phủ, Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001, về việc trợ giúp phát

triển DNNVV, để tăng cường trợ giúp về tiếp cận vốn tín dụng cho phát triển

sản xuất-kinh doanh của các DNNVV Luật số 60/2005/QH11 ngày ngày 29

tháng 11 năm 2005 của Quốc Hội ban hành Luật doanh nghiệp.

22. Chính phủ, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 06 năm 2009, trợ giúp

phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

23. Viện nghiên cứu và đào tạo về quản lý (2008), Cơ chế quản lý trong các doanh

nghiệp vừa và nhỏ, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội.

151

24. Tổng cục Thống kê (2009), Thực trạng doanh nghiệp qua kết quả điều tra năm

2006, 2007, 2008, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.

25. Quốc Hội, Luật số 60/2005/QH11 ngày ngày 29 tháng 11 năm 2005, Luật doanh

nghiệp.

26. Quỹ BLTD TP. HCM, báo cáo hoạt động tổng kết năm 2009, 2010, 2011.

27. Quỹ BLTD TP. HCM, báo cáo tài chính năm 2008, 2009, 2010, 2011.

28. Quỹ BLTD TP. HCM, kết quả khảo sát 107 DNNVV của Quỹ BLTD TP. HCM,

thực hiện từ năm 2009 đến năm 2011.

Tiếng Anh

29. Ang, J.S. (1992): “Small business Uniqueness and the theory of financial

management”. Journal of Small Business Finance. Vol.1.Issue 1,pp1-13;

30. Harris M., Ravis A (1990): “Capital structure and the informational role of

debt”. Journal of Finance, Vol.XLV, No.2, June, pp 321-350;

31. Ping Zhang (2010): “Study on the Effective Operation Models of Credit

Guarantee Systerm for Small and Medium Enterprises in China”. International

Journal of Business and Management, Vol.5, No.9, pp99-106;

32. Jacob Levitsky (1997): “Credit guarantee schemes for SMEs-an international

review”, Small Enterprises Development Vol.8, No.2, pp2-17;

33. Boocock, G. And M. Shariff (1996): “Loan guarantee schemes for SMEs- the

experience of Malaysia”, Small Enterprise Development, Vol.7, No.2;

34. Alvaro Ruiz Navajas (2001): “Small Business Capital structure choice”. The

Journal of Small Business Finance, Vol.2, No1, pp13-21.

35. Nuonome, A (2005): The credit supplementation system in Japan , presentation

at the Workshop on SME Credit Guarantee Systems, World Bank.

36. ADB (2007), Technical Assistance Consultant’s Report, Final Report.

37. Berger, A.,N. và Udell, G.,F.(1998). The Economics of Small Business Finance,

Journal of Banking and Finance, số 22, trang 613-673.

38. Danielson,M., G.& Scott, J., A. (2004). Bank loan availability and trade credit

demand, The Financail Rewiew, số 39, trang 579-600.

152

39. Jordan, J., Lowe, J. & Taylor, P. (1998). Strategy and Finance Policy in UK

Small Firms, Jounal of Business Finance & Accounting, số 25, trang 1-27.

40. Myers, S., C. & Majluf, N., S. (1984). Corporate financing and investment

decisions when firms have information that investors do not have, Journal of

Financial Economics, số 13 (2), trang 113-130.

41. Nguyen, Tran Dinh Khoi & Ramachandran, N. (2006). Capital Structure in

Small and Medium-sized Enterprises: The case of Vietnam, ASEAN Economics

Bulletin, số 23 (2), trang 192-211.

42. Petersen, M. & Rajan, R. (1994). The benefits of firm-creditor relationships:

Evidence from small business data, Jounal of Finance, số 49, trang 3-37.

43. Petersen, M. & Rajan, R. (1997). Trade Credit: Theories and Evidence, Review

of Financial Studies, số 10 (3), trang 661-691.

Website

44. UNIDO, Dự án hỗ trợ Việt Nam sau gia nhập WTO_ Xây dựng năng lực tuân

thủ TBT/SPS trong các ngành xuất khẩu chủ chốt, Dự án do Chính phủ Thuỵ Sĩ

tài trợ: (Website:

http://www.unido.org/fileadmin/user_media/UNIDO_Wordwide/Offices/UNID-

Offices/Viet-Nam).

45. Website các Quỹ BLTD tại các địa phương;

46. Website Bộ kế hoạch và đầu tư: http://www.moj.gov.vn;

47. Website Bộ Tài chính: http://www.mof.gov.vn.

48. Website Chính phủ: http://www.chinhphu.vn.

49. Website Quỹ BLTD cho các DNNVV TP.HCM: http://www.hcgf.com.vn/.

50. Website Sở KHĐT TP. HCM: www.dpi.hochiminhcity.gov.vn.

PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT

Xin chào anh/chị! Chúng tôi đang thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học “Hiệu quả hoạt động của các Quỹ BLTD đối với DNNVV tại Việt Nam”, mong anh/ chị vui lòng dành ít phút để điền vào phiếu khảo sát ngắn này. Tất cả các câu trả lời đều có giá trị, không có câu trả lời nào của anh/ chị là sai hay đúng vì đó thực sự là cảm nhận riêng của anh/ chị. Chúng tôi đánh giá cao các câu trả lời của anh/chị. Chúng tôi cam kết bảo mật các câu trả lời của anh/chị và sẽ không được dùng vào mục đích nào khác. Chúng tôi rất mong được sự cộng tác chân tình của anh/chị.

