intTypePromotion=1
ADSENSE

Hoàn thiện chế định đình chỉ thi hành án dân sự theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

16
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đình chỉ thi hành án dân sự (THADS) là một thủ tục được quy định trong Luật thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật THADS) mà Cơ quan thi hành án dân sự (Cơ quan THADS) áp dụng để kết thúc việc thi hành án, hay nói khác là chấm dứt quan hệ pháp luật thi hành án dân sự. phạm vi bài viết này chúng tôi phân tích những bất cập, vướng mắc, từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật về căn cứ đình chỉ thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hoàn thiện chế định đình chỉ thi hành án dân sự theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam

  1. Soá 10/2020 - Naêm thöù möôøi laêm HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH ĐÌNH CHỈ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM Lê Minh Nhựt 1 Nguyễn Minh Phú 2 Tóm tắt: Đình chỉ thi hành án dân sự (THADS) là một thủ tục được quy định trong Luật thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật THADS) mà Cơ quan thi hành án dân sự (Cơ quan THADS) áp dụng để kết thúc việc thi hành án, hay nói khác là chấm dứt quan hệ pháp luật thi hành án dân sự. Việc đình chỉ dẫn đến những hậu quả pháp lý nhất định, ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của đương sự, vì vậy pháp luật quy định Cơ quan THADS không được tùy tiện đình chỉ mà phải dựa trên căn cứ luật định. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi phân tích những bất cập, vướng mắc, từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật về căn cứ đình chỉ thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam. Từ khóa: Thi hành án dân sự, đình chỉ thi hành án dân sự, căn cứ đình chỉ thi hành án dân sự. Nhận bài: 21/9/2020; Hoàn thành biên tập: 25/9/2020; Duyệt đăng: 23/10/2020. Abstract: Suspending enforcement of civil judgments is a procedure regulated in the law on enforcement of civil judgments in 2008 which is amended and supplemented in 2014. This procedure is applied by Agencies for Civil judgment enforcements to end the enforcement or to end legal relation of civil judgment enforcement in other words. Because suspending enforcement of civil judgments may cause certain consequences, affecting legitimate rights and interests of concerned persons, it is regulated that agencies of civil judgment enforcement must base on legal ground to suspend the enforcement of civil judgments. In this article, we analyze shortcomings, obstacles to make suggestions for finalizing legal regulations on grounds to suspend enforcement of civil judgments under Vietnam’s law. Keywords: Civil judgment enforcement, suspend enforcement of civil judgments, ground to suspend enforcement of civil judgments. Date of receipt: 21/9/2020; Date of revision: 25/9/2020; Date of approval: 23/10/2020. Đình chỉ THADS là một thủ tục trong số các động đang diễn ra bị ngừng lại. Tuy nhiên ngừng lại thủ tục được quy định trong Luật THADS mà cơ trong thời gian bao lâu, ngừng có thời hạn nhất định quan THADS áp dụng để kết thúc việc thi hành án, hay ngừng hẳn thì không rõ. Ở góc độ từ ngữ pháp chấm dứt trách nhiệm của Chấp hành viên (CHV) lý thì “Đình chỉ thi hành án” được hiểu là “chấm đối với việc thi hành án. Căn cứ, trình tự, thủ tục, dứt việc thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật thẩm quyền của đình chỉ được quy định tại Điều 50 trong những trường hợp do pháp luật quy định”4. Luật THADS. Pháp luật THADS hiện hành vẫn Cách hiểu này đã xác định đối tượng của hoạt động chưa đưa ra bất kỳ định nghĩa thế nào là đình chỉ đình chỉ là việc thi hành bản án có hiệu lực pháp THADS. Theo chúng tôi, Luật THADS, các văn luật và phải dựa trên cơ sở pháp luật quy định. Tuy bản hướng dẫn thi hành cần đưa ra định nghĩa về nhiên, định nghĩa này cũng chưa cho biết thời gian đình chỉ THADS để thống nhất trong cách hiểu. chấm dứt việc thi hành án, cũng như đối tượng của Để đưa ra định nghĩa này, chúng tôi sẽ xem xét hoạt động đình chỉ ngoài bản án có hiệu lực pháp ở nhiều khía cạnh khác nhau. Cụ thể, theo cách luật còn đối tượng nào khác hay không. hiểu thông thường, “đình chỉ” có nghĩa là “làm Trong khoa học pháp lý hiện nay có một số ngừng lại hoặc làm cho phải ngừng lại trong một định nghĩa về khái niệm đình chỉ THADS, chẳng khoảng thời gian hoặc vĩnh viễn”3. Định nghĩa này hạn như “Đình chỉ thi hành án dân sự là việc cơ nói lên mục đíchcủa đình chỉ là làm cho một hoạt quan thi hành án dân sự quyết định ngừng hẳn việc 1 Thạc sỹ, Giảng viên Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. 2 Thạc sỹ, Cộng sự pháp lý Công ty TNHH tư vấn và quản lý Khánh Minh. 3 Viện Ngôn ngữ học (2005), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, Đà Nẵng, tr.197. 4 Nguyễn Mạnh Hùng (2003), Thuật ngữ pháp lý - Tập 1, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.262.
  2. HOÏC VIEÄN TÖ PHAÙP thi hành án dân sự khi có căn cứ do pháp luật quy quyết, cụ thể như sau: định”5 hay “Đình chỉ thi hành án dân sự là việc cơ Thứ nhất, việc đình chỉ thi hành án liên quan quan thi hành án dân sự mà cụ thể là Thủ trưởng cơ đến người thứ ba. quan bằng một quyết định cụ thể làm chấm dứt một Theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật quan hệ thi hành án cụ thể hay nói cách khác là THADS, đương sự có thỏa thuận bằng văn bản hoặc chấm dứt vai trò của CHV đối với việc tổ chức thi người được thi hành án có yêu cầu cơ quan THADS hành án đó khi có một trong các căn cứ do pháp đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ quyền, lợi luật quy định”6. ích hợp pháp được hưởng theo bản án, quyết định Cả hai định nghĩa này cho thấy hậu quả của thì cơ quan THADS ra quyết định đình chỉ THA, việc đình chỉ THADS là làm ngừng hẳn việc thi trừ trường hợp việc đình chỉ THA ảnh hưởng đến hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba. Như vậy cơ quan THADS. Ngừng hẳn được hiểu là chấm điều kiện không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp dứt hoàn toàn quá trình thi hành án. Đây là điểm pháp của người thứ ba là bắt buộc nếu muốn áp phân biệt giữa đình chỉ và hoãn, tạm đình chỉ thi dụng căn cứ này. Tuy nhiên Luật THADS lại không hành án dân sự (Trường hợp hoãn hay tạm định chỉ cho biết người thứ ba là ai và tiêu chí để xác định. thì việc THA có thể khôi phục lại khi căn cứ hoãn, Điều này đã gây không ít khó khăn cho cơ quan tạm đình chỉ không còn). Ngoài ra việc đình chỉ chỉ THADS khi áp dụng căn cứ này để đình chỉ, cụ thể được tiến hành khi có căn cứ luật định. Tuy nhiên, qua vụ việc sau: hai khái niệm này vẫn chưa nêu rõ chủ thể thực Vụ án tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài hiện và đối tượng của hoạt động đình chỉ THADS. sản giữa nguyên đơn là vợ chồng bà Trịnh Thị S, Theo quan điểm của chúng tôi, đình chỉ thi người được thi hành án của 03 quyết định công hành án dân sự nên được hiểu là “một thủ tục do nhận hòa giải thành số 02/DSST, số 05/DSST, số Cơ quan thi hành án dân sự tiến hành bằng một 06/DSST ngày 20/09/2015 của Tòa án nhân dân quyết định cụ thể nhằm làm ngừng hẳn việc thi thành phố H với các bị đơn là vợ chồng ông hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án, Trọng Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh C với số tiền phải trả là 900 triệu đồng và lãi chậm khi có căn cứ do pháp luật quy định”. thi hành án. Đồng thời, bà Trịnh Thị S cũng là Về căn cứ đình chỉ, Luật THADS quy định tám người phải thi hành án theo 02 bản án số 11/DSST căn cứ đình chỉ thi hành án dân sự tại Điều 507. và số 12/DSST ngày 24/03/2014 với số tiền phải Theo chúng tôi, quy định về các căn cứ đình chỉ nộp án phí dân sự sơ thẩm của hai bản án là gần THADS hiện nay tương đối hoàn thiện. Tuy nhiên, 100 triệu đồng. trên thực tiễn khi áp dụng các quy định này vẫn còn Quá trình tổ chức thi hành các bản án và quyết tồn tại một số bất cập, vướng mắc cần được giải định của Tòa án, xác minh thực tế tại địa phương cho 5 Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật Thi hành án Dân sự, Nguyễn Công Bình, Bùi Thị Huyên (Chủ biên), NXB CAND, tr.176. 6 Lương Thanh Tùng (2013), “Đình chỉ thi hành án dân sự”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp, số chuyên đề 2, tr.27-32. 7 Điều 50 Luật THADS đưa ra các căn cứ đỉnh chỉ thi hành án dân sự như sau: a) Người phải thi hành án chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế; b) Người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa kế; c) Đương sự có thỏa thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ quyền, lợi ích được hưởng theo bản án, quyết định, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba; d) Bản án, quyết định bị hủy một phần hoặc toàn bộ, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 103 của Luật này; đ) Người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức khác; e) Có quyết định miễn nghĩa vụ thi hành án; g) Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án; h) Người chưa thành niên được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã chết hoặc đã thành niên.
  3. Soá 10/2020 - Naêm thöù möôøi laêm thấy: Bà Trịnh Thị S là Giám đốc công ty TNHH X luật bảo vệ. Như vậy, người thứ ba không giới hạn và tại thời điểm xác minh thi hành án thì công ty trong cùng một việc THA, có thể là bất kỳ ai có không còn hoạt động, kinh doanh thua lỗ và không quyền, lợi ích bị ảnh hưởng. có khả năng trả nợ, bản thân và gia đình bà S cũng Về mặt văn bản pháp luật thi hành án dân sự, không có tài sản, thu nhập gì để đảm bảo thi hành án. hiện nay không có câu trả lời. Hiện nay trong Luật Do đó, cơ quan thi hành án đã ra quyết định chưa có THADS có quy định về người có quyền, lợi nghĩa điều kiện thi hành theo quy định tại Điều 44a Luật vụ liên quan, theo đó tại Điều 3 Luật THADS quy thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) đối với 02 bản nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên án số 11/DSST và số 12/DSST ngày 24/03/2014 về quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ khoản tiền 100 triệu đồng án phí. Sau đó, đến năm thi hành án của đương sự. Khái niệm này với khái 2016, bà S mới có đơn yêu cầu thi hành đối với 03 niệm Người thứ ba có thể bị nhầm lẫn.Vì vậy cần quyết định công nhận hòa giải thành số 02/DSST, số thiết phải phân biệt hai khái niệm này. 05/DSST và số 06/DSST ngày 20/09/2015. Qua xác Theo chúng tôi, người thứ ba cần được hiểu minh điều kiện thi hành án thì vợ chồng ông D, bà B, rộng hơn và có các tiêu chí để xác định như sau: bà C đều có hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, không + Có quyền, lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng từ có nghề nghiệp ổn định, đi làm thuê kiếm sống, thu thỏa thuận, yêu cầu đình chỉ thi hành án của đương nhập bấp bênh, chỉ đủ lo cuộc sống tối thiểu của gia sự. Như vậy, người thứ ba không có nghĩa vụ liên đình và chỉ có duy nhất một ngôi nhà cấp 4 có giá trị quan đến việc thi hành án, mà chỉ có quyền và lợi khoảng hơn 100 triệu đồng (chưa được Nhà nước ích hợp pháp, trong khi đó người có quyền lợi, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử nghĩa vụ liên quan có thể có nghĩa vụ liên quan đến dụng đất). Quá trình giải quyết thi hành án, bà S đã việc thi hành án. thỏa thuận với vợ chồng ông D, bà B, bà C là không + Về phạm vi chủ thể: người thứ ba không giới yêu cầu thi hành án và từ bỏ quyền lợi được hưởng hạn trong phạm vi cùng một việc thi hành án, mà có và yêu cầu cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thểở một hoặc nhiều việc thi hành án dân sự khác thi hành theo điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật thi hành nhau hoặc có thể bất kỳ ai có quyền, lợi ích hợp pháp án dân sự8. liên quan, kể cả Nhà nước. Người có quyền lợi, nghĩa Vấn đề đặt ra trong vụ việc trên đó là tiêu chí vụ liên quan giới hạn trong phạm vi một việc thi hành xác định người thứ ba bị ảnh hưởng quyền và lợi án dân sự nhất định và chỉ những người có quyền lợi, ích hợp pháp. Chẳng hạn, nếu bà S từ bỏ quyền lợi nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, của mình khi không còn tài sản gì để thi hành án thì nghĩa vụ thi hành án của đương sự. có ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người + Về cách thức xác định: dựa vào sự tự nguyện thứ ba là Nhà nước đối với phần án phí hay không, khai báo của đương sự hoặc qua rà soát của Chấp người thứ ba có phải là người có quyền lợi trong hành viên hoặc người thứ ba này gửi đơn không cùng một vụ việc thi hành án hay bất kỳ ai có đồng ý việc thỏa thuận, đơn yêu cầu đình chỉ của quyền, lợi ích bị ảnh hưởng, tiêu chí xác định người đương sự. Theo chúng tôi, để áp dụng thống nhất thứ ba như thế nào? pháp luật cần sớm có văn bản hướng dẫn về định Trên thực tế, có hai quan điểm khác nhau về nghĩa, tiêu chí, cách thức xác định người thứ ba. người thứ ba: Thứ hai, về căn cứ đình chỉ thi hành án dân sự Quan điểm thứ nhất cho rằng việc xác định người liên quan đến vật đặc định. Trên thực tế, phát sinh thứ ba phải là người có quyền lợi liên quan đến người trường hợp thi hành nghĩa vụ trả vật đặc định được THA trong cùng một việc thi hành án. nhưng vật đặc định không còn hoặc hư hỏng đến Quan điểm thứ hai cho rằng người thứ ba ở đây mức không thể sử dụng được nhưng đương sự được xác định là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào (kể cả không thỏa thuận được về việc THA, mặc dù CHV Nhà nước) mà khi cơ quan THADS đình chỉ THA đã hướng dẫn nhưng đương sự không thực hiện thì sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của việc khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình, cũng họ, quyền và lợi ích hợp pháp này phải được pháp như không rút yêu cầu thi hành án. Điều này gây 8 Lê Thị Lanh (2019), “Những quan điểm khác nhau về đình chỉ thi hành án”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề 3, tr.23-25.
  4. HOÏC VIEÄN TÖ PHAÙP không ít khó khăn cho cơ quan THADS khi không Thứ hai, BLDS năm 2015 có quy định về căn có căn cứ để kết thúc việc thi hành, trong khi nếu cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự, trong đó có quy định kéo dài vụ việc thì cũng không thể giải quyết được. “vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn Theo quy định của BLDS năm 2015, vật đặc và được thay thế bằng nghĩa vụ khác”11. Theo đó định là vật phân biệt được với các vật khác bằng bên có nghĩa vụ được chấm dứt trách nhiệm với những đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, màu bên có quyền, hay nói cách khác người phải THA sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí. Khi thực hiện nghĩa vụ sẽ không còn trách nhiệm với người được THA nữa chuyển giao vật đặc định thì phải giao đúng vật đó9. trong trường hợp này. Trong THADS, việc thi hành đối với nghĩa vụ Thứ ba, trường hợp sau khi đình chỉ thi hành là vật đặc định thì CHV sẽ áp dụng biện pháp nghĩa vụ trả vật đặc định, đương sự khởi kiện tại cưỡng chế trả vật nếu vật phải trả hiện đang còn Tòa án và được thụ lý giải quyết bằng một bản án tồn tại. Nếu vật phải trả không còn thì CHV không khác thì Cơ quan THADS thực hiện việc tổ chức áp dụng biện pháp cưỡng chế trả vật. Trường hợp thi hành vụ việc theo quyết định của Tòa án theo vật không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử bản án mới tuyên, như vậy quyền lợi của đương sự dụng được mà đương sự có thỏa thuận khác về việc vẫn được đảm bảo trên thực tế. thi hành án thì CHV thi hành theo thỏa thuận. Từ các phân tích trên, chúng tôi kiến nghị bổ Trường hợp đương sự không thỏa thuận được thì sung thêm căn cứ đình chỉ THA trong trường hợp có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về vật đặc định không còn hoặc hư hỏng đến mức thiệt hại do vật phải trả không còn hoặc hư hỏng không thể sử dụng được vào Điều 50 Luật THADS đến mức không còn sử dụng được10. để phù hợp với thực tiễn và phù hợp với các quy Trước đây, theo Luật THADS năm 2008 trường định của BLDS năm 2015. Cụ thể, Điều 50 Luật hợp đương sự không thỏa thuận được thì Thủ trưởng THADS cần bổ sung thêm điểm k vào khoản 1 điều cơ quan THADS ra quyết định trả đơn yêu cầu THA. này, như sau:“1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải dân sự phải ra quyết định đình chỉ thi hành án quyết thiệt hại do vật phải trả không còn hoặc hư trong trường hợp sau đây:...k. Vật đặc định không hỏng đến mức không sử dụng được. Nhưng Luật còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được THADS hiện hành đã bỏ cơ chế trả đơn yêu cầu mà đương sự không có yêu cầu khởi kiện”. Mặc THA và không quy định căn cứ đình chỉ trong khác để đồng bộ pháp luật cần bỏ quy định tại điểm trường hợp này. Cách xử lý hiện nay đó là Cơ quan b khoản 1 Điều 44a về căn cứ xác định việc chưa THADS sẽ căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 44a Luật có điều kiện thi hành án trong trường hợp vật đặc THADS CHV đề nghị Thủ trưởng cơ quan THADS định không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể ra Quyết định về việc chưa có điều kiện THA. Theo sử dụng được. chúng tôi, cách xử lý này là chưa hợp lý về mặt thực Thứ tư, về đình chỉ thi hành án trong trường hợp tiễn và pháp luật, bởi các lý do sau: bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một. Thứ nhất, việc THADS chưa có điều kiện thi Tại Khoản 4 Điều 372 BLDS năm 2015 quy hành là những việc mà tại thời điểm này chưa có định trường hợp “bên có quyền và bên có nghĩa vụ điều kiện để thi hành nhưng khả năng trong tương hòa nhập làm một” là căn cứ chấm dứt nghĩa vụ lai có thể có điều kiện để THA trở lại. Đối với dân sự. Tuy nhiên Luật THADS không quy định trường hợp tại thời điểm thi hành vật đặc định là trường hợp này là căn cứ đình chỉ THADS. đối tượng của nghĩa vụ được xác định đã bị hư Ví dụ tình huống sau: Công ty A là người được hỏng đến mức không thể sử dụng được thì đã xác thi hành án, Công ty B là người phải thi hành án. định được khả năng để thi hành nghĩa vụ đó trên Cơ quan THADS đã ra Quyết định thi hành án theo thực tế không còn, việc tiếp tục THA không thể đơn yêu cầu, theo đó B có nghĩa vụ trả cho A số thực hiện được. Nếu đưa vụ việc vào diện chưa có tiền 1 tỷ đồng. Trong quá trình thi hành án, Công ty điều kiện THA sẽ làm án tồn đọng kéo dài, không B sáp nhập vào Công ty A. Theo quy định của pháp phù hợp với điều kiện thực tế. luật sau khi nhận sáp nhập, Công ty A sẽ kế thừa 9 Điều 113 BLDS năm 2015. 10 Điều 114 Luật THADS năm 2014. 11 Điều 372 BLDS năm 2015.
  5. Soá 10/2020 - Naêm thöù möôøi laêm quyền và nghĩa vụ của Công ty B. Công ty B chấm còn tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa dứt hoạt động. vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức, cá Trong tình huống này bên có quyền và bên có nhân khác theo quy định của pháp luật”. Đồng nghĩa vụ đã hòa nhập làm một. Tuy nhiên Luật thời, để đồng bộ pháp luật, cần sửa đổi, bổ sung THADS không quy định đây là căn cứ đình chỉ, điểm d Điều 54 Luật THADS như sau:“Trường nếu muốn đình chỉ Cơ quan THADS chỉ có thể yêu hợp giải thể thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết cầu Công ty A làm đơn yêu cầu đình chỉ thi hành định giải thể phải thông báo cho cơ quan thi hành án. Đặt trường hợp Công ty A không làm đơn yêu án dân sự biết trước khi ra quyết định. Trường hợp cầu thì giải quyết như thế nào? quyền, nghĩa vụ thi hành án của tổ chức bị giải thể Nếu căn cứ vào quy định tại điểm đ Điều 50 được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác theo Luật THADS “Người phải thi hành án là tổ chức quy định của pháp luật thì tổ chức, cá nhân mới đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án”. của pháp luật nghĩa vụ của họ không được chuyển Thứ sáu, đình chỉ thi hành án khi người được giao cho tổ chức khác” thì không thể đình chỉ được giao nuôi dưỡng chết hoặc đã thành niên. vì nghĩa vụ của Công ty B đã chuyển sang cho Trong vụ việc ly hôn sẽ đặt ra vấn đề giải quyết Công ty A. Do đó, Công ty A không thể yêu cầu việc nuôi con sau khi ly hôn. Cụ thể bản án, quyết chính mình thực hiện nghĩa vụ. định của Tòa án sẽ xác định ai là người chăm nom, Do vậy, để phù hợp với thực tiễn và đồng bộ chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành với các quy định của BLDS năm 2015 về căn cứ niên hoặc con đã thành niên nhưng mất năng lực chấm dứt nghĩa vụ. Chúng tôi kiến nghị bổ sung hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và căn cứ này vào căn cứ đình chỉ thi hành án tại không có tài sản để tự nuôi mình13. Theo đó đối Khoản 1 Điều 50 Luật THADS, theo đó: “1. Thủ tượng được giao nuôi dưỡng bao gồm: trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết + Con chưa thành niên; định đình chỉ thi hành án trong trường hợp sau + Con đã thành niên nhưng mất năng lực hành đây:…l. bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và làm một”. không có tài sản để tự nuôi mình. Thứ năm, việc đình chỉ thi hành án khi người Tuy nhiên, theo quy định tại điểm g Khoản 1 phải thi hành án là tổ chức giải thể. Điều 50 Luật THADS chỉ mới quy định căn cứ Theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 50 đình chỉ trong trường hợp “Người chưa thành niên Luật THADS “Người phải thi hành án là tổ chức được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy chết hoặc đã thành niên”. Đối với trường hợp con định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự chuyển giao cho tổ chức khác” là căn cứ đình chỉ nhưng đã có năng lực hành vi dân sự trở lại hoặc có thi hành án. Tuy nhiên, quy định này có mâu khả năng lao động và có tài sản để tự nuôi mình thì thuẫn với Luật doanh nghiệp 2014, cụ thể ở vấn có đình chỉ THADS hay không? Đây là quy định đề chuyển giao nghĩa vụ. Theo Luật doanh thiếu sót của Luật THADS. nghiệp 2014 có quy định trường hợp doanh Do đó, chúng tôi kiến nghị sửa đổi điểm g nghiệp bị giải thể do bị thu hồi giấy chứng nhận Khoản 1 Điều 50 như sau: “Người chưa thành niên đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã doanh nghiệp thì nghĩa vụ thi hành án được chết hoặc đã thành niên; Người đã thành niên chuyển giao cho các cá nhân là người quản lý có nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có liên quan 12. Luật THADS chỉ mới đề cập đến khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi việc chuyển giao cho tổ chức là chưa phù hợp. mình được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết Như vậy, kiến nghị sửa đổi, bổ sung vào điểm định đã chết hoặc đã có năng lực hành vi dân sự đ, Khoản 1 Điều 50 Luật THADS như sau: “Người trở lại hoặc có khả năng lao động và có tài sản để phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể, không tự nuôi mình”./. 12 Điều 201, 203 Luật doanh nghiệp năm 2014. 13 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2