intTypePromotion=1
ADSENSE

Hình tượng con người công dân và con người cá nhân trong văn học Việt nam

Chia sẻ: Mi Hoa | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:32

282
lượt xem
70
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cao hơn khát vọng tự do, khát vọng tự khẳng định vẻ đẹp hình thể, trí tuệ của mình, văn học Việt Nam trung đại những năm cuối thế kỷ XVIII đến hết TK XIX còn thể hiện cảm hứng hành.Hình tượng con người công dân và con người cá nhân trong văn học Việt nam trung đại-phần2 Thứ tư, cảm hứng hành lạc và khát vọng nhu cầu trần thế của con người cá nhân.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hình tượng con người công dân và con người cá nhân trong văn học Việt nam

  1. Hình tượng con người công dân và con người cá nhân trong văn học Việt nam trung đại-phần2 Thứ tư, cảm hứng hành lạc và khát vọng nhu cầu trần thế của con người cá nhân . Cao hơn khát vọng tự do, khát vọng tự khẳng định vẻ đẹp hình thể, trí tuệ của mình, văn học Việt Nam trung đại những năm cuối thế kỷ XVIII đến hết TK XIX còn thể hiện cảm hứng hành. Tất cả chuyện phòng the, chăn gối được Hồ Xuân Hương mở màn như phát súng lệnh: Bốn mảnh quần hồng bay phất phới Hai hàng chân ngọc duỗi song song Hay:
  2. Hiền nhân quân tử ai là chẳng Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo Đến Nguyễn Công Trứ, con người ngất ngưởng ấy tự trào khi nằm cạnh cô đào trẻ về tuổi của mình rằng: Ngũ thập niên tiền nhị thập tam, và cũng đã không ít lần ông “tương tư”, ông “bỡn đào già”, “bỡn vợ lẽ”, … Đây, một đoạn trong bài thơ Lời tiểu thiếp tự tình Chốn cô phòng nănn nỉ với cầm chi Đường viễn hoạch ngxo hầu tình chăng nhẽ? Sau ông, Tú Xương không ngại ngần thể hiện: Một trà một rượu một đàn bà Ba cái lăng nhăng nó hại ta Chừa được thứ nào hay thứ ấy Có chăng chừa rượu với chừa trà.
  3. Những bình diện của hình tượng con người cá nhân trong văn học Việt Nam trung đại gắn liền với nội dung cảm hứng nhân đạo và cảm hứng thế sự đời tư của các nhà văn, nhà thơ. 2.2. Xét trên bình diện hình thức nghệ thuật 2.2.1. Ở cấp độ thể loại Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy, hình tượng con người công dân thường xuất hiện ở các thể loại hành chức. Không khó để nhận ra hình tượng của những minh quân, lương tướng, những nhân vật anh hùng hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc. Những con người công dân ấy xuất hiện trong Chiếu dời đô (Lý Công Uẩn), Hịch tướng sĩ văn (Trần Quốc Tuấn), Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi), Chiếu cầu hiền (một bài của Nguyễn Trãi, một bài của Ngô Thì Nhậm), …, qua những bài thư, luận, tấu, thuyết của Nguyễn Trãi, Nguyễn Trường Tộ, Phan Đình Phùng, …
  4. Ở thể loại sử ký hình tượng con người công dân cũng in đậm nét. Đó là một Trưng vương, một Ngô Quyền, một Thái sư Trần Thủ Độ, một anh hùng Trần Quốc Tuấn, … qua những trang sử của Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, … Các thể loại văn học nghệ thuật hình tượng, con người công dân vẫn xuất hiện như nhân vật Quang Trung (Hoàng Lê nhất thống chí – Ngô gia văn phái), hay Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn trong Nam triều công nghiệp chí của Nguyễn Khoa Chiêm, hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, … Song tần số xuất hiện ít hơn so với hình tượng con người cá nhân. Nói khác đi, ở những thể loại văn học nghệ thuật (chúng tôi phân biệt văn h Việt Nam trung đại xét về chức năng có thể loại chính: văn học hành chức (cáo chiếu, hịch, biểu, thư, luận, thuyết, …) và văn học mang tính hình tượng (phú, thơ Đường luật, truyện thơ lục bát, ngâm khúc, hát nói, …), hình tượng con người cá nhân
  5. thể hiện rõ nét hơn. Tuy nhiên, ta không thể và cũng không cần phân biệt rạch ròi giữa hai hình tượng con người công dân và con người cá nhân trong cùng một … con người! Bởi nó luôn luôn tồn tại những hai mặt của cuộc sống. Sự ảnh hưởng qua lại này, thấy rõ ở quan niệm xuất – xử của các tác gia Nho sĩ mà chúng tôi đề cập ở phần loại hình tác gia, phía sau . Thể loại thơ Đường luật sự vận động từ con người công dân đến con người cá nhân rõ nét hơn. Ta dễ dàng nhận thấy hình tượng của những nhân vật trữ tình nguyện một lòng vì dân vì nước (con người công dân) như trong Quốc tộ (Đỗ Pháp Thuận), Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão), Tụng giá hoàn kinh sư (Trần Quang Khải), Cảm hoài (Đặng Dung), … đến những bài thơ thất ngôn xen lục ngôn trong tập Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi), … Quốc tộ như đằng lạc
  6. Nam thiên lí thái bình Vô vi cư điện các Xứ xứ tức đao binh (Quốc tộ - Pháp Thuận) Và đến nửa cuối TK XVIII cho đến hết TK XIX, hình tượng con người cá nhân trong thơ Đường luật lại chiếm ưu thế cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. Nhiều bài thơ mang cảm hững thế sự của Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, … nhiều nhân vật khẳng định cái đẹp bản thể, cái tài hoa, sự sáng tạo của mình qua thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ, Dương Khuê, Cao Bá Quát, … Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo Kìa, đền thái thú đứng cheo leo Ví đây đổi phận làm trai được Thì sự anh hùng há bấy nhiêu (Đề đền Sầm Nghi Đống – Hồ Xuân Hương)
  7. Ở truyện thơ lục bát, các ngâm khúc hình thức song thất lục bát, các bài hát nói, hình tượng con nhân cá nhân chiếm ưu thế tuyệt đối so với con người công dân. 2.2.2. Xét ở cấp độ ngôn từ Thứ nhất, hình tượng con người công dân gắn liền với những hình ảnh và từ ngữ mang tính điển phạm. Và, điều dễ nhận thấy nhất khi xây dựng con người công dân, các nhà thơ luôn dùng hệ thống điển tích, lớp từ Hán Việt như một điều tất yếu. Xin đọc đoạn đầu trong Hịch tướng sĩ, hay mấy câu phú của Trương Hán Siêu sau đây để minh hoạ: Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt ….
  8. Học Tử Trường chừ thú tiêu dao Qua cửa Đại Than, ngược bến Đông Triều Đến sông Bạch Đằng, thuyền bơi một chiều, … Đại từ nhân xưng cũng mang tính ước lệ: ta, khanh, thiên tử, bề tôi, … được dùng phổ biến. Thứ hai, hình tượng con người cá nhân gắn liền với lớp từ thuần Nôm, dân gian, từ láy, từ tự xưng, thậm chí cả những câu chửi, tiếng gào, … Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như (Độc Tiểu Thanh ký – Nguyễn Du) Chém cha cái kiếp lấy chồng chung Nửa đắp chăn bông nửa lạnh lùng (Làm lẽ - Hồ Xuân Hương)
  9. Vũ trụ nội mạc phi phận sự Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng (Bài ca ngất ngưởng – Nguyễn Công Trứ) Đù mẹ nhân tình đù mẹ đời Lạt như nước ốc, bạc như vôi (Thói đời – Nguyễn Công Trứ) … 2.2.3. Sự manh nha của câu thơ điệu nói Các nhà thi pháp học cho rằng câu thơ, giọng thơ của văn học Việt Nam trung đại là câu thơ điệu ngâm. Tức là câu thơ không thể hiện dấu ấn cá nhân của chủ thể trữ tình. Song, từ thực tế khảo sát văn học Việt Nam trung đại đặc biệt từ Hồ Xuân Hương trở về sau, chúng tôi thấy đã có sự manh nha của câu thơ điệu nói.
  10. Ở câu thơ điệu nói các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, câu thơ điệu nói có thể cho phép nhà thơ thể hiện rõ ràng, dứt khoát lập trường tư tưởng, tình cảm của cá nhân trữ tình. Câu thơ trở thành lời nói cá thể, nó có ngữ khí từ, câu hỏi, câu cảm thán, hướng tới một ai đó, hoặc hướng tới chính người đọc, theo kiểu tự bộc bạch, tâm sự với bạn bè. Câu thơ điệu nói giải phóng giọng điệu cá thể, làm cho nó hiện ra trên bề mặt, đồng thời cải tạo lại chất nhạc của thơ – không phải nhạc trầm bỗng réo rắc do phối hợp bằng trắc tạo nên mà là do tiếng người, ngữ điệu người, giọng điệu người. Thành phần của lời thơ trữ tình điệu nói rất đa dạng. Có các hư từ, các cách lập luận, các khẩu hiệu, có tiếng hô lời chào, lời chêm, câu hỏi, đối đáp, có cách vắt dòng, nhiều khi cả khổ thơ chỉ là một câu. Đọc thơ Nguyễn Công Trứ, không khó để ta có thể chọn dẫn
  11. chứng minh hoạ: Tao ở nhà tao tao nhớ mi Nhớ mi tao mới bước chân đi (Bỡn nhân tình) Nguyễn Khuyến có khi dùng hàng loạt những hư từ để đưa vào thể thơ được cho là niêm luật phải chặt chẽ nhất: thơ Đường luật: Cũng cờ cũng biển cũng cân đai Cũng gọi ông nghè có kém ai Một Tú Xương chửi đổng: Đù cha đù mẹ cái dát giường Đêm nằm chỉ thấy những đau thương Đến mai mua nứa ông mần lại Đù mẹ đù cha cái dát giường
  12. (Chửi dát giường) Chúng tôi cho rằng đó là sự manh nha của câu thơ điệu nói, điều đặc biệt quan trọng làm nên sự thành công vang dội của phong trao thơ mới ở thập niên 30 – 40 của thế kỷ XX. 3. Những nét đặc thù trong cảm thức và việc ảnh hưởng của nó đối với việc xây dựng hình tượng con người công dân, con người nhân trong văn học Việt Nam trung đại 3.1. Những tiền đề xã hội ảnh hưởng đến việc xây dựng hình tượng con người công dân trong văn học Việt Nam trung đại 3.1.1. Cơ sở lịch sử xã hội Mười thế kỷ trung đại là mười thế kỷ nhân dân ta không ngừng chiến đấu chống xâm lăng bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước thống nhất. Tư tưởng đó gắn liền với hình tượng người công dân
  13. Đại Việt ái quốc, trung quân. Hơn thế, như T.S Nguyễn Kim Châu, đã chỉ ra căn nguyên của vấn đề Gắn bó với thiên nhiên, với đời sống nông nghiệp và nền kinh tế tự cấp, tự túc, có thói quen sống quẩn tụ trong cộng đồng làng xã, gia đình, tộc họ, có nhu cầu liên kết với cộng đồng để canh tác, đắp đê chống lũ, dẫn nước chống hạn, thích sự ổn định, ngại thay đổi sáng tạo, con người thời cổ luôn có xu hướng hoà nhập vào cộng động, chỉ tìm thấy sự tồn tại đích thực của mình trong cộng đồng và ý thức rõ trách nhiệm của mình trong cộng đồng và ý thức rõ trách nhiệm của mình đối với cộng đồng, thậm chí có thể sẵn sàng hy sinh cá nhân để phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng. Đặc điểm nêu trên là cơ sở hình thành những cảm thức xã hội đặc thù của con người trung đại. 3.1.1.1. Xã hội trong cảm thức của con người thời cổ là một xã hội ổn định, bất biến như chính cuộc sống canh tác ngàn đời của người nông dân, bởi lẽ những cách tân mới mẻ chưa được kiểm
  14. chứng qua thực tế đôi khi phải trả bằng một giá rất đắt. Tốt nhất là học tập, sử dụng kinh nghiệm của người xưa, xem đó là mẫu mực. Hệ quả của nhu cầu ổn định trong hoạt động nông nghiệp là nhu cầu về sự ổn định của thiết chế xã hội, của những quy định nghiêm ngặt mà mọi thành viên trong cộng đồng buộc phải tuân thủ. 3.1.1.2. Sự ổn định của thiết chế xã hội phản ánh rõ qua việc phân chia, quy định cụ thể, chặt chẽ về vị trí, quyền lợi của các tầng lớp, đẳng cấp tạo nên một trật tự bất di, bất dịch, cha truyền con nối, đòi hỏi mỗi thành viên trong cộng đồng phải tuyệt đối tuân thủ, trẻ phải kính trọng già, người ở đẳng cấp thấp phải phục tùng người ở đẳng cấp cao. 3.1.1.3. Sự phục tùng tuyệt đối trật tự xã hội dẫn đến việc đặc biệt đề cao chữ “LỄ” trong cách ứng xử, quan hệ ở mọi môi trường sống, từ gia đình, trường học, đến xã hội, quốc gia. Điều này được Khổng Tử nhắc đến như một nguyên tắc, một tiêu
  15. chuẩn hàng đầu để đánh giá nhân cách con người: Khắc kỷ phục lễ vi nhân. 3.1.1.4. Lễ trong mọi cách ứng xử, quan hệ được thể hiện cụ thể bằng một hệ thống vô cùng phong phú và phức tạp những quy ước, những ký hiệu mang tính chất tượng trưng, ước lệ, từ những chi tiết nhỏ nhặt như cách ăn mặc, nói năng, giao tiếp, màu sắc trang phục, đến cái lớn lao như các biểu hiện quyền lực, nghi thức cúng tế, thiết triều, … với cộng đồng, ít có ý thức về cá tính, nói tiếng nói chung của cộng đồng, phục vụ mọi quy định của cộng đồng. 3.1.2. Cơ sở văn hoá, văn học Thứ nhất, tam giáo đồng nguyên (Nho, Phật, Lão) với tất cả những gì ưu tú nhất của nó đã được người Việt Nam tiếp nhận. Cùng với những sáng tạo và tiếp biến tư tưởng của Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo đã trở thành một phần của bản sắc văn học
  16. Đại Việt. Thứ hai, lực lượng sáng tác phần lớn là những người theo cửa Khổng, sân Trình, nhiều người là những nhà sư có công lớn với triều đình (TK X – XII), là vua, quan, những bậc công thần, những đấng anh hùng. Có thể nó không quá rằng, họ cũng chính là thế hệ của những nhà văn vừa là chiến tướng, vừa là thi sĩ. Chính vì thế, hình tượng mà họ trực tiếp tạo ra gắn liền với công việc, nhiệm vụ của cả dân tộc. Ngay cả khi “thưởng lãm”, khẩu khí của bậc đế vương cũng kịp dựng lên hình tượng con người của cộng đồng quốc gia: Cảnh thanh u vật diệc thanh u, Thập nhất tiên châu thử nhất châu. Bách bộ sinh ca, cầm bách thiệt, Thiên hàng nô bộc, quất thiên đầu, Nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự.
  17. Thủy hữu thu hàm thiên hữu thu. Tứ hải dĩ thanh, trần dĩ tịnh, Kim niên du thắng tích niên du. (Trần Thánh Tông – Hạnh Thiên Trường hành cung) 3.2. Những tiền đề xã hội ảnh hưởng đến việc xây dựng hình tượng con người cá trong văn học Việt Nam trung đại 3.2.1. Cơ sở lịch sử, xã hội, kinh tế, văn hoá Năm 1497 (cuối TK XV), vị minh quân Lê Thánh Tông băng hà, nhà Lê bắt đầu bước vào thời kỳ khủng hoảng. Bước vào TK XVI, những mâu thuẫn trong lòng chế độ phong kiến đã bộc lộ một cách dữ dội, dẫn đến sự bùng nổ phong trào nông dân khởi nghĩa và những cuộc xung đột triền miên giữa các tập đoàn phong kiến nhà Lê. Quốc gia phong kiến bước vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng và kéo dài.
  18. Ba mươi năm (1497 - 1527), có đến sáu hoàng đế nhà Lê thay nhau ở ngôi. Không có ai để lại dấu ấn gì trên vũ đài chính trị, có chăng là một Lê Uy Mục nghiện rượu, hiếu sát, hoang dâm, thích ra oai, người đương thời gọi đó là Vua Quỷ [Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỉ thực lục, kỉ nhà Lê, quyển 14, tờ 39-a], hay Lê Tương Dực chơi bời vô độ, xây dựng liên miên, dân nghèo mất cơ nghiệp, trộm cướp nổi lên, nguy cơ bị diệt vong bắt đầu ở đây [Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỉ thực lục, kỉ nhà Lê, quyển 15, tờ 1-a], sự khủng hoảng trầm trọng trong cung đình và hiện tượng xung đột diễn ra gay gắt (nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân do Lê Hy, Trịnh Hưng và Lê Minh Triệt lãnh đạo ở Nghệ An, năm 1512; khởi nghĩa của Trần Công Ninh ở Yên Lãng - Vĩnh Phúc, năm 1516, …) đã đẩy nhà Lê lao nhanh xuống vực thẳm của sự diệt vong. Năm 1527, Mạc Đăng Dung tiếm ngôi, lập nên nhà Mạc. Nhưng rồi nhà Mạc cũng có những hạn chế nhất định trong công cuộc chấn hưng lại đất nước.
  19. Từ đây bắt đầu cuộc tranh giành Lê - Mạc (Đàng Trong và Đàng Ngoài). Sau khi lên ngôi, Mạc Đăng Dung không thu phục được lòng người, nhiều bậc nho sĩ tài năng hoặc bỏ đi ở ẩn, hoặc lẩn tránh tìm phò nhà Lê. Năm 1533, Nguyễn Kim tôn Lê Ninh xưng là Lê Chiêu Tông ở Thanh Hóa (Nam triều). Cuộc chiến tranh Lê - Mạc diễn ra [sử cũ còn gọi đây là cuộc chiến tranh Nam - Bắc triều]. 60 năm (1533 - 1592), hai bên huy động mọi lực lượng đánh nhau cả thảy 38 trận, kết quả cuối cùng Nam triều đè bẹp được Bắc triều. Kể từ năm 1592, nhà Lê lại đóng đô tại kinh thành Thăng Long (sử cũ gọi đây là triều đại Lê Trung Hưng). Chiến tranh Lê - Mạc vừa dứt, lại bắt đầu cuộc chiến Trịnh - Nguyễn. Phò nhà Lê chưa đạt thành sở nguyện, năm 1545 Nguyễn Kim bị một hàng tướng của nhà Mạc đầu độc chết. Con rễ của Kim là Trịnh Kiểm thâu tóm quyền bính. Con trai của Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng nhanh trí tìm đường vào Nam mưu nghiệp dài lâu. Cuộc đối đầu lâu dài và quyết liệt giữa họ Nguyễn
  20. và nhà Trịnh thực sự bắt đầu từ năm 1627. Liên tiếp trong 45 năm trời (1627 - 1672) hai bên đánh nhau cả thảy 7 trận lớn nhỏ nhưng bất phân thắng bại. Cuối cùng hai bên lấy sông Gianh làm giới tuyến. Nhà Nguyễn sau khi định đô ở Thuận Hóa, các chúa Nguyễn bằng nhiều cách thức khác nhau không ngừng mở rộng lãnh thổ xuống phương Nam. Đến cuối TK XVII, đất Đàng Trong đã mở tới vùng Sài Gòn - Gia Định (nay là thành phố Hồ Chí Minh). Đất Thuận Hoá (Huế) trở thành kinh đô mới kể từ thời gian này. Sang TK XVIII, lịch sử, xã hội Việt Nam có những biến động lớn. Dưới sự thống trị của triều đình phong kiến chuyên chế, cùng với sự áp bức bóc lột của bọn quan lại, cường hào địa phương, đời sống của người nông dân ngày càng bần cùng khổ sở. Mất mùa, thiên tai xảy ra liên tiếp trong những năm đầu TK XVI, làm cho đời sống của nông dân lại càng thêm điêu đứng. Tình hình đó đã tất yếu dẫn tới sự bùng nổ hàng loạt các cuộc nông dân khởi
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2