Anh/ chị vui lòng cho biết mức độ đồng ý của mình về các phát biểu dưới đây. Đối với mỗi phát biểu, anh chị hãy đánh dấu “X” vào một trong các con số từ 1 đến 5, trong đó: 1: Rất không đồng ý; 2: Không đồng ý; 3: Trung lập; 4: Đồng ý; 5: Rất đồng ý

Công ty Anh/Chị đang có nhu cầu Quỹ BLTD? Đúng

Sai

Anh/ chị có được tham dự tập huấn Quỹ BLTD do các cơ quan tổ chức?

Không

g n ồ đ

Anh/chị cho biết mức độ đồng ý của anh/chị về các phát biểu dưới đây

ý

bằng cách chọn ô số thích hợp:

ý

g n ồ đ

g n ô h k

- Hoàn toàn không đồng ý: chọn ô số 1.

g n ồ đ

ý

p ậ l

n à o t

n à o t

- Hoàn toàn đồng ý: chọn ô số 5.

- Các mức độ khác, chọn ô số 2, 3, 4 tương ứng.

n à o H

g n ô h K ý

n à o H

g n u r T

g n ồ Đ

1

2

3

4

5

1. Các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau thì có nhu cầu vay vốn ngân hàng khác nhau.

1

2

3

4

5

2. Ngành nông lâm thủy sản có nhu cầu BLTD để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất hàng hóa xuất khẩu.

1

2

3

4

5

3. Ngành xây dựng có nhu cầu BLTD để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ đầu tư xây dựng cơ bản.

1

2

3

4

5

4. Ngành thương mại, dịch vụ có nhu cầu BLTD để có nguồn vốn lưu động thuận lợi.

5. Ngành công nghiệp có nhu cầu BLTD để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ

1

2

3

4

5

đầu tư trang thiết bị mới.

1

2

3

4

5

6. Ngành giao thông vận tải có nhu cầu BLTD trong việc tăng cường các phương tiện giao thông đáp ứng nhu cầu khách hàng.

1

2

3

4

5

7. Các doanh nghiệp tư nhân thường có cơ cấu tổ chức đơn giản, sản xuất kinh doanh những hàng hóa, dịch vụ truyền thống, đơn giản và có quy mô hoạt động nhỏ hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác nên có nhu cầu vốn cao hơn.

1

2

3

4

5

8. Quỹ BLTD hỗ trợ các DNNVV đáng kể trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, giúp DNNVV giảm chi phí kinh doanh đáng kể đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ

1

2

3

4

5

9. Quỹ BLTD cung cấp nhu cầu BLTD đa dạng cho doanh nghiệp có quy mô nhỏ.

10. Các công ty có quy mô nhỏ hơn, thời gian hoạt động ngắn hơn có nhu cầu cấp BLTD từ Quỹ BLTD phải đối mặt với chi phí tài chính cao hơn.

1

2

3

4

5

11. Doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng vốn tự có mà không cần vay ngân hàng trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh.

1

2

3

4

5

12. Các doanh nghiệp có thời gian hoạt động trên 5 năm có thể tự tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình bằng vốn tự có nên ít có nhu cầu vay vốn.

1

2

3

4

5

13. Các doanh nghiệp có thời gian hoạt động trên 10 năm có thể tự tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình bằng vốn tự có nên không có nhu cầu vay vốn.

1

2

3

4

5

14. Các doanh nghiệp mới thành lập có nhu cầu vay vốn hơn các doanh nghiệp đã có thời gian hoạt động lâu dài.

15. DNNVV luôn có đủ tài sản thế chấp, cầm cố để vay vốn ngân hàng.

1

2

3

4

5

1

2

3

4

5

16. Cấp BLTD cho các DNNVV không có tài sản thế chấp để vay vốn ngân hàng là nhu cầu cần thiết đối với doanh nghiệp hiện nay.

1

2

3

4

5

17. Quỹ BLTD cấp BLTD cho các DNNVV sẽ giải quyết được việc thiếu hụt tài sản thế chấp.

18. Các ngân hàng luôn chú trọng đến quy mô tài sản cố định của doanh

1

2

3

4

5

nghiệp.

1

2

3

4

5

19. Các doanh nghiệp tư nhân thường có nhu cầu BLTD thiết thực trong việc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh

1

2

3

4

5

20. Các doanh nghiệp trong các ngành đều có nhu cầu bổ sung vốn dài hạn và đầu tư dài hạn.

1

2

3

4

5

21. Các doanh nghiệp trong các ngành khác nhau đều có nhu cầu BLTD để giảm chi phí đầu tư ngắn hạn

1

2

3

4

5

22. Các doanh nghiệp trong các ngành khác nhau đều có nhu cầu BLTD nhằm tăng cường sức ép cạnh tranh trong nước và xuất khẩu

1

2

3

4

5

23. Chúng tôi tin tưởng các Quỹ BLTD ở Việt Nam sẽ hỗ trợ tốt các DNNVV để tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

24. Quỹ BLTD tư nhân sẽ đáp ứng nhu cầu BLTD đa dạng cho DNNVV.

1

2

3

4

5

4

5

1

2

3

25. Quỹ BLTD hiện nay hỗ trợ tốt nhu cầu các DNNVV tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng do mức độ tin cậy cao.

