intTypePromotion=1

Hiểu tâm lý để giáo dục trẻ nên người

Chia sẻ: Vũ Đỗ Hồng Nhung | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:29

0
80
lượt xem
25
download

Hiểu tâm lý để giáo dục trẻ nên người

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ông bà ta thường có câu: “Dạy con từ thưở còn thơ”, điều đó vẫn không sai qua mọi thời đại. Trong thời đại ngày nay, có thể nói dạy con là cả một nghệ thuật sống với trẻ, hòa hợp với trẻ bằng cả tình yêu thương, hiểu biết tâm lý trẻ và phải dựa vào phương pháp sư phạm để dẫn dắt chúng lớn khôn chứ không chỉ đơn thuần là truyền thụ những kinh nghiệm mà mình đã kinh qua. Với công nghệ thông tin, một đứa trẻ lên 2 đã có thể dọ dẫm cầm chuột máy...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hiểu tâm lý để giáo dục trẻ nên người

  1. Hiểu tâm lý để giáo dục trẻ nên người Ông bà ta thường có câu: “Dạy con từ thưở còn thơ”, điều đó vẫn không sai qua mọi thời đại. Trong thời đại ngày nay, có thể nói dạy con là cả một nghệ thuật sống với trẻ, hòa hợp với trẻ bằng cả tình yêu thương, hiểu biết tâm lý trẻ và phải dựa vào phương pháp sư phạm để dẫn dắt chúng lớn khôn chứ không chỉ đơn thuần là truyền thụ những kinh nghiệm mà mình đã kinh qua. Với công nghệ thông tin, một đứa trẻ lên 2 đã có thể dọ dẫm cầm chuột máy vi tính, lên đến 4 – 5 tuổi khi chưa đọc được mặt chữ nhưng chúng cũng có thể bắt đầu rê chuột vẽ hình, thậm chí biết thế nào là vào internet để chơi những trò chơi đơn giản. Bước vào lớp một khi vừa tròn 6 tuổi, cha mẹ không khéo con trẻ cũng có thể chúi mũi vào trò chơi trực tuyến (game online), có thể cả những trò chơi mang tính bạo lực. Gần ba chục năm về trước, truyền hình không phải ai cũng có điều kiện để tiếp cận, còn ngày nay, quảng cáo không kiểm soát, quá sự thật đầy rẫy trên truyền hình cũng có thể làm đứa trẻ lên hai mê mẫn. Bởi thế
  2. mà thời nay người ta thường hay nhắc tới từ kỹ năng sống, và để con trẻ có được những kỹ năng sống khi trưởng thành, cha mẹ cần phải biết cách giáo dục con trẻ từ khi còn thơ bé, ở lứa tuổi trước khi bước vào lớp một. Vì theo các chuyên gia tâm lý thì thời thơ ấu là thời kỳ then chốt phát triển cảm xúc, trí khôn, khám phá các mối quan hệ và là giai đoạn hình thành nhân cách của con người. Do đó, giáo dục trẻ nhỏ là việc hệ trọng có tính quyết định đến sự hình thành phẩm chất, cá tính và hạnh phúc của cả đời người, cũng như có ảnh hưởng rất lớn đến sự bình ổn và phát triển của xã hội.
