intTypePromotion=1
ADSENSE

Hồ Chí Minh - Những câu chuyện cảm động (Tập 2): Phần 2

Chia sẻ: Lê Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:52

74
lượt xem
14
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phần do kính yêu Bác, phần do yêu cầu công việc, nhà báo Kim Nhật (tên thật là Nguyễn Văn Hùng, hiện công tác tại Báo Nghệ An) đã bỏ tâm lực trong nhiều năm để tìm hiểu, sưu tập, nghiền ngẫm và viết nên 21 bài viết nhỏ trong tập Tài liệu còn khiêm tốn mang tên Bác Hồ, những câu chuyện cảm động. Mời bạn đọc đón đọc nội dung Tài liệu qua phần 2 sau đây.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hồ Chí Minh - Những câu chuyện cảm động (Tập 2): Phần 2

  1. NHÂN ÁI HỔ CHÍ MINH Trong hệ thống Tư tưởng của Chủ tịch Hổ Chí Minh mà bấy lâu nay toàn Đảng, toàn dân ta đang tập trung tìm hiểu, học lập. phát huy trên mọi phương diện của cuộc sống, công việc và tư duy, thì tư tưởng nhân văn của Người có một nội dung, vị trí và tầm ảnh hưởng cực kỳ to lớn, lâu dài. Tư tưỏíng nhân văn Hổ Chí Minh không chỉ biểu hiện ở tình yêu thương con người, thưcfng yêu nhân dân hêì sức rộng lớn, sâu sắc mà còn biểu hiện ở việc chăm lo, bổi dưỡng, sử dụng và phát huy sức mạnh của con người, của nhân dân và giải phóng con người, mang lại hạnh phúc cho con người. Tư tưởng xây dụĩig con người, giải phóng, mang lại hạnh phúc cho con người là bộ phận quan trọng trong tư tưởng nhân văn của Người. Có thể nói vắt tắt, tư iưởng nhân văn Hổ Chí Minh là tư tưởng nhân ván hành động, nhằm giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công, xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Nhận thức bản chất nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong tư tưcmg nhân văn Hồ Chí Minh, cần chú ý 55
  2. đó là sự đẻ cao bản chất xã hội của con người, đề cao giá trị và ý nghĩa cuộc đời. Nói cách khác, bản chất tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh luôn giải đáp những câu hỏi ; Yêu ai? Tin ai ? Phục vụ ai ? Với Hồ Chí Minh, quan điểm nhất quán là yêu nhân dân, tin tưởng tuyệt đối vào khả năng và sức mạnh đoàn kết của toàn dân, lấy việc được phục vụ nhân dân làm niềm vinh dự lớn. Yêu cầu này thúc đẩy, bắt buộc cán bộ, đảng viên chúng ta phải mau chóng trở thành người yêu nước chân chính, có nhân sinh quan đúng đắn, có lý tưởng phục vụ nhân dân, nêu cao tinh thần tập thể và niềm tin khoa học. Có như thế, mỗi người mới vững vàng trước những biến động của cuộc sống, tỉnh táo giải quyết quan lệ giữa lợi ích cá nhân và tập thể, không bị cám dỗ trước những mong muốn thấp hèn, ích kỷ, bản năng; đẩy mạnh quá trình đổi mới toàn diện đưa đất nước đi đến thắng lợi. Chỉ đcm thuần xét về tăng trưởng kinh tế thì Việt Nam hiện nay là một trong những nước kém phát triển nhất thế giới, nhưng nước ta vẫn được công nhận là nước “đang phát triển”, bởi có những yếu tố thuộc về bản chất nhân văn và văn hoá, như tuổi thọ và giáo dục. Bác Hồ từng dạy : Sự thẳng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách fỡi thắng lợi của cuộc đấu tranh loại bỏ chủ nghĩa cá nhân. Đây là thứ chủ nghĩa trái với đạo đức cách mạng 56
  3. và chủ nghĩa nhân văn Cộng sản, bởi thế, nâng cao hiệu quả giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là nâng cao giáo dục về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên văn minh, hạnh phúc, no ấm ở nước ta hiện nay. Trước yêu cầu cấp bách của cuộc sống, để góp phần giúp bạn đọc, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên có thêm tài liệu nghiên cứu, học tập, vận dụng tư tưỏng nhân văn Hổ Chí Minh trong giáo dục. đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia vừa cho ra mắt cuốn sách gần 300 trang ; Tư tưởng nhản văn Hồ Chí Minh với việc í^iáo dục d ộ i ngũ cân hộ, ÍỈÙIIÍỊ viên hiện nay. Công trình nàv cúa tập thể soạn giả, do hai Tiến sĩ Hoàng Tranh và Phạm Ngọc Anh đồng chủ biên. Ngoài những vấn đề mang tính lý luận như cơ sở của sự hình thành Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, những nội dung cơ bản trong tư tưởng nhân văn của Người, cuốn sách còn phản ánh sức sống lâu dài của tư tưỏíng nhân văn Hồ Chí Minh, yêu cầu bức thiết phải đẩy mạnh việc giáo dục tư tưởng nhân văn của Bác cho cán bộ, đảng viên, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vãn minh. 57
  4. ở cấp độ thế giới quan, Chủ nghĩa nhân văn là toàn bộ những tư tưởng, quan điểm, tình cảm quỷ trọng các giá trị con người như trí tuệ, tình cảm, phẩm giá, sức mạnh, vẻ đẹp. Chủ nghĩa nìián văn không phải là một khái Iiiệm đạo đức CỈƠIÌ thuần, mà còn hao hàm cả cách nhìn nhận, đáììh giá con người về ììhiềii mặt (vị trí, vai trò, khả năng, bán chất ...) trong các quan hệ với tự nhiên, xã hội vù đồng loại'' Tim hiểu tư tưởng nhân văn Hổ Chí Minh, chúng ta sẽ dần nhận rõ sự đóng góp tích cực của Người, cả trong lý luận và thực tiẽn, về
  5. CUỐN SÁCH QUÝ VỂ NHỮNG LẨN SINH NHẬT CỦA BÁC Ngày 19 - 5 - 1946, lần đầu tiên nhân dân ta kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hổ Chí Minh. Buổi sáng, tại Bắc Bộ phủ, Bác Hổ tiếp đại biểu thiếu nhi Thủ đô, tự vệ, hướng đạo và hơn 50 đại biểu Nam Bộ đến chúc mừng Bác. Với các đại biểu thiếu nhi, Bác tặng các cháu một cây bách và ân cần dặn dò: câ cây này tặiiíĩ các clìáu. M ai sau, cái cây s ẽ mọc ra trăm cái tán. Các chúu về chăm nom cho cây lớn, cây tốt, th ể là các cháu yêu Bác lắm đ â y ! " Còn với tấm lòng kính yêu lãnh tụ của đồng đảo đổng bào, Bác khiêm tốn, ân cần và đặt nhiều kỳ vọng vào tương lai đất nước, Bác n ó i : ‘T ô / chưa xứng đáng với sự săn sóc của đồng bào. Vì tôi hãy còn lù một thanh niêu, tuổi có 56 chưa đâìiq tuổi được đổng hào clnìc thọ. Chỉ vì một nhà báo nào biết đến ngày sinh của tôi mù dem ra, lùm bận rộn đến đồng bào. Từ trước đến na\, tôi đã là ngưìyi của đồng hào, thì tử nay vê sau tôi vãn thuộc về đdng bào. Tôi quyết iịiữ lòng trung thành vcỉi T ổ qiiốc- Tôi xin hứa với đồiì^ hào gắng sức làm việc, nhưng tôi hy vọn^ vào sự cộtìíị tác chặt c h ẽ của 59
  6. đồng bào. Việc nước là việc lớn, khôn^ ai có thể một mình làm nổi. Tôi mong rằng ngày này năm sau, đổng bào s ẽ làm cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cường thịnh hơn. Hôm nay, đồng bào cho tỏi nhiều hoa bánh. Những thứ đó đáng giá cả. Nhưng xin đồng bào nghĩ đến các đồng bào nghèo khó, hơn là hao phí cho tôi Những tư liệu cụ thể và rất đỗi cảm kích như vậy, trong lần kỷ niệm đầu tiên ngày sinh của Người (1946) cho đến lần kỷ niệm cuối cùng (1969) đều được TS. Trần Viết Hoàn tập hợp trong cuốn N hớ mãi ngây sinh Bác H â Mỗi trang sách gợi về bao kỷ niệm, bao bài học thấm thìa về một con người, một nhân cách vĩ đại mà xiết bao gần gũi. Có một điều thú vị là vào dịp 19 - 5 của các năm 1949, 1950, 1953, 1959, 1961, 1964, 1965, 1967 và 1968, Bác đều có làm thơ hoặc để đáp từ, hoặc nói lên tâm nguyện của mình Còn đây là dịp sinh nhật Bác Hồ năm 1969. Vào 7 giờ sáng, ngày 10 - 5 - 1969, Bác dự Hội nghị Trang ưofng Đảng lần thứ 16, tại Nhà khách Hồ Tây. Đến 9 giờ, giải lao, Bác xin phép ra về. Đến Nhà 5àn thì đã hơn 9 giờ. Lần đầu tiên trong 4 năm, Bác viết và sửa chữa (1) TS. Trần Viết Hoàn - Nhớ mãi ngà'' sình Bắc Hổ. NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 2001, tái bản có b) sung năm 2005. 84 trang. 60
  7. bản Di chûc^'^ chậm giờ hơn - từ 9 giờ 30 đến 10 giờ 30. Vào ngày hôm đó, Bác viết lại toàn bộ phần mở đầu Di chúc, có những dòng sau đây: "'Năm nay, tôi vừa 79 ruổi, đã là lớp người “xưa nay hiếm ", nlĩiùìg tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khoe’ có kém so với vài năm trước đây... ” Sang ngày 11 - 5 - 1969, theo thói quen đã định, từ 9 giờ đến 10 giờ, Bác Hồ lại sửa Di chúc. Cùng ngày, lúc 16 giờ 15, Bác đến thăm và trò chuyện thân mật với các đại biểu dự Hội nghị cán bộ cao cấp toàn quân. Tại đây, có một mẩu chuyện được nhiều người lưu truyền. Khi Bác vào phòng họp, mọi người đứng cả dậy, hô vang; “Hồ Chủ tịch muôn năm ! Hồ Chủ Tịch muôn năm !”, cho đến chi Bác giơ tay ra hiệu mọi người ngồi xuống. Bác hỏi thăm thân mật: - Các chú khỏe cả chứ ? -- Thưa Bác, chúng cháu khoẻ cả ạ ! ' Có vui không ? (1) Bản Di chúc của Bác Hồ gồm 3 trang, tự lay Người đánh máy, ghi ngày 15 - 5 - 1965. Đày được xem là bản hoàn chỉnh, có chữ ký của Bác và chữ ký của đồng chí Lẽ Duẩn - Bí thư thứ nhất BCH Trung irơiig Đảng Lao động Việt Nam. Tháng 5 - 1968, Bác bổ sung một đoạn mờ đầu và đoạn nói “về việc riêng” đã có trong bản năm 1965. Và. trước lúc đi xa, ngày 10-5-1969* Bác viết lại toàn bộ phán mớ đầu. như đã nói trong bài. 61
  8. - Thưa Bác, vui lắm ạ ! - Thế là tốt. Vậy các chú vỗ tay đi. Cả hội trường được dịp vang rền những tràng pháo tay vui mừng, xúc động. Thiếu tướng Vương Thừa Vũ thay mặt anh em mang hoa đến chúc thọ Bác, giọng run run; - Thưa Bác, nhân dịp mừng thọ Bác 79 tuổi, chúng cháu xin thay mặt cán bộ, chiến sỹ toàn quân kính chúc Bác mạnh khoẻ, sống lâu ! Toàn thể lực lượng vũ trang nhân dân tin tưởng tuyệt đối và biết ơn sâu sắc sự lãnh đạo, giáo dục và thucfng yêu chăm sóc của Đảng, của Bác ! Thiếu tướng vừa dứt lời, Bác vui vẻ rút một bông loa đẹp nhất tặng lại người đổng chí của mình. Một cử chỉ thật âu yếm, thân tình ! Và có ai ngờ. đây lại là buổi lễ kỷ niệm cuối cùng ngày sinh Bác Hồ có Bác tham dự, của lực lượng vũ trang nhân dân ! Ngày 19 - 5 - 1969, tỉnh Nghệ An quê Bác có nhận được một đặc ân lớn : Bác Hồ gửi tản:g cán bộ, nhân dân tỉnh nhà tấm ảnh chân dung của Người, phía dưới Bác viết : '"Cán bộ, đảng Viêm phải gương mẩu trong mọi công tác, phải hết lòng, hết sức phục vụ nhân dãn ! ” Giữa hai lần sinh nhật Bác kể trên, có khroñg ít ần Người từ chối những lễ nghi phiền phức sìé ngày sinh của mình, thậm chí Người còn “tìm c ớ ’ đ i đâu 62
  9. đó để tránh đồng chí, đông bào đến chúc tụng, cho dù với động cơ tốt lành. TS. Trần Viết Hoàn đã thấu tình đạt lý khi ông phát hiện ra bản chất của vấn đề : “Tì ánli việc chúc thọ ở mức độ không cần tììiết, đố là tẩm cao của sự khiêm tốìi, đó là bản chất người đầy tớ của nhân dân. Bác H ồ trung thực với dân tộc, truiig thực với chính hàn thân mình. Chính nhân cách ấy, chính sự cao íìiượn^ ấy mãi mãi Icim cho Bác Hồ trở nên cao đẹp và là tấm gương mẫu mực của nỉiữìiĩị đức tính vù đạo /v làm ngưcrí cao dẹp n h ấ t!” 63
  10. MỘT NHÀ GIÁO X ứ THANH 9 TÂM HUYẾT VỚI THƠ CA BÁC Hổ Việc cảm thụ, phân tích, thẩm định thơ ca xưa nay thường mang tính chủ quan, tuỳ vào cá tính và “vốn liếng” của mỗi người. Tuy vậy, đấy cũng là một lĩnh vực khá khe lchắt, không chấp nhận sự tuỳ tiện, cẩu thả, áp đặt. Đối với việc tìm hiểu và thưởng thức thơ ca của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoài những yêu cầu chung, việc nắm vững nét đặc trưng về con người, sự nghiệp, quan niệm, bối cảnh xã hội - thời đại, khả năng lan toả và tiếp nhận thơ của Người là vô cũng cần thiết, quyết định tói chất lượng các công trình nghiên cứu phê bình. Trong tình hình chung đó, nhà giáo Lê Xuân Đức, tác giả cuốn sách Đến với những bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều cố gắng. Trên đưòfng tìm hiểu, nghiên cứu thơ ca của Bác, Lê Xuân Đức luôn có ý thức xuất phái từ một quan niệm học thuật của mình. Theo ông, sáng tác, nghiên cứu về Bác là sáng tác, nghiên cứu một đế tài lớn, một đề tài không cùng; là sáng tác. nghiên cứu về sự sống, vé chân lý. Bởi vậy, muốn có một 64
  11. chút ít đóng góp, người viết về Bác phải có tầm nhìn lịch sử, phải gắn với Đảng, với dân tộc, với cách mạng, với thời đại. Viết về Bác. đổng thời cũng là một quá trình người cầm bút tự soi mình, thanh lọc lại mình, tự nâng mình lên về mọi mặt: Lý tưởng, tình yêu, đạo lý, bản ỉĩnh, tài năng và sáng tạo... Và cuối cùng, ông cho rằng, đã xuất hiện những điều kiện cho người sáng tác, người nghiên cứu phấn đấu để có những tác phẩm về Bác Hồ mang tầm thời đại, tầm lịch sử lớn lao, được công chúng rộng rãi thật sự yêu thích. Đi vào cụ thể hon nữa, theo nhà giáo Lê Xuân Đức thì khi đọc, phân tích bình giảng thơ Bác, cần nắm vững một số nguyên tắc phân tích tác phấm viĩn học nói chung, sau đó xác định phương pháp phân tích thơ, quan niệm ihơ của Bác. thực tế thơ Bác ra sao để xác định cách ihức, con đường trực tiếp đi vào từng bài thơ cụ ihể, tránh :r.áy móc, rập khuôn... Tác gi;í cuốn sách nêu trên mớ đầu bằng những trang có tinh !ý luận về đọc Ihơ Chủ tịch Hỏ Chí Minh (từ một quan niệm lỈKí, đên mộí íhực tế thơ và phưoTig pháp đọc, phân úch Ihơ Bác). Bạn đọc thấy ông chặt chẽ và chủ dộng khi nêu một sỏ nguvèn tắc tìm hiểu thế giới thơ Bác, như xác định cảm xúc chủ đạo - điển hình của bài thơ. ticn tới phát hiện cho ra cái thần - phần linh tuý của tac phẩm thơ ca. Nghệ thuật thơ Bác, 65
  12. theo Lê Xuân Đức, là nghệ thuật tự ẩn mình để cho nội dung trực tiếp đến với người đọc, chính vì vậy cấu tứ thơ của Người rất linh hoạt, đa dạng. Phân tích thơ Bác là phải phát hiện cho ra, dù được kết cấu như thế nào thì sự vận động của tứ thơ vẫn giữ được vẻ tự nhiên, ngôn từ rất phù hợp, ý nào lời ấy, sắc sảo, thâm thuý, triết lý, hài hước, châm biếm ... tuỳ theo đối tượng phản ánh. Vấn đề thể loại, ngôn ngữ (chữ Hán và chữ Quốc ngữ), đề tài thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được tác giả cuốn sách rất chú ý và có những kiến giải thoả đáng. Chẳng hạn, ồng đã có lý khi đưa ra vêu cầu tránh sự lẫn lộn giữa thơ và ca, do giữa chúng có những đặc trưng, tính chất, tiêu chuẩn
  13. (riêng cuốn N hật ký trong tù đã có 134 bài rồi). Bộ phận thơ này có một vị trí đặc biệt, theo nhà giáo Lê Xuân Đức, đó là cái gạch nối giữa cổ điển và hiện đại, một bộ phận quan trọng của nền thơ, nền vãn học cách mạng hiện đại Việt Nam. Theo ông, thì cần có một cách tiếp cận đặc thù đối với thơ chữ Hán của Bác vì đó là một hệ thống riêng bao gồm những bài thơ bộc lộ nội tâm sâu sắc nhất ý thức làm thơ, cùng tài năng thơ của Người. Có phải chi đặt bút làm một bài thơ chữ Hán, Bác mới thực sự sống trọn vẹn và làm thơ theo quy luật sáng tạo, kết quả đã sản sinh ra những bài thơ rất thơ. độc đáo, trường tồn... Cuốn sách dành phần chủ yếu để đi sâu phân lích 52 bài thơ tronẹ đó có 37 bài thơ chữ Hán, 15 bài thơ tiếng Việt, của Chủ tịch Hổ Chí Minh. Đây à những áng thơ tiêu biểu, có giá trị nhiều mặt, chắc chán sẽ còn được bàn tới lâu dài trong đời sống phè bình văn học nước nhà. Chẳng hạn, thơ chữ Hán có các bài “Nạn hĩm xuy địch” (Người bạn tù thổi sáo), “Nço” (Buổi trưa), ‘T ảo giải” (Giải đi sớm). “Úc hũii” (Nhớ bạn), “Dạ bán” (nửa đêm), “Bệnh trọng” (ố m nặng), “Nguyên Tiêu” (Rằm tháng Giêng), ‘T ư chiên sĩ” (Nhớ chiến sĩ), “Đăng sơn” (Lên núi), “Đối nguyệt” (Nhìn trãng), “Tặng Bùi Công” (Tặng cụ Bùi). Phần thơ tiếng Việt, một số bài được tác giả dày công tìm tòi, khảo cứu như 67
  14. “Pác Bó hùng v ĩ ’, “Ca công nhâi”, “Mìmg Xuâin 1942”, “Cảm 0fn người tặng cam”, ‘Cảnh rừng V iết Bắc”, “Đi thuyền trên sông Đáy”. ‘Sáu mươi tuổi’”, “Mừng Xuân 1968” ,... Tôi biết có người lý luậin vãn chương rất ổn ào, tỏ ra “thág kim bác cổ)” n h ư n g k h i đ i v à o t ừ n g t á c p h ẩ m CỊ t h ể t h ì l ạ i t h í ấ t bại, bộc lộ một mớ ỉý luận vừa clắp vá, vừa cứnig nhắc. Trường hợp nhà giáo Lê Xiân Đức ở cuôm Đến V()’i ììììữniị bài thơ của Clìỉi tựh Hồ Chí Minilì thì không như thế. Phần lý thuyết :iệm lời, chỉ cẩìn đủ để nêu “nguyên tắc” làm việccủa mình, phầỉn trọng tâm ông dành cho những bả thơ tạo nên ccốt cách thơ Hồ Chí Minh. Tôi thíchsự mạch lạc, c:ó chủ kiến trong mỗi bài phân tía, câu văn giàiu lượng thông tin sự kiện và tình cảíi trân trọng lãnih tụ của nhà phê bình; đặc biệt vố kiến thức chẫc và rộng của một nhà giáo lâu năn đã giúp ông rrất nhiều khi đi vào phân tích, lý ciải thuyết phục bạin đọc hôm nay. Như khi tìm hiểu Hi thơ “Nạn hữíu xuy địch”, ông có một so sánh ẳ đi tới một kiết luận tinh tế ; Thi đề ngẫu himg, ừ một nỗi lòriịg, một tâm trạng, một thái độ Ihì trng gia tài thi c a của nhân loại có khá nhiều. Nhiu bài nổi tiếnịg, bất hủ như “Tỳ bà hành” của Bạh Cư Dị, “Lomg Thành cầm giả ca” của Nguyễn lũ ... Đố lầ tiênlg nói đồng cảm cho những số phậnchổ đau của cấic nạn nhân, đồng thời qua đó, nhà hơ gửi gấm n(ỗi 68
  15. đau riêng của chính mình. Song vẫn là tình thưong phảng phất bề trẽn. Còn bài thơ “Nạn hữu xuy địch” (Người bạn tù thổi sáo) của Bác Hồ là sự đồng cảm, à tiếng nói của bạn cùng cảnh ngộ. của nsười trong cuộc và cao hơn nữa, chứa đựng một tình cảm sâu sắc : Tình yêu nước, nhớ nước khôn nguôi trong hoàn cảnh bị tù đày. Hay như khi phân tích bài thơ “Ngọ” (Buổi trưa), Lê Xuân Đức dừng lại khá kỹ ở lình tượng con Rồne trong văn hoá Phương Đông xuấl hiện trong thơ Bác, để rồi cuối cùng ông đưa ra một tư liệu cùno một eợi mở thú vị : Trong lời giới thiệu tập thơ Nlưư ký troiì^ tù (bản dịch tiếng Anh), Harrison s .Salisbury nhận xét về Bác: Một nhà tho' có tâm hồn một con Rồng ! Đó cũng là một ý kiến eiúp chúng ta suy nghĩ về Người, về thơ và những bài thơ có hình ảnh con Rồng trong thi phẩm của Người. Về bài thơ “Phỏng Khúc Phụ” (Thăm Khúc Phụ) do không biếl dựa vào đoạn hồi ức của đổng chí Vũ Kỳ. người nhiều năm được gần gũi với Bác, về ngày 19 - 5 - 1965 được cùng Bác đến thăm quê iương Khổng Tử ở Dương Châu - Trung Quốc, nên khi phê bình bài thơ người viết rất dẻ đồng tình với quan điêm cho rằng “Phỏng Khúc Phụ” chỉ là một “nụ cười châm biếm”, “một nụ cười kín đáo” về uy quyền họ Khổng đã trở thành lỗi thời, xưa cũ; thậm 69
  16. chí có thể còn cho Bác Hồ dùng thơ “phê bình Khổng Tử nhẹ nhàng nhưng thấm thía”‘ *\ Nhìn chung, cách đến với những bài thơ Bác, của tác giả Lê Xuân Đức vẫn là cách thức thẩm bình thơ truyền thống, của một nhà giáo giàu kinh nghiệm, giàu kiến thức và tâm huyết đối với nền văn học dân tộc và với các thế hệ học sinh, sinh viên vêu vãn của mình. Đây là mặt mạnh, đổng thời cũng bộc lộ một số hạn chế của ông nếu so sánh với các phương pháp tiếp cận văn học mới mẻ khác, đã trở nên khá quen thuộc với bạn viết và bạn đọc Việt Nam vài thập kỷ nay. Năm 1970, nghiên cứu ùnh cảm thiên nhiên trong tập thơ Nhậí ký trong tù của Bác, nhà văn Đặng Thai Mai (1902 - 1984) có đoạn bộc bạch; “Đứng trước cái đẹp, thái độ của người học tập trước hết là phải cảm động thật sự và hiểu biết sâu sac". Năm 1981, GS. Nguyễn Đăng Mạnh cho xuất bản cuốn chuyên luận M ấy vấn đề về phương pháp tìm hiểu, phân tích thơ H ồ Chí Minh, có đoạn viết ; ‘Tớ/ nghĩ, hiểu Búc cũng là hiểu dãn tộc, hiểu thời đại ở một chừng mực nào đấy, khôn^ phải dễv' Nay, tôi lại có dịp làm quen, ngẫm nghĩ trước những (*) Xem tiểu luận “Ván học nghệ thuậi và thời đại” in irong sách N a y à trong thơ của Lẽ Xuãn Đức. 70
  17. trang sách về thơ ca Bác Hồ của nhà giáo Lê Xuân Đức, với '‘‘'lòng mong muốn góp thêm tiếng nối đ ể độc giả tìm hiểu, nghiên cứu và thưàng thức thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh". Đáng trân trọng thay, một tấm lòng như thế (*) Lẽ Xuân Đức sinh nãm 1939. quê xã Hoà Lộc, huyện Hậu Lộc, Tìianh Hoá. Tốt nghiệp khoa Ván, Trường ĐHTH Hà Nội. năm 1963, sau đó tham gia dạy học. Phó Chủ tịch Hộị VHNl" tỉnh Thaiih Hoá, đại biểu Quốc hội khoá VIII, Uỷ viên ư ỷ ban Tlianh thiếu niên và nhi đổng của Quốc hội. Hiện sống và viết tại Hà Nội. Títc phẩin nghiên cứu, phê bình vể thơ Bác Hồ, ngoài cuốn Đến với những bài thơ của Chủ íịclì H ồ Chi Minh (NXB Giáo dục, in lần đáu năm 2002, tái bản lần thứ 2 năm 2005); trong nãm 2()05, ổng còn cho xuất bản thêm 2 cuốn : Đọc thơ Bác Hồ (NXB Thanh niên) và N ay ỏ ĩi ong ĩh ơ ( N X B Vân học). 71
  18. “TỐI CỐ GẮNG LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA CÁC VỊ ẨY Tôn piáo, theo cái nhìn xã hội học. là hệ th5ng nhữiig tư tương cổ mà đặc điểm của nỏ là sụ tin tưởna vào những lực lượne siêu tự nhiên, vào thính thần ma quỷ ... Trong khi khoa học phán ánh chính xác. được thực tiễn kiểm chứng thì Tôn giáo ptián ánh một cách hư ảo, lung linh vào đầu óc con n ‘ười trong đời sống hàng ngày những lực lượng 3ên ngoài thống trị mình. Lĩnh vực Tôn giáo vừí có tính đặc thù vừa có tính chất toàn diện của đời s5ng con người, bởi vậy Tôn giáo luôn có hai mặt và không phải lúc nào cũng được phân biệt rõ nng. Tôn giáo cũng có chức năng văn hoá, văn mini- đo các giá trị nó đem cho nhân loại; tuy vậy, tDng một chừng mực nhất định, mối liên hệ giữa ^ôn giáo với một xã hội nào đấy khi trở nên mạnh T1C, áp đảo, mù quáng thì có thể nó sẽ trở thành lực :ản ghê gớm đối với sự tiến bộ xã hội. Việc tìm hiểu những quan điểm của Chủ lịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về Tôn giáo, vể công tác tôn giáo đã được giới nghiên cứu ở Việt Nam đặt 72
  19. ra từ khá lâu, nhưng mươi năm trở lại đây thì sự chú ý của họ càng trở nên tập trung, thu được nhiều thành quả đáng kể. Có thể kể tới cuốn sách H ồ Chí Minh và vấn đề Tôn giáo, tín lìgưỡii^ do Viện Nghiên cứu Tôn giáo xuất bản năm 1996. Nhận xét về công trình này, Giáo sư Vũ Khiêu viết : "'Clnuii’ ta đ ã thấy Bác nói gì trong ciiốn sách ấy ? Có những trang nào viết về lý luận Tôn giáo, vê Iií>iiồn ựôc và bảìi chất của Tôn iỊÌủo, vê qiiv luật tồ/ì tại, phát triển và suy voìig của Tôn giáo ? Hâu ìiììit'không cố tratìíỊ nào cả! NhưiĩiỊ ởcĩằìì^ sau mỗi chữ, ta lại tìiấy cả một hệ thốn^ lý luận rất hoàn chỉnh, rất chặt ch ẽ vê Tân ^iáo. Và đằng sau moi lời Bác nói ra, ta lại thííy hình ánh cao cà của một Iii^ười Cộnq sản vỏ tìiần, một anh liãní> ẹidi phóng dâìì tộc, một Danh nhcin văn ỉìoá T h ế g iớ i”. Đối với Bác Hồ, mọi công dân nước Việt Nam đều phải àm chủ đất nước, vận mệnh mình, không thụ động ngồi chờ vào thần linh. Mặc dù vậy, trước sau nhất quán, Người vẫn kiên trì tư tưởng tự do tín ngưõng, cả tự do không tín ngưỡng. Người không theo một tôn giáo nào, nhưng tôn giáo nào của nhân dân nước mình và bè bạn. Naười đều hết sức tôn trọng; chỉ ôn án những hiện tượng mê tín dị đoan mà chính các ton giáo đó cũng không chấp nhận nổi ! Gần cuối năm 2003, Nhà xuất bản Tôn giáo tiếp tục cho ra mắt bạn đọc cuốn sách Tưtưàng H ồ 73
  20. Chí Minh về Tôn giáo và công tác Tôn giáo^^ ‘, kết quả một cuộc Hội thảo, do Học viện Chính trị Quốc gia Hổ Chí Minh tổ chức, đã thu hút nhiều nhà khoa học, lãnh đạo, quản lý và hoạt động thực tiễn. Ngoài bài viết mở đầu của GS-TS Lê Hữu Nghĩa, cuốn sách giới thiệu 18 tiểu luận, chia làm hai phần chính: H ồ Chí Minh về Tôn giáo; H ồ Chí Minh về cõng tác Tôn giáo. Trong phần một, các tác giả tập trung nêu và giải quyết một loạt vấn đề giàu tính lý luận và phưcnng pháp, như cách tiếp cận, những quan điểm chủ yếu, các giá trị văn hoá - đạo đức, đoàn kết Tôn giáo - Dân tộc, giữa Tôn giáo với CNXH, quyền tự do tín ngưỡng, Tôn giáo thời hiện đại,... Phần hai, bạn đọc lần lượt tiếp nhận - trên bình diện lý luận soi sáng thực tiễn phong phú, không kém phần phức tạp - như Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý Nhà nước với các tôn giáo, về nền tảng luật pháp Tôn giáo ở nước ta, về các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam, về xây dựng Đảng tại những vùng đa số quần chúng là tín đổ tôn giáo, ... Do tính chất một cuộc hội thảo khoa học, nên đảy đó qua các trang viết, còn tổn tại một số ý kiến cần được tiếp tục trao đổi, tham khảo rộng ra các nước trên thế giới, nghiên cứu sâu thêm, thuyết phục (*) GS.TS Lê Hữu Nghĩa và PGS - TS Nguyền Đức Lì đ.ồng chủ biên. NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2003. 74
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2