4

5

1

2

3

26. Quỹ BLTD hỗ trợ tốt các DNNVV tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng do có tính pháp lý cao.

27. Chúng tôi rất quan tâm đến Quỹ BLTD hiện nay

4

5

1

2

3

28. Chúng tôi muốn tiếp cận đến Quỹ BLTD hiện nay

4

5

1

2

3

29. Chúng tôi muốn tham gia vào Quỹ BLTD hiện nay

4

5

1

2

3

Xin Anh/ chị vui lòng cho biết một số thông tin về bản thân và doanh nghiệp:

28. Thời gian hoạt động của doanh nghiệp:

Dưới 3 năm

Từ 3-5 năm

Từ 5-10 năm

Trên 10 năm

29. Doanh thu năm 2012 b.

Dưới 10 tỷ đồng

Từ 10-50 tỷ đồng

Từ 50-100 tỷ đồng

Trên 100 tỷ

Liên doanh Công ty trách nhiệm hữu hạn

đồng II. Thông tin chung về doanh nghiệp Loại hình doanh nghiệp 1  2 

5  6 

Công ty cổ phần

3 

4

Công ty hợp danh

8 

Holding company Chi nhánh công ty nước ngoài Công ty 100% vốn nước ngoài Đầu tư theo hợp đồng BOT Khác:

9 

10 

Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh

Lĩnh vực hoạt động:

Chế biến nguyên

Xây dựng kết cấu hạ tầng và các

cơ sở sản xuất công nghiệp Nuôi, trồng, chế biến nông, lâm,

thuỷ sản

Khác:………………..

liệu Sản xuất hàng xuất khẩu Tài chính Vị trí công tác hiện nay 1 3

Thành viên HĐQT Quản lý cấp trung

2 Ban Giám đốc 4 Khác

Trân trọng cảm ơn Quý Ông/Bà đã tham gia đóng góp cho nội dung nghiên cứu Chúc Quý Ông/Bà sức khoẻ và thành công.

PHỤ LỤC 2: KIỂM ĐỊNH ĐỘ TIN CẬY

1. Loại hình doanh nghiệp

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha

N of Items

.913

6

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item

Scale Variance if

Corrected Item-

Cronbach's Alpha

Deleted

Item Deleted

Total Correlation

if Item Deleted

18.16

9.210

.719

.903

LH1

18.19

9.071

.714

.903

LH2

18.39

8.552

.760

.896

LH3

18.40

8.613

.719

.903

LH4

18.21

8.495

.738

.900

LH5

18.33

7.999

.896

.876

LH6

2. Quy mô

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha

N of Items

.866

4

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item

Scale Variance if

Corrected Item-

Cronbach's Alpha

Deleted

Item Deleted

Total Correlation

if Item Deleted

QM7

10.69

2.727

.681

.843

QM8

10.70

2.847

.651

.854

QM9

10.71

2.611

.664

.853

QM10

10.69

2.472

.886

.759

3. Thời gian hoạt động

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha

N of Items

.836

4

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item

Scale Variance if

Corrected Item-

Cronbach's Alpha

Deleted

Item Deleted

Total Correlation

if Item Deleted

TG11

10.19

2.388

.690

.782

TG12

10.24

2.521

.618

.813

TG13

10.24

2.257

.725

.766

TG14

10.35

2.378

.637

.806

4. Giá trí tài sản cố định

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha

N of Items

.864

4

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item

Scale Variance if

Corrected Item-

Cronbach's Alpha

Deleted

Item Deleted

Total Correlation

if Item Deleted

TSCD15

10.63

3.004

.650

.851

TSCD16

10.60

2.837

.722

.822

TSCD17

10.69

2.999

.633

.857

TSCD18

10.73

2.521

.851

.765

5. Động lực phát triển

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha

N of Items

.884

4

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item

Scale Variance if

Corrected Item-

Cronbach's Alpha

Deleted

Item Deleted

Total Correlation

if Item Deleted

10.49

3.367

.637

.893

DL19

10.56

3.041

.780

.839

DL19B

10.60

3.232

.700

.869

DL20

10.56

3.008

.888

.798

DL21

6. Niềm tin

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha

N of Items

.846

4

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item

Scale Variance if

Corrected Item-

Cronbach's Alpha

Deleted

Item Deleted

Total Correlation

if Item Deleted

NT22

10.04

3.234

.646

.822

NT23

9.88

3.582

.533

.866

NT23A

10.09

3.154

.710

.794

NT23B

9.99

2.892

.863

.724

7. Nhu cầu BLTD

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha

N of Items

.779

3

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item

Scale Variance if

Corrected Item-

Cronbach's Alpha

Deleted

Item Deleted

Total Correlation

if Item Deleted

NC24

6.81

.818

.654

.657

NC25

7.02

.781

.708

.595

NC26

7.58

.964

.495

.825

PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH NHÂN TỐ

1. Phân tích nhân tố các biến đốc lập

Rotated Component Matrixa

Component

1

2

3

4

5

6

LH1

LH2

LH3

LH4

LH5

LH6

.725 .746 .719 .786 .750 .878

QM7

QM8

QM9

QM10

.772 .787 .681 .894

TG11

TG12

TG13

TG14

.719 .757 .774 .632

TSCD15

.603

TSCD16

.833

TSCD17

.669

TSCD18

.734

DL19

DL19B

DL20

DL21

.739 .850 .775 .896

NT22

NT23

NT23A

NT23B

.758 .628 .794 .906

Extraction Method: Principal Component Analysis. Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization.

Rotated Component Matrixa

Component

1

2

3

4

5

6

LH1

LH2

LH3

LH4

LH5

LH6

.725 .746 .719 .786 .750 .878

QM7

QM8

QM9

QM10

.772 .787 .681 .894

TG11

TG12

TG13

TG14

.719 .757 .774 .632

TSCD15

.603

TSCD16

.833

TSCD17

.669

TSCD18

.734

DL19

DL19B

DL20

DL21

.739 .850 .775 .896

NT22

NT23

NT23A

NT23B

.758 .628 .794 .906

a. Rotation converged in 6 iterations.

