intTypePromotion=1
ADSENSE

Hình tượng con người miền núi trong tiểu thuyết của Triều Ân

Chia sẻ: Hoang Son | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

37
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Qua việc khảo sát 3 tiểu thuyết của Triều Ân là: Nắng vàng bản Dao (1992), Nơi ấy biên thuỳ (1994), Dặm ngàn rong ruổi (2000), người viết đã chỉ ra những hình tượng nhân vật tiêu biểu như: những con người miền núi vượt qua bức tường phong kiến lạc hậu; những con người bị tha hoá đạo đức trong vòng xoáy của cơ chế thị trường và những con người hướng thiện giầu lòng nhân ái. Qua những hình tượng nhân vật sinh động, độc đáo và mang hơi thở cuộc sống của người dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, người đọc có thể thấy được cách khám phá con người, nhìn nhận cuộc đời cũng như tâm hồn nhà văn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hình tượng con người miền núi trong tiểu thuyết của Triều Ân

Cao Thị Hảo và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 91(03): 39 - 45<br /> <br /> HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI MIỀN NÚI<br /> TRONG TIỂU THUYẾT CỦA TRIỀU ÂN<br /> Cao Thị Hảo*, Dương Trung Tín<br /> Trường Đại học Sư phạm – ĐH Thái Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Qua việc khảo sát 3 tiểu thuyết của Triều Ân là: Nắng vàng bản Dao (1992), Nơi ấy biên thuỳ<br /> (1994), Dặm ngàn rong ruổi (2000), người viết đã chỉ ra những hình tượng nhân vật tiêu biểu như:<br /> những con người miền núi vượt qua bức tường phong kiến lạc hậu; những con người bị tha hoá<br /> đạo đức trong vòng xoáy của cơ chế thị trường và những con người hướng thiện giầu lòng nhân ái.<br /> Qua những hình tượng nhân vật sinh động, độc đáo và mang hơi thở cuộc sống của người dân tộc<br /> thiểu số miền núi phía Bắc, người đọc có thể thấy được cách khám phá con người, nhìn nhận cuộc<br /> đời cũng như tâm hồn nhà văn.<br /> Từ khoá: Tiểu thuyết của Triều Ân, Văn học dân tộc thiểu số<br /> <br /> Văn học thiểu số miền núi được coi là một<br /> mảng văn học đặc sắc. Chính các nhà văn<br /> người dân tộc thiểu số đã góp phần quan<br /> trọng vào việc khám phá, phát hiện vẻ đẹp<br /> chân, thiện, mỹ của đồng bào dân tộc mình.<br /> Nói tới thành tựu của dòng văn học này,<br /> không thể không nhắc tới Triều Ân – nhà văn<br /> dân tộc Tày khá tiêu biểu. Ông xuất hiện trên<br /> văn đàn vào khoảng thập niên 60 - 70 của thế<br /> kỉ trước với nhiều thành công trên lĩnh vực<br /> thơ ca và truyện ngắn. Nhưng có lẽ chỉ khi<br /> thử sức với thể loại tiểu thuyết vào khoảng<br /> những năm 90, “người đọc mới có dịp nhìn<br /> nhận một cách đầy đủ và toàn diện hơn sự<br /> nghiệp văn học cùng những đóng góp đáng<br /> ghi nhận của nhà văn với văn học các dân tộc<br /> ít người” [1] này.*<br /> Về nhân vật trong tiểu thuyết của Triều Ân,<br /> một số nhà nghiên cứu đã đề cập đến. Bích<br /> Thu cho rằng: nhân vật trong tiểu thuyết của<br /> Triều Ân luôn phải “nếm trải” những “nhọc<br /> nhằn, cay đắng trên những “rặm ngàn rong<br /> ruổi” của mình”, trải qua “những thử thách<br /> ngặt nghèo để nhân vật tự lựa chọn, ứng xử,<br /> qua đó bộc lộ cá tính và nhân cách của mỗi<br /> cá nhân” [2]. Nguyễn Văn Long cũng khẳng<br /> định sự cố gắng của tác giả trong việc “thâm<br /> nhập sâu hơn vào thế giới tinh thần của các<br /> nhân vật để thể hiện và lí giải những mạch<br /> nguồn sâu xa của sức sống và những cảm<br /> thức về đời sống, về thế giới tự nhiên của con<br /> người miền núi” [3]. Tuy nhiên, những bài<br /> viết này chủ yếu nghiên cứu trên diện khái<br /> *<br /> <br /> Email: caohaokv@yahoo.com<br /> <br /> quát, chưa đi sâu để chỉ ra những đặc điểm cụ<br /> thể của hình tượng con người miền núi trong<br /> tiểu thuyết Triều Ân. Với việc khảo sát 3 tiểu<br /> thuyết: Nắng vàng bản Dao (1992), Nơi ấy<br /> biên thuỳ (1994), Dặm ngàn rong ruổi<br /> (2000), chúng tôi hi vọng sẽ khẳng định một<br /> phần những đóng góp của Triều Ân trong việc<br /> khắc hoạ hình tượng con người miền núi sinh<br /> động, độc đáo và mang hơi thở cuộc sống của<br /> người dân tộc thiểu số phía Bắc trong thời kỳ<br /> đổi mới. Qua đó, người đọc có thể thấy được<br /> cách khám phá con người, nhìn nhận cuộc đời<br /> cũng như tâm hồn của nhà văn một cách khá<br /> rõ nét.<br /> Những con người vượt qua “bức tường”<br /> phong tục, tập quán lạc hậu<br /> Trong tiểu thuyết Nắng vàng bản Dao, Triều<br /> Ân đã xây dựng thành công hình tượng những<br /> con người có tri thức dám đấu tranh chống lại<br /> những hủ tục “thâm căn cố đế” mang lại sinh<br /> khí mới cho cuộc sống của đồng bào miền<br /> núi. Họ là những trí thức đại diện tiêu biểu<br /> cho người dân tộc thiểu số miền núi. Đó là cô<br /> giáo Lan, Phó chủ tịch xã Tòng.<br /> Ngọc Lan là cô giáo dân tộc Tày, đầy nhiệt<br /> tình, tận tụy với nghề nghiệp, với học trò. Cô<br /> tiêu biểu cho những người có tư tưởng tiến<br /> bộ, chấp nhận đánh đổi tình yêu, khát vọng<br /> hạnh phúc gia đình để mang đến ánh sáng<br /> khoa học, tri thức văn hóa rạng rỡ cho người<br /> dân miền núi. Nhìn ngoại hình ta có thể hình<br /> dung được phần nào cuộc đời đầy gian truân<br /> vất vả của cô: “ Khuôn mặt trái xoan đã có ít<br /> nhiều đổi thay. Đôi gò má nhô cao hơn. Đôi<br /> 39<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Cao Thị Hảo và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> mắt bồ câu lanh lợi lúng liếng xưa kia ẩn<br /> dưới hai hàng lông mày lá liễu nay đã nhuốm<br /> vẻ thẫn thờ mệt mỏi. Đuôi mắt đã có vài vết<br /> nhăn mờ…”[4]. Từ khi lấy chồng, cuộc đời<br /> cô giáo trẻ bước vào những khó khăn thấm<br /> đẫm nước mắt, tủi thân có, tuyệt vọng có và<br /> hi vọng mai sau cũng có. Chiến tranh lạnh<br /> giữa mẹ chồng – nàng dâu, tập tục người Tày<br /> – người Dao, cái cũ – cái mới bắt đầu từ đây.<br /> Ngay trong ngày cưới cô đã phải trải qua<br /> những thử thách đầy khắc nghiệt của mẹ<br /> chồng: rước dâu phải đi lối cửa sau chật hẹp,<br /> lầy lội vì mặc đồ trắng xui xẻo, gánh nước<br /> suối đun nước cho mẹ chồng rửa mặt không<br /> phát hiện ra kim khâu mẹ chồng bỏ ở đáy<br /> thùng nên thân phận“chỉ còn trị giá bằng hai<br /> con trâu”. Không những thế, mẹ chồng cô<br /> còn không cho con dâu đi ở tập thể vì cho<br /> rằng cô sẽ “đẻ từng lứa, từng đàn như chó<br /> cái”. Thực hiện chủ trương của Đảng ủy xã:<br /> xây chuồng trâu bò, chuồng lợn, chuồng tiêu,<br /> Lan cùng chồng xây xong nhà vệ sinh kiểu<br /> mẫu thì mẹ chồng nhìn thấy la lên: “Lùng đao<br /> ơi! (trời đất ơi) Con dâu Tày nó về Đô liang<br /> làm loạn. Nó là con quỷ...”. Qua mối quan hệ<br /> mẹ chồng – nàng dâu, chúng ta đã thấy phần<br /> nào sự lạc hậu, bảo thủ trong tư tưởng của<br /> một bộ phận người dân miền núi trong những<br /> năm đầu đổi mới. Đồng thời ta cũng cảm<br /> nhận được nỗi vất vả của cô giáo Lan trong<br /> tiểu thuyết nói riêng và những người làm<br /> công tác vận động đổi mới ở miền núi trong<br /> giai đoạn lịch sử đó nói chung.<br /> Nhưng Lan vẫn bước đi trên con đường mình<br /> đã chọn với hi vọng sẽ thay đổi được suy nghĩ<br /> của mẹ chồng và chứng minh chỉ có khoa học<br /> mới làm cuộc sống con người tốt hơn. Cô âm<br /> thầm đấu tranh gạt bỏ những tư tưởng lạc hậu,<br /> thiếu tính khoa học bằng hành động. Bằng<br /> chứng là cô đã thuyết phục được Piao đi chữa<br /> bệnh ở bệnh viện đông y, giải tỏa mối nghi<br /> ngờ trong lòng chồng chứ không phải chữa<br /> bệnh bằng những tục lệ cúng bái “tiền mất tật<br /> mang” mà mẹ chồng đặt ra. Đối lập với suy<br /> nghĩ, việc làm của Lan là những việc làm<br /> luôn gắn với tư tưởng mê tín dị đoan của mẹ<br /> chồng cô. Lan có thai, mẹ chồng Lan xuống<br /> làng người Tày đón bà then lên làm lễ “bắc<br /> cầu xin hoa” rất tốn kém. Người Dao có tục<br /> “kin chai”, dăm năm lại có một lần. “Nhưng<br /> <br /> 91(03): 39 - 45<br /> <br /> là năm nào thì lại do thầy mo hoặc bà then<br /> quyết định. Năm ấy cả làng xóm phải mổ hết<br /> chó, mèo, gà vịt đang có, một thời gian sau<br /> mới nuôi gây lại”. Lan đã không làm theo mà<br /> mang gà xuống trường nuôi nên mẹ chồng<br /> cho cô là yêu quái nên mới ăn gà đã thành<br /> tinh. Lễ đầy tháng hai cháu bà đưa cho Lan<br /> “xâu bánh nếp cóoc mò đi bán xúi” cho nhà<br /> ông Quải để trả thù xưa, nhưng Lan lại treo<br /> lên cây cho thú rừng ăn... Dường như ngòi bút<br /> nhà văn không chỉ hướng đến những gì tươi<br /> sáng cho tương lai mà còn mong muốn con<br /> người phải biết thông cảm, bao dung cho<br /> những thiếu sót của người khác. Lan đã thể<br /> hiện được thông điệp ấy của nhà văn, không<br /> chỉ mong muốn mang tri thức văn hóa cho<br /> người dân vùng núi cao mà cô còn có tấm<br /> lòng nhân hậu, vị tha, cảm thông trước sự bảo<br /> thủ, lạc hậu của mẹ chồng. Cuộc sống của<br /> Lan nhiều khi chìm trong nước mắt tưởng<br /> chừng như tới mức tuyệt vọng khi chồng chết,<br /> con chết, mẹ chồng kiện vì tội giết chồng<br /> nhưng cô vẫn nhen nhóm hi vọng “Phải để<br /> ánh sáng khoa học rọi vào những khoảng<br /> trống tối tăm mê tín dị đoan, vào những tập<br /> tục lạc hậu, vào thói bảo thủ nhỏ nhen...”.<br /> Trong câu nựng đứa con thứ hai của Lan ta<br /> thấy được niềm hi vọng của cô ở thế hệ tương<br /> lai: “Dung đi học để biết khoa học đầy đủ, để<br /> tuyệt đối tin rằng ở đời này không có ma quỷ”.<br /> Thông qua nhân vật Lan, tác giả không chỉ<br /> gửi gắm mong muốn người dân miền núi sẽ<br /> có cuộc sống văn minh hơn mà nhà văn còn<br /> ngợi ca phẩm chất cao quí của những con<br /> người miền núi trong xã hội mới. Dù mất mát<br /> thật lớn lao, nhưng họ vẫn âm thầm vượt qua,<br /> làm chủ cuộc đời mình và hướng tới khoảng<br /> trời tươi sáng ở phía trước. Trong lúc đau khổ<br /> nhất con người cần phải có nghị lực và niềm<br /> tin. Đó chính là thông điệp mà nhà văn đã gửi<br /> gắm cho bạn đọc yêu quý của mình.<br /> Bên cạnh Lan, còn có phó chủ tịch xã Chu<br /> Văn Tòng - người đại diện cho pháp luật, lên<br /> tiếng chống lại sự mê tín dị đoan của người<br /> dân bản Đô liang. Ông Tòng được coi là cán<br /> cân công lí “đem cái văn minh của người Tày<br /> vùng thấp lên vùng cao của người Dao”. Ông<br /> đã giải thích rất tỉ mỉ cho bà Đô – chị gái<br /> mình khi có những suy nghĩ mê tín: “Chị ơi,<br /> ngày nào cũng tốt cả. Hôm nay đi nương lấy<br /> <br /> 40<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Cao Thị Hảo và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> được nhiều măng mộc nhĩ như chị và cháu, là<br /> ngày tốt. Hôm ấy định làm gì mà làm xong, là<br /> ngày tốt. Mưa có việc ngày mưa. Nắng có<br /> việc ngày nắng. Ngày mưa ngày nắng đều tốt<br /> cả”. Những lí lẽ biện luận của ông thể hiện sự<br /> nhận thức khách quan, không lệ thuộc vào<br /> những tư tưởng mê tín dị đoan. Khi bà Đô<br /> dựa trên sự mê tín mà nói sai về con dâu mình<br /> “Nó là con quỷ đi lăng nhăng nên đẻ con<br /> thành đàn như chó con. Chó bố là mực đẻ ra<br /> con mực, chó bố lông nâu đẻ ra chó con<br /> nâu”. Ông Tòng giải thích một cách có khoa<br /> học: “Đôi lông mày xếch giống Piao, hai tai<br /> gẫy vặn như tai Piao, được bú ít hơn, nên<br /> cháu Dung mặt nó choắt hơn”. Với vị trí là<br /> phó chủ tịch xã, ông Tòng đứng ra xét xử đơn<br /> kiện của chị gái mình kiện con dâu giết<br /> chồng, giết con, ai cũng nghĩ ông sẽ bênh vực<br /> cho bà Đô - nhưng không, ông làm việc rất<br /> công tâm, công bằng. Ông đã dùng những lí<br /> lẽ pháp lí để chứng minh cho mọi người dân<br /> thấy những việc làm mê tín, dị đoan là sai<br /> trái. Kết luận cuối cùng của ông về vụ xét xử,<br /> vừa là sự cảnh tỉnh nhân dân nhưng cũng<br /> chính là tiếng nói bảo vệ khoa học, bảo vệ<br /> ánh sáng văn minh: “Qua xét xử, có cả lời<br /> khai bà then bản Buống, chúng ta khẳng định<br /> rằng không có ma quỷ, ai nói rằng có là mê<br /> tín dị đoan, ai vu người khác là ma quỷ biến<br /> hóa thì có tội lỗi”.<br /> Qua việc miêu tả hệ thống nhân vật đấu tranh<br /> chống những tập tục lạc hậu, cổ hủ ở miền<br /> núi, ta cũng nhận thấy: ngòi bút của nhà văn<br /> rất chú trọng đến việc miêu tả hành động<br /> nhân vật, còn đời sống tâm lý nhân vật với<br /> những trăn trở nội tâm ít được khắc hoạ rõ<br /> nét. Chính vì vậy, việc xây dựng tính cách<br /> nhân vật chưa đạt tới mức điển hình. Cách<br /> viết ấy có lần nhà văn bộc bạch: “Tôi viết văn<br /> làm thơ bắt đầu xuất phát từ tình cảm chân<br /> thành của mình đối với hiện thực cuộc sống,<br /> từ đó thể hiện tư tưởng và chủ đề và bắt tay<br /> viết, chứ không quan tâm một cách có dụng ý<br /> (đôi lúc lạm dụng nữa) tìm cái cầu kì, tìm<br /> cách thể hiện cầu kì” [5]. Nhưng nổi bật hơn<br /> cả là sự dụng công tìm hiểu và không ngừng<br /> sáng tạo, hòa mình trong cách cảm, cách nghĩ<br /> của người miền núi để hiểu cuộc sống và tâm<br /> tư tình cảm của họ một cách sâu sắc của nhà<br /> <br /> 91(03): 39 - 45<br /> <br /> văn. Thấm qua từng trang viết, Triều Ân<br /> muốn bạn đọc hiểu rằng: con người dù gặp<br /> khó khăn, dù tuyệt vọng đến đâu cũng có khả<br /> năng vượt qua. Và cuộc sống chỉ có thể phát<br /> triển và tốt đẹp hơn nhờ có tri thức, có hiểu<br /> biết khoa học. Những tư tưởng lỗi thời, lạc<br /> hậu sẽ bị thủ tiêu, ánh sáng văn minh sẽ được<br /> tỏa sáng trên khắp bản làng đồng bào dân tộc<br /> miền núi.<br /> Những con người bị tha hóa đạo đức<br /> trong vòng xoáy của cơ chế thị trường<br /> Xã hội hiện đại phát triển, kéo theo đó là sự<br /> xuất hiện của cơ chế thị trường trong thời kì<br /> “mở cửa”. Lối sống truyền thống của người<br /> dân miền núi ít nhiều đã đổi thay theo vòng<br /> xoáy của xã hội xô bồ nhộn nhịp này. Con<br /> người sống khôn ngoan hơn, tráo trở hơn,<br /> thậm chí đánh đổi cả nhân cách, tình ruột thịt<br /> để mang lại lợi ích chấyc nhân mình. Xã hội<br /> đồng tiền đã chi phối mạnh mẽ tới cách suy<br /> nghĩ, cách đối xử giữa con người với nhau.<br /> Trong các tiểu thuyết của Triều Ân, nhà văn<br /> đã phản ánh một cách chân thực những con<br /> người đó. Tiêu biểu là các nhân vật: Tháo<br /> (Nơi ấy biên thùy); Lìn, Hồng Ngọc, Dương<br /> Kim... (Dặm ngàn rong ruổi).<br /> Nhân vật Tháo trong Nơi ấy biên thùy là một<br /> người có lối sống rất tàn nhẫn. Từ bé, Tháo<br /> được sống trong một gia đình giàu có nhất<br /> vùng, không ai không biết tiếng: “Chuồng<br /> đầy trâu đàn. Ruộng vàng thóc lúa. Cá nhảy<br /> vui mặt ao”. Sống trong một gia đình uy thế<br /> nên đi đâu Tháo cũng kiêu căng, tự mãn:“Ta<br /> là anh Tháo ở Nà Cải làng bên đây mà. Ai lại<br /> không biết tiếng tăm của ta”. Hắn dùng mọi<br /> thủ đoạn cướp Niêm từ tay chồng sắp cưới<br /> của cô, nhưng lại cưới Niêm về làm dâu “như<br /> ra chợ mua một con vật về để nuôi”. Người<br /> đọc không khỏi bàng hoàng khi chứng kiến<br /> cảnh tượng dã man: “Tháo đánh Niêm và<br /> ngồi lên bụng Niêm như cưỡi ngựa. Niêm đẻ<br /> non. Cái thai là một cục thâm tím”. Ngòi bút<br /> của nhà văn dường như trở nên “lạnh” hơn<br /> khi miêu tả những hành động tàn nhẫn của<br /> hắn. Tháo đi đào vàng và có quan hệ lăng<br /> nhăng với Tình, nghe người ta nói có thể bị<br /> nhiễm bệnh lậu, giang mai hắn định trút hậu<br /> quả xấu xa của hắn cho người vợ đáng<br /> thương:“Tháo phải về nhốt Niêm lại một ngày<br /> để trút hết vi trùng lậu hay giang mai gì đó<br /> 41<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Cao Thị Hảo và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> sang cho Niêm, may ra Tháo thoát khỏi bệnh<br /> hiểm nghèo này”. Hắn sẵn sàng đối xử độc ác<br /> với người vợ hiền lành, bắt vợ phải gánh chịu<br /> tội lỗi cho mình. Là nạn nhân của cuộc hôn<br /> nhân không tình yêu, nên khi thích thì hắn<br /> mang Niêm về, không thích hắn dễ dàng<br /> quăng Niêm đi như một thứ đồ vật cũ, nát.<br /> Với Tháo, giờ đây Niêm chỉ là “cái xác mục<br /> ruỗng, là con ốc ta ăn chỉ còn cái vỏ” nên<br /> hắn cho Triển - người yêu cũ của Niêm chuộc cô về với khoản tiền rất lớn. Trong con<br /> người này luôn ẩn dấu một lòng tham vô đáy<br /> và sự ích kỉ, tàn nhẫn đến khôn cùng. Cái chết<br /> vì tìm vàng “phá hang ngang vách núi” là<br /> bản án cao nhất cho sự độc ác, phi nhân tính<br /> của Tháo. Cuộc đời hắn luôn xoay quanh chữ<br /> “tiền”. Lúc sống tác oai, tác quái nhờ có thế<br /> lực của đồng tiền, lúc chết cũng vì sự tham<br /> lam vàng bạc.<br /> Nhân vật Lìn trong tiểu thuyết Dặm ngàn<br /> rong ruổi là một cô gái mang trong mình hai<br /> dòng máu Tày – Dao. Lìn được mọi người<br /> trong bản liệt vào hàng những người đáo để,<br /> lăng loàn. Ngoại hình của cô phần nào đã toát<br /> lên tính cách:“Mặt trơ trán bóng. Mắt một mí<br /> sưng húp ẩn dưới hai hàng lông mày mờ mờ<br /> gần như không có”. Cô ta tỏ ra rất sành sỏi,<br /> trải đời khi tâm sự với Phón – em gái cùng<br /> cha khác mẹ:“ Ở đời, muốn được thì phải có<br /> mánh khóe, có mưu lược Phón ạ. Khi cần làm<br /> hại uy tín người khác để có lợi cho mình ta<br /> vẫn thẳng tay”. Lấy chồng, chồng chết, Lìn<br /> về sống cùng gia đình nhưng luôn ghen tị với<br /> hạnh phúc của em gái mình. Mọi cử chỉ của<br /> Phón và Lương – người yêu của Phón đều bị<br /> Lìn kiểm soát. Những lúc như thế diện mạo<br /> của Lìn hiện ra dưới ngòi bút của nhà văn<br /> giống “con quỉ hoặc mụ yêu tinh trong trí<br /> tưởng tượng của loài người”. Cô ta trơ tráo<br /> nói thẳng với em gái: “Ở đời phải biết trở<br /> mặt.....Nói rõ cho mày biết: Tao ghen với<br /> mày”. Cô ta càng ngày càng trở thành con<br /> người ích kỉ, chỉ thích thoả mãn bản thân.<br /> Không chỉ ghen tuông với tình yêu mà em gái<br /> đang có, Lìn còn đang tâm chia rẽ tình cảm<br /> vợ chồng Phón, tìm mọi cách giăng bẫy để<br /> đưa Lương vào tròng rồi chiếm chồng của em<br /> gái một cách độc ác. Từ những lời nói bịa đặt<br /> trong đêm hội xuân, rồi đến hành động đốt<br /> thư của Phón gửi về khi cô đi học lớp đào tạo<br /> kế toán hợp tác xã ở trên tỉnh gây cho vợ<br /> <br /> 91(03): 39 - 45<br /> <br /> chồng Phón mất niềm tin, ngờ vực lẫn nhau<br /> như: Lìn nói điều này Lương chớ phiền lòng:<br /> một phiên chợ nọ, đi chợ, Lìn được nghe nói:<br /> Phón đi học gặp người yêu cũ là Thụ, hai<br /> người đã chắp nối lại mối tình xưa” . Hay<br /> những lời thủ thỉ với Phón khi đi đón em gái<br /> kết thúc khóa học: “ Em thấy không bao<br /> nhiêu thư em gửi về, chị biết cả, nó có đọc<br /> đâu? Đốt hết. Khi lòng nó đã đổi thay, khi<br /> hàng ngày nó lêu lổng ít có mặt ở Đông<br /> Có...”. Phón nghe xong lên cơn đau tim, ngất<br /> xỉu, ngã xuống “rù rằng”. Lìn không cần biết<br /> số phận của em gái ra sao, quơ hành lí giấy tờ<br /> của Phón đạp xe phóng như điên, nung nấu<br /> một dã tâm:“Nếu Phón chết thật, coi như<br /> mình không biết...”. Lìn là một con người thật<br /> xảo trá, chỉ nghĩ lợi cho bản thân mình mà<br /> quên đi tình nghĩa máu mủ ruột già. Dường<br /> như bản chất con người cá nhân, ích kỷ, tàn<br /> ác đã ăn sâu vào máu cô. Đạo đức con người<br /> Lìn ngày càng bị trượt dốc, một cái dốc thăm<br /> thẳm, vô hình chứa đầy lọc lừa và tội ác. Lìn<br /> đóng kịch tạo ra cảnh Phón đã chết, hồn Phón<br /> thành ma gà nhập vào Lìn, làm cho cả nhà ai<br /> cũng tin. Về sau, mọi người không ai dám<br /> nghĩ tới Phón nữa. Qua các hình tượng nhân<br /> vật của nhà văn, ta nhận thấy: tác giả không<br /> chỉ có tài quan sát, có vốn văn hóa dân gian<br /> phong phú mà ông còn rất am hiểu tâm lí con<br /> người vùng cao. Mọi hành động, việc làm của<br /> người dân hay tập tục, quan niệm của họ được<br /> chuyển hóa vào nhân vật trong tác phẩm rất<br /> hợp tình, hợp lí và thuận theo cách nghĩ, nếp<br /> sống của người dân miền sơn cước.<br /> Con người xảo trá ấy thấy thỏa mãn vì “cái<br /> tròng do Lìn giương lên đã bắt được đối<br /> tượng theo ý muốn”: Lương đã trở thành<br /> chồng cô. Nhưng sự trở về của Phón – cô em<br /> gái tội nghiệp của cô được những người tốt<br /> bụng cứu sống đã khiến Lìn phải trốn chạy,<br /> ra đi. Lìn bỏ nhà đi tìm cha, bỏ lại nơi bản<br /> làng quá khứ tội lỗi của mình. Bước vào<br /> cuộc sống cùng cha đẻ nơi thị xã sầm uất,<br /> nhộn nhịp, sự sa đọa về mặt nhân cách đạo<br /> đức của cô càng trầm trọng hơn trước. Kết<br /> hôn cùng bác sĩ Phương nhưng cô không an<br /> phận với cuộc sống êm đẹp của mình. Cô coi<br /> thường chồng, đối xử với chồng và mọi<br /> người xung quanh thô lỗ, ngạo mạn hơn<br /> trước. Cô phủ nhận công lao dạy dỗ của thầy<br /> giáo Long là cha đẻ:“Ai dạy dỗ tôi? Không<br /> <br /> 42<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Cao Thị Hảo và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> cần ơn ai cả. Nay hay xưa đều phải lo tính<br /> toán làm giàu...”. Cô đuổi chồng ra khỏi nhà<br /> chỉ vì anh Phương là một người ham sách vở,<br /> ham nghiên cứu khoa học, không có nhiều<br /> tiền bạc. Lìn sống trâng tráo hơn, thủ đoạn và<br /> liều lĩnh hơn. Cô ta sẵn sàng hiến thân cho<br /> anh thuế vụ để các chuyến hàng buôn lậu<br /> được chót lọt; biết cách ăn gian, nói dối “ trí<br /> trá nói điêu. Hàng mua mười giao mười lăm.<br /> Người mua mặc cả giao mười ba, Lìn nói đã<br /> mua mười ba mới dám xin hai giá”. Lìn ly<br /> hôn với bác sĩ Phương để kết hôn với Hồng<br /> Ngọc. Bởi với cô “có tiền là có tất cả”. Nhưng<br /> cô đã bị Hồng Ngọc lừa và lợi dụng. Ngày thì<br /> Ngọc bắt làm việc vất vả, đêm về thì bị hắn<br /> đánh đấm túi bụi, chẳng mấy mà Lìn ốm yếu,<br /> xanh xao, phải lê chân về nhà họ Lý. Quá thất<br /> vọng và đau đớn, Lìn phát cuồng đi lang<br /> thang và chết trong thê thảm, kết thúc cuộc<br /> sống quay quắt chạy theo tiền bạc với mưu<br /> mô và thủ đoạn của mình. Có lẽ đó là cái giá<br /> mà cuộc đời Lìn phải trả bằng cả tính mạng.<br /> Đồng tiền mang lại cho cô sung sướng nhất<br /> thời nhưng không thể mua được sự thanh thản<br /> trong tâm hồn cô. Phẩm chất, nhân cách của<br /> nhân vật dưới sự tác động của cơ chế thị<br /> trường đã dần thoái hoá, biến chất, bị bào<br /> mòn và cuối cùng đi đến hủy diệt.<br /> Trong tuyến nhân vật phản diện của tiểu<br /> thuyết Dặm ngàn rong ruổi, không chỉ có<br /> Lìn tráo trở, lọc lừa mà còn xuất hiện Hồng<br /> Ngọc. Mới ngoài 20 tuổi nhưng anh ta đã biết<br /> sống tính toán, mưu lợi cá nhân bằng những<br /> món hàng phạm pháp và lợi dụng sự cả tin<br /> của các cô gái trẻ. Với con người này, tình<br /> yêu đồng nghĩa với sự lợi dụng. Ngọc yêu<br /> Lan và làm cho cô có thai nhưng nhà Lan<br /> không có thế lực gì nên “Khi đi buôn xảy ra<br /> điều gì bất trắc, trăm lời kêu của nó cũng<br /> không thấu trời”. Vì Lìn là con “thầy giáo cũ<br /> của các ông lãnh đạo ngành ở hàng tỉnh, là<br /> thầy cũ của nhiều ông thuế vụ”, nên Ngọc tìm<br /> cách khen nịnh kéo Lìn về phía mình để phục<br /> vụ cho những cuộc làm ăn phi pháp. Tình yêu<br /> đã được hắn đem ra so bì, cân đong, tính toán<br /> thiệt hơn như một món hàng ! Con người<br /> Ngọc tàn nhẫn và nhơ nhớp: “Đời Ngọc mới<br /> hăm ba tuổi đầu mà đã cưới hoặc không cưới,<br /> nghĩa là qua tay Ngọc, năm sáu cô gái. Cưới<br /> đấy mà không làm được việc cho đi. Hoặc sỉ<br /> <br /> 91(03): 39 - 45<br /> <br /> nhục không chịu được, người con gái tự đông<br /> bỏ nhà mà đi. Hoặc đánh gần chết, vợ phải<br /> trốn chạy lấy thân”. Hắn còn thâm hiểm và<br /> xảo quệt vô cùng. Trước mặt thì khen Lìn hết<br /> lời nhưng thực chất trong lòng hắn đã tính sẵn<br /> các món lợi cho mình. Đối với anh ta, Lìn chỉ<br /> là một kẻ làm thuê rất đáng “đồng tiền bát<br /> gạo”: “Nó đáng ăn hạt cơm nhà này, đáng<br /> đeo nhẫn đầy ngón tay, đeo hột xoàn để khoe<br /> cái cổ tròn lẳn trắng ngần nở nang da thịt vì<br /> được ăn uống tốt.... Nó phải là người nhà thì<br /> mới tận tâm với việc buôn bán, mới không ăn<br /> cắp bớt tiền hàng”. Chính vì thế, Ngọc dã<br /> tâm tác động Lìn bỏ chồng lấy hắn. Một mũi<br /> tên trúng hai đích, vừa được vợ mà cũng có<br /> người giúp việc đắc lực không mất một đồng<br /> nào, lời lãi tăng cao. Điều đó cho thấy, Hồng<br /> Ngọc không chỉ thâm hiểm mà còn rất khôn<br /> ngoan, thủ đoạn, mang bản chất con buôn.<br /> Suy nghĩ “có tiền là có tất cả” đã biến Ngọc<br /> cũng như những người hám lợi khác mù<br /> quáng một cách vô lương tâm.<br /> Nhà văn Vi Hồng miêu tả những nhân vật<br /> phản diện, xấu xa luôn gắn với tư duy dân<br /> gian. Từ cách đặt tên nhân vật như: Ngô<br /> Khang Sa, Mã Thả An, Lăng Thị Thu<br /> Lả...đến cách đặt tên địa danh, bản mường:<br /> Nặm Đút, Nước Hang Rơi, Nặm Tốc Rù...đều<br /> đậm chất dân gian. Trái lại, Triều Ân dường<br /> như lại thoát li khỏi tư duy dân gian, cách kể<br /> và tả có phần hiện đại hơn. Điều đó thể hiện<br /> ngay từ tên tác phẩm như: Dặm ngàn rong<br /> ruổi, Nơi ấy biên thùy, Nắng vàng bản Dao;<br /> tên xã: Bắc Thôn, Quang Minh, Hòa An,<br /> Trùng Khánh...; cho tới tên người khá hiện<br /> đại: Hồng Ngọc, Dương Kim... Vì vậy, tác<br /> phẩm của ông đậm chất hiện thực hơn – một<br /> hiện thực sống động của cuộc sống con người<br /> miền núi những năm 90 của thế kỉ XX.<br /> Nhìn chung, thông qua nhân vật Tháo, Lìn,<br /> Hồng Ngọc... ta thấy được sự xuống cấp về<br /> lối sống, đạo đức của một bộ phận người dân<br /> ở nơi núi rừng hẻo lánh. Sở dĩ, họ trở thành<br /> những con người như vậy là do bị tác động<br /> bởi cơ chế thị trường, bởi thế lực đồng tiền.<br /> Những việc làm vô đạo đức của họ cuối cùng<br /> cũng phải trả giá. Đồng thời, qua các nhân vật<br /> này nhà văn cũng muốn cảnh tỉnh những<br /> người có lối sống, việc làm không đúng đắn<br /> 43<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2