  3. Hiểu được nhu cầu học hỏi của các bậc cha mẹ, các bạn trẻ và các nhà giáo dục mầm non, chiều ngày thứ Bảy 04/9/2010 tại Trung Tâm Mục Vụ Tổng Giáo Phận Sài Gòn, Chương Trình Chuyên Đề Cuối Tuần của Ban Mục Vụ Gia Đình đã tổ chức buổi hội thảo với chủ đề: “Tâm lý và cách giáo dục trẻ 0-6 tuổi” nhằm đem đến cho các tham dự viên những kiến thức để họ nắm bắt cơ hội khắc ghi lên tâm hồn con trẻ những giá trị
  4. làm người căn bản, để khi lớn lên chúng có cuộc sống quân bình và hữu dụng trong xã hội. Mở đầu buổi hội thảo, 3 bạn trẻ nhóm Kỹ Năng Sống đã làm hội trường sôi động bằng những cử điệu trên nền bài bài hát I love you, Giêsu : “Hãy sống như Giêsu, hãy nói như Giêsu, sống yêu thương thứ tha…”
  5. Bằng chất giọng ngọt ngào, cùng với lối dẫn giải vấn đề một cách súc tích, đôi lúc tạo sự vui nhộn, thoải mái cho người tham dự, Tiến sĩ Tâm lý Giáo dục Nguyễn Thị Bích Hồng, diễn giả buổi hội thảo, đã trình bày Sự phát triển tâm lý trẻ em (từ 0 đến 6 tuổi) bằng những khái quát chung về trẻ em. Khi nhìn một đứa trẻ chúng ta thường nhìn chúng thế nào thì đối xử với chúng thế đó. Bằng cách tiếp cận vấn đề Quan niệm về trẻ em, cô đã đưa
  6. ra một vài quan điểm không thích hợp khi các bậc cha mẹ nghĩ về con trẻ: Trẻ em là người lớn thu nhỏ: bằng quan niệm này, cha mẹ thường cư xử với con trẻ như những người lớn, chẳng hạn đòi hỏi chúng phải đi vào nề nếp, có ý thức tổ chức, đúng giờ, đúng giấc. Đây là những điều người lớn còn phải rèn luyện, có thể trong nhiều năm nhưng cha mẹ nhiều khi lại áp đặt bắt con trẻ phải thực hiện trong một sớm một chiều là điều không thể. Có những vấn đề, ngay cả người lớn không phải khi người ta nói một lần là hiểu, nói một lần là nhớ ngay huống chi là trẻ con. Thế nhưng, người lớn lại thường quan niệm rằng trẻ cần phải hiểu ngay và nhớ những điều mà mình nói ra. Khi con trẻ lỡ sai lầm - như làm đánh rơi vật dụng, làm đổ vỡ - ta thường không sửa dạy, chỉ bảo con trẻ mà chỉ la mắng chúng. Có khi ta bảo trẻ làm việc quá sức như bắt trẻ học nhiều trong độ tuổi mà chúng chỉ biết chơi, bắt chúng làm những việc mà người lớn làm như đánh giày, bán vé số… Những điều trên là quan niệm sai lầm khi cho rằng trẻ phải hiểu, phải suy nghĩ và hành động như
  7. người lớn. Trẻ em là đứa con nít: quan niệm này cho rằng đứa trẻ không biết gì, cha mẹ coi con trẻ còn khờ dại. Chính vì thế người lớn coi thường trẻ, không quan tâm đến ý kiến của chúng, áp đặt chúng theo ý của mình. Về phương diện tâm lý học thì trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ nhưng trẻ em có suy nghĩ và cảm nhận riêng không như ta nghĩ. Diễn giả đã đưa ra 3 ví dụ điển hình cho thấy trẻ em có cảm nhận riêng về môi trường xung quanh: VD1. Một bé trai 3 tuổi học lớp mầm, trong một lần đi học về gặp bố cứ nhào vào lòng bố, mè nheo đòi ẵm. Người bố đi làm về mệt nhọc, bực bội trong người gắt với con: Con cái gì mà, đi làm về mệt còn mè nheo không cho nghỉ ngơi! Đứa bé rời bố, thản nhiên, không hờn, không giận, khuôn mặt tỉnh bơ, nhưng đáp lại lời bố: Bố nói sai rồi, con là “con đực” chứ đâu phải “con cái”.
