
LUẬN VĂN:
Hoàn thiện hạch toán tài sản cố
định hữu hình tại Công ty Thoát
nước Hà Nội

MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế hiện nay, cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội và sự tiến bộ
nhanh chóng của khoa học kỹ thuật là sự thăng tiến vượt bậc về chất lượng cũng như số
lượng các doanh nghiệp. Điều kiện để một doanh nghiệp tồn tại và phát triển đó là phải
có các nguồn lực cần thiết như sức lao động, đối tượng lao động, tư liệu động và vốn,
trong đó tài sản cố định là tư liệu lao động chủ yếu tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp sản suất, tài sản cố định là bộ phận quan trọng, thường chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư, là cơ sở vật chất kỹ thuật để tiến hành các hoạt động
sản xuất kinh doanh, là điều kiện cần thiết để giảm nhẹ sức lao động, nâng cao năng suất
lao động và chất lượng sản phẩm. Việc không ngừng đầu tư, đổi mới trang thiết bị sẽ
giúp cho doanh nghiệp nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh, mở rộng được thị
trường tiêu thụ. Song song với việc đầu tư đổi mới trang thiết bị là công tác quản lý và sử
dụng có hiệu quả nhằm mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp.
Tổ chức tốt công tác kế toán tài sản cố định có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý và
sử dụng tài sản cố định góp phần phát triển sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, thu hồi
nhanh chóng vốn đầu tư để mở rộng sản xuất, đổi mới tài sản cố định.
Em đã đi sâu nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện hạch toán tài sản cố định hữu hình tại
Công ty Thoát nước Hà Nội “.
Nội dung nghiên cứu của đề tài gồm ba phần chính:

Mở đầu
Phần 1 : Những vấn đề lý luận cơ bản về hạch toán tài sản cố định hữu hình trong các
doanh nghiệp.
Phần 2 : Thực trạng về hạch toán tài sản cố định hữu hình tại Công ty Thoát nước Hà
Nội.
Phần 3 : Hoàn thiện hạch toán tài sản cố định hữu hình tại Công ty Thoát nước Hà Nội.
PHẦN 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN HẠCH TOÁN TÀI SẢN CỐ
ĐỊNH HỮU HÌNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
I. VỊ TRÍ CỦA TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH VÀ NHIỆM VỤ HẠCH TOÁN
1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của TSCĐ hữu hình.
Để tiến hành hoạt động SXKD, Doanh nghiệp phải có một lượng tài sản nhất định được
biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Tài sản trong doanh nghiệp bao gồm Tài sản
cố định và Tài sản lưu động.
TSCĐ hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử
dụng cho hoạt động sản xuất - kinh doanh, phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu

hình. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (chuẩn mực 03), các tài sản được ghi nhận là
TSCĐ hữu hình phải thoả mãn đồng thời cả 4 tiêu chuẩn sau.
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó.
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy.
- Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm
- Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, TSCĐ có đặc điểm là:
- Tham gia vào nhiều chu sản xuất kinh doanh và vẫn giữ được hình thái
hiện vật ban đầu cho đến khi hỏng phải loại bỏ.
- Giá trị của TSCĐ hữu hình bị hao mòn dần và chuyển dần từng phần vào chi phí SXKD
của Doanh nghiệp.
TSCĐ hữu hình là tư liệu lao động chủ yếu, do đó nó có vai trò rất quan trọng tới các
quyết đinh hoạt động sản xuất, khối lượng và chất lượng sản phẩm từ đó ảnh hưởng tới
sự tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, xu thế cạnh tranh là tất yếu " Sản xuất cái gì, sản xuất cho
ai, sản xuất như thế nào " là những câu hỏi luôn đặt ra đòi hỏi các nhà quản lý Doanh
nghiệp phải tìm cho được câu trả lời thoả đáng. Muốn vậy Doanh nghiệp phải điều tra,
nắm bắt nhu cầu thị trường từ đó lựa chọn quy trình công nghệ sản xuất, máy móc thiết bị
phù hợp tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người
tiêu dùng. Do đó, việc đổi mới TSCĐ hữu hình trong Doanh nghiệp để theo kịp sự phát
triển của xã hội là một vấn đề được đặt lên hàng đầu. Bởi vì nhờ có sự thay đổi máy móc
thiết bị, cải tiến quy trình công nghệ Doanh nghiệp mới có thể tăng năng suất lao động,
nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ thấp giá thành đảm bảo cho sản phẩm của Doanh
nghiệp có uy thế canh tranh chiếm lĩnh thị trường.
Như vậy TSCĐ hữu hình là bộ phận then chốt trong Doanh nghiệp sản xuất, có vai trò
quyết định tới sự sống còn của Doanh nghiệp. TSCĐ thể hiện một cách chính xác nhất
năng lực, trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của Doanh nghiệp và sự phát triển của
nền kinh tế quốc dân.
2. Phân loại TSCĐ
Một Doanh nghiệp phải sử dụng nhiều loại TSCĐ khác nhau, mỗi loại TSCĐ có đặc
trưng kỹ thuật riêng, công dụng và thời gian sử dụng riêng. Do

vậy, để thuận lợi cho việc quản lý và hạch toán TSCĐ cần phải phân loại
TSCĐ theo nhiều tiêu thức khác nhau.
a. Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện.
Theo cách phân loại này TSCĐ trong Doanh nghiệp bao gồm TSCĐ Hữu hình và TSCĐ
Vô hình.
TSCĐ hữu hình (TSCĐHH) là những tài sản có hình thái vật chất do Doanh nghiệp năm
giữ để sử dụng cho hoạt động SXKD phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐHH.
b. Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu.
Căn cứ vào quyền sở hữu, TSCĐ của Doanh nghiệp được chia thành hai loại sau: TSCĐ
tự có và TSCĐ thuê ngoài.
+ TSCĐ tự có là các TSCĐ được xây dựng, mua sắm và hình thành từ vốn
ngân sách cấp hoặc cấp trên cấp, nguồn vốn vay, nguồn vốn liên doanh, các quỹ của
Doanh nghiệp và các TSCĐ được biếu tặng...
+ TSCĐ thuê ngoài là những TSCĐ đi thuê để sử dụng trong một thời gian nhất định theo
hợp đồng thuê tài sản. Tuỳ theo điều khoản của hợp đồng thuê mà TSCĐ đi thuê được
chia thành TSCĐ thuê tài chính và TSCĐ thuê hoạt động.
c. Phân loại TSCĐ theo đặc trưng kỹ thuật.
Theo đặc trưng kỹ thuật, TSCĐ được chia thành các loại sau:
+ Đối với TSCĐ hữu hình gồm:
- Nhà cửa, vật kiến trúc: gồm nhà làm việc, nhà ở, nhà kho...
- Máy móc thiết bị: gồm máy móc thiết bị động lực, máy móc thiết bị công tác và các loại
máy móc thiết bị khác dùng trong hoạt động SXKD.
- Phương tiện vận tải, truyền dẫn: ôtô, máy kéo,tàu thuyền, hệ thống ống dẫn...thuộc
TSCĐ của Doanh nghiệp.
- Thiết bị, dụng cụ quản lý: gồm các thiết bị sử dụngtrong quản lý kinh doanh, quản lý
hành chính, dụng cụ đo lường...
- Cây lâu năm, gia súc.
- TSCĐ hữu hình khác.
d. Phân loại TSCĐ theo công dụng kinh tế.
Căn cứ vào nội dung kinh tế TSCĐ của Doanh nghiệp được chia thành hai
loại:

