Hình tượng con người công dân và con người
cá nhân trong văn học Việt nam trung đại
3.1.1.4. Lễ trong mọi cách ứng xử, quan hệ được thể hiện cụ thể bằng
một hệ thống vô cùng phong phú và phức tạp những quy ước, những ký
hiệu mang tính chất tượng trưng, ước lệ, từ những chi tiết nhỏ nhặt như
cách ăn mặc, nói năng, giao tiếp, màu sắc trang phục, đến cái lớn lao
như các biểu hiện quyền lực, nghi thức cúng tế, thiết triều, … với cộng
đồng, ít có ý thc về cá tính, nói tiếng nói chung của cộng đồng, phục vụ
mọi quy định của cộng đồng.
3.1.2. Cơ sở văn hoá, văn học
Thứ nhất, tam giáo đồng nguyên (Nho, Phật, Lão) với tất cả những gì ưu
tú nhất của nó đã được người Việt Nam tiếp nhận. Cùng vi những sáng
tạo và tiếp biến tư tưởng của Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo đã trở thành
một phần của bản sắc văn học Đại Việt.
Thứ hai, lực lượng sáng tác phn lớn là những người theo cửa Khổng,
sân Trình, nhiu người là những nhà sư có công lớn với triều đình (TK
X – XII), là vua, quan, những bậc công thần, những đấng anh hùng. Có
thể nó không qrằng, họ cũng chính là thế hệ của những nhà văn vừa
là chiến tướng, vừa là thi sĩ. Chính vì thế, hình tượng mà họ trực tiếp tạo
ra gắn liền với công việc, nhiệm vụ của cả dân tộc.
Ngay cả khi “thưởng lãm”, khẩu khí của bậc đế vương cũng kịp dựng
n hình tượng con người của cộng đồng quốc gia:
Cảnh thanh u vật diệc thanh u,
Thập nhất tiên châu thử nhất châu.
Bách bộ sinh ca, cầm bách thiệt,
Thiên hàng nô bộc, quất thiên đầu,
Nguyt vô sự chiếu nhân vô sự.
Thủy hữu thu hàm thiên hữu thu.
T hải dĩ thanh, trần dĩ tịnh,
Kim niên du thắng tích niên du.
(Trần Thánhng – Hạnh Thiên Trường hành cung)
3.2. Những tiền đề xã hội ảnh hưởng đến việc xây dựng hình tượng
con người cá trong văn học Việt Nam trung đại
3.2.1. Cơ sở lịch sử, xã hội, kinh tế, văn hoá
Năm 1497 (cuối TK XV), vị minh quân Lê Thánh Tông băng hà, nhà Lê
bắt đầu bước vào thời kỳ khủng hoảng. Bước vào TK XVI, những mâu
thuẫn trong lòng chế độ phong kiến đã bc lộ một cách dữ dội, dẫn đến
sự bùng nổ phong trào nông dân khởi nghĩa và nhng cuộc xung đột
triền miên giữa các tập đoàn phong kiến nhà Lê. Quốc gia phong kiến
bước vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng và kéo dài.
Ba mươi năm (1497 - 1527), có đến sáu hoàng đế nhà Lê thay nhau
ngôi. Không có ai để lại dấu ấn gì trên vũ đài chính trị, có chăng là một
Uy Mục nghiện rượu, hiếu sát, hoang dâm, thích ra oai, người đương
thời gọi đó là Vua Qu [Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỉ thực lục, kỉ nhà
, quyển 14, tờ 39-a], hay Tương Dực chơi bời vô độ, xây dựng liên
miên, dân nghèo mất cơ nghiệp, trộm cướp nổi lên, nguy cơ bị diệt vong
bắt đầu đây [Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỉ thực lục, kỉ nhà Lê, quyển
15, t 1-a], skhủng hoảng trầm trọng trong cung đình và hiện tượng
xung đột diễn ra gay gắt (nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân do Lê Hy,
Trịnh Hưng và Lê Minh Triệt lãnh đạo ở Nghệ An, năm 1512; khởi
nghĩa của Trần Công Ninh ở Yên Lãng - Vĩnh Phúc, năm 1516, …) đã
đẩy nhà Lê lao nhanh xuống vực thẳm của sự diệt vong.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung tiếm ngôi, lập nên nhà Mạc. Nhưng rồi nhà
Mạc cũng có những hạn chế nhất định trong công cuộc chấn hưng lại đất
nước.
T đây bắt đầu cuộc tranh giành Lê - Mạc (Đàng Trong và Đàng Ngoài).
Sau khi lên ngôi, Mạc Đăng Dung không thu phục được lòng người,
nhiều bậc nho sĩ tài năng hoặc bỏ đi ở ẩn, hoặc lẩn tránh tìm phò nhà Lê.
Năm 1533, Nguyễn Kim tôn Lê Ninh xưng là Lê Chiêu Tông ở Thanh
Hóa (Nam triu). Cuộc chiến tranh Lê - Mạc diễn ra [sử cũ còn gọi đây
là cuộc chiến tranh Nam - Bắc triều]. 60 năm (1533 - 1592), hai bên huy
động mọi lực lượng đánh nhau cả thảy 38 trận, kết quả cuối cùng Nam
triều đè bẹp được Bắc triều. Kể từ năm 1592, nhà Lê lại đóng đô tại kinh
thành Thăng Long (sử gọi đây là triều đại Lê Trung Hưng).
Chiến tranh Lê - Mạc vừa dứt, lại bắt đầu cuộc chiến Trịnh - Nguyễn.
Phò nhà Lê chưa đạt thành sở nguyện, năm 1545 Nguyễn Kim bị một
hàng tướng của nhà Mạc đầu độc chết. Con rễ của Kim là Trnh Kiểm
thâu tóm quyền bính. Con trai của Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng nhanh
trí tìm đường vào Nam mưu nghiệp dài lâu. Cuộc đối đầu lâu dài và
quyết liệt giữa họ Nguyễn và nhà Trịnh thực sự bắt đầu từ năm 1627.
Liên tiếp trong 45 năm trời (1627 - 1672) hai bên đánh nhau cả thảy 7
trận lớn nhỏ nhưng bất phân thắng bại. Cuối cùng hai bên lấy sông
Gianh làm giới tuyến.
Nhà Nguyn sau khi định đô ở Thuận Hóa, các chúa Nguyễn bằng nhiều
cách thức khác nhau không ngừng mở rộng lãnh thổ xuống phương
Nam. Đến cuối TK XVII, đất Đàng Trong đã mở tới vùng Sài Gòn - Gia
Định (nay là thành phố Hồ Chí Minh). Đất Thuận Hoá (Huế) trở thành
kinh đô mới kể từ thi gian này.
Sang TK XVIII, lịch sử, xã hi Việt Nam có những biến động lớn.
Dưới sự thống trị của triều đình phong kiến chuyên chế, cùng với sự áp
bức bóc lột của bọn quan lại, cường hào địa phương, đời sống của người
nông dân ngày càng bần cùng khổ sở. Mất mùa, thiên tai xảy ra liên tiếp
trong những năm đầu TK XVI, làm cho đời sống của nông dân lại càng
thêm điêu đứng. Tình hình đó đã tất yếu dẫn tới sự bùng nổ hàng loạt
các cuộc nông dân khởi nghĩa nhằm lật đổ bộ máy thống trị chuyên chế.
Nguyn Danh Phương (1741 - 1751) lập căn cứ ở Tam Đảo rồi làm ch
được một vùng đất rộng lớn ở Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Cạn, Phú Thọ,
…; Nguyn Hữu Cầu (1741 - 1751) ni chí lớn của lãnh tụ Nguyễn Cừ
gây chn động dữ dội khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ. Ngoài ra còn có các
cuộc khởi nghĩa lớn khác của Hoàng Công Chất (1739 - 1769), Lê Duy
Mt (1738 - 1770). Đỉnh cao là cuộc khi nghĩa của ba anh em nhà Tây
Sơn (1771 - 1802). Hơn một thế kỷ thanh ơm yên ngựa, anh em nhà
Nguyn Tây Sơn mà tiêu biểu là vanh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã ghi
nhng dấu ấn đậm nét trong lịch sử dân tộc. Năm 1785, Nguyn Huệ chỉ
huy đội chiến thuyền phá tan tành hơn 5 vạn quân Xiêm tại Rạch Gm -
Xoài Mút. Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc diệt Trịnh phò Lê, cưới công
chúa Ngc Hân (con vua Lê Hiển Tông). Năm 1789, Nguyễn Huệ xưng
hoàng đế rồi kéo quân ra Bắc phá tan tành 29 vạn quân Thanh xâm lược
bằng trận Ngọc Hồi - Đống Đa lịch sử.