
Hồ Chí Minh và đường đến nền cộng hòa hợp hiến
Từ “Bản án chế độ thực dân Pháp” cho đến Hiến pháp năm 1946, Hồ Chí Minh đã
từng bước đưa dân tộc Việt Nam đến nền cộng hòa hợp hiến...
Từ “Bản án chế độ thực dân Pháp” cho đến Hiến pháp năm 1946, Hồ Chí Minh đã
từng bước đưa dân tộc Việt Nam đến nền cộng hòa hợp hiến: khởi đầu bằng sự lên
án chính quyền bất hợp hiến (Bản án chế độ thực dân Pháp), tiến đến mong muốn
về một chính quyền hợp hiến (Việt Nam yêu cầu ca), rồi tạo tiền đề cho mong
muốn đó thành hiện thực (Tuyên ngôn Độc lập), và khi có tiền đề rồi thì biến
mong muốn trở thành hiện thực (Hiến pháp 1946). Mạch nguồn của con đường
đến nền cộng hòa hợp hiến đó vẫn tiếp tục chảy trong tương lai của Hiến pháp
Việt Nam.
1. Bản án chế độ thực dân Pháp - sự lên án chính quyền thuộc địa bất hợp
hiến ở Việt Nam
Tại Đại hội toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp ngày 26T/12/1920,
Nguyễn Ái Quốc phát biểu: “Các đồng chí đều biết rằng chủ nghĩa tư bản Pháp đã
vào Đông Dương từ nửa thế kỷ nay; vì lợi ích của nó, nó đã dùng lưỡi lê để chinh

phục đất nước chúng tôi. Từ đó chúng tôi không những bị áp bức và bóc lột một
cách nhục nhã mà còn bị hành hạ và đầu (độc) một cách thê thảm nữa (1)”.
Vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc ta sinh ra trong thời kỳ cả dân tộc đang rên xiết
dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. ách đô hộ đó đã đặt ra trước những người ưu
thời mẫn thế của dân tộc Việt Nam câu hỏi: làm thế nào để đánh đuổi thực dân
Pháp, giành chủ quyền cho đất nước, đem lại hạnh phúc cho nhân dân?
Năm 1923, trả lời phỏng vấn tạp chí “Ngọn lửa nhỏ” Liên Xô, đồng chí Nguyễn
Ái Quốc đã giải thích quyết định của mình: “Vào trạc tuổi 13, lần đầu tiên tôi đã
được nghe những từ ngữ tiếng Pháp, thế là tôi đã muốn làm quen với văn minh
Pháp, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy” (2). Không tán thành
đường lối cách mạng của những nhà yêu nước đương thời, Nguyễn Tất Thành
quyết định tự mình ra đi tìm đường cứu nước. “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem
xét nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về
giúp đồng bào ta” (3).
Trong những năm bôn ba hải ngoại, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy và tố cáo bộ
mặt thật của thực dân Pháp ở Việt Nam, thể hiện sự phản đối chính quyền bất hợp
hiến của thực dân Pháp ở Việt Nam.
Chính quyền thuộc địa của Pháp ở Việt Nam là một chính quyền bất hợp hiến.
Không có cơ sở từ một hiến pháp dân chủ, chính quyền thuộc địa cai trị theo một
lề lối tuỳ tiện, độc đoán. Từ nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đã viết nhiều bài báo,

nhiều tác phẩm lên án chế độ thực dân Pháp nói chung và hình thức cai trị của
chúng nói riêng ở Đông Dương. Những bài viết, tác phẩm Tâm địa thực dân, Bình
đẳng, Vực thẳm thuộc địa, công cuộc khai hoá giết người, Đông Dương... đặc biệt
là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp của Người đã vạch trần bản chất tuỳ
tiện, chuyên chế của cách thức cai trị thực dân. “ở các tỉnh, người bản xứ bị trói
tay trói chân, phải gánh chịu thói tuỳ hứng, chuyên quyền của các quan cai trị
người Pháp và thói tham tàn của bọn làm tôi tớ ngoan ngoãn của chúng, bọn quan
lại, sản phẩm của chế độ mới ấy là công lý bị bán đứt cho kẻ nào mua đắt nhất, trả
hời nhất”... “Như ở các tỉnh, một tỉnh Bắc Kỳ cũng có một vị công sứ Pháp... ông
ta là Chủ tịch tỉnh, đốc lý, chánh án, mõ tòa, chủ thầu. Ông kiêm tất cả mọi quyền
hành: tư pháp, thuế vụ, sinh mệnh và tài sản của người bản xứ, việc bầu cử những
người cầm quyền bản xứ, quyền lợi của công chức v.v..” (4).
Tố cáo bộ mặt tàn bạo, lố lăng, giả nhân giả nghĩa... của những cá nhân đại diện
thực hành chế độ thực dân, Nguyễn Ái Quốc đồng thời vạch trần bản chất phản
dân chủ, vô nhân đạo, phi công lý của nền cai trị thực dân. An -be Xa-rô, một
Toàn quyền có tên tuổi ở Đông Dương, đã tuyên bố trong Hạ nghị viện rằng:
“Trung thành với sứ mệnh cao cả đã làm rạng danh nước Pháp trên thế giới và lịch
sử, nước Pháp đầy lòng bác ái đang theo đuổi tại hải ngoại một sự nghiệp tiến bộ,
chính nghĩa, sự nghiệp dìu dắt các chủng tộc, sự nghiệp khai hoá cao cả, tính chất
cao quý của sự nghiệp đó đã làm cho truyền thống rực rỡ lâu đời của nước Pháp
càng thêm phần rực rỡ” (5). Đập tan luận điểm giả tạo của An -be Xa-rô, trong

một bức thư ngỏ gửi cho ông ta, Nguyễn Ái Quốc viết: “Thưa ngài, chúng tôi hoàn
toàn hiểu rõ rằng, đối với dân bản xứ ở thuộc địa nói chung, và đối với dân An
Nam nói riêng, lòng thương yêu của ngài thật bao la rộng rãi. Dưới quyền cai trị
của ngài, dân An Nam đã được hưởng phồn vinh thực sự và hạnh phúc thực sự,
hạnh phúc được thấy nhan nhản khắp trong nước, những ty rượu và những ty
thuốc phiện, những thứ đó song song với sự bắn giết hàng loạt, nhà tù, nền dân
chủ và tất cả bộ máy tinh vi của nền văn minh hiện đại, đã làm cho người An Nam
tiến bộ nhất Châu*Á và sung sướng nhất trần đời” (6).
Có thể thấy rằng, Nguyễn Ái Quốc đã không chấp nhận một chính quyền thực dân
bất hợp hiến trên đất nước ta bởi tính chất tùy tiện, phản dân chủ, phi công lý của
nó.
2. Việt Nam yêu cầu ca - sự cần thiết của Hiến pháp trong một nền pháp
quyền
Trước sự cai trị độc đoán, tuỳ tiện của chính quyền thực dân Pháp, từ khi còn hoạt
động bí mật ở nước ngoài, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy sự cần thiết của pháp
luật trong một xã hội dân chủ. Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi đến Hội
nghị Versailles vào đầu năm 1919 do Người khởi thảo gồm tám điểm, trong đó
điểm thứ hai là: “Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người dân
bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu
châu” và điểm thứ bảy là: “Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo

luật” (7). Sau này, trong diễn ca Việt Nam yêu cầu ca (1922) bằng lối thơ dễ phổ
biến, Hồ Chí Minh đã đưa ra yêu sách tám điểm:
*“ ....Hai xin pháp luật sửa sang,
Người Tây người Việt hai phương cùng đồng
....
Bảy xin Hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền.” (8)
Trong một bản yêu sách khác gửi cho Hội Vạn quốc, ký tên Phan Bội Châu, Phan
Chu Trinh và Nguyễn Ái Quốc, viết bằng chữ Việt, ngày 30/8/1926, Người cũng
đề nghị: “ Nếu được độc lập ngay thì nước chúng tôi:
....
3. Sắp xếp một nền hiến pháp về phương diện chính trị và xã hội, theo như những
lý tưởng dân quyền; luật kính trọng những cái thiểu số của chủng loại (nghĩa là
không xâm phạm đến những dân tộc nhỏ như Lào, Cao Miên), biết tôn trọng sự
làm ăn, cốt để lập một nền Đông Dương liên bang dân chủ” (9).
Những yêu sách nói trên đã phản ánh tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về sự cần
thiết phải có Hiến pháp. Điều đáng nói hơn là Người đã sớm nhận ra mối tương