KMO and Bartlett's Test

Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.

.888

Bartlett's Test of Sphericity

Approx. Chi-Square

4364.790

df

325.000

Rotated Component Matrixa

Component

1

2

3

4

5

6

LH1

LH2

LH3

LH4

LH5

LH6

.725 .746 .719 .786 .750 .878

QM7

QM8

QM9

.772 .787 .681 .894

QM10

TG11

TG12

TG13

.719 .757 .774 .632

TG14

.603

TSCD15

.833

TSCD16

.669

TSCD17

.734

TSCD18

DL19

DL19B

DL20

.739 .850 .775 .896

DL21

NT22

NT23

NT23A

.758 .628 .794 .906

NT23B

Sig.

.000

2. Phân tích nhân tố cho biến phụ thuộc

KMO and Bartlett's Test

Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.

.647

Bartlett's Test of Sphericity

Approx. Chi-Square

232.641

df

3.000

Sig.

.000

Total Variance Explained

Initial Eigenvalues

Extraction Sums of Squared Loadings

Compon

ent

Total

% of Variance

Cumulative %

Total

% of Variance

Cumulative %

2.086

69.529

2.086

69.529

69.529

1

.621

20.705

2

.293

9.766

3

69.529 90.234 100.000

Extraction Method: Principal Component Analysis.

Component Matrixa

Component

1

NC24

.864

NC25

.891

NC26

.739

Extraction Method: Principal

Component Analysis.

a. 1 components extracted.

PHỤ LỤC 4: PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN

TBNC TBLH TBQM TBTG TBTSCD TBDL TBNT 1

** Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).

.652** 1 .547** .576** .775** .488** .525** .478** 1 .479** .623** .320** .431** .369** .448** .381** .383** 1 .524** 1 .497** .431** .370** 1 .489** .319** 1 TBNC TBLH TBQM TBTG TBTSCD TBDL TBNT

PHỤ LỤC 5: PHÂN TÍCH HỒI QUY ĐA BIẾN

Model Summary

Std. Error of the

Model

R

R Square Adjusted R Square

Estimate

1

.844a

.713

.706

.23783

a. Predictors: (Constant), tbLH, tbQM, tbTG, tbDL, tbNT, tbTSCD

ANOVAb

Model

Sum of Squares

df

Mean Square

F

Sig.

1

Regression

33.170

6

97.741

.000a

Residual

13.348

5.528 .057

Total

46.519

236 242

a. Predictors: (Constant), tbLH, tbQM, tbTG, tbDL, tbNT, tbTSCD

b. Dependent Variable: tbNC

Coefficientsa

Unstandardized

Standardized

Coefficients

Coefficients

Collinearity Statistics

Model

B

Std. Error

Beta

t

Tolerance

VIF

1

(Constant)

.518

.135

Sig. .000

3.830

tblh

.127

.036

.169 3.558

.000

.536

1.864

tbqm

.114

.035

.138 3.270

.001

.681

1.469

tbtg

.084

.040

.096 2.091

.038

.579

1.726

tbtscd

.371

.039

.465 9.464

.000

.503

1.990

tbdl

.100

.031

.133 3.183

.002

.701

1.426

tbnt

.066

.032

.037

.687

1.455

.088 2.093

a. Dependent Variable: tbNC

PHỤ LỤC 6: THỐNG KÊ MÔ TẢ CHO CÁC NHÂN TỐ

ĐƯỢC TRÍCH

Descriptive Statistics

N

Minimum Maximum

Mean

Std. Deviation

Tblh

243

2.00

5.00

3.6557

.58338

Tbqm

243

2.00

5.00

3.5658

.53231

Tbtg

243

2.00

4.50

3.4187

.50137

Tbtscd

243

2.25

5.00

3.5535

.54943

Tbdl

243

2.00

5.00

3.5175

.58162

Tbnc

243

2.00

5.00

3.5679

.43844

Tbnt

1.25

5.00

3.3333

.58299

Valid N (listwise)

243 243

Descriptive Statistics

N

Minimum

Maximum

Mean

Std. Deviation

LH1

2

5

3.77

.612

243

2

5

3.74

.643

243

2

5

3.55

.716

243

LH2 LH3

LH4

2

5

3.53

.734

243

LH5

2

5

3.73

.744

243

LH6

2

5

3.60

.733

Valid N (listwise)

243 243

LH1

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Valid

2

5

2.1

2.1

2.1

3

64

26.3

26.3

28.4

4

155

63.8

63.8

92.2

5

19

7.8

100.0

Total

243

100.0

7.8 100.0

LH2

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Valid

2

2.5

2.5

6

2.5

3

29.2

31.7

71

29.2

4

59.7

91.4

145

59.7

5

100.0

21

8.6

Total

8.6 100.0

243

100.0

LH3

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Valid

2

8.2

8.2

20

8.2

3

33.7

42.0

82

33.7

4

53.1

95.1

129

53.1

5

100.0

12

4.9

Total

4.9 100.0

243

100.0

LH4

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Valid

2

9.1

9.1

22

9.1

3

33.7

42.8

82

33.7

4

51.9

94.7

126

51.9

5

100.0

13

5.3

Total

5.3 100.0

243

100.0

LH5

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

2

Valid

19

7.8

7.8

7.8

3

52

21.4

21.4

29.2

4

148

60.9

60.9

90.1

5

24

9.9

100.0

243

100.0

9.9 100.0

Total

LH6

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Valid

2

7.4

7.4

7.4

18

3

32.1

39.5

32.1

78

4

53.1

92.6

53.1

129

5

100.0

7.4

18

Total

7.4 100.0

100.0

243

Descriptive Statistics

N

Minimum

Maximum

Mean

Std. Deviation

QM7

2

5

3.57

.628

243

QM8

2

5

3.56

.602

243

QM9

2

5

3.55

.681

243

QM10

2

5

3.58

.608

Valid N (listwise)

243 243

QM7

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Valid

2

10

4.1

4.1

4.1

3

92

37.9

37.9

42.0

4

133

54.7

54.7

96.7

5

8

3.3

100.0

3.3 100.0

Total

243

100.0

QM8

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

3.7

9

3.7

3.7

2

Valid

38.3

93

38.3

42.0

3

56.0

136

56.0

97.9

4

2.1

5

100.0

5

Total

243

100.0

2.1 100.0

QM9

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

6.6

16

6.6

6.6

2

Valid

35.8

87

35.8

42.4

3

53.5

130

53.5

95.9

4

4.1

10

100.0

5

100.0

243

4.1 100.0

Total

QM10

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

3.7

9

3.7

3.7

2

Valid

37.4

91

37.4

41.2

3

56.4

137

56.4

97.5

4

2.5

6

100.0

5

2.5 100.0

Total

243

100.0

Descriptive Statistics

N

Minimum

Maximum

Mean

Std. Deviation

TG11

243

2

5

3.48

.598

TG12

243

2

5

3.44

.588

TG13

243

5

3.44

.629

2

TG14

5

3.32

.633

2

Valid N (listwise)

243 243

TG11

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

3.3

8

3.3

3.3

Valid

2

47.3

115

47.3

50.6

3

47.3

115

47.3

97.9

4

2.1

5

100.0

5

Total

243

100.0

2.1 100.0

TG12

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

3.7

9

3.7

3.7

Valid

2

50.2

122

50.2

53.9

3

44.9

109

44.9

98.8

4

1.2

3

100.0

5

Total

243

100.0

1.2 100.0

TG13

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

5.3

13

5.3

5.3

Valid

2

47.7

116

47.7

53.1

3

44.9

109

44.9

97.9

4

2.1

5

100.0

5

2.1 100.0

Total

243

100.0

TG14

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

2

Valid

8.2

8.2

20

8.2

3

52.3

60.5

127

52.3

4

38.7

99.2

94

38.7

5

100.0

2

.8

.8 100.0

Total

243

100.0

Descriptive Statistics

N

Minimum

Maximum

Mean

Std. Deviation

TSCD15

243

2

5

3.59

.633

TSCD16

243

2

5

3.62

.647

TSCD17

243

2

5

3.52

.645

TSCD18

2

5

3.49

.682

Valid N (listwise)

243 243

TSCD15

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

2

Valid

7

2.9

2.9

2.9

3

98

40.3

40.3

43.2

4

126

51.9

51.9

95.1

5

12

4.9

100.0

Total

243

100.0

4.9 100.0

TSCD16

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

2

Valid

6

2.5

2.5

2.5

3

97

39.9

39.9

42.4

4

124

51.0

51.0

93.4

5

16

6.6

100.0

Total

243

100.0

6.6 100.0

TSCD17

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

2

Valid

3.7

9

3.7

3.7

3

44.9

109

44.9

48.6

4

46.9

114

46.9

95.5

5

4.5

11

100.0

Total

100.0

243

4.5 100.0

TSCD18

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

2

Valid

5.8

14

5.8

5.8

3

44.9

109

44.9

50.6

4

44.4

108

44.4

95.1

5

4.9

12

100.0

Total

100.0

243

4.9 100.0

Descriptive Statistics

N

Minimum

Maximum

Mean

Std. Deviation

243

2

5

3.58

.678

DL19

243

2

5

3.51

.694

DL19B

243

2

5

3.47

.682

DL20

2

5

3.51

.645

DL21

243 243

Valid N (listwise)

DL19

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Valid

2

6.2

15

6.2

6.2

3

34.6

84

34.6

40.7

4

54.7

133

54.7

95.5

5

4.5

11

100.0

Total

100.0

243

4.5 100.0

DL19B

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Valid

2

7.0

17

7.0

7.0

3

39.1

95

39.1

46.1

4

49.4

120

49.4

95.5

5

4.5

11

100.0

Total

100.0

243

4.5 100.0

DL20

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Valid

2

6.6

16

6.6

6.6

3

44.4

108

44.4

51.0

4

44.9

109

44.9

95.9

5

4.1

10

100.0

Total

100.0

243

4.1 100.0

DL21

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Valid

2

10

4.1

4.1

4.1

3

108

44.4

44.4

48.6

4

115

47.3

47.3

95.9

5

10

4.1

100.0

Total

243

100.0

4.1 100.0

Descriptive Statistics

N

Minimum Maximum

Mean

Std. Deviation

NT22

243

1

5

3.30

.723

NT23

243

2

5

3.45

.687

NT23A

243

1

5

3.25

.708

NT23B

1

5

3.34

.700

Valid N (listwise)

243 243

NT22

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Valid

.4

.4

1

.4

1

11.9

12.3

29

11.9

2

47.7

60.1

116

47.7

3

37.4

97.5

91

37.4

4

100.0

6

2.5

5

2.5 100.0

Total

243

100.0

NT23

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

2

Valid

18

7.4

7.4

7.4

3

107

44.0

44.0

51.4

109

44.9

44.9

96.3

4

9

3.7

100.0

5

3.7 100.0

Total

243

100.0

NT23A

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

.4

1

.4

1

Valid

.4

11.9

29

12.3

2

11.9

52.7

128

65.0

3

52.7

32.5

79

97.5

4

32.5

2.5

6

100.0

5

Total

243

100.0

2.5 100.0

NT23B

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

.4

1

.4

1

Valid

.4

9.9

24

10.3

2

9.9

46.9

114

57.2

3

46.9

40.7

99

97.9

4

40.7

2.1

5

100.0

5

Total

243

100.0

2.1 100.0

Descriptive Statistics

N

Minimum

Maximum

Mean

Std. Deviation

NC24

243

2

5

3.90

.532

NC25

243

2

5

3.68

.532

NC26

2

5

3.12

.515

243 243

Valid N (listwise)

NC24

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Valid

2

1

.4

.4

.4

3

45

18.5

18.5

18.9

4

175

72.0

72.0

90.9

5

22

9.1

100.0

Total

243

100.0

9.1 100.0

NC25

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Valid

2

2

.8

.8

.8

3

79

32.5

32.5

33.3

4

156

64.2

64.2

97.5

5

6

2.5

100.0

2.5 100.0

Total

243

100.0

NC26

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Valid

2

18

7.4

7.4

7.4

3

178

73.3

73.3

80.7

4

46

18.9

18.9

99.6

5

1

.4

100.0

.4 100.0

Total

243

100.0

PHỤ LỤC 7

PHIẾU KHẢO SÁT 107 DNNVV ĐÃ TIẾP CẬN QUỸ BLTD

TP.HCM

PHỤ LỤC 8

BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH VÀ CÂN ĐỐI KẾ TOÁN

QUỸ BLTD ĐỐI VỚI DNNVV TP. HCM NĂM 2011

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH

BẢN THÔNG TIN TÓM TẮT

VỀ NHỮNG KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Đề tài Luận án “Hiệu quả hoạt động Quỹ bảo lãnh tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam”.

Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính, ngân hàng Mã số: 62 34 02 01

Nghiên cứu sinh: Trương Văn Khánh Khoá: 14

Người hướng dẫn khoa học:

Hướng dẫn 1: TS. Phan Ngọc Minh

Hướng dẫn 2: TS. Lâm Thị Hồng Hoa

Qua quá trình nghiên cứu, đến nay đề tài Luận án đã được hoàn thành, với

những kết quả đạt được trong nghiên cứu, nghiên cứu sinh xin trình bày tóm tắt những

kết luận mới của Luận án như sau:

Thứ nhất, Luận án đã làm rõ những vấn đề lý luận về Quỹ bảo lãnh tín dụng

(BLTD) đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), nguồn vốn hoạt động của Quỹ

BLTD, các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD về mặt kinh tế cũng

như về mặt xã hội. Luận án cũng dành phần lớn nội dung đưa ra những nhân tố tác

động đến hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD như môi trường chính trị, pháp lý, kinh

tế xã hội; chính sách BLTD hỗ trợ phát triển DNNVV của nhà nước; năng lực của các

DNNVV; năng lực của các ngân hàng thương mại; và nhu cầu BLTD của các

DNNVV.

Thứ hai, trên cơ sở các nghiên cứu thực nghiệm, Luận án đề xuất mô hình

nghiên cứu định lượng về nhu cầu BLTD của DNNVV sẽ gồm 6 yếu tố là (1) Lĩnh vực

hoạt động của doanh nghiệp, (2) Quy mô doanh nghiệp, (3) Thời gian hoạt động, (4)

1

Giá trị tài sản cố định, (5) Động lực phát triển và (6) Niềm tin. Các nhân tố này sẽ là

căn cứ để kiểm định mô hình định lượng về nhu cầu BLTD của các DNNVV thông

qua khảo sát thực nghiệm.

Thứ ba, Luận án đã nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia như Trung

Quốc, Hàn Quốc, Malaysia về hoạt động của Quỹ BLTD đối với DNNVV và từ đó rút

ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như:

+ Chính phủ coi DNNVV là thành phần kinh tế quan trọng bậc nhất và có nhiều

chính sách để hỗ trợ phát triển;

+ Chính sách BLTD cho DNNVV là một chính sách quan trọng trong hầu hết

chính sách kinh tế quốc gia và được hình thành từ rất sớm;

+ Chính sách bảo đảm tín dụng phải đảm bảo được lợi ích của các bên như

người bảo lãnh (quỹ BLTD), người thụ hưởng bảo lãnh (TCTD) và người được bảo

lãnh (DNNVV);

+ Hầu hết các nước đều thành lập các Quỹ BLTD chuyên ngành, như Quỹ

BLTD công nghệ chuyên BLTD cho các DNNVV trong lĩnh vực công nghệ thông tin,

viễn thông; Quỹ BLTD nông nghiệp chuyên BLTD cho các DNNVV trong lĩnh vực

nông nghiệp; Quỹ BLTD trong lĩnh vực xuất khẩu,...;

+ Các mô hình Quỹ BLTD bao gồm mô hình 1 cấp và mô hình 2 cấp. Hầu hết

các các nước trên thế giới đều có mô hình Quỹ BLTD đối với DNNVV thống nhất từ

Trung ương đến địa phương;

+ Về mô hình Quỹ BLTD có ba mô hình, đó là: một là do Chính phủ thành lập,

hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận (như mô hình hiện nay ở Việt Nam); hai là do các

tổ chức hiệp hội thành lập (vốn hoạt động của Quỹ BLTD do các thành viên trong tổ

chức hiệp hội đóng góp) nhằm bảo lãnh, trợ giúp các DNNVV thành viên, hoạt động

phi lợi nhuận; ba là do các tổ chức, công ty thành lập, hoạt động kinh doanh chính là

bảo lãnh, trợ giúp các doanh nghiệp, doanh thu là từ phí thu được từ hoạt động cấp