  8. VD2. Một đứa bé khác (cũng 3 tuổi) đi học về thì bảo mẹ: mẹ ơi, mai nghỉ học. Người mẹ thoáng nghĩ rồi trả lời: không, mai thứ Năm sao nghỉ học? Đứa bé lại trả lời: Bảng ghi mai nghỉ học mà! Mẹ ngạc nhiên, nó 3 tuổi làm gì biết đọc mà bảng ghi thế này thế nọ, thường thì có gì cô giáo dặn bố mẹ chứ làm sao trẻ biết, mẹ khẳng định: không, mai đi học. Đứa bé vẫn khăng khăng: mai nghỉ mà! Người mẹ nghĩ rằng chắc con làm sao đó nên lờ chuyện này luôn. Sáng hôm sau, đứa bé nằng nặc không đi học, nhưng mẹ thì cương quyết đưa con đến trường. Đến trường, mẹ bảo bé: các bạn đi học đông đủ sao con bảo là nghỉ? Bé dẫn mẹ đến tấm bảng mà hằng ngày cô giáo thường ghi thực đơn và nói với mẹ rằng hôm qua con thấy bảng ghi là mai nghỉ học. Người mẹ nhìn vào bảng thì thấy từ thứ Hai đến thứ Năm ghi đặc kín thực đơn, lúc đó mới chợt hiểu là do bé quan sát khi thấy tấm bảng ghi đầy chữ thì biết ngày mai là thứ Bảy được nghỉ học. Do các tuần trước, ngày nào cô ghi thực đơn ngày hôm đó, nhưng tuần này vì lý do gì đó nên thứ Tư cô đã ghi sẵn thực đơn đến thứ Sáu nên bé quan sát thấy bảng đã ghi đầy, cứ
  9. tưởng là mai được nghỉ học. VD3. Một ông bố chở con đi học về, đường xá xe cộ đông đúc, ông bố thấy một chàng thanh niên đánh rơi tập hồ sơ, ông liền kêu chàng thanh niên: rớt đồ anh ơi! Chàng thanh niên không kịp nghe, và rồi xe cộ đông đúc ông cũng không kịp lượm giúp. Nhưng từ đó về nhà đứa con cứ hỏi bố: bố kêu chú chi vậy? Bố trả lời: để chú lượm lại. Đứa bé tiếp tục thắc mắc: bố kêu chú chi vậy? Bố: Kêu chú để chú lượm lại hồ sơ của chú. Bé: Nhưng mà bố kêu chú chi vậy? Ông bố không thể hiểu được hôm nay tại sao con cứ hỏi hoài một câu hỏi. Về đến nhà, con lại tiếp tục hỏi cùng một câu hỏi đó. Bố kể cho mẹ bé nghe câu chuyện và cũng thắc mắc là không biết tại sao con lại hỏi như thế? Lúc này, người mẹ mới nhận ra lý do, thì ra thỉnh thoảng trong những lần chở con đi chơi, bé thường cầm theo đồ chơi, có lúc đánh rơi, bé la lên đòi lượm lại, những lúc ấy bố mẹ thường bảo thôi lỡ rớt rồi, bỏ đi con. Bởi vậy, khi thấy chàng thanh niên đánh rơi hồ sơ mà bố lại kêu lượm lại thì bé thắc mắc không hiểu tại sao bố lại kêu lượm làm chi?
  10. Qua ba ví dụ trên có thể kết luận rằng, trong giáo dục trẻ em, không nên áp dụng kinh nghiệm chủ quan của người lớn đối với trẻ, vì trẻ có những cảm nhận riêng về thế giới xung quanh. Bên cạnh đó, mỗi thời đại mỗi khác nên kinh nghiệm dạy trẻ là khác nhau do xã hội ngày càng phát triển. Nói đến một con người không thể chỉ đề cập con người đó từ lúc lọt lòng mẹ, mà cần phải xác định rằng con người đã được hình thành từ lúc hoài thai, bởi vậy giai đoạn thai nhi cũng là giai đoạn rất quan trọng có thể ảnh hưởng đến sau này. Trong phạm vi chủ đề giáo dục trẻ từ 0 đến 6 tuổi, là thời kỳ trước tuổi đi học, có thể chia làm ba giai đoạn: sơ sinh: từ 0 đến 1 tuổi, nhà trẻ: từ 1 đến 3 tuổi và mẫu giáo: từ 3 đến 6 tuổi. Để tìm hiểu Tâm lý trẻ sơ sinh (0-1 tuổi), chúng ta cần nhắc lại kinh nghiệm của người đi trước, ông bà ta thường khuyên nhủ: không nên thăm trẻ khi trẻ chưa đầy tháng. Theo dân gian,
  11. người ta thường hay cho rằng đây là vấn đề kiêng cử, nhưng theo thực tế cần phải biết rằng giai đoạn trong tháng trẻ dành 80% thời gian để ngủ, mà lại là ngủ ban ngày để thức ban đêm. Thời kỳ này cần đáp ứng nhu cầu vật chất: bú no, mặc ấm. Ngoài ra, trẻ còn có nhu cầu ấn tượng, trẻ cần thích nghi với môi trường bên ngoài bụng mẹ: làm quen với ánh sáng, tiếng động, không gian trong phòng, những khuôn mặt thường chăm sóc trẻ. Thường đến lúc đầy tháng là lúc đủ thời gian cần thiết để trẻ thích ứng với bên ngoài, nhưng cũng có thể sớm hay trễ hơn.
