intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Hình thành và phát triển kĩ năng tạo động lực lao động cho tập thể sư phạm trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lí trường học

Chia sẻ: Tony Tony | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
15
lượt xem
1
download

Hình thành và phát triển kĩ năng tạo động lực lao động cho tập thể sư phạm trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lí trường học

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Kĩ năng tạo động lực lao động cho tập thể sư phạm là một kĩ năng lãnh đạo quan trọng, biểu hiện năng lực của người cán bộ quản lí để thực hiện vai trò quản lí và lãnh đạo nhà trường trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay. Kĩ năng này có thể được hình thành và phát triển thông qua con đường đào tạo và bồi dưỡng. Chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lí trường học cần chú trọng đến kĩ năng này từ việc xác định chuẩn đầu ra đến việc xây dựng nội dung chương trình và cách thức thực hiện.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hình thành và phát triển kĩ năng tạo động lực lao động cho tập thể sư phạm trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lí trường học

Trường Đại học Vinh<br /> <br /> Tạp chí khoa học, Tập 46, Số 4B (2017), tr. 5-11<br /> <br /> HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG TẠO ĐỘNG LỰC<br /> LAO ĐỘNG CHO TẬP THỂ SƯ PHẠM TRONG ĐÀO TẠO,<br /> BỒI DƯỠNG CÁN BỘ QUẢN LÍ TRƯỜNG HỌC<br /> Nguyễn Thị Thúy Dung<br /> Khoa Giáo dục, Trường Đại học Sài Gòn<br /> Ngày nhận bài 22/10/2017, ngày nhận đăng 08/12/2017<br /> Tóm tắt: Kĩ năng tạo động lực lao động cho tập thể sư phạm là một kĩ năng lãnh<br /> đạo quan trọng, biểu hiện năng lực của người cán bộ quản lí để thực hiện vai trò quản<br /> lí và lãnh đạo nhà trường trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay. Kĩ năng<br /> này có thể được hình thành và phát triển thông qua con đường đào tạo và bồi dưỡng.<br /> Chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lí trường học cần chú trọng đến kĩ năng<br /> này từ việc xác định chuẩn đầu ra đến việc xây dựng nội dung chương trình và cách<br /> thức thực hiện.<br /> <br /> 1. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Vai trò của người cán bộ quản lí<br /> (CBQL) trường học nói chung và CBQL<br /> trường phổ thông nói riêng trong bối cảnh<br /> đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay đang<br /> có những thay đổi cơ bản. Để hoàn thành<br /> tốt vai trò này, người CBQL trường học<br /> cần có những kĩ năng lãnh đạo quan<br /> trọng. Một trong những kĩ năng lãnh đạo<br /> cần thiết đối với CBQL trường học hiện<br /> nay là kĩ năng tạo động lực lao động cho<br /> tập thể sư phạm (TTSP) của nhà trường.<br /> Kĩ năng này có tầm quan trọng gì, có thể<br /> hình thành và phát triển như thế nào ở<br /> CBQL để thực hiện vai trò quản lí và lãnh<br /> đạo nhà trường hiện nay? Để trả lời<br /> những câu hỏi này, trong phạm vi bài viết,<br /> chúng tôi sẽ phân tích những yêu cầu đối<br /> với CBQL trường học trong giai đoạn<br /> hiện nay, từ đó phân tích tầm quan trọng<br /> của kĩ năng tạo động lực lao động cho<br /> TTSP đối với CBQL trường học; đề xuất<br /> con đường hình thành và phát triển kĩ<br /> năng này thông qua chương trình đào tạo,<br /> bồi dưỡng CBQL trường học.<br /> <br /> 2. NHỮNG YÊU CẦU ĐỐI VỚI<br /> CÁN BỘ QUẢN LÍ TRƯỜNG HỌC<br /> TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY<br /> dục<br /> <br /> 2.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội - giáo<br /> <br /> Bối cảnh kinh tế - xã hội - giáo dục<br /> trong thế kỉ XXI sẽ dẫn đến những yêu<br /> cầu mới đối với người CBQL trường học.<br /> Về kinh tế - xã hội, cuộc cách mạng<br /> khoa học công nghệ đã và đang phát triển<br /> với tốc độ ngày càng nhanh và mạnh hơn;<br /> nền kinh tế thế giới đang chuyển dần từ<br /> kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức;<br /> toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang là<br /> xu thế tất yếu [5, tr. 9].<br /> Giáo dục ngày càng mang tính đại<br /> chúng, giáo dục cho mọi người đang trở<br /> thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều<br /> quốc gia. Giáo dục thế kỉ XXI cũng là<br /> một nền giáo dục suốt đời. Xu thế xây<br /> dựng xã hội học tập được xem là một<br /> chiến lược của các quốc gia không chỉ<br /> nhằm phát triển giáo dục, mà còn nhằm<br /> phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục<br /> hướng vào “phát triển người”, “phát triển<br /> nguồn nhân lực”, hình thành những năng<br /> lực cơ bản mà thời đại mới đòi hỏi. Giáo<br /> <br /> Email: thuydung139@gmail.com<br /> <br /> 5<br /> <br /> N. T. T. Dung / Hình thành và phát triển kĩ năng tạo động lực lao động cho tập thể sư phạm…<br /> <br /> dục lấy người học làm trung tâm. Người<br /> thầy không còn giữ vai trò là nguồn duy<br /> nhất cung cấp sự hiểu biết. Người thầy<br /> ngày nay là người hướng dẫn, tổ chức học<br /> sinh học tập và tự học, tự đánh giá [6, tr.<br /> 178-183].<br /> Mô hình nhà trường cũng đang thay<br /> đổi. Tác giả Trần Khánh Đức (2011)<br /> trong bài viết “Giáo dục và khoa học giáo<br /> dục trong xã hội hiện đại” đã phân tích 3<br /> mô hình nhà trường theo lịch sử phát triển<br /> xã hội loài người. Trong xã hội nông<br /> nghiệp, các cơ sở GD nhỏ bé, phân tán và<br /> chủ yếu dựa vào mô hình nhà trường<br /> truyền thống trong các cộng đồng, làng<br /> mạc. Trong xã hội công nghiệp, hệ thống<br /> trường học theo mô hình hiện đại. Trong<br /> xã hội thông tin, kinh tế tri thức, trường<br /> học theo mô hình nhà trường thông minh<br /> (sáng tạo, khai phá, quá trình dạy học dựa<br /> vào mạng lưới thông tin) [4, tr. 81].<br /> 2.2. Mô hình mới về quản lí nhà<br /> trường<br /> Để phù hợp với bối cảnh mới về kinh<br /> tế - xã hội - giáo dục nói trên, xu thế<br /> chung về đổi mới quản lí giáo dục là phải<br /> đổi mới tư duy quản lí giáo dục (chuyển<br /> từ tư tưởng quản lí bằng mệnh lệnh hành<br /> chính sang quản lí chủ yếu bằng pháp<br /> luật), đổi mới phương thức quản lí giáo<br /> dục (chuyển từ một chiều, từ trên xuống,<br /> sang tương tác, lấy đơn vị cơ sở là trung<br /> tâm), đổi mới cơ chế quản lí giáo dục<br /> (chuyển từ tập trung, quan liêu, bao cấp<br /> sang phân cấp, dân chủ, tự chủ và tự chịu<br /> trách nhiệm) [1, tr. 9].<br /> Từ đó, mô hình quản lí nhà trường<br /> cũng thay đổi. Mô hình mới về quản lí<br /> nhà trường biểu hiện cụ thể như sau:<br /> - Tập trung nhiều hơn vào lãnh đạo<br /> thay đổi để phát triển nhà trường.<br /> - Nhà trường tự quyết định về tầm<br /> nhìn, sứ mạng, xây dựng các giá trị và<br /> 6<br /> <br /> thực hiện các chương trình hành động<br /> phát triển nhà trường.<br /> - Tự chủ và chịu trách nhiệm trước xã<br /> hội, chủ động quản lí và điều hành các<br /> vấn đề cơ bản: tổ chức và nhân sự, dạy<br /> học và giáo dục, tài chính và tài sản, huy<br /> động cộng đồng [1, tr. 14].<br /> 2.3. Vai trò của người CBQL nhà<br /> trường - nhà lãnh đạo và quản lí<br /> Mô hình mới về quản lí nhà trường<br /> đòi hỏi vai trò của CBQL nhà trường<br /> cũng thay đổi toàn diện. Tác giả Lưu<br /> Xuân Mới trong bài viết “Đào tạo và bồi<br /> dưỡng CBQL giáo dục trong xu thế đổi<br /> mới và hội nhập” [7] đã phân tích những<br /> thay đổi cơ bản trong vai trò của CBQL<br /> nhà trường vào thế kỉ XXI:<br /> - CBQL nhà trường trước đây hướng<br /> tới ổn định và trật tự; còn CBQL nhà<br /> trường ngày nay hướng tới đổi mới và<br /> phát triển.<br /> - CBQL nhà trường trước đây quản lí<br /> bằng mệnh lệnh, chỉ huy, ra lệnh và kiểm<br /> soát; còn CBQL nhà trường ngày nay phải<br /> đóng vai trò nhà chính trị để tạo được sự<br /> đồng thuận trong tổ chức, hướng dẫn, tư<br /> vấn, hỗ trợ, tạo điều kiện cho đội ngũ.<br /> - CBQL nhà trường trước đây không<br /> biết đến sức ép tài chính, còn CBQL nhà<br /> trường ngày nay phải xoay xở như một<br /> doanh nhân.<br /> - CBQL nhà trường trước đây thực<br /> hiện mệnh lệnh của cấp trên trong mọi<br /> lĩnh vực: chuyên môn, tổ chức, nhân sự,<br /> tài chính; còn CBQL ngày nay phải chủ<br /> động trong quyết định, tổ chức thực hiện,<br /> minh bạch hóa các hoạt động chuyên<br /> môn, tổ chức, nhân sự, tài chính…<br /> Như vậy, CBQL nhà trường phải vừa<br /> thể hiện vai trò quản lí - thực hiện hiệu<br /> quả các chức năng cơ bản của quản lí, vừa<br /> thể hiện vai trò lãnh đạo: chỉ đường và<br /> hoạch định chiến lược phát triển nhà<br /> trường; đề xướng sự thay đổi để phát triển<br /> <br /> Trường Đại học Vinh<br /> <br /> nhà trường; thu hút, dẫn dắt cá nhân và<br /> tập thể, huy động các nguồn lực để tạo ra<br /> sự thay đổi.<br /> Nói khác đi, người CBQL trường học<br /> không chỉ là người quản lí, mà còn là<br /> người lãnh đạo, tức là vừa vạch ra<br /> phương hướng, ra quyết định trong phạm<br /> vi quản lí của mình; vừa dẫn dắt, thúc<br /> đẩy, điều khiển, tổ chức, sao cho cá nhân<br /> và TTSP tự nguyện và nhiệt tình thực<br /> hiện quyết định nhằm hướng đến việc đạt<br /> mục tiêu chung của nhà trường.<br /> Nếu quản lí là sử dụng các biện pháp<br /> tổ chức chặt chẽ, dựa vào pháp luật và các<br /> thể chế, quy chế, sử dụng con người như<br /> một nguồn lực (nguồn nhân lực) bên cạnh<br /> nguồn tài lực và vật lực, thì lãnh đạo chủ<br /> yếu sử dụng biện pháp động viên, thuyết<br /> phục, gây ảnh hưởng, tác động đến ý thức<br /> của con người. Lãnh đạo là định hướng,<br /> chỉ dẫn, điều khiển, và quan trọng nhất, là<br /> tạo động lực, truyền cảm hứng cho con<br /> người hăng say làm việc.<br /> 3. KĨ NĂNG TẠO ĐỘNG LỰC LAO<br /> ĐỘNG CHO TẬP THỂ SƯ PHẠM MỘT KĨ NĂNG LÃNH ĐẠO QUAN<br /> TRỌNG CỦA NGƯỜI CÁN BỘ QUẢN<br /> LÍ TRƯỜNG HỌC<br /> 3.1. Khái niệm kĩ năng tạo động lực<br /> lao động<br /> * Động lực lao động<br /> Động lực lao động là sự khao khát, tự<br /> nguyện của người lao động để tăng cường<br /> nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết<br /> quả nào đó [3, tr. 134]. Động lực lao động<br /> là những nhân tố bên trong kích thích con<br /> người tích cực làm việc trong điều kiện<br /> cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.<br /> Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ<br /> lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục<br /> tiêu của tổ chức cũng như bản thân người<br /> lao động [10, tr. 89].<br /> <br /> Tạp chí khoa học, Tập 46, Số 4B (2017), tr. 5-11<br /> <br /> Động lực lao động được hình thành<br /> và phát triển dưới tác động của nhiều yếu<br /> tố, như:<br /> - Yếu tố chủ quan (yếu tố thuộc về cá<br /> nhân người lao động): nhu cầu của cá<br /> nhân, đặc điểm tính cách, năng lực của cá<br /> nhân…<br /> - Yếu tố khách quan (yếu tố bên ngoài<br /> tác động vào người lao động): bao gồm<br /> các yếu tố bên trong tổ chức (phong cách<br /> lãnh đạo, cách ứng xử của cấp trên; tính<br /> chất công việc; điều kiện làm việc; chế độ<br /> lương bổng và đãi ngộ; văn hóa tổ<br /> chức…) và các yếu tố bên ngoài (pháp<br /> luật của nhà nước, hệ thống phúc lợi xã<br /> hội, giá trị văn hóa và truyền thống dân<br /> tộc…).<br /> * Kĩ năng tạo động lực lao động<br /> Theo Từ điển tiếng Việt do tác giả<br /> Hoàng Phê chủ biên (1992), “kĩ năng là<br /> khả năng vận dụng những kiến thức thu<br /> nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào<br /> thực tế” [8, tr. 157]. Theo Từ điển Tâm lí<br /> học do tác giả Vũ Dũng chủ biên (2000),<br /> “kĩ năng là năng lực vận dụng có kết quả<br /> những tri thức về phương thức hành động<br /> đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện<br /> những nhiệm vụ tương ứng” [2, tr. 131].<br /> Như vậy, kĩ năng tạo động lực lao<br /> động cho TTSP là một biểu hiện của năng<br /> lực lãnh đạo của người CBQL trường<br /> học. Đó là khả năng vận dụng có kết quả<br /> những tri thức về phương thức hành động<br /> đã được người CBQL lĩnh hội trong thực<br /> tiễn công tác quản lí nhà trường; qua đào<br /> tạo, bồi dưỡng tại trường, lớp hoặc tự<br /> đào tạo và bồi dưỡng của bản thân, nhằm<br /> thực hiện các biện pháp tạo ra sự khao<br /> khát và tự nguyện của cá nhân và TTSP<br /> cố gắng phấn đấu để đạt được các mục<br /> tiêu của nhà trường.<br /> Từ khái niệm trên, có thể thấy 3 vấn<br /> đề quan trọng: thứ nhất, kĩ năng tạo động<br /> lực lao động là một biểu hiện của năng<br /> 7<br /> <br /> N. T. T. Dung / Hình thành và phát triển kĩ năng tạo động lực lao động cho tập thể sư phạm…<br /> <br /> lực lãnh đạo; thứ hai, kĩ năng này hình<br /> thành từ tri thức và kinh nghiệm của<br /> người CBQL trường học; thứ ba, những<br /> tri thức đó người CBQL trường học có thể<br /> thu nhận qua con đường đào tạo và bồi<br /> dưỡng về quản lí trường học.<br /> 3.2. Tầm quan trọng của kĩ năng<br /> tạo động lực lao động cho tập thể sư<br /> phạm<br /> Như đã phân tích, kĩ năng tạo động<br /> lực lao động là sự thực hiện có kết quả<br /> những biện pháp tạo động lực cho cá nhân<br /> và TTSP. Có thể phân tích cụ thể tầm<br /> quan trọng của kĩ năng này như sau:<br /> - Kĩ năng tạo động lực cho TTSP của<br /> người CBQL góp phần tăng năng suất lao<br /> động và hiệu quả sử dụng lao động sư<br /> phạm trong nhà trường. Khi tập thể giáo<br /> viên, nhân viên của nhà trường có động<br /> lực làm việc, mỗi cá nhân sẽ tích cực, tự<br /> giác và hăng say trong công việc, cố gắng<br /> vượt mọi khó khăn khách quan và chủ<br /> quan, nỗ lực cố gắng để hoàn thành công<br /> việc, đạt và vượt chỉ tiêu đề ra. Mặt khác,<br /> khi cá nhân có động lực làm việc, họ sẽ<br /> cố gắng tự hoàn thiện bản thân, nỗ lực<br /> học hỏi, đúc kết kinh nghiệm, nâng cao<br /> kiến thức để hoàn thành công việc ngày<br /> càng tốt hơn.<br /> - Kĩ năng tạo động lực cho TTSP của<br /> người CBQL góp phần làm tăng mức độ<br /> hài lòng, niềm tin, sự tận tụy của giáo<br /> viên, nhân viên trong nhà trường.<br /> - Tạo sự gắn bó của giáo viên và nhân<br /> viên với nhà trường, giữ được người giỏi,<br /> giảm tỉ lệ nghỉ việc, giảm công sức tuyển<br /> dụng và bồi dưỡng giáo viên, nhân viên<br /> mới. Điều này đặc biệt quan trọng trong<br /> thế giới cạnh tranh gay gắt như hiện nay.<br /> Tóm lại, việc người CBQL nhà<br /> trường tạo được động lực làm việc cho<br /> TTSP, đồng nghĩa với việc tạo được niềm<br /> tin, truyền được cảm hứng, dẫn dắt, lôi<br /> cuốn tập thể thực hiện những thay đổi,<br /> 8<br /> <br /> theo đuổi việc thực hiện tầm nhìn và sứ<br /> mạng của nhà trường đã đề ra.<br /> 4. ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN<br /> BỘ QUẢN LÍ TRƯỜNG HỌC VỀ KĨ<br /> NĂNG TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG<br /> CHO TẬP THỂ SƯ PHẠM<br /> 4.1. Hình thành và phát triển kĩ<br /> năng thông qua chương trình đào tạo,<br /> bồi dưỡng cán bộ quản lí trường học<br /> a) Xây dựng chuẩn đầu ra của<br /> chương trình đào tạo, bồi dưỡng<br /> Chuẩn đầu ra của chương trình đào<br /> tạo, bồi dưỡng là năng lực dự kiến người<br /> học làm được sau khi hoàn tất chương<br /> trình đào tạo, bồi dưỡng [11, tr. 26-29].<br /> Kĩ năng tạo động lực lao động cho<br /> TTSP là một biểu hiện của năng lực lãnh<br /> đạo, phải được đưa vào khung năng lực<br /> chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo và<br /> bồi dưỡng CBQL trường học. Trong<br /> chuẩn đầu ra, hệ thống kĩ năng lãnh đạo<br /> cần hình thành và phát triển ở người học<br /> cần được xác định cụ thể, bao gồm cả kĩ<br /> năng tạo động lực lao động. Việc đưa tên<br /> gọi này vào hệ thống kĩ năng lãnh đạo cần<br /> hình thành trong khóa học sẽ chính thức<br /> xác định tầm quan trọng của kĩ năng này<br /> và chi phối việc thiết kế, lựa chọn nội<br /> dung chương trình.<br /> Chuẩn đầu ra của chương trình đào<br /> tạo, bồi dưỡng là cơ sở để xác định chuẩn<br /> đầu ra cho các môn học/chuyên đề trong<br /> chương trình. Như vậy, kĩ năng tạo động<br /> lực lao động khi đã được đưa vào chuẩn<br /> đầu ra của chương trình, sẽ được<br /> “chuyển” vào chuẩn đầu ra của các môn<br /> học/chuyên đề cụ thể và phù hợp trong<br /> chương trình đào tạo, bồi dưỡng.<br /> b) Con đường phát triển kĩ năng<br /> trong chương trình đào tạo, bồi dưỡng<br /> Việc phát triển kĩ năng tạo động lực<br /> lao động có thể thực hiện qua 3 con<br /> <br /> Trường Đại học Vinh<br /> <br /> đường: Thông qua việc tích hợp, lồng<br /> ghép vào các môn học/chuyên đề phù<br /> hợp; thông qua môn học/chuyên đề riêng<br /> biệt; thông qua tìm hiểu thực tế, thực tập,<br /> thực hành trải nghiệm.