BLTD và tư vấn, trợ giúp các khách hàng là các DNNVV, hoạt động vì mục đích lợi

nhuận;

Thứ tư, trên cơ sở nguồn số liệu được cập nhật phong phú, Luận án đã nghiên cứu

thực trạng hoạt động của các Quỹ BLTD tại các địa phương đã thành lập Quỹ BLTD,

2

đưa ra những kết quả đã đạt được trong quá hoạt động của Quỹ BLTD trong thời gian

qua về mặt kinh tế cũng như về mặt xã hội. Về mặt kinh tế: đáp ứng nhu cầu vốn ngày

càng cao cho DNNVV, rủi ro BLTD ở Quỹ vẫn ở mức an toàn, doanh thu và lợi nhuận

của Quỹ ngày càng cao, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng phát triển.

Về mặt xã hội là tạo việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống dân cư, góp

phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế- phân công lao động giữa các vùng miền, bảo vệ môi

trường tự nhiên, môi trường sinh thái và mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với

Quỹ BLTD ở mức cao.

Thứ năm, kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy tất cả các thang đo các khái

niệm đều đạt độ tin cậy và độ giá trị khái niệm; mô hình lý thuyết đề xuất cho nghiên

cứu phù hợp với dữ liệu thu thập; 6 yếu tố của mô hình nghiên cứu đề xuất đều có tác

động đến nhu cầu BLTD là: (1) Loại hình hoạt động của doanh nghiệp, (2) Quy mô

doanh nghiệp, (3) Thời gian hoạt động của doanh nghiệp, (4) Giá trị tài sản cố định,

(5) Động lực phát triển và (6) Niềm tin. Như vậy, các DNNVV có nhu cầu về BLTD

từ Quỹ BLTD rất lớn trong hiện tại và tương lai nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua

những khó khăn về vốn, lao động, đối thủ cạnh tranh và phát triển công nghệ tiên tiến.

Thứ sáu, đã cho thấy được những hạn chế về các chính sách của nhà nước có

liên quan đến hoạt động của Quỹ BLTD. Luận án cũng đã nêu được những khó khăn

và hạn chế của Quỹ BLTD trong thời gian qua. Đưa ra nguyên nhân của hạn chế từ

phía các bản thân Quỹ BLTD; từ phía các DNNVV; từ phía các chính sách, pháp luật

và sự quan tâm của các cấp quản lý; và từ phía các TCHH. Do đó, việc đưa ra các giải

pháp để hoạt động của Quỹ có hiệu quả là hết sức cấp bách và cần thiết;

Thứ bảy, xuất phát từ những hạn chế và những nguyên nhân khách quan và chủ

quan của những hạn chế, để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD đối

với DNNVV; Luận án đưa ra 4 nhóm giải pháp:

+ Đối với bản thân Quỹ BLTD: cần xây dựng chiến lược phát triển hoạt động;

đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ bảo lãnh, tư vấn; tăng cường công tác quản lý rủi ro

hoạt động cấp BLTD; năng cao năng lực quản lý và trình độ chuyên môn; phối hợp

chặt chẽ với các TCTD, các TCHH; mở rộng đối tượng cấp BLTD; đẩy mạnh hoạt

3

động tư vấn; đầu tư trực tiếp vào DNNVV; có qui chế riêng cho những DNNVV tham

gia vào cụm liên kết ngành.

+ Đối với các DNNVV: cần hoàn thiện bộ máy tài chính kế toán; thay đổi thói

quen thanh toán bằng tiền mặt để tạo sự minh bạch về tài chính; xây dựng thương

hiệu; tăng cường hợp tác, tham gia vào cụm liên kết ngành hoặc khu công nghiệp hỗ

trợ.

+ Đối với các TCTD: cần có chính sách lãi suất riêng đối với những DNNVV

đã được cấp BLTD; tăng cường sự quan tâm cấp tín dụng đối với loại hình doanh

nghiệp này.

+ Đối với các TCHH: cần nâng cao vai trò hơn nữa để thu hút các thành viên,

có chiến lược hoạt động dài hạn để đảm bảo lợi ích cho các thành viên tham gia.

Thứ tám, để thực hiện các giải pháp, Luận án đã đưa ra những kiến nghị đối với

các cơ quan ban ngành như ổn định chính sách kinh tế vĩ mô, chính quyền địa phương

cần quan tâm đến DNNVV và hoạt động của Quỹ BLTD, nâng cao vai trò các TCHH,

tăng cường thu hút vốn cho Quỹ BLTD, có chính sách cho phép thành lập các Quỹ

BLTD do các TCHH và doanh nghiệp thành lập vì mục đích lợi nhuận để đáp ứng nhu

cầu BLTD của DNNVV, đồng thời đưa ra các mô hình cũng như các bước thực hiện

cụm liên kết ngành để nâng cao năng lực cho các DNNVV tại Việt Nam.

Tp. HCM, ngày 16 tháng 4 năm 2013

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

NGHIÊN CỨU SINH

TS. Phan Ngọc Minh TS. Lâm Thị Hồng Hoa

Trương Văn Khánh

4

MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING THE STATE BANK OF VIETNAM

BANKING UNIVERSITY OF HO CHI MINH CITY

THE INFORMATION SUMMARY

ON THE NEW CONCLUSION OF DOCTORAL THESIS

Title: The performance of Credit Guarantee Funds for small and medium enterprises in Vietnam

Major: Economics and Finance, Banking Code: 62 34 02 01

PhD student: Truong Van Khanh Course: 14

Science instructors: PhD. Phan Ngoc Minh and PhD. Lam Thi Hong Hoa

Through the research process, the thesis has been completed with the certain

results, PhD student would like to present the summary of the new conclusions as

follows:

Firstly, the thesis has clarified the theoretical problems of CGFs for SMEs,

operating capital of CGFs, the indicators measured the performance of CGFs in

economic and social aspects. Most of the thesis’s content has given the factors

affecting performance of CGFs, such as: political and legal environment, social and

economic; state policy on credit guarantee in order to support SME development;

capacity of SMEs; capacity of commercial banks; and credit guarantee needs of SMEs.

Secondly, on the basis of empirical research, the thesis has proposed research

model to quantify demand credit guarantee of SMEs which includes six factors: (1)

Operating fields of enterprises, (2) Scale enterprises, (3) Operating time of businesses,

(4) The value of fixed assets, (5) Developmental dynamics and (6) Confidence of

enterprises. These factors will be the basis for testing model to quantify demand credit

guarantee of SMEs by experimental study.

Thirdly, the thesis has researched on experience of SME CGFs’ activities in

1

China, Korea and Malaysia; and then drawn some lessons for Vietnam, specifically:

+ The Government considers SMEs as the most important economic sectors, so

there are a lot of supportive policies to assist SME development;

+ Credit guarantee policy for SMEs is an important policy in most of the

national economic policies and is formed very early;

+ Credit guarantee policies must ensure the interests of the parties, such as: the

guarantors (CGFs), the guarantee beneficiaries (banks) and the guaranteed parties (SMEs);

+ Almost all countries have established specialized CGFs, such as:

technological CGFs specializing in guarantee for SMEs operating in the field of

information technology and telecommunications; Agricultural CGFs specializing in

guarantee for SMEs operating in the agricultural Industry; CGFs specializing in the

export sector, ...

+ The credit guarantee models include model having only one level and model

having two levels. Most countries in the world have united credit guarantee models for

SMEs from the central to local levels;

+ There are three credit guarantee models: first has been established by the

Government, not commercially oriented (such as: the current model in Vietnam);

second has been founded by the Associations (working capital is contributed by the

members of the associations) to guarantee, support the SME members, non-profit

activities; third has been set up by the companies, the main business activities are SME

guarantee, CGF has revenue from fees collected by consulting activities, allocating

guarantee and assisting SME clients, commercially oriented;

Fourthly, on the basis of updated abundant data, the thesis has studied the

performance status of CGFs at the localities (which have already established CGFs),

giving the economic and social results achieved during the operation of CGFs in the

last time. In economic aspect: meeting the increasing SME capital demand, safe level

of credit risk guarantee of CGFs, increasing not only the CGFs’ revenue and profit, but

also the efficiency of businesses. In social aspect: creating jobs for workers, improving

the living standards, contributing to economic restructuring and labor allocation

between regions, protecting the natural and ecological environment, and high SME

2

satisfaction level of CGFs;

Fifthly, the results of multiple regression analysis have showed that all the

conceptual scales are achieved reliability and value concepts; theoretical model is

proposed for research in accordance with the data collected; 6 factors of the proposed

research model have an impact on demand credit guarantee: (1) Operating fields of

enterprises, (2) Scale enterprises, (3) Operating time of businesses,(4) The value of

fixed assets, (5) Developmental dynamics and (6) Confidence of enterprises. As such,

SMEs have a great need of demand guarantee to obtain bank credit now and in the

future to help themselves overcome the difficulties of capital, labor, competitors and

advanced technology development;

Sixthly, the theme has showed not only the limitations of the state's policies

related to the operation of CGFs, but also the difficulties and limitations of CGFs in

the last time. Concurrently, the theme has brought out the cause of restrictions from

many aspects, such as: CGFs, SMEs, credit institutions, the policy, laws and the

interest of management level. Therefore, making the solutions to increase the effective

operation of CGFs is urgent and necessary;

Seventhly, coming from the objective and subjective causes of the limitations,

the thesis has proposed four groups of measures to improve the performance of CGFs

for SMEs:

+ Solutions to CGFs: building up strategic development; diversifying escrow

and consulting services; strengthening risk management of activitiy credit guarantee,

management capacity and professional qualifications; coordinating closely with local

banks, associations; expanding guarantee objects; promoting consulting services;

investing directly in SMEs; and having private regulations for the SMEs participating

in associate clusters.

+ Solutions to SMEs: improving accounting and financial system; changing

cash payment habits to create financial transparency; building business brand name;

and strengthening cooperation, participation in associate clusters or supportive

industrial sectors.

+ Solutions to credit institutions: having specific interest rate policy for SMEs

which have been issued credit guarantee; and increasing interest in granting credit

3

resources to SMEs.

+ Solutions to associations: further enhancing the role of associations in order

to attract members, and having long-term operational strategy to ensure benefits for

the participants.

Eighthly, to put these solutions into practise, the thesis has put forward

proposals to relevant agencies, such as: stabling macroeconomic policy, enhancing the

role of associations, attracting more capital for CGFs, having policies on establishing

commercially oriented CGFs by associations and businesses to meet SME demand

guarantee,... Besides, the author has given the models as well as the steps in

performing associate industry clusters to enhance the capacity of SMEs in Vietnam.

HCM City, April 16th,2013

SCIENCE INSTRUCTORS

PhD STUDENT

PhD. Phan Ngoc Minh PhD. Lam Thi Hong Hoa

Truong Van Khanh

4