  12. Khi ra ngoài tháng, bé có thêm nhu cầu nhận thức: nhận thức được thế giới xung quanh, nhận biết được những người chăm sóc bé. Đến cuối tháng thứ hai thì bé có nhu cầu giao lưu: bé sẽ có hoạt động chủ đạo, đó là hoạt động giao lưu bằng xúc cảm trực tiếp với người lớn, thông qua xúc giác, nghĩa là cảm nhận bằng cảm xúc, nhất là qua giọng nói và điệu bộ của người lớn. Với hoạt động chủ đạo này, tùy theo hoàn cảnh được chăm sóc
  13. mà trẻ sẽ hoạt động theo chiều hướng tích cực hoặc hạn chế. Chiều hướng tích cực: trẻ giao lưu nhiều do đó đạt được cảm xúc tin tưởng. Thông thường người mẹ sau khi sinh thì theo sát, không rời con trong thời gian 3-4 tháng làm cho đứa trẻ có mật độ giao lưu cao với mẹ. Người mẹ biết tất cả mọi thói quen của trẻ, khi nào khóc do đói, khi nào khóc do nhu cầu vệ sinh hay khóc vì những lý do khác. Điều đó tạo nên cảm xúc tin tưởng nơi đứa trẻ, do người mẹ đã đáp ứng, quan tâm đến trẻ mỗi lúc bé cần. Cảm xúc tin tưởng sẽ làm đứa bé tự tin, bản lĩnh, tâm lý cân bằng, dễ vượt khó… Chiều hướng hạn chế: trẻ ít giao lưu do sự đáp ứng không được tốt sẽ dẫn đến trẻ có cảm xúc không tự tin. Một đứa trẻ sinh ra không có người thường xuyên chăm sóc mình, như những trẻ mồ côi trong các cơ sở bảo trợ xã hội, những người chăm sóc không thể chăm nhiều trẻ cùng một lúc mà phải theo nguyên tắc tuần tự, làm cho mật độ giao lưu bị hạn chế, vấn đề đáp ứng cũng hạn chế: nhiều trẻ cùng khóc với nhiều lý do khác nhau
  14. làm cho có bé phải chờ đợi, khiến bé có cảm nhận hoang mang, nghi ngờ dẫn đến tự vệ cao, yếu đuối, không tự tin… Vấn đề đặt ra là có nên thay đổi người chăm sóc trẻ liên tục, hay mặc kệ trẻ khóc cho “nở phổi”, hay trốn bé để sau này bé không đeo mẹ? Câu trả lời là không! Vì như thế sẽ rơi vào tình trạng người chăm sóc không hiểu trẻ, làm cho trẻ hoang mang, tạo cho trẻ cảm xúc bất an, không tin tưởng. Mỗi khi người chăm sóc đến với trẻ là để xem nhu cầu của trẻ là gì, nhằm đáp ứng nhu cầu của trẻ, giúp trẻ bình an chứ không phải để bồng ẵm, tạo thói quen ỷ lại cho trẻ. Tóm lại, những gì xảy ra trong giai đoạn sơ sinh sẽ lưu lại và ảnh hưởng rất lớn đến thời kỳ sau này. Với trẻ sơ sinh, các bậc cha mẹ cần giáo dục con cái các đức tính: tính sạch sẽ, tính kỹ luật: ăn ngủ đúng giờ, tính kiên nhẫn, tính thẩm mỹ: trang trí phòng ốc, đồ chơi và dạy trẻ nhận biết thế giới xung quanh. Khi trẻ em tròn 1 tuổi - được đánh dấu bằng ngày thôi nôi, là lúc
  15. cha mẹ cần nắm bắt Tâm lý tuổi Nhà trẻ (1-3 tuổi). Bước vào thời kỳ này, trẻ có ba dấu hiệu tiến bộ hơn trước lúc thôi nôi: biết đi, biết sử dụng đồ vật và biết nói. Nhờ đâu mà trẻ có được những thành tựu này? Đó là nhờ vào sự dạy bảo, giúp đỡ của người lớn. Đây là giai đoạn trẻ thực sự được xã hội hóa, là giai đoạn trẻ phát triển không đồng đều giữa các chức năng, điều này phụ thuộc rất nhiều vào người chăm sóc. Chính vì thế, đừng vội đánh giá trẻ này chậm hơn những trẻ khác về mặt này, mặt kia làm ảnh hưởng đến việc phát triển tâm lý trẻ rất nhiều. Mặt khác, ba thành tựu này cũng giúp trẻ độc lập hơn, ít phụ thuộc vào người chăm sóc. Trong giai đoạn này, trẻ bắt đầu chứng kiến một vài tình huống: muốn thực hiện điều gì đó mà không được, chẳng hạn như nghịch cát, táy máy đồ đạc như quạt máy, ổ điện… hoặc ngược lại trẻ không muốn mà bị buộc phải làm như ăn cơm, uống thuốc… Lúc này, trẻ ý thức được cái tôi của mình, thậm chí bướng bỉnh, chống đối, chỉ muốn làm theo ý thích của mình, đó là chuyện bình thường trong phát triển tâm lý trẻ em. Trong cư xử với trẻ, đây là giai đoạn cần giải thích cho
  16. trẻ những vấn đề xung quanh. Quá trình sử dụng đồ vật của trẻ cũng sẽ ảnh hưởng đến tâm lý trẻ. Đặc điểm của trẻ là rất dễ có cảm xúc, nhưng cảm xúc không bền, hay thay đổi, cần dựa vào đặc điểm này để cư xử với trẻ, không được ép buộc trẻ, mà nên dùng cách đánh lạc hướng. Hoạt động chủ đạo của trẻ là hoạt động với đồ vật, công cụ. Tương tự như giai đoạn sơ sinh, tùy theo hoàn cảnh được chăm sóc mà trẻ sẽ hoạt động theo chiều hướng tích cực hoặc hạn chế. Chiều hướng tích cực: Nếu trẻ được hướng dẫn hoạt động thì trẻ sẽ có khả năng tự trị , nghĩa là trẻ biết tự kiểm soát hành vi, tự điều chỉnh, tự quyết định, biết được khả năng của mình, giúp trẻ tự tin. Những hoạt động mà trẻ có thể tự thực hiện dần: tự múc cơm, tự tắm, tự mang dép, tự thay quần áo… Chiều hướng hạn chế: Nếu trẻ không được giải thích, hướng dẫn trong sinh hoạt, trẻ sẽ hoạt động, sinh hoạt với cảm xúc xấu hổ, thường là do bị chê bai, dẫn đến hoang mang, không biết khả năng của mình.
  17. Thông thường trẻ thôn quê lại dễ đi theo chiều hướng tích cực, trong khi trẻ thành thị do được cha mẹ “chăm sóc kỹ lưỡng” quá lại dẫn đến thụ động mà đi theo chiều hướng hạn chế. Sau giai đoạn nhà trẻ, để hiểu rõ Tâm lý tuổi Mẫu giáo (3-6 tuổi), các bậc cha mẹ cần nắm bắt các hoạt động của trẻ, trong độ tuổi này trẻ tiếp tục hoạt động với đồ vật công cụ, trẻ bắt đầu tham gia những hoạt động cơ bản của con người, được thể hiện một cách đa dạng qua các hoạt động: Vui chơi: trẻ bắt đầu hoạt động với cộng đồng qua các trò chơi sắm vai như: làm cô giáo, bác sĩ, cha mẹ trong gia đình… Lao động: trẻ biết tự phục vụ và phụ giúp cha mẹ như: đánh răng, thay đồ, quét nhà, dọn bát đĩa ăn cơm… Tuy lao động không đem lại hiệu quả kinh tế nhưng trong giai đoạn này nó mang ý nghĩa giáo dục cho sự phát triển của trẻ, kích thích lòng ham muốn làm việc, tránh đi sự lười biếng.
  18. Học tập: lúc này trẻ học kỹ năng nhận thức chứ không phải tiếp nhận tri thức, như tập ngồi yên, chú ý nghe cô nói, học quan sát. Chính vì thế, đừng nhồi nhét trẻ trong giai đoạn này. Đồng thời, trong độ tuổi này trẻ xuất hiện trí tưởng tượng phong phú, chi phối cảm xúc và hành vi. Trẻ sống và nói theo trí tưởng tượng, đôi khi làm cho người lớn nghĩ là trẻ bịa chuyện. Ví dụ: trẻ thường được ba mẹ dẫn đi tiệc cưới và được cho bong bóng, đôi lúc bé lại khoe với bạn bè là do đám cưới của ba mẹ mình nên mình được cho một chùm bong bóng lớn! Cần phải khuyến khích trí tưởng tượng vừa phải của trẻ, chứ đừng nên dập tắt trí tưởng tượng nơi trẻ. Tuổi mẫu giáo cũng là giai đoạn của sự hình thành nhân cách . Có một số yếu tố hình thành nên nhân cách trẻ như tính cách ổn định, đó là những biểu hiện tâm lý ổn định, những dấu hiệu lặp đi lặp lại tạo nên tính cách khác với trẻ khác, chẳng hạn như trẻ hay cho đồ người khác. Bên cạnh đó, trẻ bắt đầu có hành động
  19. hướng đích, biết rằng làm một việc nào đó để làm gì, chẳng hạn như ăn cơm nhanh để đi siêu thị. Đặc biệt, nơi trẻ cũng xuất hiện những tình cảm cấp cao là tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ và tình cảm thẩm mỹ. Tình cảm đạo đức: trẻ biết phán xét, biểu lộ thái độ và có lương tri, nghĩa là bày tỏ thái độ trước những hành vi đúng, sai. Trước những điều tốt, trẻ ủng hộ, đồng tình và cả tự hào; còn trước những điều sai trái, trẻ phê và tự phê một cách công bằng, nghiêm túc, chẳng hạn tại sao bố hay mẹ lại vượt đèn đỏ, sao bố hay mẹ lại nói mày, tao? Tình cảm trí tuệ: thông qua hành vi, trẻ thích tìm hiểu thế giới xung quanh, trẻ tự khám phá và thích khám phá, chẳng hạn khi mua đồ chơi về, trẻ thích nghịch ngợm tìm tòi, gỡ bung ra mọi thứ để xem bên trong có các bộ phận gì. Độ tuổi này trẻ thường đặt câu hỏi và luôn hỏi tới, vì thế người lớn cần tìm câu trả lời thích hợp, thỏa đáng cho trẻ, cần tôn trọng trẻ chứ không nên dập tắt vì trẻ ham “học hỏi”.
  20. Tình cảm thẩm mỹ: thích cảm thụ, thưởng thức và sở hữu cái đẹp. Trên đây là những đặc điểm để trẻ hình thành nhân cách và quá trình phát triển nhân cách là giai đoạn tạo nền móng để trẻ phát triển lâu dài về sau. Cơ chế để hình thành nhân cách thông qua việc bắt chước và người lớn cần phải có trách nhiệm giáo dục trẻ. Do đặc điểm bắt chước mà trẻ chịu ảnh hưởng rất lớn từ cha mẹ và cô giáo. Trẻ chứng kiến hoạt động của người lớn và làm theo cả điều đúng lẫn điều sai, chẳng hạn thấy người lớn cụng ly trong các buổi tiệc, trẻ uống nước cũng bắt chước cụng ly. Nếu người lớn chuẩn mực thì trẻ sẽ bắt chước điều hay, trẻ được giáo dục đúng thì sẽ có tính tốt. Bên cạnh đó, trẻ dễ tiêm nhiễm thói xấu của người lớn nên cần cẩn trọng trong hành vi trước mặt trẻ. Trong độ tuổi này, hoạt động chủ đạo của trẻ là hoạt động vui chơi. Nếu trẻ phát triển theo chiều hướng tích cực, trẻ sẽ chủ động, sáng tạo, nên trẻ cần phải được khuyến khích và hướng

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản