1
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP
KHI TÁI CẤU TRÚC DOANH NGHIỆP
1.1. Tổng quan về định giá doanh nghiệp.
Định giá doanh nghiệp (ĐGDN) hay còn gọi là "Xác định giá trị doanh
nghiệp" (XĐGTDN) là việc làm tất yếu trong công cuộc TCT nền kinh tế nói chung,
TCT doanh nghiệp (TCTDN) nói riêng để nhằm trợ giúp cho quá trình chuyển đổi cơ
cấu về vốn chủ sở hữu, giúp chuẩn bị cho việc phát hành cổ phiếu ra công chúng lần
đầu (IPO), giúp cải thiện tình hình hoạt động của công ty sau thời gian hoạt động
kém hiệu quả. Quá trình ĐGDN sẽ đánh giá một cách khách quan các điểm mạnh và
điểm yếu của doanh nghiệp (DN) giúp công ty đánh giá một cách khách quan hoặc
“mở khoá” các cơ hội (tiềm năng) và gia tăng giá trị cổ phiếu cho các cổ đông hiện
tại và tương lai.
1.1.1. Khái niệm về định giá doanh nghiệp.
1.1.1.1. Giá trị doanh nghiệp.
Giá trị doanh nghiệp (GTDN) là biểu hiện bằng tiền về các khoản thu nhập
mà doanh nghiệp mang lại cho nhà đầu tư trong quá trình kinh doanh. Để hiểu rõ
khái niệm về GTDN ở trên ta xét từ các khía cạnh sau:
Thứ nhất: DN là một tổ chức, một đơn vị kinh tế chứ không giống như những
“tài sản” thông thường. Nó là một thực thể hoạt động, thông qua sự hoạt động mà
người ta nhận dạng ra DN, DN không phải là một tập hợp các loại tài sản vào với
nhau. Khi thực hiện phá sản, DN không còn tồn tại với tư cách của một tổ chức kinh
doanh nữa. Khi đó, nó chỉ đơn giản là một sự hỗn hợp các loại tài sản đơn lẻ, rời rạc
mà người ta có thể thanh lý, phát mãi từng thứ riêng biệt như những hàng hóa thông
thường – nó không còn đầy đủ ý nghĩa của một DN. Do vậy, GTDN là một khái
niệm chỉ được dùng cho những DN đang còn hoạt động và sẵn sàng hoạt động.
Thứ hai: DN là một tổ chức, một đơn vị kinh doanh, nhưng đồng thời cũng là
một hàng hóa. Chúng có thể được trao đổi, mua bán như những hàng hóa thông
thường khác. Khái niệm “DN” cũng như khái niệm về “giá trị doanh nghiệp” là
những khái niệm thuộc phạm trù của kinh tế thị trường. Và vì vậy, quan niệm về giá
2
trị, cũng như các tiêu chuẩn để nhận biết giá trị như đã nêu ở phần trên, hoàn toàn có
thể sử dụng được để ĐGDN.
Thứ ba: DN là một tổ chức, một đơn vị, một hệ thống và đồng thời cũng là
một phần tử trong hệ thống lớn – nền kinh tế. Do đó, sự tồn tại của DN là ở mối quan
hệ của nó với các phần tử khác của hệ thống, tức mối quan hệ với các đơn vị, thể
nhân và pháp nhân kinh tế khác. Sự tồn tại của DN không chỉ được quyết định bởi
các mối quan hệ bên trong DN mà còn bởi mối quan hệ với các yếu tố bên ngoài,
như: Khách hàng, người cung cấp, người cho vay…
Sự phát triển của DN ở mức độ nào, là tùy thuộc vào mức độ bền chặt của các
mối quan hệ đó với môi trường xung quanh, DN có đạt được mục tiêu lợi nhuận của
mình hay không sẽ phụ thuộc có tính quyết định ở các mối quan hệ đó, chính vì vậy,
sự đánh giá về DN đòi hỏi phải xem xét tất cả các mối quan hệ nói trên. Tức là, đánh
giá về DN không chỉ đơn thuần bao gồm nội dung đánh giá về những tài sản trong
DN mà điều quan trọng hơn là phải đánh giá nó về mặt tổ chức.
Thứ tư: Các nhà đầu tư thành lập ra DN không nhằm vào việc sở hữu các tài
sản cố định (TSCĐ), tài sản lưu động (TSLĐ) hay sở hữu một bộ máy kinh doanh
năng động mà nhằm vào mục tiêu chủ yếu là tìm kiếm lợi nhuận, tìm kiếm thu nhập.
Tiêu chuẩn để họ đánh giá hiệu quả hoạt động – lợi ích của DN đối với các nhà đầu
tư ở các khoản thu nhập từ hoạt động SXKD. Vì vậy, tại các nước có nền kinh tế thị
trường phát triển, GTDN được xác định là các khoản thu nhập trong quá trình
SXKD, độ lớn của GTDN. Theo đó, được đo bằng lượng thu nhập mà DN có thể
mang lại cho các nhà đầu tư.
Trong nền kinh tế thị trường, cũng như các hàng hóa khác, sự hoạt động của
DN mang lại lợi ích cho nhà đầu tư. DN là một loại tài sản đặc biệt, lại như một cỗ
máy sinh lời và có thể hợp nhất, sáp nhập, mua bán, chia tách ……Khi thực hiện các
giao dịch này, giá cả và giá trị của loại hàng hóa DN cũng không nằm ngoài các quy
luật giá trị, cung cầu và cạnh tranh.
Theo từ điển của Oxford thì giá trị được định nghĩa là: : “Thước đo bằng hiện
vật hoặc tiền tệ của một vật mà tại đó mới có thể được trao đổ hoặc giao dịch”
(cid:190) Một số khái niệm về GTDN liên quan tới kế toán ĐGDN
Giá trị doanh nghiệp theo sổ kế toán: Là tổng giá trị tài sản thể hiện trong
3
Bảng cân đối kế toán của DN theo chuẩn mực kế toán hiện hành.
Giá trị thực tế của doanh nghiệp: (giá trị thị trường của DN) là tổng giá trị
thực tế của tài sản (hữu hình và vô hình) thuộc quyền sở hữu của DN tính theo giá thị
trường tại thời điểm xác định GTDN. Được xác định trên cơ sở kết quả kiểm kê,
phân loại và đánh giá xác định giá trị thực tế của toàn bộ tài sản của DN theo giá thị
trường tại thời điểm định giá.
Giá trị hợp lý: Theo IFRS 13, "giá trị hợp lý là giá có thể nhận được khi bán
tài sản hoặc phải trả khi chuyển giao một khoản công nợ trong một giao dịch bình
thường giữa các bên tham gia thị trường tại ngày xác định giá trị giao dịch." Bản chất
của GTHL là một phương pháp bổ sung cho giá gốc và tập trung vào việc định giá
sau ghi nhận ban đầu trên cơ sở giá thị trường và các thông tin có được từ thị trường.
Giá trị hợp lý còn được sử dụng cho đánh giá ban đầu của tài sản khi không có giá
gốc ở một số trường hợp cụ thể.
Giá trị hoạt động liên tục: Là giá trị của một DN, hay một lợi ích trong đó
được xem xét theo giả thiết DN hoạt động liên tục.
Giá trị phần vốn chủ sở hữu tại DN theo sổ kế toán: Là phần còn lại khi lấy
GTDN theo sổ kế toán trừ đi các khoản nợ phải trả, số dư quỹ phúc lợi, khen thưởng
và số dư nguồn kinh phí sự nghiệp (nếu có).
Giá trị thực tế phần vốn chủ sở hữu tại DN: Là phần còn lại khi lấy tổng giá
trị thực tế của DN trừ đi các khoản nợ thực tế phải trả và số dư nguồn kinh phí sự
nghiệp (Nếu có). Trong đó, nợ thực tế phải trả là tổng giá trị các khoản nợ phải trả
của DN trừ (-) các khoản nợ không phải thanh toán.
Giá trị của DN để TCT DN: Là giá cả của DN khi được chuyển, bán cho chủ
sở hữu khác, nó được xác định trên cơ sở giá trị thị trường và giữa giá trị xác định
của DN và giá bán trên thị trường có thể xảy ra các trường hợp sau:
- Giá trị của DN trên thị trường bằng với giá trị xác định. Điều này chứng tỏ DN
được người đầu tư chấp nhận về mọi mặt vì DN phản ánh được mức độ đáp ứng
của mình về mọi mặt trên thị trường. Đây là một trường hợp lý tưởng nhất đối
với một DN khi định giá (điều này lại khó xảy ra trong thực tế).
- Giá trị của DN trên thị trường lớn hơn giá trị xác định. Điều này chứng tỏ giá trị
vô hình của DN lớn, có nhiều triển vọng trong tương lai, khả năng sinh lời cao nên
4
được nhiều nhà đầu tư quan tâm.
Giá trị lợi thế thương mại (theo VAS 11-Lợi thế kinh doanh của DN): Là
những lợi ích kinh tế trong tương lai phát sinh từ các tài sản không xác định được và
không ghi nhận được một cách riêng biệt.
- Theo IFRS 3 giá trị về lợi thế thương mại (Goodwill) thu được hoặc giảm trừ
được yêu cầu ghi nhận kết quả lợi thế thương mại từ giao dịch Hợp nhất kinh
doanh như là tài sản của bên bị mua. Sau khi ghi nhận ban đầu, lợi thế thương
mại sẽ không được thực hiện vốn hóa đối với khoản lợi nhuận hoặc lỗ theo
phương pháp đường thẳng hoặc phương pháp cơ bản khác. Nó sẽ ghi nhận bằng
giá phí Hợp nhất kinh doanh trừ đi các khoản làm giảm lũy kế. Lợi thế thương
mại sẽ được kiểm tra theo như quy định của IAS 36 - sửa chữa tài sản. Mặc dù
ghi nhận một tài sản, nhưng lợi thế thương mại không nên được đánh giá lại.
Lợi thế thương mại âm được sử dụng để phản ánh phần vượt quá phần tài sản
thuần có thể xác định được trong giao dịch Hợp nhất kinh doanh (HNKD) thông qua
quá trình chuyển giao và lợi ích không kiểm soát của bên mua.
1.1.1.2. Định giá doanh nghiệp.
Định giá là "xác định giá trị bằng tiền tệ cho các đối tượng hoặc sự kiện liên quan đến DN"1. ĐGDN là quá trình xác định thước đo bằng tiền tệ của DN, thông
qua định giá, giá trị của các đối tượng kế toán của DN được biểu hiện dưới hình thái
tiền tệ, xác định được giá trị tài sản, nguồn vốn cũng như kết quả hoạt động kinh
doanh của DN. Đây là quá trình đánh giá nhằm đưa ra ý kiến về GTDN chứ không
phải là việc tính toán các công thức toán học thuần túy, xác định GTDN là công việc
chứa đựng nhiều ước tính chủ quan. Trên thực tế sẽ không thể có được một phương
pháp định giá duy nhất đúng và có thể áp dụng trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.
ĐGDN luôn đòi hỏi phương pháp luận lô-gic và việc vận dụng phù hợp, thận trọng
các nguyên lý định giá cơ bản và thông lệ chung.
Việc XĐGT và mua bán một DN khác với việc XĐGT và mua bán các hàng
hóa thông thường do trong số các yếu tố cấu thành giá trị và giá cả DN có nhiều yếu
tố khác với các yếu tố cấu thành giá trị và giá cả các hàng hóa thông thường. GTDN
bao gồm cả giá trị tài sản hữu hình và giá trị tài sản vô hình, cụ thể: Giá trị tài sản
1 Eldon S. Hendriksen, Accounting theory, xuất bản lần thứ tư, trang 75
5
hữu hình là giá trị những tài sản có hình thái vật chất do DN nắm giữ để sử dụng cho
hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với tính chất ghi nhận Bảng cân đối kế toán
(BCĐKT) của DN bao gồm giá trị thực tế của DN (toàn bộ tài sản của DN sử dụng
cho HĐKD). Là những yếu tố tạo ra lợi nhuận của DN. Nguồn gốc của giá trị tài sản
hữu hình là tài sản có tính vật chất của DN nên phần giá trị này có tính ổn định hơn
so với phần giá trị tài sản vô hình. Giá trị tài sản vô hình là giá trị các tài sản có tác
dụng làm tăng hiệu quả kinh tế trong hoạt động SXKD của DN, do đó làm gia tăng
giá trị của DN như trình độ tổ chức quản lý: Trình độ chuyên môn kỹ năng của người
lao động tại DN, vị trí địa lý, uy tín, thương hiệu và xu hướng phát triển của DN
trong tương lai…Thực tiễn đã chứng minh, giá trị vô hình của DN là một đại lượng
có thật, có thể xác định được, trong nhiều trường hợp nó có giá trị lớn, thậm chí lớn
hơn rất nhiều so với giá trị hữu hình của DN. Theo số liệu của Liên đoàn kế toán
quốc tế (IFAC), năm 1998 khoảng 50-90% giá trị của một công ty tạo ra (tùy thuộc
vào từng loại hình công ty) là nhờ vào việc quản trị các tài sản vô hình. Do vậy, các
tài sản hữu hình được tạo ra chiếm 10-50% giá trị của công ty. Hay như công ty
Microsoft tại thời điểm năm 1996 tổng giá trị của công ty là 86 tỷ USD, trong đó
toàn bộ giá trị những tài sản hữu hình (bao gồm bất động sản, máy móc, thiết bị…)
chỉ chiếm 1 tỷ USD, phần còn lại 85 tỷ USD là giá trị của những tài sản vô hình
(điển hình là bản quyền của phần mềm hệ điều hành Windows). Như vậy, đối với
công ty Micrsoft, toàn bộ giá trị của công ty phụ thuộc vào tên tuổi và sự tài giỏi
trong việc khai thác và quản trị các tài sản vô hình, hơn là số tài sản hữu hình. Sự
chênh lệch này sẽ tiếp tục tăng lên khi nền kinh tế tri thức ngày càng trở thành một
thực tế khách quan. Nếu trong những năm 70 của thế kỷ XX tương quan giữa giá trị
sổ sách (căn cứ vào Bảng cân đối tài sản) và giá trị thị trường (căn cứ vào giá cổ
phiếu) của một công ty là 1/1, thì hiện nay tương quan đó lại là 1/6. Do giá trị tài sản
vô hình chịu sự tác động trực tiếp của việc đánh giá trên thị trường nên giá trị tài sản
vô hình của DN biến động thường xuyên hơn so với giá trị tài sản hữu hình. Chính vì
thế thách thức đặt ra cho các DN là rất lớn nếu các DN không biết xây dựng một
chiến lược để phát triển và quản trị tài sản vô hình, xây dựng thương hiệu thì sẽ phải
đối mặt với rủi ro lớn trên thương trường. Điều này đã được thực tế của VN trong
thời gian gần đây chứng minh rõ nét qua việc xuất khẩu nông sản, thủy sản…
6
Đối với một DN khi XĐDN với bất cứ lý do nào đều được hiểu nếu tại thời
điểm đó đem ra bán trên thị trường là việc chuyển giao toàn bộ tài sản hiện có với
việc kế thừa các nguồn “nội lực” vốn có của DN, nên mục tiêu trọng tâm của
XĐGTDN là XĐGT tương lai của DN mà các bên có quyền lợi đối với DN đều quan
tâm (người bán, người mua DN, chủ nợ…). Do vậy, trong nền kinh tế thị trường,
việc mua bán DN giữa các nhà đầu tư với nhau được tuân thủ theo quan hệ thị
trường, là chịu sự chi phối của các quy luật trên thị trường (quy luật giá trị, quy luật
cung cầu, quy luật cạnh tranh…) TS của DN không chỉ được xem xét thuần túy dưới
dạng các khối hiện vật hoặc một DN cụ thể mà được giá trị hóa trong thị trường.
Để XĐGTDN, xét về mặt nguyên lý, chỉ có thể tồn tại 2 cách tiếp cận, đó là:
Trực tiếp đánh giá giá trị của các tài sản trong DN và đánh giá giá trị của yếu tố tổ
chức. Hoặc bằng một kỹ thuật nào đó để lượng hóa các khoản thu nhập mà DN có
thể mang lại cho nhà đầu tư và về lượng GTDN được đo lường trên hai phương diện:
Giá trị thị trường và giá trị kế toán. Vì vậy, một phương pháp XĐGTDN được gọi là
cơ bản và khoa học, trước hết nó phải thuộc vào một trong hai cách tiếp cận nói trên.
Như vậy: Định giá doanh nghiệp (ĐGDN) chính là gắn cho nó một giá trị mà
một nhà đầu tư nào đó mua toàn bộ về mặt lý thuyết. Là giá trị lý thuyết phản ánh
một giao dịch mua tiềm năng chứ không phải giá một giao dịch thực.
Theo giáo sư W.Seabroke và N.Walker,viện đại học Portsmouth, vương quốc
Anh:
“Định giá được hiểu là sự ước tính về giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ
thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định rõ”.[38]
Còn theo giáo sư Lim Lan Yuan, trường xây dựng và bất động sản, đại học
quốc gia Singapore thì: “Định giá được quan niệm là một nghệ thuật hay khoa học về
ước tính giá trị cho một mục đích cụ thể của một tài sản tại một thời điểm, có cân
nhắc đến tất cả các đặc điểm của tài sản và cũng như xem xét đến tất cả các yếu tố
kinh tế căn bản của thị trường bao gồm các loại đầu tư lựa chọn”.
Vậy với các quan điểm trên ta có thể hiểu ĐGDN theo hai cách như sau:
Thứ nhất, ĐGDN là sự ước tính về giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ
thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định rõ, đó là để đưa DN ra
mua bán, hoặc để đầu tư vào DN…
7
Thứ hai, ĐGDN là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị cho một
mục đích cụ thể của một DN tại một thời điểm đó là thời điểm định giá, mà có cân
nhắc đến tất cả các đặc điểm của DN và cũng như xem xét đến tất cả các yếu tố kinh
tế căn bản của thị trường.
Quá trình XĐGTDN là tính toán, xác định sự thay đổi về mặt giá trị của DN
tại một thời điểm nhất định. Thông thường đây cũng là quá trình ước tính các khoản
tiền mà người mua có thể trả để họ có được DN, và ngược lại là sự ước tính khoản
tiền thu được của người bán khi bán DN của mình.
XĐGTDN là một hoạt động khoa học có tính tổng hợp và khả năng dự đoán
cao, vì quá trình XĐGTDN không chỉ căn cứ vào các thông tin hiện có của DN mà
còn phải dựa vào các thông tin khác như: Chiến lược phát triển kinh doanh của DN,
cung cầu sản phẩm của DN trên thị trường, lợi thế kinh doanh (nếu có), trị giá các tài
sản tương đương với tài sản của DN, nhu cầu mua sắm, bán loại hình DN đang định
giá... Do đó, XĐGTDN là một quá trình phức tạp, có tính nghệ thuật và chuyên môn
cao. Chính vì vậy đòi hỏi các chuyên gia XĐGTDN phải nắm chắc đươc kỹ thuật
định giá, hiểu biết và tinh thông về thị trường và ngành nghề đặc biệt là khả năng dự
đoán nghiệp vụ giỏi.
Ngoài ra còn là cơ sở cho việc quyết định về quản trị kinh doanh, đưa ra các
quyết định về đầu tư, tài trợ, quản lý kinh tế vĩ mô. Vì vậy, ĐGDN đem lại rất nhiều
lợi ích cho các chủ thể như: Qui trình “Xác định giá trị doanh nghiệp” thể hiện khả
năng tổng hợp, đánh giá, phân tích và khớp lại các dữ liệu quá quá khứ và triển vọng
phát triển trong tương lai của DN trong một bản báo cáo chính xác và toàn diện và
được thể hiện bằng việc xác định các điểm mạnh, điểm yếu và các giá trị cốt lõi của
công ty. ĐGDN trở thành một công cụ hữu hiệu giúp công ty hiện thực hoá được cơ
hội và gia tăng giá trị cho các cổ đông hoặc nhà đầu tư tương lai. Trong các trường
hợp cần thiết, sẽ vạch ra các kế hoạch và các kiến nghị chuẩn bị cho các hoạt động
tiền và hậu của Bản cáo bạch (IPO) tại thời điểm XĐGTDN.
Qua kết quả của ĐGDN sẽ chỉ ra những thay đổi cần thiết về hệ thống tài
chính, cơ cấu thành phần cổ đông hoặc cấu trúc DN bởi qui trình này sẽ tạo ra một
diễn đàn mở để công ty có thể thảo luận một cách sâu rộng và xem xét xem những cơ
cấu này có đồng nhất và có lợi cho tương lai của công ty hay không? Ngoài ra sẽ hỗ
8
trợ Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc đưa ra những quyết định khó khăn như các
hoạt động bán hàng hoặc loại bỏ các hoạt động làm ăn không có lãi hoặc không
mang tính mấu chốt, để tập trung vào những hoạt động mang lại giá trị cao và đưa ra
những phân tích về hệ thống quản trị và điều hành công ty, đồng thời cung cấp
những đánh giá về năng lực đối với một số các vị trí nhân lực chủ chốt.
Một dự án “Xác định giá trị doanh nghiệp” toàn diện và thành công sẽ đem lại
những hiệu quả tích cực do đội ngũ chuyên gia tư vấn sẽ phát hiện ra những khu vực
làm ăn hiệu quả của công ty, từ đó sẽ đưa ra được những giải pháp phát huy tối đa
hiệu quả điểm mạnh đó để gia tăng giá trị cho các cổ đông và chủ DN.
ĐGDN là quá trình XĐGT thực tế của một DN tại một thời điểm nhất định
trên cơ sở thị trường nhằm tạo lập cơ sở để các bên tham gia giao dịch mua bán DN.
Đồng thời XĐGTDN là một hoạt động không thể thiếu được trong nền kinh tế thị
trường. Đặc biệt trong quá trình đổi mới và sắp xếp lại DNNN ở Việt Nam, ĐGDN
là cơ sở để kế toán căn cứ ghi nhận, xử lý kế toán hoàn thiện quá trình TCTDN.
Có thể nói rằng, những khái niệm và quan niệm trên đây về GTDN và ĐGDN
là một quan niệm hết sức cơ bản. Nó được coi là phương châm chi phối, xuyên suốt
các phương pháp XĐGTDN sau này, là nền tảng cơ sở lý luận đối với tất cả các
phương pháp ĐGDN trong nền kinh tế thị trường và là tiền đề cho kế toán ĐGDN.
Dưới góc độ của đề tài, tác giả muốn nhấn mạnh việc ĐGDN là tiền đề cho mục đích
TCT các DN.
1.1.2. Một số phương pháp định giá doanh nghiệp.
Để tiến hành ĐGDN, các DN và tổ chức định giá cần phải sử dụng phương
pháp ĐGDN phù hợp với mô hình kinh doanh của DN, việc lựa chọn phương pháp
định giá có ảnh hưởng trực tiếp tới GTDN. Trong thực tế hiện nay trên thế giới có rất
nhiều phương pháp ĐGDN được áp dụng phổ biến trên thế giới và cũng có thể phù
hợp với thực tiễn TCT DNNN ở VN, việc xác định giá trị dựa trên 3 phương pháp,
các phương pháp được tổng hợp và nhóm lại thành 3 nhóm phương pháp chính như:
- Phương pháp tài sản; Phương pháp thu nhập; Phương pháp thị trường;
Trong 3 phương pháp trên thì phương pháp mà các DN sử dụng rộng rãi đó là
“Phương pháp thu nhập”. Phương pháp tài sản thường được sử dụng nhằm đánh giá
giá trị thay thế tài sản của DN còn phương pháp giá thị trường còn được gọi là
9
phương pháp định giá so sánh. Phương pháp này đánh giá giá trị của DN so với các
DN khác hoạt động trong cùng lĩnh vực hoặc nghành nghề kinh doanh.
1.1.2.1. Phương pháp tài sản
Theo phương pháp này thì giá trị của một DN bằng tổng các giá trị của từng
loại tài sản riêng biệt trừ đi các khoản nợ phải trả của DN đó trên cơ sở xác định giá
trị của từng tài sản riêng biệt. Giá trị của một tài sản được xác định trên cơ sở xem
xét các chi phí phải bỏ ra để có được một tài sản thay thế tương đương về năng lực
sản xuất (Dòng tiền phải chi để mua, sản xuất tài sản). Phương pháp chi phí thường
không xem xét điều kiện thị trường nên thường không được sử dụng trong thực tế,
ngoại trừ để xác định GTHL của một phần máy móc thiết bị hoặc giá trị các công
trình xây dựng cơ bản.
Căn cứ để xác định GTDN là các chứng từ, sổ sách kế toán; BCTC của DN
những năm gần nhất; báo cáo kiểm kê tài sản, vật tư hàng hóa, tiền vốn và biên bản
đối chiếu công nợ…
1.1.2.2. Phương pháp thu nhập
Phương pháp thu nhập sử dụng nguyên tắc hoạt động liên tục và đánh giá mức
độ thu hồi vốn đầu tư cùng với các rủi ro đầu tư liên quan. Phương pháp thu nhập
bao gồm các phương pháp dùng lợi tức tương lai làm cơ sở định giá GTDN. Giá trị,
GTHL của một tài sản hay một khoản nợ được xác định bằng cách sử dụng các
phương pháp kỹ thuật để quy đổi các khoản tiền trong tương lai về giá trị hiện tại
(Dòng tiền vào từ việc khai thác, sử dụng tài sản hoặc dòng tiền ra để thanh toán nợ
phải trả). Phương pháp này dựa trên tiền đề rằng một người tham gia thị trường sẵn
sàng trả giá trị hiện tại của các lợi ích sẽ thu được của một tài sản trong tương lai.
Phương pháp thu nhập được sử dụng phổ biến trên thế giới cụ thể như
- Phương pháp dòng tiền chiết khấu (Discounted Cash Flow Method – Viết
tắt là phương pháp “DCF”)
Đầu tư vào một DN thì nhà đầu tư phải cân nhắc, xem xét và đánh giá hiệu quả
hoạt động của DN và dự án đầu tư. Nhà đầu tư phải xem xét, cân nhắc lượng vốn đầu
tư phải bỏ ra, thời điểm đầu tư và độ lớn của các khoản thu nhập có thể đạt được
trong tương lai từ các khoản đầu tư đó. Trên quan điểm thời giá của tiền tệ và đầu tư
là hoạt động bỏ vốn với số lượng lớn, trong một khoảng thời gian dài, nên yếu tố mà
10
người ta không thể bỏ qua là thời điểm phát sinh các dòng tiền đó. Vì thế, giá trị hiện
tại của dòng tiền thuần mà việc đầu tư vào DN cả ở thời điểm hiện tại và tương lai
đem lại cho nhà đầu tư, được coi là tiêu chuẩn thích hợp để XĐGT DN. DCF là
phương pháp mà GTDN được xác định bằng cách hiện tại hóa các luồng tiền thuần
DN dự kiến thu được trong tương lai theo một tỷ lệ chiết khấu tương ứng với mức độ
rủi ro của DN. Trong đó;
- Dòng tiền vào là các khoản thu nhập mà DN có thể mang lại dưới hình thức
như: Thu hồi vốn đầu tư (khấu hao) TSCĐ, lợi nhuận thuần hàng năm và các
khoản tiền khác DN thu được.
Dòng tiền ra là các khoản chỉ đầu tư vào DN, bao gồm các khoản vốn đầu tư
và TSCĐ và TSLĐ thường xuyên cho DN.
- Phương pháp vốn hóa dòng tiền (Capitalization of Cash Flow Method)
Cũng giống như phương pháp chiết khấu dòng tiền, phương pháp vốn hóa
dòng tiền XĐGTDN thông qua việc xác định các dòng tiền mà DN có thể mang lại
cho CSH trong suốt thời gian tồn tại của DN có tính đến thời giá của tiền tệ, chi phí
cơ hội và các rủi ro liên quan.
- Phương pháp chiết khấu thu nhập tương lai (Discounted Future Income
Method)
Trong quá trình SXKD, doanh thu của DN được sử dụng để bù đắp các khoản
chi phí đã phát sinh, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước, phần còn lại là lợi
nhuận thuần (còn gọi là lợi nhuận ròng) thuộc về CSH DN. Giá trị của một DN, theo
đó sẽ được đo bằng độ lớn của các khoản lợi nhuận thuần mà DN có thể mang lại
cho chủ sở hữu trong suốt thời gian tồn tại của DN. Song, trên quan điểm về thời giá
của tiền tệ, về chi phí cơ hội, tức là: giá trị của một dòng tiền ở các thời điểm khác
nhau sẽ không giống nhau, cho nên người ta thực hiện quy đổi các khoản thu nhập về
cùng một thời điểm, đó là thời điểm hiện tại.
- Phương pháp vốn hóa thu nhập (Capitalization of Income Method)
Cũng như phương pháp chiết khấu thu nhập tương lai, phương pháp vốn hóa
thu nhập tương lai XĐGTDN thông qua độ lớn của các khoản lợi nhuận thuần mà
DN có thể mang lại cho chủ sở hữu trong suốt thời gian tồn tại của DN có tính đến
thời giá của tiền tệ, chi phí cơ hội và các rủi ro liên quan.
11
- Phương pháp định lượng Goodwill (lợi thế thương mại-GW).
Cũng giống như phương pháp chiết khấu thu nhập tương lai tuy nhiên phương
pháp này có sử dụng đến giá trị tài sản thuần của DN, lợi nhuận thuần các năm thu
được dự kiến trong tương lai và tỷ suất lợi nhuận trung bình của tài sản đưa vào sản
xuất kinh doanh và giá trị tài sản năm mà DN đưa vào sản xuất kinh doanh.
1.1.2.3. Phương pháp giá trị thị trường.
Phương pháp này còn còn được gọi là phương pháp Định giá so sánh. Cơ sở
cả phương pháp này là XĐGT của DN thông qua việc giá trị của DN tương đương
hoặc DN “có thể so sánh”. Giá trị này thường là mức giá mà DN “có thể so sánh”
được bán tại các giao dịch trong thời điểm hiện tại trên cơ sở giá cả thị trường quan
sát được và các thông tin về các giao dịch thực tế trên thị trường sẽ được sử dụng để
ước tính GTHL của một tài sản, một khoản nợ phải trả. Phương pháp này được dựa
trên tiền đề rằng một người tham gia thị trường sẽ không trả nhiều hơn chi phí để
mua một tài sản tương tự.
Trong các trường hợp này, các nhà định giá dùng mức giá trị thị trường của
các chứng khoán đang được giao dịch để XĐGT thị trường của DN tương đương so
với DN đang được định giá. Tất nhiên, không thể so sánh một cách tuyệt đối giá trị
của các DN này với nhau, đặc biệt là giá trị của các DN niêm yết với nhau, cũng vẫn
tồn tại những khác biệt. Các khác biệt này có thể là giá trị tài sản, quy mô hoạt động,
doanh thu, xu hướng thu nhập, sản phẩm và kết cấu sản phẩm, nguồn tài chính, địa
điểm, cổ tức, số lượng lao động, cán bộ chủ chốt, cơ cấu ban giám đốc, uy tín DN,
các hoạt động đầu tư, tỷ trọng vốn CSH. v.v…
Giá cả thị trường quan sát được và các thông tin về các giao dịch thực tế trên
thị trường sẽ được sử dụng để ước tính GTHL của một tài sản, một khoản nợ phải
trả. Phương pháp này được dựa trên tiền đề rằng một người tham gia thị trường sẽ
không trả nhiều hơn chi phí để mua một tài sản tương tự.
1.2. Tổng quan về tái cấu trúc doanh nghiệp.
Như đã đề cập ở phần 1.1 một trong những mục đích của việc ĐGDN chính là
làm lành mạnh hóa những DN yếu kém, thay đổi cơ cấu vốn CHH...quá trình thực
hiện cơ cấu lại DN chính là việc tái cấu trúc doanh nghiệp (TCTDN) sao cho làm ăn
có hiệu quả hơn.
12
1.2.1. Khái niệm tái cấu trúc doanh nghiệp.
Trong thời điểm thị trường khủng hoảng và biến động như hiện nay việc các
DN phải có những biện pháp bảo toàn tài sản, nguồn vốn để đứng vững và vượt qua
sóng gió là việc làm thực sự cần thiết cho bất cứ DN nào. Việc thực hiện tái cơ cấu
thường được cho là giải pháp quan trọng trong các trường hợp DN phải đối mặt với
khó khăn có thể đe dọa tới sự tồn tại của DN, đặc biệt trường hợp này thường được
đề cập đến khi khủng hoảng kinh tế trên diện rộng. Vậy thế nào là tái cấu trúc DN?
Khái niệm này được các học giả Michael Hammer và JamesA. Champy đưa ra
lần đầu và phát triển trong cuốn sách Reengineering the Corporation, Reengineering
Management. "Tái cấu trúc (Reengineering) là việc xem xét và cấu trúc lại một phần,
một số phần hay toàn bộ một tổ chức, một đơn vị nào đó, mà thường là một công ty.
Ngoài việc tổ chức cho một công ty về các mảng chức năng (như là sản xuất, kế toán,
tiếp thị, v.v...) và xem xét các nhiệm vụ mà mỗi chức năng thực hiện, theo lý thuyết
tái cơ cấu, chúng ta còn phải chú ý tới các quy trình hoàn thiện từ khâu tìm kiếm các
nguyên liệu, cho tới các khâu sản xuất, tiếp thị và phân phối. Công ty cần được tái cơ
cấu qua một loạt các quy trình"(theo http://vi.wikipedia.org)
Theo ông Nguyễn Đình Nhơn, Chủ Tịch Công Ty Vinabull phát biểu: "Tái
cấu trúc DN là gì? Về bản chất đó chính là việc tiến hành thay đổi DN một phần hay
toàn diện, tự làm mới mình cho phù hợp với tình hình hiện tại để nâng cao năng suất
kinh doanh, nâng cao tính cạnh tranh để tồn tại và phát triển." [65]
Tác giả đồng nhất quan điểm với PGS.TS Vũ Công Ty trình bày trong đề tài
NCKH cấp học viện tại Học viện Tài chính cho rằng: "Tái cấu trúc công ty
(corporate restructuring) là một thuật ngữ quản trị DN để chỉ hành động tổ chức lại
về mặt pháp lý, quyền sở hữu, hoạt động kinh doanh, cơ cấu tài chính, nhân sự hoặc
những cơ cấu khác của công ty nhằm xây dựng một cấu trúc phù hợp hơn với nhu
cầu thực tiễn, gia tăng năng lực cạnh tranh và cải thiện khả năng sinh lời một cách
bền vững" [84] (trang 4)
Theo cách hiểu thông thường thì tái cơ cấu chính là việc sắp xếp lại cơ cấu tổ
chức của DN, bằng cách xây dựng lại sơ đồ cơ cấu tổ chức, thay đổi các phòng ban
chức năng với những tên gọi mới. Có thể đây chỉ là một phần của vấn đề, và nó chỉ
phù hợp với những DN hoạt động tương đối ổn định và đang gặp khó khăn về vấn đề
13
tổ chức không hợp lý. Nếu hiểu rộng hơn, tái cơ cấu còn quan tâm đến tính hệ thống
và chuyên nghiệp trong phương thức thực hiện công việc, phối hợp công việc và điều
hành công việc. Trong điều kiện hội nhập hiện nay, thì việc tái cơ cấu đòi hỏi các
DN phải thay đổi tư duy quản lý, cải cách công tác quản lý, tái cơ cấu vốn, TCT lại
các quá trình kinh doanh, trên cơ sở đó định hình mô hình và cơ cấu tổ chức phù hợp
với điều kiện và định hướng kinh doanh của DN.
1.2.2. Phân loại tái cấu trúc doanh nghiệp.
Tái cấu trúc doanh nghiệp gồm nhiều hoạt động đa dạng. Tuy nhiên, nếu phân
theo nội dung có thể chi thành ba hướng TCT cơ bản là Tái cấu trúc tài chính
(financial restructuring), Tái cấu trúc hoạt động (operating restructuring) và Tái cấu
trúc chiến lược (strategic restructuring):
- Tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp: Là các biện pháp đẩy lùi tình trạng
mất khả năng thanh toán đang đe dọa DN và đảm bảo khả năng tồn tại của DN. Với
mục tiêu TCT tài chính trung và dài hạn nhằm thiết lập lại cấu trúc vốn vững chắc,
lành mạnh cho DN và được thực hiện bằng tái vốn hóa năng động, nhằm cung cấp đủ
vốn cổ phần và dòng tiền tài trợ cho sự tăng trưởng trong tương lai. Tái cấu trúc tài
chính là điều kiện tiên quyết cho quá trình tái cấu trúc bền vững.
- Tái cấu trúc hoạt động doanh nghiệp: Nhằm cải thiện tình hình lợi nhuận
và khả năng thanh toán theo chuỗi giá trị đã được xác định với trọng tâm đảm bảo
khả năng tồn tại trong ngắn hạn của DN một cách nhanh chóng nhằm gia tăng lượng
tiền mặt và cải thiện kết quả kinh doanh.
- Tái cấu trúc chiến lược doanh nghiệp: Là việc tái tổ chức các cấu trúc và
quy trình phù hợp của các bộ phận trong DN. Cho mục đích trung và dài hạn, một
công ty bị ảnh hưởng của khủng hoảng chỉ có thể lấy lại khả năng cạnh tranh nếu giải
quyết được các vấn đề nội tại, ngoại trừ những quá trình và bộ phận kinh doanh kém
hiệu quả, xác định vị thế của DN trên thị trường cạnh tranh.
Với ba hướng TCT chính như đã nêu thì TCT hoạt động và chiến lược của các
DN là hoạt động thực hiện trong nội tại DN chính vì vậy GTDN không làm ảnh
hưởng tới chất lượng của công việc. Nhưng đối với hoạt động TCT về tài chính về
lâu dài sẽ ảnh hưởng và thay đổi nhiều bởi GTDN và công tác kế toán định giá DN
tại thời điểm TCT. Như vậy, kế toán định giá DN nhằm phục vụ cho việc thực hiện
14
Tái cấu trúc tài chính DN.
1.2.3. Phương thức thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp.
DN là mối quan tâm của ba loại chủ thể: Nhà nước, nhà đầu tư và nhà quản trị
DN, TCT DN thường thực hiện theo các phương thức sau:
- Cổ phần hóa DN
- Sáp nhập, hợp nhất DN.
- Giải thể, phá sản DN. (không đề cập sâu trong nghiên cứu)
- ....
Ngoài ra còn có thể sử dụng phương thức chia tách DN, mua bán nợ, thoái
vốn nhằm vực dậy những DN yếu kém... Nhưng với phạm vi của luận án tác giả chỉ
tập trung đi sâu vào kế toán ĐGDN khi CPH và sáp nhập, hợp nhất DN.
1.2.2.1. Cổ phần hóa doanh nghiệp.
Cổ phần hóa là cách gọi tắt của việc chuyển đổi các DNNN thành công ty cổ
phần. Cổ phần hoá DNNN là việc chuyển DNNN thành công ty Cổ phần, tức là
chuyển đổi loại hình DN chỉ có một chủ sở hữu là Nhà nước thành loại hình DN có
nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động và tư nhân tham gia.
Cổ phần hoá là kết quả gián tiếp của quá trình cạnh tranh trong nền kinh tế thị
trường hỗn hợp Nhà nước – Tư nhân, là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất lớn. sự ra
đời trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa nhưng không phải là phạm trù kinh tế riêng
của chủ nghĩa Tư bản. Đã có thời kỳ, giai cấp thống trị một số nước Tư bản sử dụng
cổ phần hóa (CPH) làm công cụ để điều hoà cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân
bằng biện pháp “củ cà rốt”, “sở hữu hoá công nhân trong công ty, xí nghiệp tư bản
chủ nghĩa” nhằm ngăn ngừa, hạn chế đình công, bãi công của công nhân. Lịch sử đã
chứng minh CPH không phải là sản phẩm riêng của kinh tế tư bản mà là con đẻ của
kinh tế thị trường và đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng, đem lại nhiều thành
công trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế có nhiều thành phần sở hữu.
Hiện nay, so với các loại hình DN khác DN là Công ty cổ phần có nhiều lợi
thế hơn hẳn. Lợi thế đó xuất phát từ những lợi ích và đặc điểm pháp lí mà pháp luật
quy định. Trong mô hình Công ty cổ phần, các cổ đông chịu TNHH trong phần vốn
góp, việc chuyển nhượng các phần vốn góp được thực hiện một cách tự do thông qua
việc bán cổ phần của các cổ đông. Ngoài ra, Công ty cổ phần là loại hình có cấu trúc
15
vốn và tài chính linh hoạt, cơ chế quản lý tập trung cao do có sự tách biệt vai trò chủ
sở hữu với chức năng quản lý.
Nhiệm vụ của Kế toán ĐGDN chính là giúp DN XĐGTDN theo giá trị thị
trường tại thời điểm CPH thể hiện trong việc thu thập chứng từ, điều chỉnh các bút
toán xử lý tài chính lập BCTC sau khi định giá. Từ đó xác định được giá trị vốn của
Nhà nước trong DN khi chuyển đổi hình thức sở hữu. Đây chính là cơ sở giá trị ban
đầu để DN có một bước chuyển quan trọng trong quá trình phát triển, hội nhập với
nền kinh tế trong và ngoài nước.
Hình thức thực hiện cổ phần hóa: Để chuyển đổi hình thức sở hữu DN theo
phương thức CPH trên thị trường có rất nhiều hình thức chuyển đổi khác nhau, tuy
nhiên thực tế các đơn vị thường áp dụng với mục đích:
(1). Giữ nguyên vốn hiện có tại DN, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn.
(2). Bán một phần vốn hiện có tại DN.
(3). Bán toàn bộ vốn hiện có tại DN.
(4). Thực hiện các hình thức 2 hoặc 3 kết hợp với phát hành cổ phiếu thu hút
thêm vốn.
1.2.2.2. Sáp nhập và hợp nhất doanh nghiêp:
Sáp nhập doanh nghiệp là một phần tất yếu của bất cứ nền kinh tế lành mạnh
nào và là một công cụ hiệu quả để tái cơ cấu DN. Quan trọng hơn, đó là cách thức
chủ yếu để các DN cơ cấu lại, mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh, nâng cao
khả năng cạnh tranh của mình và đem lại thu nhập cho chủ sở hữu và các nhà đầu tư.
Nguyên tắc là tạo ra giá trị cho cổ đông bao trùm và lớn hơn tổng giá trị hiện tại của
hai DN khi hai DN tồn tại riêng rẽ.
Thuật ngữ “Sáp nhập doanh nghiệp” (SNDN) xuất hiện trong khá nhiều tài
liệu trong nước và quốc tế. Trong lý luận kinh tế chính trị, C.Mác đưa ra một khái
niệm rộng hơn có liên hệ với sáp nhập trong kinh tế, đó là tập trung tư bản. Tập trung
tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt có sẵn trong xã hội thành một tư
bản cá biệt khác lớn hơn. Cạnh tranh và tín dụng là những đòn bẩy mạnh nhất thúc
đẩy tập trung tư bản. Do cạnh tranh mà dẫn tới sự liên kết tự nguyện hay sáp nhập
của các tư bản cá biệt... Như vậy, sáp nhập là một dạng của tập trung tư bản.
16
Sáp nhập diễn ra khi một DN nhập vào một DN khác và chấm dứt sự tồn tại
của mình, trên thực tế về mặt pháp lý có một bên bị sở hữu và một bên được sở hữu.
Nhìn rộng ra, hợp nhất doanh nghiệp (HNDN) là một dạng đặc biệt của của sáp
nhập. Hiện nay trên thế giới, người ta thường nhắc đến thuật ngữ M&A (sáp nhập và
mua bán DN). Mặc dù chúng thường được đề cập cùng nhau nhưng vẫn có sự khác
biệt về bản chất, mua bán DN là một quá trình trong đó cổ phiếu hoặc tài sản của một
bên sẽ được chuyển giao và thuộc sở hữu của bên mua thực hiện thông qua đấu thầu
rộng rãi để mua trực tiếp cổ phiếu từ các cổ đông của bên bán. Điểm khác biệt giữa
sáp nhập và mua bán DN là: Mua bán DN là một thuật ngữ chung để mô tả cách thức
chuyển quyền sở hữu. Sáp nhập lại là một thuật ngữ có nghĩa hẹp hơn, một thuật ngữ
kỹ thuật để mô tả một quy trình pháp lý đặc biệt có thể hoặc không tiếp diễn thông
qua mua bán DN. Ngoài ra, có một dạng sáp nhập rút gọn, nghĩa là việc chuyển
nhượng hầu hết hoặc toàn bộ cổ phiếu của một bên sang bên mua có thể được thực
hiện mà không cần biểu quyết cổ đông. Trừ dạng sáp nhập rút gọn kể trên, tất cả các
dạng sáp nhập đều yêu cầu phải có biểu quyết nhất trí của cổ đông hai bên; tuy nhiên
việc bán hầu hết hoặc toàn bộ tài sản của bên bán thì chỉ yêu cầu biểu quyết nhất trí
của bên bán đó mà không nhất thiết cần biểu quyết của cổ đông bên mua.
Từ những phân tích trên đây có thể rút ra được khái niệm của SNDN như sau:
SNDN theo nghĩa hẹp là giao dịch trong đó một hoặc một số DN từ bỏ pháp nhân
của mình để gia nhập vào một DN khác. DN nhận sáp nhập sẽ tiếp nhận toàn bộ tài
sản, quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của DN bị sáp nhập. Sau khi việc sáp nhập
hoàn thành DN bị sáp nhập sẽ chấm dứt sự tồn tại của mình. Sáp nhập theo nghĩa
rộng bao gồm cả việc hai hoặc nhiều DN chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và
lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một DN mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại
của các DN trước sáp nhập (sáp nhập theo nghĩa rộng bao gồm cả hợp nhất)
Như vậy, tái cấu trúc doanh nghiệp (TCTDN) mà cụ thể là việc CPH, sáp
nhập, hợp nhất...DN là việc chuyển đổi hình thức sở hữu DN bằng việc cơ cấu lại
DN cho phù hợp với quy mô cũng như sự phát triển của DN. Sau khi được cấp đăng
ký kinh doanh, DN bị chuyển đổi chấm dứt tồn tại, DN chuyển đổi, (DN mới) được
hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh
toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị chuyển đổi.
17
1.3. Kế toán định giá doanh nghiệp khi tái cấu trúc doanh nghiệp.
Kế toán được hình thành từ những quan sát, đo lường của con người đối với
kết quả lao động của họ. Sản xuất xã hội phát triển kéo theo sự phát triển của kế toán,
trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, kế toán được phát triển thành một khoa học.
Hiện nay, chưa có một khái niệm cơ bản cho Kế toán ĐGDN. Nhưng nếu
nghiên cứu từ góc độ của khái niệm về kế toán nguồn gốc của kế toán theo tác giả
thì: Kế toán ĐGDN khi tiến hành TCTDN có thể hiểu là việc thu thập, xử lý, kiểm
tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật
và thời gian lao động của DN khi chuyển đổi cơ cấu sở hữu tại thời điểm trước,
trong và sau khi ĐGTDN.
1.3.1. Các nhân tố ảnh hưởng tới kế toán ĐGDN khi TCTDN.
Qua sự phân tích về định nghĩa GTDN ở trên cho chúng ta có cách nhìn về
mặt định tính của GTDN. Tuy nhiên, nội dung cơ bản của vấn đề là ở mặt định
lượng, cũng như mọi phương pháp định lượng các yếu tố kinh tế khác, để ĐGDN
người ta phải bắt đầu từ chỗ xác định các yếu tố tác động đến nó để từ đó có thể thực
hiện công tác Kế toán ĐGDN. Chất lượng của việc TCT các DN có đạt kết quả tốt,
đúng thời gian phần nào phụ thuộc nhiều vào công tác kế toán ĐGDN. Tức là phụ
thuộc vào tất cả các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến chất lượng công việc.
1.3.1.1. Các nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh
Có thể khẳng đinh rằng: GTDN và kế toán ĐGDN chỉ được đánh giá và thực
hiện trong một môi trường kinh doanh nhất định. Các yếu tố này tồn tại một cách
khách quan và thông thường nằm ngoài tầm kiểm soát của DN. Để tồn tại và phát
triển, DN phải thích nghi được với môi trường. Môi trường kinh doanh được chia
làm hai loại: môi trường KD tổng quát và môi trường kinh doanh đặc thù.
(cid:190) Môi trường kinh doanh tổng quát.
Thuộc về môi trường kinh doanh tổng quát có: Môi trường kinh tế, môi
trường chính trị-pháp luật, môi trường văn hóa-xã hội, môi trường tự nhiên, môi
trường kỹ thuật và môi trường dân số…. Đây là những yếu tố làm ảnh hưởng tới
công việc kế toán ĐGDN.
Môi trường kinh tế: Trong môi trường này DN luôn luôn tồn tại và được thể
hiện qua hàng loạt các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số
18
giá cả, lạm phát, lãi suất, tỷ giá ngoại hối, tỷ suất đầu tư, các chỉ số trên thị trường
chứng khoán v.v…Tuy môi trường kinh tế tồn tại một cách khách quan ngoài tầm
kiểm soát của DN và GTDN nhưng những chỉ tiêu của nó lại có tác động trực tiếp tới
hoạt động của DN và GTDN khi xử lý, đánh giá ghi nhận các chỉ tiêu tiền, nợ phải
thu, phải trả...Mặt khác, khi nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, các chỉ số giá cả,
lạm phát, ngoại hối ổn định, chỉ số chứng khoán tăng trưởng ổn định, vững chắc, các
DN sẽ có cơ hội tốt để đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt
động và giá trị của mình và ngược lại, kết quả KTĐG cũng ảnh hưởng tương ứng
theo giá trị này.
Môi trường chính trị - luật pháp:
Sản xuất kinh doanh chỉ có thể ổn định và phát triển trong một môi trường có
sự ổn định về chính trị ở một mức độ nhất định. Và hơn thế nữa, quan điểm của
Chính phủ trong xu thế chính trị mới với những quy định chính sách tác động trực
tiếp gián tiếp tới những vận hội và khả năng cho sự phát triển của SXKD của DN ở
thị trường trong nước cũng như quốc tế.
Luật pháp là khung hành lang cho việc thực hiện trong một khuôn khổ nhất
định, theo mục đích của người xây dựng luật (gắn với hệ thống chính trị của quốc gia
đó), sự thay đổi của luật pháp gắn tới công việc nào cũng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến
kết quả thực hiện của công việc đó. Trong công tác kế toán cũng vậy, những quy
định trực tiếp, gián tiếp của luật pháp sẽ làm ảnh hưởng tới môi trường đầu tư của
các DN nói chung, tới GTDN nói riêng. Cụ thể những quy định của Chính phủ, của
ngành cũng là những yếu tố ảnh hưởng và làm tác động trực tiếp tới công tác
KTĐGDN vì khi có sự thay đổi về những quy định của Chính phủ liên quan về
những vấn đề tài chính, về TCTDN làm ảnh hưởng nhiều tới kết quả của KTĐGDN.
Môi trường văn hóa – Xã hội:
Môi trường này đại diện cho các giá trị về văn hóa, hệ tư tưởng, dân trí cũng
như mức sống của cộng đồng dân cư. Trên phương diện xã hội, DN ra đời là để đáp
ứng những đòi hỏi ngày càng cao trong đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng.
Văn hóa - xã hội phát triển khiến đời sống con dân sinh cũng phát triển, DN phát
triển hơn trong kinh doanh GTDN cũng vì thế cũng được đánh giá cao hơn. Cách
ứng xử đẹp, ý thức tốt của mỗi cá nhân trong DN trong một xã hội văn minh có trách
19
nhiệm cũng là những tài sản vô giá cũng môi trường văn hóa DN. Vì vậy khi
ĐGDN, không thể bỏ qua các yếu tố của môi trường văn hóa – xã hội.
Môi trường văn hóa - xã hội lành mạnh kéo theo ý thức của con người đối với
công việc, ý thức tốt thì việc thực hiện công tác kế toán tại DN cũng đem lại hiệu quả
và chất lượng hơn trong bảo quản tài sản, ghi nhận và lưu trữ sổ sách, chứng từ...tổ
chức công tác kế toán cũng sẽ khoa học hơn, chất lượng công tác kế toán cũng vì thế
đảm bảo hơn. Kết quả công việc của những con người có ý thức sẽ là những tài liệu
quan trọng trong việc cung cấp thông tin và sử dụng thông tin đó vào việc thực hiện
công tác kế toán ĐGDN. Vì công việc kế toán thời điểm định giá rất phức tạp, nhiều
phát sinh nên một môi trường văn hóa-xã hội không lành mạnh ý thức của người
thực hiện không tốt dẫn tới chất lượng tổng hợp của KTĐG sẽ không thể đảm bảo.
Môi trường kỹ thuật – công nghệ:
Sự tiến bộ của kỹ thuật – công nghệ làm thay đổi cơ bản các điều kiện về quy
trình và phương thức tổ chức công tác kế toán trong các DN. Cùng với sự phát triển
vũ bão của kỹ thuật – công nghệ, cũng như trên đã phân tích vì khối lượng công việc
nhiều và rất phức tạp nếu chỉ dùng sức lao động của con người thì công việc kế toán
sẽ chậm trễ và không chính xác. Nếu công tác kế toán được thực hiện bằng các phần
mềm kế toán hiện đại sẽ giúp giảm tải công tác kế toán chất lượng của kế toán định
giá cũng sẽ đạt kết quả tốt hơn, đảm bảo và rút ngắn được thời gian thực hiện.
(cid:190) Môi trường đặc thù:
So với môi trường tổng quát, môi trường đặc thù bao gồm các yếu tố có tác
động trực tiếp hơn đến DN. Ngoài ra, DN còn có thể kiểm soát được các yếu tố này
trong một chừng mực nhất định. Đó là các yếu tố về môi trường tự nhiên, khách
hàng, nhà cung cấp, các hãng cạnh tranh, các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan.
Môi trường tự nhiên:
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, lượng mưa hàng năm rất lớn, độ
ẩm cao. Nhiều DN địa bàn kinh doanh rộng, có thể có ở những địa bàn khác nhau,
giao thông cách trở...Giá trị tài sản tại mỗi địa bàn cũng có thể chất lượng khác nhau.
Đây là một nhân tố ảnh hường nhiều tới công tác kiểm kê đánh giá tài sản của đơn vị
định giá, sẽ làm ảnh hưởng tới chất lượng và thời gian thực hiện công tác kiểm kê,
đánh giá tài sản cố định, hàng tồn kho.
20
Quan hệ DN với khách hàng:
Trong điều kiện hiện nay, khách hàng của DN có thể là các cá nhân, các DN
khác hoặc Nhà nước. Khách hàng tiềm năng, năng lực có sẽ giúp cho DN tránh được
nhiều rủi ro trong kinh doanh. Tránh thất thoát vốn Nhà nước trong việc thu nợ, để
tránh được rủi ro này thì việc thu thập chứng từ, đối chiếu công nợ phải thu thường
xuyên, đánh giá đúng khả năng của khách hàng sẽ giúp cho công việc của kế toán
định giá sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
Quan hệ DN với nhà cung cấp:
Các DN thường sử dụng và tiêu thụ sản phẩm. hàng hóa và các dịch vụ từ các
nhà cung cấp. Nếu nhà cung cấp ổn định thường xuyên sẽ giúp cho quá trình sản xuất
kinh doanh (SXKD) của DN được tốt hơn. Giúp cho việc XĐGTDN thuận lợi hơn.
Việc đối chiếu công nợ thuận lợi phần nào cũng có sự góp sức của các chủ nợ Tính
ổn định và kịp thời của nguồn cung cấp có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo thực hiện
thành công kế hoạch sản xuất và tiêu thụ hàng hóa của DN sau này.
Các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan:
Trong cơ chế thị trường, DN nói chung được quyền chủ động hoàn toàn trong
SXKD. Tuy nhiên, sự hoạt động của DN luôn phải được đặt dưới sự kiểm tra, giám
sát của các cơ quan Nhà nước như: Cơ quan thuế, cơ quan thanh tra, các tổ chức
công đoàn…,Các tổ chức này có bổn phận kiểm tra, giám sát, đảm bảo cho sự hoạt
động của DN đảm bảo tuân thủ các Luật thuế, Luật môi trường, Luật cạnh tranh,
Luật lao động…
Ngoài ra các quy định của Chính phủ của ngành là yếu tố ảnh hưởng rất lớn
tới công tác kế toán ĐGDN như: Những quy định liên quan đến CPH, về ĐGDN về
kế toán ĐGDN...
1.3.1.2. Các yếu tố thuộc về nội tại doanh nghiệp.
Các yếu tố thuộc về nội tại DN là yếu tố ảnh hưởng trưc tiếp và là yếu tố ảnh
hưởng chính tới công tác kế toán ĐGDN.
(cid:190) Hiện trạng tài sản trong doanh nghiệp.
Mối quan tâm đầu tiên khi XĐGTDN đó là hiện trạng tài sản của DN. Điều
này được thể hiện cụ thể vào hai vấn đề cơ bản như:
Thứ nhất: Tài sản của một DN được biểu hiện tà yếu tố vật chất cần thiết, tối
21
thiểu đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Số lượng, chất lượng trình độ kỹ thuật
và tính đồng bộ của các loại tài sản là yếu tố quyết định đến số lượng và chất lượng
sản phẩm mà DN sản xuất ra. Khả năng SXKD, năng lực cạnh tranh và khả năng tồn
tại của mỗi DN phụ thuộc trực tiếp vào yếu tố này.
Thứ hai: Giá trị tài sản của DN được coi là một căn cứ và là một sự đảm bảo
rõ ràng nhất về GTDN. Tại bất kỳ thời điểm nào người sở hữu chúng cũng có thể
bán các tài sản để thu hồi lại các giá trị này.
(cid:190) Vị trí kinh doanh
Vị trí kinh doanh được đặc trưng bởi các yếu tố như địa điểm, diện tích và
mạng lưới chi nhánh của DN. Vị trí kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối
với hoạt động SXKD của DN. Các DN, nhất là trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ,
được đặt ở trung tâm đô thị, những nơi đông dân cư, các trung tâm thương mại, tài
chính và các đầu mối giao thông quan trọng có rất nhiều lợi thế kinh doanh. Đó là
các lợi thế về quảng bá, giao dịch, vận chuyển, thị trường .v. v.. Ngoài ra, các DN đó
còn có lợi thế về tiếp cận và nắm bắt nhanh chóng thị hiếu, nhu cầu thị trường, dễ
dàng thực hiện các dịch vụ hậu mãi. Vì vậy, vị trí KD luôn được coi là một trong
những yếu tố quan trọng hàng đầu khi phân tích, đánh giá GTDN.
(cid:190) Uy tín kinh doanh
Sự đánh giá thái độ khách hàng về sự hài lòng đối với nhãn hiệu, sản phẩm,
hàng hóa, dịch vụ… thể hiện được uy tín KD của DN trên thương trường. Uy tín KD
thường được xây dựng bởi lịch sử chất lượng của sản phẩm, năng lực quản lý của
DN và sự phục vụ tận tình, có trách nhiệm của toàn bộ đội ngũ nhân viên của DN đối
với các đối tác KD. Uy tín KD là một tài sản vô cùng quan trọng của DN và nó thực
sự góp phần đáng kể cho việc nâng cao hình ảnh và GTDN. Thực tế trên thị trường
nếu có hai loại sản phẩm, hàng hóa của 2 đơn vị khác nhau tương đương về mặt chất
lượng nhưng lại được trao đổi với giá trị khác nhau trên thị trường do ảnh hưởng của
uy tín, mẫu mã, nhãn mác của hàng hóa, sản phẩm. Các yếu tố này được đánh giá cao
và có thể mua bán rộng rãi trên thị trường.
(cid:190) Năng lực quản trị
Đây là một yếu tố định tính nhiều hơn định lượng. Bởi vì, quản trị kinh doanh
là một khái niệm tương đối rộng, tuy nhiên năng lực quản trị của DN được đánh giá
22
theo các nội dung cơ bản của hoạt động quản trị, bao gồm đánh giá về khả năng
hoặch định chiến lược, chiến thuật, tổ chức bộ máy quản lý, sản xuất - kinh doanh,
quản lý các yếu tố đầu vào, đầu ra, tổ chức và quản lý nguồn nhân lực, tổ chức và
quản lý các hoạt động tài chính – kế toán của DN. Năng lực quản trị DN có thể được
thể hiện thông qua hệ thống các chỉ tiêu tài chính DN.
(cid:190) Chất lượng công nghệ và nguồn nhân lực
Một yếu tố mang tính quyết định và có ảnh hưởng lớn tới chất lượng sản
phẩm đó là chất lượng công nghệ và nguồn nhân lực tốt. Chất lượng của công nghệ
có tốt, nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao sẽ giúp cho công tác kế toán
ĐGDN đem lại kết quả chuẩn xác nhất, nhanh chóng nhất cho đơn vị chuyển đổi.
Tóm lại: Như vậy, GTDN chịu sự tác động của nhiều yếu tố, bao gồm các yếu
tố bên trong và bên ngoài. Các yếu tố này là cơ sở để xây dựng và lựa chọn các tiêu
chí cần thiết cho việc xử lý đánh giá, ghi nhận GTDN, đồng thời là cơ sở để thảo
luận, xác định phạm vi và phương pháp đánh giá GTDN một cách hệ thống và khoa
học. Các yếu tố có tác động tới GTDN đều mang nhiều tính định tính hơn định
lượng. Vì thế, phương pháp được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố
này đều có mang tính chủ quan, điều này giải thích chênh lệch lớn trong kết quả
ĐGDN giữa các chuyên gia kinh tế và các phương pháp XĐGTDN khác nhau.
1.3.2. Nhiệm vụ, yêu cầu và nguyên tắc kế toán ĐGDN khi TCTDN.
Kế toán định giá là quá trình chuyển đổi, xử lý về tài chính trong quá trình
chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế góp phần hoàn thiện tiến trình cải cách DNNN,
GTDN là cơ sở để để chuyển đổi sở hữu DN phục vụ cho mục đích TCT các DNNN.
Thực hiện nhiệm vụ kế toán ghi nhận phải đảm bảo đúng các yêu cầu, nguyên tắc
của công tác kế toán.
1.3.2.1. Nhiệm vụ của kế toán định giá doanh nghiệp khi TCTDN.
Nhiệm vụ cơ bản của kế toán ĐGDN là ghi chép xử lý thông tin về quá trình
ĐGDN từ DN cũ chuyển sang đơn vị mới, xác định giá trị phần vốn của chủ sở hữu
trong quá trình này và thể hiện nó trên chứng từ, sổ sách, BCTC. Cơ bản nhiệm vụ
của kế toán ĐGDN khi TCTDN cần phải thực hiện các bước sau:
Một là: Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán trước thời điểm ĐGDN theo
đối tượng và nội dung công việc kế toán, theo quy định.
23
Hai là: Kiểm tra, giám sát các nghiệp vụ phát sinh trong quá trình ĐGDN khi
TCT, phát hiện và ngăn ngừa các hành vi sai phạm với những quy định về kế toán.
Ba là: Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp
phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán trong quá
trình TCT.
Bốn là: Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định cho các đối tượng
có yêu cầu
1.3.2.2. Yêu cầu của kế toán định giá doanh nghiệp khi TCTDN.
Khi nền kinh tế phát triển tới một trình độ nhất định thì DN cũng trở thành
hàng hóa, hàng hóa đặc biệt. Nhu cầu mua bán và đầu tư phát triển rộng rãi thì nhu
cầu XĐGTDN sẽ trở nên sôi động và kế toán ĐGDN ngày càng được chú trọng hơn.
Kế toán định giá là quá trình chuyển đổi, xử lý về tài chính trong quá trình chuyển
đổi cơ chế quản lý kinh tế góp phần hoàn thiện tiến trình cải cách DN. GTDN là cơ
sở để để chuyển đổi sở hữu DN phục vụ cho mục đích TCT các DN.
Vì vậy yêu cầu đối với kế toán ĐGDN cần phải có, đó là:
Phản ánh đầy đủ nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh trong quá trình vào
chứng từ kế toán, sổ kế toán và BCTC và biên bản XĐGTDN trong bộ hồ sơ chuyển
đổi: Trong quá trình thực hiện công tác ĐGDN để TCT, nghiệp vụ kinh tế phát sinh
thường đặc biệt, ảnh hưởng rất lớn tới giá trị phần vốn của chủ đầu tư, việc phản ánh
ghi nhận đầy đủ các nghiệp vụ phát sinh sẽ minh chứng cho nghiệp vụ thay đổi về tài
sản, nguồn vốn do xác định lại đã phát sinh và đã hoàn thành trong kỳ tránh được sai
sót và thiếu rõ ràng.
Phản ánh kịp thời, đúng thời gian quy định thông tin, số liệu kế toán định:
Trong nền kinh tế thị trường, để điều hành kinh tế vĩ mô cũng như trong hoạt động
quản trị DN thì những thông tin về GTDN luôn luôn cần thiết. Các hoạt động sáp
nhập, mua bán, CPH,.... DN diễn ra thường xuyên, cơ sở của các hoạt động này dựa
vào kết quả của kế toán ĐGDN. Do đó GTDN là một trong mối quan tâm của các
pháp nhân và thể nhân có lợi ích liên quan gắn bó trực tiếp đến các DN được đánh
giá. Nếu số liệu phản ánh kịp thời, đúng thời gian quy định về số liệu kế toán định
giá sẽ giúp cho các pháp nhân, thể nhân và những đối tượng khác có lợi ích liên quan
có thể phân tích và đưa ra được các quyết định phù hợp nhất.
24
GTDN là cơ sở xác định để xác định mệnh giá cổ phiếu, xác định giá các loại
chứng khoán trên thị trường. Vì vậy, về phương diện quản lý kinh tế vĩ mô, thông tin
về GTDN là một căn cứ quan trọng để các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức,
các Hiệp hội kinh doanh chứng khoán đánh giá tính ổn định của thị trường, nhận
dạng hiện tượng đầu cơ….để đưa ra các chính sách biện pháp điều tiết thị trường một
cách kịp thời và phù hợp.
Phản ánh rõ ràng, dễ hiểu và chính xác thông tin, số liệu kế toán: Quá trình
chuyển đổi sở hữu DN phát sinh nghiệp vụ đan xen nhiều và rất phức tạp nên việc
phản ánh rõ ràng, dễ hiểu và chính xác giúp cho người sử dụng thông tin có được số
liệu tin cậy để phân tích
Phản ánh trung thực hiện trạng, bản chất sự việc, nội dung và giá trị của
nghiệp vụ kinh tế, tài chính: Kết quả của KTĐGDN là thông tin quan trọng để các
nhà quản trị phân tích, đánh giá trước khi đưa ra các quyết định kinh doanh và tài
chính. GTDN là sự đánh giá tổng quát về uy tín kinh doanh, khả năng tài chính và vị
thế tín dụng để có cơ sở đầu tư, tài trợ, thế chấp. Nếu DN là đối tượng đi vay vốn thì
điều này là yếu tố quan trọng góp phần đảm bảo duy trì nguồn vốn của hoạt động
ngân hàng và đảm bảo khả năng thanh toán của DN.
Trong các trường hợp này GTDN là yếu tố có tính quyết định đối với các nhà
đầu tư. Ngoài ra, kết quả của KTĐG còn phản ánh được tình hình tài chính và “sức
khỏe” của DN để các nhà quản trị có chiến lược xây dựng và điều chỉnh kế hoạch
kinh doanh, đề ra những giải pháp cải tiến quản lý cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả
kinh doanh và khả năng cạnh tranh của DN. Đồng thời đòi hỏi Nhà nước cần ban
hành những chính sách kinh tế vĩ mô và những chính sách liên quan đến DN cho phù
hợp trên cơ sở đánh giá và XĐGTDN nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của DN và
hiệu quả kinh tế của toàn xã hội. Xuất phát từ nhu cầu góp vốn trong các trường hợp
hợp nhất, sáp nhập, liên doanh, chia nhỏ DN hoặc hoạt động giao dịch mua bán DN,
mua - bán một phần DN cũng cần đến kết quả của kế toán ĐGDN. Đây là giao dịch
được diễn ra thường xuyên thường xuyên và phổ biến trong nền kinh tế thị trường.
Nó sẽ phản ánh được nhu cầu đầu tư trực tiếp cho SXKD thông qua các hình thức
trực tiếp hoặc gián tiếp.
Kế toán định giá là quá trình chuyển đổi, xử lý về tài chính trong quá trình
25
chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế góp phần hoàn thiện tiến trình cải cách DN.
GTDN là cơ sở để để chuyển đổi sở hữu DN phục vụ cho mục đích TCT các DN.
Kết quả của quá trình này chính là Hồ sơ ĐGDN- là sản phẩm cuối cùng của KTĐG
đã ghi nhận, xử lý và phản ánh tổng hợp lại của cả quá trình ĐGDN.
1.3.2.3.Các nguyên tắc kế toán sử dụng trong kế toán ĐGDN khi TCTDN.
Kế toán ĐGDN ghi nhận, xử lý, cung cấp thông tin cho các chủ thể sử dụng
thông tin để ra quyết định về quá trình chuyển đổi DNNN tại thời điểm trước, trong
và sau định giá. Vì vậy mà thông tin kế toán cung cấp trên BCTC phải phản ánh
trung thực tình hình và kết quả hoạt động chuyển đổi DN để cho người sử dụng có
thể hiểu, tin cậy,...có thể so sánh được các thông tin tài chính trước khi TCT và sau
khi TCT, cần phải có những quy định làm khuôn mẫu giúp đánh giá, nhận diện
những ưu điểm và nhược điểm liên quan đến việc ghi nhận và trình bày thông tin tài
chính trên BCTC để tránh sự tùy tiện hoặc chủ quan của người làm kế toán, đó chính
là các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán.
Các nguyên tắc kế toán chính là những tuyên bố, quy định chung hướng dẫn
cho kế toán để lập các BCTC đạt được các mục tiêu của người sử dụng thông tin kế
toán. Theo quy định của chuẩn mực chung về thực hiện kế toán quốc tế có một số
khái niệm và nguyên tắc được thừa nhận và áp dụng trong kế toán định giá nói riêng
cho kế toán nói chung như sau:
(1). Khái niệm đơn vị kế toán (Accounting Entity)
Nội dung: Đơn vị kế toán là bất kỳ một đơn vị kinh tế nào có kiểm soát các tài
sản, các nguồn lực và tiến hành các công việc, các nghiệp vụ kinh doanh mà đơn vị
đó phải ghi chép, tổng hợp và báo cáo.
Ảnh hưởng của khái niệm: Các tài khoản kế toán được mở ra và ghi chép là
cho đơn vị kế toán, chứ không phải cho các chủ nhân, cho những người có liên quan
đến đơn vị đó.
Các loại đơn vị kế toán:
- Đơn vị kế toán cấp cơ sở: ở các DN độc lập, có tư cách pháp nhân đầy đủ
(thuộc mọi lĩnh vực và mọi thành phần kinh tế).
- Đơn vị kế toán phụ thuộc: ở các xí nghiệp thành viên có tư cách pháp nhân
không đầy đủ, không lập và phát hành BCTC, chỉ lập báo cáo kế toán nội bộ gửi cho
26
đơn vị chính.
- Đơn vị kế toán cấp trên cơ sở: là các tổng công ty, công ty, tập đoàn kinh tế
có nhiều đơn vị thành viên, lập và phát hành BCTC hợp nhất.
Trong quá trình TCTDN thì việc chuyển đổi hình thức sở hữu chuyển đổi tên
đơn vị kế toán là công việc hoàn thiện và là kết quả của việc thực hiện sau khi đã
hoàn tất công tác kế toán định giá.
(2). Đơn vị tính toán (Unit of measure)/ Thước đo tiền tệ (The money measurement)
Nội dung: Đơn vị tiền tệ được thừa nhận như một đơn vị đồng nhất trong việc
tính toán tất cả các nghiệp vụ kế toán.
Ảnh hưởng: Kế toán giả thiết rằng sự thay đổi của sức mua đồng tiền dùng
làm đơn vị tính toán là không đủ lớn để ảnh hưởng đến sự đo lường của kế toán.
Trong KTĐGDN, GTDN được tính toán quy về một đơn vị tiền tệ thống nhất
để đo lường và đánh giá tại một thời điểm chuyển đổi sở hữu, thay đổi cấu trúc DN.
(3). Kỳ kế toán (Accounting period)
Nội dung: Để đáp ứng được yêu cầu so sánh, các sốliệu tài chính phải được
báo cáo trong những khoảng thời gian quy định được gọi là kỳ kế toán
Kỳ kế toán chính thức: là năm (còn gọi là niên độ kế toán). Niên độ kế toán là
khoảng thời gian 12 tháng liên tục bất kỳ, bắt đầu từ đầu tháng.
Trong kế toán định giá, kỳ kế toán được áp dụng để thống nhất giữa các đơn
vị khi có giao dịch về sáp nhập, hợp nhất... chuyển đổi sở hữu và là căn cứ để đánh
giá giá trị tài sản sự tăng giảm tài sản, nguồn vốn trong cùng một thời điểm.
(4). Khái niệm hoạt động liên tục (Going Concern Concept)
Nội dung: Một DN được coi là đang hoạt động khi mà nó tiếp tục hoạt động
cho một tương lai, không có ý định ngừng hoạt động trong một tương lai gần.
Ảnh hưởng: Giả định này ảnh hưởng quan trọng tới việc định giá. Nó là cơ sở
cho phép giá gốc được sử dụng để đánh giá và trình bày các yếu tố của BCTC. Nếu
giả định này bị vi phạm thì tất cả tài sản của DN phải được trình bày theo giá trị
thuần có thể thực hiện được.
Trong kế toán ĐGDN với giả định DN đã, đang hoạt động và có thể chấm dứt,
sau quá trình định giá, DN cũ không tồn tại nhưng sẽ được chuyển giao hoạt động
sang một đơn vị mới kế thừa mọi HĐKD của DN cũ. Như vậy, trong kế toán định giá
27
DN là sự kết hợp của cả hai giả định hoạt động liên tục và không liên tục.
(5). Nguyên tắc giá gốc (giá phí ) (Cost principle):
Việc đo lường, tính toán tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu và chi phí
phải đặt trên cơ sở giá phí tại thời điểm hình thành. Kế toán quan tâm đến giá phí
hơn là giá thị trường vì: Giá thị trường khó ước tính và mang tính chất chủ quan.
Trong khi giá phí mang tính khách quan. Khái niệm “Hoạt động liên tục” làm cho
việc ước tính giá thị trường là không cần thiết. Kế toán không phản ánh giá trị thực
của tài sản của DN.
- Nguyên tắc giá gốc áp dụng và phù hợp đối với phương pháp định giá tài
sản, nếu áp dụng giá ghi sổ thì giá trị ghi sổ làm căn cứ để được ghi nhận, giá trị tài
sản chỉ được điều chỉnh khi có các quy định của pháp luật, chuẩn mực quy định, các
cấp có thẩm quyền quyết định.
(6). Nguyên tắc kế toán dồn tích (Accrual Accounting):
Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của DN liên quan đến tài sản, nợ phải trả,
nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm
phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. BCTC
lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của DN trong quá khứ, hiện tại và
tương lai. Hầu hết, các vấn đề phức tạp trong kế toán lại nằm trong kế toán dồn tích,
để xác định thu nhập của một kỳ, thì cần phải xác định doanh thu, thu nhập của kỳ
đó. Đây cũng là một yêu cầu của kế toán dồn tích.
Nguyên tắc này được áp dụng đối với tất cả các đơn vị có tiến hành định giá
để TCTDN khi tính toán đánh giá, ghi nhận tài sản tăng giảm, doanh thu, thu nhập,
tổng hợp số liệu để lên BCTC tại thời điểm định giá, xử lý tài chính khi định giá,
không căn cứ vào thời điểm thực tế thu, chi tiền. Để có thể có kết quả hoàn thiện về
các chênh lệch và xử lý chênh lệch của KTĐG trong quá trình TCT thì Trên BCTC
tại thời điểm định giá thực hiện đúng theo nguyên tắc này.
(7). Nguyên tắc phù hợp (Matching principle) :
Chi phối cách tính lãi (lỗ) trong kỳ kế toán, các chi phí liên quan tới doanh
thu của một kỳ là các chi phí của kỳ đó. Chi phí của một kỳ là: Giá thành (giá vốn)
hàng bán trong kỳ, các khoản chi tiêu khác cần thiết cho hoạt động của kỳ (chi phí
bán hàng, chi phí quản lý) và các khoản thiệt hại trong kỳ.
28
Nguyên tắc này thể hiện trong KTĐG các khoản thu nhập, chi phí phát sinh
trong quá trình định giá. Ví dụ khi hạch toán xử lý hàng hóa tồn đọng đem thanh lý
sẽ được ghi giảm giá vốn tương ứng với lượng hàng đã bán (Doanh thu - phù hợp với
chi phí của nghiệp vụ hàng đã bán, thanh lý...)
(8). Nguyên tắc nhất quán/liên tục (Consistency principle) :
Quá trình kế toán phải áp dụng tất cả các khái niệm, nguyên tắc, chuẩn mực
và các phương pháp tính toán trên cơ sở nhất quán từ kỳ này sang kỳ khác để BCTC
có thể so sánh được giữa các thời kỳ, BCTC có thể so sánh giữa các DN. Trong
trường hợp có sự thay đổi chính sách kế toán, kế toán áp dụng, nguyên tắc đầy đủ đòi
hỏi DN phải diễn giải, trình bày lý do và ước tính ảnh hưởng đến BCTC năm hiện tại
và các năm sau đó trên thuyết minh BCTC. Ví dụ: Sự thay đổi phương pháp tính giá
hàng tồn kho, Sự thay đổi chính sách khấu hao,.v..v
- Nguyên tắc nhất quán: Được thực hiện xuyên suốt quá trình thực hiện công
tác kế toán ĐGDN đối với các DN khi tiến hành TCT, nhất là khi đánh tài sản. Đối
với một loại tài sản, nhóm tài sản, từng vùng miền... phải được thực hiện nhất quán
với một phương pháp đánh giá. Nhất quán với những quy định về kế toán mà DN sử
dụng từ khi bắt đầu đến khi kết thúc công việc.
(9). Nguyên tắc thận trọng (Conservatism/Prudence) :
Các quy định kế toán trên thế giới thường dựa trên nguyên tắc thận trọng.
Trong kế toán tĩnh, nguyên tắc thận trọng thường được thể hiện ở việc đánh giá tài
sản, cho dù tài sản chưa được thực hiện thực sự nhưng vẫn được phản ánh trên
BCTC theo giá thị trường, không ghi nhận những tài sản vô hình không có thể bán
được một cách riêng rẽ. Trong kế toán động được thể hiện ở việc đánh giá tài sản
theo giá thấp nhất giữa giá vốn thực tế và giá thị trường.
Nội dung của phương pháp đánh giá này là một tài sản chưa thực hiện được
phản ánh trên BCTC theo giá vốn thực tế nếu như giá vốn thực tế thấp hơn giá thị
trường, ngược lại sẽ được ghi nhận trên BCTC theo giá thị trường. Trong kế toán
động, phần chênh lệch giữa giá vốn thực tế và giá thị trường có thể được tính vào chi
phí trong kỳ và giảm giá vốn thực tế của tài sản đó, hoặc có thể dùng phương pháp
trích lập dự phòng giảm giá tài sản. Với nguyên tắc này, giá trị tài sản được ghi nhận
không được vượt quá giá trị thuần có thể thực hiện được.
29
- Nguyên tắc thận trọng thể hiện rõ trong việc đánh giá, xử lý và ghi nhận
những nghiệp vụ liên quan tới vốn chủ sở hữu tránh thất thu vốn CSH tại các DN
(nhất là khi tiến hành CPH). Nguyên tắc thận trọng yêu cầu DN cần phải xem xét,
cân nhắc, phán đoán để lập các ước tính kế toán cần thiết trong các điều kiện không
chắc chắn như cân nhắc khi đánh giá các khoản dự phòng phải thu khó đòi, khi đánh
giá tài sản cần đánh giá theo mức độ phù hợp với thị trường, không đánh giá quá cao
giá trị tài sản (sẽ khó bán cổ phiếu, khó tiến hành TCT) mà cũng không đánh giá quá
thấp quá (làm thất thoát vốn CSH). Khi xem xét các khoản doanh thu, thu nhập, công
nợ phải thu, phải trả cần phải có bằng chứng chắc chắn mới được phản ánh ghi nhận
tại đúng thời điểm phát sinh. Việc lựa chọn phương pháp ĐGDN, ghi nhận phát sinh
cũng cần phải thực hiện theo nguyên tắc thận trọng vì mỗi một phương pháp định
giá thì giá trị vốn CSH có trong DN sẽ là khác nhau.
(10). Nguyên tắc thực chất (trọng yếu) (Materiality):
Để thực hiện tốt nguyên tắc này cần phải hiểu bản chất hai mặt của vấn đề:
Một là: Kế toán phải ghi chép, phản ánh tất cả các vấn đề quan trọng. Hai là: Kế
toán có thể bỏ qua (không ghi chép) những vấn đề không quan trọng. “Thực chất” là
một khái niệm tương đối, xét đoán sự quan trọng mang nặng tính chủ quan, vận dụng
tùy tiện nguyên tắc thực chất dễ gây ra các gian lận và sai sót trọng yếu, ví dụ: Việc
phân bổ chi phí công cụ lao động, cốt pha, ván khuôn, đà giáo... Việc phân bổ chi phí
quản lý cho công trình xây dựng cơ bản. Trong ĐGDN: Nếu thiếu nguyên tắc này thì
độ chính xác của BCTC thời điểm định giá sẽ sai, các thông tin trình bày thiếu sẽ dấn
đến ảnh hưởng tới việc quyết định kinh tế của người sử dụng thông tin. Đó là CSH,
là người lao động, là các cổ đông mua cổ phiếu... tính trọng yếu trong kế toán có ảnh
hưởng đáng kể trong việc phản ánh những thông tin trên BCTC, các bút toán xử lý
tài chính liên quan tới những khoản mục mang tính chất quyết định tới GTDN, tới
phần vốn CSH thì cần phải chú trọng phản ánh chi tiết, có những chỉ tiêu chỉ cần
trình bày tổng hợp trên BCTC (như hàng tồn kho...).
Việc vận dụng các nguyên tắc kế toán trong KTĐGDN cũng giống như trong
công tác kế toán thường xuyên tại các DN nếu làm tốt kết quả sẽ đem lại hiệu quả
cao nhưng nếu vận dụng không tốt thì những thông tin trên BCTC sẽ sai lệch không
chính xác. Việc vận dụng phù hợp đúng thời điểm các nguyên tắc kế toán sẽ giúp cho
30
công tác định giá tiến hành nhanh chóng hơn.
1.3.3. Quy trình kế toán định giá doanh nghiệp khi TCTDN.
Kế toán ĐGDN là ghi chép xử lý thông tin về quá trình ĐGDN từ DN cũ
chuyển sang DN mới, XĐGT phần vốn của CSH trong quá trình này và thể hiện nó
trên chứng từ, sổ sách, BCTC trước và sau thời điểm TCT. Thực tế, việc xử lý kế
toán tại thời điểm này chính là việc xử lý chênh lệch giữa giá trị đánh giá với giá trị
ghi sổ dựa trên những nguyên tắc và quy định từ Framework (Chuẩn mực chung),
IASs và IFRSs.
Theo các nguyên tắc, quy định phổ biến trên thế giới, DN TCT khi tiến hành
TCT theo các phương thức nào thì việc xử lý cũng thường được được tiến hành theo
một quy trình cơ bản và trải qua 2 giai đoạn, 2 giai đoạn này cụ thể như sơ đồ 1.1.
Giai đoạn 1: Kế toán ĐGDN trước khi TCT DN
Giai đoạn 2 Kế toán ĐGDN sau khi TCT DN
Bước 1 Kế toán khóa sổ, lập BCTC tại thời điểm định giá. chuẩn bị hồ sơ tài liệu các năm trước liền kề trước khi thực hiện ĐGDN
Bước 3 Kế toán định giá, điều chỉnh sau khi có kết quả định giá (nếu có) và hoàn thiện hồ sơ chuyển đổi DN
Bước 2 Kế toán kiểm kê và điều chỉnh số liệu chênh lệch phát sinh khi kiểm kê trước ĐGDN
Điều chỉnh các phát sinh (bổ sung, sai sót...) trong ĐGDN sau khi hoàn thành TCT.
Sơ đồ 1.1: Quy trình các bước thực hiện kế toán ĐGDN.
Tổ chức thực hiện lại theo một quy trình cụ thể tại ba khâu cơ bản nhằm phục
vụ cho việc thu thập kiểm tra xử lý, ghi nhận, lưu trữ và cung cấp thông tin về tình
hình, kết quả hoạt động ĐGDN của các đơn vị tham gia tiến hành TCT DN.
Có thể mô tả khái quát quá trình kế toán này theo sơ đồ 1.2.
Sử dụng thông tin, kỹ thuật ghi nhận điều chỉnh các vấn đề phát sinh.. Thu thập, kiểm tra, xử lý thông tin, tài liệu liên quan đến TCT Kết quả, lưu trữ và cung cấp thông tin
Sơ đồ 1.2: Quy trình tổ chức thực hiện kế toán định giá khi TCT DN
31
1.3.3.1. Kế toán Thu thập, kiểm tra, xử lý thông tin, tài liệu liên quan đến
kế toán định giá.
Trong công tác kế toán, việc thu thập, kiểm tra và xử lý thông tin tài liệu rất
quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả của việc TCT DN khi chuyển đổi hình
thức sở hữu. Việc thu thập, kiểm tra và xử lý thông tin tài liệu được thực hiện theo
các bước của công việc kế toán của từng giai đoạn thực hiện.
Giai đoạn 1: Kế toán ĐGDN trước khi TCT.
Đây là giai đoạn doanh nghiệp TCT nhận được quyết định TCT, bộ phận kế
toán của DN TCT tiến hành kiểm tra, chuẩn bị toàn bộ tài liệu, sổ sách kế toán và
một số chứng từ quan trọng liên quan đến định giá và kế toán định giá của kế toán
các năm trước liền kề để chuẩn bị cho việc tiến hành XĐGT DN khi có quyết định
trước thời điểm định giá, tùy theo phương pháp xác định GTDN đã lựa chọn.
Các BCTC mà các đơn vị thu thập, xử lý, là các BCTC đã được kiểm toán tại
các công ty kiểm toán độc lập có uy tín. Thời điểm định giá chính là thời điểm DN
khóa sổ kế toán để tiến hành kiểm kê phân loại và đánh giá giá trị tài sản có tại DN.
Kiểm tra các thông tin về tính trung thực hợp lý, hợp pháp của các nguồn tài liệu đã
thu thập phục vụ cho KTĐGDN. Ngoài ra là toàn bộ chứng từ, sổ sách ở từng đơn vị
kế toán có tham gia TCT. Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất nếu xác định theo giá
mua cần phải có Biên bản thỏa thuận giữa các bên, Biên bản đại hội đồng cổ
đông......Toàn bộ BCTC thu thập được là những BCTC đã được kiểm toán cho công
ty kiểm toán độc lập có uy tín thực hiện.
Toàn bộ chứng từ sổ sách ở từng đơn vị kế toán khác nhau có giá trị sử dụng
đối với từng DN, đây cũng chính là cơ sở dữ liệu cơ bản đầu tiên phục vụ cho
KTĐGDN vì nếu tài liệu đầy đủ và phong phú, tin cậy sẽ giúp cho quá trình kế toán
định giá đạt được hiệu quả, độ tin cậy cao.
Thông tin để tiến hành kiểm kê tài sản, nguồn vốn là những thông tin chi tiết,
tổng hợp từ sổ kế toán tổng hợp, chi tiết về tài sản năm trước, quý trước liền kề với
thời điểm định giá (đã được ghi nhận theo nguyên tắc giá phí hoặc GTHL). Toàn bộ
sổ sách được tập hợp phân loại từ bước 1 chuyển sang kế toán tiến hành kiểm tra lại
những thông tin chi tiết từ số dư trên sổ kế toán tổng hợp và chi tiết và những chứng
từ gốc (nếu thấy cần thiết).
32
Giai đoạn 2: Kế toán sau khi tái cấu trúc DN
Từ khi hoàn tất việc xử lý số liệu từ kết quả của định giá có thể có những phát
sinh cần phải điều chỉnh do sai sót... Mọi nghiệp vụ phát sinh được phát hiện cần
điều chỉnh sau TCT sẽ phải được ghi nhận và điều chỉnh lên sổ sách kế toán, BCTC
thời điểm định giá trong bộ hồ sơ định giá. Hồ sơ XĐGTDN chính là kết quả của quá
trình TCT hoàn thành cung cấp thông tin cho các đối tượng có yêu cầu.
1.3.3.2. Sử dụng thông tin, kỹ thuật ghi nhận điều chỉnh các vấn đề phát
sinh.
Giai đoạn 1: Kế toán ĐGDN trước khi TCT
Bước 1: Kế toán khóa sổ, lập BCTC tại thời điểm định giá, chuẩn bị hồ sơ
tài liệu các năm trước liền kề trước khi thực hiện ĐGDN.
Toàn bộ tài liệu thu thập được đã chuẩn bị và kiểm tra, tiến hành khóa sổ kế
toán tại thời điểm định giá. Nếu trong khâu thu thập thông tin về sổ sách, chứng từ
liên quan, quan trọng còn thiếu hoặc chưa rõ ràng cần phải có bản xác minh lại, bổ
sung những sổ sách còn thiếu....
Bước 2: Kế toán kiểm kê và điều chỉnh số liệu chênh lệch phát sinh khi
kiểm kê trước ĐGDN.
Từ kết quả kiểm kê, phân loại ở trên kế toán sử dụng những thông tin đã được
kiểm tra, ghi nhận để tiến hành xử lý kế toán các vấn đề phát sinh và phát hiện trong
kiểm kê. Xử lý tài sản thừa thiếu công nợ bỏ sót trong quá trình kiểm kê, đối chiếu
công nợ, các khoản đầu tư tài chính nếu có phát sinh khi đối chiếu.
- Kế toán kiểm kê và phân loại tài sản, công nợ, các khoản đầu tư tài chính.
+ Kiểm kê phân loại tài sản: Kế toán kiểm kê quỹ tiền mặt, tiền gửi ngân
hàng, Kế toán kiểm kê, phân loại tài sản cố định
+ Đối chiếu, công nợ với khách hàng, chủ hàng, chủ nợ
Đối chiếu, xác nhận và phân loại các khoản công nợ, lập bảng chi tiết đối với
từng loại khách nợ, chủ nợ
+ Về các khoản đầu tư tài chính, các khoản được chia, các khoản nhận góp
vốn: Đối chiếu, xác nhận các khoản đầu tư tài chính, các khoản được chia,
nhận góp vốn cho từng khoản đầu tư. Phân tích các khoản đầu tư lãi, lỗ trong
đầu tư
33
Xử lý kế toán sau kiểm kê
(1). Xử lý tài sản thừa, thiếu trong kiểm kê
(2). Xử lý công nợ bỏ sót, ghi trùng, sai đối tượng
(3). Xử lý phát sinh các khoản đầu tư tài chính
Nếu có phát sinh tài sản, công nợ, khoản đầu tư tài chính bỏ sót, ghi chưa
đúng, chưa đủ, kế toán tiến hành ghi điều chỉnh, bổ sung trước khi đánh giá GTDN
theo các nguyên tắc, IFRSs hay áp dụng chuẩn mực kế toán quốc gia.
Bước 3: Kế toán định giá, điều chỉnh phát sinh sau khi có kết quả định giá
hoàn thiện hồ sơ chuyển đổi.
Nếu DN thực hiện định giá theo phương pháp tài sản
Theo phương pháp tài sản, toàn bộ tài sản được tiến hành đánh giá lại chi tiết
trên các sổ chi tiết và tổng hợp và được xử lý, điều chỉnh bằng các bút toán để phản
ánh. Theo hệ thống IFRSs và IASs, nhiều tài sản (vào cuối năm tài chính) được đánh
giá theo GTHL vào thời điểm lập báo cáo (sau ghi nhận ban đầu).
Tại chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS 13 đoạn 61 đến 90 quy định về "Các kỹ
thuật định giá" cho các tài sản tài chính và phi tài chính và những quy định về cơ sở
những yếu tố đầu vào theo cấp bậc giá trị để đánh giá TS, công nợ phải trả. Việc sử
dụng Giá trị hợp lý (GTHL) -IFRS 13 để đánh giá và ghi nhận tài sản, nợ phải trả được
quy định trong IFRS 13 đều kèm theo điều kiện nhất định, đặc biệt là điều kiện về sự tồn
tại của thị trường hoạt động của tài sản, nợ phải trả và DN có thể thu thập được thông tin
từ thị trường một cách đáng tin cậy để áp dụng các phương pháp kỹ thuật xác định
GTHL. Vì vậy, việc sử dụng GTHL trong đo lường và ghi nhận tài sản và nợ phải trả
thường được xác định là một mô hình mà đơn vị báo cáo có thể lựa chọn. Bên cạnh đó
các chuẩn mực còn quy định các mô hình định giá và ghi nhận thay thế như mô hình ghi
nhận theo giá gốc hoặc mô hình ghi nhận theo giá gốc được phân bổ. Kết hợp với các
chuẩn mực kế toán khác như:
IAS 36 -"Giảm giá tài sản"với mục đích nhằm đảm bảo giá trị tài sản của DN
được ghi nhận không vượt quá giá trị có thể thu hồi của chúng và cũng như cách
XĐGT có thể thu hồi của tài sản. Theo chuẩn mực này, nếu có bằng chứng về sự
giảm giá trị tài sản, DN phải đánh giá và XĐGT có thể thu hồi của tài sản. Sự giảm
giá trị của một tài sản được trình bày trên BCTC là chênh lệch giữa giá trị còn lại và
34
giá trị có thể thu hồi của tài sản đó. Giá trị thu hồi là giá trị cao hơn giữa giá bán
thuần và giá trị của tài sản đó trong sử dụng. Tổn thất tài sản được ghi nhận như một
khoản giảm trừ giá trị còn lại tài sản và một khoản chi phí được trình bày trên báo
cáo kết quả kinh doanh. Chuẩn mực này áp dụng đối với những tài sản là đất đai, nhà
cửa, máy móc thiết bị, bất động sản đầu tư được ghi nhận theo giá gốc, tài sản vô
hình, lợi thế thương mại, các khoản đầu tư vào công ty con, công ty liên kết, công ty
liên doanh, còn nhà xưởng, máy móc thiết bị được ghi nhận theo mô hình đánh giá
lại của IAS 16 và IAS 38.
Việc đánh giá lại sẽ ảnh hưởng đến sự tăng hay giảm của vốn chủ sở hữu nếu
các phát sinh tăng, giảm này thoả mãn khái niệm về thu nhập và chi phí. Theo một số
khái niệm cụ thể về duy trì vốn, các thay đổi này sẽ được đưa vào vốn chủ sở hữu
như một khoản điều chỉnh duy trì vốn hoặc đánh giá lại.
(cid:190) Cụ thể, để thực hiện kế toán định giá đối với từng loại tài sản và nợ phải trả
được xác định:
(1) Với “Các khoản tiền và tương đương tiền”: Tại thời điểm định giá, các
khoản tiền và tương đương tiền có gốc ngoại tệ, vàng bạc đá quí đều được qui đổi
theo tỷ giá thị trường thực tế của nguyên tệ và đồng tiền hạch toán trên sổ kế toán.
Như vậy, các khoản tiền và tương đương tiền được đánh giá theo giá theo GTHL tại
thời điểm lập BCTC và các phần chênh lệch về tỷ giá hối đoái kể cả những chênh
lệch được hay chưa được thực hiện, đều phải được hạch toán vào lãi lỗ theo IAS 21
và IFRS 13.
(2.) Với “tài sản tài chính ngắn hạn”. Theo IFRS 13, đầu tư chứng khoán...
được ghi nhận theo GTHL. Các khoản chứng khoán thương mại ngắn hạn được ghi
nhận theo GTHL (giá thị trường) cuối mỗi kỳ, tại thời điểm định giá cũng vậy.
Chênh lệch được ghi vào lãi lỗ chưa thực hiện trên báo cáo lãi lỗ. Các khoản chứng
khoán sẵn sàng để bán cũng được điều chỉnh theo GTHL vào thời điểm định giá,
nhưng nó được ghi tăng giảm vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán không ghi
vào báo cáo lãi lỗ. Các khoản đầu tư bằng trái phiếu được ghi nhận theo giá vốn đã
trừ (cộng) số phân bổ chiết khấu (phụ trội). Tuy nhiên, khi xác định lại theo GTHL
của các loại chứng khoán này được xác định dựa vào mức độ hoạt động của thị
trường sản phẩm đó.
35
(3) Đối với “Các khoản phải thu”: Các khoản phải thu trên BCTC của DN
phản ánh toàn bộ các khoản công nợ phải thu trong hoạt động của DN. Ngoài các
khoản phải thu, bằng tiền nội tệ, các khoản phải thu khác bằng tiền ngoại tệ được qui
đổi theo tỷ giá thực tế thời điểm lập BCTC theo IAS 21. Khi xác định được các
khoản phải thu là khó đòi thì DN phải trích dự phòng phải thu khó đòi. Dự phòng
phải thu khó đòi được phản ánh vào BCTC của DN. Chính vì vậy giá trị các khoản
phải thu phản ánh được gần như đầy đủ các khoản lợi ích của DN đối với các khách
hàng của mình, điều này cho thấy rằng các khoản phải thu trên BCTCDN được coi là
đã được phản ánh theo GTHL của IFRS 13.
(4) Theo IAS 02 “Hàng tồn kho” bao gồm: hàng đang đi đường, nguyên vật
liệu, công cụ dụng cụ, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, thành phẩm, hàng hóa,
hàng gửi bán. Để đảm bảo giá trị của hàng tồn kho, chuẩn mực kế toán quốc tế qui
định, tại thời điểm định giá, lập BCTC, hàng tồn kho được phản ánh theo giá trị thuần
có thể thực hiện được. Trường hợp trên thị trường, hàng tồn kho đang có giá bán thấp
hơn giá ghi sổ thì DN phản ánh dự phòng giảm giá hàng tồn kho trên BCTC, dẫn đến
khoản mục này có thể coi là đã được phản ánh theo GTHL. Trường hợp trên thị
trường, hàng tồn kho đang có giá bán cao hơn giá ghi sổ thì các khoản này được giữ
nguyên theo giá gốc ban đầu.
(5) Đối với các “Tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp” thu hoạch từ các
tài sản sinh học được ghi nhận theo GTHL trừ đi chi phí bán hàng ước tính trên
BCTC của DN theo IFRS 13.
- Khoản chênh lệch được ghi nhận là thu nhập, chi phí trong báo cáo lãi, lỗ
(6) Với “Tài sản cố định”: được xác định theo IAS 16, IAS 38, IAS 17 phản ánh
giá trị tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình, tài sản cố định thuê tài chính
và giá trị khấu hao luỹ kế của các loại tài sản này. Sau ghi nhận ban đầu (tại thời
điểm định giá), chuẩn mực kế toán quốc tế cho phép DN được lựa chọn một trong
hai phương pháp:
Phương pháp thứ nhất là: Phương pháp chuẩn (phương pháp giá gốc): TSCĐ
được theo dõi giá trị còn lại, xác định bằng nguyên giá trừ đi giá trị khấu hao luỹ kế
và giá trị tổn thất luỹ kế (nếu có).
36
Phương pháp thứ hai là: Phương pháp thay thế (phương pháp đánh giá
lại): TSCĐ được theo dõi theo giá trị đánh giá lại bằng giá trị thị trường của TS tại
thời điểm đánh giá lại trừ đi giá trị khấu hao luỹ kế và giá trị tổn thất luỹ kế (nếu có).
(cid:190) Các khoản chênh lệch phát sinh do sự thay đổi GTHL giữa các thời điểm báo cáo
(giữa thời điểm lập báo cáo trước với thời điểm TCT) có thể được xử lý theo các
phương án:
- Đối với nhà xưởng máy móc thiết bị, tài sản vô hình... các khoản chênh lệch
giá đánh giá lại được tính trên cơ sở GTHL được xử lý:
+ Chênh lệch giá trị đánh giá lại của tài sản giảm (Do GTHL giảm) được ghi
nhận là chi phí trên báo cáo lãi, lỗ hoặc ghi giảm vốn chủ sở hữu nếu trước đó có
phát sinh chênh lệch giá lại tăng đã được ghi nhận vào vốn chủ sở hữu.
+ Chênh lệch giá đánh giá lại của tài sản tăng (Do GTHL tăng) được ghi nhận
tăng vốn chủ sở hữu hoặc ghi nhận vào thu nhập nếu trước đó có phát sinh
chênh lệch giá đánh giá lại giảm đã được ghi nhận vào chi phí trên báo cáo lãi, lỗ.
(Chênh lệch tăng do đánh giá lại Tài sản được hạch toán vào lợi nhuận giữ lại
đến khi chênh lệch đó được thực hiện (tài sản đó bán hoặc được sử dụng)
(7) Đối với “Các khoản đầu tư tài chính dài hạn” như: Đầu tư vào công ty
con, công ty liên kết, liên doanh, chuẩn mực kế toán quốc tế qui định áp dụng theo
các nguyên tắc kế toán các khoản đầu tư vào công ty khác có thể trình bày theo:
Phương pháp giá gốc hoặc phương pháp vốn chủ sở hữu.
- Phương pháp giá gốc: Tại thời điểm định giá giá trị khoản đầu tư bao gồm
giá đầu tư ban đầu trừ các khoản khác mà nhà đầu tư nhận được ngoài cổ tức và lợi
nhuận được chia (được coi là phần thu hồi của các khoản đầu tư và được ghi giảm
giá gốc khoản đầu tư.)
- Phương pháp vốn chủ sở hữu: Tại thời điểm định giá khoản đầu tư vào công
ty liên kết được ghi nhận theo giá trị ghi sổ điều chỉnh tăng hoặc giảm tương ứng với
phần sở hữu của nhà đầu tư trong lãi hoặc lỗ sau ngày đầu tư. Giá trị ghi sổ của khoản
đầu tư vào công ty liên kết cũng phải được điều chỉnh khi lợi ích của nhà đầu tư thay
đổi do có sự thay đổi trong vốn chủ sở hữu của công ty đầu tư nhưng không được phản
ánh trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty mà đơn vị đầu tư.
Nếu DN kế thừa vốn đầu tư, sau khi XĐGT vốn đầu tư dài hạn tại thời điểm
37
chuyển giao theo quy định thì được chuyển giao vốn sang cho đơn vị mới, trường
hợp DN mới không kế thừa các khoản đầu tư dài hạn mà chuyển giao cho DN khác
làm đối tác sẽ hạch toán giảm vốn, giảm khoản đầu tư trước khi chuyển sang đơn vị
mới. Nếu DN và đối tác thoả thuận chấm dứt hợp đồng, kế toán phản ánh các bút
toán thanh lý vốn góp như quy định trong chuẩn mực.
(cid:153) Đối với tài sản sẵn sàng để bán theo IFRS 9 - Công cụ tài chính, Tài sản tài
chính sẵn sàng để bán được áp dụng GTHL để kế toán các khoản đầu tư vào
công ty khác.
- Chênh lệch đối với Tài sản tài chính nắm giữ để bán được ghi nhận điều
chỉnh chỉ tiêu thuộc nguồn vốn chủ sở hữu trên Bảng cân đối kế toán. Hoặc theo
GTHL qua báo cáo lãi lỗ khoản chênh lệch được ghi nhận là thu nhập, chi phí trong
báo cáo lãi, lỗ.
(8) Đối với “các khoản phải trả”: Các khoản phải trả của DN phản ánh toàn
bộ các khoản công nợ phải trả trong hoạt động của DN. Ngoài các khoản phải trả
bằng tiền nội tệ, các khoản phải trả khác bằng tiền ngoại tệ được qui đổi theo tỷ giá
thực tế tại thời điểm định giá, lập BCTC. Khi phát sinh sự giảm sút, gia tăng về
những lợi ích kinh tế có thể xảy ra dẫn đến việc yêu cầu phải thanh toán nghĩa vụ nợ
và đưa ra được một ước tính đáng tin cậy về giá trị của nghĩa vụ nợ đó, DN tiến hành
ghi nhận dự phòng phải trả cho phần nghĩa vụ đó trên BCTC, tại thời điểm định giá
được phản ánh . Có thể coi các khoản phải trả được kế toán theo GTHL.
(9) Đối với các khoản dự phòng, lỗ hoặc lãi trong quá trình định giá: Đó là
các khoản dự phòng, chênh lệch tỷ giá, quỹ dự phòng tài chính và các khoản lãi, lỗ
(thanh lý tài sản, những khoản lợi ích bị giảm phát sinh do đánh giá lại...) của DN
theo quy định của chuẩn mực. Các khoản dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng giảm
giá hàng tồn kho, dự phòng giảm giá đầu tư tài chính ngắn hạn (dài hạn), dự phòng
phải thu khó đòi, bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp sau khi bù đắp tổn
thất. Xử lý các khoản lãi phát sinh của DN sau khi sử dụng để bù lỗ (nếu có) theo
quy định của Luật Thuế thu nhập DN (hạch toán thuế phải nộp), bù đắp các khoản
tổn thất về tài sản không cần dùng, chờ thanh lý, giảm giá tài sản, nợ không có khả
năng thu hồi (trên các tài khoản chi phí), số còn lại phân phối theo quy định hiện
hành trước khi XĐGTDN nếu còn sẽ được hạch toán tăng vốn chủ sở hữu.
38
(10). Xử lý, ghi nhận Lợi thế kinh doanh: Thực chất là việc ghi nhận khoản
chênh lệch giữa giá trị thực tế (giá trị hợp lý) tại thời điểm định giá và giá trị ghi sổ
của vốn CSH, Chênh lệch của vốn CSH giữa giá trị thực tế và giá trị ghi trên sổ kế
toán được hạch toán như là một khoản lợi thế kinh doanh của DN. Đối với trường
hợp, hợp nhất doanh nghiệp được ghi nhận theo GTHL của chúng vào ngày mua.
Phần chi phí mua vượt quá GTHL được ghi nhận là lợi thế thương mại.
Riêng đối với trường hợp hợp nhất DN: Tài sản và nợ phải trả có được do hợp
nhất DN được ghi nhận theo GTHL của chúng vào ngày mua. Phần chi phí mua vượt
quá GTHL được ghi nhận là lợi thế thương mại. Đối với trường hợp sáp nhập, hợp
nhất GTDN được thực hiện theo phương pháp mua tại ngày hợp nhất, sáp nhập. Sự
chuyển giao trong HNKD là tổng GTHL của ngày mua được bên mua đưa ra.
Như vậy mọi phát sinh tăng giảm do đánh giá lại được ghi nhận theo GTHL
được xử lý: Khi việc đánh giá lại làm tăng giá trị tài sản, thì số chênh lệch giá này
cần được ghi tăng khoản mục thặng dư đánh giá lại (phần nguồn vốn), trừ trường
hợp chính tài sản này trước đó đã được đánh giá giảm mà số chênh lệch giảm đó đã
được ghi vào chi phí thì số đánh giá tăng lần này cần được ghi nhận là thu nhập. Nếu
đánh giá lại làm giảm giá trị tài sản thì số chênh lệch giá vượt quá số có thể ghi giảm
vào khoản mục thặng dư đánh giá lại (là số hiện đang ghi nhận là thặng dư đánh giá
lại của cùng tài sản) cần được ghi nhận là chi phí.
Nếu doanh nghiệp XĐGTDN theo phương pháp thu nhập và phương pháp
thị trường
Nếu sử dụng các phương pháp này để ĐGDN căn cứ vào khả năng sinh lời
của dòng thu nhập trong tương lai, không phụ thuộc vào giá trị tài sản hiện tại của
DN, GTDN khi định giá bao gồm: Giá trị phần vốn CSH (tính theo phương pháp thu
nhập, thị trường), nợ phải trả và các nguồn quỹ khác (theo số liệu sổ sách đối chiếu
tương tự phương pháp tài sản).
Đối với phương pháp này kế toán hạch toán tương tự phương pháp tài sản
nhưng không phải đánh giá lại tài sản. Còn các bước khác tương tự như phương pháp
tài sản. Số liệu chênh lệch giữa giá trị được đánh giá với giá trị sổ sách thực hiện
theo nguyên tắc thận trọng và trọng yếu ghi tăng, giảm vốn chủ sở hữu.
Giai đoạn 2. Kế toán sau khi tái cấu trúc doanh nghiệp.
39
Điều chỉnh các phát sinh (bổ sung, sai sót...) trong ĐGDN sau khi hoàn
thành TCT.
Kế toán DN TCT có trách nhiệm điều chỉnh số liệu trong sổ kế toán theo
GTDN đã được công bố. Nếu có phát sinh giữa số liệu đã được duyệt tại thời điểm
định giá tới khi chính thức chuyển thành đơn vị mới.
Kế toán tiếp tục xử lý những sai sót còn tồn tại phát hiện sau khi TCT trong
quá trình thực hiện công tác KTĐG và các khoản chênh lệch giữa giá trị thực tế phần
vốn CSH tại thời điểm bàn giao sang đơn vị mới, so với giá trị thực tế phần vốn CSH
tại thời điểm XĐGTDN (nếu thời điểm XĐGTDN và thời gian bàn giao khác nhau)
được ghi nhận tăng, giảm vốn chủ sở hữu và xử lý theo quy định của từng quốc gia.
IFRS 3 quy định phương pháp xử lý trong thay đổi giá trị ghi nhận tại ngày mua phụ
thuộc vào lý do thay đổi của thương vụ. Nếu sự thay đổi thông tin về các điều khoản
trong ngày hợp nhất và phát sinh trong giai đoạn xem xét (trong vòng 12 tháng từ
ngày hợp nhất) thì sự thay đổi này sẽ được hồi tố đến ngày hợp nhất và có thể ảnh
hưởng tới lợi thế thương mại tại ngày mua.
Nếu kết quả thay đổi từ các sự kiện sau ngày hợp nhất, thì nó sẽ trở lên rõ
ràng hơn, như vậy bên mua đã đạt được mục đích mong muốn và xem xét thêm sự
chuyển giao, nếu phát sinh này liên quan đến vốn CSH thì tổng giá trị sẽ không được
xem xét lại, còn nếu phát sinh này liên quan đến nợ phải trả và được ghi nhận như là
công cụ tài chính theo quy định của IFRS 9 thì sẽ được tính toán ở GTHL với các
khoản lãi lỗ được ghi nhận trong phần lãi hoặc lỗ hoặc những khoản thu nhập khác
theo quy định của IFRS 9 hoặc việc xem xét này được phân loại như khoản nợ phải
trả nhưng lại không thuộc phạm vi của IFRS 9 thì được kế toán theo quy định của
IAS 37, hoặc các chuẩn mực kế toán khác phù hợp.
1.3.3.3. Kết quả, lưu trữ và cung cấp thông tin
Sau khi xử lý, ghi nhận các phát sinh chênh lệch, kế toán ĐGDN tái cấu trúc
căn cứ vào hệ thống chuẩn mực Lập và Trình bày BCTC quốc tế (IAS1, IAS 10, IAS
29, IAS 24...). Trong chuẩn mực không quy định cụ thể cho việc lập BCTC cho
trường hợp TCT mà thực hiện theo các quy định của từng quốc gia. Cơ bản việc ghi
nhận kết quả và lưu trữ kết quả thể hiện trên hệ thống BCTC sau định giá, đó là:
Bảng cân đối kế toán, Thuyết minh BCTC và các báo cáo tổng hợp khác liên quan.
40
Kết quả hồ sơ kế toán định giá được bàn giao sang cho đơn vị mới, đưa vào bộ phận
lưu trữ của các đơn vị có liên quan. Cụ thể:
Sau khi kiểm kê tài sản đối chiếu công nợ, xử lý những chênh lệch giữa số
liệu kiểm kê và sổ sách trên sổ sách kế toán tổng hợp và chi tiết, kết quả số liệu tổng
hợp được ghi nhận lên Bảng tổng hợp kết quả kiểm kê tài sản, đối chiếu công nợ sau
khi xử lý tài sản thừa thiếu...Số liệu tổng hợp kiểm kê được thể hiện trên BCTC (cột
sổ sách sau khi kiểm kê) tại thời điểm định giá.
Kết quả điều chỉnh các bút toán xử lý chênh lệch do đánh giá lại tài sản. Kế
toán lập các BCTC về những số liệu theo giá trị ghi sổ, giá trị sau khi điều chỉnh
chênh lệch sai sót phát hiện trong kiểm kê và số liệu đã được tổ chức định giá lại
trong bộ hồ sơ chuyển đổi sở hữu DN để ra quyết định.Toàn bộ BCTC được lập sau
khi điều chỉnh xử lý cùng với bản thuyết minh, giải trình nguyên nhân tăng giảm các
chỉ tiêu trên BCTC kèm theo toàn bộ sổ sách kế toán tổng hợp, chi tiết và các chứng
từ liên quan tới những phát sinh tăng giảm đó của tài sản được lưu trữ và cung cấp
thông tin. Trong Thuyết minh BCTC để thuyết minh tất cả các thông tin để giúp
người sử dụng BCTC có thể đánh giá và hiểu được các điều chỉnh:
- Kỹ thuật, phương pháp định giá và các yếu tố đầu vào được sử dụng để xây dựng
các cách XĐGT đối với tài sản hay công nợ cho mục đích ghi nhận trên bảng cân đối
cân kế toán sau ghi nhận ban đầu.
- Sự ảnh hưởng của việc XĐGT đến kết quả HĐKD của DN trong kỳ.
- Biện pháp, kỹ thuật xử lý kế toán và điều chỉnh chênh lệch phát sinh sau định giá...
1.4. Kinh nghiệm của một số nước và bài học cho Việt Nam về kế toán ĐGDN
khi TCTDN.
Việt nam là quốc gia đi sau trong tiến trình CPH cũng như TCT các DN, chính
vì vậy trong quá trình CPHDN Việt nam có một thuận lợi là có được những kinh
nghiệm quý báu của các nước trong kế toán định giá khi TCTDN.
1.4.1. Các quy định của hệ thống chuẩn mực quốc tế về kế toán chi phối kế
toán định giá doanh nghiệp.
Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế:
Được xây dựng rất sớm nhằm hoàn thiện chung và mang nền tảng, khuôn mẫu
những nguyên tắc, phương pháp có tính chất cơ bản được chấp nhận trên toàn thế giới.
41
Tuy nhiên, những quy định của chuẩn mực quốc tế khi được ban hành đưa vào sử
dụng cũng có những bất cập và không phù hợp với từng quốc gia hoặc trong quá trình
thực hiện có những quy định không đồng nhất...cần phải có sự thay đổi cho phù hợp.
Để thực hiện quá trình TCTDN chưa có một chuẩn mực nào quy định cụ thể
cho vấn đề này mà phải thông qua nhiều chuẩn mực liên quan khác để vận dụng và
đưa vào thực hiện. Phản ánh giá trị về TS sau ghi nhận ban đầu được KTĐG sử dụng
trong các chuẩn mực IFRS 13: Fair Value Measurement (Đo lường GTHL), IAS
16:Property, Plant and Equipment (Bất động sản, máy móc thiết bị) và IAS 38:
Intangible Assets (Tài sản vô hình), IAS 02: Inventories (Hàng tồn kho), IAS 40:
Investment property (Bất động sản đầu tư), IAS 31: Interests in joint ventures (Thông
tin tài chính về các khoản vốn góp liên doanh), IAS 39: Financial Instruments (công
cụ tài chính), IAS 21: The Effects ofchanges in foreign exchange rate (Ảnh hưởng của
việc thay đổi tỷ giá hối đoái),để sử dụng những phương pháp, quy định về ghi nhận
những phát sinh sau ghi nhận ban đầu và để tổng hợp kết quả và lưu trữ thông tin kế
toán sử dụng các chuẩn mực liên quan như: IAS1: presentation (Trình bày các
BCTC), IAS 10: Events after the Balance Sheet Date (Các sự kiện xảy ra sau ngày
lập Bảng cân đối kế toán), IAS 29: Financial Reporting in Hyperinflationary
Economies (BCTC trong nền kinh tế siêu lạm phát).., hay riêng đối với HNKD có
chuẩn mực IFRS 3: Business Combinations (Hợp nhất kinh doanh).
Sự chi phối của chuẩn mực kế toán quốc tế đến kế toán ĐGDN.
Nội dung quy định của các chuẩn mực kế toán quốc tế chưa có chuẩn mực nào
quy định cụ thể cho việc thực hiện xử lý tài chính, kế toán cho việc chuyển đổi hình
thức sở hữu DN. Tuy nhiên, trong mỗi chuẩn mực có những phần quy định cho kế
toán ĐGDN khi TCTDN (xác định và ghi nhận giá trị sau ban đầu) như: IFRS 13 Fair
value measurement (Xác định GTHL), IAS 16: Property, Plant and Equipment (Bất
động sản, máy móc thiết bị) và IAS 38: Intangible Assets (Tài sản vô hình), IAS 02:
Inventories (Hàng tồn kho), IAS 40: Investment property (Bất động sản đầu tư), IAS
31: Interests in joint ventures (Thông tin tài chính về các khoản vốn góp liên doanh),
IAS 21: The Effects ofchanges in foreign exchange rate (Ảnh hưởng của việc thay
đổi tỷ giá hối đoái) hay riêng đối với HNKD có chuẩn mực IFRS 3: Business
Combinations (Hợp nhất kinh doanh) ...được nhận định áp dụng nguyên tắc kế toán
42
để ghi nhận giá trị sau khi ghi nhận ban đầu. Nhất là đối với chuẩn mực IAS 16: Bất
động sản, máy móc thiết bị (Property, Plant and Equipment). Trong trường hợp DN
có định giá theo phương pháp tài sản thì khi hạch toán bút toán xử lý được thực hiện
theo IAS 16 mô hình kế toán thứ hai đó là mô hình đánh giá lại. Theo mô hình đánh
giá lại thì tài sản được ghi nhận theo GT đánh giá lại, GTHL tại ngày đánh giá lại trừ
đi khấu hao và tổn thất, miễn là GTHL có thể được xác định một cách tin cậy (nội
dung chính được trình bày trong mục 1.3.3). [31,32,106]
Chuẩn mực kế toán sáp nhập DN được IASC phê chuẩn lần đầu năm 1983.
Năm 1993 Chuẩn mực kế toán quốc tế số 22 (IAS 22) "Sáp nhập DN" chính thức được
ban hành. Tuy nhiên khi thực hiện chuẩn mực này lại hạn chế trong việc sử dụng
phương pháp kế toán kết hợp lợi ích mà hầu hết các DN lại lạm dụng phương pháp kết
hợp lợi ích mặc dù các thương vụ đều được thực hiện bằng việc mua. Năm 2001,
IASB bắt đầu rà soát lại IAS 22 để cải tiến nâng cao chất lượng chuẩn mực và năm
2004, IASB công bố IFRS 03 (chuẩn mực BCTC số 03) "Hợp nhất kinh doanh".
Chuẩn mực này chỉ quy định hợp nhất kinh doanh theo phương pháp mua. Năm 2008
và 2010 chuẩn mực này đã được sửa đổi 2 lần sao cho phù hợp với kế toán toàn cầu.
1.4.2. Kinh nghiệm kế toán định giá doanh nghiệp của các nước.
Tái cấu trúc DN diễn ra ngày càng sôi động trong nền kinh tế thị trường và ngày
càng phức tạp trong quá trình xử lý các nghiệp vụ kế toán về TCTDN. Mỗi quốc gia
lại có những quan điểm riêng do khác môi trường kinh doanh, khung pháp lý, nền văn
hóa.... mặc dù có những điểm tương đồng nhưng vẫn còn tồn tại những khác biệt nhất
định. Trong phần này, kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới đối với TCTDN
không có những chuẩn mực riêng, tuy nhiên cũng có những quy định liên quan áp
dụng để thực hiện.
Hiện nay, hệ thống định giá trong kế toán dựa vào giá gốc là hệ thống định giá
kế toán chủ yếu của tất cả các quốc gia trên thế giới. Trong hệ thống này chủ yếu sử
dụng giá gốc để đánh giá các đối tượng kế toán, bên cạnh đó, một số loại giá khác
được sử dụng trong trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, nhiều quốc gia đã thực hiện áp dụng
GTHL trong kế toán để khắc phục tính hữu ích của thông tin trên BCTC do giá gốc
không đáp ứng được khi giá cả thị trường thay đổi. Trên thế giới, kế toán cũng dựa
trên nền tảng và những nguyên tắc đặt ra trong chuẩn mực kế toán quốc tế, tự xây
43
dựng những chuẩn mực kế toán riêng phù hợp với môi trường kinh doanh của quốc gia
mình. Tuy nhiên, cũng chưa một quốc gia nào xây dựng chuẩn mực quy định cho
TCTDN, kể cả những nước đứng đầu thế giới về kinh tế, công nghệ, quy mô trình độ...
như Mỹ, Anh, Pháp....
Thực tế áp dụng chuẩn mực kế toán tại một số quốc gia trên thế giới.
Tại Pháp:
Để thực hiện cho việc TCT, các DN đặt mục tiêu XĐGTDN là để tìm ra giá sàn
mức giá tối thiểu làm căn cứ để Bộ trưởng bộ kinh tế lựa chọn phương thức bán qua
thị trường chứng khoán, đấu thầu hay thỏa thuận bán cho người lao động. Theo luật
năm 1986, Bộ trưởng kinh tế không được phép chuyển nhượng DN theo giá thấp hơn
mức giá sàn mà Ủy ban hay các chuyên gia độc lập đã đặt ra. đồng thời luật cũng quy
định Bộ trưởng Bộ kinh tế phải tham khảo ý kiến Ủy ban trước khi quyết định mức
giá cụ thể.
Phương pháp ĐGDN của Chính phủ Pháp đưa ra là: Phương pháp định giá
chứng khoán, Phương pháp giá trị tài sản thuần, Phương pháp hiện tại hóa lợi nhuận
thuần, Phương pháp hiện tại hóa dòng tiền thuần và có thể kết hợp các phương pháp
với nhau và Phương pháp giá trị tài sản thuần luôn được lựa chọn cao nhất. Kế toán
Pháp lấy giá gốc làm căn cứ cơ bản để đánh giá tài sản, hàng tồn kho thì được sử dụng
phương pháp đánh giá thấp hơn giá thị trường, lợi thế thương mại được đánh giá theo
GTHL hoặc theo giá ghi sổ nhưng sau đó phân tích chênh lệch giữa giá ghi sổ và giá
hợp lý. Nói chung, cả hai phương pháp đều cho ra kết quả tính toán lợi thế thương mại
giống nhau. Phương pháp khấu hao được sử dụng cho khoản mục lợi thế thương mại.
Qua đó việc xử lý kế toán khi tiến hành CPH dựa vào các nguyên tắc cơ bản của kế
toán và thực hiện công tác HNKD theo nền tảng của IFRS 03. Quy trình kế toán Pháp
áp dụng theo mô hình kết hợp [52]. (chi tiết tại Phụ lục 1.1)
Nghiên cứu kinh nghiệm kế toán Pháp về SNDN, chúng ta thấy được rõ ràng
quy trình kế toán của hiện tượng SNDN, đặc biệt là trong các công ty cổ phần, công
ty trách nhiệm hữu hạn và các công ty dân doanh khác. Khi SNDN, công ty nhận sáp
nhập phải phát hành cổ phiếu để trả cho các cổ đông của công ty bị sáp nhập, hoặc
các cổ đông, người góp vốn của công ty bị sáp nhập phải bù thêm tiền để được sở
hữu cổ phiếu của công ty nhận sáp nhập. Đây là những vấn đề chưa được đề cập đến
44
trong các quy định về SNDN ở VN.
Tại Mỹ
Mỹ là nước có nền kinh tế thị trường phát triển, vì vậy việc áp dụng và sử dụng
và sửa đổi chuẩn mực sao cho phù hợp với mô hình và nền kinh tế của mình dựa trên
cơ sở của IAS. Trước khi FASB được thành lập, các chuẩn mực báo cáo và kế toán
tài chính được ban hành đầu tiên bởi Hội đồng thủ tục kế toán (CPA) của AICPA
(1936 - 1959), và sau đó bởi Ủy ban nguyên tắc kế toán (APB) (1959 - 1973).
Theo tài liệu của Pricewterhouse Coopers, US GAAP2 có những quy định
tương đồng và khác biệt hoặc phạm vi giới hạn so với IAS cụ thể cho việc định giá
một số khoản mục. Cụ thể: Để thực hiện việc ghi nhận chung Nguyên tắc kế toán của
US GAAP ghi nhận theo nguyên tắc giá gốc, không cho phép đánh giá lại tài sản,
ngoại trừ một số chứng khoán và công cụ phái sinh xác định theo GTHL. Đối với tài
sản là Nhà xưởng và thiết bị, TSCĐVH được sử dụng giá gốc, riêng Nhà xưởng và
thiết bị không cho phép đánh giá lại. Đối với bất động sản đầu tư cũng được thực hiện
ghi nhận theo nguyên tắc giá gốc. Còn hàng tồn kho được ghi nhận theo giá thấp hơn
giữa giá gốc và giá thị trường. Đặc biệt đối với các khoản mục công cụ tài chính được
ghi nhận giống IAS, việc ghi nhận dựa vào phân loại đầu tư: Nếu được giữ đến kỳ: ghi
nhận theo giá trị hoàn dần bằng giá gốc trừ phần thanh toán gốc trừ giá trị hoàn dần
lũy kế. Đối với chứng khoán thương mại hoặc chứng khoán có thể bán được ghi nhận
theo GTHL.
Năm 1950 chuẩn mực "Hợp nhất kinh doanh" đầu tiên được ban hành trong đó
quy định 2 phương pháp kế toán trong HNKD là phương pháp kết hợp lợi ích và
phương pháp mua. Năm 2001, FASC 141 đã được ban hành và đến năm 2007 và 2010
đã được sửa đổi. Đối với trường hợp SNDN ở Mỹ thường để tâm tới lượng giá trị tăng
thêm từ sáp nhập, bên mua/nhận sáp nhập thường XĐGT cộng hưởng do 5 yếu tố
mang lại như: tiết kiệm chi phí, cải thiện doanh thu, cải thiện quy trình hoạt động, lợi
ích về tài chính và lợi ích về thuế. Có 2 phương pháp kế toán được sử dụng để ghi
nhận hoạt động mua bán SNDN là kế toán mua hoặc kế toán hợp cộng tài sản. Như
vậy, phạm vi áp dụng GTHL tại Mỹ hẹp hơn so với yêu cầu trong chuẩn mực kế toán
2 http://www.pwc.com
45
quốc tế ở chỗ, không sử dụng GTHL để đánh giá sau ghi nhận ban đầu cho các khoản
mục TSCĐHH, TSCĐVH, bất động sản đầu tư.
Theo FAS số 141, - Hợp nhất kinh doanh và FAS số 142 - Lợi thế thương mại
và tài sản vô hình - yêu cầu sử dụng ước tính GTHL, khuynh hướng này sẽ tiếp tục
phát triển, khuyến khích nhiều DN quan tâm đến những chuyên viên định giá, những
chuyên viên về XĐGT hợp lý. Trong khi đó theo những nguyên tắc kế toán được chấp
nhận chung ở Mỹ, thì không yêu cầu chủ DN phải thuê chuyên viên bên ngoài để thực
hiện công việc XĐGT hợp lý, nhưng vẫn nhiều DN vẫn thuê chuyên viên bên ngoài vì
lý do khách quan, kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn của họ.
Tại Anh
Anh là một quốc gia đi đầu trong việc sử dụng và vận dụng hệ thống chuẩn
mực kế toán quốc tế nên hầu hết những khoản mục cần định giá trong UK GAAP cũng
tương đồng với IAS. Theo tài liệu của PricewterhouseCoopers cho thấy: Về nguyên
tắc ghi nhận, UK GAAP áp dụng ghi nhận theo giá gốc nhưng những tài sản tăng giá
có thể được đánh giá lại (điều này giống với quy định của IAS)
Đối với các khoản mục là nhà xưởng và thiết bị cũng được UK GAAP đánh giá
ghi nhận giống IAS tức là khoản mục này sẽ được đánh giá, trình bày theo giá gốc trừ
khấu hao trừ giảm giá hoặc theo GTHL. Tương tự như vậy đối với khoản mục tài sản
cố định vô hình được trình bày theo giá gốc trừ hao mòn trừ giảm giá hoặc theo
GTHL. Với khoản mục "bất độc sản đầu tư" được ghi nhận khác với IAS nên được ghi
nhận tại giá thị trường công khai trừ cho khấu hao. "Hàng tồn kho" UK GAAP ghi
nhận giống IAS tức là khoản mục này được đánh giá theo giá thấp hơn giữa giá gốc và
giá trị thuần có thể thực hiện được.
Đối với các khoản mục công cụ tài chính UK GAAP cho phép ghi nhận khoản
đầu tư dài hạn theo chi phí (giá gốc), giá thị trường hoặc giá thích hợp khác ví dụ như
giá trị tài sản thuần. Còn đối với khoản đầu tư ngắn hạn được ghi nhận theo giá thấp
hơn giữa giá gốc và giá trị thuần có thể thực hiện được hoặc giá hiện hành.
Tại Cộng hòa Liên bang Đức:
Khi sát nhập 2 miền Đông, Tây của Đức Nhà nước Đức đã tiến hành tư nhân
hóa ồ ạt một số DNNN làm ăn không hiệu quả để thực hiện chương trình cải cách. Các
nhà đầu tư nước ngoài có thể mua toàn bộ DNNN theo giá thỏa thuận trực tiếp với
46
Chính phủ. Việc ĐGDN làm cơ sở quyết định giá bán, thường giao cho các cơ quan
kiểm toán phụ trách. Kế toán Đức vận dụng các nguyên tắc kế toán và chuẩn mực kế
toán để thực hiện các nghiệp vụ xử lý kế toán theo thông lệ và rất quyết đoán trong
việc loại bỏ những DN yếu kém phần giá trị bán thu được.
Cộng hòa Séc và Italia
Tại Cộng hòa Séc cũng đưa ra 3 phương thức tiếp cận giá bán là phương thức đấu
giá, phương pháp tuyển chọn và phương pháp trực tiếp. Việc ĐGDN cũng với mục
đích là tìm ra giá sàn làm căn cứ cho sự thương lượng về giá cả khi bán.
Tại Italia Tổng công ty Nhà nước được Chính phủ giao cho quyền hạn rất rộng,
các Tổng có thể tiến hành tư nhân hóa một cách tự do. Việc ĐGDN được quy định là
không nhất thiết phải nhờ vào tổ chức định giá có tính độc lập.
Úc, Canada và một số nước châu Âu khác.
Chính phủ chỉ đưa ra các nguyên tắc ĐGDN và cũng giống như ở Italia, các
DN cũng không bị bắt buộc phải đảm bảo có tính khách quan trong việc đánh giá.
Ngoài ra, hầu hết các Chính phủ ở các nước Châu Âu đều tỏ ra hết sức quan
tâm và có những quan điểm, cơ chế chính sách rõ ràng đối với vấn đề định giá các
DNNN kinh doanh thua lỗ. Mục tiêu của các Chính phủ trong việc tư nhân hóa các
DN loại này không phải là để kiếm lời, tăng thu cho ngân sách, mà chủ yếu là nhằm
làm giảm nhẹ gánh nặng chi tiêu bao cấp cũng như những hậu quả về mặt xã hội có
thể xảy ra khi DNNN lâm vào tình trạng phá sản. Nước Úc là quốc gia điển hình trong
biện pháp TCT các DNNN yếu kém bằng cách bán các tài sản thuộc sở hữu Nhà nước
kể cả đất, rừng, tài nguyên quốc gia. Các nhà đầu tư mua lại những DN loại này cũng
không phải là trông đợi ở khả năng sinh lợi trước mắt, mà thường là nhằm vào mục
tiêu thực hiện chiến lược mở rộng thị phần trong tương lai.
Các nước này đều bị ảnh hưởng của kế toán Anglo-Saxon nên việc xử lý kế
toán định giá cũng chủ yếu dựa vào các chuẩn mực và nguyên tắc kế toán tại thời điểm
đó. Các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) đề cập đến những vấn đề mang tính nên
tảng, khuôn mẫu, những nguyên tắc, phương pháp có tính chất cơ bản được chấp nhận
rộng rãi trên toàn thế giới.
(cid:190) Tại một số quốc gia khu vực châu Á
Tại Nhật Bản:
47
Nhật Bản là quốc gia Châu Á, nhưng lại là quốc gia có một nền kinh tế phát
triển mang đậm tính chất Tư bản vì thế việc thực hiện công tác kế toán nói chung, kế
toán TCT DN nói riêng tại Nhật Bản được thực hiện và vận dụng theo quy định của
Luật kế toán và chuẩn mực tại các thời kỳ.
Hiện tại, trong quy định của Luật kế toán có quy định về việc ghi nhận giá trị tài
sản trong chương 5- Sổ kế toán điều 34 đối với giá trị tài sản được hạch toán vào sổ
kế toán và phải tuân thủ những quy định: Đối với tài sản dễ chuyển đổi thì phải được
đánh giá, ghi nhận theo giá mua, giá thành SX hoặc giá trị hiện tại của TS, trong
trường hợp giá hiện tại thấp hơn đáng kể sơ với giá mua hoặc giá thành sản xuất thì sẽ
ghi theo giá hiện tại ngoại trừ trường hợp phải hạch toán gía trị của tài sản cho bằng
với giá mua hoặc giá thành SX. Đối với TSCĐ, phải ghi theo giá mua hoặc giá thành
sản xuất của tài sản và khoản khấu hao thích hợp được khấu trừ hàng năm vào một
thời điểm nhất định, nếu là công ty thì tiến hành vào thời điểm quyết toán sổ và nếu có
giảm giá thì sẽ áp dụng khấu trừ giá trị ghi sổ một cách thích hợp.Đối với khoản phải
thu: Tổng giá trị các khoản phải thu không vượt quá số tiền thu được sau khi đã khấu
trừ khoản không thể thu được trong tổng số khoản thu.
Theo IAS 22 ban hành năm 1975 (nay là IFRS 3), được thay đổi bổ sung trong
thời gian từ năm 1977 đến 1995, nhằm cung cấp cho các nhà đầu tư thông tin kinh tế
tài chính của các DN, Tập đoàn đầy đủ và kịp thời hơn. Đến năm 1998 Nhật Bản đã
sửa đổi Chuẩn mực "Hợp nhất kinh doanh" và "BCTC hợp nhất".
Đối với việc xử lý LTTM: Theo thông lệ thì được ghi nhận như một khoản mục
tài sản và trình bày trên BCTCHN. Nhưng theo chuẩn mực kế toán Nhật Bản thì
khoản mục này nếu có giá trị nhỏ sẽ được tính hết vào chi phí trong kỳ. Quy định này
không hiện hữu trong chuẩn mực của các nước khác
Hệ thống kế toán của Nhật chưa có chuẩn mực kế toán riêng đối với trường hợp
TCT DN nên việc xử lý kế toán cho TCT DN của quốc gia này cũng được thực hiện
trên nền tảng của hệ thống ASBJ và lựa chọn các nội dung phù hợp như: ASBJ 2:
(Chuẩn mực kế toán thu nhập), ASBJ 5: (Kế toán tiêu chuẩn trình bày tài sản ròng
trong Cân đối kế toán), ASBJ 6: (Chuẩn mực kế toán cho Báo cáo thay đổi trong tài
sản thuần), ASBJ 7: (Chuẩn mực kế toán cho doanh nghiệp), ASBJ 8: (Tiêu chuẩn Kế
48
toán thanh toán cổ phiếu), ASBJ 9: (Chuẩn mực cho đo lường của hàng tồn kho),
ASBJ 10: (Tiêu chuẩn Kế toán các công cụ tài chính), ASBJ 21: (Chuẩn mực kế toán
hợp nhất kinh doanh), ASBJ 22: (Chuẩn mực kế toán BCTC hợp nhất)...
Tại Trung Quốc
Trung Quốc thực hiện cải cách kinh tế nhưng không chấp nhận loại bỏ sở hữu
Nhà nước, đồng hành cùng Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc cũng thực hiện theo
phương thức này nhưng Philippin và Xrilanca lại là những quốc gia chấp nhập xóa bỏ
quyền sở hữu thuộc Nhà nước vì cho rằng quyền sở hữu nhà Nhà nước hay tư nhân
không quan trọng họ chỉ cần DN nào mang lại lợi ích thiết thực cho các thành viên
trong DN và cho xã hội.
Chương trình cải cách DNNN của Trung Quốc được đặt dưới sự chỉ đạo của
“Cơ quan quản lý tài sản quốc hữu”. Vấn đề XĐGTDN được phản ánh tại NĐ91 do
Quốc vụ viện công bố ngày 16 /11/1991. Theo tinh thần của Nghị định này, “Cơ quan
hành chính chủ quản về quản lý tài sản NN” và “Cơ quan chủ quản ngành hàng” của
DN có trách nhiệm quản lý và kiểm tra kết quả XĐGTDN. Còn trực tiếp thực hiện
việc đánh giá và đưa ra kết quả cụ thể thuộc về các tổ chức đánh giá có tính chất
chuyên nghiệp gọi chung là “Cơ quan định giá tài sản’. “Cơ quan định giá tài sản”
thực hiện việc thu phí đối với các dịch vụ đánh giá GTDN mức thu phí cụ thể do Quốc
Vụ Viện ủy nhiệm cho các cơ quan Tài chính, Vật giá và Chủ quản của DN xác định.
NĐ91 đưa ra những quy định có tính nguyên tắc đối với việc đánh giá là phải đảm bảo
tính trung thực, tính khoa học, tính khả thi và theo các tiêu chuẩn, trình tự và phương
pháp NN quy định. Phương pháp XĐGT được áp dụng ở Trung Quốc là: phương pháp
theo giá trị thu lợi, Phương pháp xây dựng lại giá thành, Phương pháp theo giá thị
trường hiện tại, Phương pháp theo giá trị thanh lý, Phương pháp khác của cơ quan
hành chính chủ quản về quản lý tài sản Nhà nước thuộc Quốc Vụ Viện quy định.
Trung Quốc là nước láng giềng gần cận gần tương đồng về điều kiện kinh tế xã
hội với Việt Nam, sự phát triển của kế toán cũng có những giai đoạn trong thời gian
tập trung, bao cấp và giai đoạn đổi mới như hiện nay. Hệ thống chuẩn mực kế toán
Trung Quốc (ASBE) do Bộ Tài chính Trung Quốc ban hành năm 1992 và là Quốc gia
được xem là hệ thống chuẩn mực phát triển và có tính mới. Năm 2006, ASBE 20 "Hợp
49
nhất kinh doanh" cũng được ban hành cũng dựa trên nền tảng của IFRS 03 và có chỉnh
sửa với tình hình kinh tế chính trị Trung Quốc. Tại Nhận Bản, là nước Tư Bản thuộc
Châu Á nhưng lại là quốc gia có nền kinh tế phát triển vượt bậc tuy nhiên Hệ thống
chuẩn mực của Nhật Bản (ASBJ) xây dựng dựa trên hệ thống chuẩn mực kế toán quốc
tế, đối với chuẩn mực cho TCTDN riêng biệt chưa có nhưng có những chuẩn mực
như: HNKD cũng được ban hành và phục vụ chủ yếu cho việc cung cấp thông tin cho
Tập đoàn để lập BCTC hợp nhất.
Chính vì thế việc xử lý kế toán khi TCT DN được thực hiện theo nguyên tắc
đánh giá, cách đánh giá tài sản của Trung Quốc rất thận trọng, các khoản đầu tư được
đánh giá theo giá vốn, hợp đồng dài hạn có thể được đánh giá theo phương pháp tỷ lệ
hoàn thành và phương pháp hoàn thành toàn bộ. Những khoản thuế còn nợ ngân sách
Nhà nước được xử lý trước khi ĐGDN.
Thái Lan:
Thái Lan gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện TCTDN (nhất là CPH) vì
tình trạng DN quá yếu kém mới bắt đầu tiến hành thực hiện. Chính phủ Thái Lan
giành quyền sở hữu hết các xí nghiệp công nghiệp. Quá trình "phi quốc doanh hóa"
(CPH) của Thái Lan được thực hiện bắt đầu từ giữa thập niên 1980, khi khu vực công
nghiệp quốc doanh thua lỗ quá nhiều, kéo theo sự trì trệ của nền kinh tế quốc dân.
Năm 1986, sự thâm hụt ngân sách do các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh
gây ra lên đến 1,7 tỷ USD (tương đương 3,5% GDP). Thái Lan bắt đầu tiến hành CPH
khu vực quốc doanh công nghiệp điện và vận tải hàng không. Tiếp theo, chính phủ
Thái Lan bán 70% cổ phần của một nhà máy đay và 100% cổ phần một khách sạn. Từ
đó, công nghiệp tư doanh đã dấn sâu vào các lĩnh vực quan khác như: Cơ sở hạ tầng,
xây dựng bến cảng, hệ thống thông tin, xa lộ cao tốc...Sự xóa bỏ độc quyền trong
nghành năng lượng đã cho phép tư nhân đầu tư xây dựng các nhà máy điện. Hơn nữa
các nhà kinh doanh tư nhân đã tham gia kinh doanh bất động sản, song song với Tổng
cục Công nghiệp Bất động sản Thái Lan. Quá trình phi quốc doanh hóa của Thái lan
gặp phải nhiều khó khăn, lý do cơ bản đầu tiên đó là các xí nghiệp thua lỗ GTDN hiện
tại không thể thu hút các nhà đầu tư tư nhân, cộng vào đó là sự chậm chạp rắc rối trong
thủ tục của Chính phủ, luật pháp, chính sách tài chính không rõ ràng đối với việc
chuyển đổi DN. Mặt khác, các nghiệp đoàn đầy thế lực đại diện cho công nhân làm
50
việc trong các xí nghiệp quốc doanh phản đối mạnh mẽ việc tư nhân hóa, việc thiếu
công nhân, những quản lý giỏi nên khi sau khi thực hiện CPH các xí nghiệp quốc
doanh chuyển qua tay tư nhân nhiều, vấn đề chính lại chính là XĐGTDN cổ phần hóa,
Mặc dù vậy, quá trình phi quốc doanh hoá tại Thái Lan cũng mang lại vài tiến
bộ, khi Chính phủ hiểu rằng đó chỉ là khó khăn tất yếu và tạm thời của quá trình
phát triển của đất nước.
1.4.3. Bài học cho Việt Nam từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới
Như vậy, chúng ta thấy rõ kinh nghiệm của các quốc gia trong kế toán ĐGDN
tại mỗi quốc gia tuy không có quốc gia nào có nền kinh tế xã hội, luật pháp tương
đồng với Việt Nam tại thời điểm hiện tại. Hệ thống chuẩn mực kế toán cũng có sự thay
đổi phù hợp với từng quốc gia sử dụng trong kế toán định giá. Tuy nhiên, xét từng
khía cạnh và từng góc độ vẫn có những ưu điểm và có những điểm phù hợp với môi
trường của VN mà các DNNN Việt Nam có thể học hỏi, vận dụng.
1.4.3.1. Xây dựng và thực hiện tiến trình tái cấu trúc DN.
Trong tiến trình cải cách những yếu kém của DNNN nói riêng, DN nói chung,
mỗi quốc gia có một phương thức thực hiện và lộ trình TCT DNNN khác nhau phù
hợp với môi trường kinh tế, xã hội của các quốc gia đó. Tuy nhiên, vẫn gặp phải
những vướng mắc, khó khăn cho việc thực hiện và có những thành công, có thất bại
có thể là do chính sách và mục tiêu của các quốc gia đó đạt hoặc chưa đạt được. Ở
Đức việc TCT ồ ạt, nhanh chóng nhưng gần như toàn bộ DNNN sau TCT thành tư
nhân hóa và đối tác nước ngoài có thể là chủ DNNN, ở Thái Lan việc chậm trễ tiến độ
thực hiện lại do các quy định do Nhà nước Thái Lan không muốn theo vết xe của Nhà
nước Đức làm ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế do các DN quá yếu kém khó vực dậy,
khó bán nên khó có thể CPH ...Mô hình TCT phù hợp với Việt Nam nhất chính là
Trung Quốc với mục tiêu không tư nhân hóa toàn bộ các DNNN, thận trọng trong việc
ĐGDN và xử lý ghi nhận phát sinh chênh lệch. Như vậy, để xây dựng lộ trình TCT ở
Việt Nam cần phải có những mục đích rõ ràng Đối với các DNNN làm ăn yếu kém,
cần xem xét phương thức thực hiện đẩy nhanh TCT cho phù hợp, đối với những ngành
nghề Nhà nước không cần nắm giữ vốn có thể tiến hành nhanh chóng, tránh độc quyền
và kinh doanh giàn trải nhiều lĩnh vực, chuyên môn hóa ngành nghề kinh doanh chủ
chốt cho những DNNN cần nắm giữ quyền kiểm soát để giữ ổn định an ninh, kinh tế...
51
Như vậy, đối với tình hình nền kinh tế xã hội hiện nay của Việt Nam, việc xây dựng lộ
trình tiến trình TCT cũng cần phải thận trọng, rõ ràng để các nhà đầu tư đánh giá đúng
GTDN, tức là Nhà nước phải tạo ra những cơ sở tin cậy để đưa ra quyết định cho việc
chuyển đổi DN và có hướng đầu tư một cách đúng đắn mang tính khả thi để có thể
thực hiện và đem lại kết quả như mục tiêu đặt ra.
1.4.3.2. Việc xây dựng quy định, khung hành lang pháp lý
Tại các nước phát triển, việc xây dựng chuẩn mực kế toán quốc gia được thực
hiện trên nền tảng kế toán quốc tế trong khuôn khổ của pháp luật của từng quốc gia
và tình hình kinh tế của từng quốc gia của từng thời kỳ, dựa trên những chính sách,
quy định phù hợp từng thời điểm, trước khi thực hiện TCT theo mục tiêu TCT đặt ra.
Với một số quốc gia, việc thực hiện TCT chậm chạp và gây thất thoát vốn
CSH là do việc xây dựng khung hành lang pháp lý chưa chặt chẽ, chưa sát với thực tế
hiện tại (như ở Thái Lan). Với Cộng hòa liên bang Đức mục đích là nhanh chóng tư
nhân hóa không quan tâm tới DN đó là tư nhân nắm giữ hay NN nắm giữ nên việc xây
dựng quy định cũng không phức tạp vì việc TCT các DN được thực hiện bằng cách
bán DN theo sự thỏa thuận giữa 2 bên, các quy định của Nhà nước Đức chủ yếu dựa
vào GTHL của thị trường. Quy định trong Luật kế toán của Nhật cũng rất chi tiết cụ
thể và tương đồng với những quy định trong hệ thống chuẩn mực kế toán Nhật
(ASBJ), đây cũng là một quốc gia mà Việt Nam cần học hỏi trong quá trình xây
dựng những quy định trong kế toán.
Chính vì vậy để việc TCT tiến hành thuận lợi và nhanh chóng cần phải xây
dựng quy định thống nhất, đồng bộ giữa Luật và các chuẩn mực căn cứ vào những
điểm mạnh, điểm yếu của các quốc gia mà xây dựng những quy định về luật, về kế
toán phù hợp với môi trường chính trị, kinh doanh, luật pháp... Trong mỗi một thời kỳ,
nếu có phát sinh những vướng mắc không phù hợp hoặc chưa đáp ứng được tình hình
thực tế của các DN, cần phải có điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung, thay thế những quy định
không còn thích hợp, còn thiếu trong việc thực hiện.
1.4.3.3. Công tác thực hiện kế toán ĐGDN khi TCT DN tại các DN.
- Lựa chọn hình thức định giá, phương pháp tính giá
Muốn ĐGDN vừa nhanh vừa sát thực phải cần đến các Công ty đánh giá có
tính chất chuyên nghiệp. Song, điều này không có nghĩa là sẽ loại bỏ được mối nguy
52
cơ cấu kết giữa các DN làm thay đổi kết quả đánh giá. ĐGDN khi sáp nhập không
đơn thuần chỉ là XĐGT thực của DN. Chính phủ không nên quy định cứng nhắc
phương pháp mà cần cho phép áp dụng nhiều phương pháp hoặc chỉ nên quy định có
tính nguyên tắc để các chuyên gia có thể xử lý cho thích hợp với điều kiện cụ thể của
DN.
Đối với những DNNN gặp khó khăn lớn, sự thua lỗ phá sản có thể đưa đến
những gánh nặng về mặt xã hội thì việc ĐGDN không nhất thiết phải nhờ đến các cơ
quan có chuyên môn định giá hay các công ty định giá. Nội dung chủ yếu của tiến
trình cải cách là tìm mọi biện pháp phục hồi sản xuất kinh doanh vì vậy việc TCTDN
yếu kém thực hiện càng nhanh càng tránh được thất thoát vốn chủ sở hữu và nhanh
chóng phục hồi DN. Đối với các DNNN Việt nam chuyên SXKD khi CPH lựa chọn
phương pháp tài sản để ĐGDN sẽ đơn giản hơn, còn phương pháp thu nhập (phương
pháp dòng tiền chiết khấu) các doanh nghiệp lựa chọn sẽ không phù hợp, do cơ sở số
liệu làm căn cứ tính toán không chuẩn xác (chỉ số giá, tốc độ tăng trưởng, phát triển
ngành nghề, lĩnh vực...), BCTC tại các DN chưa được các DN tin tưởng nên kết quả
thực hiện theo phương pháp này cũng không thể chính xác được. Việc thực hiện theo
phương pháp này cũng cần phải có chuyên gia giỏi, phân tích và nhận định tốt về tốc
độ phát triển của DN. Mặt khác, đối với những DNNN yếu kém cũng nên có biện pháp
giải quyết nhanh không nên để kéo dài làm thất thoát vốn NN.
Đối với hoạt động CPH thì thường sử dụng phương pháp tài sản có đánh giá
nhưng sự đánh giá lại chỉ thực hiện tại thời điểm ĐG trong khi đó theo thông lệ của
chuẩn mực kế toán quốc tế, giá trị tài sản được ghi nhận theo giá thị trường tại từng
thời điểm lập BCTC. Vì vậy khi ĐG rất dễ nhận biết được GT chênh lệch là do nguyên
nhân từ đâu, nếu sự trượt giá. Thực tế, điều hấp dẫn bên mua (bên nhận) sáp nhập là
giá trị cộng hưởng do sáp nhập mang lại. Để XĐGT cộng hưởng cần nhìn nhận được
các nguồn tạo ra GT cộng hưởng và cần sáng suốt trong các giả định của DN.
- Xử lý kế toán trong tái cấu trúc
Tại các nước phát triển trong quá trình TCTDN được thực hiện dựa trên IAS
kết hợp chuẩn mực kế toán quốc gia phù hợp môi trường luật pháp, kinh tế, chính trị
mà thực hiện cách đánh giá ghi nhận các phát sinh trong quá trình định giá. Đa phần
các quốc gia sử dụng ghi nhận sau ban đầu (định giá) thường được thực hiện theo
53
GTHL hoặc giá thị trường và tùy thuộc tính chất từng khoản mục tài sản, công nợ mà
có sự đánh giá, ghi nhận khác nhau.
Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế mở, đang trên đà phát triển và hội
nhập quốc tế, quá trình TCTDN chính là một sự kiện kinh tế quan trọng, là bước
chuyển đổi nền kinh tế yếu kém sang một nền kinh tế mở và phát triển. Quá trình
chuyển đổi này nhằm cơ cấu lại vốn CSH, việc lựa chọn phương pháp ghi nhận GT có
tác động rất lớn đến GTDN. Để đáp ứng yêu cầu hội nhập, các tiêu chuẩn đánh giá
của Việt Nam sẽ tương đồng với các tiêu chuẩn đánh giá của quốc tế, đảm bảo đồng
bộ hệ thống kế toán, mà hệ thống VAS hiện nay xây dựng dựa trên chuẩn mực kế
toán quốc tế, và việc định giá cũng không thể khác được. Tuy nhiên, đáp ứng được
yêu cầu hội nhập thì cũng cần phải có lộ trình, bổ sung đồng bộ GTHL bắt đầu từ
luật kế toán, VAS1, và các chuẩn mực kế toán khác liên quan ngoài ra để có cơ sở
xác định đáng tin cậy cần nâng cao nhận thức của các cá nhân.
Tóm lại: Mặc dù mỗi quốc gia có những nét đặc thù về kinh tế và chính trị chi
phối tiến trình cải cách DNNN, ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp và cơ chế
ĐGDN. Song những đánh giá, kết luận rút ra ở trên có thể là những bài học kinh
nghiệm bổ ích để vận dụng một cách thích hợp vào điều kiện của nước ta hiện nay.
KẾT LUẬN
Trong chương này, là toàn bộ sự trình bày của tác giả về cơ sở lý luận cho
phép rút ra một số kết luận về các khái niệm, quan điểm cơ bản như:
Một số lý luận cơ bản về kế toán định giá và những vấn đề liên quan, dưới
nhiều góc độ nhìn khác nhau, đối với một DN kinh doanh thông thường khi chuyển
đổi hình thức sở hữu. Những yếu tố sẽ tác động trực tiếp, gián tiếp đến kết quả và
công việc kế toán ĐGDN. Những phương pháp được sử dụng trong XĐGTDN và
kinh nghiệm của một số quốc gia trên Thế giới để rút ra những bài học kinh nghiệm
cho phù hợp với các DN tại Việt nam nói chung, các DNNN Việt Nam nói riêng khi
chuyển đổi hình thức sở hữu DN nhằm lành mạnh hóa DNNN nói riêng nền kinh tế
nói chung.
Như vậy, chương một là toàn bộ cơ sở lý luận, nền tảng để tác giả tiếp tục
nghiên cứu thực trạng và có những phương hướng hoàn thiện tiếp ở chương 3.
54
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP KHI TÁI CẤU
TRÚC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Tổng quan về tái cấu trúc DNNN ở Việt Nam hiện nay.
Tái cấu trúc DN là một vấn đề còn mới cả về lý luận lẫn thực tiễn, chính vì
vậy để có cái nhìn tổng thể về kế toán ĐGDN khi TCT DNNN thì việc hiểu được
những đặc điểm, mục tiêu quy trình về tái cấu trúc DNNN Việt Nam sẽ giúp cho việc
nghiên cứu đúng mục tiêu của đề tài đặt ra được hoàn thiện hơn.
2.1.1. Thực trạng và đặc điểm tái cấu trúc DNNN Việt Nam.
2.1.1.1. Tình hình DNNN Việt Nam trong giai đoạn phát triển và hội
nhập kinh tế.
Việt nam đã trải qua một thời gian dài thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh
tế, đã có bước tiến triển tích cực đạt được những thành tựu to lớn. Song, trong thời
kỳ phát triển và hội nhập sâu rộng như hiện nay, các DNNN ngày càng bộc lộ nhiều
yếu kém.
Mặc dù khu vực DNNN vẫn đang chiếm vai trò quan trọng trong việc duy trì
động lực tăng trưởng của nền KT nhưng những đóng góp của khu vực này vào GDP
của quốc gia chưa tương xứng, chưa giải quyết tốt việc làm cũng như hiệu quả sử
dụng các yếu tố sản xuất (nguyên vật liệu, tài chính…). Tình trạng đầu tư dàn trải,
đầu tư đa ngành đa lĩnh vực theo mô hình công ty mẹ - công ty con liên kết chèn ép
khu vực tư nhân, sự tồn tại độc quyền chưa có giải pháp thích hợp. Một số DNNN đã
tăng cường sự độc quyền vì muốn giữ mãi vị trí chủ lực gây ảnh hưởng không nhỏ
đến quyền lợi người tiêu dùng, đến lợi ích của toàn xã hội. Do quy mô DN cũng ngày
càng được mở rộng, vốn đầu tư cao, đầu tư dàn trải đa ngành, đa lĩnh vực, không
phải DNNN nào cũng có đủ năng lực để bắt kịp xu thế phát triển, làm phát sinh
những hạn chế về: Năng lực quản trị, kỹ năng quản lý, nguồn vốn, nguồn nhân
lực,...Năng lực quản trị chậm cải thiện, do còn mang tư tưởng dựa dẫm, ỷ lại vào
NN. Ngoài ra, các tệ nạn vẫn còn với mức độ và hình thức ngày càng phức tạp, như
tệ nạn hối lộ, tham nhũng lớn ảnh hưởng đến uy tín cũng như hiệu quả KD của khu
vực DNNN.
55
Để khắc phục những tồn tại, yếu kém của các DNNN và để hội nhập kinh tế
quốc tế, Chính Phủ đã liên tục đưa ra kế hoạch cho lộ trình tái cấu trúc DNNN nói
riêng, tái cơ cấu nền kinh tế nói chung theo hướng lành mạnh hóa DN, Chủ trương
của Chính phủ là cấu trúc lại về mặt hình thức, đa dạng hóa chủ sở hữu DNNN. Đây
là giải pháp đúng đắn, kịp thời phù hợp với thực trạng tình hình kinh tế trong giai
đoạn phát triển và hội nhập.
2.1.1.2. Đặc điểm về tái cấu trúc DNNN Việt Nam.
Tái cấu trúc DNNN là 1 trong 3 trọng tâm tái cấu trúc nền kinh tế được khẳng
định trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương ba (Khóa XI). Theo Quan điểm của Học
viện Tài chính, tại hội thảo “Tái cấu trúc các DNNN” thì: TCT các DNNN ở nước ta
hiện nay chính là việc thực hiện sắp xếp lại, tổ chức lại, thực hiện CPH, đổi mới
chính sách đầu tư… theo hướng hợp lý hơn, thị trường hơn… đảm bảo cho các
DNNN hoạt động có hiệu quả, nền kinh tế phát triển bền vững và ổn định.
Như vậy, việc thực hiện TCT các DNNN Việt Nam được thực hiện chủ yếu
theo mục đích cơ bản là thay đổi diện mạo mới về vốn cho các DN theo hướng tái
cấu trúc tài chính (thay đổi quy mô vốn DNNN).
2.1.2. Quy trình, phương thức thức tái cấu trúc DNNN tại Việt Nam.
2.1.2.1. Quy trình tái cấu trúc DNNN.
Nhằm thực hiện tốt công tác TCT các DNNN theo chủ trương chính của Đảng
Giai đoạn 1: Trước thời điểm TCT. (Công ty cũ)
Xây dựng đề án TCT DN
và Nhà nước với quan điểm là lành mạnh hóa DNNN, nâng cao tính cạnh tranh giữa
Giai đoạn 2: Sau thời điểm TCT - Hoàn thành công tác TCT
Các cấp có thẩm quyền phê duyệt đề án. Lập quyết định tái cấu trúc cho các DN
Công ty Nhà nước
Nếu CPH Tạo thành Công ty cổ phần
Nếu giải thể, phá sản, thoái vốn Không còn tồn tại DN
Nếu chia tách hình thành Đơn vị mới sau chia tách
Nếu sáp nhập Tạo thành Đơn vị mới sau sáp nhập
Nếu hợp nhất Tạo thành Đơn vị mới sau hợp nhất
Sơ đồ 2.1: Quy trình cơ bản Tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước
56
các DN và xóa bỏ những DN làm ăn yếu kém. Quy trình thực hiện công tác TCT về
cơ bản được thực hiện theo sơ đồ 2.1
Căn cứ theo chủ trương của Đảng, các Bộ, Ban, Ngành căn cứ thực tế vào tình
hình của các đơn vị mình quản lý để ra quyết định cho các đơn vị tiến hành CPH,
hợp nhất, sáp nhập, giải thể... Các đơn vị tiến hành lập đề án trình lên cấp trên duyệt
rồi tiến hành thực hiện TCT theo đề án đã được lập.
2.1.2.2. Phương thức thực hiện tái cấu trúc DNNN.
Đánh giá lại mô hình tập đoàn kinh tế Nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực. Các
Tập đoàn kinh tế NN chỉ tập trung vào những ngành nghề chính được giao. Hệ thống
các công ty con được thành lập chỉ là những DN đóng vai trò ngành nghề phụ trợ.
Xóa bỏ các Ngân hàng, công ty tài chính, quỹ đầu tư mạo hiểm trong các Tập
đoàn kinh tế NN; Thoái vốn NN do các DNNN đầu tư ở các định chế tái chính cần
được sớm giải quyết để khắc phục, ngăn chặn luồng tín dụng “bừa bãi” gây tình
trạng nợ xấu cho các Tập đoàn KT, trao quyền đại diện sở hữu cho một cơ quan duy
nhất, thiết lập hệ thống giám sát chặt chẽ, tách quyền sở hữu với quyền điều hành sản
xuất kinh doanh (SXKD), trao quyền quản lý, giám sát DNNN mạnh hơn nữa cho
các Bộ, Ngành, tăng quy mô, năng lực điều hành, nguồn vốn cho các DNNN cần
thiết phải duy trì phát triển. Thiết lập mô hình quản trị DNNN tuân thủ các quy tắc
quản trị công ty và hệ thống giám sát tài chính đủ mạnh, hiệu quả việc quản lý sử
dụng vốn để cung cấp thông tin thường xuyên cho cơ quan quản lý giám sát. Hoàn
thiện cơ chế và ban hành quy chế người đại diện và kiểm soát viên trong DNNN trên
cơ sở quy định rõ ràng, chặt chẽ về quyền hạn, nghĩa vụ, và lợi ích để tăng cường
hiệu quả giám sát. Trao những chế tài đủ mạnh cho các cơ quan quản lý, cơ quan
giám sát, cơ quan đại diện chủ sở hữu.
Rà soát lại chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị thuộc diện TCT, đặc biệt là
vấn đề đầu tư ngoài ngành, hướng các DNNN vào thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh chính.Thay đổi chính sách đầu tư. Thực hiện sắp xếp lại các DNNN thông qua
chia, tách, giải thể, sáp nhập để có một tổ chức hợp lý và hiệu quả. Thực hiện cổ
phần hoá các DNNN. Xoá bỏ độc quyền kinh doanh đối với một số lĩnh vực kinh
doanh đặc biệt, có điều kiện hoặc lĩnh vực đặc thù (điện, than, xăng dầu…). Tăng
cường công tác kiểm soát và giám sát, minh bạch thông tin đối với các DNNN. Tăng
57
cường các chế tài áp dụng và các trách nhiệm cá nhân đối với những DNNN vi phạm
các quy định về quản lý, điều hành DN.
Tóm lại: Tái cấu trúc DNNN theo chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt
nam hiện nay chính là việc tiến hành Cổ phần hóa DNNN, chia tách, sáp nhập những
DN còn yếu kém, giải thể, phá sản và thoái vốn, những DN không thể tồn tại ...
2.1.3. Kết quả tái cấu trúc DNNN thời gian qua.
2.1.3.1. Một số thành tựu đạt được.
Việc đổi mới khu vực DNNN trong thời gian qua đã thu được một số thành
tựu đáng kể. So với thời điểm những năm 90, số lượng DNNN giảm đi nhiều, đến
năm 2010 tổng số DNNN đã giảm hơn 2/3, chỉ còn khoảng 1.500 DN có 100% vốn
Nhà nước, thành quả đó là nhờ vào quá trình CPH chiếm hơn 55% tổng số DN được
tái cơ cấu.
Theo Báo cáo của Đảng ủy khối DN trung ương tại Hội nghị tháng 4/2014,
khối này có 32 Tập đoàn, Tổng công ty và ngân hàng, trong giai đoạn 2011 – 2015
có 28 đơn vị thuộc đối tượng cần xây dựng đề án tái cơ cấu. Đến nay toàn bộ 28 đơn
vị đều đã hoàn thành xây dựng đề án tái cơ cấu, trong đó có 24 đề án đã được phê
duyệt. Theo đề án, tất cả 24 đơn vị được tổ chức theo mô hình công ty mẹ - công ty
con; trong đó có 15 công ty mẹ Nhà nước giữ 100% vốn điều lệ; 9 công ty mẹ cần
tiến hành CPH. Đến nay có 3 công ty mẹ đã tiến hành CPH là Tập đoàn Bảo Việt,
Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, Tổng công ty Thép Việt Nam. Các công ty mẹ sẽ
CPH trong năm 2014 gồm: Tập đoàn Dệt may, Tổng công ty Hàng không. Năm
2015, CPH 4 tổng công ty còn lại là: Tổng công ty Hàng hải, Tổng công ty Sông Đà,
Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị, Tổng công ty Công nghiệp Xi
măng. Tổng số DN cần thực hiện thoái toàn bộ vốn Nhà nước theo đề án là 642 DN,
số đã thực hiện xong là 167 DN với số vốn đã thoái, thu về ngân sách là 7,8 nghìn tỷ
đồng. Từ nay đến 2015 còn phải tiếp tục thoái vốn tại 472 DN[4]. Một số DN hoạt
động kém hiệu quả đã bị giải thể, phá sản, giao, bán hoặc sáp nhập lại với nhau nhằm
tăng tính bền vững cho hệ thống. Đồng thời, những DN có tiềm lực lớn mạnh được
sắp xếp lại hình thành nên các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế nắm giữ vai trò
quan trọng trong các ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia
như: điện lực, dầu khí, xây dựng…
58
Vừa qua "Theo báo cáo tổng kết của Ban Đổi mới và Phát triển DN, kết quả
CPH trong các tháng đầu năm 2014 được đánh giá là khả quan, cho thấy mục tiêu
CPH DNNN còn lại cơ bản đến hết năm 2015 có thể thực hiện được. Tính đến thời
điểm hết tháng 7 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt toàn bộ 20 đề án tái
cơ cấu của các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước thuộc thẩm quyền của Thủ tướng
Chính phủ. Cả nước đã sắp xếp được 76 DN, trong đó CPH được 55 DN, giải thể 2
DN, bán 1 DN, sáp nhập 15 DN và đề nghị phá sản 3 DN". "Trong 7 tháng đầu năm,
hoạt động thoái vốn đã đạt được 2.975 tỷ đồng, gấp 3 lần so với cả năm 2013." [4]
Ngoài ra, Luật DN năm 2005 cũng đã điều chỉnh việc chuyển đổi DN 100% vốn Nhà
nước sang mô hình công ty TNHH một thành viên, nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên
ngoài, đổi mới tư duy quản trị, hoạt động năng động và tự chủ hơn. Bên cạnh đó,
quy mô các DNNN cũng ngày một tăng lên do được sự quan tâm đầu tư mạnh mẽ
của Nhà nước. Các DNNN hoạt động tập trung hơn vào các ngành, lĩnh vực then
chốt mà các khu vực ngoài quốc doanh không được phép kinh doanh hoặc không đủ
khả năng để kinh doanh. Chính vì thế, số DN hoạt động bị thua lỗ cũng giảm xuống,
phản ánh một bức tranh tươi sáng hơn cho DNNN khi thực hiện TCT. Nhiều DNNN
có thương hiệu uy tín, là đối tác kinh tế lớn trong các mối quan hệ kinh tế quốc tế.
Đối với xã hội, các DNNN thật sự có những đóng góp quan trọng, nhất là trong giai
đoạn khủng hoảng kinh tế, thành phần kinh tế này như một bệ đỡ giúp người dân có
thể chống chọi với những biến động phức tạp của nền kinh tế thông qua thực hiện
các chính sách bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô,… Đó là
những kết quả đáng ghi nhận của quá trình cấu trúc lại DNNN trong thời gian qua.
2.1.3.2. Những tồn tại cần phải giải quyết
Do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới cùng với biến động của nền
kinh tế vĩ mô đã ảnh hưởng đến mục tiêu tái cơ cấu DNNN, đến nay việc tái cơ cấu
thành phần kinh tế này vẫn chưa đạt được mục tiêu và tiến trình đã hoạch định. Đồng
thời, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của các DNNN chưa cao. Đầu tư dàn trải, chưa
thật sự tập trung vào những ngành, lĩnh vực trọng điểm mà còn đầu tư vào nhiều
ngành khác có mức độ rủi ro cao như: chứng khoán, bất động sản,… đã dẫn đến hệ
quả nhiều DN thường xuyên hoạt động trong tình trạng bị thua lỗ, gây thất thoát, hao
hụt nguồn tài chính của quốc gia. Mặt khác, cùng với quá trình sắp xếp lại các
59
DNNN là sự ra đời của các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế cũng đã bộc lộ nhiều
điểm hạn chế, bất cập. Các tổng công ty huy động vốn quá nhiều nhưng lại không sử
dụng hiệu quả gây lãng phí, không ngừng mở rộng mạng lưới công ty con nhưng
chưa có cơ chế quản lý thích hợp làm giảm hiệu quả hoạt động.
Ngoài ra, những hạn chế trong quá trình tái cấu trúc DNNN còn thể hiện trong
quá trình CPH. Thời hạn thực hiện CPH kéo dài (đặc biệt là các DN lớn) do cơ cấu tổ
chức cũng như cơ chế hoạt động phức tạp, thông tin tài chính không minh bạch.
Cùng với những quy định, các điều luật hướng dẫn thực hiện chưa rõ ràng, còn nhiều
kẽ hở gây lúng túng cho các DN trong việc CPH. Hơn nữa việc CPH chỉ mới là hình
thức chuyển đổi CSH của DNNN chứ chưa thực sự mang lại kết quả như mong đợi.
Tư tưởng quản lý và kỹ năng quản trị chưa được cải thiện, vẫn mang nặng phong
cách cũ. Thêm vào đó, “việc thực hiện chức năng chủ sở hữu vốn NN còn bị phân
tán, chồng chéo nên trách nhiệm quản lý không rõ ràng và khó xác định được trách
nhiệm trực tiếp một cách đầy đủ” [4]. Hiện nay, việc đại diện CSH vốn NN do nhiều
cơ quan đảm nhiệm nên việc sử dụng vốn không đồng bộ, nhất trí giữa các cơ quan
đã làm giảm đi hiệu quả đầu tư. Đặc biệt, rất khó quy trách nhiệm cho những đơn vị
xảy ra tình trạng thua lỗ, thất thoát lớn, do thực chất vẫn chưa xác định được chủ sở
hữu vốn Nhà nước. Bên cạnh một số Bộ, Ngành thực hiện tích cực việc giám sát và
chỉ đạo kết quả sắp xếp, CPH còn một số Bộ, Ngành còn chậm trong tiến độ thực
hiện TCT DN như "Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch. Bộ Y tế, Công thương, tỉnh
Bình Định, Nghệ An, Quảng Ninh, Tây Ninh, Tập đoàn Công nghiệp Hóa chất. Đặc
biệt có tới 84 DN hiện chưa có bất cứ tiến triển nào thậm chí là chưa thành lập Ban
chỉ đạo CPH." Một số DN cần thoái vốn thì tiến độ vẫn còn chậm.
Trên đây là những hạn chế đang tồn tại trong quá trình tái cơ cấu DNNN, do
đó cần phải có những giải pháp phù hợp, những bước đi vững chắc hơn để đẩy nhanh
quá trình tái cơ cấu.
2.2. Thực trạng khuôn khổ pháp lý về kế toán ĐGDN khi TCT các DNNN ở Việt
nam những năm qua.
Quá trình tiến hành sắp xếp, đổi mới các DN đã tạo ra một lực đẩy mới để các
DN phát triển, nhằm đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh trong hội nhập kinh tế, đồng
thời cũng góp phần hình thành nên một xu thế đầu tư mới, huy động được các nguồn
60
vốn nhàn rỗi trong nhân dân khi các DNNN chuyển đổi sở hữu, tiến hành TCTDN
tạo DN lành mạnh đứng vững trong nền kinh tế thị trường.
Tái cấu trúc DNNN được bắt đầu tiến hành từ năm 2011 nhưng thực chất quá
trình này đã được bắt đầu từ đầu thập niên 90, bởi vì quá trình TCTDN là việc tiếp
nối công việc còn dang dở của quá trình CPH DNNN. Một số DN theo chủ trương
TCT của Chính phủ như Sáp nhập, hợp nhất, mua bán, chia tách, giải thể, phá
sản...và thoái vốn cũng đang vướng mắc chính từ những vấn đề về GTDN, biện pháp
xử lý tài chính, kế toán của các đơn vị.
Mỗi thời kỳ đổi mới lại phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết và xử lý, để việc
xử lý có hiệu quả hơn cũng cần có những quy định mới sao cho phù hợp hơn. Trong
quá trình TCTDN, kế toán ĐGDN cần phải xác định, xử lý hợp lý các vấn đề về tài
chính phát sinh sao cho phù hợp đó là một vấn đề cần suy nghĩ đối với các DNNN
hiện nay. Trong các Nghị định, được quy định từng phần, từng khoản mục về trình tự
thủ tục chuyển đổi, cơ chế chính sách, xử lý tài chính, kế toán và các thủ tục
XĐGTDN đã được hướng dẫn bằng các thông tư của Bộ tài chính. Tuy nhiên, do các
quy định của Luật mới chỉ là các quy định khung và hướng dẫn cũng chưa rõ ràng cụ
thể nên quá trình triển khai thực hiện phát sinh nhiều tình huống đã gây lúng túng
cho các DN trong việc xử lý, ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực hiện
các nghĩa vụ thuế có liên quan, mỗi DN hiểu và vận dụng theo một cách khác nhau,
dẫn đến không thống nhất, nảy sinh nhiều vấn đề thậm chí phát sinh các mâu thuẫn
giữa DN với các cơ quan quản lý NN mà nguyên nhân chính là do chính sách kế
toán, tài chính chưa rõ ràng. (Phụ lục 2.1)
2.2.1. Quy định về kế toán ĐGDN khi Cổ phần hóa DNNN.
Sau khi có hàng loạt các văn bản pháp quy, quy định hướng dẫn cụ thể về tiến
trình cổ phần hoá, TCT các DNNN và các văn bản này cũng có những văn bản đã
được sửa đổi, bổ sung để hướng dẫn cho các DN (DN) thực hiện dễ dàng hơn trong
công tác tái cấu trúc DNNN.
2.2.1.1. Quy định từ luật kế toán
Luật kế toán ban hành ngày 17 tháng 6 năm 2003 ngoài các quy định chung
về kế toán còn có quy định riêng cho trường hợp tại điều 39 mục 5 khoản 2c về
kiểm kê tài sản trong trường hợp "Chuyển đổi hình thức sở hữu DN" và quy định tại
61
Điều 46. 'Công việc kế toán trong trường hợp chuyển đổi hình thức sở hữu" cụ thể:
(1). Đơn Vị kế toán chuyển đổi hình thức sở hữu phải thực hiện các công việc sau
đây:
a) Khóa sổ kế toán, kiểm kê tài sản, xác định nợ chưa thanh toán, lập BCTC;
b) Bàn giao toàn bộ tài sản, nợ chưa thanh toán, lập biên bản bàn giao và ghi
sổ kế toán theo biên bản bàn giao;
c) Bàn giao toàn bộ tài liệu KT cho đơn vị kế toán có hình thức sở hữu mới.
(2). Đơn vị kế toán có hình thức sở hữu mới căn cứ vào biên bản bàn giao mở
sổ kế toán và ghi sổ kế toán theo quy định của Luật này.
2.2.1.2. Quy định từ các chuẩn mực
Đối với trường hợp CPH chưa có chuẩn mực cụ thể quy định cho việc hạch
toán và xử lý kế toán trường hợp này. Tuy nhiên, tại các chuẩn mực cũng có những
quy định có liên quan đến đánh giá tài sản và các phát sinh chênh lệch sau khi ghi
nhận ban đầu như: VAS 01: Chuẩn mực chung, VAS 03 - TSCĐHH, VAS 04 -
TSCĐVH, VAS 10 - Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái..., và quy định về
khoản thanh lý tài sản không dùng như VAS 14 - Doanh thu và thu nhập khác ....
Các nội dung chính quy định trên chuẩn mực có ảnh hưởng đến xác định giá
trị, xử lý, ghi nhận giá trị phần vốn NN có trong DN được tập hợp từ việc đánh giá
các tài sản riêng biệt sau khi định giá cụ thể:
VAS 01- "Chuẩn mực chung": Về giá trị ghi nhận ban đầu trên sổ kế toán
(Đoạn 05) có quy định "Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản
được tính theo số tiền hoặc tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc theo GTHL của tài
sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Giá gốc của tài sản không được thay đổi
trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể".
VAS 03-TSCĐHH: "Sau khi ghi nhận ban đầu, trong quá trình sử dụng,
TSCĐHH được xác định theo nguyên giá, khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại. Trường
hợp TSCĐ hữu hình được đánh giá lại theo quy định của Nhà nước thì nguyên giá,
khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại phải được điều chỉnh theo kết quả đánh giá lại.
Chênh lệch do đánh giá lại TSCĐ hữu hình được xử lý và kế toán theo quy định của
Nhà nước." (đoạn 28- VAS 03) và trong đoạn 39 mục d quy định về trình bày thông
tin các trường hợp tăng giảm trong bản Thuyết minh BCTC.
62
Trong VAS 04 - TSCĐVH: Đoạn 53 có quy định "Sau khi ghi nhận ban đầu,
trong quá trình sử dụng, TSCĐVH được xác định theo nguyên giá, khấu hao luỹ kế
và giá trị còn lại", trong đoạn 70 mục d quy định "Bản Thuyết minh BCTC (Phần
TSCĐVH) phải trình bày các thông tin: - Nguyên giá TSCĐVH tăng, trong đó giá trị
TSCĐ tăng từ hoạt động trong giai đoạn triển khai hoặc do sáp nhập DN.
VAS 05- Bất động sản đầu tư: Đoạn 22 quy định "Sau ghi nhận ban đầu, trong
thời gian nắm giữ bất động sản đầu tư được xác định theo nguyên giá, số khấu hao
luỹ kế và giá trị còn lại." và tại đoạn 25. "Việc chuyển đổi mục đích sử dụng giữa bất
động sản đầu tư với bất động sản chủ sở hữu sử dụng hoặc hàng tồn kho không làm
thay đổi giá trị ghi sổ của tài sản được chuyển đổi và không làm thay đổi nguyên giá
của bất động sản trong việc xác định giá trị hay để lập BCTC."
VAS 10 - Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái đoạn 34. "Doanh
nghiệp phải trình bày trong BCTC: a) Khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái đã được ghi
nhận trong lãi hoặc lỗ thuần. b) Chênh lệch tỷ giá hối đoái thuần được phân loại như
vốn chủ sở hữu (theo đoạn 12a, đoạn14) và phản ánh là một phần riêng biệt của vốn
chủ sở hữu và phải trình bày cả khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái đầu kỳ và cuối kỳ."
Như vậy, trong quy định của chuẩn mực còn nhiều nội dung chưa có mục
riêng và chưa được quy định cụ thể cho kế toán định giá doanh nghiệp khi TCTDN
và chưa có nội dung tương đồng với Luật kế toán.
2.2.1.3. Quy định từ những thông tư, chế độ kế toán
Trong quá trình thực hiện chuyển đổi Công ty Nhà nước thành công ty cổ
phần. Bộ Tài chính đã ban hành nhiều quy định và hướng dẫn thực hiện kế toán trong
quá trình CPH nhằm phù hợp với tình hình theo từng tiến trình thực hiện. Đã có rất
nhiều quy định hướng dẫn kế toán xử lý những phát sinh trong CPH do quá trình
thực hiện còn gặp nhiều vướng mắc nên có nhiều thay đổi.
Ngày 18/11/2008, Bộ Tài chính đã ban hành TT 106/2008/TT-BTC hướng
dẫn kế toán khi chuyển DN100% vốn Nhà nước thành Công ty cổ phần (thay thế TT
40/2004/TT-BTC), căn cứ Luật kế toán số 03/2003/QH11 ngày 17/06/2003;
NĐ109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về việc chuyển DN 100% vốn
Nhà nước thành Công ty cổ phần và theo TT146/2007/TT-BTC ngày 06/12/2007 của
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về tài chính khi chuyển DN 100%
63
vốn Nhà nước thành Công ty Cổ phần và Quyết định số 09/2008/QĐ-BTC ngày
31/01/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Quy chế quản lý và sử dụng Quỹ
Hỗ trợ sắp xếp DN tại các Tập đoàn, Tổng Công ty Nhà nước, Công ty mẹ. Ngoài ra,
trong chế độ kế toán theo quyết định 15/2006 có quy định về hạch toán và xử lý kế
toán khi phát sinh chênh lệch các trường hợp phát sinh sau khi đánh giá lại theo
quyết định của NN theo những nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận và áp dụng.
Do còn nhiều vướng mắc trong việc xử lý kế toán các trường hợp phát sinh
khi TCTDN nên gần đây trong Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12
năm 2014 của BTC đã bổ sung nhiều nội dung kế toán liên quan tới CPH.
- Theo hướng dẫn của Thông tư số 40/2002/TT- BTC, TT số 106/2008/TT-
BTC và TT số 244/2009.
Thông tư 106/2008/TT-BTC (TT106) là thông tư được kế thừa và bổ sung từ
TT40/2004/TT-BTC (TT40), thông tư này đã có những đổi mới phù hợp với cơ chế
tài chính khi CPH DN.
Về cơ bản TT40 "Hướng dẫn kế toán khi chuyển đổi DNNN thành Công ty
Cổ phần" theo quy định của Nghị định sô 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 và TT
106 "hướng dẫn kế toán khi chuyển đổi DN 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ
phần" theo quy định của NĐ số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007.
Nội dung của TT 106 đã có sự kế thừa nội dung của TT 40 và sự khác biệt đó
là: Trong việc xử lý tài chính là các khoản tăng (giảm) thu nhập (711) theo TT40 thì
theo Thông tư này được ghi tăng (giảm) vốn Nhà nước (411) như ở các khoản 2.6.7
8. mục I và khoản 2 mục V… sẽ làm ảnh hưởng tới nghĩa vụ thuế phải nộp khi quyết
toán thuế TNDN. Thêm một số nội dung cơ bản ở khoản 5 (Kế toán chuyển giao tài
sản là các công trình phúc lợi). Khoản 13 (Kế toán khoản chênh lệch giữa giá trị thực
tế và giá trị ghi sổ của vốn Nhà nước), khoản 14 (Kế toán chênh lệch tiền thuê đất trả
trước), khoản 16 (Kế toán chi phí lãi vay phải trả cho nhà đầu tư mua cổ phần).
Ngoài ra trong các bút toán xử lý điều chỉnh đã có những sửa đổi bổ sung phù hợp
hơn với thực tế và chế độ kế toán. Ngoài những bút toán đã quy định trên các nghiệp
vụ khác sẽ được hạch toán theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC (QĐ15).
Theo thông tư số 244/2009,
Trong thông tư này mọi nghiệp vụ phát sinh liên quan tới CPH đã được hướng
64
dẫn bổ sung tại điều 23. Điều 24 sửa đổi bổ sung phương pháp kế toán đánh giá lại
tài sản và chuyển đổi số dư trên sổ kế toán, trình bày BCTC khi chuyển đổi hình thức
sở hữu doanh nghiệp. Đối với trường hợp doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước chuyển
thành công ty cổ phần Doanh nghiệp hạch toán theo quy định tại Thông tư số
106/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 của Bộ Tài chính “Hướng dẫn kế toán khi
chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần” và các trường hợp
chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp khác trong đó: Kế toán đánh giá lại tài
sản và hướng dẫn chuyển đổi số dư trên sổ kế toán và trình bày BCTC cũng được
quy định trong thông tư này.
Cụ thể, đối với sổ kế toán phản ánh tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu:
Toàn bộ số dư tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trên sổ kế toán của doanh
nghiệp cũ được ghi nhận là số phát sinh trên sổ kế toán của DN mới. Dòng số dư đầu
kỳ trên sổ kế toán của doanh nghiệp mới không có số liệu... Đối với BCĐKT: Toàn
bộ số dư tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu kế thừa của DN cũ trước khi chuyển
đổi được ghi nhận là số phát sinh của DN mới và được trình bày trong cột “Số cuối
năm”. Cột “Số đầu năm” không có số liệu. Đối với Báo cáo Kết quả hoạt động kinh
doanh: Chỉ trình bày số liệu kể từ thời điểm chuyển đổi đến cuối kỳ báo cáo đầu tiên
trong cột “Năm nay”. Cột “Năm trước” không có số liệu. Đối với Báo cáo Lưu
chuyển tiền tệ: Chỉ trình bày số liệu kể từ thời điểm chuyển đổi đến cuối kỳ báo cáo
đầu tiên trong cột “Năm nay”. Cột “Năm trước” không có số liệu
- Thông tư số 200/2014/TT- BTC ngày 22/12/2014 (TT200)
TT200 đã có nhiều đổi mới đáng kể kế thừa, bổ sung, tổng hợp và thay thế
một số nội dung và phương pháp kế toán của Chế độ kế toán DN theo QĐ15 cùng
một số thông tư bổ sung chế độ kế toán sau đó trong đó có những quy định về CPH
(TT106 và TT244). Đối với CPH, TT200 đã tổng hợp và bổ sung những nguyên
tắc, những hướng dẫn cơ bản về kế toán CPH hệ thống hơn, rõ ràng và cụ thể cho
từng phương thức CPH, tránh sự chồng chéo giữa các quy định như trước đây. Điều
này được thể hiện rõ và cụ thể tại điều 35 hướng dẫn việc xử lý TSCĐ hữu hình khi
kiểm kê tại thời điểm XĐGTDN để CPHDN 100% vốn NN, điều này còn quy định
việc đánh giá, bàn giao TSCĐ cho công ty cổ phần trong các trường hợp CPHDN
độc lập và CPH hạch toán phụ thuộc của Công ty Nhà nước độc lập, Tập đoàn, Tổng
65
công ty, Công ty mẹ, Công ty thành viên hạch toán độc lập của Tổng Công ty.
Hướng dẫn cụ thể trường hợp kế toán chênh lệch tiền thuê đất trả trước tại điều 67.
Các nguyên tắc và hướng dẫn về việc trình bày và lập BCTC tương tự như quy định
tại điều 23 của TT 244.
Theo hướng dẫn của Thông tư số 127/2014/TT-BTC
Ngày 15/9/2014 Bộ Tài chính ban hành TT 127/2014/TT- BTC để hướng dẫn
và xử lý tài chính và XĐGTDN khi thực hiện chuyển DN 100% vốn Nhà nước thành
công ty cổ phần theo quy định tại Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/07/2011 và
NĐ 187/2013/NĐ- CP và NĐ 44/2014/NĐ-CP thay thế các nội dung quy định về xử
lý tài chính và XĐGTDN CPH tại Thông tư số 202/2011/TT-BTC ngày 30/12/2011.
Theo quy định tại Thông tư này, trước khi thực hiện CPH, DNCPH phải thực hiện
kiểm kê, xử lý tài chính và xác định lại GTDN, giá trị phần vốn NN tại DN; khi thực
hiện CPH công ty mẹ, công ty con do công ty mẹ sở hữu 100% vốn điều lệ cũng phải
thực hiện XĐGTDN tại thời điểm trùng với thời điểm XĐGTDN của công ty mẹ.
- Tại điều 5. "Đối chiếu, xác nhận và phân loại các khoản công nợ" DNCPH
đối chiếu, xác nhận và phân loại các khoản công nợ, lập bảng kê chi tiết đối với từng
khách nợ, chủ nợ theo quy định cụ thể về khoản công nợ phải thu là phải "Đối chiếu,
xác nhận toàn bộ các khoản nợ phải thu theo từng khách nợ" trong khi đó trong
TT146 chỉ yêu cầu đối chiếu xác nhận và phân loại công nợ chứ không yêu cầu phải
xác nhận toàn bộ.
- Chỉ sau khi đã được xử lý tài chính và thực hiện XĐGTDN mà không còn
vốn NN tại DN hoặc giá trị thực tế DN thấp hơn các khoản nợ phải trả, thì cơ quan
có thẩm quyền chỉ đạo DN phối hợp với Công ty Mua bán nợ Việt Nam và các chủ
nợ xây dựng phương án tái cơ cấu để chuyển DN thành công ty cổ phần. Trong
trường hợp phương án tái cơ cấu không khả thi, không có hiệu quả thì áp dụng hình
thức sắp xếp khác phù hợp theo quy định của pháp luật. Cơ quan có thẩm quyền
quyết định thực hiện CPHDN, quyết định công bố GTDN, phê duyệt phương án CPH
DN, phương án tái cơ cấu DN, quyết toán tài chính, quyết toán chi phí CPH, quyết
toán kinh phí hỗ trợ cho người lao động dôi dư, quyết toán số tiền thu từ CPH và
công bố giá trị thực tế phần vốn NN tại thời điểm công ty cổ phần được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký DN cổ phần lần đầu...Các xử lý tài chính khác tương tự thông tư
66
146/2007. Sau khi ban hành thông tư hướng dẫn xử lý tài chính thì thường sẽ có
thông tư hướng dẫn kế toán sau đó. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại thông tư hướng
dẫn kế toán theo quy định của NĐ59/2011 (được sửa đổi bổ sung tại NĐ189/2013)
và TT202/2011 (hiện tại là TT127/2014 của BTC vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể.)
2.2.2. Quy định về kế toán định giá doanh nghiệp khi sáp nhập, hợp nhất
các doanh nghiệp Nhà nước.
2.2.2.1. Quy định từ Luật kế toán
Theo quy định của Luật kế toán quy định tại Mục 5 điều 39 khoản 2b về kiểm
kê tài sản trong sáp nhập, HNDN và tại Mục 6 điều 44 "Công việc kế toán trong
trường hợp hợp nhất các đơn vị kế toán"
(1). Các đơn vị kế toán hợp nhất thành đơn vị kế toán mới thì từng đơn vị kế toán bị
hợp nhất phải thực hiện các công việc sau đây:
a) Khóa sổ kể toán, kiểm kê tài sản, xác định nợ chưa thanh toán, lập BCTC;
b) Bàn giao toàn bộ tài sản, nợ chưa thanh toán, lập biên bản bàn giao và ghi
sổ kế toán theo biên bản bàn giao;
c) Bàn giao toàn bộ tài liệu kế toán cho đơn vị kế toán hợp nhất.
(2). Đơn vị kế toán hợp nhất phải thực hiện các công việc sau đây:
a) Căn cứ vào các biên bản bàn giao, mở sổ kế toán và ghi sổ kế toán;
b) Tổng hợp BCTC của các đơn vị kế toán bị hợp nhất thành BCTC của đơn
vị kế toán hợp nhất.
Quy định tại Điều 45. "Công việc kế toán trong trường hợp sáp nhập đơn vị kế toán"
(1). Đơn vị kế toán sáp nhập vào đơn vị kế toán khác phải thực hiện các công việc
sau đây:
a) Khóa sổ kế toán,kiểm kê tài sản, xác định nợ chưa thanh toán, lập BCTC
b) Bàn giao toàn bộ tài sản, nợ chưa thanh toán, lập biên bản bàn giao và ghi
sổ kế toán theo biên bản bàn giao;
c) Bàn giao toàn bộ tài liệu kế toán cho đơn vị kế toán nhận sáp nhập.
(2). Đơn vị kế toán nhận sáp nhập căn cứ vào biên bản bàn giao ghi sổ kế toán theo
quy định của Luật kế toán.
2.2.2.2. Quy định thực hiện từ chuẩn mực kế toán
Theo chuẩn mực kế toán VAS 11 quy định về "Hợp nhất kinh doanh" ban hành
67
theo quyết định 100/2005/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày 28/12/2005
quy định về nội dung, phương pháp kế toán HNKD.
Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và
phương pháp kế toán việc hợp nhất kinh doanh theo phương pháp mua. Bên mua ghi
nhận tài sản, nợ phải trả có thể xác định được, các khoản nợ tiềm tàng theo GTHL tại
ngày mua và ghi nhận lợi thế thương mại. Chuẩn mực này áp dụng cho việc hạch
toán hợp nhất kinh doanh theo phương pháp mua và được quy định cụ thể phương
pháp kế toán các trường hợp phát sinh trong hợp nhất kinh doanh. Bên cạnh đó là áp
dụng một số quy định từ các chuẩn mực khác về các vấn đề liên quan tới BCTC hợp
nhất, Lợi ích cổ đông thiểu số và LTTM được quy định bổ sung trong một số VAS
khác như VAS 25, VAS 21 và VAS 04...
Trong VAS 04 quy định tại đoạn 32 về cách ghi nhận và đặc điểm của tài sản
và các quy định từ đoạn 8, 9,10 thì LTTM có nguồn hình thành là do quá trình sáp
nhập DN và được tạo ra từ nội bộ DN nhưng không được ghi nhận là TS trên BCTC.
Đồng thời VAS 04 cũng không quy định các ghi nhận và xử lý LTTM như thế nào.
Hệ thống VAS được xây dựng trên cơ sở vận dụng theo chuẩn mực kế toán quốc tế
nên cũng tương đối phù hợp với các nguyên tắc kế toán được thừa nhận và áp dụng.
2.2.2.3. Quy định từ các thông tư và chế độ kế toán.
Kế toán sáp nhập, hợp nhất còn được quy định cụ thể một số vấn đề tại thông
tư 161/2007/TT-BTC, bổ sung sửa đổi theo thông tư 244/2010/TT-BTC của chế độ
kế toán DN theo Quyết định 15/2006 cụ thể về hạch toán các khoản chênh lệch tài
sản.... Nhưng chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể về việc lập và trình bày BCTC khi
sáp nhập, hợp nhất.
Tại TT 200 đã có sự kế thừa, bổ sung những nội dung cơ bản phù hợp VAS
11, và những quy định từ các thông tư hướng dẫn xử lý tài chính liên quan, trong đó
bổ sung một dung quan trọng chưa được quy định và hướng dẫn về kỳ lập, những
nguyên tắc lập và hướng dẫn lập BCTC trong đơn vị kế toán hợp nhất, sáp nhập,
chuyển đổi hình thức sở hữu,... trong hướng dẫn có quy định cụ thể phải lập BCTC
tại thời điểm hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt
hoạt động, phá sản, cụ thể: Trong kỳ kế toán đầu tiên sau khi sáp nhập, DN mới phải
ghi sổ kế toán và trình bày BCTC như điều 23, trong hướng dẫn của TT244 về sáp
68
nhập, hợp nhất DN.
2.2.3. Các quy định khác liên quan ảnh hưởng tới công tác kế toán định
giá doanh nghiệp.
2.2.3.1. Những quy định mới trong Nghị định số 172/2013/NĐ-CP
Tại chương 3 của Nghị định 172/2013/NĐ-CP: Quy định về việc tổ chức lại,
tạm dừng kinh doanh công ty TNHH một thành viên. Tại điều 16 có quy định về cụ
thể "Các hình thức tổ chức lại công ty TNHH một thành viên gồm: sáp nhập, ..,
chuyển đổi thành công công ty cổ phần, chuyển đổi thành công ty TNHH hai thành
viên trở lên và chuyển đổi theo hình thức công ty mẹ-công ty con." Cụ thể các hình
thức này như sau: Hợp nhất công ty TNHH một thành viên, Sáp nhập công ty TNHH
một thành viên, ... Tại điểm 3 của điều này quy định về "các hình thức tổ chức lại
công ty TNHH một thành viên thành công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên
trở lên và việc chuyển đổi công ty TNHH một thành viên hoặc một nhóm công ty
theo hình thức công ty mẹ - công ty con được thực hiện theo quy định khác của
Chính phủ."
(cid:190) Sự khác biệt của quy định này đối với những quy định trước đây về quy trình
thực hiện công tác tổ chức lại công ty TNHH một thành viên không có quy
định về việc đánh giá lại DN trước khi chuyển đổi DN. Điều này sẽ làm ảnh
hưởng trực tiếp tới giá trị thực của DN trên thị trường.
2.2.3.2. Quy định về phương pháp ĐGDN theo NĐ 59 và NĐ 189/2013.
Trong NĐ 59 và được sửa đổi bổ sung bởi NĐ 189/2014 (NĐ ban hành gần
đây nhất) và cụ thể trong TT 202/2011 có những quy định cụ thể cho việc xử lý tài
chính, ngoài ra trong NĐ và thông tư này có một quy định có ảnh hưởng nhiều đến
công tác kế toán định giá đó là hướng dẫn các phương pháp XĐGTDN là phương
pháp tài sản, phương pháp dòng tiền chiết khấu và một số phương pháp khác.
(cid:190) Phương pháp tài sản
Theo NĐ 59/2011/NĐ-CP và thông tư 202/2011/TT-BTC và trước là NĐ 109
và thông tư 146 có quy đinh cụ thể về 2 chỉ tiêu liên quan tới XĐGT khi ĐGDN đó
là: Giá trị thực tế của DN và Giá trị thực tế phần vốn NN tại DN.
- Giá trị thực tế DN là toàn bộ giá trị hiện có của tài sản tại DN. Có tính đến
khả năng sinh lời của DN.
69
- Giá trị thực tế phần vốn NN tại DN chính là Tổng giá trị thực tế DN trừ đi (-
) các khoản nợ thực tế phải trả, số dư quỹ phúc lợi, khen thưởng và số dư nguồn kinh
phí, sự nghiệp (nếu có).
Giá trị phần vốn Nhà nước khi CPH toàn bộ Tập đoàn, Tổng Công ty NN là
giá trị thực tế vốn NN được xác định tại tập đoàn, tổng Công ty NN. Trường hợp
CPH công ty mẹ trong tổ hợp công ty mẹ - con thì giá trị phần vốn NN là GT thực tế
vốn NN tại công ty mẹ. Giá trị phần vốn NN tại DN là giá trị cần xác định để làm cơ
sở cho CPH. Để xác định được GT thực tế phần vốn NN tại DN trước hết phải xác
định được GT thực tế của DN.
Tuy nhiên, để có được 2 chỉ tiêu này cần phải có kết quả tính toán từ bộ phận
định giá tài sản tổng hợp lại. Kết quả của bộ phận định giá lại phải lấy cơ sở từ số
liệu sổ sách và kiểm kê của bộ phận kế toán DN trong giai đoạn này. Để xác định
được GTDN theo phương pháp tài sản, khối lượng công việc của kế toán sẽ nhiều
hơn vì phải chuẩn bị sổ sách, chứng từ, kiểm kê cụ thể phản ánh tình hình tài sản
hiện DN đang nắm giữ, số liệu sổ sách lại là căn cứ để định giá cho giá trị những TS
đã đang sử dụng và không còn sử dụng ở đơn vị để từ đó phân tích định giá và đưa
tài sản nào vào GTDN, tài sản nào loại trừ ra...
Phương pháp tài sản yêu cầu phải sử dụng nhiều phương pháp định giá khác
nhau cho các nhóm TS cụ thể, phương pháp này cũng rất dễ áp dụng và quen thuộc
với các DN và với thị trường VN. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ phản ánh GTTS
hiện tại của DN không xác định được toàn bộ GTDN như khả năng sinh lời trong
tương lai của tài sản đem lại. Như vậy sẽ làm giảm GTDN khi định giá, phần vốn
NN cũng vì đó mà thất thoát.
(cid:190) Phương pháp dòng tiền chiết khấu
Vì một số hạn chế của phương pháp tài sản, trong NĐ109 và nay là NĐ59 đã
có thêm phương pháp dòng tiền chiết khấu. Là phương pháp XĐGTDN dựa trên khả
năng sinh lời của DN trong tương lai. Phương pháp này cho phép xác định chính xác
hơn GT của các DN hoạt động có hiệu quả và có khả năng phát triển trong tương lai,
nhất là đối với các DN đang KD trong lĩnh vực dịch vụ như dịch vụ tài chính, ngân
hàng, bảo hiểm, tư vấn, thiết kế... Chính vì vậy trong NĐ và thông tư có quy định cụ
thể đối tượng áp dụng PP này và có quy định các DN này phải có tỷ suất lợi nhuận
70
sau thuế trên vốn NN bình quân 5 năm liền kề trước khi CPH cao hơn lãi suất trả
trước của trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ 10 năm trở lên.
Để áp dụng được phương pháp này DN cần phải căn cứ vào: BCTC của DN 5
năm liền kề trước khi xác định GTDN. Phương án hoạt động sản xuất kinh doanh
của DN CPH từ 3 đến 5 năm sau khi chuyển thành công ty cổ phần. lãi suất trả trước
của trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 5 năm ở thời điểm gần nhất, trước thời điểm tổ
chức thực hiện xác định GTDN và hệ số chiết khấu dòng tiền của DN. Giá trị quyền
sử dụng đất đối với diện tích được giao.
Chênh lệch tăng giữa GT thực tế phần vốn NN theo phương pháp dòng tiền
chiết khấu và giá trị vốn NN theo sổ kế toán tại thời điểm XĐGTDN được tính vào
giá trị DNCPH, thông qua việc mua cổ phần của DNCPH chuyển thành tài sản của
CTCP được đầu tư bằng vốn của các cổ đông. CTCP được hạch toán phân bổ dần
vào CPKD được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập DN trong thời gian
không quá 3 năm kể từ thời điểm DNCPH chính thức chuyển sang công ty cổ phần.
Như vậy, nếu sử dụng phương pháp dòng tiền chiết khấu công tác kế toán tại
đơn vị sẽ giảm tiện rất nhiều nhưng lại đòi hỏi người làm công tác kế toán phải có
trình độ chuyên môn cao số liệu báo cáo trên BCTC phải chính xác, phải có đủ kinh
nghiệm để có thế phân tích đánh giá các chỉ số một cách hợp lý nhất.
(cid:190) Trong quy định của NĐ 59 và TT 202. Ngoài phương pháp trên NN còn cho phép
các DN sử dụng các phương pháp định giá khác để XĐGT DNCPH. Các phương
pháp XĐGTDN này phải đảm bảo tính khoa học, phản ảnh thực chất GTDN và
được quốc tế áp dụng rộng rãi, dễ hiểu dễ sử dụng trong tính toán; thời điểm
XĐGTDN theo các phương pháp khác phải là thời điểm kết thúc quý hoặc năm
gần nhất với thời điểm có quyết định CPH.
2.2.3.2. Quy định của Nghị định 69/2014/NĐ-CP
Theo quy định gần đây nhất của NĐ 69/2014/NĐ-CP quy định về mô hình
Tập đoàn, Tổng công ty theo phạm vi điều chỉnh về thành lập, tổ chức lại, chấm dứt
hoạt động dưới hình thức Tập đoàn kinh tế NN, Tổng công ty NN, có quy định cụ thể
về sự phân cấp của Tập đoàn và Tổng công ty thống nhất không quá 3 cấp để sự
quản lý tránh sự chồng chéo, phức tạp trong xử lý. Tuy nhiên để có được mô hình
quản lý khoa học như vậy vẫn cần phải TCT lại các DN mà cơ bản là phải CPH các
71
DN mà NN không cần nắm giữ 100% vốn điều lệ sao cho phù hợp với mô hình của
một Tập đoàn, Tổng công ty theo xu thế thị trường.
Ngoài ra, trong Nghị định số 71/2013/NĐ - CP ngày 11 tháng 7 năm 2013 về
đầu tư vốn NN vào DN và quản lý tài chính đối với DN do NN nắm giữ 100% vốn
điều lệ có quy định: Tại điều 28: Đánh giá lại TS, cụ thể tại mục 1.b quy định về việc
"Thực hiện chuyển đổi sở hữu DN: CPH, bán hoặc chuyển đổi sở hữu DN theo các
hình thức khác". Và Mục 2 quy định về việc đánh giá lại TS phải theo đúng các quy
định của NN. Các khoản chênh lệch tăng hoặc giảm giá trị do đánh giá lại TS quy
định tại khoản 1 điều này thực hiện theo quy định đối với từng trường hợp cụ thể.
2.3. Thực trạng kế toán ĐGDN khi tái cấu trúc DNNN Việt Nam.
2.3.1. Những nhân tố ảnh hưởng tới kế toán định giá DNNN Việt Nam.
Tập đoàn, Tổng công ty NN hiện tại là tập đoàn, tổng công ty đa ngành "Công
nghiệp-Thương mại-Tài chính" vì thế chế độ kế toán áp dụng cho các đơn vị là khác
nhau, tuy nhiên với khuôn khổ của đề tài tác giả chỉ tập trung nghiên cứu vào các DN
SXKD. Theo phiếu khảo sát Phụ lục 2.2a lựa chọn được 137 đơn vị Sản xuất công
nghiệp và Kinh doanh Thương mại dịch vụ thuộc NN quản lý) chứ không phân tích
và trình bày tình hình của các DN kinh doanh trong lĩnh vực tài chính.
Đối với loại hình DN, từng ngành và lĩnh vực kinh doanh thì việc vận dụng và
áp dụng chính sách kế toán đã ban hành sao cho phù hợp với đơn vị mình của các
đơn vị kế toán có thể không đồng nhất. Ngoài những yếu tố trực tiếp làm ảnh hưởng
tới chất lượng, thời gian và quy trình công tác KTĐG như đã trình bày ở phần trên,
còn có những yếu tố gián tiếp ảnh hưởng tới các bước thực hiện công tác kế toán
ĐGDN như: việc vận dụng bộ máy kế toán, việc tổ chức hệ thống sổ sách kế toán,
việc kiểm tra kế toán, tổ chức lập và phân tích báo cáo kế toán và tổ chức trang bị,
ứng dụng các phương tiện kỹ thuật xử lý thông tin... (chi tiết phụ lục 2.2)
2.3.1.1. Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh của DNNN khi TCT.
Trong môi trường kinh doanh, DNNN cũng chịu rất nhiếu sự tác động từ các
yếu tố thuộc môi trường này. Việt nam là nước có môi trường chính trị ổn định giúp
cho các DN ổn định trong kinh doanh, đây là một yếu tố có ảnh hưởng tốt tới
DN.Trong một môi trường kinh doanh có áp dụng từ kỹ thuật, công nghệ tiên tiến
như hiện nay giúp DN rất nhiều trong thực hiện công tác kế toán thực hiện nhanh
72
chóng và thuận tiện, việc thực hiện kiểm kê, đối chiếu công nợ không bị kéo dài do
phương tiện đi lại thuận tiện.
Các DN Việt Nam hiện nay đang trong tình trạng nợ xấu quá nhiều, nhiều DN
làm ăn thua lỗ, thị trường cổ phiếu đóng băng, tốc độ tăng trưởng của các DN không
ổn định... nên ảnh hưởng không tốt cho việc thực hiện XĐGTDN. Các DNNN thuộc
vốn CSH là Nhà nước nên sự tác động về các quy định, chính sách có liên quan của
NN đặc biệt là các quy định về ĐGDN không đồng nhất giữa các DN khi tiến hành
CPH. Trong các thời kỳ, có những DN thực hiện theo NĐ64 năm 2002 nhưng cũng có DN lại thực hiện theo NĐ187 năm 2004 cũng có DN lại thực hiện NĐ1093năm
2007 hoặc NĐ 59/2011/NĐ-CP và được bổ sung bởi NĐ 189 năm 2014), các DN khi
CPH không được thực hiện nhất quán các chính sách về tài chính kế toán do từ năm
2002 đến năm 2014 chỉ hơn 10 năm mà có 5 NĐ hướng dẫn DNNN khi CPH, sự
thay đổi liên tục trong các NĐ trong các năm qua gây khó khăn cho không ít DN
CPH mà còn gây khó khăn cho các cơ quan có NN có liên quan. Các thông tư hướng
dẫn các nghị định thường không kip thời. Có những DN trong quá trình CPH bị kẹt
giữa các quy định nên làm kéo dài quá trình CPH vì nên gây nhiều trở ngại và vướng
mắc cho kế toán định giá DN.Ngoài ra, còn có một số thông tư hướng dẫn xử lý về
tài chính làm ảnh hưởng tới quá trình TCT như:
Theo chỉ thị số 20/1998/CT-TTg ngày 21/4/1998 của Thủ tướng Chính phủ về
đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới DNNN; Bộ Tài chính hướng dẫn việc bàn giao, tiếp
nhận, xử lý các tồn tại về tài chính của DNNN khi sáp nhập, hợp nhất. Bộ Tài chính
hướng dẫn việc bàn giao, tiếp nhận, xử lý các tồn tại về tài chính của DNNN khi sáp
nhập, hợp nhất. Nghị định số 38/CP ngày 28 tháng 4 năm 1997 của Chính phủ ra đời
về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 50/1996/NĐ-CP ngày 28 tháng 8
năm 1996 của Chính phủ. Toàn bộ những quy định và hướng dẫn đó hoặc là đã quá
cũ hoặc là đã hết hiệu lực, hiện tại chưa có thông tư bổ sung. Để hạn chế rủi ro này,
các DN phải cập nhật các quy định mới của pháp luật, từ đó xây dựng chiến lược, kế
hoạch phát triển SXKD phù hợp cho từng thời kỳ. Những quy định của Chính phủ,
của ngành cũng là những yếu tố ảnh hưởng cơ bản làm tác động trực tiếp đến công
tác kế toán ĐGDN vì khi có sự thay đổi về những quy định của Chính phủ về những 3 NĐ64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2002. NĐ187/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004. NĐ109/2007/NĐ-CP ngày 11 tháng 2 năm 2007
73
vấn đề liên quan đến TCTDN, về tài chính làm ảnh hưởng rất nhiều tới kết quả của
kế toán ĐGDN.
2.3.1.2. Các yếu tố thuộc nội tại các DNNN khi TCT.
Tài sản hiện có của DNNN thường được đầu tư, mua sắm lớn với nhiều nguồn
khác nhau, có những TSCĐHH được đầu tư và mua sắm, tài trợ từ các nước Đông
Âu, thời kinh tế kế hoạch tập trung nay đã lạc hậu, lỗi thời nhiều TSCĐVH không có
tài sản tương tự để định giá nên rất khó xác định giá trị. Vị trí kinh doanh của các
DNNN thường được ưu tiên đặt ở những vị trí rất thuận tiện và phù hợp cho việc
kinh doanh của DN, nên GTDN sẽ được đánh giá cao. Ngoài ra, các yếu tố về chính
những quy định, chính sách của chính DN và năng lực đội ngũ quản trị làm ảnh
hưởng rất nhiều tới tiến độ và chất lượng quá trình TCT.
Sự ảnh hưởng tổ chức bộ máy kế toán tại các đơn vị trước thời điểm định
giá: Các DNNN trong lộ trình CPH rất đa dạng, có nhiều đặc thù riêng (do tính chất
quản lý và chi phối từ cấp trên): Có những đơn vị có tư cách pháp nhân hạch toán
độc lập nhưng cũng có những đơn vị không có tư cách pháp nhân hạch toán phụ
thuộc nên việc tổ chức công tác kế toán cũng khác nhau. Có DN tổ chức công tác kế
toán theo mô hình tập trung hoặc vừa tập trung vừa phân tán hoặc có đơn vị tổ chức
theo hình thức phân tán sao cho phù hợp với quy mô và phương thức quản lý (Phụ
lục 2.2b câu hỏi 3, 4 ). Có DN thực hiện kế toán thủ công, có đơn vị đã thực hiện kế
toán theo hình thức kế toán máy với mức độ khác nhau, có DN đã thiết lập hệ thống
thông tin kế toán kết hợp với quản lý tổng thể DN và toàn DN thế DN, Tập đoàn,
Tổng công ty. Có những DN triển khai phần mềm kế toán kết hợp với ghi chép thủ
công. Chính vì vậy việc thực hiện công tác kế toán tại các DN, Tập đoàn, Tổng công
ty có khác nhau, nên chất lượng và thời gian thực hiện xử lý thông tin kế toán bị ảnh
hưởng đáng kể.
Ảnh hưởng từ việc lựa chọn năm tài chính tại các đơn vị trước khi định giá:
Theo quy định của Luật kế toán, năm tài chính các DN được phép tự lựa chọn năm
tài chính cho phù hợp với đặc điểm SXKD và tổ chức của DN. Vì vậy, nhiều DN lựa
chọn năm tài chính khác nhau nên khi hợp nhất, sáp nhập các DN không cùng năm
tài chính gặp khó khăn vì cần phải điều chỉnh năm tài chính sao cho đồng nhất một
thời gian khi TCTDN (Chi tiết phụ lục 2.2b câu 3)
74
Những ảnh hưởng từ kỹ thuật công nghệ đến việc xử lý thông tin, ghi sổ kế
toán: Là các DN thuộc Tập đoàn, Tổng công ty đa ngành nên các DN này khó có
thể đồng nhất được việc tổ chức ghi sổ kế toán, các hình thức ghi sổ kế toán thường
khác nhau, việc vận dụng hình thức ghi sổ lại tùy thuộc vào mô hình và đặc điểm
riêng của từng đơn vị. Là các DN phát sinh nhiều nghiệp vụ phức tạp nên công tác
hạch toán kế toán được sử dụng phần mềm kế toán như Effect, Misa, Fast
Accounting..., thuận tiện cho việc ghi nhận, thu thập và xử lý thông tin kế toán để từ
đó lập BCTC theo đúng quy định của Bộ tài chính, công tác kế toán TCTDN thực
hiện dễ dàng và thuận tiện hơn (theo phụ lục 2.2b câu 2). Việc thực hiện công tác
KTĐG khi CPH Công ty mẹ (có các đơn vị phụ thuộc) cũng được cộng ngang theo
phần mềm excel nên công tác kế toán cũng giảm tải và có thể kiểm tra và đối chiếu
được, tuy nhiên cũng không tránh khỏi có sai sót trong những quan hệ công nợ nội
bộ đan xen do máy không thể xử lý hết được.
Việc lập, nộp BCTC cho các đơn vị cấp trên được thực hiện theo đúng quy
định về mẫu biểu, hệ thống BCTC và kỳ lập, nộp BCTC. Theo quy định, các đơn vị
có những loại BCTC và kỳ lập BCTC phù hợp với quy định hiện hành
Công tác kế toán tại thời điểm ĐGDN thường bị ảnh hưởng nhiều do công tác
tổ chức kế toán của đơn vị giai đoạn trước vì hầu như kế toán định giá sử dụng hầu
hết các thông tin của kế toán tài chính và kế toán quản trị của các đơn vị trước đó để
làm cơ sở và nền tảng ghi nhận khi chuyển đổi hình thức sở hữu DN. Cũng tùy thuộc
vào mục đích của việc TCT DN mà có những phương pháp xử lý thông tin kế toán
giai đoạn này có sự khác nhau.
Sự ảnh hưởng của trình độ chuyên môn của người thực hiện công tác kế
toán tại DN: Trình độ chuyên môn của người điều hành, thực hiện công tác kế toán
ĐGDN nói riêng bộ phận kế toán doanh nghiệp nói chung cũng có những ảnh hưởng
rất nhiều đến đến kết quả, chất lượng của công tác kế toán ĐGDN. Theo kết quả tổng
hợp của phiếu khảo sát (phụ lục 2.2b) cho thấy người tham gia thực hiện công tác kế
toán ĐGDN đều có trình độ chuyên môn kế toán, kế toán trưởng là những người có
thâm niên công tác, đa phần có trình độ đại học, trên đại học còn lại số lượng cán bộ
kế toán có trình độ trung cấp và cao đẳng chiếm tỷ lệ rất ít trong số cán bộ kế toán
trong đơn vị, nên đảm bảo việc cập nhật kiến thức và tuân thủ Luật kế toán, chế độ
75
kế toán được áp dụng rất tốt, công tác kế toán tại các đơn vị được lãnh đạo rất quan
tâm. Tuy nhiên, vì công tác KTĐG tại các đơn vị hiện nay là công việc không thường
xuyên, công việc KTĐG chưa được chuyên môn hóa vả lại những thay đổi của chính
sách kế toán nói chung và kế toán định giá nói riêng và những quy định khác của Bộ,
Ban, Ngành áp dụng vào thực tế phức tạp nên không tránh khỏi những sai sót, chất
lượng của công tác kế toán cũng không đảm bảo.
Một số nhân tố khác ảnh hưởng tới chất lượng, tiến độ kế toán định giá
doanh nghiệp khi tái cấu trúc DNNN.
Khi thực hiện khảo sát (Phụ lục 2.2.) các DNNN tiến hành CPH thấy chung
một tình hình là thường sự ảnh hưởng của công tác KTĐG phụ thuộc vào sự tác động
của môi trường bên trong và bên ngoài DN vào các quy định của Chính phủ, Bộ,
Ban, Ngành quản lý các đơn vị kế toán đó, rồi kế đó là ảnh hưởng từ tổ chức định
giá, quyết định về phương thức, ban chỉ đạo chỉ là người duyệt hoặc điều chỉnh rồi
mới duyệt (nếu có) bởi vậy sự ảnh hưởng của việc tính toán, xử lý tài chính, trình
bày các thông tin trong và sau khi hoàn tất đều do bộ phận kế toán DNCPH thực hiện
dựa vào kết quả của định giá và được thực hiện đúng theo các nguyên tắc kế toán
được thừa nhận và áp dụng tại các DNNN Việt Nam, do mô hình quản lý chỉ đạo
trực tiếp các đơn vị này có sự khác nhau dẫn tới ảnh hưởng chất lượng và tiến độ của
công tác kế toán định giá nói riêng công cuộc CPH nói chung.
Qua khảo sát, tại Công ty TNHH một thành viên Đông Trường Sơn. Khi
XĐGTDN, tổ chức định giá đã lựa chọn Phương pháp định giá tài sản nên thời điểm
XĐGTDN là thời điểm kết thúc quý gần nhất tức là 30/09/2011 (sau khi kết thúc quý
III) vì quyết định TCT của UBND tỉnh Quảng Trị là 19/11/2011 về việc sắp xếp, đổi
mới DNNN thuộc tỉnh quản lý và quyết định số 14/ QĐ-UBND ngày 24/03/2012 về
việc thành lập Ban chỉ đạo CPH Công ty TNHH một thành viên Đông Trường Sơn.
Mà kết quả của BCTC tại thời điểm kết thúc quý III (thời điểm giữa năm chưa được
kiểm toán về BCTC) khi CPH. Chính vì thế nên trước khi XĐGTDN đơn vị trúng
thầu là Công ty kiểm toán và Kế toán Hà nội phải tiến hành kiểm toán BCTC từ thời
điểm 01/01/2011 đến 30/09/2011 để phân loại và XĐGT tài sản đang sử dụng và
đồng thời phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn, tính hợp pháp của kết quả định
76
giá. Điều này sẽ làm ảnh hưởng tới tiến độ, thời gian thực hiện và chất lượng của kết
quả định giá.
2.3.2. Thực trạng kế toán định giá khi cổ phần hóa các DNNN.
2.3.2.1. Khái quát về quá trình cổ phần hóa tại các DNNN.
Ở Việt Nam, DNNN được hình thành từ sau Cách mạng Tháng Tám và từng
giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội.Tuy nhiên, bước sang thời
kỳ đổi mới, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, hầu hết các DNNN không những
đã không kịp chuyển mình để đáp ứng được yêu cầu mới đặt ra, mà còn bộc lộ nhiều
yếu kém như: quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ bé, công nghệ sản xuất lạc hậu, trình
độ quản lý non kém; tổ chức, bộ máy cồng kềnh; cơ chế quản lý trong các DN chưa
hợp lý, kém hiệu quả; khả năng cạnh tranh yếu trên thị trường trong nước và quốc tế.
Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều biện pháp sắp
xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN. Trong đó, CPH DNNN được coi là một
giải pháp quan trọng để giảm bớt số lượng DN mà NN không cần nắm, nâng cao
hiệu quả sản xuất, KD của các DN này, tăng cường huy động vốn đầu tư từ xã hội…
Để có cơ cấu thống nhất phân cấp và dễ theo dõi quản lý DNNN, theo nghị
định NĐ 69/2014/NĐ-CP (quy định về mô hình Tập đoàn, Tổng công ty) NN đã đưa
ra biện pháp đẩy mạnh việc TCT nói chung, CPH DNNN nói riêng các Tập đoàn,
Tổng công ty NN. Đây là yêu cầu tất yếu, phù hợp với tiến trình chuyển đổi từ phát
triển kinh tế từ chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu để DNNN thực sự khẳng
định vai trò then chốt của khu vực kinh tế NN, là quá trình tiếp tục của đối mới, sắp
xếp DNNN đồng bộ, gắn với Chiến lược phát triển KT-XH 2011-2020 và Kế hoạch
phát triển KT-XH 5 năm (2011-2015). Năm 2012 được xác định là cột mốc thực hiện
TCT mạnh mẽ trên các lĩnh vực của nền kinh tế mà Chính phủ đã hoạch định mà
theo mục tiêu đã đề ra đó là CPH các Công ty Mẹ của các Tập đoàn và Tổng công
ty. Việc thực hiện CPH tại các Tập đoàn, Tổng công ty đó là việc đẩy nhanh quá
trình CPH Công ty Mẹ và một số công ty TNHH Nhà nước một thành viên trong
diện NN không cần giữ 100% vốn. Giai đoạn CPH cũng có thể kéo dài và cũng phải
kết thúc tại một thời điểm nhất định. Tuy nhiên, công cuộc này còn phải kéo dài bao
nhiêu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Một trong những yếu tố ảnh hưởng tới tiến
trình này chính là kết quả của XĐGTDN.
77
2.3.2.2. Quy trình kế toán ĐGDN khi cổ phần hóa các DNNN.
Như đã phân tích ở phần trước vì thực tế có nhiều DNNN có đơn vị phụ thuộc
hạch toán phụ thuộc (phụ thuộc về cơ chế quản lý và hạch toán kế toán) nhưng cũng
có những đơn vị có đơn vị thành viên phụ thuộc (phụ thuộc về cơ chế quản lý...)
nhưng lại hạch toán độc lập. Chính vì vậy khi thực hiện công tác kế toán định giá tại
các đơn vị này quy trình cũng có khác nhau. Đối với các đơn vị có đơn vị thành viên
phụ thuộc, hạch toán phụ thuộc thì quy trình kế toán thực hiện như đối với một đơn
vị hạch toán độc lập thông thường (vì số liệu của các đơn vị thành viên đã được tổng
hợp lên BCTC cuối mỗi năm tài chính) còn đối với đơn vị có đơn vị thành viên phụ
thuộc nhưng lại hạch toán độc lập thì quy trình thực hiện sẽ phức tạp hơn do phải
thực hiện quy trình định giá tại từng đơn vị thành viên rồi mới hợp cộng được số
liệu. Do vậy, tác giả trình bày thực trạng công tác kế toán ĐGDN theo quy trình mà
các DNNN hiện nay vẫn đang thực hiện khi tiến hành CPH.
a) Quy trình kế toán định giá khi cổ phần hóa tại đơn vị kế toán hạch toán
độc lập hoặc có đơn vị phụ thuộc hạch toán phụ thuộc.
Giai đoạn 1: Kế toán trước khi cổ phần hóa - Thời điểm xác định GTDN tại Công ty Mẹ Tổng công ty Công nghiệp Ô tô Việt Nam (thời điểm 30/06/2013) (Căn cứ NĐ 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011, Thông tư số 202/2011/TT-BTC ngày 30/12/2011......và
các văn bản chỉ đạo CPH khác)
Bước 2 (1); Kiểm kê phân loại tài sản (tại thời điểm định giá) (theo BCTC thời điểm định giá đã kiểm toán)
Bước 3 (1): Xử lý kế toán các phát sinh chênh lệch sau khi xác định GTDN NN tại thời điểm định giá (Theo hướng dẫn thông tư số 202/2011/TT-BTC ngày 30/12/2011 của BTC
Bước 1 Chuẩn bị tài liệu sổ sách kế toán của các năm trước liền kề (3 năm nếu sử dụng phương pháp tài sản, 5 năm nếu sử dụng phương pháp dòng tiền chiết khấu) để làm căn cứ xác định giá trị DN tại thời điểm định giá (Căn cứ NĐ
59/2011/NĐ-CP
ngày 30/6/2013,
189/2014 và các
văn bản chỉ đạo
Bước 3 (2): Xử lý các vấn đề phát sinh chênh lệch theo quyết định điều chỉnh giá trị vốn NN thời điểm định giá (Theo Biên bản XĐGTDN của tổ chức định giá lập vào 2013 )
cổ phần hóa
Bước 2 (2): Phân loại các khoản công nợ, lập bảng kê chi tiết đối với từng loại công nợ tại thời điểm định giá (Theo hướng dẫn thông tư số 202/2011/TT-BTC ngày 30/12/2011 của Bộ Tài chính)
Bước 2 (3) Xử lý tài chính trước khi xác định GTDN. (Xứ lý chênh lệch số liệu kiểm kê với sổ sách kế toán) (Theo hướng dẫn thông tư số 202/2011/ TT-BTC ngày 30/12/201 1 của Bộ Tài chính))
Giai đoạn 2 Kế toán sau khi CPH Bàn giao sổ sách sang cho công ty mới khi có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của công ty cổ phần (bàn giao sổ sách, điều chỉnh chênh lệch và xử lý những phát sinh còn tồn tại sau CPH DN)
khác)
Sơ đồ 2.2- Quy trình kế toán ĐGDN tại Công ty mẹ - Tổng công ty Công nghiệp
Ô tô Việt Nam (Tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2013)
78
Căn cứ các "văn bản quy định chung về XĐGTDN quy định", "Căn cứ các
văn bản chỉ đạo CPH DN","Căn cứ một số văn bản quy định về đánh giá tài sản, xử
lý tài chính, đất đai" và "Căn cứ các hồ sơ tài liệu DN cung cấp"
Có thể khái quát quy trình kế toán ĐGDN tại các công ty TNHH Nhà nước
một thành viên, Công ty thành viên, văn phòng công ty mẹ của Công ty mẹ -
Tổngcông ty và các đơn vị phụ thuộc (hạch toán phụ thuộc), cũng giống như các Tập
đoàn và Tổng Công ty Nhà nước có quyết định theo tiến trình CPH của NN, các DN
thuộc tổng công ty và TĐKTNN nói chung đều tiến hành theo các bước công việc
cơ bản theo Thông tư hướng dẫn của NĐ59 của Chính phủ và TT202 của Bộ tài
chính về CPH DNNN, các bước công việc cụ thể tại các DN Xem sơ đồ 2.2.
b) Quy trình tổng hợp kế toán định giá khi cổ phần hóa tại các đơn vị có đơn vị
phụ thuộc hạch toán độc lập.
Kết quả định giá tại thời điểm 31/12/2011 của các đơn vị thành viên
Văn phòng công ty Mẹ + Công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Viglacera + Công ty Sứ Viglacera Bình Dương
+ Công ty Kính nổi Viglacera + Công ty Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Viglacera
Kết quả định giá tại Công ty Mẹ (sau khi đã tổng hợp số liệu được thể hiện trên Bảng tổng hợp kết quả định giá )
+ Công ty Kinh doanh Bất động sản Viglacera + Công ty Thi công Cơ giới Viglacera
+ Công ty Xây dựng Viglacera + Chi nhánh Văn phòng Tổng Công ty tại Đà Nẵng + Công ty Sen vòi Viglacera
Sơ đồ 2.3: Quy trình tổng hợp KTĐG tại Công ty mẹ -Tổng công ty Viglacera
79
Đối với những DN này, khi tiến hành CPH sẽ tiến hành thực hiện định giá
từng đơn vị thành viên, sau khi có kết quả sẽ đem hợp cộng số liệu để tiến hành định
giá của đơn vị chính. Để có thể hiểu rõ quy trình các bước thực hiện và căn cứ ghi
nhận để xử lý thông tin kế toán giai đoạn định giá tác giả lấy ví dụ việc thực hiện kế
toán CPH tại Công ty Mẹ thuộc Tổng công ty Viglacera.
Tại những đơn vị này BCTC được lập riêng lẻ, vì thế để có thể có được kết
quả định giá để tiến hành CPH công ty mẹ, các đơn vị thành viên hạch toán phụ
thuộc đều làm các bước tương tự như đối với một đơn vị kế toán độc lập. Ngoài ra,
sau khi định giá và xử lý chênh lệch bước 3 xong thì các đơn vị thành viên phụ
thuộc, công ty mẹ tiến hành hợp cộng toàn bộ số liệu của các công ty thành viên hạch
toán phụ thuộc và có khử trùng các bút toán thanh toán nội bộ. Sau đó tiến hành lập
BCTC sau khi đã điều chỉnh sổ sách và ĐGDN. Căn cứ số liệu đã được định giá từ
các Công ty thành viên, quy trình tổng hợp tổng quát định giá sẽ được thể hiện khái
quát (ví dụ tại Công ty Mẹ - Tổng công ty Viglacera - theo Sơ đồ 2.3)
Theo phương pháp hợp cộng sẽ tổng hợp lại toàn bộ tài sản nguồn vốn theo
quy trình từ số liệu tập hợp được từ các bảng kiểm kê, đối chiếu công nợ...chi tiết của
từng đơn vị và kết quả đánh giá sau kiểm kê, xử lý chênh lệch trước thời điểm định
giá, định giá lại tài sản và xác định chênh lệch theo phương thức hợp cộng từ bảng
chi tiết phân loại tài sản của từng đơn vị thành viên. Các bước thực hiện công tác
tổng hợp số liệu từ các đơn vị thành viên được thực hiện cụ thể tại sơ đồ 2.4
Bước 2
Khử các nghiệp vụ
trùng sau khi hợp Bước 3 Lập BCTC sau khi hợp cộng đã khử trùng cộng (các nghiệp vụ Bước 1 Hợp cộng toàn bộ tài sản, công nợ nguồn vốn....tại thời điểm định giá
thanh toán nội bộ...)
Sơ đồ 2.4: Các bước thực hiện công tác kế toán tổng hợp sau khi định giá các đơn vị
phụ thuộc tại công ty Mẹ - Tổng công ty Viglacera
2.3.2.3. Thực trạng kế toán định giá khi cổ phần hóa DNNN Việt Nam.
Tại các đơn vị khi tiến hành CPH việc tổ chức công tác kế toán cũng là khâu
quan trọng trong việc ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin và làm cơ sở cho việc
80
bán cổ phiếu lần đầu ra bên ngoài dựa trên GTDN đã được định giá.
A. Thu thập, kiểm tra, xử lý thông tin ghi nhận và tài liệu liên quan
Vì kế toán định giá tại thời điểm này thực hiện công việc cơ bản là xử lý
những chênh lệch mà quá trình xác định GTDN phát sinh. Vì vậy, việc thu thập,
kiểm tra thông tin làm căn cứ để tính toán ghi nhận các thông tin phát sinh trong quá
trình thực hiện công tác kế toán này không giống như việc ghi nhận nghiệp vụ kinh
tế phát sinh thông thường mà được ghi nhận tổng hợp bởi các bản tổng hợp chênh
lệch, tại từng bước có những ghi nhận khác nhau. Cụ thể theo sơ đồ 2.2:
Căn cứ để ghi nhận thông tin để có thể xử lý kế toán tại bước 1 đó là BCTC 3
năm trước liền kề trước khi ĐGDN. (Tùy thuộc vào từng thời điểm định giá của từng
DN để xác định, thu thập). Để ghi nhận thông tin tại bước 2 là số liệu được ghi nhận
tại Bảng kiểm kê, XĐGT tài sản, Bảng tổng hợp công nợ phải thu, phải trả và các
Bảng kiểm kê đánh giá tài sản cố định, công cụ dụng cụ, hàng hóa... theo từng loại,
Bảng kiểm kê nợ Phải thu, phải trả, Bảng kiểm kê quỹ tiền mặt, Bảng kiểm kê số dư
tiền gửi ngân hàng, Bảng kiểm kê chi tiết về các tài sản khác và Bảng tổng hợp kiểm
kê tài sản, Bảng tổng hợp kiểm kê nguồn vốn tại cột phản ánh giá trị sổ sách..., nếu
có phát sinh chênh lệch kế toán còn phải lập "Biên bản kiểm kê....." để phản ánh. Kết
quả tổng hợp được ghi nhận tại cột chỉ tiêu "Giá trị sổ sách" trên Bảng kết quả
XĐGTDN tại thời điểm định giá. Thông tin được ghi nhận bước 3 sẽ căn cứ vào
phương pháp tính XĐGTDN được ghi nhận trên Bảng kiểm kê, xác định giá trị tài
sản, Bảng tổng hợp công nợ phải thu, phải trả và các Bảng kiểm kê đánh giá tài sản
cố định (công cụ dụng cụ, hàng hóa) theo từng loại, Bảng kiểm kê nợ Phải thu (phải
trả), Bảng kiểm kê quỹ tiền mặt, Bảng kiểm kê số dư tiền gửi ngân hàng Bảng kiểm
kê chi tiết về các tài sản khác, Bảng tổng hợp kiểm kê nguồn vốn,... tại cột phản ánh
giá trị "Theo đánh giá lại" và tại cột "chênh lệch".
Căn cứ ghi nhận về lợi thế thế kinh doanh- lợi thế vị trí địa lý của đơn vị từ
những chứng từ sổ sách của các đơn vị đã hạch toán, giá trị lợi thế về đất được ghi
nhận về trị giá, kết quả về việc ĐG được thể hiện trên Bảng tính lợi thế kinh doanh
(Có nhiều đơn vị ghi nhận có đơn vị không phản ánh và ghi nhận lại Bảng tính lợi
thế kinh doanh này). Thông tin được ghi nhận trong giai đoạn này để làm căn cứ điều
chỉnh và ghi nhận vào sổ sách của công ty mới là Biên bản xác định DN đã được các
81
cấp kiểm duyệt đó là Kết quả XĐGTDN tại thời điểm định giá.
Bảng cân đối kế toán đã điều chỉnh sau khi XĐGTDN...được ghi nhận tại thời
điểm định giá trước khi được kiểm toán Nhà nước kiểm tra và sau khi kiểm toán nếu
có sai sót điều chỉnh được thể hiện trên quyết định điều chỉnh của Bộ tài chính đối
chiếu với những bản tổng hợp kiểm kê.
B. Sử dụng thông tin, kỹ thuật ghi nhận điều chỉnh các vấn đề phát sinh.
- Vận dụng tài khoản kế toán trong kế toán ĐGDN.
Đối với các DN cổ phần hóa, đều thực hiện theo quy định của luật kế toán và
chuẩn mực kế toán. Cụ thể hơn là thực hiện theo chế độ kế toán hiện hành (QĐ
15/2006/QĐ-BTC và Thông tư 244/2009/TT - BTC). Vì mục đích của CPH là
chuyển vốn tại đơn vị có 100% vốn Nhà nước. Nghiệp vụ phát sinh cùng 1 thời điểm
định giá. Mục đích của việc định giá là xác định phần vốn Nhà nước có tại DN nên
TK sử dụng chủ yếu được sử dụng là TK 411"Nguồn vốn kinh doanh" và các tài
khoản ghi nhận chênh lệch đối ứng như TK 421 " Lãi chưa phân phối", TK 414 "Quỹ
đầu tư phát triển", TK 415 "Quỹ dự phòng tài chính", TK 351 "Quỹ dự phòng trợ
cấp mất việc làm". để ghi nhận nguồn vốn.
Các tài khoản liên quan để điều chỉnh đó là các TK 211(chi tiết đối tượng của
từng loại TS), TK 242: "Chi phí trả trước", TK 1381: " Tài sản thiếu chờ xử lý", TK
1388 "Phải trả, phải nộp khác", TK 131 "Phải thu khách hàng", TK 111 "Tiền mặt",
TK 331 "Phải trả cho người bán", TK 213 "Tài sản cố định vô hình", TK 336 " Phải
trả nội bộ", TK 334 "Phải trả công nhân viên", TK 139 "Dự phòng phải thu khó đòi".
Tuy nhiên không phải đơn vị nào cũng sử dụng các tài khoản này để tổng hợp và
điều chỉnh mà sử dụng điều chỉnh ngay trên BCTC sau khi đã điều chỉnh chứ không
sử dụng tài khoản để tổng hợp và điều chỉnh và ghi nhận lại.
- Kỹ thuật ghi nhận điều chỉnh, xử lý kế toán ĐGDN khi CPH
Tại các DNNN thuộc các Tập đoàn, Tổng Công ty Nhà nước giai đoạn trước
còn tồn lại sau khi đã chuyển đổi từ DNNN sang Công ty TNHH Nhà nước một
thành viên (do không kịp chuyển đổi theo lộ trình CPH giai đoạn trước) chuyển sang
giai đoạn mới tiếp tục chuyển đổi sang công ty cổ phần, trong đó có các Công ty Mẹ
thuộc Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước.
Đối với DNNN thực hiện ĐGDN theo phương pháp tài sản
82
Theo kết quả khảo sát tại phụ lục 2.2.b, các DNNN khi tiến hành CPH
hầu hết thực hiện XĐGTDN theo phương pháp tài sản. nên tác giả chỉ trình bày chủ
yếu thực trạng theo phương pháp này.
Giai đoạn 1: Trước khi cổ phần hóa doanh nghiệp.
Bước 1: Chuẩn bị tài liệu sổ sách KT của 3 năm liền kề trước thời điểm ĐG.
Để chuẩn bị cho việc tiến hành kiểm kê, phân loại tài sản và đối chiếu công nợ
phục vụ cho việc XĐGTDN, kế toán chuẩn bị BCTC, sổ sách có liên quan của 3 năm
trước thời điểm định giá. (Đối với các DN thành viên thuộc Tổng công ty Viglacera
là BCTC 3 năm trước tại thời điểm 31/12/2009, 31/12/2010 và 31/12/2011 để lên
Bảng tổng hợp BCTC 3 năm liền kề các chỉ tiêu: Vốn chủ sở hữu, Quỹ đầu tư phát
triển, Nguồn vốn đầu tư XDCB của các đơn vị thành viên và Công ty Mẹ để làm căn
cứ cho tổ chức định giá xác định Lợi thế kinh doanh. Đối với Tổng công ty Công
nghiệp Ô tô là BCTC 3 năm liền kề được chuẩn bị là 2011, 2012 và báo cáo giữa
niên độ năm 2013).
Thời điểm định giá của các đơn vị có khác nhau do áp dụng tính giá theo năm
tài chính khác nhau dẫn tới thời điểm định giá sẽ thống nhất. Đó cũng chính là thời
điểm khóa sổ kế toán. Tại bước này kế toán chỉ chuẩn bị tài liệu chứ không cần ghi
nhận và hạch toán gì trong bước này. Tuy nhiên, nếu không có bước này thì không
thể tiến hành bước tiếp theo. Nếu có phát sinh kế toán sẽ tổng hợp trên Bảng Kết quả
XĐGTDN.
Bước 2.1: Kiểm kê phân loại tài sản tại thời điểm định giá
(Căn cứ NĐ 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011, Công văn của các Bộ, Ban,
Ngành về việc tiến hành CPH các đơn vị. Có những đơn vị đã và đang tiến hành
CPH thì thực hiện bổ sung theo NĐ 189/2014/NĐ-CP.)
Tại các đơn vị Bộ phận kế toán cùng với Ban CPH các DN thuộc Tổng công
ty Mẹ, tiến hành kiểm kê xác định đúng số lượng và chất lượng của tài sản thực tế
hiện có DN đang quản lý và sử dụng tại thời điểm kiểm kê và phân loại những tài sản
không cần dùng, tài sản ứ đọng chờ thanh lý và đối chiếu công nợ phải thu, phải trả.
Thời điểm định giá tùy thuộc vào đề án đã được phê duyệt VD: Thời điểm
31/12/2011 đối với Tổng công ty Viglacera và tại thời điểm 30/06/2013 của Tổng
công ty Công nghiệp Ô tô....
83
Căn cứ số liệu tập hợp được từ sổ sách kế toán thời điểm định giá của của các
đơn vị phụ thuộc (VD: Tại Công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Viglacera - Chi nhánh
Tổng công ty Viglacera và Công ty mẹ - Tổng công ty Viglacera để có được số liệu
trên sổ sách). Kết quả của hội đồng kiểm kê, phân loại tài sản thực tế DN nắm giữ,
còn sử dụng và không còn sử dụng sẽ làm căn cứ để đánh giá lại tài sản. Đồng thời
đối chiếu, xác nhận và phân loại các khoản công nợ, lập bảng kê chi tiết đối với từng
loại công nợ tại thời điểm định giá. Thực tế hầu như các đơn vị không phát sinh thừa
thiếu tài sản khi kiểm kê chính vì vậy các đơn vị không phải ghi nhận và điều chỉnh
sổ kế toán thời điểm này. Các đơn vị thường có một số Công cụ dụng cụ đã phân bổ
hết vào chi phí nhưng vẫn còn thời gian sử dụng lại không có phương án xử lý tại
thời điểm kiểm kê và quan trọng hơn đó là việc một số DN có đất được giao hoặc
thuê đất của Nhà nước không có đầy đủ giấy tờ chứng minh, khoản trích lập dự
phòng không đầy đủ chứng từ chứng minh khoản phải thu khó đòi, kế toán cũng
không ghi nhận trường hợp này.
Đối chiếu, xác nhận tài khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng tại thời điểm
định giá. Trường hợp này cũng được các đơn vị chuẩn bị trước nên không có phát
sinh chênh lệch nên kế toán không phải ghi nhận.
Bước 2.2. Phân loại các khoản công nợ, lập bảng kê chi tiết đối với từng
loại công nợ
Tại thời điểm này kế toán lập bảng kê chi tiết các khoản công nợ phải thu, phải
trả của từng đối tượng công nợ. Thường thì công việc này chỉ là việc liệt kê từ sổ kế
toán chi tiết nên ít khi có phát sinh chênh lệch tài thời điểm này. Tuy nhiên khi phân
loại công nợ phải thu và thời gian thu nợ, thực hiện theo nguyên tắc thận trọng sẽ
xem xét lại khoản dự phòng phải thu khó đòi.
Bước 2.3. Xử lý điều chỉnh sổ sách trước khi XĐGTDN.
Đây chính là bước "Xử lý tài chính về chênh lệch giữa giá trị sổ sách (GTSS)
và giá trị sau khi xử lý tài chính (XLTC) của các khoản phát sinh trước khi định giá".
Sau khi kiểm kê, đối chiếu toàn bộ số liệu trên sổ sách kế toán với số liệu
kiểm kê của bộ phận kế toán kết hợp với cán bộ định giá của tổ chức định giá các
DN nếu thấy không có phát sinh chênh lệch kiểm kê thì không phải điều chỉnh số
liệu trên sổ kế toán, nếu có số liệu nào đó chênh lệch sẽ phải tìm hiểu nguyên nhân
84
và điều chỉnh sổ sách kế toán. Các đơn vị đều thực hiện đúng theo thông tư
106/2008, chế độ kế toán theo QĐ 15/2006 về xử lý kế toán thời điểm này, nếu có sẽ
căn cứ vào Biên bản kiểm kê và biên bản xử lý tài sản thừa thiếu và ghi nhận tại thời
điểm kiểm kê Đối với tài sản thiếu phát hiện qua kiểm kê, căn cứ vào “Biên bản xử
lý tài sản thừa, thiếu qua kiểm kê”. Thực tế do quá trình kiểm kê không phát sinh
chênh lệch nên kế toán thường không phải điều chỉnh xử lý tại thời điểm này.
- Kế toán điều chỉnh chênh lệch kiểm kê tài sản, hàng hóa, công cụ dụng
cụ.... trước khi định giá:
Như số liệu điều tra đối với các DN đã CPH vì việc thực hiện đã được chuẩn
bị trước nên bước này thường chỉ làm nhiệm vụ phân loại tài sản khi kiểm kê và
không có phát sinh chênh lệch do phát sinh thiếu và thừa tài sản nên cũng không phải
điều chỉnh sổ sách.
- Kế toán điều chỉnh dự phòng
Thực tế, các đơn vị đều có trích lập dự phòng mà trước khi CPH các số dư
trên còn tồn tại: Dự phòng giảm giá CK đầu tư ngắn hạn Dự phòng các khoản phải
thu khó đòi, Dự phòng giảm giá hàng tồn kho, Dự phòng phải thu dài hạn khó đòi,
Dự phòng giảm giá CK đầu tư dài hạn, Dự phòng phải trả ngắn hạn,Tài sản trả trước
ngắn hạn (TS thiếu chờ xử lý), Các khoản phải thu khác, ...Nguyên nhân tăng giảm
là do thực hiện xử lý tài chính theo Điều 17, Điều 19 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP
ngày 18/7/2011 của CP. Kết quả chênh lệch đó được điều chỉnh như sau: (Xem cụ
thể tại phụ lục 2.8a,b)
Căn cứ bảng tổng hợp kiểm kê tài sản, công nợ, tài khoản ngân hàng...Hội
đồng định giá kiểm tra đối chiếu lại chứng từ sổ sách thấy có khoản trích lập dự
phòng nợ phải thu khó đòi theo NĐ 59 Hội đồng định giá tiến hành xử lý tài chính tài
sản (nếu có), mọi chênh lệch phát sinh được điều chỉnh làm tăng hoặc giảm trực tiếp
Vốn đầu tư của chủ sở hữu.
- Đối với số dư bằng tiền của quỹ khen thưởng phúc lợi:
Các đơn vị CPH thực hiện xác định Theo Điều 17 Nghị định số 59/2011/NĐ-
CP của Chính phủ: Số dư bằng tiền của Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, sau khi bù
đắp các khoản đã chi vượt quá chế độ cho người lao động, được chia cho người lao
động đang làm việc ở DN tại thời điểm XĐGTDN theo số năm công
85
tác tại DN CPH.
Nợ TK 353 - Quỹ khen thưởng, phúc lợi/ Có TK 111,112 Giá trị chênh lệch
Nhưng cũng có một số trường hợp đã chi trước cho người lao động khoản khen
thưởng phúc lợi vượt quá quỹ thì các DN đã yêu cầu thu hồi lại về quỹ số cần bù
đắp, ghi:
Nợ TK "Phải thu khác", 334....:thu hồi cá nhân và trừ lương./.. Giá trị chênh lệch
Có TK 353- Quỹ khen thưởng, phúc lợi
Tuy nhiên, tại một số đơn vị lại không phân biệt về xử lý kế toán, tài chính tại
bước 2 (xử lý kế toán trước khi định giá) và 3 (xử lý kế toán sau khi định giá trước
khi chuyển chính thức thành công ty cổ phần) mà đưa nghiệp vụ này vào điều chỉnh
chênh lệch chung sau khi XĐGTDN. Như tại công ty Tư vấn xây dựng công trình
Thủy 1 và Công ty TNHH Cảng Khuyến Lương và một số DN thuộc địa
phươngquản lý...). Tất cả được tổng hợp và lập trên BCTC trước khi định giá.
Bước 3.1. Xử lý kế toán các phát sinh chênh lệch sau khi XĐGTDN. (Phụ lục 2.6)
Căn cứ NĐ 59 và thực hiện theo hướng dẫn và quy định trong thông tư
202/2011/TT - BTC ngày 30/12/2011 của Bộ Tài chính để vận dụng các phương
pháp tính GTDN sao cho phù hợp với DN của mình. Thường các DN thực hiện
ĐGDN theo phương pháp tài sản. Căn cứ từ sổ sách, BCTC, từ kết quả kiểm kê, bộ
phận định giá cùng ban CPH (trong đó có Kế toán trưởng) tiến hành tổ chức xác định
giá trị tài sản của DN có nhu cầu sử dụng (từ bảng phân loại Tài sản của đơn vị
CPH). Bộ phận ĐGDN tiến hành thực hiện xác định tài sản theo hướng dẫn của các
Nghị định, Thông tư của Chính phủ và Bộ tài chính ban hành. Kết quả được tập hợp lại trên Bảng kết quả xác định GTDN4
Kế toán tại thời điểm này hầu như không điều chỉnh sổ sách và ghi nhận
nghiệp vụ lên sổ kế toán để tập hợp, xử lý kế toán. Khi có phát sinh chênh lệch hầu
hết các đơn vị không xử lý và ghi nhận các bút toán chênh lệch giữa giá trị trên sổ kế
toán và giá trị được đánh giá: Với số liệu điều tra tác giả đã phân tích và nhận thấy
100% đơn vị CPH có biện pháp xử lý và ghi sổ sách theo đúng quy định của TT
202/2011 và TT 106/2009 về xử lý tài chính và kế toán mặc dù mỗi đơn vị có cách
trình bày khác nhau.
4 Hồ sơ định giá của Công ty Mẹ - Tổng công ty Viglacera, Hồ sơ định giá của Công ty Mẹ - Tổng công ty Công nghiệp Ô tô.
86
(cid:190) Cụ thể việc xử lý chi tiết từng phát sinh chênh lệch
(1). Xác định và xử lý chênh lệch Tài sản cố định (TSCĐ):
TSCĐHH được xác định tính toán dựa trên số liệu sổ sách và các quy định tại
NĐ 59 căn cứ từ Tỷ lệ chất lượng còn lại của tài sản. Nguyên giá TSCĐ (Đối với
TSCĐ là nhà cửa, vật kiến trúc. TSCĐ là máy móc thiết bị và TSCĐ khác xác định
cho các Tài sản đặc thù không có trên thị trường và những tài sản không có tài sản
tương đương để so sánh.TSCĐ là phương tiện vận tải). Đặc biệt đối với tài sản cố
định vô hình được thực hiện xác định theo nguyên tắc giá gốc (theo giá trị còn lại
trên sổ kế toán thể hiện trong Biên bản XĐGTDN của các đơn vị được thể hiện rõ
điều này và số liệu được đánh giá, chênh lệch phát sinh không ghi nhận trên sổ kế
toán. Theo mô tả thì quá trình này được thực hiện xử lý cho TSCĐ hữu hình: Nhà
cửa, vật kiến trúc, Máy móc, thiết bị, Phương tiện vận tải, Thiết bị, dụng cụ quản lý,
TSCĐ khác, TSCĐ thuê tài chính và TSCĐ vô hình: Quyền sử dụng đất, Phần mềm
kế toán, San nền, Chi phí đền bù...Các trường hợp này nếu phát sinh sẽ được các đơn
vị (vd: Viglacera,....) ghi nhận điều chỉnh.
Nếu tăng ghi: Nợ TK 211, 213, 212.hoặc 242.../ Có TK 412 Ch/lệch tăng
Nếu giảm: Nợ TK 412/Có TK 211, 213, 212... Ch/lệch giảm
Tổng hợp lại sẽ được chuyển chênh lệch điều chỉnh vào 411 trên Bảng tổng
hợp kết quả điều chỉnh. Đối với những tài sản được đánh giá tăng, giảm kế toán ghi
nhận và xử lý trên có mở sổ chi tiết ghi nhận giá trị chênh lệch căn cứ và bảng đánh
giá chi tiết từng tài sản của bộ phận định giá chuyển và căn cứ nguyên giá mới để
trích khấu hao.
(2). Hàng tồn kho gồm nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, thành phẩm và
chi phí sản xuất kinh doanh dở dang. Được các đơn vị thực hiện theo Khoản 4
điều 18 NĐ 59 và thông tư 202/2011, tại một số đơn vị còn kết hợp thực hiện theo
chuẩn mực kế toán số 02 và thực hiện xác định giá trị hàng tồn kho theo nguyên tắc
giá gốc. (như Công ty Mẹ - Tổng công ty Công nghiệp Ô tô), Tổng công ty Mẹ -
Tổng công ty Viglacera...Được xác định theo giá trị ghi sổ nên có thể không phát
sinh chênh lệch, nếu có phát sinh chênh lệch thì không ghi nhận trên sổ kế toán. Tuy
nhiên, theo mô tả toàn bộ chênh lệch đánh giá tăng, giảm chỉ tiêu Hàng tồn kho cụ
thể của các chỉ tiêu: Hàng mua đang đi trên đường (TK151), Nguyên vật liệu tồn kho
87
(TK152), Công cụ, dụng cụ tồn kho (TK153), Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
(TK154), Thành phẩm tồn kho (TK155), Hàng hóa tồn kho (TK156), Hàng gửi đi
bán (TK157). Khi được đánh giá phát sinh các chênh lệch tăng, giảm tài sản thì cũng
được xử lý tăng, giảm trực tiếp nguồn vốn đầu tư của chủ sở hữu ghi:
Nếu tăng ghi: Nợ TK "Hàng tồn kho"/ Có TK 412 Chênh lệch tăng
Nếu giảm: Nợ TK 412 /Có TK "Hàng tồn kho" Chênh lệch giảm
Tổng hợp ghi chuyển chênh lệch 412 tập hợp được chuyển sang 411. Tuy
nhiên nhiều đơn vị không xử lý các bút toán này trên sổ chi tiết mà chỉ tổng hợp trên
bảng tổng hợp điều chỉnh, đồng thời căn cứ vào số liệu được đánh giá từ Bảng tổng
hợp, chi tiết đánh giá lại của từng loại hàng tồn kho, từng loại, từng thứ hàng hóa,
sản phẩm, nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ được phản ánh giá trị chênh lệch và ghi
nhận giá trị mới theo đánh giá. Tuy nhiên vì nếu ghi nhận và mở sổ để điều chỉnh
thường sẽ mất thời gian, khối lượng công việc nhiều nên nhiều đơn vị không mở sổ
điều chỉnh mà chỉ điều chỉnh tổng hợp trên Bảng cân đối kế toán và căn cứ giá trị đã
đánh giá để làm căn cứ mở sổ kế toán cho đơn vị mới khi được chuyển đổi.
(3). Đối với tài sản bằng tiền: Tiền mặt được xác định theo biên bản kiểm
quỹ, Tiền gửi được xác định theo số dư đã đối chiếu xác nhận với ngân hàng nơi DN
mở tài khoản. Các giấy tờ có giá được xác định theo giá giao dịch trên thị trường.
Nếu không có giao dịch thì xác định theo mệnh giá của giấy tờ đó. Giá trị chênh lệch
nếu có phát sinh không ghi nhận trên sổ kế toán. Vì thực tế tại các đơn vị khi kiểm kê
đối chiếu để xử lý trước khi định giá thường không có phát sinh chênh lệch phải điều
chỉnh nên bút toán này tại thời điểm này đối với các khoản mục tiền là đồng tiền ghi
sổ (đồng tiền Việt nam).
Đối với chênh lệch tăng hoặc giảm chỉ tiêu Tiền trong giai đoạn này thường
do nguyên nhân đánh giá lại khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, tại thời điểm tính giá
do Ngân hàng thương mại công bố (chi tiết tại Phụ lục số 16 - Hồ sơ XĐGTDN
Công ty Mẹ Viglacera....)
Nợ TK "Tiền"/ Có TK 411 - Nguồn vốn kinh doanh Chênh lệch tỷ giá hối đoái
(Bỏ qua 413(4132)). Hoặc có sẽ điều chỉnh giảm bút toán thể hiện giá trị ngược lại
(4). Với các khoản phải thu: Phải thu khách hàng, Trả trước cho người bán,
Phải thu nội bộ, Phải thu khác thể hiện trên Bảng cân đối kế toán và sổ kế toán của
88
các đơn vị tại thời điểm ngày định giá. Số liệu được đánh giá căn cứ vào hồ sơ xác
nhận công nợ, trích lập dự phòng ... Khoản chênh lệch thường phát sinh do các
khoản trích lập dự phòng không được phép xóa sổ và các khoản công nợ chưa đối
chiếu được (theo NĐ 59 không được tính vào GTDN).
Các khoản phải thu ngắn hạn tại các đơn vị CPH chính là: Phải thu của khách
hàng, Trả trước cho người bán, Phải thu nội bộ ngắn hạn, Phải thu theo tiến độ hợp
đồng xây dựng, các khoản phải thu khác. Được xác định theo giá trị ghi sổ (đã đối
chiếu).
Các khoản phải thu dài hạn tại các đơn vị CPH chính là: Phải thu dài hạn của
khách hàng, Vốn KD ở đơn vị trực thuộc, Phải thu nội bộ dài hạn, Phải thu dài hạn
khác. Các khoản nợ phải thu tính vào GTDN được xác định theo số dư thực tế trên sổ
kế toán và sau khi đối chiếu xử lý như quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư số
202/2011/TT-BTC (nếu có chênh lệch nêu rõ giá trị và tỷ lệ về giá trị đã đối chiếu)
nếu có phát sinh giảm được điều chỉnh ghi giảm:
Nợ TK 411/ Có TK "Phải thu" (ngắn hạn, dài Chênh lệch giảm (loại trừ
hạn): vào phần vốn NN)
(5). Tài sản ngắn hạn khác, tài sản dài hạn khác: Tài sản ngắn hạn khác
Trong đó: Công cụ, dụng cụ đã phân bổ 100% giá trị đánh giá lại giá trị TS thường
phát sinh chênh lệch với giá trị ghi sổ vì do đánh giá lại công cụ dụng cụ đã phân bổ
100% giá trị nhưng DN vẫn đang còn sử dụng và công cụ, dụng cụ còn giá trị.
Tài sản dài hạn khác mà trong đó là: giá trị lợi thế kinh doanh của DN, giá trị
thương hiệu, tiềm năng phát triển Công ty mẹ Chi phí công cụ dụng cụ chờ phân bổ
tăng do đánh giá lại theo nguyên tắc không thấp hơn 20% giá trị tài sản, công cụ,
dụng cụ mua mới. (như giá trị lợi thế kinh doanh tính vào GTDN cổ phần hoá là
309.267.621.840 đồng với viglacera)
Đối với khoản tạm ứng, tài sản ký cược, ký quỹ ngắn hạn và dài hạn: xác định
theo nguyên tắc xác định như khoản nợ phải thu. Tổng Công ty có trách nhiệm tiếp
tục đối chiếu các khoản tạm ứng, ký cược, ký quỹ và điều chỉnh các khoản chênh
lệch (nếu có) trước khi Tổng Công ty chính thức chuyển sang hoạt động dưới hình
thức Tổng Công ty cổ phần. Điều chỉnh KT giống như các khoản công nợ phải thu.
(6). Đối với các khoản chi phí dở dang về SXKD, đầu tư xây dựng cơ bản,
89
chi phí dở dang liên quan đến đền bù, giải toả, san lấp mặt bằng và giá trị quyền sử
dụng đất được đánh giá. Chi phí XDCB dở dang được xác định theo giá trị thực tế
phát sinh đang hạch toán trên sổ kế toán theo quy định tại Nghị định số 59/2007/NĐ-
CP của Chính phủ và Thông tư số 202/2011/TT-BTC ngày 30/12/2011 của Bộ Tài
chính. Cơ bản cũng xác định theo nguyên tắc giá gốc, việc ghi nhận cũng không
phản ánh trên sổ KT. Chi phí XDCB dở dang được thực hiện với mục đích:
Xây dựng cơ bản dở dang, Mua sắm TSCĐ, Sửa chữa lớn TSCĐ thường
chênh lệch tăng, phát sinh do đánh giá lại tiền sử dụng đất đã nộp của các dự án. Nếu
có phát sinh các đơn vị hạch toán ghi tăng (giảm) chi phí XDCB dở dang và
tăng(giảm) chênh lệch đánh giá lại tài sản.
(7). Đối với bất động sản đầu tư: Bất động sản đầu tư đang hạch toán trên sổ
sách của Công ty thường gồm quyền sử dụng đất; nhà xưởng; nhà văn phòng; các chi
phí đền bù, san lấp… tương ứng với diện tích đã cho thuê hạ tầng, được các đơn vị
ghi nhận theo nguyên giá, hao mòn lũy kế và giá trị còn lại được xác định là giá trị
được đánh giá. Chỉ đánh giá lại những tài sản mà công ty cổ phần tiếp tục sử dụng và
đảm bảo tính thận trọng khi XĐGTDN nên Tổ chức tư vấn định giá đánh giá lại
quyền sử dụng đất; nhà xưởng; nhà văn phòng theo nguyên tắc như TSCĐHH, chi
phí san lấp đánh giá lại nguyên giá theo chỉ số giá xây dựng công trình theo loại công
trình trong Bảng tổng hợp kinh phí trong hồ sơ quyết toán.
Bất động sản đầu tư: Quyền sử dụng đất, Nhà và quyền sử dụng đất, Cơ sở hạ
tầng cũng thường được đánh giá tăng so với giá trị ghi sổ. Phần chênh lệch tăng là do
Đánh giá lại nguyên giá và tỷ lệ % còn lại của nhà xưởng vật kiến trúc cho thuê về
Nhà xưởng và nhà văn phòng cho thuê và Đánh giá lại nguyên giá chi phí san nền
ứng với phần diện tích hạ tầng đã cho thuê đang hạch toán trên sổ sách theo chỉ số
giá của Bộ Xây dựng công bố về Cơ sở hạ tầng mà công ty thành viên hạch toán phụ
thuộc công ty mẹ đang nắm giữ (như: Công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Viglacera
Công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Viglacera, Công ty Thi công cơ giới và Công ty
Xây dựng Viglacera tại Mễ Trì và các Khu công nghiệp - Đối với Công ty Mẹ của
Tổng công ty Viglacera) Hay của chính các đơn vị CPH (là những đơn vị độc lập)...
Khi xử lý giá trị chênh lệch cũng được ghi nhận tăng tài sản và tăng Chênh lệch đánh
giá lại tài sản hoặc ngược lại.
90
(8). Đối với các khoản dự phòng, lỗ và lãi:
Các khoản dự phòng, lỗ và lãi được xử lý theo Điều 17 Nghị định số
59/2011/NĐ-CP của Chính phủ: Các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất
các khoản đầu tư tài chính, nợ phải thu khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hóa,
công trình xây lắp; khoản chênh lệch tỷ giá được sử dụng để bù đắp các tổn thất theo
quy định hiện hành, số còn lại tính vào giá trị phần vốn Nhà nước tại DN CPH. Các
bút toán xử lý của một số đơn vị được thể hiện giống như hạch toán tại bước 2 về xử
lý tài chính trước khi XĐGT theo quy định tại TT 202/2011 (nếu số dư của các
khoản dự phòng trước khi định giá chưa được xử lý)
(9). Nợ phải trả:
Nợ ngắn hạn: Vay và nợ ngắn hạn, Phải trả người bán, Người mua trả tiền
trước, Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước, Phải trả người lao động, Chi phí phải
trả, Phải trả nội bộ, Phải trả theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng, Các khoản
phải trả, phải nộp ngắn hạn khác.
Nợ dài hạn: Phải trả dài hạn người bán, Phải trả dài hạn nội bộ, Phải trả dài
hạn khác, Vay và nợ dài hạn, Thuế thu nhập hoãn lại phải trả:
Nếu có chênh lệch, giá trị và tỷ lệ về giá trị đã đối chiếu thường sẽ làm giá trị
ghi giảm là các khoản công nợ điều chỉnh. Đối với các khoản nợ phải trả, không phải
thanh toán mà được hạch toán tăng vốn Nhà nước theo quy định của TT 106/2009
(10). Đối với giá trị lợi thế kinh doanh:
Giá trị lợi thế kinh doanh tính vào GTDN cổ phần hoá theo qui định tại Điều
32 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP của Chính phủ và Điều 18 Thông tư số
202/2011/TT-BTC ngày 30/12/2011 của Bộ Tài chính gồm giá trị thương hiệu, tiềm
năng phát triển được được các đơn vị áp dụng và thực hiện xác định như sau:
(a) Giá trị lợi thế kinh doanh tính vào GTDN CPH là giá trị thương hiệu
được xác định trên cơ sở các chi phí thực tế cho việc tạo dựng và bảo vệ nhãn hiệu,
tên thương mại trong quá trình hoạt động của DN trước thời điểm XĐGTDN. Các
Công ty Mẹ - thuộc tổng công ty có ghi nhận và thống kê toàn bộ chi phí về việc duy
trì và phát triển Nhãn hiệu từ khi thành lập đến thời điểm định giá với nhiều chương
trình quảng bá, tham gia các hoạt động xã hội, tham gia hội thảo, hội chợ, hội nghị
khách hàng,... Đối với Viglacera Giá trị thương hiệu được Tổng công ty Viglacera
91
thống nhất tập hợp, thống kê chi tiết theo từng năm tất cả các khoản chi bằng tiền tại
các đơn vị trực tiếp phát sinh, chưa tính đến phần doanh thu, chi phí do Hợp đồng Li-
xăng Nhãn hiệu hàng hóa giữa Tổng công ty với các đơn vị phụ thuộc và các Công ty
con, công ty liên kết. (Ví dụ: Tại Công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Viglacera, Tổ
chức tư vấn định giá tạm ghi nhận số liệu chi phí thống kê bằng tiền hạch toán vào sổ
sách đơn vị do đơn vị thống kê từng năm theo nguyên tắc trên. (Phụ lục 2.5))
Tại Công ty Mẹ - Tổng công ty Công nghiệp ô tô ghi nhận số liệu chi phí
thống kê của Công ty mẹ -Tổng Công ty Công nghiệp Ô tô Việt Nam các chi phí
thành lập DN, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí quảng cáo phát sinh trước khi thành
lập DN, chi phí quảng cáo, tuyên truyền trong và ngoài nước để quảng bá, giới thiệu
sản phẩm, giới thiệu công ty, xây dựng trang Web, theo BCTC và các hồ sơ chứng
từ. Tổng chi phí Công ty mẹ -Tổng Công ty Công nghiệp Ô tô Việt Nam tập hợp
được là 5.208.825.979 đồng. (Số liệu này không có chứng từ kèm theo mà chỉ là các
chứng từ lưu trữ.) Như vậy, Giá trị thương hiệu được xác định là 5.208.825.979 đồng
không có bản tổng hợp các chi phí này từng năm và được theo dõi trực tiếp trên
BCTC của đơn vị Mẹ (có hạch toán phụ thuộc) hoặc ghi nhận và theo dõi chi tiết tại
các đơn vị thành viên đồng thời vẫn chuyển số tổng hợp tới đơn vị mẹ để ghi nhận
trên BCTC vì vậy có những đơn vị có bản tổng hợp giá trị thương hiệu nhưng có
những đơn vị không lập bản tổng hợp đó.
(b) Giá trị lợi thế kinh doanh tính vào GTDN CPH là tiềm năng phát triển
của DN được đánh giá trên cơ sở khả năng sinh lời của DN trong tương lai khi so
sánh tỷ suất lợi nhuận của DN với lãi suất trái phiếu Chính phủ.
Tại Tổng công ty Viglacera hiện có 9 đơn vị hạch toán phụ thuộc Công ty mẹ
và 1 đơn vị hạch toán độc lập (Trường Cao đẳng nghề Viglacera). Do hàng năm các
đơn vị hạch toán phụ thuộc kết chuyển lãi về Công ty mẹ nên giá trị lợi thế kinh
doanh tính vào GTDN CPH là tiềm năng phát triển của DN được đánh giá trên cơ sở
khả năng sinh lời của DN trong tương lai khi so sánh tỷ suất lợi nhuận của DN với
lãi suất trái phiếu Chính phủ ở Công ty mẹ. Cách tính này đã được Ban chỉ đạo CPH
Tổng công ty Viglacera chấp thuận tại cuộc họp ngày 15/02/2012 tổ chức tại Tập
đoàn Đầu tư và phát triển nhà Việt Nam (HUD). Tổ chức tư vấn định giá tạm không
đánh giá tiềm năng phát triển tại từng đơn vị hạch toán phụ thuộc mà đánh giá giá trị
92
này tại Công ty mẹ. Tại Tổng công ty Công nghiệp Ô tô, khi tính lợi thế về niềm
năng phát triển của DN thực hiện tính toán do tốc độ tăng trưởng kém nên giá trị này
được tính bằng không. Thường thì các đơn vị có tập hợp và tính toán toàn bộ giá trị
thương hiệu của DN theo quy định tại thông tư 202. Tuy nhiên, cách tính của các đơn
vị có khác nhau do hiểu quy định khác nhau nên kết quả cũng khác nhau nhất là căn
cứ vào tỷ suất lợi nhuận để tính toán vì vậy làm ảnh hưởng rất lớn tới giá trị phần
vốn NN có trong DN.
(11). Đối với giá trị vốn đầu tư dài hạn của DNCPH tại các DN khác:
Là các khoản đầu tư vào Công ty con, đầu tư góp vốn liên doanh liên kết và
đầu tư dài hạn khác. Các đơn vị CPH trong giai đoạn này đều thực hiện theo nguyên
tắc quy định tại Điều 33 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP của Chính phủ, giá trị vốn
đầu tư dài hạn của doanh nghiệp cổ phần hóa tại các DN khác được xác định bằng
(=) vốn chủ sở hữu (tương ứng mã chỉ tiêu 400 trên bảng cân đối kế toán) trừ phần
phân phối sang quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ thưởng ban điều hành, chia cổ tức
nhân (x) tỷ lệ góp vốn. Giá trị vốn chủ sở hữu tại các DN được đầu tư lấy theo BCTC
thời điểm định giá, đã hoặc chưa được kiểm toán, trường hợp chưa có lấy theo BCTC
thời điểm trước định giá. Đối với trường hợp giá trị vốn đầu tư dài hạn của đơn vị
CPH tại DN khác được xác định thấp hơn giá trị ghi trên sổ kế toán thì xác định giá
trị vốn đầu tư dài hạn theo giá trị ghi trên sổ kế toán của đơn vị CPH. Đơn vị CPH có
trách nhiệm điều chỉnh bổ sung giá trị khoản đầu tư theo các quy định hiện hành và
phê duyệt của Cơ quan chức năng trước khi chính thức chuyển sang hoạt động dưới
hình thức Tổng Công ty cổ phần.
Đối với trường hợp đầu tư vốn bằng ngoại tệ thì quy đổi thành đồng Việt Nam
theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm định giá. Đối với trường hợp giá trị vốn
góp của đơn vị CPH vào công ty cổ phần đã niêm yết, đăng ký giao dịch trên thị
trường chứng khoán được xác định theo giá đóng cửa của cổ phiếu giao dịch trên thị
trường chứng khoán tại thời điểm gần nhất với thời điểm thực hiện XĐGTDN.
Việc xác định giá trị thực tế phần vốn góp của đơn vị CPH tại công ty con do
Công ty mẹ sở hữu 100% vốn điều lệ theo quy định tại Khoản 3, Điều 33 Nghị định
93
số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về chuyển DN 100% vốn Nhà
nước thành công ty cổ phần:
- Thực hiện XĐGTDN cùng thời điểm đối với đơn vị CPH.
- Đối với những DN mà đơn vị CPH góp vốn, hoạt động SXKD thua lỗ, mất
hết vốn Nhà nước (âm vốn chủ sở hữu) đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép thực
hiện tái cơ cấu tài chính (đã cho quyết định phá sản, giải thể, thực hiện tái cơ cấu tài
chính thông qua mua bán nợ) được tách riêng trước XĐGTDN (theo đề nghị của đơn
vị CPH và sự xét duyệt của cấp trên) vì vậy loại trừ không tính phần vốn góp của
đơn vị CPH tại các đơn vị này tại thời điểm định giá nhưng nếu đến thời điểm
chuyển chính thức thành CTCP mà hoàn thành phương án chuyển đổi theo kế hoạch
đã được duyệt (phá sản, cơ cấu thông qua mua bán nợ) có sự biến động tăng Vốn
Nhà nước của hai đơn vị thì sự biến động tăng đó sẽ được cộng vào Vốn Nhà nước
của đơn vị CPH. (VD: tại Công ty Thương mại và đầu tư GTVT và Công ty Cơ khí ô
tô và Thiết bị điện Đà Nẵng thuộc Công ty Mẹ - Tổng công ty Viglacera -Pluc 2.18).
(12). Đối với giá trị quyền sử dụng đất:
Việc XĐGT quyền sử dụng đất để tính vào GTDN được các đơn vị CPH hiện
nay thực hiện theo quy định tại Điều 31 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP và Điều 18
Thông tư số 202/2011/TT-BTC.
- Trường hợp DN CPH lựa chọn hình thức giao đất (kể cả diện tích đất Nhà
nước đã giao cho DN xây dựng nhà để bán hoặc cho thuê kinh doanh khách sạn, kinh
doanh thương mại dịch vụ; xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho
thuê) thì phải tính giá trị quyền sử dụng đất vào GTDN theo quy định NĐ 59
VD: Đối với Dự án Khu đô thị mới Đặng Xá 2: giá trị quyền sử dụng đất xác
định là 584.230.210.698 đồng theo Quyết định số 5551/QĐ-UBND ngày 28/11/2011
của UBND TP.Hà Nội về việc phê duyệt đơn giá thu tiền sử dụng đất Dự án Khu đô
thị mới Đặng Xá 2, huyện Gia Lâm, Hà Nội do Tổng công ty Viglacera làm chủ đầu
tư. Tuy nhiên, giá đất tạm xác định theo giá đất UBND TP.Hà Nội quy định tại
Quyết định số 50/2011/QĐ-UBND ngày 30/12/2011 về việc ban hành quy định giá
các loại đất trên địa bàn năm 2012 là 591.213.754.987 đồng.
(d) Khoản chênh lệch tăng giữa giá trị quyền sử dụng đất xác định lại quy định tại
điểm b Khoản 2 Điều 31 Nghị định 59 với giá trị đang hạch toán trên sổ sách kế toán
94
(nếu có) được hạch toán tăng vốn Nhà nước tại DN CPH.
Trường hợp tiền thuê đất trả trước đã đủ tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐVH, số
chênh lệch tăng ghi tăng nguồn vốn CSH
Trường hợp giá trị quyền sử dụng đất xác định lại thấp hơn chi phí thực tế về
quyền sử dụng đất đang hạch toán trên sổ kế toán thì tính theo giá DN đang hạch
toán. (lúc này kế toán không phải ghi nhận và điều chỉnh sổ sách)
Trường hợp DN thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất đã được giao thì phải
nộp thêm khoản tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất theo mục đích chuyển đổi
theo quy định của pháp luật về đất đai. Nếu trường hợp này xảy ra: Kế toán toán ghi
nhận tăng TSCĐ vô hình / ghi giảm tiền hoặc công nợ phải trả. Điều này không làm
ảnh hưởng tăng hay giảm nguồn vốn chủ nên KTĐG thường bỏ qua việc giải trình về
bút toán này. Trường hợp DN CPH chọn hình thức thuê đất, đơn vị CPH trước đó đã
được thuê theo hình thức trả tiền hàng năm, đơn vị CPH lựa chọn tiếp tục thuê đất trả
tiền thuê hàng năm, các lô đất này không tính giá trị quyền sử dụng đất vào GTDN.
Nhưng giá trị thuê tạm tính theo các hồ sơ tài liệu về đất của đơn vị CPH được
cung cấp, phương án sử dụng đất sau CPH có thể bị ảnh hưởng bởi ý kiến bằng văn
bản của các cấp có thẩm quyền (của từng trường hợp cụ thể). Trường hợp đến thời
điểm đơn vị CPH chính thức chuyển sang Công ty cổ phần, cơ quan có thẩm quyền
có ý kiến về các phương án và giá đất thì cần điều chỉnh bổ sung (nếu có). Không
tính bổ sung giá trị lợi thế vị trí địa lý khi XĐGTDN.
(cid:190) Tổng hợp các chỉ tiêu chênh lệch tại từng đơn vị sau khi định giá.
Theo cách tính toán đánh giá của tổ chức định giá và kế toán DN mỗi đơn vị
có cách trình bày và thực hiện ghi nhận và lưu trữ khác nhau nên việc tổng hợp và
thực hiện các chỉ tiêu và chênh lệch tăng giảm của các chỉ tiêu này thường được
thống nhất theo mẫu "Bảng Kết quả XĐGTDN" trên Phụ lục 2.7. có những đơn vị
trình bày và giải trình về nội dung tăng giảm của từng phần sau đó là bước tổng hợp
các chỉ tiêu tăng giảm đó như: Tại Công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Viglacera (phụ
lục 18.b). Bút toán định khoản điều chỉnh được trực tiếp điều chỉnh lên BCĐKT tại
thời điểm ĐG. Nếu là các đơn vị không có đơn vị thành viên phụ thuộc hạch toán
độc lập thì kết quả điều chỉnh này sẽ được trình bày trên Hồ sơ định giá.
Kết quả đánh giá được tổng hợp lại trên Bảng Kết quả XĐGTDN thời điểm
95
31/12/2011 tại P/lục 2.3(a,b,c), 2.9 của Công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Viglacera.
Đối với các đơn vị thành viên của Công ty Mẹ - Tổng công ty Viglacera và Văn
phòng Tổng công ty sau khi hoàn tất công việc định giá tại các đơn vị thành viên của
Công ty Mẹ chuyển số liệu tiếp tục xử lý cho Công ty Mẹ - Tổng công ty Viglacera
(cid:190) Tổng hợp và xử lý kế toán các phát sinh chênh lệch tại công ty Mẹ thuộc Tập
đoàn, Tổng công ty Nhà nước.
Các Công ty Mẹ - Tổng công ty, Tập đoàn cũng là một đơn vị kế toán có các
đơn vị thành viên và cũng đã được chuyển đổi thành công ty TNHH 1 thành viên nên
việc tiến hành CPH cũng được tiến hành các bước như đối với các DN hạch toán độc
lập khác. Tuy nhiên, thực tế theo số liệu khảo sát tại Phụ lục 2.2. các Công ty mẹ
thuộc Tập đoàn, Tổng công ty đều có các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc và
các đơn vị này có bộ phận kế toán nhưng vẫn tập trung và lập BCTC vào cuối năm
vào Công ty mẹ, nhưng có một số Công ty mẹ thuộc Tập đoàn, Tổng công ty có các
đơn vị hạch toán phụ thuộc, do tính chất và đặc thù của đơn vị quản lý nên trong quá
trình hạch toán có lập BCTC riêng và đồng thời lập BCTC hợp nhất như Công ty Mẹ
thuộc Tổng công ty Viglacera, hoặc Công ty mẹ thuộc Tập đoàn TKV.
Tại công ty mẹ nếu hạch toán phụ thuộc, BCTC cuối năm chỉ được lập tại
Công ty mẹ, lỗ lãi cũng được mẹ tổng hợp và lập BCTC. Tuy nhiên, như đã trình bày
tại một số Công ty Mẹ mang tích chất đặc thù và chi phối của ngành nên mặc dù các
đơn vị thành viên hạch toán độc lập (theo quy định của luật kế toán về mô hình tổ
chức công tác kế toán) vì có lập BCTC riêng và BCTC hợp nhất (như mô hình mẹ
con) nhưng lại được coi là một đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc vì vậy khi tiến
hành ĐG và xử lý kế toán hợp cộng ngang số liệu kế toán toàn bộ giá trị đã định giá
và giá trị sổ sách của các đơn vị thành viên (phụ lục số 2.7). Sau đó có xử lý khử
trùng số liệu về phải thu và phải trả nội bộ. Cụ thể của con số này không được thể
hiện rõ ràng nhưng trên bảng tổng hợp tại (phụ lục 2.7) cột 6 có bút toán điều chỉnh
nhưng không phản ánh nội dung.
Sau khi hoàn thiện và lập Biên bản XĐGTDN cho Công ty Mẹ và các Công
ty thành viên (có lập BCTC riêng), Công ty Mẹ và công ty thành viên (không lập
BCTC riêng) vào thời điểm định giá. Hội đồng ĐGDN đã thông qua Tập đoàn và
Kiểm toán chuyên ngành 5. Sau đó toàn bộ báo cáo được trình Bộ và Chính phủ.
96
Bước 3.2. Xử lý các vấn đề phát sinh chênh lệch theo quyết định điều chỉnh
giá trị vốn NN và những phát sinh sau ĐGDN.
Trong thời điểm này có nhiều nghiệp vụ phát sinh như thanh lý tài sản không
cần dùng (trong diện thanh lý), những phát sinh về xử lý những mất mát, thiếu hụt,
hỏng hóc trong giai đoạn định giá. Khi phát sinh đã ghi nhận chênh lệch vào thu
nhập, chi phí khác kết quả sẽ là lãi, lỗ. Kết quả sẽ phải được kết chuyển ghi tăng
hoặc giảm vốn CSH. Ngoài ra, sau khi xử lý các phát sinh từ quỹ số dư còn lại được
xử lý ghi tăng và giảm vốn CSH. Đó là cách ghi nhận việc xử lý tại một số đơn vị khi
CPH, tuy nhiên việc thực hiện lại được phản ánh ngay tại thời điểm trước khi chuyển
thành công ty cổ phần. Căn cứ vào biên bản XĐGTDN, Căn cứ quyết định công bố
GTDN của cơ quan có thẩm quyền, DNCPH điều chỉnh số liệu trong sổ kế toán theo
GTDN đã được công bố. Thực hiện chuyển giao tài sản và các khoản nợ phải thu
không tính vào GTDN cho các cơ quan theo quy định tại khoản 2 Điều 14
NĐ59/2011/NĐ-CP khi có quyết định công bố GTDN của cơ quan có thẩm quyền.
Giai đoạn 2: Kế toán sau khi cổ phần hóa.
Sau khi nhận được giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (nay là giấy chứng
nhận đăng ký DN) của công ty cổ phần. Toàn bộ sổ sách đã ghi nhận của công ty
CPH đã được điều chỉnh theo số liệu của định giá chuyển sang bàn giao cho công ty
mới được thành lập. Thực tế các đơn vị sau khi chuyển đổi không phải điều chỉnh bất
cứ một nghiệp vụ phát sinh nào sau khi nhận bàn giao.
C. Kết quả ghi nhận, lưu trữ và cung cấp thông tin của kế toán ĐG khi CPH.
Kết quả cuối cùng của công tác kế toán tài chính nói chung chính là BCTC,
đối với công tác kế toán định giá thì BCTC tại thời điểm định giá cũng chính là
những kết quả được ghi nhận và được lưu giữ trong chính bộ Hồ sơ xác định GTDN
(trước khi CPH) và Hồ sơ bàn giao sang công ty cổ phần (sau khi CPH) ( Phụ lục
số..2.3, 2.6, 2.8) là những Báo cáo bắt buộc trong bộ hồ sơ chuyển đổi. Nhưng nếu
người kiểm tra, nghiên cứu chỉ nhìn vào kết quả thì cũng sẽ thấy rất khó khăn nên tại
một số đơn vị để giúp việc xử lý công khai, rõ ràng hơn khi thực hiện các bút toán xử
lý kế toán đã có bổ sung Bảng tổng hợp bút toán xử lý kế toán (phụ lục 2.16) mặc dù
số DN thực hiện ghi nhận các bút toán này không nhiều chỉ chiếm tỷ lệ 20% trong số
các đơn vị CPH.
97
2.3.3. Thực trạng kế toán định giá khi sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp.
2.3.3.1. Khái quát về thực trạng tình hình sáp nhập, hợp nhất DNNN.
Trong tiến trình TCT DN thì việc hợp nhất, sáp nhập cũng là một trong những
mục tiêu quan trọng nhằm lành mạnh hóa môi trường kinh doanh của DN, tạo đà cho
DN phát triển. Việc sáp nhập, hợp nhất là hoạt động đặc biệt không mang tính chất
hệ thống và cũng không lặp lại trong một đối tượng. Hoạt động này diễn ra chủ yếu
trên thị trường thế giới dưới hình thức mua lại với mục tiêu thôn tính để kiểm soát
công ty con nhưng đối với các DN Việt nam theo tiến trình TCT thì việc hợp nhất,
sáp nhập chỉ mang tính chất tái cơ cấu lại các DN do yếu kém hoặc không hiệu quả.
Công tác kế toán ĐGDN khi hợp nhất, sáp nhập DN khi tiến hành tái cơ cấu DNNN
Việt nam hiện nay không giống như các DN và các Tập đoàn đa quốc gia trên thế
giới, họ chú trọng việc định giá theo giá thị trường và rất quan tâm tới tiềm năng của
các DN trước khi hợp nhất, sáp nhập còn ở các DN Việt nam chỉ quan tâm việc cộng
gộp các các chỉ tiêu tài sản, nguồn vốn của các DN (các đơn vị kế toán lại để ra được
một đơn vị kế toán mới) nhằm thay đổi diện mạo chứ chưa thực sự quan tâm tới hiệu
quả sau tái cấu trúc. Qua quá trình khảo sát và tìm hiểu thông tin từ các nguồn tài
liệu, tác giả lấy mẫu số liệu tại Tập đoàn dầu khí quốc gia, Tổng công ty công nghiệp
xi măng và một số DN địa phương quản lý để thấy rõ công tác kế toán định giá tại
các DN này tại thời điểm định giá, xử lý các bút toán chuyển sang đơn vị mới. Hiện
tại việc sáp nhập thường được là biện pháp xử lý trung gian do không thể thực hiện
các hình thức chuyển đổi sở hữu khác như không thể phá sản hoặc giải thể DN cũng
như CPH DN được do số nợ quá lớn. Thực tế này chỉ được thực hiện trong nội bộ
của Tổng công ty và Tập đoàn. Theo số liệu thu thập và thống kê được từ các phiếu
khảo sát tại các DN (phụ lục 2.2), trong số 137 DN đã khảo sát và thu thập số liệu
trong giai đoạn 2007 đến 2014 có 75 thương vụ hợp nhất, sáp nhập ở các hình thức
khác nhau, trong khi đó hợp nhất 60 thương vụ chiếm 43,8%, sáp nhập 15 thương vụ
chiếm 10,95%, còn lại là các DN CPH.
Việc thực hiện hợp nhất và sáp nhập các đơn vị trong Tập đoàn, Tổng Công ty
NN thực hiện đơn giản hóa so với thực tế thực hiện công tác CPHDN mặc dù tính
phức tạp cũng rất cao do sau khi hoàn tất công việc thì phần vốn NN ở trong DN
không quá bị ảnh hưởng. Chính vì thế tại các DN khi hợp nhất, sáp nhập là những
98
DN làm ăn thua lỗ, yếu kém thường là những DN có quy mô vốn nhỏ (từ 50 tỷ trở
xuống), các DN này không tiến hành ĐGDN mà căn cứ theo số liệu sổ sách, chỉ
những trường hợp sáp nhập, mua lại DN thì Tập đoàn tiến hành căn cứ theo giá trị
thỏa thuận hoặc chỉ định giá trị hoặc một số DN căn cứ theo giá trị của Biên bản định
giá của tổ chức định giá.
Thời điểm định giá Đối với các trường hợp nhất, sáp nhập theo đề án TCT
thường trong nội bộ Tập đoàn, Tổng công ty nên số liệu để hợp nhất thường căn cứ
số liệu từ sổ sách. Vì thế thời điểm này cũng chính là thời điểm để hợp cộng và bàn
giao sổ sách sang đơn vị mới, nếu trường hợp hợp nhất theo phương thức mua lại thì
GTDN được xác định tại thời điểm hai bên có sự thỏa thuận. Tập đoàn chỉ định thì
được xác định thời điểm có quyết định của các cấp có thẩm quyền, khi có bản cam
kết quyết định giá trị theo thỏa thuận. Nếu do Tập đoàn chỉ định giá trị và thông qua
tổ chức định giá thì thời điểm này được xác định theo quyết định của Tập đoàn.
Phương pháp định giá: Phương pháp định giá chỉ thực hiện đối với một số
DN khi tiến hành sáp nhập, mua lại DN và chủ yếu là các DN có quy mô vốn lớn,
trên 50 tỷ. Việc định giá để chuyển đổi hình thức sở hữu tại Tập đoàn, Tổng công ty
chủ yếu là do cấp trên quy định DN tự XĐGT và có những trường hợp đi thuê tổ
chức định giá chuyên nghiệp. Nếu là giá trị do DN tự XĐGT thì kèm theo Biên bản
XĐGTDN là quyết định phê duyệt GTDN của đơn vị được coi là công ty mẹ trong
hợp nhất, sáp nhập. Còn nếu việc XĐGTDN là do tổ chức định giá thực hiện lại căn
cứ vào Biên bản XĐGTDN do tổ chức định giá lập và xác nhận. Thực chất của việc
định giá này chủ yếu dựa vào số liệu sổ sách đối với TSCĐ và ngoài ra theo các quy
định của riêng của các Bộ, Ban, Ngành về vài trường hợp cụ thể như quyền sử dụng
đất... và một số tài sản đặc biệt chứ không xác định lại theo giá thị trường....
Các thương vụ sáp nhập theo sự sắp xếp và chỉ định của Tập đoàn thì ngoài
các BCTC cần phải có quyết định phê duyệt của Tập đoàn, hợp đồng chuyển
nhượng giữa các bên, biên bản kiểm kê tài sản. Ngoài ra đối với các công ty có niêm
yết trên thị trường chứng khoán thì khi hợp nhất DN còn phải có thêm các tài liệu
sau như: Nghị quyết, biên bản họp đại hội cổ đông, bản công bố thông tin.... và
những vấn đề liên quan đến thương vụ hợp nhất đó.
Phương pháp XĐGTDN đơn vị thực hiện trong trường hợp thông qua tổ chức
99
định giá (của đơn vị tự tổ chức, thuê ngoài). Phương pháp này được thực hiện chủ
yếu theo 2 phương pháp đó là phương pháp TS và phương pháp DCF. Phương DCF
được thực hiện để tính chi tiết giá cổ phiếu của công ty con để từ đó làm cơ sở để xác
định tỷ lệ chuyển đổi cổ phiếu giữa công ty mẹ và công ty con trong trường hợp sáp
nhập thông qua hoán đổi cổ phiếu.
hương thức hợp nhất, sáp nhập tại các đơn vị trong TĐ, TCT thường là hợp
cộng, số liệu để hợp cộng căn cứ chủ yếu từ số liệu trên sổ sách và BCTC tại thời
điểm hợp nhất, sáp nhập cũng có trường hợp được căn cứ trên biên bản XĐGTDN
của tổ chức định giá độc lập hoặc của đơn vị tự thành lập cũng có những trường hơp
lại được căn cứ vào giá do TĐ, TCT chỉ định. Tuy nhiên việc làm này vẫn mang tính
chất hình thức chứ chưa thực sự chú trọng tới việc XĐGTDN theo thông lệ của thị
trường. Qua khảo sát thực tế các đơn vị tại Tập đoàn và các Tổng công ty số liệu về
các DN đã tham gia được tổng hợp theo bảng 2.3
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp kết quả đơn vị XĐGTDN khi sáp nhập, hợp nhất
Tổng cộng Căn Giá ghi sổ Theo thỏa Theo kết quả định giá
cứ xác định thuận hoặc tập Phương Phương pháp
GTDN đoàn chỉ định pháp tài sản DPF
SL TL (%) SL TL (%) SL TL (%) SL T L (%) SL TL (%)
Hợp nhất 35 58 21 35 3 5 1 2 60 100
Sáp nhập 9 60 2 13 2 13 2 13 15 100
Tổng 44 59 23 31 5 7 3 4 75 100
(Nguồn tổng hợp từ Phụ lục số 2.2b- Bảng tổng kết, kết quả khảo sát)
Qua đây cũng thấy rõ trong hợp nhất, sáp nhập DN, GTDN được đánh giá
theo giá trị ghi sổ chủ yếu (chiếm 59%), 31% GTDN theo sự chỉ định của Tập đoàn
hoặc do thỏa thuận, còn lại chỉ có 7% định giá theo phương pháp tài sản, 4% định giá
theo phương pháp DCF. Như vậy, GTDN trước khi chuyển đổi đến khi chuyển sang
đơn vị mới thường là giá trị không thay đổi nhiều vì thường các thương vụ này được
thực hiện trong nội bộ của Tập đoàn, Tổng công ty. Mặc dù không làm ảnh hưởng tới
phần vốn của NN nằm trong DN sau khi thực hiện các thương vụ, nhưng nếu là các
công ty cổ phần uy tín và thương hiệu khác biệt nhau sẽ có giá trị khác nhau chứ
không thể ĐG theo giá trị ghi sổ và giá trị cổ phiếu không thể theo tỷ lệ 1:1.
100
2.3.3.2. Quy trình, thực trạng kế toán định giá khi sáp nhập, hợp nhất.
Theo kết quả khảo sát (Phụ lục 2.2 b), các bước thực hiện KTĐG khi sáp nhập,
Giai đoạn 1: Trước khi sáp nhập, hợp nhất
Sổ sách, BCTC cuả Đơn vị nhận sáp nhập, hợp nhất sau kiểm kê
BCTC sau khi hợp cộng (Ban chỉ đạo của Tập đoàn phê duyệt )
Sổ sách, BCTC của Đơn vị bị sáp nhập, hợp nhất sau kiểm kê
Xử lý chênh lệch, vướng mắc (nếu có)
Giai đoạn 2 Sau khi sáp nhập, hợp nhất Hoàn thiện Sổ sách, BCTC sau khi sáp nhập, hợp nhất bàn giao sang cho đơn vị mới - Nếu là hợp nhất: Giải thể các đơn vị hợp nhất, Đăng ký và thành lập DN mới. - Nếu là sáp nhập: Giải thể đơn vị bị sáp nhập, chuyển TS, NV của đơn vị bị sáp nhập vào đơn vị nhận sáp nhập
Sơ đồ 2.5: Quy trình cơ bản kế toán sáp nhập, hợp nhất DN (không ĐGDN)
hợp nhất DN thường không đồng nhất và không quan tâm, chú trọng vào quy trình và
các bước thực hiện, nhưng qua nghiên cứu các hồ sơ chuyển đổi sở hữu, tổng hợp lại
từ một số DNNN về cơ bản quy trình này cũng được trải qua 3 giai đoạn nhưng đối
với từng trường hợp cụ thể quy trình này có thể lại được rút ngắn tùy thuộc vào quy
mô và tính phức tạp của từng đơn vị, theo sơ đồ 2.5 và 2.6
Giai đoạn 1: Trước khi sáp nhập, hợp nhất
Bước 2.(1 ) Kiểm kê phân loại tài sản, đối chiếu phân loại công nợ Trước khi định giá để SN,HN
Bước 1 1. Khóa sổ, chuẩn bị hoặc lập BCTC tại thời điểm định giá 2. Chuyển đổi BCTC
Bước 4 Hợp cộng số liệu từ đơn vị bị sáp nhập, hợp nhất vào đơn vị nhận sáp nhập, hợp nhất lập BCTC sau sáp nhập, hợp nhất
Bước 3.1: Xử lý kế toán những chênh lệch phát sinh sau khi ĐGDN. (Hoặc) không thuê tổ chức ĐG mà sử dụng ngay theo giá mua thì căn cứ vào giá trị ghi sổ (phần chênh lệch giữa giá trị ghi sổ và giá mua của từng đơn vị bị sáp nhập, hợp nhất phản ánh vào LTTM)
Bước 2.(2) Xử lý chênh lệch phát sinh khi kiểm kê
Giai đoạn 2 Sau sáp nhập, hợp nhất - Điều chỉnh sai sót nếu có trong định giá, - Giải thể đơn vị bị sáp nhập,giữ lại đơn vị nhận sáp nhập - Giải thể đơn vị hợp nhất, thành lập đơn vị kế toán mới
Sơ đồ 2.6: Quy trình cơ bản của kế toán định giá khi sáp nhập hợp nhất tại từng đơn
vị sáp nhập, hợp nhất
A. Chuẩn bị tài liệu thu thập, kiểm tra xử lý thông tin phục vụ cho kế
toán ĐGDN khi sáp nhập, hợp nhất
Việc chuẩn bị sổ sách, BCTC của các đơn vị tham gia hợp nhất, sáp nhập là
căn cứ cơ bản để thực hiện việc chuyển đổi hình thức sở hữu tại các DNNN. Các
BCTC được sử dụng phải là BCTC đã được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán đủ
101
điều kiện cung cấp dịch vụ kiểm toán do ủy ban chứng khoán chấp thuận hàng năm.
Còn các DN khác thì BCTC được sử dụng trong quá trình định giá để hợp nhất, sáp
nhập là BCTC đã được kiểm toán theo quy định của pháp luật. Vì còn liên quan tới
việc quản lý tài sản, nguồn vốn sau này nên toàn bộ sổ chi tiết của các tài khoản về
tài sản (nhất là tài sản cố định) và công nợ phải thu, phải trả sẽ được sử dụng để đánh
giá, kiểm tra lại trước khi sáp nhập, hợp nhất. Ngoài ra sổ KT tổng hợp, chi tiết các
năm liền kề cũng rất quan trọng trong việc XĐGTDN và chuyển giao sang công ty
mới. Để có thể xác định, phân loại được tài sản của DN, DN trước khi hợp nhất, sáp
nhập DN, các đơn vị hợp nhất, bị hợp nhất và các đơn vị bị sáp nhập tiến hành kiểm
kê, phân loại tài sản để tiến hành xử lý những chênh lệch giữa số liệu kiểm kê và sổ
kế toán để làm căn cứ XĐGTDN trước khi hợp nhất, sáp nhập.
B. Sử dụng thông tin, kỹ thuật ghi nhận điều chỉnh các vấn đề phát sinh.
Đối với kế toán định giá khi hợp nhất DN và sáp nhập được thực hiện đơn
giản bởi vì việc XĐGTDN chủ yếu theo giá trị ghi sổ được căn cứ theo 3 phương
thức như đã trình bày ở trên. Chính vì vậy việc thực hiện các thương vụ hợp nhất và
sáp nhập các DNNN thường rất đơn giản sự phức tạp của các trường hợp này thường
đã bỏ qua do không được đánh giá lại GTDN.
Giai đoạn 1: Trước thời điểm sáp nhập, hợp nhất.
Bước (1): Khóa sổ, chuẩn bị hoặc lập BCTC tại thời điểm định giá
Để chuẩn bị cho việc tiến hành định giá, kế toán khóa sổ, lập BCTC nếu là
thời điểm không trùng với thời điểm khóa sổ của năm tài chính.
Vì niên độ BCTC của các Công ty có thể khác nhau vì vậy trước khi ĐG để
hợp nhất, sáp nhập và mua lại cần phải thống nhất năm tài chính cùng một thời điểm
cho phù hợp sau khi đã tiến hành kiểm kê tài sản. Đối với BCTCHN của từng Tổng
công ty, các công ty con phải chuyển đổi BCTC thống nhất theo chế độ kế toán. Đối
với BCTCHN của Tập đoàn, các Tổng công ty, công ty thuộc phạm vi hợp nhất trong
Tập đoàn phải áp dụng quyết định 15/2006/QĐ-BTC.
Thời điểm thực hiện chuyển đổi là thời đểm hợp nhất và chỉ có tác dụng để
lập BCTC hợp nhất chứ không ảnh hưởng tới BCTC riêng. Nội dung chuyển đổi chỉ
được thực hiện với BCĐKT chứ chưa áp dụng chuyển đổi đối với Báo cáo KQKD.
Bước 2.(1): Kiểm kê phân loại tài sản, đối chiếu phân loại công nợ trước khi định
102
giá để sáp nhập, hợp nhất.
Để chuẩn bị cho các thương vụ hợp nhất, sáp nhập và mua bán DN. Kế toán
của cả hai bên đều phải tiến hành kiểm kê lại tình hình và hiện trạng tài sản của DN
tại thời điểm tiến hành chuyển đổi hình thức sở hữu. Các bước tiến hành tương tự
như trường hợp CPH.
Bước 2.(2): Xử lý chênh lệch phát sinh khi kiểm kê
Nếu có phát sinh chênh lệch thừa thiếu sẽ được xử lý và điều chỉnh tại thời
điểm kiểm kê theo chế độ kế toán DN (QĐ 15/2006).
Bước (3.1): Xử lý kế toán những chênh lệch phát sinh sau khi ĐGDN
- Định giá DN để tiến hành hợp nhất, sáp nhập DN
Vì thực chất của các thương vụ hợp nhất, sáp nhập DN ít làm ảnh hưởng tới
phần vốn Nhà nước như trường hợp CPH nên GTDN thường được xác định chuyển
giao theo giá trị ghi sổ. Mặt khác, có một số DN lại được phản ánh theo giá thỏa
thuận hoặc theo giá chỉ định của Tập đoàn, Tổng công ty vì thế các nghiệp vụ
XĐGTDN chỉ mang tính chất tương đối, kể cả trường hợp thuê các tổ chức định giá,
công việc cũng không phức tạp như đối với việc định giá cho mục đích CPH DN.
Thường chỉ phát sinh rất ít nghiệp vụ phát sinh chênh lệch và cần phải xử lý.
- Xử lý tài chính, ghi nhận và điều chỉnh các phát sinh trong sáp nhập, HNDN.
Với những DN hợp nhất và sáp nhập theo giá trị ghi sổ:
Căn cứ giá trị hợp nhất: Việc thực hiện theo phương pháp hợp cộng căn cứ
theo BCĐKT kế toán tại thời điểm hợp nhất của đơn vị bị hợp nhất và đơn vị hợp
nhất. Mọi hoạt động hợp nhất DNNN thường là do chủ trương sắp xếp của các đơn
vị thành viên của Tập đoàn. Các đơn vị tham gia hợp nhất trước và sau khi hợp nhất
vẫn trực thuộc sự chi phối của công ty Mẹ. Chính vì vậy khi trước khi hợp nhất các
đơn vị chỉ thực hiện kiểm kê tài sản, bàn giao cho công ty mới theo nguyên trạng giá
trị ghi sổ. Việc xử lý tài chính chỉ xảy ra khi kiểm kê có chênh lệch thừa thiếu tài sản
trước khi hợp nhất còn giá trị về thương hiệu, uy tín ... không được đề cập tới. Điển
hình của các đơn vị hợp nhất kinh doanh tại Tập đoàn Dầu khí đó là các đơn vị:
Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí hợp nhất với Tổng công ty Thăm dò Khai thác
Dầu khí-PVEP, Tổng công ty Thương mại Dầu khí (Phetechim) và Công ty TNHH
một thành viên Chế biến và Kinh doanh sản phẩm dầu mỏ (PDC) hợp nhất với Tổng
103
Công ty Dầu Việt Nam-PV Oil, Xí nghiệp dịch vụ dầu khí biển; Xí nghiệp dịch vụ
dầu khí Vũng Tàu; Chi nhánh tổng công ty tại Vũng tàu hợp nhất với Công tyTNHH
MTV dịch vụ tổng hợp dầu khí Vũng tàu...
Xử lý kế toán điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong hợp nhất:
Vì là hợp nhất theo giá trị ghi sổ tại ngày hợp nhất công ty mẹ lập BCTC trên
cơ sở kết hợp BCTC của các đơn vị tham gia hợp nhất sau đó làm thủ tục giải thể
đơn vị cũ nên không phát sinh Lợi thế thương mại.
Với những DN hợp nhất và sáp nhập theo giá trị thỏa thuận và do tổ chức
định giá xác định của các bên
Điển hình của các trường hợp này là trường hợp sáp nhập giữa Công ty
TNHH một thành viên Chế biến và kinh doanh sản phẩm khí vào Công ty Khí Việt
Nam được thỏa thuận chấp nhận giá trị của BCĐKT ngày 31/07/2007 và XĐGT
quyền sử dụng đất căn cứ vào khung giá đất hiện hành của Nhà nước. Sự sáp nhập
của Công ty Cổ phần xây lắp Incomex vào Công ty cổ phần Đầu tư và Xây lắp Dầu
khí Sài Gòn (PVC), Công ty PVC Sài Gòn phải trả thêm cho Incommex một khoản
1.356.666.677 đồng. Sự sáp nhập của Công ty liên doanh Petro Việt Nam - Sông Trà
vào Tổng công ty Cổ phần dịch vụ Tổng hợp Dầu khí và theo thỏa thuận của các liên
doanh, Petrosetco phải trả 7 tỷ đồng.
Đối với trường hợp mua lại (Là các công ty Mẹ mua lại các Công ty con) thì
giá mua cũng được xác định căn cứ vào giá mà các bên thỏa thuận (trường hợp mua
lại theo thỏa thuận chiếm tỷ lệ lớn đối với với các trường hợp mua lại cụ thể là 45%). 5 Sự thỏa thuận này được dựa vào các mặt hàng chiến lược, thị phần, lao động của
đơn vị... có thể là trả thêm cho công ty con để đổi lấy quyền kiểm soát, có thể là một
mức giá cụ thể của số cổ phiếu được mua, cụ thể tại các đơn vị điển hình giá thỏa
thuận được thực hiện như sau; Tổng công ty CP khí Việt Nam -PV Gas (Công ty Mẹ)
mua lại công ty con là Công ty CP thể thao văn hóa dầu khí 580.000 cổ phần với giá
thỏa thuận 10.449đ/cp. Và mua lại công ty CP sản xuất bình khí Petro Việt Nam theo
thỏa thuận thêm 10% trên phần vốn chuyển nhượng. Tổng công ty Cổ phần Bảo
Hiểm Dầu khí - PVI (công ty Mẹ) mua lại Công ty cổ phần truyền thông dầu khí Việt
Nam (PV Media) với thỏa thuận trả thêm 10% so với vốn điều lệ là 66 tỷ.
5 Phụ lục 2.2 "Bảng tổng hợp khảo sát...."
104
Căn cứ giá trị sáp nhập:
Trong trường hợp này, giá trị sáp nhập và được căn cứ theo giá thỏa thuận của
2 bên như đã trình bày ở trên
Xử lý kế toán khi sáp nhập theo giá thỏa thuận hoặc do tổ chức định giá xác định.
o Ghi nhận giá phí sáp nhập
Đối với trường hợp sáp nhập: Chi phí mua phát sinh của từng hoạt động khác
nhau được ghi nhận khác nhau, các chi phí phát sinh này không được hạch toán riêng
vào giá mua mà ghi nhận riêng vào chi phí hoạt động trong kỳ VD: Đối với thương
vụ sáp nhập của Công ty cổ phần đầu tư Khoan dầu khí Việt Nam (PVDI) sáp nhập
vào Tổng Công ty CP khoan & Dịch vụ Khoan Dầu khí (PVD) số tiền chi phí phát
sinh là 58.265.255 được hạch toán vào TK 242 và thương vụ sáp nhập của Công ty
TNHH MTV Dịch vụ khai thác dầu khí vào Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ kỹ thuật
Dầu khí Việt Nam - PTSC với chi phí tập hợp được là 25.365.222 được ghi nhận vào
TK. 642. Đối với trường hợp sáp nhập Chi phí tư vấn, thẩm định giá được hạch toán
chủ yếu vào Nợ TK 642 và một số DN hạch toán vào TK 242/ Có TK 111
o Xử lý lợi thế thương mại (LTTM)
Tập đoàn PVN nói riêng các DNNN Việt Nam nói chung thường xác định lợi
thế thương mại của DN như sau:
- LTTM = giá mua trừ (-) giá trị ghi sổ của tài sản thuần
Hoặc; - LTTM = Tỷ lệ % so với Vốn điều lệ chuyển nhượng
Thường thì xảy ra 2 trường hợp là Chênh lệch giữa giá mua và giá trị tài sản
thuần có thể thực hiện được là giá trị dương (LTTM dương) và giá trị âm (LTTM
âm). Đối với các trường hợp phát sinh LTTM các DN lựa chọn xử lý theo 3 hướng:
Thứ nhất: DN không ghi nhận khoản này trên BCTC. Theo hướng này có 18
DN chiếm tỷ lệ 24%
Thứ hai: Nếu có ghi nhận LTTM các DN sáp nhập có thể lựa chọn phản ánh
khoản này trên TK 242 và sau đó phân bổ dần trên BCTC của Công ty Mẹ. Thực
hiện theo hướng này có 13 DN chiếm tỷ lệ 17%
Thứ ba: LTTM được ghi giảm thặng dư vốn cổ phần hoặc ghi giảm vốn góp
liên doanh có 2 DN chiếm 3%.
o Ghi nhận lợi ích cổ đông thiểu số
105
Trường hợp này chỉ xảy ra đối với các thương vụ mua lại DN, khi công ty mẹ
không nắm giữ 100% quyền biểu quyết trong công ty con. LICĐTS được trình bày
trên BCĐKTHN thành một chỉ tiêu riêng biệt độc lập giữa nợ phải trả và vốn chủ sở
hữu và được hạch toán bình thường theo quy định. (Việc HNBCTC không được
trình bày và nghiên cứu sâu trong luận án này).
Bước 4: Hợp cộng số liệu từ đơn vị bị sáp nhập, hợp nhất vào đơn vị sáp nhập, hợp
nhất lập BCTC sau sáp nhập, hợp nhất.
Số liệu sau khi điều chỉnh chênh lệch sau định giá sẽ được tiến hành hợp cộng
vào đơn vị nhận sáp nhập hoặc đơn vị hợp nhất.
Giai đoạn 2: Sau sáp nhập, hợp nhất.
Điều chỉnh sai sót nếu có trong định giá phát hiện tại thời điểm đã sáp nhập,
hợp nhất. Thực ra, các vấn đề sai sót cũng có thể xảy ra tại thời điểm này nhưng vì
thường sau khi chuyển giao sang đơn vị mới, toàn bộ sổ sách của đơn vị cũ đã được
khép lại, tài sản đã chuyển giao sang đơn vị mới vì vậy nếu có phát sinh sẽ làm ảnh
hưởng tới đơn vị mới và do đơn vị mới phải điều chỉnh, nếu số liệu sai sót trọng yếu
cần phải điều chỉnh hồi tố.
C. Kết quả ghi nhận, lưu trữ và cung cấp thông tin của KTĐG khi sáp nhập,
hợp nhất.
BCTC tại thời điểm định giá cũng chính là những kết quả được ghi nhận và
được lưu giữ trong chính bộ Hồ sơ sáp nhập, hợp nhất để chuyển sang đơn vị mới và
là những Báo cáo bắt buộc trong bộ hồ sơ chuyển đổi.
2.4. Đánh giá thực trạng kế toán ĐGDN khi tái cấu trúc DNNN ở Việt Nam.
Theo lộ trình TCT của Chính phủ, kế hoạch TCT các DN là công việc vừa
thực hiện vừa hoàn chỉnh, bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế. Vì vậy,
tại các DNNN khi tiến hành TCTDN, bên cạnh những ưu điểm đã đạt được cũng có
những khiếm khuyết nhược điểm cần khắc phục. Sau đây tác giả xin tổng hợp lại một
số ưu điểm và những phát hiện về những tồn tại trong quá trình thực hiện KTĐG tại
các DN khi TCT các DNNN tại Việt nam.
2.4.1. Những kết quả đạt được
2.4.1.1. Về những quy định, khung hành lang pháp lý
Trước khi tiến hành thực hiện một lộ trình thì công việc đầu tiên là xây dựng
106
những quy định cơ bản, giúp cho người thực hiện thuận tiện hơn, tránh những sai sót
không đáng có. Với TCTDN thì công việc này lại mang tính pháp lý cao bởi kết quả
của công việc sẽ ảnh hưởng tới chính nguồn vốn CSH, do vậy NN đã ban hành nhiều
Nghị định, các Bộ, Ban, Ngành đã đưa ra những thông tư hướng dẫn nhằm xây dựng
tốt khung hành lang pháp lý cho tái cấu trúc DNNN.
(1) Trong kế toán định giá khi cổ phần hóa doanh nghiệp.
Nhìn chung, khuôn khổ pháp lý về CPH DNNN gồm Nghị định, thông tư
hướng dẫn đã có sự phát huy kế thừa các quy định đã ban hành trước đó nên ngày
càng phù hợp hơn, dễ hiểu và dễ thực hiện hơn. Những Nghị định, Thông tư ban
hành sau đã khắc phục được những khiếm khuyết và vướng mắc của Nghị định và
Thông tư hướng dẫn trước, các quy định và hướng dẫn càng ngày càng sát với thực
tế hơn, cụ thể hơn dễ thực hiện hơn như những hướng dẫn xử lý tài chính, xử lý kế
toán. Trong các quy định và hướng dẫn cũng đã xác định rõ hơn quy trình kế toán
ĐGDN khi tiến hành CPH các DNNN.
Trong quá trình CPH, các quy định trên Nghị định, thông tư hướng dẫn có
những bước cải tiến đáng kể phù hợp với từng thời kỳ, nên BCTC cũng rõ ràng phù
hợp với những nguyên tắc, chuẩn mực kế toán. Phần nào cũng giúp người làm công
tác kế toán dễ dàng thực hiện và tiến trình CPH ngày càng hoàn thiện hơn đảm bảo
được tiến trình thực hiện đã đề ra của Chính phủ. Cụ thể, đối với những phương pháp
định giá, Nhà nước đã có những hướng đổi mới đáng kể và tại Nghị định
189/2013/NĐ-CP đã sửa đổi bổ sung một số vướng mắc mà Nghị định 59/2011 chưa
giải quyết được, như thêm khoản 4 Điều 28 NĐ 189 quy định một số khoản công nợ
chưa đối chiếu được, được theo dõi và đối chiếu sau. Nếu khoản công nợ không xác
định được chủ nợ thì hạch toán tăng vốn NN và Công ty cổ phần lưu trữ lại tài liệu
và có trách nhiệm trả nợ và hạch toán vào chi phí, các khoản nợ phải thu không thu
hồi được phải xem xét và bồi thường với tập thể cá nhân có liên quan... Năm 2014
Bộ tài chính vừa ban hành TT số 127/2014/TT - BTC (TT127) thay thế TT số
202/2011/TT-BTC, TT127 có các nội dung mới như:
Thứ nhất: Bổ sung các loại TS mà DN phải phân loại, kiểm kê. Tại thời điểm
XĐGT, DN không phải trích lập các tài khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn
thất các khoản đầu tư tài chính…; không phải trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ;
107
Thứ hai: Bổ sung hình thức lựa chọn tổ chức tư vấn ĐGDN đối với gói thầu
tư vấn không quá 500 triệu đồng. Bổ sung thêm hướng dẫn về khấu trừ giá trị lợi thế
về vị trí địa lý đất thuê khi XĐGTDN;
(2) Trong kế toán định giá khi sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp.
Quy định và quy trình, các bước thực hiện được quy định rất cụ thể trong
chuẩn mực kế toán và Luật kế toán nên việc thực hiện cũng dễ dàng hơn. Đặc biệt
trong hệ thống chuẩn mực kế toán Việt nam đã có VAS 11 quy định về HNKD và
trong Luật kế toán còn có riêng một điều quy định rõ các công việc kế toán phải thực
hiện khi sáp nhập và hợp nhất và DN. Gần đây có NĐ172/2013/NĐ-CP ban hành
ngày 13 tháng 11 năm 2013 có quy định lại về việc sáp nhập, hợp nhất công ty
TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.
2.4.1.2. Về quá trình tổ chức thực hiện công tác kế toán ĐGDN
(1) Trong kế toán định giá khi cổ phần hóa doanh nghiệp.
Để thực hiện tốt mục tiêu và định hướng của Đảng và Chính phủ, các DN đã
tiến hành thực hiện CPHDN theo định hướng và Đề án của Chính phủ. Nhiều
DNNN đã chuyển đổi sở hữu thành công và đem lại hiệu quả KD. Về cơ bản, các
DNNN thực hiện CPH đều phát huy hiệu quả, thực hiện tốt những chủ trương của
Đảng và Nhà nước đề ra nhất là những DN thuộc các Tập đoàn, Tổng Công ty.
Việc thu thập, kiểm tra, xử lý thông tin phục vụ cho TCT tại các đơn vị rất
đầy đủ theo các quy định và hướng dẫn của Chính phủ, của BTC từng thời điểm. Các
đơn vị có sự kế thừa và học hỏi nhau, quy trình thực hiện công tác KTĐG tại các DN
thuộc các Tổng công ty, các Tập đoàn thực hiện rõ ràng hơn rất nhiều đối với các DN
có quy mô nhỏ và do Địa phương quản lý. Từ khâu chuẩn bị chứng từ, sổ sách của
các năm trước liền kề liên quan tới việc định giá và làm căn cứ ghi nhận các chênh
lệch tăng, giảm tài sản trên BCTC khi kiểm kê đánh giá trước khi tiến hành định giá
để CPH. Để thực hiện tốt công việc định giá để tiến hành CPH, kế toán tại các đơn vị
đều tiến hành các bước kiểm kê, phân loại, đánh giá tài sản theo đúng quy định của
Chính phủ đề ra. Mặc dù có những điểm trong quy định còn chưa rõ ràng và vướng
mắc khiến cho việc thực hiện khó khăn nhưng hầu hết các đơn vị vẫn khắc phục và
hoàn thành theo đúng tiến độ. Công tác tổ chức, phân công từng mảng công việc cho
từng người tại mỗi bước trong quy trình ở mỗi đơn vị có khác nhau do tính chất công
108
việc và lĩnh vực kinh doanh của từng đơn vị tương đối hợp lý.
Quá trình lập và trình bày những thông tin của các chỉ tiêu chênh lệch trên
BCTC tại thời điểm định giá, trong bộ hồ sơ XĐGTDN, hồ sơ chuyển đổi DN cũng
tương đối đầy đủ theo quy định của nghị định và các thông tư hướng dẫn tại các thời
điểm định giá.
(2) Trong kế toán định giá khi sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp.
Cũng như các DNCPH. Các DNNN khi hợp nhất, sáp nhập để TCT DNNN
đều theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Sự khác biệt của việc sáp nhập, hợp
nhất, chủ yếu là các đơn vị 100% vốn Nhà nước chính vì vậy công tác thực hiện
không quá coi trọng việc định giá. Vì thế công tác kế toán tiến hành hợp nhất và sáp
nhập rất đơn giản thường không định giá lại tài sản, số liệu căn cứ để thực hiện các
thương vụ này là số liệu sổ sách đối với trường hợp hợp nhất.
Tổ chức công tác kế toán cho các thương vụ sáp nhập, hợp nhất được thực
hiện rất hợp lý và phù hợp với năng lực của người đảm nhận. Việc chuẩn bị sổ sách,
BCTC các năm liền kề phục vụ cho công tác thực hiện hợp nhất, sáp nhập rõ ràng,
đầy đủ và kịp thời, việc kiểm kê cũng được thực hiện trước khi bàn giao sang cho
đơn vị mới nên thời gian thực hiện đúng tiến độ, số liệu phản ánh cơ bản, đầy đủ theo
đúng quy định.
2.4.2. Những tồn tại, vướng mắc.
Do tính chất phức tạp của việc chuyển đổi sở hữu là sự thay đổi sở hữu của
những DN có vốn Nhà nước nên những quy định đặt ra không thể giải quyết triệt để
được tận cùng của các vấn đề nảy sinh và phức tạp và những hệ lụy của nó cũng đã
xảy ra tại một số DNNN sau khi TCT.
2.4.2.1. Về những quy định, khung hành lang pháp lý
Tại các DNNN khi tiến hành TCT về cơ bản đã thay đổi theo chiều hướng tích
cực. Tuy nhiên còn cần phải thay đổi quy cách thực hiện để tiếp tục tiến hành việc
CPH các Công ty mẹ thuộc Tổng công ty và Tập đoàn kinh tế Nhà nước. Việc thực
hiện CPH ở Việt Nam lộ trình thực hiện chưa dứt điểm, quyết liệt và lộ trình thực
hiện không dài chính vì vậy việc ban hành các văn bản quy định thường không kịp
thời và chỉ mang tính chất thời điểm.
(1). Trong kế toán định giá khi cổ phần hóa doanh nghiệp.
109
Trên thực tế thời điểm ban hành các nghị định của Chính phủ với các thông tư
hướng dẫn Nghị định thường không được ban hành gần và sát với thời điểm ban
hành các nghị định, nên DN khó thực hiện. Các DN chỉ dựa vào những quy định
chung từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau về tài chính, kế toán để tự đưa ra cách hạch
toán cho riêng mình. Từ đó, mỗi DN có một cách hiểu riêng về quy trình hạch toán,
phương pháp XĐGTDN, nhất là việc xử lý, định giá tài sản, xác định nghĩa vụ thuế,
chính sách đối với người lao động, khách hàng gặp nhiều khó khăn trong khâu vận
dụng để thực hiện… Hiện nay chưa có một văn bản chính thức riêng nào quy định,
hướng dẫn kế toán khi CPH các Công ty Mẹ thuộc các Tập đoàn, tổng công ty. Các
Tập đoàn và Tổng công ty, khi CPH Công ty Mẹ đều dựa trên những quy định về xử
lý tài chính, kế toán trong Thông tư 202/2011/TT-BTC hướng dẫn xử lý tài chinh và
XĐGTDN khi thực hiện chuyển DN 100% vốn Nhà nước thành CTCP theo quy
định tại Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/07/2011 của Chính phủ và hiện tại
BTC vừa ban hành TT số 200/2014 có hướng dẫn một số vấn đề cụ thể về kế toán
khi CPH Công ty Mẹ nói riêng và CPH các DNNN nói chung.
(2). Trong kế toán định giá khi sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp.
Trong quá trình sáp nhập, hợp nhất DN thì việc chú trọng đưa ra các văn bản
thường không được các cơ quan chức năng quan tâm đúng mức, việc xây dựng các
văn bản pháp quy. Trong đó, những quy định thường chỉ xây dựng mang tính thời
điểm chứ không chú trọng cho mục đích lâu dài. NN cũng chưa thực sự coi DNNN là
một DN trong nền kinh tế thị trường nên việc đưa ra các văn bản quy định cho việc
sáp nhập, hợp nhất chưa thực sự đánh giá triệt để GTDN. Chính vì vậy mà việc thực
hiện công tác kế toán của các thương vụ này thường được thực hiện theo trình độ và
sự hiểu biết của các đơn vị, tuy không làm ảnh hưởng tới vốn chủ sở hữu là NN
nhiều (nếu là các Công ty TNHH một thành viên mà NN là đại diện chủ sở hữu
100% vốn điều lệ) nhưng nếu là Công ty cổ phần thì GTDN nếu được đánh giá lại
cũng sẽ ảnh hưởng tới giá trị của cổ phiếu và sẽ làm ảnh hưởng tới Nguồn vốn chủ
sở hữu là Nhà nước khi chuyển đổi (có thể tăng hoặc giảm).
Mới đây, NĐ172/2013/NĐ-CP ban hành ngày 13 tháng 11 năm 2013 cũng
mới chỉ dừng lại ở những quy định lại về việc sáp nhập, hợp nhất công ty TNHH
một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu chứ chưa có quy định đối với các
110
DNCPH và trong đó chỉ quy định về cấp duyệt quy trình sáp nhập, hợp nhất chứ
chưa có quy định chi tiết quy trình thực hiện.
2.4.2.2. Tồn tại trong khâu tổ chức thực hiện công tác kế toán ĐGDN
(1). Trong kế toán định giá khi cổ phần hóa doanh nghiệp.
Mặc dù có những DN sau khi CPH đã làm ăn rất hiệu quả, nhưng cũng có DN
sau khi CPH đã mất hẳn vốn Nhà nước vào tay tư nhân. Tại các DNNN khi tiến hành
TCT về cơ bản đã thay đổi theo chiều hướng tích cực. Tuy nhiên còn cần phải thay
đổi quy cách thực hiện để tiếp tục tiến hành việc CPH các Công ty mẹ thuộc Tổng
công ty và Tập đoàn kinh tế Nhà nước.
Tài liệu thu thập tài liệu còn thiếu nguồn tin cậy vì sự giám sát nội bộ thiếu
hiệu quả, chưa thực hiện đầy đủ cơ chế minh bạch hoá thông tin, khâu kiểm tra xử lý
thông tin phục vụ cho kế toán ĐGDN khi CPH chỉ mang tính chất chiếu lệ.
Quá trình sử dụng thông tin từ đó cũng sẽ bị ảnh hưởng do các tài liệu thu
thập thiếu tin cậy, kỹ thuật ghi nhận điều chỉnh các vấn đề phát sinh còn phụ thuộc
nhiều vào những hướng dẫn từ các thông tư của Bộ Tài chính. Trình độ của nhân
viên thực hiện công tác kế toán còn chưa chuyên nghiệp và kiến thức chưa rộng dẫn
tới việc hiểu và áp dụng sai các quy định từ các thông tư hướng dẫn trong quá trình
thực hiện làm ảnh hưởng tới vốn Nhà nước trong hiện tại và tương lai. Cụ thể:
Trong TCTDN thì việc CPH là phức tạp nhất bởi cần phải xác định được phần
vốn của NN trong DN để từ đó tiến hành bán cổ phiếu và chuyển đổi hình thức sở
hữu. Sau khi tiếp nhận DN những nhà quản lý phải nắm bắt tình hình sử dụng, cơ cấu
tài sản, nguồn vốn trong DN trước và sau khi được chuyển đổi nên việc xác định, ghi
nhận hợp lý GTDN là công việc cần thực hiện thận trọng của kế toán CPH. Công
việc này thực hiện có tốt mới không làm thất thoát vốn và đồng thời sẽ giúp cho các
DN tự chủ được tài chính sau CPH, tránh tình trạng sau khi CPH đơn vị không nhận
thức được những tiềm năng và thế mạnh của DN để tiếp tục kế thừa và khai thác.
Các đơn vị, Ban chỉ đạo CPH thực hiện nội dung cơ bản theo quy định của
các Nghị định, Thông tư từ các thời kỳ. Tuy nhiên, việc thực hiện của mỗi đơn vị của
các thời kỳ cũng có khác nhau và cách trình bày cũng khác nhau nên kết quả nếu
cùng tại một DN cũng sẽ khác nhau nhất là về giá trị.( Cần ví dụ) Chính vì thế sẽ rất
khó khăn cho việc kiểm tra giám sát của các đơn vị cấp trên về việc xử lý tài chính
111
khi ĐGDN, kiểm toán NN thực hiện kiểm toán kết quả ĐGDN và xử lý các vấn đề
về tài chính trước khi định giá đối với các DN như: Công ty mẹ thuộc Tập đoàn kinh
tế NN. Công ty mẹ thuộc Tổng Công ty Nhà nước và các công ty TNHH một thành
viên khác khi có yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ. Công việc này đối với mỗi đơn
vị CPH thực tế chỉ xảy ra một lần và theo quy định có bắt buộc về một khung thời
gian nhất định. Tuy nhiên, việc thực hiện kiểm toán của kiểm toán NN thường bị kéo
dài và chậm trễ, một trong những nguyên nhân ấy lại chính là việc trình bày số liệu
điều chỉnh sau khi xử lý tài chính tại các đơn vị không được rõ ràng minh bạch.
Mặt khác, thực tế cho thấy việc thực hiện công tác kế toán định giá nói riêng,
công tác CPH DNNN nói chung của các đơn vị có sự ảnh hưởng từ những chính sách
của Nhà nước từng giai đoạn, dẫn tới vướng mắc trong việc xây dựng những văn bản
pháp luật cũng như những Thông tư hướng dẫn của Chính phủ và của các Bộ, Ngành
do tính chất và đặc thù của từng ngành và trình độ của cán bộ thực hiện có giới hạn.
...dẫn tới làm tiến trình này chậm lại và sự chuyển biến này của các DN có thể không
được như mong muốn mà có thể có tác dụng ngược lại với mục đích của TCT.
Việc tổ chức công tác KTĐG các DN khi CPH các DN cũng tương đối phức
tạp vì khối lượng công việc nhiều vì các DNCPH vẫn đang hoạt động kinh doanh
(thực hiện theo nguyên tắc hoạt động liên tục) chính vì vậy công tác KTĐG tại các
Công ty mẹ thuộc các Tập đoàn, Tổng công ty còn phức tạp hơn rất nhiều vì tính đa
dạng và đặc thù của các công ty thành viên. Quy định và các văn bản hướng dẫn về
CPH nói chung và quy định về KTĐG khi TCT và nhất là về CPH công ty mẹ thuộc
các Tổng công ty, Tập đoàn còn có phần chồng chéo khó hiểu và khó thực hiện. Việc
thực hiện công tác KTĐG chậm trễ và thiếu chính xác thường là do BCTC thiếu tính
công khai minh bạch, không rõ ràng và còn nhiều sai sót. Ban chỉ đạo CPH phần lớn
là không chuyên (thường được đưa lên từ Ban lãnh đạo các DN) (Phụ lục 2.2) nên
mọi công việc về CPH thường dựa toàn bộ vào tổ chức định giá mà tình hình hiện
nay thì tổ chức định giá, sự giám sát và kết hợp chưa có sự đồng nhất và gắn kết giữa
kế toán các đơn vị thành viên và người phụ trách kế toán của tổ chức định giá.
Những thông tin và các phát sinh chênh lệch tại thời điểm định giá còn phản
ánh chưa đầy đủ trong hồ sơ XĐGTDN, gây khó hiểu cho người sử dụng vì trình bày
khái quát không có thuyết minh giải trình nên những đối tượng cần sử dụng thông tin
112
trên hồ sơ XĐGTDN sẽ khó nhận định và đánh giá chính xác những thông tin đó.
(2). Trong kế toán định giá khi sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp.
Tương tự như đối với các trường hợp CPH, đối với DN sáp nhập và hợp nhất
việc thu thập tài liệu, kiểm tra, xử lý tài liệu còn nhiều bất cập vì nguồn cung cấp
thông tin chưa thực sự đáng tin cậy và được kiểm duyệt nên kết quả GTDN cũng sẽ
bị ảnh hưởng và chỉ mang tính chất tương đối.
Quá trình sử dụng thông tin và thực hiện các thương vụ Sáp nhập, hợp nhất
DN thường mang tính chất hợp cộng giá trị TS, giá trị ghi nhận và chuyển sang đơn
vị mới thường là giá ghi sổ, nếu có ĐGDN thì việc định giá cũng chỉ mang tính chất
hình thức chính vì vậy vẫn chưa thực sự thực hiện theo quy định của Chuẩn mực kế
toán và Luật kế toán. Việc thực hiện XĐGTDN trong sáp nhập, hợp nhất hay chuyển
nhượng vốn cũng là một nhu cầu tất yếu, để theo đó bên mua và bên bán có một tiêu
chí xác định giá giao dịch. Trong một số trường hợp, khi tiến hành TCTDN trong nội
bộ của Tập đoàn hoặc với mục đích tự XĐGT tài sản DN trước khi thực hiện các
giao dịch này hoặc giữa các DN SXKD, ...thì việc làm này cũng cần phải tiến hành
theo thông lệ để cho chủ sở hữu và các nhà đầu tư không bị thiệt thòi, khi sáp nhập,
hợp nhất lại các DN mà mình đang tham gia đầu tư. Theo thông lệ quốc tế thì khi
chuyển đổi hình thức sở hữu cần thiết phải đánh giá lại sau đó mới xem xét giá trị
thực tế cổ phiếu của các bên từ đó làm căn cứ đưa ra hoán đổi cổ phiếu về đơn vị
mới.
Kết quả ghi nhận và cung cấp thông tin của KTĐG doanh nghiệp khi sáp
nhập, hợp nhất tại các DN thường đơn giản hơn đối với phương thức CPHDN, chưa
thực sự đem lại hiệu quả cho người sử dụng thông tin vì còn thiếu nhiều chỉ tiêu và
những giải trình những thông tin tổng hợp.
2.4.3. Những nguyên nhân cơ bản làm ảnh hưởng tới quá trình thực hiện
công tác kế toán định giá doanh nghiệp khi tái cấu trúc DNNN.
Thời điểm TCT DNNN là đợt thực hiện quyết liệt nhất nhưng cũng khó có thể
hoàn thành tốt theo đúng tiến độ được với những nhiều lý do. Mỗi DN có một mô
hình, một thế mạnh, một đặc điểm kinh doanh riêng nên cách ghi nhận và xử lý
thông tin, tổ chức công tác kế toán cũng khác nhau kể cả năng lực của cán bộ kế toán
cũng như cán bộ quản lý chỉ đạo CPHDN nên tạo ra những vướng mắc gây chậm
113
chạp, số liệu không chuẩn xác tại các DN CPH do những nguyên nhân cơ bản từ
những khuôn khổ pháp lý chưa đầy đủ chặt chẽ, đồng bộ và do trong khâu tổ chức
thực hiện công tác kế toán ĐGDN tại các đơn vị thực hiện còn sai sót.
2.4.3.1. Từ những quy định, khung hành lang pháp lý chưa đồng bộ, đầy
đủ và chặt chẽ
Do thời gian thực hiện TCT thường gấp, việc xây dựng các quy định về tài
chính kế toán thường phải sau một thời gian thực hiện mới ban hành kịp chính vì vậy
ảnh hưởng rất nhiều đến công tác kế toán tại các đơn vị khi tiến hành TCTDN.
(1) Đối với doanh nghiệp khi tiến hành cổ phần hóa
Một là: Các quy định không sát với thực tế, những quy định và hướng dẫn
chưa rõ ràng, có những quy định và hướng dẫn trái ngược nhau làm ảnh hưởng
tới công tác kế toán ĐGDN nên khó khăn cho việc triển khai thực hiện.
Như đã trình bày các thời điểm ban hành nghị định và các thông tư hướng dẫn
thường không kịp thời mà lộ trình thực hiện có giới hạn. Theo tiến độ thì giai đoạn
đầu thường là giai đoạn thí điểm tuy nhiên lại triển khai ồ ạt nên những quy định
thường không kịp thời, văn bản thường ban hành chồng chéo, thời điểm nghị định đã
thay đổi nhưng thông tư hướng dẫn về xử lý tài chính và kế toán thì vẫn sử dụng theo
nghị định cũ dẫn tới sự chồng chéo các văn bản gây khó khăn cho việc thực hiện.
Sau khi DNNN chuyển sang hoạt động theo Luật DN, quy định của pháp luật và cơ
chế chính sách chưa được ban hành đầy đủ và đồng bộ. Một số cơ chế chính sách
chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời cho phù hợp với điều kiện mới. Khi bắt đầu thực
hiện lộ trình thì việc triển khai ồ ạt nhưng những văn bản hướng dẫn lại được hướng
dẫn sau, thường là không kịp thời như: Khi ban hành Nghị định số 64/2002/NĐ-CP
ngày 19/6/2002 thì đến ngày 13/5/2004 mới có Thông tư 40/2004/TT-BTC hướng
dẫn kế toán khi chuyển đổi DNNN thành công ty cổ phần và được thực hiện sau khi
có Nghị định 187/2004/NĐ - CP ngày 16/11/2004 ra đời và như hiện nay đối với các
DNCPH thực hiện theo 59/2011/NĐ-CP nhưng vẫn sử dụng Thông tư 106/2008/TT-
BTC về hướng dẫn kế toán và các thông tư có ban hành kèm theo sửa đổi bổ sung
như TT 244/2009/ TT - BTC (và nay được thay thế bằng TT số 200/2014 nhưng các
DN CPH chưa kịp áp dụng) ....
Trong các Nghị định, được quy định từng phần, từng khoản mục về trình tự thủ
114
tục chuyển đổi, cơ chế chính sách, xử lý tài chính, kế toán và các thủ tục XĐGTDN
đã được hướng dẫn bằng các thông tư của Bộ tài chính. Tuy nhiên, do các quy định
của nghị định, Luật, chuẩn mực mới chỉ là các quy định khung và hướng dẫn bằng
thông tư cũng chưa rõ ràng cụ thể (một số nghiệp vụ chưa có hướng dẫn) và kịp thời
nên quá trình triển khai thực hiện phát sinh nhiều tình huống đã gây lúng túng cho
các DN trong việc xử lý, ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực hiện các
nghĩa vụ thuế có liên quan, mỗi DN hiểu và vận dụng theo một cách khác nhau, dẫn
đến không thống nhất, nảy sinh nhiều vấn đề thậm chí phát sinh các mâu thuẫn giữa
DN với các cơ quan quản lý NN mà nguyên nhân chính là do chính sách kế toán, tài
chính chưa rõ ràng. Cụ thể:
Mặc dù đã có những thay đổi trong quy định đối với phương pháp định giá
nhằm giúp các DN tiến hành TCT thuận lợi. Tuy nhiên, những quy định này vẫn còn
những hướng dẫn còn gây khó hiểu, khó thực hiện cho người làm công tác định giá
và ảnh hưởng tới kế toán định giá như:
- Đánh giá GTDN theo phương pháp tài sản
Theo NĐ 59 và được sửa đổi bổ sung tại NĐ189, giá trị thực tế của DN bao gồm:
(cid:131) Giá trị tài sản hiện vật (cid:131) Giá trị tài sản vô hình
(cid:131) Giá trị tài sản bằng tiền (cid:131) Giá trị lợi thế kinh doanh
(cid:131) Giá trị đầu tư dài hạn của DN tại các DN (cid:131) Giá trị nợ phải thu
khác (cid:131) Giá trị chi phí dở dang
(cid:131) Giá trị quyền sử dụng đất (cid:131) Giá trị tài sản ký cược
Việc XĐGT thực tế của DN cũng như XĐGT thực tế phần vốn NN tại DN
chính là việc XĐGT nhóm tài sản trên. Tuy nhiên, do chưa có Chuẩn mực kế toán về
Giá trị hợp lý được ban hành nên chưa thực sự phù hợp khi xác định giá trị tài sản
theo từng nhóm (Phụ lục 2.15) nên sẽ khó đồng nhất việc thực hiện.
- Cách xác định tài sản cố định còn chưa phù hợp với thực tế Quy định, hướng dẫn XĐGT tài sản là hiện vật (tài sản hữu hình):6 Khi tính
căn cứ giá thị trường, nhiều đơn vị có tài sản đặc biệt không có tài sản tương đương
cùng loại để so sánh. Mặt khác, có nhiều loại tài sản được tài trợ, được đầu tư từ các
nước Đông Âu và là những tài sản đặc thù thì việc áp dụng khó khăn vì nếu không có
6 Mục 1.2 điều 18 của TT 202/2011/TT-BTC
115
tài sản cùng loại thì xác định giá theo giá trị ghi sổ của tài sản nên không thể chính
xác được.
Chất lượng còn lại của tài sản được xác định bằng tỷ lệ phần trăm so với chất
lượng của tài sản cùng loại mua sắm mới hoặc đầu tư xây dựng mới, phù hợp với các
quy định của Nhà nước về điều kiện an toàn trong sử dụng ...Cũng với những tài sản
được hình thành từ thời bao cấp, dây truyền cũ kỹ lạc hậu nhưng vẫn còn sử dụng và
lại là những tài sản mang tính chất đặc thù, thực tế không thể thanh lý, nhượng bán
khi đánh giá các loại tài sản này.
Đối với tài sản cố định vô hình
Theo quy định của các TT số 203/2009/TT-BTC ban hành ngày 20/10/2009
và nay là TT 45/2013/TT-BTC ban hành ngày 25/04/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính về ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ. Thời gian khấu
hao đối với tài sản cố định vô hình thường do các DN tự lựa chọn và thời gian khấu
hao không quá 20 năm thường sẽ áp dụng phương pháp khấu hao nhanh, thu hồi vốn
sớm nhưng chất lượng của tài sản vẫn còn sử dụng tốt. Theo TT 202/2009 khi xác
định giá trị tài sản cố định vô hình để chuyển đổi hình thức sở hữu được xác định theo giá còn lại trên sổ kế toán7. Như vậy, tài sản vô hình đã khấu hao hết vẫn đang
sử dụng giá trị ghi sổ không còn, khi định giá giá trị sẽ bằng không nhất là đối với tài
sản vô hình đặc biệt, sau khi sử dụng giá trị vẫn không bị thay đổi nhiều, hầu hết các
tài sản đó đã được thực hiện trích khấu hao theo thông cũ và thường được trích khấu
hao rất nhanh như vậy sẽ làm thất thoát giá trị khi định giá.
- Xác định lợi thế kinh doanh chưa thống nhất giữa các quy định
Sau mỗi lần sửa đổi bổ sung, hướng dẫn về lợi thế KD đã có sự thay đổi bổ
sung, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề cần bổ sung nhưng trong thông tư lại chưa đề
cập tới và chưa có hướng dẫn cụ thể về các cụm từ: “Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên
vốn Nhà nước bình quân 3 năm trước thời điểm XĐGTDN” và “Lãi suất của trái
phiếu Chính phủ có kỳ hạn 5 năm do Bộ Tài chính công bố tại thời điểm gần nhất
với thời điểm XĐGTDN”. Gây lúng túng cho các DNCPH khi thực hiện ĐGDN theo
phương pháp tài sản dẫn tới việc xác định vốn Nhà nước chưa chính xác.
Gần đây TT 45/2013/TT-BTC ban hành ngày 25/04/2013 đã có thay đổi một
7 Tại khoản 6 điều 18 tại thông tư 202/
116
số quy định phù hợp với TT 202, tuy nhiên trong TT 202 khi xác định "lợi thế kinh
doanh" vẫn bao gồm cả "giá trị thương hiệu" điều này không phù hợp với chuẩn mực
kế toán Việt nam số 04, "Giá trị thương hiệu" hay "Nhãn hiệu hàng hóa" được coi là
tài sản cố định vô hình. Như vậy, giữa hai văn bản đã có sự không thống nhất về
phương pháp đánh giá. Ngoài ra, theo hướng dẫn về căn cứ và phương pháp để tính
và ghi nhận Lợi thế KD chưa thực sự phù hợp với nền kinh tế thị trường và chưa áp
dụng nguyên tắc thận trọng và phù hợp trong kế toán dẫn tới làm thất thoát vốn NN.
Mặt khác, vì BCTC của các DN thiếu công khai minh bạch trước khi định giá
cũng sẽ làm ảnh hưởng mạnh tới lợi thế kinh doanh vì khi xác định lợi thế thường
người làm công tác định giá sẽ dựa vào số liệu trên BCTC của các năm liền kề về các
chỉ tiêu: vốn chủ sở hữu 3 năm, lợi nhuận sau thuế bình quân 3 năm trước liền kề,
phương pháp này thực sự sẽ rất dễ áp dụng. Như vậy, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên
vốn chủ sở hữu bình quân 3 năm trước thời điểm XĐGTDN. Nhiều DN lợi nhuận
đưa ra công khai trên BCTC đã được điều chỉnh vì số liệu này có thể chưa được kiểm
toán lại hoặc đã kiểm toán nhưng do đơn vị kiểm toán không uy tín thực hiện nên số
liệu chưa thể chuẩn xác được. Lợi nhuận sau thuế không chỉ chịu ảnh hưởng của lợi
thế DN mà còn có nhiều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp như: Ưu đãi thuế, miễn
giảm tiền thuê đất, miễn giảm thuế TNDN, thuế GTGT, hoặc thu lợi bất thường từ
thanh lý tài sản, được trợ giá của Nhà nước. Ngược lại, DN cũng có thể đang phải
chịu những bất lợi tạm thời do TCTDN, đầu tư mở rộng mạng lưới SXKD, tăng
cường các hoạt động marketing, quảng bá sản phẩm.v..v. vì vậy sự ảnh hưởng là
không tránh khỏi và kết quả cũng sẽ không chính xác.
Mặt khác chúng ta thấy, trong thực tế rất nhiều công ty có tiềm năng tốt
nhưng trong thời gian hiện tại do đầu tư phát triển mở rộng kinh doanh hay một lý do
nào đó lợi nhuận giảm đi hoặc ngược lại. Nếu khi XĐGTDN mà căn cứ vào tỷ suất
lợi nhuận sau thuế bình quân của 3 năm liền kề và lãi suất trái phiếu chính phủ cho 5
năm sẽ là không chính xác vì còn rất nhiều nhân tố khiến cho tỷ suất này sai lệch.
- Đối chiếu công nợ, khó khăn trong thực hiện
Theo quy định của NĐ 59/2011 và thông tư 202/2011 việc đối chiếu công nợ
phải đối chiếu toàn bộ công nợ khi XĐGTDN theo quy định, DNCPH phải tiến hành
đối chiếu toàn bộ các khoản công nợ đến thời điểm XĐGTDN và có biện pháp xử lý
117
dứt điểm các khoản công nợ không có khả năng thu hồi theo đúng chế độ Nhà nước
đã quy định. Việc làm này thực sự sẽ gây khó khăn cho các DN CPH vì sẽ khó thực
hiện trong thời gian nhất định nhất là đối với công ty mẹ và các tổng công ty vì thế
thời gian thực hiện có thể sẽ kéo dài gây ảnh hưởng tới tiến độ CPH. Sau khi sửa đổi
bổ sung tại Nghị định 189/2013 của Chính phủ thì khoản công nợ chưa đối chiếu
được sẽ chuyển giao sang cho công ty cổ phần đối chiếu tiếp hoặc tiếp nhận nếu có
đầy đủ chứng từ chứng minh. Tuy nhiên, nếu phần công nợ phải thu chưa đối chiếu
được sau này thu hồi được thì xử lý thế nào trong kế toán? Trong nghị định thông tư
không hướng dẫn cụ thể trong trường hợp này.
- Xác định về giá trị quyền sử dụng đất
Nghị định số 59/2011/NĐ-CP (Điều 31) đã quy định các DN CPH tiếp tục thực
hiện quyền được lựa chọn hình thức giao hoặc thuê đất như quy định của Luật Đất
đai. Nếu DN thực hiện giao đất thì phải tính bổ sung giá trị quyền sử dụng đất giao
theo giá sát với giá thị trường trong điều kiện bình thường để tính vào GTDN CPH
(sẽ ghi tăng "TSCĐ VH" hoặc " Chi phí trả trước dài hạn". Nếu DN thực hiện thuê
đất thì thực hiện trả tiền thuê đất hàng năm theo cơ chế đã được quy định tại Nghị
định số 121/2010/NĐ-CP và không phải tính bổ sung giá trị lợi thế vị trí địa lý. Như
vậy giá trị quyền sử dụng đất xác định xử lý còn rất phức tạp, dễ thất thoát vốn Nhà
nước ... Tại Nghị định 189/2013 điều 31 được sửa đổi, bổ sung Giá trị quyền sử
dụng đất cũng được quy định cụ thể và rõ ràng hơn bổ sung được những vướng mắc
của Nghị định 59/2011. Tuy nhiên, tại mục a) về giá đất để xác định giá trị quyền sử
dụng đất vào DN chính phủ hóa theo NĐ là giá đất sát với giá chuyển nhượng quyền
sử dụng đất có mục đích sử dụng tương tự thực tế trên thị trường ..... Vậy trong thời
điểm đó không có quyền sử dụng đất nào được chuyển nhượng trên thị trường và giá
trị chuyển nhượng có thể lại không
đúng với giá trị thực tế thì căn cứ vào đâu...?
- Quy định về xác định giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại DN còn chưa
rõ ràng về biện pháp xử lý khi phát sinh trường hợp đặc biệt.
Quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng và nguồn kinh phí sự nghiệp của nhiều đơn vị
có giá trị ghi số âm... khi tính toán việc xử lý trường hợp này cũng gây lúng túng cho
kế toán xử lý việc này cho hợp lý. Kế toán sẽ phải hạch toán thế nào? cộng hay trừ
118
giá trị quỹ này vào giá trị phần vốn Nhà nước nếu trường hợp này xảy ra?
- Đối với phương pháp dòng tiền chiết khấu: (DCF)
Công thức tính phương pháp này rất phức tạp khó áp dụng rộng rãi
khiXĐGTDN chính vì thế phương pháp này theo thông tư hướng dẫn nếu sử dụng
rộng rãi đối với các DN sẽ là không thực tế, khó áp dụng và có thể muốn nhưng cũng
không đủ điều kiện áp dụng vì thực tế ít DN có thể đáp ứng được yêu cầu về ngành
nghề và tỷ suất lợi nhuận như yêu cầu của thông tư 202. Mặt khác gọi là phương
pháp dòng tiền chiết khấu (DCF) nhưng nhìn vào công thức thì thấy rõ ràng đây là
việc tính toán dựa trên chiết khấu cổ tức hay có thể gọi là chiết khấu thu nhập trong
tương lai của DN. Theo phương pháp DCF của các nước tiên tiến là phải xác định
giá trị dòng tiền thu được trong mỗi năm của DN và chiết khấu nó về với giá trị hiện
tại để tổng hợp và đánh giá XĐGTDN.
Hai là: Vì chưa xây dựng thống nhất một quy trình kế toán định giá khi tái
cấu trúc DNNN nên mỗi DN thực hiện theo một quy trình và trình tự riêng:
Theo kết quả điều tra (phụ lục 2.b) và phỏng vấn trực tiếp tại các đơn vị. Vì
quá trình TCTDN là việc thay đổi diện mạo, sức khỏe cho DN nên công việc chuẩn
bị và thực hiện rất phức tạp và nhiều vấn đề nảy sinh và đều bắt nguồn từ kế toán.
Những chính sách kế toán quy định trước đó và trong giai đoạn thực hiện công tác kế
toán TCT DNNN nói chung, kế toán định giá nói riêng. Những quy định được xây
dựng chưa đi theo một hệ thống thống nhất theo một quy trình, từng bước thực hiện
các công việc. Nghiệp vụ về kế toán ĐGDN không phải là một nghiệp vụ thường
xuyên và cũng không phải DN nào cũng phải trải qua quá trình này chính vì thế họ
không thể hiểu hết được những công việc phải làm và những phát sinh có thể xảy ra
trong quá trình thực hiện nếu như không hiểu và biết rõ được quy trình thì việc thực
hiện khó có thể đạt kết quả như mục tiêu TCT đã đặt ra.
Ba là: Trong các Chuẩn mực kế toán Việt Nam chưa quy định những
nguyên tắc ghi nhận và trình bày BCTC những phát sinh trong tái cấu trúc DN .
Do những quy định, hướng dẫn chưa rõ ràng ở trên sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới
công tác kế toán ĐGDN và trực tiếp làm giảm và thất thoát vốn Nhà nước có trong
DN khi chuyển đổi hình thức sở hữu. Bởi những quy định của chính phủ đề ra vẫn
còn một số tồn tại và vướng mắc trực tiếp làm cho người thực hiện công tác KTĐG
119
khó thực hiện và việc thực hiện sẽ khó đồng nhất giữa các tổ chức định giá về biện
pháp xử lý kế toán, ghi nhận thông tin và trình bày thông tin trên BCTC, Hồ sơ
chuyển đổi DN cho việc TCT DNNN nói riêng, các DN nói chung.
(2) Đối với doanh nghiệp khi tiến hành sáp nhập, hợp nhất.
Vì không chú trọng cho việc xây dựng các quy định khung cho công tác kế
toán sáp nhập, hợp nhất vì vậy gây nhiều vướng mắc và khó khăn cho quá trình thực
hiện mà nguyên nhân chủ yếu đó là:
Thứ nhất: Trong các thương vụ hợp nhất, sáp nhập DN t heo tiến trình TCT
DN hiện nay Chính phủ chưa thực sự đặt DNNN vào nền kinh tế thị trường và chưa
có những quy định riêng cho các thương vụ hợp nhất, sáp nhập với mục đích tái cấu
trúc DNNN. Thực tế cho thấy VAS 11 là chuẩn mực HNKD nói chung mà chưa có
các quy định cụ thể cho việc hợp nhất, sáp nhập các DN với mục đích TCT lại các
DNNN. Khi tiến hành sáp nhập, hợp nhất các DN thường tiến hành thực hiện XĐGT
theo giá ghi sổ chứ không định giá lại hoặc nếu có định giá thì giá trị cũng không quá
chênh lệch. Vì vậy giá trị thực của DN chưa thực sự được đánh giá đúng với năng
lực và tiềm năng mà DN có được, mặt khác vì Chính phủ chỉ coi các thương vụ này
là một giao dịch thực hiện nội bộ nên không chú trọng cho việc xây dựng những quy
định phù hợp với thông lệ quốc tế. Điều này được thể hiện rất rõ khi thông tư số 38
năm 2005 đã hết hiệu lực nhưng tới thời điểm hiện tại không có một quy định hướng
dẫn nào thay thế cho thông tư số 38 năm 2005, gây vướng mắc cho các DN tiến hành
các thương vụ sáp nhập, hợp nhất.
Hai là: Trong các nghiệp vụ định giá trong sáp nhập, hợp nhất DN còn
chưa theo thông lệ của thị trường làm ảnh hưởng tới kết quả của quá trình TCT..
Việc thực hiện XĐGTDN trong sáp nhập, hợp nhất hay chuyển nhượng vốn
cũng là một nhu cầu tất yếu, để theo đó bên mua và bên bán có một tiêu chí xác định
giá giao dịch. Trong một số trường hợp, khi tiến hành TCTDN trong nội bộ của tập
đoàn hoặc với mục đích tự XĐGT tài sản DN trước khi thực hiện các giao dịch này
hoặc giữa các DN SXKD, ...thì việc làm này cũng cần phải tiến hành theo thông lệ để
cho chủ sở hữu và các nhà đầu tư không bị thiệt thòi, khi sáp nhập hợp nhất lại các
DN mà mình đang tham gia đầu tư. Thực tế hiện nay việc sáp nhập, hợp nhất các DN
thực hiện rất đơn giản vì theo lộ trình TCT DNNN trong NĐ59, NĐ189 chỉ quy định
120
về CPH chưa có quy định cho sáp nhập, hợp nhất trong khi đó các quy định về sáp
nhập, hợp nhất như NĐ 180/2004/NĐ-CP quy định về thành lập mới, tổ chức lại và
giải thể công ty NN trong đó có quy định về sáp nhập, hợp nhất tại điều 22, 23 và đã
hết hiệu lực chưa có NĐ mới thay thế. Theo thông lệ quốc tế thì khi chuyển đổi hình
thức sở hữu cần thiết phải đánh giá lại sau đó mới xem xét giá trị thực tế cổ phiếu
của các bên từ đó làm căn cứ đưa ra hoán đổi cổ phiếu về đơn vị mới.
Thứ ba: Các quy định giữa Luật và chuẩn mực kế toán còn chưa thống nhất
dẫn tới việc thực hiện khó khăn.
Đó là những vướng mắc từ các quy định giữa khái niệm và nội dung về sáp
nhập và hợp nhất DN, từ Luật kế toán và VAS11- Hợp nhất kinh doanh.
Thứ tư: Trong các quy định không quy định cụ thể, thống nhất về quy trình
kế toán định giá khi sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp.
Chính vì điều này nên khi các đơn vị thực hiện thường thực hiện theo kỹ năng
và kinh nghiệm vốn có của mình, trong khi đó các thương vụ sáp nhập, hợp nhất là
trường hợp phát sinh đặc biệt tại các đơn vị. Trong khi đó không có quy định khung
nào để áp dụng theo vì vậy rất khó để giám sát quản lý quá trình thực hiện các
thương vụ này do mỗi đơn vị sẽ có cách thực hiện khác nhau.
2.4.3.2. Những sai sót, vướng mắc trong khâu tổ chức thực hiện
(1) Đối với doanh nghiệp khi tiến hành cổ phần hóa
Một là: Thời điểm CPH không đồng bộ ảnh hưởng tới công việc của kế
toán và kết quả định giá
Do quá trình CPH DNNN thực hiện không cùng một thời điểm nên kết quả
thực hiện của mỗi DN tại mỗi thời điểm có thể sẽ có sự chênh lệch về GTDN và làm
thất thoát vốn Nhà nước do mỗi thời điểm Nhà nước lại đưa ra những quy định khác
nhau về cách xác định và xử lý tài chính, điều chỉnh các bút toán và việc tổ chức thực
hiện công tác CPH khác nhau. Chính những điều này làm ảnh hưởng rất lớn tới
GTDN nhất là phần vốn NN bị thất thoát lớn do cách xác định và ghi nhận từng thời
điểm của mỗi đơn vị. Trong quá trình khảo sát tại các DN thuộc Tập đoàn TKV, cho
thấy rõ đã có nhiều DN than khi được đánh giá lại bị đánh giá rất thấp với giá trị thực
tế tại thời điểm ĐG (do khung giá quyền sử dụng đất, tài nguyên, than, quặng..., một
số tài sản trên thị trường thay đổi...) sẽ bị thất thoát do khác thời điểm định giá.
121
Thực tế, các DN không thể tự lựa chọn thời điểm XĐGTDN cho DN mình
được mà thời điểm này phụ thuộc chính vào quyết định của các cấp có thẩm quyền
khi có quyết định CPHDN. Thời điểm XĐGTDN là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến
phần vốn của NN, nếu lựa chọn thời điểm không thích hợp sẽ dẫn tới giá trị phần vốn
Nhà nước sai, như: Nếu xét thời điểm định giá là 31/12 trùng với BCTC năm thì giá
trị vốn NN theo định giá của cơ quan định giá sẽ với DN có thời điểm định giá khác
với thời điểm lập BCTC, nếu là BCTC giữa năm sẽ làm ảnh hưởng tới độ chính xác,
trung thực bởi trước khi CPH đơn vị CPH phải khóa sổ lập BCTC...Như vậy, với
từng thời điểm khác nhau, phần vốn NN sẽ có sự thay đổi do nhiều yếu tố, nếu các
DN thực hiện việc TCT sớm và sớm phát hành cổ phiếu thì GTDN mới thực sự sát
với thực tế. Theo quy định: “Kết quả công bố GTDN của cơ quan có thẩm quyền là
cơ sở để xác định quy mô vốn điều lệ, cơ cấu cổ phần phát hành lần đầu và giá khởi
điểm để thực hiện đấu giá bán cổ phần,” và cũng chính vì vấn đề này sẽ làm tăng
khối lượng công việc của kế toán nặng nề thêm do tăng công việc.
Mặt khác, thời điểm quyết định CPH cũng sẽ làm ảnh hưởng rất nhiều tới công
tác kế toán, ảnh hưởng tới việc khóa sổ kế toán, tới việc kiểm kê đánh giá. Mất thời
gian chờ đợi kiểm toán nếu thời điểm ĐG khác với thời điểm khóa sổ lập BCTC tại
các đơn vị TCT. Điều này ảnh hưởng không ít tới công tác kế toán của các đơn vị.
Hai là: Việc kiểm kê, phân loại đánh giá tài sản còn nhiều bất cập, chưa
thực hiện đúng theo quy định và thông lệ thị trường.
Do từ những DN được thành lập từ vốn NN, cán bộ lãnh đạo cũng như bộ
phận kế toán cứ theo phong cách "sống lâu lên lão làng" chứ không tuyển dụng theo
năng lực vì vậy hệ lụy của nó chính là những BCTC sai, những chính sách không
nhất quán, và nhiều khi chỉ vì cái lợi riêng chứ không tính xem NN sẽ được gì, mất
gì nếu làm không đúng, tuy nhiên điều mà ai cũng biết công việc này cực kỳ phức
tạp và khó khăn từ khâu thu thập thông tin, kiểm kê....xử lý tài chính kế toán rất cần
có người lãnh đạo chuyên môn cao, người kế toán giỏi mới chỉ đạo và theo dõi và sát
sao được công việc. Những sai sót yếu kém nên nhiều đơn vị có kết quả sau TCT sai
sự thật do làm theo thói quen, lựa chọn phương pháp đơn giản nhất... gây thất thoát
vốn Nhà nước và không thiếu trường hợp do năng lực hạn chế nên làm liều...Dẫn tới
nhiều DNNN sau khi CPH đã chuyển thành DN tư nhân hoặc vốn NN không
122
còn...mà nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động trong những ngành, lĩnh vực có điều
kiện phát triển khó khăn, công nghệ lạc hậu, lại không được xử lý dứt điểm những
tồn tại về tài chính khi CPH đó là những DN thuộc địa phương quản lý. XĐGT khi
CPH do các tổ chức định giá thực hiện còn chưa chính xác do việc xử lý
tồn tại về đất đai, về thời điểm định giá và về cách tính lợi thế kinh doanh... Cụ thể:
- Việc kiểm kê, phân loại đánh giá tài sản còn chưa thực hiện đúng theo
các nguyên tắc kế toán.
Sự bất cập này là do các DN số lượng tài sản nhiều tại nhiều địa bàn thuộc
đơn vị quản lý, nên có thể việc kiểm kê chỉ mang tính hình thức, chưa thực sự chú ý
đến cảm nhận và sự quan sát thực tế về chất lượng và lợi ích đem lại của tài sản mà
thường dựa nhiều vào kết quả trên sổ kế toán tại các thời điểm khóa sổ và số liệu này
cũng chưa thực sự là chính xác do chưa có sự xác minh rõ ràng. Có những tài sản
được đưa vào tài sản không cần dùng, chờ thanh lý nhưng thực chất vẫn đang sử
dụng trong kinh doanh điều này sẽ làm ảnh hưởng rất nhiều tới phần vốn Nhà nước
có trong DN vì như Công ty TNHH một thành viên Đông Trường Sơn có những tài
sản sử dụng từ năm 1995 đến nay vẫn còn để và không sử dụng, nếu đã được thanh
lý thì giá trị thu hồi đã được bổ sung vào nguồn vốn kinh doanh với tổng giá trị của
tài sản này theo nguyên giá là 32.000.747.578 đồng và giá trị còn lại không tính vào
vốn Nhà nước là 4.178.210.479 đồng.
- Còn tồn tại về việc xử lý đất đai khi xác định GTDN không đầy dủ chứng
từ bàn giao giữa hai đơn vị.
Ví dụ tại Tại Công ty Cổ phần than Núi béo Không thực hiện bàn giao diện
tích đất do Công ty quản lý tại: Cảng, khu văn phòng Công ty và Nhà máy Cơ khí
Hòn Gai (Theo báo cáo của KTNN chuyên ngành VI năm 2008). Qua đánh giá, giá
trị thực tế của nhà cửa tại Công ty TNHH 1 thành viên Đông Trường sơn ghi trên
Biên bản xác định giá trị là giá đánh giá lại theo giá thị trường nhưng thực chất
không thực hiện định giá theo giá thị trường mà định giá theo quyết định khung giá
của UBNN tỉnh đưa ra ngày 23/07/2010. Đối với các công ty thành viên của Tổng
công ty Mẹ Viglacera cũng như vậy được áp dụng theo khung giá Nhà nước công và
nhà cửa vật kiến trúc chưa có quy định thì tính theo giá trị sổ sách. Tuy nhiên, vẫn có
những quyết định chồng chéo khiến cho DN CPH phải lúng túng như: "Đối với Dự
123
án Khu đô thị mới Đặng Xá 2: giá trị quyền sử dụng đất xác định là 584.230.210.698
đồng theo Quyết định số 5551/QĐ-UBND ngày 28/11/2011 của UBND TP.Hà Nội
về việc phê duyệt đơn giá thu tiền sử dụng đất Dự án Khu đô thị mới Đặng Xá 2,
huyện Gia Lâm, Hà Nội do Tổng công ty Viglacera làm chủ đầu tư. Tuy nhiên, giá
đất tạm xác định theo giá đất UBND TP.Hà Nội quy định tại Quyết định số
50/2011/QĐ-UBND ngày 30/12/2011 về việc ban hành quy định giá các loại đất trên
địa bàn năm 2012 là 591.213.754.987 đồng."..như vậy khi XĐGT sẽ không đảm bảo
đúng và đủ phần vốn NN vì khung giá NN đưa ra thường là cho từng khu vực, địa
bàn nhưng với cùng 1 địa bàn, 1 khu vực giá thực tế trên thị trường sẽ khác nhau.
Nhà cửa vật kiến trúc cũng có nhiều thay đổi do giá vật liệu lên cao, nếu là nhà cửa
vật kiến trúc đã hoàn thành bàn giao trước khi CPH 5 năm mà có thời gian khấu hao
20 năm thì sự ảnh hưởng này cũng là rất đáng kể, nếu không được đánh giá lại.
Tất cả các đơn vị tiến hành CPH khi xác định lại giá trị tài sản cố định đều
không xác định lợi thế thương mại của phần đất được giao. (Điều này không được
quy định rõ trong NĐ và thông tư )
- Áp dụng và tính lợi thế kinh doanh các DN thực hiện còn chưa chính xác
theo quy định làm ảnh hưởng tới trực tiếp việc xử lý kế toán.
Trong quá trình thực hiện kế toán ĐGDN các DN thuộc Tập đoàn, Tổng công
ty NN đã tính lợi thế kinh doanh không đúng dẫn tới làm mất vốn Nhà nước khi xác
định GTDN và làm giảm trong cơ cấu vốn, tính thiếu do áp dụng phương pháp tính
vốn Nhà nước bình quân 3 năm không đúng và áp sai lãi suất trái phiếu chính phủ, cụ thể: Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ đã không đánh giá lợi thế thương mại8.
Tính thiếu do áp dụng phương pháp tính vốn NN bình quân 3 năm không đúng và áp
sai lãi suất trái phiếu chính phủ, trong đó có công ty Than Núi Béo và Công ty Than Cọc Sáu.9, Các đơn vị phụ thuộc và công ty Mẹ Tổng công ty Viglacera. Quyền khai
thác khoáng sản đối với các đơn vị có mỏ quặng quý, hiếm và có giá trị cao trên thị
trường (Do Chính phủ chưa có quy định và hướng dẫn cụ thể).
Tại Công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Viglacera và các công ty thành viên của
công ty Mẹ Tổng công ty Viglacera đánh giá giá trị thương hiệu theo phương pháp
giá phí (theo quy định của NĐ 59/2011 và TT 202/2011) và đã không đánh giá tiềm 8 Do thời điểm định giá chưa có quy định và hướng dẫn về tính lợi thế kinh doanh 9 Những vấn đề nêu trên Bộ Công Thương có công văn trả lời về vấn đề trên .
124
năng phát triển tại từng đơn vị hạch toán phụ thuộc mà đánh giá giá trị này tại Công
ty Mẹ trên giá trị của tổng lãi gửi về công ty mẹ với lãi suất trái phiếu chính phủ có
kỳ hạn 5 năm do Bộ tài chính công bố thời điểm gần nhất. Tại Công ty TNHH một
thành viên Đông Trường Sơn khi tính giá trị lợi thế thương mại bằng 0 với lý do:
- Giá trị thương hiệu bằng không vì không phát sinh các chi phí thực tế cho việc
tạo dựng và bảo vệ nhãn hiệu, tên thương mại trong quá trình hoạt động của DN
trước thời điểm XĐGTDN.
- Giá trị tiềm năng phát triển cũng bằng 0 do tỷ suất lợi nhuận sau thuế của
Công ty trên vốn bình quân ba năm 2009, 2010, 2011, thấp hơn lãi sất trái phiếu
chính phủ kỳ hạn 5 năm ở thời điểm gần nhất với thời điểm định giá.
Tuy nhiên, trong quá trình tính toán theo kết quả khảo sát ở trên tác giả nhận
thấy hầu hết các DN khi tính lợi thế kinh doanh chỉ mang tính chất tương đối và một
số các DN đã tính lợi thế kinh doanh áp dụng chưa được chính xác mặc dù trong các
thông tư hướng dẫn (TT 79/2002, TT126/2004 đến TT146/2007 và nay là TT
202/2011) đã có công thức tính cụ thể nhưng chưa rõ ràng nên đã xảy ra tình trạng
tính sai giá trị vốn NN khi tính lợi thế kinh doanh.
- Đối chiếu công nợ thực hiện còn nhiều vướng mắc chậm trễ vì các nghiệp vụ
công nợ các DN không thường xuyên đối chiếu, quan hệ đan xen khó loại trừ.
Đối với các DN phát sinh công nợ ít thường việc đối chiếu đơn giản nhưng
đối với các Tập đoàn, Tổng công ty các DN hiện nay chỉ đối chiếu được khoảng 60 -
70%, do vậy quy định của NĐ số 59 năm 2011 và thông tư số 202 năm 2011 việc đối
chiếu toàn bộ công nợ sẽ làm chậm tiến độ CPH của DN như: Tổng Công ty mẹ
Viglacera, đối tượng công nợ nhiều thì việc đối chiếu rất khó khăn thường sẽ không
đối chiếu hết được công nợ, thời điểm định giá khác với thời điểm khóa sổ của các
đơn vị nên số liệu đối chiếu hết sức khó khăn, chủ yếu do các đơn vị không thường
xuyên đối chiếu công nợ và thường không thanh toán dứt điểm nên khó theo dõi, nếu
có sự đối chiếu thường xuyên thì công tác kế toán khi tiến hành CPH sẽ tiến hành
thuận lợi hơn rất nhiều và tránh nhiều sai sót khi xử lý tài chính, điều chỉnh kế toán
các nghiệp vụ công nợ và liên quan.
- Việc xử lý tài chính- kế toán khi TCT còn một số tồn tại chính còn chưa rõ ràng.
Trong quá trình thực hiện công tác kế toán định giá có nhiều DN đã treo chi
125
phí trả trước dài hạn, các xử lý về các vấn đề tài chính, kế toán còn thực hiện chưa
nhất quán giữa các DN với nhau. Mặc dù, mỗi thời kỳ lại có các thông tư hướng dẫn
kế toán quá trình xử lý tài chính- kế toán tại thời điểm ĐGDN cho phù hợp song các
Thông tư này cũng không rõ ràng và thường bị chồng chéo nên các DNCPH khi thực
hiện mỗi DN thực hiện một cách khác nhau, không mang tính thống nhất giữa các
DN khi tiến hành CPH.
Việc định giá tài sản không chính xác sẽ làm cho công tác kế toán cũng bị ảnh
hưởng của việc điều chỉnh sổ sách. Công việc của kế toán quá trình định giá là rất vất
vả từ việc khóa sổ kiểm kê, phân loại đánh giá tài sản đến việc điều chỉnh, tổng hợp
sổ sách. Chính vì thế kết quả cũng chưa thực sự chính xác vì rất nhiều nguyên nhân
khác nhau. Nhiều DN vì lợi trước mắt mà cố tình làm sai và thất thoát vốn như việc
phân loại tài sản, một số tài sản vẫn còn giá tri sử dụng, đã hết khấu hao nhưng khi
CPH thì cho những tài sản đó là những tài sản không cần dùng và nhiều đơn vị đã
tiến hành thanh lý trước khi CPH.
Công nợ phải thu, phải trả việc đối chiếu số liệu có khó khăn, đó chính là lỗi ở
bộ phận kế toán DN CPH, bởi theo quy định, định kỳ các DN phải đối chiếu công nợ
với nhau từ đó mới có kết quả chính xác để lên BCTC vì vậy nếu đã có số liệu đối
chiếu định kỳ với các đối tác thì khi đánh giá công tác kế toán. Việc này cũng không
hẳn là trách nhiệm của những người làm công tác kế toán của đơn vị CPH mà do
công tác kế toán của các đối tác không làm đúng và đủ chức năng, tuy nhiên cũng có
những trường hợp bất khả kháng nhất là trong các ngành xây dựng không thể đối
chiếu được số liệu giữa các đơn vị đối tác được. Như vậy nếu số liệu không đối chiếu
được thì không biết phải xử lý thế nào? Kế toán ghi nhận khoản công nợ chưa đối
chiếu được vào đâu?
Chưa có văn bản, thông tư nào đi kèm với NĐ 59 - Hướng dẫn xử lý kế toán
khi CPH nên các DN CPH thực hiện theo TT 202/TT-BTC hướng dẫn xử lý tài chính
nên có DN làm tốt công tác này nhưng cũng có DN làm chưa theo đúng yêu cầu. Mặt
khác, trong hồ sơ Xác định GTDN có những DN có bản giải thích xử lý tài chính như
các DN thuộc công ty thành viên của Tổng Công ty Viglacera, nhưng cũng có các
DN không có bản giải thích cách xử lý tài chính như Công ty TNHH một thành viên
Đông Trường Sơn, Cảng Khuyến lương (thuộc Tổng công ty hàng hải Việt nam),
126
một số đơn vị có bổ sung Bảng tổng hợp bút toán điều chỉnh chênh lệch vào bộ hồ sơ
xác định GTDN như Công ty Than Cọc Sáu, Công ty tư vấn xây dựng công trình
thủy 1 thuộc Tổng công ty xây dựng đường thủy (mặc dù trong NĐ của CP và thông
tư Bộ tài chính không hướng dẫn) nên khi nghiên cứu Hồ sơ XĐGTDN sẽ làm cho
người đọc cảm thấy khó hiểu về những số liệu kế toán đã trình bày trong đó. Mặt
khác, khi thực hiện các DN cũng thường dựa vào kinh nghiệm để xử lý số liệu sổ
sách nên có sự khác biệt cách xử lý giữa các DN khác nhau.
Ba là: Trình độ, năng lực cán bộ kế toán nói riêng, ban chỉ đạo TCT nói
chung còn rất hạn chế và Công việc kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước khối
lượng nhiều, chất lượng chưa đảm bảo (theo NĐ 59/2011 và nay các DN được thực
hiện theo NĐ 189/2014).
Chuyên môn về các nghành nghề lĩnh vực kiểm toán chưa cao mặt khác số
liệu sổ sách, BCTC và những chứng từ liên quan tới việc xử lý tài sản trước và sau
kiểm kê, chênh lệch do đánh giá lại được xử lý và ghi nhận không rõ ràng và có phần khó hiểu nên công việc kiểm toán10 chậm trễ mặt khác khối lượng DN cần kiểm toán
khi TCT DN là rất lớn dẫn tới kết quả của việc xử lý tài chính, kế toán thời điểm
định giá ra công bố trên thị trường không được kịp thời (vì theo nguyên tắc hoạt
động liên tục, thời điểm DN đang tiến hành CPH, sáp nhập, hợp nhất là DN đang
hoạt động.) GTDN đến thời điểm công bố có thể đã thay đổi rất nhiều.
(2) Đối với doanh nghiệp khi tiến hành sáp nhập, hợp nhất.
Trong quá trình thực hiện các thương vụ sáp nhập, hợp nhất, ngoài những lý
do vướng mắc do chính từ những quy định còn có những sai sót, tồn tại lại chính do
quá trình thực hiện. Đó là do các nguyên nhan
Một là: Các DNNN khi thực hiện kế toán hợp nhất, sáp nhập DN vẫn chưa
triệt để thực hiện theo đúng các quy định của chuẩn mực, thông tư hướng dẫn.
Theo quy định tại VAS l1, những thông tin liên quan phải được trình bày công
khai trên BCTC. Các DN thường không thực hiện theo các yêu cầu và nguyên tắc
của chế độ kế toán trong quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu mà chỉ tập trung để ý
tới những thông tin chênh lệch ảnh hưởng đến BCĐKT, các thông tin trên Báo cáo
kết quả kinh doanh thường không được đề cập tới. Điều này ảnh hưởng tới những
10 Theo nguồn cung cấp của Kiểm toán Nhà nước
127
người quan tâm tới kết quả hợp nhất, sáp nhập DN do thiếu thông tin phân tích để có
được những quyết định đúng đắn cho việc đầu tư, hợp tác kinh doanh....Lý do không
đưa vào báo cáo của các DN chủ yếu là do chưa hiểu hết những quy định trong chuẩn
mực về quy định này cũng như không có những hướng dẫn cụ thể về các chỉ tiêu
trong BCTC khi chuyển đổi DN trong các thông tư hướng dẫn. Nội dung mà các DN
công bố trên BCTC thường rất sơ sài chỉ để cho đủ thủ tục chứ chưa thực sự giúp ích
cho người khai thác thông tin.
Hai là. Chưa triệt để thực hiện theo đúng các quy định của chuẩn mực,
thông tư hướng dẫn và Công tác kế toán trong quá trình định giá khi hợp nhất,
sáp nhập DN chưa có quy định cụ thể về một quy trình cơ bản.
Qua tìm hiểu nghiên cứu tại một số DN, tổ chức đã đang tiến hành sáp nhập,
hợp nhất DN. Hầu như công việc xử lý kế toán để tiến hành sáp nhập, hợp nhất thành
công giữa các đơn vị là do bộ phận kế toán xử lý. Tuy nhiên, hiện nay cũng không có
văn bản nào hướng dẫn cụ thể các bước công việc của kế toán trong tiến trình này, vì
thế công việc này của các tổ chức sáp nhập, hợp nhất là khác nhau, từ cách trình bày
đề án, phương pháp ghi nhận kế toán thời điểm này. Sổ sách, BCTC năm trước liền
kề là cơ sở chính cho việc sáp nhập, hợp nhất các DNNN. Trên Hồ sơ sáp nhập, hợp
nhất và nhất là trên biên bản sáp nhập hợp nhất cũng không có giải trình gì về quá
trình xử lý số liệu của kế toán.
Chính vì điều này mà công tác kế toán khi tiến hành hợp nhất sáp nhập thực
hiện không đồng nhất giữa các đơn vị, việc thực hiện chưa đúng theo nguyên tắc kế
toán là phù hợp, nhất quán, trọng yếu, thận trọng trong xử lý kế toán ghi nhận thông
tin... mặt khác, các DN khi định giá không tuân theo quy luật của thị trường, không
phân loại tài sản, nguồn vốn và đánh giá lại theo giá trị hiện thực mà hầu hết giá trị
tài sản được ghi nhận theo giá trị còn lại trên sổ kế toán dẫn tới GTDN, phần vốn ghi
nhận trên BCTC khi chuyển đổi không phản ánh chính xác tình hình và hiện trạng
sức khỏe của DN. Nhất là những DN đã CPH khi sáp nhập và hợp nhất sẽ gây thiệt
thòi cho người đầu tư....
128
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 là toàn bộ Phương pháp hệ nghiên cứu về thực tế quá trình xây
dựng hoàn thiện hệ thống văn bản quy định, những thông tư hướng dẫn và sự vận
dụng những quy định đó để thực hiện công tác kế toán định giá các DN khi tiến hành
tái cấu trúc DNNN tại các DNNN trong thời gian qua.
Từ những nghiên cứu, tìm hiểu các quy định và quan sát phân tích từ những
kết quả điều tra, phỏng vấn tại các đơn vị thuộc DNNN đã, đang tiến hành TCT DN,
khi CPH, sáp nhập, hợp nhất, thoái vốn, phá sản và giải thể một số DN có quy mô
vốn khác nhau với nhiều mô hình và phương pháp xử lý tài chính kế toán khác nhau
để từ đó phát hiện những thành tựu đã đạt được cũng như những vướng mắc trong
quá trình TCT DNNN khiến cho việc TCT chưa thực sự thành công và hoàn thành
đúng tiến độ.
Những phát hiện và phân tích về những vướng mắc từ những quy định của
chính phủ đối với việc thực hiện và những tồn tại từ chính các đơn vị đã đang tiến
hành TCT DN là mục tiêu giúp cho tác giả có những hướng giải pháp nhằm hoàn
thiện hơn nữa về kế toán ĐGDN khi tiến hành Tái cấu trúc DNNN.
129
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP KHI
TÁI CẤU TRÚC CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Quá trình tái cấu trúc DNNN được thực hiện cho hầu hết các hoạt động làm
thay đổi cơ cấu, hình thức sở hữu của DN. Chính vì sự chuyển đổi này mà vốn Nhà
nước bị ảnh hưởng rất lớn nhất là các DNNN khi tiến hành CPH. Để kết quả quá
trình TCT này thực sự đem lại hiệu quả như mục tiêu đã đề ra của Chính phủ thì việc
xây dựng khung hành lang pháp lý cũng như việc hướng dẫn và thực hiện của các
đơn vị phải có sự kết hợp ứng dụng chặt chẽ để đạt được sự tối ưu của việc xây dựng
khung hành lang pháp lý cho việc thực hiện.
3.1. Bối cảnh kinh tế, định hướng tái cấu trúc DNNN trong thời gian tới.
3.1.1. Bối cảnh kinh tế.
Theo kết quả của tổng cục thống kê, Kinh tế - xã hội nước ta đến thời điểm
tháng 9 tháng năm 2014 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới hồi phục chậm và
không đồng đều giữa các nền kinh tế sau suy thoái toàn cầu. Ngoài ra, tình hình
chính trị bất ổn tại một số quốc gia, nhất là khu vực châu Âu dẫn đến kinh doanh
trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp cũng như xuất khẩu của khu vực đồng
EURO bị ảnh hưởng mạnh bởi các biện pháp trừng phạt kinh tế giữa các nước trong
khu vực. Ở trong nước, kinh tế vĩ mô diễn biến theo hướng tích cực. Tuy nhiên, tổng
cầu của nền kinh tế tăng chậm, hoạt động SXKD của các DN còn khó khăn, tồn kho
hàng hóa vẫn ở mức cao. Sức hấp thụ vốn của nền kinh tế còn yếu. Tình hình biển
Đông có nhiều diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đáng kể đến động thái phát triển kinh
tế - xã hội và đời sống dân cư cả nước.
Việc phân công phân cấp và tổ chức thực hiện các quyền, trách nhiệm nghĩa
vụ của chủ sở hữu Nhà nước đối với DNNN còn chưa rõ, cơ chế phối hợp giữa các
cơ quan hữu quan còn nhiều bất cập, hiệu lực còn thấp, quản lý sử dụng ngân sách
chưa nghiêm, chế độ TNHH của sở hữu Nhà nước không được thực hiện triệt để.
Một số DNNN chưa thực hiện tốt việc tiết kiệm, nâng cao hiệu suất sử dụng vốn và
tăng năng suất lao động. Cơ chế hiện hành về giám sát, đánh giá hoạt động của
DNNN chưa có tác dụng cảnh báo và ngăn ngừa việc sử dụng kém hiệu quả nguồn
130
vốn và tài sản Nhà nước đầu tư. Chủ thể thực hiện chức năng chủ sở hữu Nhà nước,
trong đó có chức năng giám sát còn phân tán nên trách nhiệm giám sát hiệu quả hoạt
động của DNNN và việc quản lý, sử dụng vốn Nhà nước chưa rõ ràng.
Trước tình hình đó, Đảng, Quốc hội và Chính phủ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo
các ngành, các cấp và địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp nhằm
từng bước thực hiện tốt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả năm. TCT kinh tế
cũng luôn được thực hiện trong các năm qua và đối với bất kỳ nền kinh tế nào trên
thế giới trong đó mục tiêu là tái cấu trúc DNNN. Tuy nhiên, trong giai đoạn suy
thoái, các vấn đề tái cơ cấu càng được nhắc đến nhiều hơn với mong muốn là nhanh
chóng thoát ra khỏi khủng hoảng. Chính phủ đã đặt ra ba trọng tâm và ba đột phá
chiến lược phù hợp trong điều kiện kinh tế hiện nay và nhiệm vụ là sẽ phải kết hợp
đồng bộ để đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
3.1.2. Định hướng tái cấu trúc DNNN đến năm 2020
Thừa nhận những DNNN hoạt động không hiệu quả là một trong những
nguyên nhân gốc rễ của sự bất ổn kinh tế vĩ mô, Chính phủ đang từng bước hồi phục
và tiếp thêm sức mạnh cho công cuộc cải cách DNNN. Chính phủ đã cam kết: TCT
DNNN theo một khuôn mẫu xác định rõ DNNN nào CPH và DNNN nào phải giữ lại
quyền sở hữu chiến lược (theo mặc định, những DNNN với quyền sở hữu ít hơn
65% sẽ bị gạt bỏ), xây dựng kế hoạch TCT cho 21 Tổng công ty Nhà nước,giảm số
lượng DNNN thông qua CPH, từ 1.309 DNNN năm 2011 xuống còn 650 vào năm
2015, và khoảng xấp xỉ 200 năm 2020, trong đó bao gồm 17 DNNN lớn.Trong
những năm qua, Việt Nam đã đề ra và triển khai thực hiện nhiều chủ trương, giải
pháp quan trọng về đổi mới DNNN dựa trên liệu pháp “thận trọng từng bước” và đã
thu được nhiều kết quả tích cực. Tái cấu trúc các tập đoàn kinh tế Nhà nước
(TĐKTNN) được coi là một trong những trọng điểm của cải cách. Chính vì vậy
(cid:190) Về cơ bản cần phải tạo động lực cho tái cấu trúc DNNN như:
Thành lập Tập đoàn kinh tế Nhà nước và công ty mẹ - công ty con
Công ty mẹ - công ty con và TĐKTNN là 2 hình thức tổ chức kinh doanh có
nhiều khác biệt với các công ty Nhà nước độc lập. Việc hình thành công ty mẹ - công
ty con và TĐKTNN nói chung có động lực xuất phát từ nhu cầu sử dụng lợi thế của
kinh tế với sự cộng hưởng, gia tăng năng lực tài chính của chính những DN chủ chốt
131
hình thành các nhóm DN này.
Đối với TĐKTNN, bên cạnh các động lực vừa nêu là ý chí và chủ trương gia
tăng sức mạnh của kinh tế Nhà nước trong những ngành, lĩnh vực quan trọng, chủ
chốt của nền kinh tế. Minh chứng cho điều này là ngay từ năm 1994, Thủ tướng
Chính phủ đã quyết định thành lập 18 tổng công ty theo hướng TĐKTNN trong hầu
hết các ngành, lĩnh vực quan trọng.
Mặt khác, việc CPH các DN thành viên dẫn đến hình thành loại DN có vốn
chi phối của tổng công ty, từ đó biến các DN này thành công ty con và bản thân tổng
công ty chuyển thành công ty mẹ, tương tự như vậy đối với Tập đoàn kinh tế Nhà
nước (TĐKTNN). Vì thế, các TĐKTNN đều lấy mô hình công ty mẹ - công ty con
làm nền tảng để phát triển với điểm khác biệt là lớn hơn về quy mô, số cấp DN.
Chấn chỉnh, củng cố và thu hẹp tập đoàn kinh tế
Tái cấu trúc trở nên “bức xúc” khi DN đã rơi vào trạng thái mất cân bằng (mất
khả năng thanh toán, hoạt động không hiệu quả, có khả năng bị phá sản…). Vấn đề
đổi mới, sắp xếp lại bộ máy, chuyển đổi sở hữu hiện nay nổi lên dưới “vỏ mới” là
TCT. Hai trong số 11 TĐKTNN đã bị “hạ cấp” quay trở lại thành Tổng công ty.
Thu hẹp TĐKTNN ở đây được hiểu là thu hẹp lĩnh vực, ngành nghề mà các
tập đoàn “độc chiếm”, rút bớt nhiều lĩnh vực, ngành nghề các tập đoàn này “bành
trướng” trong giai đoạn trước khủng hoảng (như bất động sản, khách sạn, nhà hàng,
du lịch, lữ hành...). Hay nói cách khác, đó là thu hẹp từ tập đoàn đa chức năng sang
tập đoàn một số chức năng chủ yếu, quan trọng, liên quan đến ý đồ chiến lược, hiệu
quả chung của nền kinh tế, có tính ổn định và phát triển xã hội; đó là giảm bớt độc
quyền, tạo cơ hội cho các loại hình DN khác phát triển.
Định hướng cơ bản về tái cấu trúc
Định hướng TCT thể hiện chủ yếu ở định hướng sở hữu, hay nói cụ thể hơn, ở
tỷ lệ sở hữu mà Nhà nước cần nắm giữ. Vẫn như trước đây, Nhà nước sẽ vẫn duy trì
3 tỷ lệ sở hữu:
(1) - Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;
(2) - Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối;
(3) - Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần.
Mặt khác:
132
Tái cấu trúc DN được thực hiện đồng bộ từ TCT tư duy, TCT thể chế, TCT
mô hình hoạt động, TCT đầu tư, TCT quản lý Nhà nước đối với DNNN. Thực hiện
các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, nhiệm vụ chung đến năm 2015 là:
Tiếp tái cơ cấu DNNN trọng tâm là CPH, kể cả các tập đoàn kinh tế; thoái vốn đầu tư
ngoài ngành vả bán phần vốn mà Nhà nước không cần nắm giữ theo nguyên tắc thị
trường, bao gồm cả DN đang kinh doanh có hiệu quả. Tập trung vào: Các ngành, các
cấp tiếp tục quán triệt sâu sắc các Nghị quyết của Đảng và các Kết luận của Trung
ương, Bộ Chính trị, tạo ra sự nhất trí cao trong toàn hệ thống chính trị và xã hội về
quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh tái cơ cấu, CPH DNNN.
Tiếp tục hoàn thiện khung khung pháp lý để thúc đẩy tái cơ cấu, CPH DNNN,
để DNNN kinh doanh hoạt động trong môi trường pháp lý công khai minh bạch và
cạnh tranh bình đẳng với DN thuộc các thành phần kinh tế khác, sử dụng có hiệu quả
các nguồn lực đã đầu tư. DN kinh doanh được Nhà nước giao làm nhiệm vụ công ích
hoặc bình ổn giá, thì Nhà nước có cơ chế, chính sách để DN hạch toán kinh doanh và
thực hiện tốt nhiệm vụ này. Các Bộ, ngành, địa phương, Tập đoàn kinh tế, Tổng
công ty Nhà nước căn cứ tiêu chí, danh mục phân loại DNNN mới ban hành, tiếp tục
rà soát, bổ sung những DNNN không cần nắm giữ vào diện thực hiện tái cơ cấu để
tăng thêm số DN thực hiện CPH, giảm số DNNN giữ 100% vốn điều lệ hoặc giữ cổ
phần chi phối. Thực hiện CPH 432 DN theo phương án đã phê duyệt. Những DN có
điều kiện thì thực hiện bán cổ phiếu lần đầu ra thị trường theo quy định hiện hành.
Những DN chưa có điều kiện bán cổ phiếu ra ngoài ngay thì chuyển thành công ty cổ
phần với các cổ đông là NN, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn NN, tổ chức
công đoàn, người lao động, cổ đông chiến lược (nếu có) hoặc các cổ đông tự nguyện
khác nhằm thay đổi hình thức pháp lý DN, đa dạng hóa sở hữu, góp phần dân chủ
hóa kinh doanh, tạo hàng hóa sẵn sàng cho thị trường.
Mặt khác, Chính phủ ban hành Nghị quyết về thoái vốn đã đầu tư ngoài ngành
kinh doanh chính và vốn Nhà nước ở những DN đã CPH mà Nhà nước không cần
giữ cổ phần chi phối hoặc không giữ cổ phần. Ngoài ra để có thể TCTDN một cách
bền
vững hơn cho giai đoạn tiếp theo
Thứ nhất: Kế hoạch tái cấu trúc DNNN cần phải được xây dựng một cách thận trọng
133
Thứ hai: Nỗ lực cải cách cần phải được toàn diện hơn.
Thứ ba: Lựa chọn thử nghiệm tại một số đơn vị trọng điểm
Kết thúc thí điểm hình thành các Tập đoàn kinh tế, qua đó những Tập đoàn
kinh tế tổ chức hoạt động không khác Tổng công ty Nhà nước, thành lập mang tính
cơ học, không phù hợp với mục tiêu nhiệm vụ đề ra sẽ tổ chức lại thành Tổng công
ty Nhà nước.
3.1.3. Khó khăn thực hiện và triển vọng tương lai về Tái cấu trúc DN.
Thực tế cho thấy các DN khi tiến hành tái cấu trúc DNNN thì việc thực hiện
CPH vẫn là vấn đề có nhiều khó khăn bất cập nhất, tuy nhiên việc hợp nhất hoặc sáp
nhập cũng không kém phần phức tạp và đầy những khó khăn nếu đặt DNNN như
những DN khác trong nền kinh tế thị trường.
Trong tình hình thực tế gần đây, thị trường cổ phiếu sụt giảm lãi suất ngân
hàng thời điểm năm trước lên cao, khủng hoảng nền kinh tế Mỹ, Châu Âu và các
nước phát triển đã phần nào làm ảnh hưởng đến tiến trình TCT ở Việt nam do các
nhà đầu tư không còn mấy hứng thú cho việc đầu tư vào các công ty cổ phần. Những
thương vụ hợp nhất và sáp nhập để TCT DNNN hiện nay đa phần được thực hiện
trong một Tập đoàn, một Tổng công ty nên chưa thấy hết được sự khó khăn nếu thực
hiện giữa các đơn vị thuộc các Tập đoàn và Tổng công ty khác nhau đã CPH, hay
rộng hơn đó là những thương vụ hợp nhất, sáp nhập giữa DNNN với DN bên ngoài
khác. Mặt khác, thị trường giá cả tại Việt Nam chưa ổn định và chưa có quy định
chung nên rất khó thực hiện đánh giá tài sản sau ghi nhận ban đầu theo GTHL.
Việc thực hiện Tái cấu trúc DNNN sẽ chưa dừng lại, tương lai việc thực hiện
ĐGDN là việc làm cần thiết của nền kinh tế thị trường trong quá trình TCTDN để cơ
cấu lại DNNN Việt Nam nói riêng, DN Việt Nam nói chung.
3.2. Nguyên tắc và yêu cầu hoàn thiện kế toán ĐGDN khi tái cấu trúc DN.
3.2.1. Nguyên tắc thực hiện kế toán ĐGDN khi tái cấu trúc DN
Để thực hiện công tác kế toán ĐGDN đạt hiệu quả cao nhất khi TCT DN cần
phải có những nguyên tắc cơ bản khi thực hiện.
3.2.1.1. Nguyên tắc phù hợp
(1) Phù hợp với thông lệ chuẩn mực quốc tế
Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển và hòa nhập chung với nền kinh
134
tế phát triển của thế giới, hệ thống kế toán Việt Nam cũng đang từng bước xây dựng
phù hợp với những quy định trong chuẩn mực kế toán quốc tế, chính vì vậy việc thực
hiện TCT DNNN cũng cần phải có những hướng giải pháp sao cho việc thực hiện
mang tính đồng nhất và phù hợp với thông lệ chung trên thế giới về kế toán.
(2). Phù hợp với Luật, chuẩn mực, chế độ quy định về kế toán Việt Nam
Với DN thì môi trường pháp lý, hành lang thực hiện ảnh hưởng rất nhiều tới
DN. DNNN phụ thuộc vào sự chỉ đạo và trực tiếp của Chính phủ và những quy định
khung về kế toán vì thế mọi thực hiện đều phải tuân theo quy định của Nhà nước
nhất là trong quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu. Vì vậy khi TCTDN, cần phải
thực hiện theo đúng các quy định và chủ trương của Đảng và Nhà nước đề ra trong
Luật kế toán và các Nghị định ban hành áp dụng cho từng thời kỳ tại từng thời điểm
bởi vì đối với DN khi TCT đều theo mục đích nhằm lành mạnh hóa DN, với mục tiêu
mà Đảng và Nhà nước đặt ra theo những quy định tại từng thời điểm cho phù hợp
với hoàn cảnh của từng DN tại thời điểm đó nên khi thực hiện kế toán định giá cần
phải xem xét, nghiên cứu, thực hiện những quy định đối với DN tại thời điểm nhất
định thì việc xây dựng các chính sách của các Bộ mới phù hợp với thực tế và các đơn
vị TCT mới thực hiện được dễ dàng và chuẩn xác. Đồng thời phải thực hiện đúng đủ
và phù hợp với các chuẩn mực kế toán có liên quan, những quy định cụ thể trong chế
độ kế toán mới mang tính đồng nhất giữa các đơn vị khi tiến hành TCT DN.
(3). Phù hợp với thông tư, quy định của Bộ Ngành
Đối với kế toán nói chung, kế toán ĐGDNNN nói riêng thì việc thực hiện và
vận dụng đúng các quy định rất quan trọng bởi kết quả của kế toán ảnh hưởng rất
nhiều tới kết quả của DN Tái cấu trúc. Trong quá trình thực hiện công tác kế toán
cần phải tuân thủ những quy định của thông tư hướng dẫn về xử lý tài chính, kế toán
khi đánh giá, xử lý và ghi nhận những chênh lệch khi đánh giá GTDN trong từng giai
đoạn khi chuyển đổi sở hữu DN và tại từng giai đoạn thực hiện và thời điểm sử dụng
các quy định và phải phù hợp với những quy định riêng của các ngành quản lý.
(4). Phải phù hợp với nguyên tắc kế toán được thừa nhận.
Đối với kế toán định giá thì định giá và việc xử lý kế toán là việc nhạy cảm vì
làm ảnh hưởng trực tiếp tới phần vốn Nhà nước có trong DN. Chính vì vậy, việc áp
dụng các nguyên tắc tại các giai đoạn thực hiện của kế toán định giá là rất quan
135
trọng. Kế toán ĐGDN khi TCTDN là công tác kế toán thực hiện tại một thời điểm
khi chuyển đổi hình thức sở hữu DNNN. Chính vì vậy cần phải áp dụng và thực hiện
tốt các nguyên tắc kế toán sao cho phù hợp với DN tại thời điểm ĐGDN. Các nguyên
tắc kế toán chính là những quy định cơ bản cho kế toán để khi thực hiện công tác kế
toán nói chung và kế toán ĐGDN nói riêng. Những nguyên tắc kế toán cơ bản chính
là giúp cho DN thực hiện theo một hướng nhất định vì thế kết quả đem lại mới thực
sự đem hiệu quả và đồng nhất giữa các DN.
3.2.1.2. Nguyên tắc khả thi
Khi xây dựng bất cứ một dự án, một kế hoạch một giải pháp....nào cũng cần
phải tính đến nguyên tắc và tính khả thi của nó.
Về trước mắt: Khi xây dựng những giải pháp hoàn thiện kế toán định giá khi
TCTDN cần phải giải quyết ngay được những tồn tại, những cấp bách trọng hiện tại
để giúp cho công việc thực hiện kế toán ĐGDN mới tiến hành nhanh chóng, sớm
hoàn thành kế hoạch Đảng và Nhà nước đề ra.
Về lâu dài: Những giải pháp cần phải tiến tới với mục tiêu xa hơn, ngoài việc
giải quyết những cấp thiết về kế toán trong TCT DN nói riêng TCT DN nói chung
thực hiện tốt theo kế hoạch đã đặt ra, cần phải có những giải pháp mang tính chất áp
dụng lâu dài, phục vụ cho công tác kế toán ĐGDNNN nói riêng các DN Việt Nam
nói chung.
3.2.1.3. Nguyên tắc hiệu quả.
Những giải pháp khi xây dựng cần phải xét tới khía cạnh hiệu quả khi thực
hiện, về khả năng thực hiện giải pháp với những điều kiện về môi trường luật pháp,
môi trường kinh tế xã hội ở Việt Nam và đối tượng áp dụng rộng, chi phí tiết kiệm,
phù hợp nguồn nhân lực sẵn có, đem lại hiệu quả kinh tế cho Nhà nước sau khi thực
hiện giải pháp.
3.2.2. Yêu cầu thực hiện kế toán ĐGDN khi TCTDN.
Thứ nhất: Hoàn thiện kế toán ĐGDN khi TCTDN phải phù hợp với yêu cầu
của hội nhập kinh tế, hội nhập kế toán và các chuẩn mực kế toán quốc tế.
Kế toán tại mỗi quốc gia đều có những chính sách riêng, hệ thống kế toán
riêng nhằm phục vụ cho công tác quản lý và điều hành kiểm tra kiểm soát nền kinh
136
tế. Nhưng đối với nền kinh tế thị trường mở thì vấn đề hội nhập được chú trọng hàng
đầu để mở cửa nền kinh tế thu hút vốn đầu tư của nước ngoài để phát triển nền kinh
tế đất nước vì vậy hội nhập nền kinh tế kéo theo hội nhập về công cụ quản lý nền
kinh tế trong đó có kế toán.
Hầu hết các chuyên gia kinh tế trên thế giới đều thừa nhận con đường ngắn
nhất để nhanh chóng hội nhập với kế toán của các nước trong khu vực và thế giới là
xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán quốc gia tren nền tảng của chuẩn mực kế toán
quốc tế. Tuy nhiên chuẩn mực về TCT nói chung tại Việt nam chưa có và cụ thể cho
CPH DN cũng chưa được xây dựng, trong đó chỉ có duy nhất chuẩn mực về hợp nhất
kinh doanh của Việt Nam được xây dựng dựa theo nền tảng của chuẩn mực kế toán
quốc tế. Để vận dụng những nguyên tắc cơ bản để xây dựng những chuẩn mực kế
toán dựa vào chuẩn mực kế toán quốc tế và với điều kiện của môi trường kinh tế Việt
Nam cần phải xây dựng mô hình công ty cổ phần, công ty mẹ - con theo định hướng
và mục tiêu của TCT DN đồng thời phải loại bỏ những yếu tố không phù hợp của cơ
chế quản trị hành chính, cấp trên, cấp dưới trong các Tổng công ty thay vào đó là
mối quan hệ đầu tư tài chính của các đơn vị.
Kế toán thực hiện công tác KTĐG cần phải thực hiện và tuân thủ nghiêm ngặt
các nguyên tắc, thông lệ và chuẩn mực kế toán Quốc tế, để kế toán được chấp nhận
chung trên toàn thế giới, là cơ sở để thu hút vốn đầu tư nước ngoài mở rộng mối
quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế.
Thứ hai: Hoàn thiện kế toán ĐGDN khi TCTDNNN cần phải tuân thủ pháp
luật, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Các DN hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tuân thủ theo pháp luật
của Việt Nam. Đặc biệt đối với DNNN lại càng cần phải thực hiện đúng theo các
nguyên tắc chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Mọi hoạt động kinh doanh của DN cũng
nằm trong khuôn khổ đó nhất là đối với kế toán một công cụ chính quản lý tài chính
tại các DN. Như vậy, DN phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo pháp luật hiện hành.
Bên cạnh đó, KTĐGDN khi TCT cũng cần phải thực hiện và tuân thủ đầy đủ các cơ
chế chính sách tài chính của Nhà nước như nghĩa vụ nộp thuế, xử lý các vấn đề tồn
đọng về tài chính. Tất cả những hoạt động của kế toán TCTDN phải tuân thủ các chủ
trương, đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước nhất là định hướng và mục tiêu về
137
TCTDN tại các DNNN.
Thứ ba: Hoàn thiện kế toán ĐGDN khi TCTDN phải dựa trên cơ sở kết hợp
hài hòa yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước và yêu cầu quản trị của DN.
Nhà nước quản lý nền kinh tế ở tầm vĩ mô, chức năng của Nhà nước là điều
hành nền kinh tế thông qua các chính sách kinh tế và hệ thống pháp luật. Nhà nước
không can thiệp trực tiếp vào hoạt động của DN mà thông qua các Nghị định, Quyết
định về CPH, hợp nhất, sáp nhập.... DN và kiểm soát các hoạt động về CPH, sáp
nhập, hợp nhất DN theo chủ trương tái cấu trúc DNNN tại các DN. Đối với DN,
xuất phát từ nhu cầu về vốn , công nghệ, nhân sự ....đã nảy sinh nhu cầu cần phải
TCT lại DN theo từng loại hình DN cho phù hợp nên đã phát sinh các trường hợp
TCT phù hợp như có những đơn vị cần phải CPH, có những đơn vị cần phải hợp
nhất, có những DN lại nên sáp nhập.... Hiện tại, điều kiện thực hiện công tác kế toán
ĐGDN tại Việt Nam không giống nhau, mỗi DN có một môi trường kinh doanh khác
nhau vì vậy chưa thể đáp ứng được những yêu cầu của Việt Nam và trên Thế giới.
Tuy nhiên, hoàn thiện kế toán ĐGDN khi TCT DN cần phải đảm bảo phù hợp với
đặc điểm tổ chức, đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý cũng như khả năng trình độ
của nhân sự tại DN.
Thứ tư: Hoàn thiện kế toán ĐGDN khi TCT DNNN phải đảm bảo tính hiệu
quả và tính kinh tế của hoạt động kế toán.
Yêu cầu này đòi hỏi khi hoàn thiện kế toán ĐGDN phải luôn xem xét tính
hiệu quả và tính kinh tế trong các hoạt động này. Điều này đòi hỏi tổ chức hoạt động
kế toán ĐGDN phải gọn nhẹ ở từng khâu như tư vấn pháp lý, thẩm định GTDN, tổ
chức phát hành cổ phiếu, bán cổ phiếu, trái phiếu, nhận bàn giao tài sản, nguồn vốn,
hoàn thiện nhanh gọn hồ sơ và các thủ tục về mặt pháp lý, tiết kiệm chi phí hạch
toán. Đồng thời công tác kế toán phải đảm bảo quản lý một cách tốt nhất các hoạt
động kinh tế tài chính của đơn vị, ngăn ngừa được các hiện tượng thất thoát tài sản
và các gian lận trong khâu xử lý các chênh lệch về ĐGGT tài sản trong DN....
Thứ năm: Hoàn thiện kế toán ĐGDN phải đảm bảo tính phù hợp với trình độ
của các đơn vị , dễ làm, dễ hiểu, dễ đối chiếu, dễ so sánh
Chính vì việc thực hiện công tác kế toán định giá khi tái cấu trúc DNNN
không phải là công việc thường xuyên của các DN. Mặt khác, lại là vấn đề rất nhạy
138
cảm vì ảnh hưởng trực tiếp tới phần vốn Nhà nước có trong DN vì vậy đây là công
việc không dễ thực hiện. Đã có những đơn vị khi thực hiện TCT đều có thuê các tổ
chức định giá thực hiện, việc thực hiện chắc cũng sẽ đơn giản hơn do được chuyên
môn hóa. Tuy nhiên, vì là những người không thuộc DN nên không thể hiểu và
ĐGGT tài sản chính xác được vả lại cách xử lý những vấn đề tài chính càng không
thể làm tốt hơn người của chính đơn vị đó. Vì vậy, đối với những giải pháp cần phải
giúp cho những người không chuyên môn hóa cũng dễ thực hiện và thực hiện đúng
theo một quy trình để các đơn vị giám sát và kiểm tra cũng dễ thực hiện.
3.3. Giải pháp hoàn thiện kế toán ĐGDN khi tái cấu trúc DNNN.
Đề ra những giải pháp hoàn thiện cho kế toán ĐGDNNN là nhằm đạt được
mục tiêu và định hướng TCT DNNN của Chính phủ với thời gian nhanh nhất, chất
lượng tốt nhất dựa trên nền tảng của những quy định đã đặt ra và những kinh nghiệm
đã đúc rút từ những DN đã thực hiện công tác KTĐG khi TCT DNNN.
3.3.1. Hoàn thiện hành lang pháp lý về kế toán ĐGDN khi tái cấu trúc
DNNN.
Giải pháp về hoàn thiện những quy định cơ bản về kế toán ĐGDN chính là
việc xây dựng cho quá trình này một cái khung vững chắc dựa vào đó để thực hiện
các bước tiếp theo một cách dễ dàng và hiệu quả
3.3.1.1. Hoàn thiện một số nội dung, quy định kế toán tái cấu trúc DN
trong hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam theo thông lệ quốc tế
Công tác kế toán tại các DN Việt Nam hiện nay đều hướng theo quy định
chuẩn mực kế toán VN. Về cơ bản, kế toán đều dựa vào các nguyên tắc kế toán trong
chuẩn mực chung, những nguyên tắc cũng chỉ mang tính chất tương đối, mỗi chuẩn
mực ban hành lại quy định cho một vấn đề liên quan trong kế toán định giá (trong
ghi nhận ban đầu và ghi nhận sau ban đầu) nhưng những vấn đề cụ thể trong kế toán
định giá trong Tái cấu trúc DNNN lại quy định từ các Nghị định của chính phủ và
các Thông tư hướng dẫn ban hành phù hợp cho từng thời điểm, không phải là quy
định khung cho việc thực hiện nên việc thực hiện công tác kế toán cũng khó mà đồng
nhất giữa các DN với nhau. Vì vậy, để công tác KTĐG có cơ sở thực hiện theo một
quy định thống nhất cần phải có một chuẩn mực quy định cụ thể cho công tác này,
139
căn cứ vào hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế và kinh nghiệm của một số quốc gia
trên thế giới, đồng thời phù hợp với đặc điểm tại VN.
(cid:190) Hoàn thiện chuẩn mực chung ( VAS1)
Thêm nội dung nguyên tắc lựa chọn tổ chức định giá phù hợp với từng
loại hình doanh nghiệp.
Công tác kế toán định giá yêu cầu khối lượng công việc nhiều trong thời gian
có hạn. Việc phân loại, đánh giá, xử lý tài sản, nợ phải trả cũng rất khó khăn vì nhiều
lúc mang tính chủ quan cao vì thế cần phải có thêm nội dung quy định nghề nghiệp
các phương pháp, quy trình, tiêu thức để đánh giá chất lượng ĐGDN.
Bộ tài chính đã có những văn bản công bố danh sách các đơn vị được phép thực
hiện dịch vụ ĐGDN CPH. Nhưng chính vì không có chuẩn mực quy định nên việc
lựa chọn các DN và cá nhân đủ năng lực định giá còn chưa thực sự đảm bảo chất
lượng nên ảnh hưởng tới chất lượng của quá trình này.
- Bổ sung giá trị hợp lý vào nội dung quy định nguyên tắc sử dụng các loại
giá cho việc ghi nhận và đánh giá tài sản.
Ngoài ra, các DNNN khi CPH, TCTDN có nhiều loại hình khác nhau, có hệ số
đánh giá chất lượng kỹ thuật máy móc thiết bị rất phức tạp như: thủy điện, tuabin
khí, truyền tải phân phối điện, các thiết bị khai thác lộ thiên, hầm lò. Các ngành cơ
khí, luyện kim, xây dựng công nghiệp và dân dụng, giao thông, thủy sản, điện tử,
công nghiệp thực phẩm...nên cũng rất khó XĐGT tài sản đặc thù của các DN đó. Mặt
khác kết quả đánh giá GTDN và phương pháp xử lý kế toán chỉ mang tính chất tương
đối và sự vận dụng những quy định không thống nhất, nhất quán dẫn tới kết quả
không chính xác. Đây cũng là vấn đề mà các đơn vị khi thực hiện CPH phải cân nhắc
trước khi lập BCTC sau định giá. Chính vì vậy đối với quy định trong chuẩn mực
chung cần bổ sung giá trị hợp lý vào nội dung quy định trong nguyên tắc sử dụng các
loại giá cho việc ghi nhận và đánh giá tài sản.
(cid:190) Hoàn thiện nội dung VAS 03 (Tài sản cố định hữu hình) và VAS 04
(Tài sản cố định vô hình)
- Bổ sung nội dung xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu
Đối với nội dung này, việc ghi nhận tài sản sau ghi nhận ban đầu với mục đích
Tái cấu trúc cần xem xét vận dụng các quy định trong Chuẩn mực kế toán quốc tế
140
IFRS 13- Fair Value Measurement(Giá trị hợp lý) cho việc xác định giá trị sau ghi
nhận ban đầu cho một số trường hợp cụ thể như đã nêu trong phần 1.3.3. chương 1.
Trong quy định cần phải có quy định cụ thể điều kiện thực hiện đối với việc thực
hiện theo GTHL. Tuy nhiên, để phù hợp với quy định trong chuẩn mực cần phải có
sự kết hợp lộ trình thay đổi quy định thị trường giá cả nhằm thống nhất giá các mặt
hàng trên thị trường, nâng cao tính minh bạch trong thông tin, làm cơ sở xác định giá
trị DN.
(cid:190) Bổ sung Chuẩn mực kế toán (VAS...) Xác định giá trị hợp lý
Kết quả của quá trình Tái cấu trúc DN thể hiện trên BCTC, chính vì vậy nội
dung chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS 13 rất phù hợp cho việc áp dụng ghi nhận và
trình bày thông tin trên BCTC yêu cầu hoặc cho phép xác định giá trị hợp lý hay
thuyết minh về việc xác định giá trị hợp lý trừ một số trường hợp được quy định đã
được quy định tại các chuẩn mực kế toán khác.
Đối với chuẩn mực kế toán Việt Nam " Xác định giá trị hợp lý" cần xây dựng
lộ trình và nội dung tương đồng với Chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS 13- Fair Value
Measurement (Xác định giá trị hợp lý). Tuy nhiên, để chuẩn mực có tính khả thi cao
và phù hợp với tình hình bối cảnh kinh tế Việt Nam trong thời gian hiện tại và tương
lai.
Đối với nội dung "Các kỹ thuật định giá" cần phải xây dựng 3 phương thức
phổ biến được áp dụng, những điều kiện cần phải sử dụng những kỹ thuật định giá
phù hợp với hoàn cảnh và những dữ liệu sẵn có để xác định GTHL, cần phải xây
dựng chi tiết và cụ thể về các yếu tố đầu vào cho các kỹ thuật định giá sử dụng tối đa
các yếu tố đầu vào có thể quan sát được có liên quan và hạn chế sử dụng các yếu tố
đầu vào không thể quan sát được đối với môi trường kinh doanh như ở Việt Nam.
Thiết lập "Hệ thống phân cấp giá trị hợp lý" phù hợp:
Vì môi trường kinh doanh ở Việt Nam không ổn định chính vì vậy GTHL sẽ
rất khó tiếp cận và sử dụng nếu không xây dựng và thiết lập phân cấp GTHL phù
hợp. Để việc định giá có tính khả thi cần phải quy định cụ thể một môi trường kinh
doanh lành mạnh hơn để từ đó sự phân cấp giá trị mới thực sự làm cơ sở cho việc
định giá.
141
- Các yếu tố đầu vào cấp 1: là gía niêm yết (trước điều chỉnh) trên thị trường
hoạt động đối với các TS và công nợ cùng loại mà DN có thể tiếp cận ngày định giá..
- Các yếu tố đầu vào cấp 2: là các yếu tố đầu vào khác có thể quan sát được
trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến TS hoặc công nợ, ngoài niêm yết nêu tại Yếu tố
đầu vào cấp 1
Yếu tố đầu vào cấp 3: là những yếu tố đầu vào không quan sát được liên quan
đến tài sản/công nợ.
Trình bày thông tin trên BCTC
Trong kế toán định giá khi tái cấu trúc, kết quả của quá trình thực hiện được
thể hiện trên BCTC. Vì vậy, việc lập và trình bày thông tin trên BCTC cần tương
đồng với quy định của TT số 200/2014 về tái cấu trúc DN.
Doanh nghiệp cần thuyết minh tất cả các thông tin để giúp người sử dụng
BCTC có thể đánh giá được về các vấn đề: Kỹ thuật định giá và các yếu tố đầu vào
được sử dụng để xây dựng các cách xác định GTHL đối với tài sản/công nợ được xác
định giá trị hợp lý lặp lại hoặc không lặp lại cho mục đích ghi nhận trên bảng cân đối
cân kế toán sau ghi nhận ban đầu và những ảnh hưởng của việc xác định giá trị hợp
lý đến kết quả XĐGTDN, đối với việc lặp lại việc xác định GTHL sử dụng những
yếu tố đầu vào không quan sát được (yếu tố đầu vào cấp 3).
Như vậy: Việc hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam phục vụ cho
mục đích chuyển đổi sở hữu sẽ giúp cho các DNNN nói riêng, DN nói chung khi tiến
hành thực hiện sẽ dễ dàng hơn, đồng nhất hơn.
3.3.1.2. Hoàn thiện quy định cụ thể về kế toán ĐGDN khi TCTDN.
Sau khi xây dựng chuẩn mực chung quy định cho các loại hình DNTCT cũng
cần phải có những quy định hướng dẫn cụ thể cho từng loại hình TCT.
Một là: Khi xây dựng các quy định cần phải phù hợp, sát với tình hình thực tế.
Để việc thực hiện công tác kế toán định giá không vướng mắc khó thực hiện,
khi xây dựng các quy định cần phải tham khảo ý kiến của các chuyên gia đã thực
hiện công tác TCT trong và ngoài nước, để có được một quy định sát với thực tế hơn
vì thực chất công tác định giá tài sản nói chung, kết toán định giá tài sản nói riêng
mang tính chất chủ quan cao, phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của người thực hiện vì
vậy từ khi tiến hành TCTDN, Nhà nước mới chỉ ban hành các nghị định và thông tư
142
hướng dẫn chỉ phù hợp với từng kỳ thực hiện và chỉ áp dụng đối với khối DNNN chứ
không có một quy định cụ thể các phương pháp, quy trình và tiêu thức để đánh giá
chất lượng ĐGDN chung cho các DN trên thị trường.
Hai là: Cần phải bổ sung trong quy định việc xây dựng quy định khung
thống nhất về quy trình kế toán định giá khi tái cấu trúc DNNN.
Trong các quy định về TCT theo các phương hướng cụ thể, việc xây dựng cụ
thể quy trình kế toán định giá, bổ sung quy trình mô tả các giai đoạn và các bước
thực hiện cho quá trình thực hiện TCT thì sẽ giúp cho người thực hiện hiểu rõ được
các giai đoạn cần phải chuẩn bị và bước công việc cụ thể của mình từ đó việc thực
hiện sẽ nhanh chóng và tránh sai sót.
Cách xây dựng quy trình có thể mô tả bằng mô hình, khi thực hiện các đơn vị
chỉ cần thông qua mô hình cơ bản áp dụng cụ thể vào đơn vị mình khi thực hiện TCT
DN của từng phương thức cụ thể.
Ba là: Khi xây dựng những quy định và hướng dẫn phải rõ ràng, cụ thể,
tránh việc trái ngược nhau làm ảnh hưởng tới công tác kế toán ĐGDN khi CPH.
Mặc dù đã có những thay đổi trong quy định đối với phương pháp định giá
nhằm giúp các DN tiến hành TCT thuận lợi. Tuy nhiên, những quy định này vẫn còn
những quy định, hướng dẫn gây khó hiểu, khó thực hiện cho người làm công tác định
giá và ảnh hưởng tới KTĐG chính vì vậy khi Nhà nước ban hành các thông tư cũng
cần phải hướng dẫn rõ ràng hơn, và cụ thể của từng vấn đề:
- Đối với tài sản cố định hữu hình:
Cần có quy định và hướng dẫn cụ thể cho những trường hợp TSCĐ đã khấu
hao hết, có đặc thù riêng không có TS tương tự trên thị trường, còn giá trị sử dụng.
Theo quy định khi xác định giá trị của TSCĐ đã khấu hao hết còn sử dụng
được xác định (tại điều 18 mục 1) "theo giá thị trường của tổ chức định giá nhân (x)
chất lượng còn lại của tài sản tại thời điểm định giá" nhưng không có tài sản mới
cùng loại trên thị trường để so sánh thì ghi tính theo giá tài sản trên sổ kế toán và tỷ
lệ % của giá trị ghi sổ "không thấp hơn 20% giá trị tài sản". Điều này rất khó thực
hiện chính vì vậy, để xác định giá trị toàn bộ tài sản của DN ( gồm TSCĐ, hàng tồn
kho) nên đánh giá theo giá trị hợp lý không phân biệt đã khấu hao hết hay chưa (áp
dụng chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS 13- Giá trị hợp lý).
143
- Đối với tài sản cố định vô hình:
Theo quy định của TT số 203 năm 2009 nay là TT số 45/2013/TT-BTC ban
hành ngày 25/04/2013 đối với TSCĐ vô hình DN tự lựa chọn và thời gian khấu hao
không quá 20 năm, nhưng nhiều DN khấu hao TSCĐ vô hình dưới 20 năm để thu
hồi vốn nhanh. Theo TT số 202/2009 giá trị tài sản được đánh giá theo giá trị ghi sổ
sẽ không sát với thực tế. Chính thế có những tài sản đã được khấu hao hết nhưng giá
trị sử dụng còn rất hữu ích (do đặc thù của ngành và của chính những tài sản đó đem
lại) khi đánh giá lại cũng cần phải đánh giá và ghi nhận xử lý giống như TSCĐ hữu
hình đã hết thời gian sử dụng hoặc không có tài sản tương tự để đánh giá đã đề cập ở
trên.
Bốn là: Xác định lợi thế kinh doanh cần thống nhất giữa các quy định và
phải có hướng dẫn cụ thể về cách xác định.
Lợi thế kinh doanh cũng là một phần cơ bản trong nội dung ĐGDN mỗi lần sửa
đổi bổ sung, hướng dẫn về lợi thế kinh doanh đã có sự thay đổi bổ sung sao cho phù
hợp hơn với thời điểm và giai đoạn định giá, tuy nhiên vẫn cần bổ sung hướng dẫn
cụm từ: “Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn Nhà nước bình quân 3 năm trước thời
điểm xác định GTDN” và “Lãi suất của trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 5 năm do Bộ
Tài chính công bố tại thời điểm gần nhất với thời điểm XĐGTDN”. tránh gây lúng
túng cho các DNCPH khi thực hiện ĐGDN theo phương pháp tài sản dẫn tới việc
xác định vốn NN chưa chính xác.
Cần phải có phụ lục hướng dẫn tính Lợi thế kinh doanh (trong phương
pháp giá trị tài sản) kèm theo thông tư hướng dẫn của Bộ tài chính
Tại điều 18 khoản 7: Lợi thế kinh doanh của Thông tư 202/2011/TT-BTC
được hướng dẫn theo NĐ 59/2011/NĐ-CP Tại điều 18 mục 7. có hướng dẫn cách
tính Giá trị lợi thế kinh doanh của DN được xác định theo tỷ suất lợi nhuận và lãi
suất trái phiếu Chính phủ theo công thức:
Lãi suất của trái phiếu Tỷ suất LNST GT phần vốn Chính phủ có kỳ hạn 5 trên vốn CSH Giá trị NN theo sổ - x = năm do BTC công bố bình quân 3 lợi thế KT tại thời tại thời điểm gần nhất năm trước thời KD của điểm ĐG điểm XĐGTDN DN với thời điểm ĐGTDN
144
Trong đó:
Tỷ suất lợi nhuận sau Lợi nhuận sau thuế bình quân 3 năm liền kề
Thuế trên vốn CSH trước thời điểm XĐGTDN
bình quân 3 năm trước = Vốn CSH theo sổ kế toán bình quân 3 năm x 100
thời điểm XĐGTDN liền kề trước thời điểm XĐGTDN %
Do rất nhiều các DN hiểu sai và thực hiện sai về "vốn CSH theo sổ kế toán
bình quân 3 năm liền kề ". Không chỉ là giá trị trung bình cộng của báo cáo của 3
năm tài chính mà là bình quân của từng năm tài chính cộng lại rồi mới tính bình quân
tiếp. Chính vì vậy, cần hướng dẫn cụ thể về nguồn cung cấp thông tin về chỉ tiêu
“Vốn chủ sở hữu theo sổ kế toán bình quân 3 năm liền kề trước thời điểm
XĐGTDN”, cách tính và xác định cần phải hướng dẫn cụ thể, nếu DN thực hiện sai
nên yêu cầu điều chỉnh theo quy định.
Ví dụ như: Tại Công ty Cổ phần ABC khi tính lợi thế kinh doanh đã áp dụng
công thức tính. Theo quy định tại khoản 3 Điều 19 Nghị định 187/2004/NĐ-CP
hướng dẫn của TT 126/2004 tại khoản 5.7. mục A. Phần III như Phụ lục 3.8 trang b
Theo cách tính này Công ty ABC đã tính
Lợi nhuận sau thuế bình quân 3 năm liền kề trước thời điểm XĐGTDN là:
= 2003+LN2004+LN2005)/3
=(11.545.526.357+14.664.038.507+18.040.392.037)/3
= 14.749.985.634,
Vốn Nhà nước (VNN) theo sổ kế toán bình quân 3 năm liền kề trước khi TCT là
= (VNN2003+VNN2004+VNN2005)/3
= (75.953.746.644, +86.113.834.191, + 96.634.328.152,)/3
= 86.233.969.662,
Nhưng thực tế nếu nghiên cứu kỹ các tài liệu về tài chính, trên phương diện
nguồn vốn chúng ta đều thấy rõ. Vốn nói chung, Vốn Nhà nước nói riêng được sử
dụng trong DN có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình kinh doanh trong các thời kỳ và
phần vốn này có thể thay đổi (Tăng, giảm vào cuối năm lúc lập BCTC hoặc vào một
thời điểm bất kỳ trong năm tài chính khi có sự bổ sung vốn) vì vậy nếu lấy giá trị
phần Vốn Nhà nước tại thời điểm báo cáo là chưa chính xác mà cần phải tính giá trị
145
phần vốn Nhà nước là lấy trung bình cộng phần vốn Nhà nước của ba năm liền kề
tức là số liệu phải được tính toán như sau
(Giả sử VNN2002=VNN2003 tại thời điểm báo cáo):
VNN bình quân 3 năm liền kề trước khi TCT
=((VNN2002+VNN2003)/2+(VNN2003+VNN2004)/2+(VNN2004+VNN2005)/2)/3
=((75.953.746.644+75.953.746.644)/2+(75.953.746.644+86.113.834.191)/2+(86.113
.834.191+ 96.634.328.152)/2)/3 = 82.787.206.078, đồng
Tỷ suất lợi nhuận 14.749.985.634, = X 100%=17,817% trên vốn KD 82.787.206.078,
Giả sử mức lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm trở lên tại thời điểm
gần nhất theo mức tính của DN là 8,467%
Lợi thế kinh doanh =96.634.328.152, x (17.817% - 8.467%)=9.035.063.538 (đ)
Chênh lệch tăng so với cách tính của DN là:
9.035.063.538, – 8.347.072.694, = 687.990.844 (đồng)
Như vậy, chỉ đơn giản là một cách tính chưa chính xác của Công ty ABC đã
làm giảm Vốn Nhà nước tại DN là 687.990.844, (đồng)
Khi phát hiện những phát sinh này tại từng thời điểm thì nên yêu cầu các DN
điều chỉnh vào phần vốn CSH là Nhà nước.
Ghi: Nợ TK 242: 687.990.884
Có TK 411: 687.990.884
- Nên xem xét bổ sung phương pháp thứ hai theo Thông tư 146/2007/TT-BTC
“Xác định trên cơ sở lợi thế về vị trí địa lý và giá trị thương hiệu” (đã bỏ) mà nên
đưa lợi thế về đất phải có xác định đưa vào một mục riêng về "chênh lệch lợi thế vị
trí và địa lý" để ghi nhận và phân bổ theo số năm ước tính chứ không bỏ hẳn ra ngoài
được. Theo NĐ 59/2011 sẽ được thực hiện theo điều 34 khoản 3 phải bổ sung điều
này. Vì Nếu như theo quy định mới của TT 202 nếu DN CPH tỷ suất lợi nhuận sau
thuế bình quân trên vốn chủ sở hữu 3 năm liền kề trước khi định giá thấp hơn lãi suất
trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm ở thời điểm gần nhất với thời điểm định giá thì đối
với DN này lợi thế kinh doanh bằng 0.
Ví dụ: Tại Công ty Tư vấn xây dựng công trình thủy 1 thời điểm XĐGTDN là
31/12/2009 khi tiến hành XĐGTDN đơn vị đã thực hiện theo hướng dẫn của TT
146
146/2007 vì trong những năm trước liền kề với năm định giá kết quả hoạt động kinh
doanh của DN bị lỗ nên không xác định giá trị lợi thế kinh doanh theo phương pháp
tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Mà áp dụng tính Lợi thế kinh doanh của Công
ty là giá trị lợi thế vị trí địa lý của lô đất thuê tại đường Phạm Văn Đồng- Từ Liêm
của công ty đang sử dụng. Giá trị lợi thế địa lý được xác định theo công văn số
2893/STC-QLCL ngày 29/06/2010 của Sở tài chính Thành phố Hà nội.
Giá trị lợi thế địa lý diện tích đất (870,87m2) do công ty thuê tại đường Phạm
Văn Đồng- Từ Liêm sau khi đánh giá lại là: 16.361.990.036 đồng. DN đã đưa vào
GTDN. (Phụ lục 19-Hồ sơ định giá Công ty Tư vấn xây dựng công trình thủy 1).
Ngoài ra, cần phải chuyển "Giá trị thương hiệu hay nhãn hiệu hàng hóa" trong
quy định đã được hạch toán vào Lợi thế kinh doanh và được phân bổ theo số năm sử
dụng. Thống nhất nội dung trong Lợi thế kinh doanh về giá trị thương hiệu trong
thông tư 202 nên được quy định trong chuẩn mực kế toán Việt nam số 04 - tài sản cố
định vô hình, Nhãn hiệu hàng hóa được coi là TSCĐVH, được ghi nhận vào
TSCĐVH và phải coi đó là một tài sản vô hình đặc biệt không được đem ra tính khấu
hao vào tính vào chi phí.
Năm là: Cần bổ sung cách xác định giá trị thực tế phần vốn NN tại DN và
biện pháp xử lý khi phát sinh trường hợp đặc biệt.
Theo phân tích tại mục 2.4 cụ thể trong tiểu mục A3.1.5 đã phân tích về cách
XĐGT thực tế phần vốn NN tại DN trong đó có nội dung các khoản trừ là "các
khoản nợ, thực tế phải trả sổ dư quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, nguồn kinh phí sự
nghiệp" mà Theo thông tư 244/2009/TT-BTC, quỹ khen thưởng, phúc lợi được
chuyển vào "Nợ phải trả" trong phần nguồn vốn của BCĐKT và đã được coi là
khoản công nợ phải trả rồi nên trong công thức không cần phải đưa vào lần nữa, đã
quy định nội dung công nợ là giá trị bao gồm các khoản "thực tế phải trả sổ dư quỹ
phúc lợi, quỹ khen thưởng" vì vậy theo theo tác giả công thức XĐGT thực tế phần
vốn NN tại DN được xác định như sau:
Giá trị thực thực tế = Tổng giá trị Các khoản nợ, nguồn kinh phí sự
phần vốn NN tại DN thực tế DN nghiệp -
Trong thực tế có thể quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng và nguồn kinh phí sự
nghiệp của nhiều đơn vị có giá trị ghi số âm...khi tính toán việc xử lý trường hợp này
147
cũng gây lúng túng cho kế toán xử lý việc này cho hợp lý. Kế toán sẽ phải hạch toán
thế nào? cộng hay trừ giá trị quỹ này vào giá trị phần vốn NN nếu trường hợp này
xảy ra? Nếu trường hợp này xảy ra tại DN TCT thì cần phải bổ sung quy định trong
trường hợp này nên giải quyết như sau: Nếu là quỹ khen thưởng, phúc lợi và nguồn
kinh phí sự nghiệp đã chi quá sẽ tìm hiểu nguyên nhân truy cứu trách nhiệm cho
người thực hiện bắt bồi thường, phần còn lại sẽ ghi giảm giá trị phần vốn NN tại DN.
Khi tiến hành TCT các DNNN, quá trình này diễn ra tại thời điểm kế toán động
nhưng lại xét về dạng tĩnh. Định giá tại thời điểm nhất định, giữa năm tài chính, cuối
năm tài chính, nhưng mọi hoạt động của DN vẫn tiếp tục hoạt động vì vậy, có thể
phát sinh lãi, lỗ trong KD các hoạt động đầu tư khác. Theo như NĐ số 59 tại điều 21
mục 1 tiểu mục 2 chênh lệch đầu tư sẽ được hạch toán vào kết quả HĐKD theo quy
định của pháp luật như vậy nếu là kết quả HĐKD chính là lãi lỗ có thể hiểu sẽ không
còn phải có nghĩa vụ thuế nào trong khoản này, nhưng theo TT 202 tại điều 10 mục
3a quy định được hạch toán tăng thu nhập tức là ghi vào khoản thu nhập (TK 515)
sau khi làm nghĩa vụ nộp thuế TNDN mới chuyển vào kết quả HĐKD. Theo hướng
dẫn của thông tư sẽ hợp lý hơn như vậy NĐ nên thay đổi khoản chênh lệch đầu tư
được "hạch toán vào kết quả HĐKD" bằng "hạch toán vào thu nhập kinh doanh". (
cắt sang chương 3). Chính vì vậy sẽ làm kết quả định giá thay đổi do quy định không
phù hợp...
3.3.1.3. Hoàn thiện quy định kế toán ĐGDN khi sáp nhập, hợp nhất DN.
Các quy định về hợp nhất, sáp nhập vẫn được thực hiện và ít có sửa đổi bổ
sung như các quy định về CPH vì mục đích và nội dung của phương thức này. Tuy
nhiên, trong các quy định này không phải không có những vướng mắc, tồn tại, những
tồn tại và vướng mắc này nếu được giải quyết thì công tác kế toán hợp nhất, sáp nhập
DN sẽ đạt hiệu quả cao và chất lượng hơn trước.
Thứ nhất: Bổ sung phương pháp kết hợp lợi ích (phương pháp kết hợp
quyền lợi) và các phương pháp khác vào chuẩn mực kế toán số 11
Trong chuẩn mực kế toán Việt Nam số 11 "Hợp nhất kinh doanh" được ban
hành, kế thừa và phù hợp chuẩn mực kế toán quốc tế về nội dung và hình thức. Tại
chuẩn mực kế toán Việt Nam số 11 thừa nhận phương pháp mua theo IFRS 03 mà
loại bỏ phương pháp kết hợp lợi ích mà IAS 22 đã quy định. Tuy nhiên, theo xu
148
hướng và thời điểm hiện tại để thực hiện Tái cấu trúc DNNN thì cần phải sử dụng kết
hợp cả hai phương pháp.
Các DN thuộc các quốc gia tiên tiến trên Thế giới thực hiện phương pháp mua
vì lý do các DN đó không phải là DNNN và các DN được thực hiện trong một nền
kinh tế thị trường phát triển. Nhưng tại một số nước Châu Á như Trung Quốc và
Nhật Bản...là hai quốc gia áp dụng chủ yếu phương pháp kết hợp lợi ích cho các hoạt
động TCTDN. Còn các DNNN Việt Nam khi thực hiện TCT chủ yếu thực hiện hợp
nhất, sáp nhập nên theo phương pháp kết hợp lợi ích tuy trong VAS 11 chỉ quy định
duy nhất cho hợp HNKD theo phương pháp mua. Theo điều kiện kinh tế xã hội tại
Việt Nam thì phương pháp này thực sự là phương pháp an toàn cho DNNN, nhất là
những DN 100% vốn Nhà nước vì nền kinh tế Việt Nam không thể so bì với các
nước tiên tiến trên thế giới. Kế toán về phương pháp mua đã có hướng dẫn cụ thể còn
các điều kiện để áp dụng phương pháp hợp nhất quyền lợi cần phải bổ sung như sau:
Hợp nhất quyền lợi phải được thực hiện theo một loại giao dịch đơn lẻ hay
được thực hiện theo một kế hoạch đặc biệt trong vòng một năm sau khi lên kế hoạch,
vì nếu không theo điều kiện một năm sẽ không tránh được việc xử lý hợp nhất quyền
lợi bị trì hoãn do các vụ kiện, do cơ quan điều tiết thuế, hay do các yếu tố khác ngoài
kiểm soát và quản lý. Ngoài ra phải có quy định về lượng cổ phiếu phát hành và quản
lý số cổ phiếu đó, phải có quy định về quyền biểu quyết của cổ phiếu thường ...
Cần phải bổ sung nội dung, phương pháp định giá cho các thương vụ hợp
nhất, sáp nhập DN vào chuẩn mực.
Trong các hoạt động CPHDN, công việc định giá là việc làm tất yếu và là một
nội dung rất quan trọng trong quá trình CPH DNNN, nhưng đối với các thương vụ
hợp nhất, sáp nhập DNNN hiện nay tại Việt Nam thường không chú trọng việc định
giá lại TS khi tiến hành hợp nhất và sáp nhập nếu như đem DNNN ra thị trường thì
nó không khác gì là một loại hàng hóa (hàng hóa đặc biệt) vì vậy nó phải có giá trị và
giá trị thực tế về lợi ích của nó đem lại khác với giá trị trên sổ sách kế toán (theo giá
gốc).
Để phù hợp với mục đích của các thương vụ sáp nhập, hợp nhất. Ngoài các
DN thực hiện thương vụ theo phương pháp mua, và phương pháp kết hợp lợi ích cần
phải bổ sung những quy định về các phương pháp XĐGT phù hợp với từng loại hình
149
DN như đối với DNCPH. Cụ thể: Phương pháp tài sản, Phương pháp thu nhập,
Phương pháp thị trường và cần phải tương đồng với quy định trong chuẩn mực "Xác
định giá trị hợp lý" những quy định về phương pháp định giá như đã đề cập ở giải
pháp 3.3.1.1.
Thứ hai: Cần phải thống nhất giữa những quy định từ Luật và chuẩn mực
kế toán
Như ở chương 2 đã đề cập, trong Luật Kế toán tại điều 44 và 45 thì tách ra
thành hợp nhất kinh doanh và sáp nhập DN. Trong khi đó chuẩn mực kế toán số 11
"Hợp nhất kinh doanh" (VAS 11) thì không đề cập đến khái niệm sáp nhập DN. Mặt
khác trong luật DN có quy định cơ bản về các bước thực hiện công tác kế toán hợp
nhất và sáp nhập. Tuy nhiên, trong VAS 11 lại không nói gì tới những quy trình thực
hiện này. Hiện nay, Chính phủ đã ban hành khá nhiều luật như: Luật đầu tư, Luật
DN,... trong các luật này đều nhắc đến Hợp nhất kinh doanh và sáp nhập DN. Nhưng
lại chưa nêu và có quy định cụ thể về hợp nhất và sáp nhập DN, các quy định trong
các luật này lại không gắn kết được mối quan hệ với nhau giúp người đọc nắm bắt
nhanh được vấn đề và vận dụng đúng đủ những quy định trong quá trình thực hiện.
Vì vậy, khi xây dựng chuẩn mực HNKD cần phải dựa trên những quy định
của Luật kế toán, cần phải thống nhất hình thức HNKD, nội dung, quy trình của hợp
nhất và sáp nhập.
Thứ ba: Hoàn thiện việc xây dựng quy trình kế toán định giá thống nhất
tại các đơn vị tham gia thương vụ hợp nhất, sáp nhập DN.
Trong luật kế toán có quy định về các bước thực hiện của kế toán khi hợp
nhất và sáp nhập DN như kiểm kê và khóa sổ bàn giao DN chứ không quy định về
việc tiến hành ra sao? Các bước công việc cụ thể thế nào? Theo như tác giả thấy cần
phải có quy định cụ thể về vấn đề này giống như các quy định cho các DN tiến hành
CPH. Vì đây cũng là một hình thức thay đổi sở hữu vì vậy quy trình kế toán cũng cần
phải được thực hiện như đối với DNNN khi tiến hành CPH. Cũng cần phải có bước
thực hiện định giá, xử lý chênh lệch tại từng đơn vị tham gia sau đó mới sử dụng các
phương pháp kết hợp lợi ích hay phương pháp mua sao cho phù hợp và nếu thực hiện
được như vậy thì GTHL tại thời điểm mua và giá trị định giá sẽ gần nhau hơn từ đó
150
xác định lợi thế thương mại sẽ chính xác hơn nhiều. Cần phải thực hiện các bước cơ
bản theo sơ đồ 3.1
Như vậy, theo một quy trình cơ bản sẽ giúp cho các DN thực hiện theo đúng
một quy trình cơ bản, số liệu sẽ không bị sai lệch do mỗi đơn vị thực hiện một cách
khác nhau. Việc thực hiện sẽ khoa học hơn, rõ ràng hơn trong việc thu thập và xử lý
thông tin trước và sau khi hoàn tất các thương vụ hợp nhất, sáp nhập. Khi xác định
được GTHL của từng DN sẽ giúp cho Nhà nước nắm bắt được tình hình tài chính
thực tế của từng đơn vị để sáp nhập, hợp nhất để từ đó tránh được rủi ro tài chính
trong giai đoạn này.
Giai đoạn 1:
Kế toán trước khi sáp nhập, hợp nhất
Giai đoạn 2 Kế toán sau khi sáp nhập, hợp nhất Hoàn thiện
Bước 5 Xử lý tài chính, kế toán. Lập báo cáo tài chính sau khi điều chỉnh số liệu sau khi định giá
BCTC,
chuyển
Bước 2a Kiểm kê phân loại tài sản tại thời điểm của từng đơn vị tham gia hợp hất á
giao cho
Bước 4 Xử lý tài chính, kế toán. Lập BCTC sau khi điều chỉnh số liệu kiểm kê (nếu có)
đơn vị mới
điều chỉnh
những sai
sót phát
sinh tại
1. Xử lý tài chính, kế toán khoản ch/ lệch giữa GTĐG với giá mua(nếu đơn vị áp dụng theo pp kết hợp lợi ích thì k phải điều chỉnh c/lệch
thời điểm
Bước 1 Chuẩn bị tài liệu sổ sách kế toán của năm liền kề các bên tham gia sáp nhập để làm căn cứ xác định giá trị DN tại thời điểm định giá
Bước 2b Đối chiếu, xác nhận và phân loại công nợ, lập bảng kê chi tiết đối với từng loại công nợ tại thời điểm XĐGT của từng đơn vị tham gia, hợp nhất, sáp nhập
Bước 6 Chuyển số liệu sau khi XĐGTDN tiến hành thực hiện theo 1 trong 2 phương pháp: PP kết hợp lợi ích và Phương pháp mua
định giá.
Bước 3 Tổ chức xác định giá trị DN của từng đơn vị tham gia hợp nhất, sáp nhập
2. Hợp cộng số liệu trên BCTC
Sơ đồ 3.1: Quy trình cơ bản của kế toán ĐGDN khi tiến hành TCT DN thep phương
thức hợp nhất, sáp nhập DN
3.3.2. Hoàn thiện khâu thực hiện kế toán định giá doanh nghiệp khi TCT
DNNN.
3.3.2.1. Hoàn thiện kế toán ĐGDN khi cổ phần hóa tại các DNNN
Giải pháp 1. Hoàn thiện công tác xử lý những tồn đọng trong công tác kế
toán ĐGDN khi cổ phần hóa tại các DNNN giai đoạn vừa qua.
Mặc dù có những vấn đề vướng mắc do những quy định chưa rõ ràng của
Chính phủ dẫn tới những sai sót trong việc thực hiện xử lý kế toán trong quá trình
ĐGDNNN. Các DN này đã tiến hành và thực hiện thành công công việc TCT mà
151
Nhà nước đã giao, tuy nhiên những sai sót vẫn còn vì vậy nếu đã phát hiện ra thì cần
phải xử lý điều chỉnh sao cho phù hợp giữa các đơn vị và tránh thất thoát vốn Nhà
nước và tạo niềm tin cho người đầu tư. Những vấn đề tồn đọng nếu phát hiện ra là sai
sót trong quá trình định giá cần phải xem xét nguyên nhân và tùy từng trường hợp xử
lý như sau:
Thứ nhất: Xử lý công nợ phải thu, phải trả tại các công ty thành viên Công
ty Mẹ thuộc các Tập đoàn, Tổng công ty.
Đây là một việc tồn đọng trong quá trình thực hiện CPH tại các công ty thành
viên của Công ty Mẹ -Viglacera nói riêng và tại các DNNN nói chung, tại thời điểm
đánh giá GTDN hầu như các công ty thành viên chỉ mới hoàn thành đối chiếu được
trung bình 70% đến 80% số công nợ còn lại vẫn chưa đối chiếu được. Giá trị công nợ
còn lại được tổ chức định giá ghi theo giá trị ghi sổ và hầu như toàn bộ công nợ còn
lại chưa đối chiếu được với đối tác theo quy định của NĐ 59 là đối chiếu toàn bộ.
Tuy nhiên, thực tế toàn bộ khoản công nợ đó có nguồn gốc chứng mình vì có ghi
nhận đầy đủ trên sổ kế toán và có phát sinh thực tế trên các chứng từ vì vậy nếu theo
nguyên tắc kế toán có thể khoản công nợ có giấy tờ gốc chứng minh sẽ được phép
ghi nhận tăng, giảm GTDN.
Thứ 2: Lợi thế kinh doanh do DN tính chưa phù hợp và chính xác cần phải
xem xét và bổ sung vào phần vốn Nhà nước.
Trong quá trình thực hiện kế toán ĐGDN, nhiều DN đã bỏ qua giá trị thương
hiệu được dựa vào cơ sở từ các chi phí thực tế cho việc tạo dựng và bảo vệ nhãn
hiệu, tên thương mại trong quá trình hoạt động của DN trước thời điểm xác định giá
trị, do đã ghi vào chi phí phát sinh tại các thời điểm phát sinh và không phản ánh và
ghi nhận vào sổ sách kế toán riêng chính vì vậy giá trị này bị bỏ qua. Nên chăng giá
trị này phải được tính toán lại theo giá trị hợp lý, theo giá trị thị trường và được bổ
sung vào phần vốn Nhà nước tại thời điểm phát hiện sai sót.
Và nếu xảy ra các trường hợp tính sai Lợi thế kinh doanh như đã trình bày ở
trên do chưa hiểu quy định và hướng dẫn của chuẩn mực cũng cần điều chỉnh lại sổ
sách kế toán, ghi:
Nợ TK Lợi thế thương mại/ Giá trị lợi thế thương mại còn thiếu
Có TK vốn CSH
152
(Phải có biên bản giải trình).
Đối với các DN CPH và các Tổ chức định giá khi tiến hành tính toán cần
nghiên cứu kỹ tài liệu trước khi thực hiện tính lợi thế kinh doanh không để xảy ra
trường hợp tính sai làm thiếu vốn Nhà nước.
Giải pháp 2. Hoàn thiện các thuyết minh trong hồ sơ xác định GTDN nhằm
minh bạch về thông tin kế toán
Tại một số các DN thực hiện hướng dẫn của Thông tư 202/2011 khi có sự
điều chỉnh về số liệu xử lý tài chính trên Biên bản XĐGTDN, kế toán lại không phản
ánh các bút toán điều chỉnh số liệu cho rõ ràng mà chỉ chủ yếu giải trình các nguyên
nhân tăng giảm. Để khắc phục phần nào những tồn tại đã được đề cập ở trên, giúp
các DN CPH có thể có những tài liệu cơ bản mang tính thống nhất trong việc xử lý
kế toán khi có phát sinh chênh lệch giữa giá trị trên sổ và giá trị định giá. Tác giả
muốn đưa ra một số giải pháp như:
Thứ nhất: Thể hiện những bút toán điều chỉnh trên các mẫu biểu tổng hợp
số liệu theo quy trình
Khi phát sinh chênh lệch nhiều DN đã tự điều chỉnh và xử lý ngay số liệu trên
Bảng cân đối kế toán mà không có bất cứ một giấy tờ nào chứng minh nên khi
nghiên cứu rất khó biết được việc xử lý của họ có hợp lý không? Theo tác giả, bộ hồ
sơ ĐGDN cũng cần thêm một số chứng từ chứng minh về việc xử lý chênh lệch khi
đánh giá nên kèm thêm 3 Bảng biểu sau (Để làm rõ thêm giải pháp tác giả đã sử
dụng số liệu của Công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Viglacera):
Bước 1: Lập Bảng tổng hợp xử lý chênh lệch khi kiểm kê tài sản
Các số liệu chênh lệch khi Kiểm kê tài sản từ các kết quả tổng hợp kiểm kê tài sản
Công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Viglacera
Bảng 3.1: BẢNG TỔNG HỢP XỬ LÝ KIỂM KÊ TÀI SẢN, CÔNG NỢ...
Ngày …….tháng…….năm N
TT Lý do tăng giảm TK ĐƯ Số chênh lệch Số chênh lệch Có 1 139 tăng 5.302,492.482,
2 Xử lý tài chính theo điều 17, điều 19 NĐ số 59/2011 Cộng: 411 5.302.492.482, 5.302,492.482, 5.302.492.482,
153
Đại diện tổ chức định giá (Ký và ghi rõ họ tên) Kế toán trưởng (Ký và ghi rõ họ tên) Giám đốc (Ký tên và đóng dấu) Bước 2: Lập Bảng tổng hợp phát sinh chênh lệch khi XĐGTDN
Công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Viglacera
Bảng 3.2: BẢNG TỔNG HỢP PHÁT SINH CHÊNH LỆCH TĂNG GIẢM
GIÁ TRỊ TÀI SẢN KHI XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP
Ngày 31 tháng 12 năm 2011
TT Lý do tăng giảm Số chênh lệch Số chênh lệch
tăng giảm
1 Đánh giá ngoại tệ theo tỷ giá bq 1.465.502
LNH
Tài sản cố định hữu hình 139.641.818.260, 2
Tài sản cố định vô hình 650.169.389.998, 3
4 Chi phí XDCB dở dang 35.441.250.448,
5 Bất động sản đầu tư 355.743.002.831,
Tài sản ngắn hạn khác 793.956.735, 6
Tài sản dài hạn (Lợi thế kinh doanh) 2.671.148.167, 7
Thuế phải nộp NS 591.213.205.987, 8
Cộng: 1.184.462.031.941, 591.213.205.987,
Vốn Nhà nước tăng do đánh giá lại 593.248.825.954,
Đại diện tổ chức định giá Kế toán trưởng Giám đốc
(Ký và ghi rõ họ tên) (Ký và ghi rõ họ tên) (Ký tên và đóng dấu)
Bước 3; Xử lý tài chính các phát sinh chênh lệch khi XĐGTDN (Bảng 3.3)
Qua kết quả XĐGTDN của đơn vị CPH, kế toán định giá tiến hành xử lý các
khoản phát sinh theo hướng dẫn của Thông tư gần nhất với ngày thực hiện, hướng
dẫn thực hiện một số vấn đề về tài chính khi chuyển đổi DN100% vốn NN thành
công ty cổ phần. Theo thực tế nghiên cứu từ Hồ sơ XĐGTDN của các đơn vị đã tiến
hành CPH, tác giả nhận thấy khi đọc Biên bản XĐGTDN và nguyên nhân tăng giảm
154
tài sản của các đơn vị khi tiến hành CPH rất khó hiểu và số liêu không tổng hợp và
bao quát vì vậy nếu trình bày một cách khái quát và tổng hợp hơn sẽ giúp người đọc
nhanh chóng nắm bắt được tình hình phát sinh tăng giảm GTDN.
Bảng 3.3: BẢNG TỔNG HỢP XỬ LÝ TÀI CHÍNH KHI KIỂM KÊ VÀ TẠI THỜI ĐIỂM ĐỊNH GIÁ Công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Viglacera Thời điểm 31 tháng 12 năm 2011 ĐVT: VND Số tiền ST T Thời điểm Ghi chú Thực hiện theo TT 202/2011 5.302.492.482, 1 Tăng tài sản, tăng vốn CSH Diễn giải Hoàn nhập dự phòng phải thu khó đòi vào thu nhập vốn đầu tư CSH. Trước khi XĐGT DN 2 1.465.502
3 139.641.818.260, Đánh giá khoản mục tiền gửi có gốc Ngoại tệ Điều chỉnh chênh lệch đánh giá tài sản 650.169.389.998,
Thời điềm định giá DN 35.441.250.448, 4
5 355.743.002.831, Đánh giá chi phí xây dựng cơ bản dở dang Đánh giá BĐS đầu tư
6 793.956.735, Tăng Tiền gửi Tăng vốn CSH Tăng tài sản CĐ HH (chi tiết từng ĐT) Tăng tài sản CĐ VH Tăng vốn CSH Tăng CP XDCB DD Tăng vốn CSH Tăng BĐS đầu tư Tăng vốn CSH Tăng CP trả trước NH Tăng vốn CSH
7 2.671.148.167, Đánh giá lại CCDC đã hết phân bổ hết vào chi phí Đánh giá lợi thế KD
8 (591.213.205.987) Tính bổ sung tiền thuê đất phải nộp 593.248.825.954,
Tăng Cp trả trước DH Tăng vốn CSH Tăng thuế phải nộp Giảm vốn CSH Tổng tăng vốn NN
Đại diện tổ chức ĐG (Ký và ghi rõ họ tên) Kế toán trưởng (Ký và ghi rõ họ tên) Giám đốc (Ký tên và đóng dấu)
Bước 4: Xử lý kế toán các phát sinh chênh lệch (trang sau)
Ngoài ra, trong quá trình kiểm kê, Bộ phận kiểm kê, phân loại tài sản nên
xem xét một số tài sản cố định vô hình hết thời gian sử dụng nhưng còn đem lại hiệu
155
quả cho DN phân loại riêng để có phương án xử lý riêng cho phù hợp (vấn đề này
hầu như các DN vẫn chưa để ý tới) và một số Công cụ, dụng cụ đã hết thời gian sử
dụng nhưng còn sử dụng cũng phải có biện pháp xử lý cho phù hợp.
Bảng 3,4: BẢNG XỬ LÝ KẾ TOÁN
Công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Viglacera
Thời điểm 31 tháng 12 năm 2011
Số tiền chênh lệch
STT
Diễn giải
Nội dung TK
Số hiệu TK
Nợ
Có
5,302,492,482
139
Dự phòng phải thu khó đòi
1
Nguồn vốn kinh doanh
5,302,492,482
411
Hoàn nhập dự phòng phải thu khó đòi vào TN Vốn CSH
Tiền gửi ngân hàng
1122
1,465,502
2
giá khoản mục tiền gửi có gốc Ngoại tệ
Nguồn vốn kinh doanh
1,465,502
411
Tài sản cố định hữu hình 139,641,818,260
211
Tài sản cố định vô hình
650,169,389,998
3
213
Điều chỉnh chênh lệch đánh giá tài sản
Nguồn vốn kinh doanh
789,811,208,258
411
CP XDCB dở dang
35,441,250,448
241
4
Điều chỉnh Chi phí XDCB dở dang
Nguồn vốn kinh doanh
35,441,250,448
411
Bất động sản đầu tư
355,743,002,831
217
5
Xử lý chênh lệch BĐS đàu tư
Nguồn vốn kinh doanh
355,743,002,831
411
793,956,735
142
Chi phí trả trước ngắn hạn
6
Xử lý CCDC đã phân bổ 100% được đánh giá lại
Nguồn vốn kinh doanh
793,956,735
411
Chi phí trả trước dài hạn
2,671,148,167
242
7
Xử lý Lợi thế kinh doanh
Nguồn vốn kinh doanh
2,671,148,167
411
Nguồn vốn kinh doanh
591,213,205,987
411
8
Xử lý thuế phải nộp NS
Thuế nhà đất phải nộp
591,213,205,987
3337
1,780,977,730,410 1,780,977,730,410
Tổng cộng:
Đại diện tổ chức định giá (Ký và ghi rõ họ tên) Kế toán trưởng (Ký và ghi rõ họ tên) Giám đốc (Ký tên và đóng dấu)
Giải pháp 3). Hoàn thiện quy trình thực hiện kế toán ĐGDN khi cổ phần hóa
công ty mẹ thuộc các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước.
(Đối với các Công ty Mẹ có đơn vị thành viên phụ thuộc (hạch toán độc lập -
do tính chất đặc thù trong quản lý).
156
Theo những quy định đã ban hành của chính phủ và những thông tư hướng
dẫn của Bộ Tài chính với những nghiên cứu kinh nghiệm kế toán một số nước tiên
tiến trên thế giới (như mô hình kế toán Pháp) về các nghiệp vụ phương pháp về
những thay đổi trong chuyển đổi sở hữu các DN, chúng ta thấy được rõ ràng quy
trình kế toán của hiện tượng chuyển đổi hình thức sở hữu DN. Vì vậy, CPH Công ty
Mẹ cần được thực hiện thống nhất công tác kế toán ĐGDN được áp dụng theo trình
tự dưới đây để phần nào kế hoạch CPH Tập đoàn, Tổng công ty được thực hiện theo
đúng tiến độ mà chính phủ đề ra
Bước1: Kế toán ĐGDN tại các đơn vị thành viên và văn phòng công ty mẹ
Việc đầu tiên của kế toán ĐGDN khi CPH Công ty Mẹ thuộc Tập đoàn, Tổng
công ty là tổ chức ĐGDN tại thời điểm định giá (theo quyết định của các cấp có thẩm
quyền) từ các đơn vị thành viên phụ thuộc công ty mẹ làm căn cứ định giá Công ty
mẹ. Việc tiến hành định giá các đơn vị thành viên phụ thuộc quy trình thực hiện
tương tự như đối với việc định giá các đơn vị kế toán độc lập khác. Tuy nhiên, vì có
những chỉ tiêu không thể đánh giá tách riêng cho từng đơn vị thành viên như: Lợi thế
kinh doanh (vì giá trị thương hiệu được đánh giá chung cho Công ty mẹ)... Và để
tiến hành một cách thuận lợi việc hợp cộng sau này thì tất cả các BCTC của các đơn
vị thành viên và công ty mẹ sẽ được thống nhất năm tài chính để giảm bớt việc
chuyển đổi BCTC khi TCT.
Giai đoạn 3 Chuyển
Giai đoạn 2: ĐGDN tại thời điểm CPH (VD: Hiện nay căn cứ NĐ 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011, NĐ 189/2013/NĐ-CP các thông tư hướng dẫn và các văn bản chỉ đạo cổ phần hóa khác)
kết quả
trên Bảng
cân đối kế
toán của
đơn vị đã
định giá
Bước 1; Kiểm kê phân loại tài sản tại thời điểm định giá (theo BCTC liền kề thời điểm định giá đã kiểm toán)
và xử lý
kế toán để
Bước 4: Tổ chức đánh giá và xác định giá trị tài sản của DN có nhu cầu sử dụng tại thời điểm định giá (VD: Theo hiện nay thực hiện theo hướng dẫn thông tư số 127/2014/TT- BTC ngày
tiến hành
/09/2014 ủ
ộ
hợp cộng
số liệu lên
Bảng cân
đối kế
toán Công
Bước 5: Xử lý câc vấn đề phát sinh, Điều chỉnh sổ kế toán theo quyết định điều chỉnh giá trị vốn NN thời điểm định giá (VD: Theo Biên bản xác định giá trị DN của các tổ chức định giá lập )
Bước 2: Đối chiếu, xác nhận và phân loại các khoản công nợ, lập bảng kê chi tiết đối với từng loại công nợ tại thời điểm định giá ( vd: Hiện nay theo hướng dẫn thông tư số 127/2014/TT- BTC ngày 05/09/2014 của Bộ Tài chính)
Bước3 Xử lý tài chính trước khi xác định giá trị DN. (Xứ lý chênh lệch số liệu kiểm kê với sổ sách kế toán) (VD: Hiện nay theo hướng dẫn thông tư số 127/2014/ TT-BTC ngày 05/09/201 4 của Bộ Tài chính))
ty Mẹ
Giai đoạn1 Chuẩn bị tài liệu sổ sách kế toán của 3 năm trước liền kề để làm căn cứ xác định giá trị DN tại thời điểm Định giá (VD: Hiện nay Căn cứ NĐ 59/2011/N Đ-CP ngày 18/7/2011, NĐ 189/2013/ NĐ-CP và các văn bản chỉ đạo cổ phần hóa
157
Sơ đồ 3.3: Quy trình kế toán định giá tại các công ty thành viên và văn phòng Công
ty Mẹ - Tổng công ty/Tập đoàn và các đơn vị phụ thuộc
Với mỗi đơn vị phụ thuộc và với văn phòng công ty mẹ thì việc định giá được
tiến hành định giá riêng, công tác kế toán tại các đơn vị này cũng được thực hiện
riêng giống như đối với một DN đơn lẻ tức là mọi công việc tại các đơn vị trong giai
đoạn này được thực hiện theo đúng một quy trình và cùng một quy định về hệ thống
sổ sách, các bảng tổng hợp kiểm kê tài sản, mẫu và chỉ tiêu trên các BCTC để thuận
lợi cho việc hợp cộng sau này giữa các đơn vị thuộc công ty mẹ. (sơ đồ 3.3)
Theo sơ đồ của quy trình này, sẽ thấy rõ được từng bước công việc của kế toán của
từng giai đoạn theo kế hoạch được đặt ra. Mục đích của việc ĐGDN là nhằm xác
định được giá trị tài sản thuần của DN. Để xác định được giá trị thuần của Công ty
Mẹ thì cần phải xác định giá trị thuần của từng đơn vị thành viên phụ thuộc và và cụ
thể công việc này được thể hiện theo công thức dưới đây:
=
+/-
Giá trị tài sản thuần (vốn chủ sở hữu) theo giá trị khi định giá
Giá trị tài sản thuần (vốn chủ sở hữu) theo giá ghi sổ
Phần chênh lệch giữa giá đánh giá (theo tổ chức định giá) và giá ghi sổ theo từng khoản mục trên BCĐKT
Bước2: Kế toán tổng hợp số liệu từ các đơn vị thành viên và văn phòng công ty mẹ
Sau khi hoàn thiện số liệu điều chỉnh sau định giá của từng đơn vị thành viên
và văn phòng công ty mẹ, kế toán tiến hành tổng hợp số liệu từ các đơn vị thành viên
và văn phòng công ty mẹ các chỉ tiêu tương ứng theo Mô hình hợp cộng tại công ty
mẹ - Tổng công ty/Tập đoàn
Bảng kết quả định giá công ty Bảng kết quả định giá công ty thành viên mẹ sau khi hợp cộng
Bảng kết quả định giá văn phòng công ty mẹ
(A1)
TÀI SẢN Vốn CSH TÀI SẢN VỐN CHỦ = Nợ phải trả
SỞ HỮU A1+A2.....+An Bảng kết quả định giá đơn vị thành viên (A2)
TÀI SẢN Vốn CSH
158
Nợ phải trả
Bảng kết quả định giá đơn vị thành viên ......
Vốn CSH TÀI SẢN Nợ phải trả
Bảng kết quả định giá đơn vị thành viên An
Nợ phải trả = Vốn CSH
A1+A2.....+An TÀI SẢN Nợ phải trả
Sơ đồ 3.4: Mô hình hợp cộng tại công ty mẹ - Tổng công ty/Tập đoàn
(cid:190) Hợp cộng các chỉ tiêu trên Bảng kết quả định giá của các đơn vị thành viên
Việc hợp cộng lại chỉ với mục đích tính ra giá trị thuần DN tại công ty mẹ bao
gồm giá trị tại các đơn vị thành viên phụ thuộc và giá trị tại văn phòng công ty mẹ.
Khi hợp cộng các giá trị được hợp cộng của các đơn vị trong "giai đoạn 2- Giai đoạn
thực hiện" của quy trình trên. Việc hợp cộng trên bảng tổng hợp kiểm kê đánh giá
của từng loại máy móc trang thiết bị kỹ thuật, nhà xưởng... theo từng loại từng thứ
theo cách đã phân loại thống nhất giữa các đơn vị. Hợp cộng các khoản công nợ phải
thu ngắn hạn, dài hạn và các khoản phải trả ngắn hạn, dài hạn của các đơn vị thành
viên, văn phòng công ty mẹ...để. Song song với việc hợp cộng các số liệu và chỉ tiêu
của từng loại tài sản, công nợ là việc hợp cộng các số liệu của các chỉ tiêu trên Bảng
cân đối kế toán tại các đơn vị thành viên sau khi định giá từ số liệu của các cột của
Công ty mẹ và từng công ty thành viên:
Bảng 3.5: Bảng tổng hợp
Các đơn vị thành viên
Chỉ tiêu
Tổng số liệu Hơp cộng tại Công ty Mẹ
Văn phòng công ty Mẹ
Đơn vị thành viên A
Đơn vị thành viên....
Đơn vị thành viên X
A 1
2 .... 8 9 1
2 .... 8
9
1
2 .... 8
9
1
2 .... 8
9
1
2 .... 8
9
159
Các chỉ tiêu sau khi hợp cộng từ các đơn vị thành viên vào với Công ty Mẹ về
giá trị tài sản công nợ Phần chỉ tiêu "Tổng số hợp cộng tại Công ty Mẹ" của các cột
1..8 là tổng cộng của các cột 1...8 của các đơn vị thành viên.
Các cột 1, 2.....11 là các cột chỉ tiêu cụ thể tại bảng sau
(Trang sau)
160
Bảng 3.6: Các chỉ tiêu chi tiết tại Công ty mẹ và tại từng đơn vị thành viên tại bảng hợp cộng
Số liệu đã Số liệu Số liệu Chênh Số liệu đánh Chênh điều chỉnh Chênh sổ sách sổ sách lệch sau giá lại theo tổ lệch sau khi có lệch sau khi kế toán Tổng quyết định chức định giá sau quyết định Chỉ tiêu kiểm kê sau tại thời của kiểm (đã xử lý định Chênh lệch của cơ quan (đã kiểm kê điểm toán chênh lệch) giá kiểm toán đ/chỉnh) khóa sổ NN
8=(5+6+7) A 1 2 3 4 5 =2-1 6=3-2 7=4-3 =4-1
A. Tài sản đang dùng (I+II+III+IV)
I. Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
1. Tài sản cố định
a. Tài sản cố định hữu hình
b. Tài sản cố định thuê tài chính
c. Tài sản cố định vô hình (chưa gồm GT QSD đất)
2. Bất động sản đầu tư
3. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn
4. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang
161
5. Các khoản ký cược, ký quỹ dài hạn
6. Chi phí trả trước dài hạn (chưa gồm GT lợi thế
KD)
7. Các khoản phải thu dài hạn
8. Tài sản dài hạn khác
II. Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
1. Tiền
a. Tiền mặt tồn quỹ
Bảng 3.6: Các chỉ tiêu chi tiết tại Công ty mẹ và tại từng đơn vị thành viên tại bảng hợp cộng (tiếp)
9=(6+7+8)=5- 1 2 3 4 5 6 =3-2 7=4-3 8=5-4 2
b. Tiền gửi ngân hàng
c. Tiền đang chuyển
2. Đầu tư tài chính ngắn hạn
3. Các khoản phải thu
4. Vật tư hàng hoá tồn kho
5. Tài sản lưu động ngắn hạn khác
162
6. Chi phí sự nghiệp
III. Giá trị lợi thế kinh doanh của DN
1. Giá thị thương hiệu Công ty mẹ
2. Tiềm năng phát triển Công ty mẹ
IV. Giá trị quyền sử dụng đất
B. Tài sản không cần dùng
I. Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
1. Tài sản cố định
2. Đầu tư tài chính dài hạn
3. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang
4. Các khoản ký cược, ký quỹ dài hạn
II. Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
1. Công nợ không có khả năng thu hồi
2. Hàng hoá tồn kho ứ đọng kém, mất phẩm chất
C. Tài sản chờ thanh lý
1. Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
2. Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
D. Tài sản hình thành từ quỹ PL, khen thưởng 1 2 3 4 5 6 =3-2 7=4-3 8=5-4 9=(6+7+8)=5-
163
2
TỔNG GIÁ TRỊ TÀI SẢN CỦA DN (A+ B+ C+
D)
Trong đó:
TỔNG GIÁ TRỊ THỰC TẾ DOANH NGHIỆP
(Mục A)
E1. Nợ thực tế phải trả
Trong đó: GT QSD đất mới nhận giao phải nộp
NSNN
E2. Nguồn kinh phí sự nghiệp
TỔNG GIÁ TRỊ THỰC TẾ PHẦN VỐN NHÀ
NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP {A- (E1+E2)}
Chú thích: - Giá trị thực tế của DN CPH là giá trị toàn bộ tài sản hiện có của DN tại thời điểm CPH có tính đến khả năngsinh lời của DN
mà người mua, người bán cổ phần đều chấp nhận được.
- Giá trị thực tế vốn Nhà nước tại DN CPH là giá trị thực tế của DN sau khi đã trừ các khoản nợ phải trả, số dư Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc
lợi và số dư nguồn kinh phí sự nghiệp (nếu có).
- Khi CPH Công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước, Công ty mẹ trong tổ hợp công ty mẹ - công ty con thì giá trị vốn
Nhà nước tại DN CPH là giá trị thực tế vốn Nhà nước tại Công ty mẹ
- Giá trị lợi thế kinh doanh của DN được ghi nhận vào cột 3, 4 và cột 9
164
+ Giá trị thương hiệu của công ty mẹ và các đơn vị thành viên thể hiện trên cột 3 và 4 của từng đơn vị (nếu xác định riêng biệt), nếu không
xác định được riêng biệt (đánh giá chung Công ty Mẹ) sẽ được thể hiện ở cột 9
+ Tiềm năng phát triển của công ty mẹ và các đơn vị thành viên thể hiện trên cột 3 và 4 của từng đơn vị (nếu xác định riêng biệt), nếu
không xác định được riêng biệt (đánh giá chung Công ty Mẹ) sẽ được thể hiện ở cột 9
165
Bước 3: Khử trùng các giao dịch nội bộ trong Công ty Mẹ.
Vì mục tiêu của việc thiết lập Bảng cân đối kế toán hợp cộng là để xác định
được giá trị vốn chủ của Công ty mẹ như một thực thể duy nhất từ các đơn vị thành
viên. Chính vì vậy trong một phạm vi các đơn vị thành viên phụ thuộc của Công ty Mẹ
không thể có những khoản phải trả hoặc phải thu chính nó hoặc các dòng trao đổi mua
bán giữa các đơn vị trong nội bộ chỉ là lãi (lỗ) giả tạo. Đây là nguyên nhân quan trọng
để loại bỏ các nghiệp vụ nội bộ trong Công ty Mẹ. Một trong những giao dịch cần phải
xử lý trước khi hợp cộng các giá trị của các chỉ tiêu vì thế cần phải loại trừ phần số dư
các tài khoản phải thu và các khoản phải trả trong cùng Công ty Mẹ trên bảng cân đối
kế toán. Căn cứ từ số liệu hợp cộng và từ các sổ chi tiết kế toán. Kế toán cần phải khử
trùng các nghiệp vụ công nợ giữa các đơn vị thành viên theo bút toán.
Nợ"Phải trả nội bộ"/Có "Phải thu nội bộ"
Bước 4: Lập Bảng cân đối kế toán Công ty Mẹ sau khi hợp cộng
Sau khi hợp cộng và khử trùng công nợ nội bộ, kế toán tiến hành lập Bảng cân
đối kế toán tại thời điểm định giá.
Như vậy, Vốn chủ sở hữu của công ty mẹ sau khi hợp cộng bằng vốn CSH của
các đơn vị thành viên và văn phòng công ty mẹ được tổng hợp lại sau đó khử trùng
công nợ nội bộ. Kết quả hợp cộng trên BCTC của các đơn vị thành viên vào kết quả của
Công ty Mẹ sau khi ĐGDN để tiến hành CPH bán cổ phiểu ra thị trường. Mặc dù chỉ là
hợp cộng tuy nhiên số liệu cũng nhiều và khá phức tạp nên quy trình thực hiện này
cũng cần phải ứng dụng công nghệ phần mềm tin học thì công việc của kế toán tổng
hợp sẽ đỡ vất vả hơn rất nhiều mà lại mang lại hiệu quả và thời gian thực hiện đúng tiến
độ đã đề ra.
Trên đây là toàn bộ quy trình và phương pháp thực hiện kế toán ĐGDN tại Công
ty Mẹ thuộc các Tập đoàn, Tổng công ty. Hiện nay, chưa có hướng dẫn nào cụ thể cho
KTĐG khi CPH Công ty Mẹ thuộc các Tập đoàn và Tổng công ty vì vậy bài viết trên
đây là một chỉ dẫn cụ thể hơn về quy trình kế toán khi CPH Công ty Mẹ thuộc các Tập
đoàn và Tổng công ty.
3.3.2.2. Hoàn thiện kế toán ĐGDN khi sáp nhập, hợp nhất DNNN.
Hoàn thiện việc ghi nhận chênh lệch GTDN khi định giá theo phương pháp
tài sản hoặc phương pháp khác.
Hầu như các DN khi tiến hành sáp nhập và hợp nhất theo chỉ đạo của Nhà nước
166
thường xác định theo giá trị ghi sổ, chính vì vậy ít khi phát sinh các chênh lệch cần
phải điều chỉnh, mặc dù các đơn vị đó đều thuộc vốn một chủ sở hữu. Nhưng với thời
điểm hiện tại nhiều DNNN đã CPH chính vì thế GTDN đem sáp nhập hoặc hợp nhất
cũng cần phải đánh giá lại theo thông lệ thị trường và giá trị đó chính là giá để tính tỷ lệ
trao đổi cổ phiếu giữa các bên giá trị chênh lệch giữa giá trị định giá và giá ghi sổ sẽ
được ghi nhận tăng giá vốn đơn vị bị sáp nhập, hợp nhất. Trường hợp phát sinh phụ trội
hay chiết khấu, phần chênh lệch đó bên nhận sáp nhập, hợp nhất sẽ được ghi nhận vào
thặng dư vốn cổ phần (4112).
- Tài sản cũng cần phải đánh giá chi tiết từng loại tài sản và lập bảng kê phát
sinh chênh lệch như đối với trường hợp CPH.
- Lập bảng tổng hợp chênh lệch của từng loại tài sản
- Lập bảng kê điều chỉnh chênh lệch và nguyên nhân tăng giảm của việc đánh giá
- Lập BCTC sau khi điều chỉnh
Toàn bộ những chênh lệch phát sinh chi tiết của từng loại tài sản khi đánh giá
cần phải mở sổ kế toán phản ánh chênh lệch trong quá trình định giá của từng đơn vị
sáp nhập, hợp nhất, trong đó thể hiện rõ những đánh giá làm phát sinh tăng, giảm tài sản
và những nguyên nhân tăng giảm của tài sản tại thời điểm định giá để làm căn cứ thông
tin cung cấp cho các nhà đầu tư, những nhà quản lý cấp trên biết về tình hình thực tế về
tài sản của đơn vị tại thời điểm sáp nhập và hợp nhất để có hướng đầu tư hợp lý, tránh
giá trị được đánh giá ảo, không trung thực.
3.4. Điều kiện thực hiện giải pháp.
Để thực hiện tốt các giải pháp đã nêu ở trên, tác giả nhận thấy cần phải có một
môi trường thuận tiện thì việc thực thiện các giải pháp mới mang tính chất bền vững và
có khả thi phù hợp với công tác KTĐG.
3.4.1. Đối với các cơ quan chức năng của Nhà nước
Môi trường pháp lý chính là khung hành lang mà Nhà nước tạo dựng cho các
DN khi các DNNN thực hiện các nhiệm vụ và nghĩa vụ của mình. Đối với kế toán
ĐGDN khi TCT DNNN thì môi trường pháp lý càng cần phải chú trọng và tạo dựng
khung hành lang pháp lý vững chắc phù hợp với thực tại. Giúp cho các DN khi tiến
hành TCT thực hiện trong một môi trường pháp lý ổn định giúp cho việc thực hiện
đồng bộ và cũng không quá gò bó. Mặt khác, để có thể thực hiện tốt trong môi trường
pháp lý tốt Nhà nước cần phải xây dựng được những quy định cụ thể phù hợp với môi
167
trường DN một cách đồng bộ tránh chồng chéo với KTĐG cho các DNNN nói chung
và cụ thể cho KTĐG khi TCTDN theo các phương thức khác nhau.
Để những giải pháp về kế toán CPH có thể thực hiện được và thực hiện một cách
tốt nhất. Nhà nước khi xây dựng khung hành lang pháp lý, những quy định cần phải chú
trọng một số vấn đề như:
Một là: Cần phải quy định lộ trình cho việc xây dựng các quy định về kế toán và
những quy định liên quan đồng nhất và thống nhất. (Tài liệu cho kế toán ĐGDN, làm cơ
sở cho việc nghiên cứu cũng thực hiện công tác kế toán ĐGDN).
- Cần sớm ban hành chuẩn mực quy định về kế toán ĐGDN khi TCTDN.
- Cần phải xây dựng khung giá phù hợp và sát với thị trường để làm cơ sở ghi
nhận giá trị sau ghi nhận ban đầu.
Hai là: Khi ban hành các hướng dẫn cần phải cụ thể và rõ ràng hơn cụ thể về lợi
thế kinh doanh cần cụ thể hơn bằng văn bản nhất là về tính phần vốn Nhà nước bình
quân 3 năm liền kề phải có hướng dẫn cụ thể hơn như tác giả đã trình bày ở trên hoặc
khi hướng dẫn nên có những ví dụ cụ thể cho những vấn đề phức tạp, khó hiểu.
Ba là: Cần có thông tư hướng dẫn kịp thời khi có quy định mới liên quan ảnh
hưởng tới kế toán ĐGDN khi tiến hành TCT DN. Các thông tư hướng dẫn nên nghiên
cứu kỹ và có tính phù hợp và thực tiễn để có thể áp dụng lâu dài. Ngoài ra các thông tư
hướng dẫn nên ban hành sớm khi có các NĐ ban hành, tránh tình trạng, quá trình TCT
xong mới có thông tư hướng dẫn.
Bốn là: Từng thời điểm BTC cũng nên có danh mục cụ thể về lãi suất trái phiếu
chính phủ thường xuyên trên tạp chí chuyên ngành để các DN và tổ chức định giá có
thể tìm và thực hiện được thực hiện dễ dàng hơn.
Cần phải có lộ trình xây dựng
Năm là: Khi đưa ra phương án TCT các cấp có thẩm quyền nên quyết đinh thời
điểm định giá vào một thời điểm kết thúc cuối năm tài chính khi đã có kết luận của
kiểm toán để có kết quả XĐGT sát thực và chính xác hơn.
Sáu là; Về chế độ quản lý đất đai thì nên quy định về nguyên tắc tất cả diện tích
đất DN CPH đang quản lý và sử dụng phục vụ sản xuất kinh doanh phải chuyển sang
thực hiện ký hợp đồng thuê đất có thời hạn với cơ quan có thẩm quyền (trừ những
trường hợp đặc biệt thì có cơ chế xử lý cụ thể). khắc phục bất cập trong công tác quản
lý, sử dụng đất tại các DN trong thời gian qua, tạo điều kiện thuận lợi để Nhà nước triển
168
khai thực hiện các quy hoạch, sử dụng quỹ đất có hiệu quả, tránh thất thoát; khắc phục
bất cập trong việc xác định giá trị quyền sử dụng đất trong thời gian qua để đẩy nhanh
tiến trình CPH. Theo phương án này, đối với các diện tích đất DN đã được giao đất nay
chuyển sang thuê thì giá trị quyền sử dụng đất giao còn lại tại thời điểm xác định
GTDN được xác định là số tiền DN đã trả trước tiền thuê đất cho một khoảng thời gian
nhất định theo mặt bằng giá thuê đất tại thời điểm DN hoàn tất thủ tục thuê đất với cơ
quan quản lý tại địa phương, không ảnh hưởng đến ngân sách Nhà nước và lợi ích kinh
tế của DN. Đối với diện tích đất DN thực hiện thuê đất thì thực hiện trả tiền thuê đất
hàng năm theo cơ chế đã được quy định tại Nghị định số 121/2010/NĐ-CP và không
phải tính bổ sung giá trị lợi thế vị trí địa lý vì giá thuê đất đã sát giá thị trường.
Bẩy là: Việc quy định tổ chức đấu thầu chọn tổ chức tư vấn định giá không nên
quá khắt khe về việc tổ chức mở thầu lựa chọn tổ chức định giá sẽ làm hạn chế quá
trình CPHDN. Vì vậy, để đẩy nhanh tiến độ CPH các DN trong thời gian tới, Bộ Tài
chính trình Chính phủ xem xét, quyết định điều chỉnh quy định này theo hướng:
Đối với các gói thầu tư vấn định giá có giá trị không quá 01 tỷ đồng thì cơ quan
có thẩm quyền quyết định phương án CPH có thể chỉ định thầu để lựa chọn tổ chức tư
vấn định giá trong danh sách công bố của BTC hoặc xét thấy cần phải tổ chức đấu thầu
thì thực hiện đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu. Còn đối với các gói thầu
tư vấn không thuộc quy định trên thì cơ quan có thẩm quyền quyết định phương án
CPH quyết định lựa chọn tổ chức tư vấn định giá trên cơ sở kết quả đấu thầu.
Tám là: Đối với vướng mắc về việc tính giá trị lợi thế vị trí địa lý của đất thuê
vào GTDN, Chính phủ xem xét tháo gỡ theo hướng:
- Đối với các DN CPH trước NĐ59/2011/NĐ-CP đã XĐGT lợi thế vị trí địa lý
đất thuê vào giá trị phần vốn Nhà nước tại DN để CPH nay phải chuyển sang thực hiện
chế độ thuê đất theo mặt bằng giá mới thì được khấu trừ giá trị lợi thế vị trí địa lý vào
tiền thuê đất phải nộp hàng năm của DN CPH.
- Đối với các DN CPH theo NĐ109/2007/NĐ-CP mà chưa tính giá trị lợi thế vị
trí địa lý thì được áp dụng NĐ59/2011/NĐ-CP và NĐ189/2013/NĐ-CP không phải tính
bổ sung giá trị lợi thế vị trí địa lý và điều chỉnh vốn Nhà nước tại DN.
Chín là: Để tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ tái cấu trúc DNNN trong thời gian
tới, căn cứ vào kiến nghị của bộ, địa phương, tập đoàn, tổng công ty, Bộ Tài chính báo
cáo Chính phủ xem xét điều chỉnh theo hướng: giao các bộ, ngành, địa phương, Tập
169
đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước chỉ đạo DN CPH thực hiện đối chiếu toàn bộ các
khoản công nợ (phải thu, phải trả) đến thời điểm XĐGTDN theo quy định.
3.4.2. Đối với DNNN thực hiện tái cấu trúc.
Ngoài những quy định cơ bản được đề cập ở trên thì việc cử người đi học tập
kinh nghiệm tại các đơn vị kế toán đã thực hiện TCT DNNN, các cán bộ thực hiện công
tác kế toán nói riêng chỉ đạo TCT nói chung cần phải có trình độ chuyên môn cao, quản
lý tốt, biết nhận định và giải quyết linh hoạt các trường hợp phát sinh mà không gây sai
sót. Mặt khác, để tránh những sai sót không đáng có xảy ra tại các DNNN khi tiến hành
TCT, nên chăng BTC có một ban chuyên trách giám sát và hướng dẫn các DN thực hiện
những quy định và chịu trách nhiệm giải quyết những vấn đề phức tạp, nhạy cảm mang
tính chất đặc thù của từng ngành.
Việc đối chiếu toàn bộ công nợ khi XĐGTDN cũng cần thay đổi, cần phải đối
chiếu số liệu thường xuyên theo quy định, vì theo cơ chế quản lý tài chính hiện hành thì
DN phải thực hiện đối chiếu công nợ thường xuyên, định kỳ khi kết thúc năm tài chính
(không chỉ khi CPH). Trong một số trường hợp do thời điểm CPH không trùng với thời
điểm kiểm kê khóa sổ kế toán lập BCTC, DN quy mô lớn, đối tượng công nợ nhiều,
không kịp đối chiếu hết thì DN CPH phải báo cáo các bộ, địa phương xem xét, xử lý
theo hướng đã quy định tại NĐ 189/2013.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Như vậy, với nền tảng cơ sở lý luận chương 1 và những thực tiễn về những quy
định và thực trạng việc thực hiện công tác kế toán ĐGDN tại các DNNN. Từ đó tác giả
đưa ra một số ý tưởng, giải pháp dựa trên những cơ sở, nền tảng của mục đích và định
hướng của TCTDN nhằm hoàn thiện ở chương 3 với một số vấn đề cơ bản.
Thông qua đó tác giả đã chứng minh các giả thiết đặt ra trong nghiên cứu và để
trả lời cho các câu hỏi đặt ra và có hướng hoàn thiện về khung hành lang pháp lý,
những quy định cho kế toán ĐGDN khi tiến hành TCT các DNNN. Mặt khác đưa ra
một số giải pháp giúp các DN đã, đang thực hiện TCT có biện pháp xử lý và giải quyết
những vấn đề không phù hợp với những giả thuyết đã đặt ra, tác giả đã đưa ra một số
điều kiện là những kiến nghị nhằm thực hiện tốt về vấn đề kế toán ĐGDN khi tiến hành
táí cấu trúc các DNNN hiện nay. Từ đó tác giả đưa ra một số dự báo triển vọng về kế
toán ĐGDN khi tiến hành TCT tại các DNNN Việt nam về khả năng ứng dụng của đề
tài nghiên cứu, những khó khăn về trong tác kế toán tại thời điểm TCT ở Việt nam và
170
tác giả đã nêu một số hạn chế trong quá trình thực hiện đề tài.
KẾT LUẬN
Tái cấu trúc DN hiện nay vẫn là trọng tâm chính và cốt lõi của Tái cơ cấu
DNNN nói riêng Tái cơ cấu nền kinh tế nói chung. Tiến trình này là một thử thách lớn
đối với Chính phủ và các DNNN, vì thành công cũng có nhưng thất bại cũng không ít.
Tuy nhiên, để lành mạnh hóa DNNN và đưa các DNNN bắt nhịp và hội nhập với nền
kinh tế thị trường quốc tế thì việc làm này là tất yếu. Vì vậy, việc nghiên cứu kế toán
ĐGDNNN là việc làm cần thiết cho việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và thực trạng kế
toán ĐGDN khi tiến hành tái cấu trúc DNNN.
Qua việc nghiên cứu đề tài "Hoàn thiện kế toán ĐGDN trong bối cảnh TCT
DN taị các DNNN Việt Nam".
Luận án hoàn thành đã trả lời, giải quyết được các câu hỏi đặt ra trong quá trình
nghiên cứu ở phần mở đầu của luận án. Cụ thể:
Trong chương 1: Luận án đã làm rõ được cơ sở lý luận về kế toán ĐGDN khi
tiến hành TCT các DN nói chung, từ đó chỉ ra được bản chất của kế toán ĐGDN.
Chương 1 đã đi nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận thuộc phương pháp luận
kế toán ĐGDN, và đưa ra được khái niệm cơ bản cho kế toán ĐGDN, từ đó tìm ra quy
trình cơ bản thực hiện công tác kế toán ĐGDN với những nguyên tắc kế toán và các
chuẩn mực được thừa nhận nói chung và những bài học kinh nghiệm mà các nước tiên
tiến đã đạt được làm tiền đề cho việc đối chiếu với việc thực hiện của kế toán ĐGDN
Việt nam.
Chương 2: Luận án đã trình bày được hệ thống thực trạng của kế toán định giá
dưới hai phương diện của khung hành lang pháp lý và thực trạng việc thực hiện công
tác ĐGDN tại các DNNN Việt nam. Từ đó đưa ra những phân tích đối chiếu giữa thực
trạng với những quy định hiện hành của Chính phủ, Bộ, Ngành .... tiến hành phân tích
đánh giá những thành tựu những thực trạng còn tồn tại trong quá trình thực hiện kế toán
ĐGDN để từ đó có hướng giải pháp hiệu quả và khả thi nhất và sát với thực tế.
Với chương 3: Luận án đã đưa ra được một số giải pháp nhằm giải quyết những
vấn đề còn tồn tại của các DN đang thực hiện công tác Tái cấu trúc DNNN và những
kiến nghị phù hợp đối với các Bộ, Ban, Ngành và Chính phủ trong những điều kiện
thực hiện hiệu quả nhất nhằm hoàn thiện hơn nữa khung hành lang pháp lý và quá trình
thực hiện. /.