<br /> - Thông qua việc tích hợp, lồng ghép<br /> vào các môn học/chuyên đề phù hợp<br /> trong chương trình: như đã phân tích ở<br /> trên, chuẩn đầu ra cấp chương trình sẽ<br /> được “chuyển” vào, được cụ thể hóa bằng<br /> chuẩn đầu ra cấp môn học. Như vậy,<br /> trong chương trình đào tạo, bồi dưỡng<br /> CBQL trường học, một số môn<br /> học/chuyên đề có nội dung phù hợp có thể<br /> lồng ghép về phát triển kĩ năng tạo động<br /> lực lao động, chẳng hạn các môn<br /> học/chuyên đề về đổi mới lãnh đạo và<br /> quản lí nhà trường; lãnh đạo và quản lí sự<br /> thay đổi; quản lí nhân sự; xây dựng và<br /> phát triển văn hóa nhà trường; xây dựng<br /> và phát triển các mối quan hệ của nhà<br /> trường; công tác đảng và đoàn thể trong<br /> nhà trường…<br /> - Thông qua môn học/chuyên đề riêng<br /> biệt: Có thể thiết kế một môn học/chuyên<br /> đề riêng biệt, trang bị những kiến thức<br /> chuyên sâu về vấn đề tạo động lực lao<br /> động, như: các lí thuyết về nhu cầu và<br /> động cơ; các lí thuyết về động viên; kĩ<br /> năng giao tiếp; kĩ năng động viên, khích<br /> lệ, thuyết phục; hệ thống các biện pháp<br /> tạo động lực; phong cách lãnh đạo, tạo<br /> động lực… Các môn học/chuyên đề này<br /> có thể có các tên gọi như: Kĩ năng tạo<br /> động lực lao động; Ứng dụng tâm lí học<br /> trong quản lí trường học; Tâm lí học lãnh<br /> đạo… Vì những phân tích về tầm quan<br /> trọng của động lực lao động và tạo động<br /> lực lao động nên những môn học/chuyên<br /> đề này cần được xếp trong khối kiến thức<br /> bắt buộc của chương trình đào tạo/bồi<br /> dưỡng.<br /> - Thông qua tìm hiểu thực tế, thực<br /> tập, thực hành trải nghiệm: Chương trình<br /> đào tạo, bồi dưỡng CBQL trường học cần<br /> <br /> Tạp chí khoa học, Tập 46, Số 4B (2017), tr. 5-11<br /> <br /> dành thời lượng (trong mỗi môn<br /> học/chuyên đề của chương trình hoặc<br /> thiết kế thành học phần riêng trong<br /> chương trình) để người học tìm hiểu thực<br /> tế, hoàn thành các bài tập, thu hoạch từ<br /> trải nghiệm của bản thân, với nội dung<br /> yêu cầu bao gồm cả vấn đề tạo động lực<br /> lao động (phù hợp với nội dung tìm hiểu<br /> thực tế, thực tập, thực hành trải nghiệm).<br /> 4.2. Thực trạng phát triển kĩ năng<br /> trong các chương trình đào tạo, bồi<br /> dưỡng cán bộ quản lí trường học hiện<br /> nay<br /> a) Chương trình đào tạo cán bộ<br /> quản lí trường học<br /> Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến<br /> chương trình đào tạo thạc sĩ Quản lí giáo<br /> dục. Chương trình này hiện có tại nhiều<br /> cơ sở đào tạo của Việt Nam. Chương trình<br /> đào tạo thạc sĩ Quản lí giáo dục của các<br /> cơ sở đào tạo hiện nay chủ yếu dành cho<br /> đối tượng là CBQL giáo dục, CBQL<br /> trường học các cấp, cán bộ giảng dạy và<br /> nghiên cứu trong các cơ sở GD, các tổ<br /> chức xã hội có thực hiện chức năng giáo<br /> dục - đào tạo... [9, tr. 208].<br /> Hầu hết các chương trình này đều đưa<br /> môn học Tâm lí học lãnh đạo, Ứng dụng<br /> tâm lí học trong quản lí giáo dục vào<br /> chương trình đào tạo. Các môn học này<br /> trang bị những kiến thức về nhu cầu, động<br /> cơ làm việc, tâm lí cá nhân và tập thể,<br /> phong cách lãnh đạo, giao tiếp... Một số<br /> cơ sở đào tạo đã xếp những môn học này<br /> vào khối kiến thức bắt buộc của chương<br /> trình đào tạo.<br /> b) Chương trình bồi dưỡng cán bộ<br /> quản lí trường học<br /> Loại chương trình này rất phong phú,<br /> được thực hiện tại hầu hết các cơ sở giáo<br /> dục được giao nhiệm vụ bồi dưỡng CBQL<br /> giáo dục từ trung ương đến địa phương.<br /> Chương trình bao gồm các chuyên đề đơn<br /> 9<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản