BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIÀY TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIÀY TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành : Kế toán
Mã số : 62.34.30.01
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2016
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, bản luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
ii
MỤC LỤC MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1 1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................................... 1 2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ............................................... 2 3. Mục đích nghiên cứu của luận án .................................................................................. 11 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án ............................................................. 11 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án ............................................... 11 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án ................................................................... 12 7. Kết cấu của luận án ........................................................................................................ 13 CHƯƠNG 1 ........................................................................................................................ 14 LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN ....................................................... 14 TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT .............................................................. 14 1.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý trong doanh nghiệp sản xuất . 14 1.1.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất .................................. 14 1.1.2. Đặc điểm về tổ chức quản lí trong các doanh nghiệp sản xuất ............................... 15 1.2. Khái niệm, ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp ................ 18 1.2.1. Khái niệm tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất ................... 18 1.2.2. Ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp ....................................... 20 1.3. Cơ sở, nguyên tắc và nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán ......................................... 21 1.3.1. Cơ sở để thực hiện các nội dung của tổ chức công tác kế toán ............................... 21 1.3.2. Những nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp sản xuất ............ 22 1.3.3. Nhiệm vụ của tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp ............................ 24 1.4. Nội dung cơ bản của tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất ... 25 1.4.1. Tổ chức bộ máy kế toán để thực hiện KTTC và KTQT ............................................. 26 1.4.1.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán ................................................................................ 28 1.4.1.2. Lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán ............................................................... 29 1.4.1.3. Mô hình tổ chức KTTC và KTQT .............................................................................. 34 1.4.1.4. Tổ chức, bố trí hoặc thuê nhân sự làm kế toán ......................................................... 35 1.4.2. Sử dụng các phương pháp kế toán để thu thập, xử lý, hệ thống hóa phân tích, cung cấp thông tin kế toán ............................................................................................................... 36 1.4.2.1. Tổ chức thu nhận, kiểm tra thông tin đầu vào .......................................................... 37 1.4.2.2. Tổ chức xử lý, phân loại và hệ thống hóa thông tin kế toán đầu ....................... 43 1.4.2.3. Tổ chức cung cấp thông tin kế toán ........................................................................... 50 1.4.3. Tổ chức kiểm tra kế toán .............................................................................................. 56
iii
1.5. Kinh nghiệm tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất của nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương .................................................................................... 57 1.5.1. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán ở các doanh nghiệp sản xuất của Nhật Bản .. 57 1.5.2. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại các công ty sản xuất của Hàn Quốc............. 60 1.5.3. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại các công ty sản xuất của Đài Loan ........... 61 1.5.4. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại các công ty sản xuất của Mỹ ...................... 63 1.5.5. Bài học kinh nghiệm về tổ chức công tác kế toán cho các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương .......................................................................................... 64 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................................. 67 CHƯƠNG 2 ........................................................................................................................ 68 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC ........................... 68 DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIÀY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG ......... 68 2.1. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý trong các doanh nghiệp sản xuất giày ảnh hưởng đền tổ chức công tác kế toán ....................................... 68 2.1.1. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành da giày ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán .............................................................................................................. 68 2.1.2. Đặc điểm tổ chức quản lý của các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán .......................................................... 77 2.2. Thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương ............................................................................................................ 84 2.2.1. Thực trạng tổ chức bộ máy kế toán ............................................................................. 84 2.2.2. Thực trạng sử dụng các phương pháp kế toán để thu thập, xử lý, phân tích cung cấp thông tin kế toán ............................................................................................................... 88 2.2.3. Thực trạng tổ chức xử lý, hệ thống hóa phân tích và cung cấp thông tin kế toán ............................................................................................................................................. 97 2.3. Đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương ............................................................................................ 104 2.3.1. Ưu điểm ........................................................................................................................ 104 2.3.2. Hạn chế ........................................................................................................................ 105 2.3.3. Nguyên nhân ................................................................................................................ 108 2.3.3.1. Về khuôn khổ pháp lý của kế toán ........................................................................... 108 2.3.3.2. Về việc thực hiện chế độ kế toán và tổ chức công tác kế toán ............................... 109 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ................................................................................................ 113 CHƯƠNG 3 ...................................................................................................................... 114
iv
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC ............ 114 DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIÀY TRÊN ĐỊA BÀN TÌNH HẢI DƯƠNG ....... 114 3.1. Định hướng phát triển các doanh nghiệp sản xuất giày đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 .................................................................................................................... 114 3.2. Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương .............................................. 118 3.2.1. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo tuân thủ Luật kế toán, nguyên tắc kế toán, phù hợp với đặc thù về quản lý kinh tế tài chính ........................................... 118 3.2.2. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày phải đảm bảo phù hợp với định hướng đổi mới và phát triển hệ thống doanh nghiệp Việt Nam ................................................................................................................................................. 120 3.2.3. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày phải đảm bảo phù hợp với định hướng phát triển của ngành da giày Việt Nam .................... 121 3.2.4. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày phải đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin kinh tế tài chính cho công tác quản lý kinh tế cả ở tầm vĩ mô và tầm vi mô .................................................................................... 122 3.2.5. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các công ty sản xuất giày phải đảm bảo tính hiệu quả và có tính khả thi ............................................................................................ 123 3.3. Nội dung hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương ............................................................................................ 124 3.3.1. Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán ........................................................................... 124 3.3.2. Hoàn thiện về tổ chức thu nhận, kiểm tra thông tin ban đầu ................................. 132 3.3.3. Hoàn thiện tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin kế toán ...................................... 134 3.3.4. Hoàn thiện tổ chức cung cấp thông tin thông qua hệ thống báo cáo tài chính và hệ thống báo cáo KTQT ............................................................................................................. 145 3.3.5. Hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính .................................................... 150 3.4. Điều kiện thực hiện giải pháp ................................................................................... 154 3.4.1. Đối với Nhà nước ........................................................................................................ 157 3.4.2. Đối với các Hội nghề nghiệp ..................................................................................... 159 3.4.3. Đối với các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương ................ 160 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ................................................................................................ 161 KẾT LUẬN CHUNG ...................................................................................................... 162 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................... 165 PHỤ LỤC ......................................................................................................................... 177
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TT CHỮ VIẾT TẮT CHI TIẾT
Doanh nghiệp sản xuất 1 DNSX
KTQT 2 KTQT
KTTC 3 KTTC
Thông tin 4 TT
Chứng từ kế toán 5 CTKT
Hạch toán 6 HT
NVKTPS Nghiệp vụ kinh tế phát sinh 7
Bộ máy kế toán 8 BMKT
Sản xuất kinh doanh 9 SXKD
Xã hội chủ nghĩa 10 XHCN
Kiểm soát nội bộ 11 KSNB
Nhà nước 12 NN
Xây dựng 13 XD
Đầu tư phát triển 14 ĐTPT
Cân đối kế toán 15 CĐKT
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán áp dụng trong các đơn vị khảo sát .............. 86
Bảng 2.2. Trình độ của người làm kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất giày ....... 88
Bảng 2.3. Hình thức kế toán áp dụng trong các đơn vị khảo sát ............................ 101
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán kiểu tập trung ...................................... 30
Sơ đồ 1.2. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán kiểu phân tán ....................................... 32
Sơ đồ 1.3. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán ................. 34
Sơ đồ 2.1. Quy trình công nghệ sản xuất giày da trên địa bàn tỉnh Hải Dương .... 73
Sơ đồ 2.2. Quy trình công nghệ sản xuất giày thể thao trên địa bàn tỉnh Hải Dương ...... 73
Sơ đồ 2.3. Quy trình công nghệ sản xuất giày ép dán trên địa bàn tỉnh Hải Dương ........ 74
Sơ đồ 2.4. Mô hình tổ chức bộ máy quản lý Công ty Cổ phần giày Hải Dương ........... 78
Sơ đồ 2.5. Mô hình tổ chức bộ máy quản lý Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình ....... 79
Sơ đồ 2.6. Tổ chức bộ máy kế toán ........................................................................... 86
Sơ đồ 3.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán kiểu tập trung .................................... 124
Sơ đồ 3.2. Sơ đồ kết hợp công việc của KTTC và KTQT ...................................... 126
vii
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục số 01a): Một số thông tin về các Công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2012 ................................................................................................................... 177 Phụ lục số 01b): Một số thông tin về các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2013 ................................................................................................................... 178 Phụ lục số 1c): Một số thông tin về doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2014 ................................................................................................................... 181 Phụ lục số 01c): Một số thông tin về các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2015 ................................................................................................................... 184 Phụ lục số 02: Xuất khẩu hàng giày dép sang một số thị trường chính năm 2011 và năm 2012 ................................................................................................................................ 186 Phụ lục số 03: Mẫu Sổ chi tiết chi phí sản xuất chung ...................................................... 187 Phụ lục số 04: Mẫu Sổ chi tiết sản xuất toàn doanh nghiệp .............................................. 188 Phụ lục số 05: Mẫu Sổ chi tiết chi phí bán hàng (Chi phí quản lý doanh nghiệp) .......... 189 Phụ lục số 06: Mẫu Sổ chi tiết doanh thu bán hàng hóa nội địa ....................................... 190 Phụ lục số 07: Mẫu Sổ chi tiết doanh thu bán hàng hóa nhập khẩu ................................. 191 Phụ lục số 08: Mẫu Sổ chi tiết doanh thu kết quả .............................................................. 192 Phụ lục số 09: Mẫu báo cáo giá thành sản phẩm ............................................................... 192 Phụ lục số 10: Mẫu báo cáo số lượng sản phẩm sản xuất hàng tháng ............................. 193 Phụ lục số 11: Mẫu báo cáo sản xuất .................................................................................. 193 Phụ lục số 12: Mẫu báo cáo chi phí sản xuất chung .......................................................... 194 Phụ lục số 13: Mẫu Báo cáo kết quả ................................................................................... 194 Phụ lục số 14: Mẫu báo cáo kết quả theo khu vực và bộ phận ......................................... 195 Phụ lục số 15: Mẫu Báo cáo quản trị CPSX theo địa điểm SXKD .................................. 195 Phụ lục số 16: Mẫu báo cáo quản trị chi phí sản xuất chung ............................................ 196 Phụ lục số 17: Mẫu báo cáo quản trị giá thành sản xuất sản phẩm .................................. 196 Phụ lục số 18: Danh sách các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương tham gia khảo sát: .................................................................................................................................. 197 Phụ lục số 19: Qui định liên quan đến các thủ tục kế toán (trích) .................................... 199 Phụ lục số 20: Bảng tổng hợp hình thức kế toán và chế độ kế toán sử dụng của các DN khảo sát ................................................................................................................................... 202 Phụ lục số 21(a): Bảng tổng hợp mô hình Tổ chức bộ máy kế toán tại các DN khảo sát .................................................................................................................................. 203 Phụ lục số 21(b): Trình độ của người làm kế toán tại các doanh nghiệp khảo sát ............ 204 Phụ lục số 22: Bảng phân tích chi phí giá thành sản xuất tháng ....................................... 205 Phụ lục số 23: Danh sách các công ty của Nhật Bản trên địa bàn tỉnh Hải Dương ........ 208 Phụ lục số 24: Phân tích BCKQHĐKD Công ty Cổ phần Giày Cẩm Bình .................... 210
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp sản xuất ở nước ta đã và đang
đạt được kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội.
Mặc dù trong thời gian vừa qua rất nhiều doanh nghiệp của chúng ta đã và
đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn đó là giá nguyên, nhiên liệu đầu vào tăng
cao, lạm phát, thất nghiệp. Khuyến khích, hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp là một
trong những giải pháp cơ bản để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế, thực hiện
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển
bền vững nền kinh tế nước ta trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và khu vực.
Hải Dương là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc vùng kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ, Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải
Dương nằm cách thủ đô Hà Nội 57 km về phía Đông, cách thành phố Hải Phòng 45
km về phía Tây. Phía Tây Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang,
phía Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Đông giáp thành phố Hải Phòng, phía
Nam giáp tỉnh Thái Bình và phía Tây giáp tỉnh Hưng Yên, Hải Dương còn là đô thị
loại 2. Theo quy hoạch năm 2007, Hải Dương nằm trong Vùng thủ đô với vai trò là
một trung tâm công nghiệp của toàn vùng. Theo Nghị quyết số 31 năm 2012/NQ -
HĐND ngày 06/7/2012 điều chỉnh bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã
hội tỉnh Hải Dương đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030, Thành phố Hải Dương
đang nỗ lực phấn đấu trở thành đô thị loại 1 trước năm 2020. Với vị trí địa lý thuận
lợi Hải Dương rất phù hợp để phát triển các doanh nghiệp sản xuất, trong đó có các
doanh nghiệp sản xuất giày.
Cùng với sự phát triển cả về quy mô và số lượng doanh nghiệp vấn đề nâng
cao hiệu quả quản lý đối với các doanh nghiệp sản xuất được đặt ra như một tất yếu
khách quan.Trong đó, sử dụng công cụ kế toán - một công cụ quan trọng của hệ
thống công cụ quản lý kinh tế cần phải được nghiên cứu, tổ chức hợp lý và khoa
học, vận dụng vào thực tiễn đạt hiệu quả cao nhất. Hàng loạt chính sách quản lý
kinh tế tài chính được bổ sung, sửa đổi phù hợp với yêu cầu quản lý kinh tế trong
2
thời kỳ mới. Trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán, Luật Kế toán và hệ thống Chuẩn
mực kế toán, kiểm toán Việt Nam đã được ban hành và đi vào cuộc sống là cơ sở
pháp lý cao nhất về kế toán, kiểm toán; Bộ Tài chính cũng đã ban hành nhiều văn
bản, thông tư hướng dẫn về kế toán, kiểm toán; các chính sách kinh tế vĩ mô, chính
sách thuế, luật đất đai, môi trường,... tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý
của các doanh nghiệp sản xuất. Tuy nhiên trên thực tế, việc quản lý doanh nghiệp
sản xuất thuộc các loại hình khác nhau thông qua công cụ kế toán còn nhiều bất cập,
chưa đi vào nền nếp. Đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất giày nói chung và các
doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng. Trong đó, quan
trọng là vấn đề tổ chức công tác kế toán, vấn đề cung cấp thông tin KTTC và KTQT
phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp sản xuất. Do đó, nghiên cứu đề tài
“Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa
bàn tỉnh Hải Dương” là vấn đề có ý nghĩa về lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn,
đồng thời là vấn đề mang tính thời sự cấp thiết, giúp cho các nhà hoạch định chính
sách, các nhà quản lý các doanh nghiệp sản xuất giày vận dụng vào thực tiễn nghiên
cứu, hoạch định chính sách, quản lý trong quá trình phát triển nền kinh tế nói chung
và phát triển doanh nghiệp nói riêng.
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nhận thức được tầm quan trọng của việc tổ chức công tác kế toán đối với
mỗi doanh nghiệp nên đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này. Có những
luận án nghiên cứu về mặt lý luận, có những luận án nghiên cứu về việc áp dụng
vào thực tiễn. Mỗi nghiên cứu đều có những nét riêng biệt, có tính khả thi riêng đối
với từng đối tượng sử dụng. Riêng vấn đề về tổ chức công tác kế toán đối với các
doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương còn chưa được đề cập. Mặc
dù có một số đề tài nghiên cứu về các Công ty giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương
nhưng hầu hết các đề tài cũng chỉ nghiên cứu đến các phần hành kế toán riêng lẻ
như: kế toán nguyên vật liệu, kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành, kế toán
doanh thu và xác định kết quả kinh doanh. Với vấn đề tổ chức công tác kế toán tại
các Công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương là vấn đề hết sức phức tạp
3
đặc biệt trong điều kiện hiện nay nền kinh tế chuyển biến theo hướng mở cửa và hội
nhập; hành lang pháp lý về các nội dung tổ chức công tác kế toán đang trong quá
trình hoàn thiện theo hướng từng bước phù hợp với với các chuẩn mực kế toán quốc
tế. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hải Dương có trên 20 doanh nghiệp sản xuất giày,
với số lượng tương đối lớn, các doanh nghiệp này đóng góp một lượng không nhỏ
vào thu ngân sách tỉnh và tạo việc làm cho một lượng lớn lao động.
Về nghiên cứu chung về mặt lý luận, nền kinh tế đổi mới từ năm 1986 đã
mang theo thay đổi về tổ chức công tác kế toán từ nước phát triển trong khu vực và
trên thế giới vào Việt Nam. Từ đó đến nay, tổ chức công tác kế toán trong doanh
nghiệp đã từng bước kế thừa và áp dụng sâu rộng vào Việt Nam. Cho đến nay đã có
rất nhiều tác giả đã viết về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp, tác giả
xin đề cập đến một số công trình nghiên cứu sau đây:
Về tổ chức bộ máy kế toán không tách rời KTQT và KTTC và có mối liên hệ
chặt với tất cả các bộ phận khác trong doanh nghiệp.
Nhận thức được vai trò của tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp
trong thời gian qua học phần “Tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp” đã
được đưa vào giảng dạy là học phần bắt buộc nằm trong khối kiến thức chuyên
ngành của chương trình đào tạo ngành kế toán. Trong những năm qua hàng loạt các
giáo trình “Tổ chức công tác kế toán” được xuất bản đưa vào giảng dạy tại các
trường là tài liệu học tập, tham khảo vô cùng quý báu cho sinh viên và những người
làm công tác kế toán tại các doanh nghiệp như:Giáo trình Tổ chức công tác kế toán
trong các doanh nghiệp chủ biên PGS, TS Lưu Đức Tuyên, PGS, TS Ngô Thị Thu
Hồng, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội 2014; Giáo trình Tổ chức công tác kế toán
chủ biên PGS, TS Đoàn Xuân Tiên, Nhà xuất bản lao động xã hội, Hà Nội 2010,
giáo trình tổ chức hạch toán kế toán chủ biên TS. Trần Thị Cẩm Thanh (2014)
Trường đại học Qui Nhơn...
Một là, luận án tiến sỹ kinh tế đề tài “Hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán
trong các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa”. Tác giả Trần Thị Nam Thanh, Đại
học kinh tế quốc dân năm 2004. Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Thị
4
Đông; GS,TS. Nguyễn Quang Quynh. Luận án đã khái quát hóa về các mặt lý luận
về tổ chức hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế
thị trường đó là: Thực trạng phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
trong đó tác giả chỉ rõ vai trò và những đóng góp của doanh nghiệp nhỏ và vừa
trong cơ cấu kinh tế Việt Nam. Luận án cũng phân tích và chỉ rõ những thách thức
mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam đang phải đương đầu (Các thách
thức từ trong nước: giá đầu vào cao, chi phí trung gian cao, máy móc thiết bị cũ lạc
hậu, kinh nghiệm về kinh doanh, năng lực quản lý còn yếu, bộ máy quản lý cồng
kềnh, chồng chéo và thủ tục quản lý hành chính quá phức tạp, các doanh nghiệp nhỏ
và vừa của Việt Nam còn thiếu nền tảng đạo đức kinh tế cần thiết, các thách thức từ
bên ngoài: Xu hướng toàn cầu hóa đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng hoàn
thiện mình, sự mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh nghiệp đòi hỏi các chủ
doanh nghiệp phải và các cán bộ quản lý phải có năng lực quản lý rộng lớn hơn,
hiện đại hơn cả các kỹ năng có tính chất quốc tế, trào lưu sáp nhập của các tập đoàn
và các siêu tập đoàn tạo ra sức ép rất lớn,…).
Luận án đã nghiên cứu, phân tích, đánh giá, tổng kết thực tiễn các mô hình tổ
chức hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa và đề xuất các phương
hướng hoàn thiện tổ chức kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
đó là:
Hoàn thiện về tổ chức bộ máy kế toán
Thứ nhất, lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán phù hợp là hết sức quan
trọng. Luận án phân tích và chỉ rõ riêng mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán
không thích hợp với loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa để bảo đảm tính hiệu quả
không phải doanh nghiệp nhỏ và vừa nào cũng nhất thiết phải tổ chức bộ máy kế
toán thành phòng, ban kế toán mà chỉ cần bố trí người làm kế toán hoặc thuê làm kế
toán, kể cả thuê làm kế toán trưởng, điều này phù hợp với quan điểm đổi mới tổ
chức công tác chuyên môn nghề nghiệp kế toán và kiểm toán.
Thứ hai, việc xác định số lượng các nhân viên kế toán cần thiết dựa trên khối
lượng công việc kế toán của doanh nghiệp, các yêu cầu về trình độ quản lý, trình độ
5
chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ kế toán phù hợp với từng phần hành cụ thể.
Thứ ba, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật
nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ kế toán trong doanh nghiệp. Doanh nghiệp nên có sự
đầu tư thích đáng tạo điều kiện cho cán bộ, nhân viên kế toán nâng cao trình độ
nghiên cứu, trình độ báo cáo, nắm bắt, cập nhật được những thông tin mới trong lĩnh
vực kế toán cũng như các thông tin khoa học, kỹ thuật phục vụ công tác chuyên môn.
Hoàn thiện về tổ chức hệ thống chứng từ kế toán và ghi chép ban đầu
Đối với hệ thống chứng từ kế toán cần hoàn thiện theo hướng đơn giản hóa,
thống nhất hóa đi đến tiêu chuẩn hóa về các mẫu chứng từ. Khi thiết kế cần chú
trọng đến điều kiện ứng dụng tin học trong công tác kế toán.
Hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Việc hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho doanh nghiệp nói
chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng đòi hỏi phải đáp ứng được yêu cầu cơ
bản là đảm bảo phản ánh, kiểm tra, giám sát được tất cả các loại tài sản, hoạt động
kinh tế tài chính diễn ra trong doanh nghiệp. Trên cơ sở hệ thống tài khoản hiện
hành các doanh nghiệp có thể xây dựng hệ thống tài khoản riêng cho doanh nghiệp
mình để phản ánh được toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính phát sinh phục vụ KTTC
và KTQT doanh nghiệp.
Hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính và xây dựng hệ thống báo cáo quản trị
trong doanh nghiệp nhỏ và vừa;
Hoàn thiện về mẫu báo cáo tài chính tổng quát;
Hoàn thiện khuôn mẫu báo cáo tài chính chuẩn;
Hoàn thiện khuôn mẫu báo cáo tài chính rút gọn;
Hoàn thiện công tác kiểm tra kế toán và kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp
nhỏ và vừa.
Xuất phát từ nguyên tắc tự kiểm tra, kiểm soát của hệ thống kế toán doanh
nghiệp cũng như chức năng kiểm tra kiểm soát thông tin của kế toán và việc tổ chức
kiểm tra kế toán trong nội bộ doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần
thiết đảm bảo thông tin kế toán cung cấp chính xác, trung thực, minh bạch, công
6
khai, đúng chế độ, phù hợp với yêu cầu quản lý vĩ mô, vi mô nền kinh tế.
Hoàn thiện ứng dụng công nghệ thông tin trong doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Trong điều kiện hiện nay nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, quy mô hoạt
động của các đơn vị ngày càng lớn, các mối quan hệ kinh tế càng rộng, tính chất các
hoạt động kinh tế càng phức tạp yêu cầu hội nhập kinh tế càng cao thì việc thu
nhận, xử lý và cung cấp thông tin kế toán ngày càng khó khăn và phức tạp. Vì vậy,
công tác tổ chức kế toán ở đây đặc biệt quan trọng là việc lựa chọn phần mềm kế
toán phù hợp, tổ chức quản lý phần mềm và khai thác thông tin trên máy tính, tổ
chức luân chuyển và lưu trữ chứng từ sổ sách đưa ra các các báo cáo phù hợp dùng
cho quản trị theo các tiêu chí trật tự khác nhau để có thể nhìn nhận đánh giá theo
đúng yêu cầu quản lý mà vẫn đảm bảo tuân thủ chế độ kế toán và pháp luật.
Trên cơ sở phân tích những thực trạng về tổ chức công tác trong các doanh
nghiệp nhỏ và vừa chỉ ra những giải pháp hoàn thiện về tổ chức công tác kế toán,
luận án cũng đưa ra những kiến nghị về điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện
(Về phía Nhà nước, về phía các doanh nghiệp).
Hai là, luận án tiến sỹ đề tài “Tổ chức công tác kế toán ở các doanh nghiệp
sản xuất dược phẩm trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin” tác giả Thái Bá
Công, Học viện Tài chính người hướng dẫn khoa học GS, TS. Vương Đình Huệ, TS
Phạm Tiến Bình năm 2007. Luận án đã tập trung trình bày khái quát những vấn đề
cơ bản về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp, các mô hình tổ chức
công tác kế toán thủ công khi chuyển sang kế toán trên máy vi tính.
Phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán ứng dụng công
nghệ thông tin về phần mềm kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất Dược phẩm
Việt Nam.
Đề xuất các giải pháp chủ yếu để hoàn thiện tổ chức công tác kế toán doanh
nghiệp sản xuất Dược phẩm Việt Nam trong quá trình ứng dụng công nghệ thông tin.
Ý nghĩa khoa học: Đề tài nhằm củng cố, làm rõ và bổ sung phần lớn những lý
luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông
tin trên cơ sở đó góp phần nhận thức đầy đủ hơn về nội dung cũng như lý luận của
7
tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng phần mềm kế toán.
Ý nghĩa thực tiễn: Khái quát, phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức công tác
kế toán ứng dụng công nghệ thông tin về phần mềm kế toán tại các DN SXDP Việt
Nam trong thời gian gian qua; chỉ ra được những bất cập, hạn chế và nguyên nhân
tồn tại.
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán DNSXDP
Việt Nam trong điều kiện ứng dụng CNTT theo hướng vừa đáp ứng được yêu cầu
hội nhập của kế toán của kế toán Việt Nam với kế toán quốc tế, vừa phù hợp với
đặc điểm của các doanh nghiệp được phẩm Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ba là, luận án Tiến sĩ Kinh tế: “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong
các Doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tăng cường công tác quản trị Doanh nghiệp” -
Tác giả Ngô Thị Thu Hồng - Năm 2007 - Học viện Tài chính; Người hướng dẫn
khoa học PGS, TS. Đoàn Xuân Tiên, TS Phạm Tiến Bình.
Luận án đã tập trung nghiên cứu hệ thống hóa và góp phần làm rõ hơn những
vấn đề lý luận về quản trị doanh nghiệp và tổ chức công tác kế toán trong các doanh
nghiệp nói chung và trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng. Đối tượng
nghiên cứu của luận án là nghiên cứu tổ chức công tác kế toán trong các DNNVV ở
Việt Nam. Thông qua việc nghiên cứu đặc điểm tình hình hoạt động của các
DNNVV để nghiên cứu các mô hình tổ chức công tác kế toán áp dụng trong các
doanh nghiệp này. Phân tích đánh giá những ưu điểm và những hạn chế của việc tổ
chức công tác kế toán nhằm tăng cường công tác quản trị doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Bốn là, luận án tiến sỹ kinh tế “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong
các doanh nghiệp thuộc tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam” người hướng dẫn
khoa học PGS.TS Đỗ Minh Thành GS,TS Nguyễn Đình Đỗ tác giả Trần Hải Long
Trường Đại học Thương mại - Năm 2011.
Luận án đã hệ thống hóa, phân tích làm sáng tỏ thêm những lý luận về tập
đoàn kinh tế, đặc điểm của doanh nghiệp thuộc tập đoàn kinh tế, đặc điểm của các
doanh nghiệp thuộc tập đoàn kinh tế tác động, ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế
8
toán trong các doanh nghiệp.
Luận án đã hệ thống, phân tích làm rõ những vấn đề lý luận chung về tổ chức
công tác trong các doanh nghiệp.
Luận án phân tích đánh giá thực trạng về tổ chức công tác kế toán trong các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuộc tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam. Trên
cơ sở đó chỉ rõ những ưu điểm, nhược điểm và phân tích rõ những nguyên nhân của
những hạn chế đó. Luận án đưa ra những giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế
toán trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam.
Năm là, luận án tiến sỹ Kinh tế “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các
công ty cổ phần sản xuất xi măng ở Việt Nam” người hướng dẫn khoa học GS, TS
Nguyễn Đình Đỗ, TS Lưu Đức Tuyên, tác giả Ngô Thị Thu Hương, Học viện Ngân
hàng - Hà Nội, năm 2011. Luận án đã tập trung nghiên cứu làm rõ hơn những vấn
đề lý luận về cổ phần và tổ chức công tác kế toán trong các công ty cổ phần thuộc
loại hình sản xuất. Qua khảo sát thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các công
ty cổ phần sản xuất xi măng Việt Nam những năm qua đề tài phân tích đánh giá
thực trạng và rút những ưu điểm, hạn chế và đánh giá nguyên nhân của những hạn
chế đó, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm nhằm hoàn thiện tổ chức công tác
kế toán trong các doanh nghiệp thuộc loại hình công ty cổ phần sản xuất.
Sáu là, luận án tiến sĩ Kinh tế: “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các
doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con thuộc Bộ Quốc
Phòng”, người hướng dẫn khoa học PGS, TS. Đoàn Vân Anh, PGS TS. Nguyễn Thị
Mùi, tác giả Nguyễn Thu Hương trường Đại học Thương mại. Về mặt lí luận Luận
án đã nghiên cứu, phân tích các khái niệm, quan điểm khác nhau về mô hình công
ty mẹ, công ty con ở nhiều nước trên thế giới, từ đó rút ra khái niệm của bản thân
tác giả, đó là “Công ty mẹ - công ty con được hiểu là một tổ hợp công ty, trong đó,
công ty mẹ là một doanh nghiệp được thành lập và đăng ký theo quy định của pháp
luật, có tư cách pháp nhân và đủ mạnh để kiểm soát hoặc chi phối các công ty khác
(công ty con) trong tổ hợp và được các công ty con chấp nhận sự kiểm soát, chi
phối đó. Với mục tiêu tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp hoạt động theo
9
mô hình công ty mẹ - công ty con thuộc Bộ Quốc Phòng được khoa học, hợp lí
nhằm phát huy được vai trò là công cụ hữu ích cho kiểm soát hoạt động và quản lí
kinh tế tài chính, luận án đề xuất các nhóm giải pháp sau:
- Với hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán, luận án đề xuất hoàn thiện mô hình
tổ chức bộ máy kế toán trên cơ sở hình thành một bộ phận kế toán hợp nhất báo cáo
tài chính tại công ty mẹ, chịu trách nhiệm toàn bộ các khâu công việc liên quan đến
quá trình tổ chức thu nhập, xử lí, lập Báo cáo tài chính hợp nhất.
- Với hoàn thiện tổ chức thu thập, xử lí thông tin KTTC, luận án đề xuất
hoàn thiện các thông tin ban đầu, sử dụng các tài khoản, thiết kế mã hóa chi tiết các
tài khoản và hệ thống sổ kế toán phù hợp làm căn cứ cho việc thu nhận, xử lí, ghi
nhận nhằm cung cấp thông tin đúng đắn trên báo cáo tài chính riêng, đồng thời cung
cấp thông tin về các giao dịch nội bộ giữa các doanh nghiệp trong cùng một công ty
mẹ để thực hiện loại trừ khi lập Báo cáo tài chính hợp nhất.
- Với hoàn thiện tổ chức lập, cung cấp và phân tích thông tin trên báo cáo
tài chính, luận án đề xuất hoàn thiện tổ chức lập Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ tập
trung vào việc nhận dạng đầy đủ các dòng tiền ẩn; hoàn thiện tổ chức lập Báo cáo
tài chính hợp nhất với phương pháp đồng hóa chính sách kế toán trong trường hợp
các đơn vị hoạt động theo mô hình công ty mẹ công ty con có đơn vị khác loại
hình hoạt động, đó là đơn vị sự nghiệp; hoàn thiện điều chỉnh các giao dịch nội bộ
khi hợp nhất nhằm khắc phục những bất cập hiện nay; hoàn thiện kế toán các
khoản đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh khi lập Báo cáo tài chính hợp nhất
bằng đề xuất sử dụng phương pháp vốn chủ để điều chỉnh giá trị của khoản đầu tư
liên kết, liên doanh khi lập báo cáo; Hoàn thiện tổ chức lập Báo cáo Lưu chuyển
tiền tệ hợp nhất, tổ chức lập báo cáo bộ phận phù hợp với đặc thù riêng của các
doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ, công ty con thuộc Bộ Quốc
Phòng tổ chức thực hiện phân tích, xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích và tổ
chức báo cáo kết quả phân tích.
Tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp là vấn đề hết sức phức tạp
và rất cần thiết đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào. Có rất nhiều đề tài của các tác
10
giả viết về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp song mỗi tác giả lại đi
tập trung đi sâu nghiên cứu về một lĩnh vực khác nhau. Trên địa bàn tỉnh Hải
Dương có khoảng hơn 20 doanh nghiệp sản xuất trong lĩnh vực giày da. Mặc dù có
rất nhiều đề tài viết về kế toán trong các doanh nghiệp này nhưng mỗi đề tài lại tập
trung vào các lĩnh vực như; Tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm, Kế toán
nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương,
Kế toán tài sản cố định,...
Các đề tài khi nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán có rất nhiều thành
công đáng kể tuy nhiên hầu hết các đề tài khi nghiên cứu về tổ chức công tác kế
toán trong các doanh nghiệp sản xuất đều tập trung khai thác trên các khía cạnh giác
độ chu trình kế toán được chia thành các nội dung đó là: Tổ chức chứng từ; tổ chức
tài khoản; tổ chức hệ thống sổ, tổ chức lập các báo cáo kế toán để cung cấp thông
tin. Kế toán là một môn khoa học, một nghề nghiệp và cũng là một trong các công
cụ quản lý kinh tế quan trọng của doanh nghiệp kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm
tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật
và thời gian lao động. Kế toán là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ
thông tin về tài sản, sự vận động tài sản, các hoạt động kinh tế tài chính trong doanh
nghiệp, nhằm kiểm tra giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của doanh
nghiệp. Xuất phát từ bản chất của kế toán là một hệ thống thông tin kinh tế, tài
chính của doanh nghiệp và kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh tế của doanh
nghiệp bằng hệ thống các phương pháp của mình. Tổ chức công tác kế toán là tổ
chức việc thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp thông tin về hoạt động của doanh
nghiệp. Với cách tiếp cận theo hệ thống thông tin quản lý sản xuất kinh doanh đó là
chức năng của kế toán là thu thập tin, xử lý, hệ thống hóa và cung cấp thông tin.
Luận án đã nghiên cứu lý luận về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp
sản xuất và thực trạng tổ chức công tác trong các doanh nghiệp sản xuất giày của
Việt Nam trên địa bàn tỉnh Hải Dương dưới cách tiếp cận theo chức năng của kế
toán đó là thu thập, xử lý, hệ thống hóa và cung cấp thông tin kế toán. Tổ chức công
tác kế toán đối với các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương vẫn
11
chưa được đề cập.
3. Mục đích nghiên cứu của luận án
Luận án tập trung nghiên cứu, hệ thống hóa và góp phần làm rõ hơn những
vấn đề lý luận về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất.
Nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp của một số
nước có nền kinh tế phát triển đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Hải Dương, từ đó
phân tích rút ra bài học về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất
giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Qua khảo sát, đánh giá đúng thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các
doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương những năm qua, đề tài phân
tích đánh giá thực trạng và rút ra những ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân hạn
chế, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán
trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu lý luận
và thực tiễn về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất;
Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu tổ chức
công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Bên cạnh đó luận án cũng nghiên cứu tổ chức công tác kế toán ở một số doanh
nghiệp sản xuất của nước ngoài trên địa bàn tỉnh nhằm rút ra bài học kinh nghiệm
về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp của Việt Nam. Luận án có sử
dụng các tài liệu, số liệu, các BCTC của các Công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh
Hải Dương trong các năm 2012, 2013, 2014, 2015.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
- Phương pháp tiếp cận thông tin: Luận án vận dụng cơ sở lý thuyết về tổ
chức công tác kế toán để phân tích thực trạng của tổ chức công tác kế toán tại các
doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Đồng thời, luận án sử
dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để thu thập và xử lý
thông tin.
12
+ Nghiên cứu định tính: Nghiên cứu này được thực hiện thông qua việc
quan sát, phỏng vấn sâu các đối tượng cung cấp thu thập thông tin như các nhân
sự thuộc phòng kế toán, các phòng ban khác như bộ phận sản xuất, bộ phận thu
mua, bộ phận kiểm tra chất lượng,... nhằm giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn
tổng quan về tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa
bàn tỉnh Hải Dương;
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Dữ liệu phục vụ cho luận án được thu thập
thông qua các nguồn sau:
+ Nguồn dữ liệu thứ cấp: Các dữ liệu thu thập từ nguồn này bao gồm các văn
bản luật, nghị định, thông tư,.... của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành về tổ chức
công tác kế toán; các tài liệu về tổ chức công tác kế toán tham khảo từ giáo trình,
báo, tạp chí, mạng internet; các tài liệu sẵn có của các doanh nghiệp: Tài liệu giới
thiệu về doanh nghiệp, quy chế tài chính, mục tiêu, phương hướng, chính sách phát
triển của doanh nghiệp; Báo cáo tài chính, báo cáo quản trị các năm từ năm 2012
đến năm 2015; các sổ sách, chứng từ, báo cáo kế toán liên quan đến tổ chức công
tác kế toán, phương hướng phát triển các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn
tỉnh Hải Dương đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025...
+ Nguồn dữ liệu sơ cấp: Điều tra thu thập thông tin từ các Phòng, Ban trong
các doanh nghiệp thông qua quan sát trực tiếp, quan sát gián tiếp, phỏng vấn trực
tiếp, điều tra thông qua các phiếu khảo sát, điều tra, bảng hỏi...
- Phương pháp xử lý phân tích dữ liệu: Các dữ liệu thu thập được sẽ được
kiểm tra, sàng lọc, sau đó sử dụng công cụ word, excel để tiến hành thống kê, phân
tích. Bên cạnh đó, tiến hành xử lý số liệu bằng cách sử dụng sơ đồ, bảng biểu... để
phân tích, tổng hợp và đánh giá.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học
Về mặt lý luận, luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết về tổ chức
công tác kế toán trong các doanh nghiệp. Cụ thể, luận án làm rõ cơ sở lý luận về tổ
chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày về lĩnh vực KTTC cũng
13
như KTQT.
Ý nghĩa thực tiễn
Về mặt thực tiễn và ứng dụng, luận án nghiên cứu, phân tích và đánh giá
đúng thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa
bàn tỉnh Hải Dương. Qua đó đánh giá những điểm đạt được và những hạn chế còn
tồn tại tác giả tìm hiểu nguyên nhân để khắc phục. Trên cơ sở các mô hình lý thuyết
về tổ chức công tác kế toán, đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc
điểm tổ chức quản lý và thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp
tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các
doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo,
nội dung luận án được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp
sản xuất
Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp
sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các doanh
nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương
14
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý trong doanh
nghiệp sản xuất
1.1.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất
Sản xuất ra của cải vật chất là điều kiện tồn tại và phát triển của xã hội loài
người. Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong
thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào các vấn đề chính sau: Sản xuất cái gì? Sản
xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa
việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản xuất. Bất kỳ một doanh
nghiệp sản xuất nào muốn sản xuất cũng cần phải có 3 yếu tố đó là: tư liệu lao
động, đối tượng lao động và lao động: “Doanh nghiệp là một tổ chức có tên riêng,
có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng kí thành lập theo quy định của Pháp luật
nhằm mục đích kinh doanh” [35]. Doanh nghiệp sản xuất là doanh nghiệp sử dụng
các nguồn lực kinh tế kết hợp với công nghệ hợp lý để sản xuất ra sản phẩm cung
cấp trên thị trường. Mục tiêu của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận, cung cấp sản
phẩm, hàng hóa dịch vụ, tiếp tục phát triển, ngoài ra còn có trách nhiệm với xã hội.
Với mục tiêu là lợi nhuận doanh nghiệp sẽ bù đắp chi phí, những rủi ro gặp phải để
tiếp tục phát triển. Nếu không có lợi nhuận doanh nghiệp không thể trả công cho
người lao động, duy trì việc làm lâu dài cho người lao động cũng như không thể
cung cấp lâu dài hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng và cộng đồng. Đặc điểm hoạt
động của doanh nhiệp sản xuất gồm các đặc điểm sau:
Quy trình sản xuất: là một chuỗi các công việc được thực hiện theo thứ tự để
tạo ra các sản phẩm trên cơ sở kết hợp: nguyên vật liệu, nhân công, máy móc thiết
bị, năng lượng và các yếu tố khác.
Các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm bao gồm: Chi phí
nguyên vật liệu, nhiên liệu, chi phí nhân công, chi phí khấu hao máy móc thiết bị,
15
chi phí quản lý và điều hành sản xuất. Vấn đề đặt ra với các doanh nghiệp sản xuất
là tiết kiệm tối ưu các nguồn lực, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản
phẩm. Muốn vậy thì các doanh nghiệp phải quản lý tốt các vấn đề trên, kế toán một
công cụ quản lý kinh tế hữu hiệu cần phải được chú trọng.
1.1.2. Đặc điểm về tổ chức quản lí trong các doanh nghiệp sản xuất
Quản lý là sự tác động có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý
nhằm duy trì hoạt động của các hệ thống, sử dụng tốt nhất mọi tiềm năng có sẵn,
các cơ hội để đưa hệ thống đi đến mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của thị
trường. Quản lý là quá trình vận dụng các quy luật kinh tế, tự nhiên trong việc lựa
chọn và xác định các biện pháp về kinh tế, xã hội, tổ chức kỹ thuật. Từ đó, họ tác
động đến các yếu tố vật chất của sản xuất kinh doanh.
Quản lý doanh nghiệp sản xuất là một hoạt động tác động đến hành vi có ý
thức của người lao động và tập thể người lao động, qua đó tác động đến yếu tố
vật chất, kỹ thuật của sản xuất kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu đề ra của
doanh nghiệp.
Thực chất của quản lý doanh nghiệp là quản lý con người, bởi vì con người
là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất. Trong mọi hệ thống sản xuất, con
người luôn giữ vị trí trung tâm và có ý nghĩa quyết định.
Quản lý con người gồm nhiều chức năng phức tạp. Bởi vì, con người chịu
ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: sinh lý, tâm lý, xã hội... Các yếu tố này luôn có sự
hỗ trợ qua lại, tác động nhau hình thành nhân cách mỗi con người.
Trong các doanh nghiệp sản xuất, quản lí kinh tế là một chức năng quan
trọng trong hoạt động quản lí và điều hành chung của doanh nghiệp cũng như quản
lí sản xuất, quản lí chi phí, quản lí việc sử dụng vốn, quản lí nhân sự, quản lí công
nghệ, dây truyền sản xuất, quản lí lợi nhuận và phân phối lợi nhuận. Trong một bộ
máy quản lý doanh nghiệp có 3 yếu tố chính: cơ cấu tổ chức, các bộ phận quản lý,
cơ chế hoạt động của bộ máy trong đó: Cơ cấu tổ chức xác định các bộ phận, các
phân hệ, và phòng ban các phòng ban chức năng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Trong đó mỗi phòng ban, hoặc bộ phận phải được chuyên môn hóa, có trách nhiệm
16
cũng như quyền hạn nhất định nhằm thực hiện các chức năng quản lý. Các bộ phận
quản lý: là những người đứng đầu một tổ chức hay phòng ban chịu trách nhiệm về
các quyết định của mình của mình. Cơ chế hoạt động của bộ máy: Xác định các mối
liên hệ cơ bản và các nguyên tắc làm việc của bộ máy quản lý cũng như các mối
liên hệ cơ bản để bảo đảm mục tiêu chung đề ra. Cơ cấu tổ chức là một tập hợp của
các thành phần (đơn vị và cá nhân) trong một mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau,
chuyên môn và trách nhiệm được trao một số quyền hạn của các giai đoạn khác
nhau để đảm bảo việc thực hiện các chức năng quản lý và phục vụ các mục đích
chung của doanh nghiệp được biết đến. Chúng tôi thấy rằng bản chất của cơ cấu tổ
chức và phân chia quyền lực và trách nhiệm trong kế hoạch quản lý. Vì vậy, một
mặt cơ cấu tổ chức phản ánh cơ cấu và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong công ty,
mặt khác có tác động tích cực đối với sự phát triển của công ty. Ở cấp độ quản lý, ví
dụ, cấp công ty cấp đơn vị, mức chức năng... bộ phận quản lý đại diện cho chức
năng quản lý theo chiều dọc (đường thẳng) đại diện cho một tập trung vào quản lý.
Cơ cấu, ngành chức năng, chẳng hạn như hoạt động văn phòng, tài chính, tiếp thị,
các phòng thí nghiệm nghiên cứu và phát triển, lĩnh vực sản xuất... ngành, lĩnh vực
này đại diện cho một phần mạnh mẽ của các chức năng quản lý để chỉ chuyên môn
trong quản lý kinh doanh. Kế toán với tư cách là một nghề, một công cụ quản lý
kinh tế hữu hiệu không thể tách rời khỏi các mô hình tổ chức quản lý, bởi chính các
mô hình tổ chức quản lý này sẽ chi phối trực tiếp đến tổ chức công tác kế toán. Hiện
nay trong các doanh nghiệp sản xuất có các mô hình tổ chức quản lí như sau:
* Mô hình tổ chức quản lí theo tuyến: Theo mô hình này thì mối quan hệ
của bất kỳ thành viên nào trong doanh nghiệp với người lãnh đạo trực tiếp đều được
hiện bằng một tuyến (đường thẳng). Giám đốc doanh nghiệp giao một phần công
việc của mình cho quản lí và thông qua quản lí mà đưa mọi mệnh lệnh xuống các
phân xưởng. Quản lí có quan hệ trực tiếp với các đốc công, mỗi đốc công lại phụ
trách một số công nhân. Các công nhân hoàn toàn độc lập với nhau và chỉ phụ thuộc
vào một đốc công mà thôi.
Đặc điểm cơ bản của cơ cấu này là: Cấp trên trực tiếp lãnh đạo cấp dưới.
17
Cấp dưới tiếp thu, chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh cấp trên.
* Ưu điểm: Quyền lựu tập trung, quy trách nhiệm rõ ràng, duy trì được tính
kỷ luật và kiểm tra, liên hệ dễ dàng đơn giản, mau lẹ, quyết định nhanh chóng,
mệnh lệnh thống nhất tiện cho Giám đốc. Chính vì vậy mà tạo điều kiện duy trì một
thủ trưởng.
* Nhược điểm: Không có sự phân công hợp lý, không có quan hệ điều hoà
theo chiều ngang. Tất cả đều do cá nhân quyết định nên dễ đi đến chuyên quyền,
độc đoán. Đòi hỏi người lãnh đạo phải có kiến thức sâu rộng, toàn diện, tổng hợp.
Đồng thời không tận dụng được sự tư vấn, giúp đỡ của các chuyên gia có trình độ
cao về từng mặt quản trị và khi cần thiết liên hệ giữa hai thành viên của các tuyến
thì việc báo cáo thông tin đi theo đường vòng.
Đặc điểm của mô hình này thường phù hợp với các doanh nghiệp có qui mô nhỏ
* Mô hình tổ chức quản lí theo chức năng: Theo mô hình này mỗi khâu,
mỗi bộ phận được giao cho người phụ trách chuyên sâu trực tiếp quản lí, mỗi người
có lĩnh vực riêng của mình và trong lĩnh vực ấy họ độc lập hướng dẫn các đốc công
của doanh nghiệp.
Ưu điểm của hệ thống quản lí theo chức năng đó là việc chỉ đạo công việc
được chuyên môn hóa, được giao cho những người đã được đào tạo nghiên cứu một
cách cẩn thận về công việc đó và do đó chỉ đạo sẽ đúng đắn hơn, khoa học hơn.
Nhược điểm: Không duy trì được tính kỷ luật, kiểm tra phối hợp. Người lãnh
đạo tổ chức phải phối hợp với người lãnh đạo chức năng, nhưng do có quá nhiều
mệnh lệnh nên lãnh đạo tổ chức không phối hợp được hết, dẫn đến tình trạng người
thừa hành trong một lúc có thể nhận nhiều mệnh lệnh, thậm chí trái ngược nhau.
* Mô hình tổ chức kết hợp trực tuyến chức năng: Đó là mô hình tổ chức hệ
thống kết hợp giữa hệ thống tổ chức theo tuyến và theo chức năng. Đây là mô hình
quản lý kết hợp giữa sự chỉ huy trực tiếp của các cấp lãnh đạo hành chính trong xí
nghiệp và sự chỉ đạo nghiệp vụ của các nhân viên chức năng các cấp. Loại mô hình
này sẽ tạo được một khung hành chính vững chắc để quản lý, điều hành có hiệu lực
và hiệu quả cao. Các phòng ban có nhiệm vụ hoàn thành tốt các nghiệp vụ chuyên
18
môn của mình và có nhiệm vụ tham mưu cho Ban lãnh đạo Công ty. Sự giúp việc
của các phòng, ban chức năng cho các lãnh đạo nhằm mục đích chuẩn bị ra quyết
định, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các quyết định. Các phòng, ban chức
năng không có quyền tự quyết định hoặc ra mệnh lệnh trực tiếp cho các cấp phân
xưởng, mà chỉ có nhiệm vụ tổng hợp thông tin hoặc dự thảo lên để tham mưu, xin ý
kiến quyết định của lãnh đạo sau đó mới thực hiện. Do vậy, cấp lãnh đạo của Công
ty được chuẩn bị rất kỹ về các mặt nghiệp vụ chuyên môn và thông tin khi cần thiết
để ra các quyết định quản lý và điều hành. Loại cơ cấu này đồng thời giữ được ưu
điểm của cơ cấu trực tuyến và cơ cấu chức năng, lại tránh được các khuyết điểm của
mỗi kiểu cơ cấu đó.
* Ưu điểm: Phát huy được năng lực chuyên môn của các bộ phận chức năng,
đồng thời đảm bảo quyền chỉ huy của hệ thống trực tuyến.
* Nhược điểm: Do có quá nhiều bộ phận chức năng, nên lãnh đạo tổ chức
thường phải họp hành nhiều, gây căng thẳng và mất nhiều thời gian. Ngoài ra, còn
có thể xảy ra mâu thuẫn giữa lãnh đạo các tuyến với nhau do không thống nhất
được quyền hạn và quan điểm.
1.2. Khái niệm, ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất
Tổ chức công tác kế toán là một trong những nội dung quan trọng trong tổ
chức công tác quản lý ở doanh nghiệp. Với chức năng cung cấp thông tin và kiểm tra
hoạt động kinh tế - tài chính, do đó công tác kế toán ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng công tác quản lý, đồng thời nó còn ảnh hưởng đến việc đáp ứng các yêu cầu
của các đối tượng trực tiếp và gián tiếp sử dụng thông tin kế toán. Tổ chức công tác
kế toán phù hợp với quy mô và đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp không chỉ tiết
kiệm được chi phí mà còn bảo đảm cung cấp thông tin nhanh, đầy đủ, kịp thời, có
chất lượng. Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về tổ chức công tác kế toán
trong các doanh nghiệp, song có thể tóm tắt thành một số quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất: “Tổ chức hạch toán kế toán là việc thiết lập mối quan
hệ giữa các đối tượng và phương pháp hạch toán để ban hành chế độ kế và tổ chức
19
vận dụng chế độ kế toán trong thực tế tại đơn vị kế toán cơ sở”. [53, tr.9]
Quan điểm thứ hai: “Tổ chức công tác kế toán là việc thiết lập mối quan hệ
giữa các phương pháp hạch toán kế toán (Phương pháp chứng từ, phương pháp tài
khoản, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp cân đối kế toán) trong từng nội
dung hạch toán cụ thể nhằm phản ánh, chính xác, kịp thời tình hình tài sản và các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại đơn vị”. [42, tr.192]
Quan điểm thứ ba: “Tổ chức công tác kế toán là việc tổ chức vận dụng các
phương pháp kế toán để liên kết các yếu tố cấu thành, các công việc của kế toán
nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ của kế toán trong doanh nghiệp” [58, tr.11]. Tổ chức
công tác kế toán ở doanh nghiệp là tổ chức việc thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp
thông tin về hoạt động của doanh nghiệp. Tổ chức công tác kế toán trong doanh
nghiệp phải giải quyết được hai phương diện: Tổ chức thực hiện các phương pháp kế
toán, các nguyên tắc kế toán, và các phương pháp, phương tiện tính toán nhằm đạt
được mục đích của công tác kế toán và tổ chức bộ máy kế toán nhằm liên kết các
nhân viên kế toán thực hiện tốt công tác kế toán trong doanh nghiệp.
Quan điểm thứ nhất mới chỉ nói lên tổ chức công tác kế toán là việc thiết lập
mối quan hệ giữa đối tượng và các phương pháp kế toán mà chưa cụ thể đối tượng và
các phương pháp cụ thể sẽ rất khó khăn cho việc triển khai ở các doanh nghiệp.
Nếu quan điểm thứ nhất mới chỉ nêu được tổ chức công tác kế toán là việc
thiết lập mối quan hệ giữa đối tượng kế toán và các phương pháp kế toán mà chưa chỉ
ra phương pháp kế toán là những phương pháp nào thì quan điểm thứ hai đã khắc
phục và chỉ rõ rằng tổ chức công tác kế toán là thiết lập các mối quan hệ giữa các
phương pháp kế toán đó là phương pháp chứng từ, phương pháp tài khoản, phương
pháp tính giá, phương pháp tổng hợp cân đối kế toán nhưng vẫn còn chung chung,
chưa thể hiện vai trò của tổ chức bộ máy trong khái niệm.
Quan điểm thứ ba đã chỉ ra rằng tổ chức công tác kế toán là việc tổ chức thực
hiện các phương pháp kế toán để liên kết các yếu tố cấu thành để thực hiện tốt các
nhiệm vụ của kế toán, quan điểm này vẫn còn chung chung chưa nói lên các yếu tố
tổ chức trong bộ máy kế toán. Theo quan điểm này các yếu tố cấu thành cần phải
20
liên kết chưa được chỉ ra.
Mỗi quan điểm có lý lẽ và cách tiếp cận cũng như luận giải khác nhau nhưng
tựu chung lại cả ba quan điểm đều có chung yếu tố con người vận dụng các phương
pháp kế toán để đạt được nhiệm vụ của kế toán.
Tổ chức công tác kế toán được hiểu là một hệ thống các phương pháp cách
thức phối hợp sử dụng phương tiện và kỹ thuật cũng như nguồn lực của bộ máy kế
toán thể hiện các chức năng và nhiệm vụ của kế toán đó là: Phản ánh, đo lường,
giám sát và thông tin bằng số liệu một cách trung thực, chính xác, kịp thời đối
tượng kế toán trong mối liên hệ mật thiết với các lĩnh vực quản lý khác.
Từ những quan điểm đã nêu về tổ chức công tác kế toán, quan điểm của tác
giả về tổ chức công tác kế toán là: Tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp
sản xuất là việc tổ chức sắp xếp nhân sự làm kế toán theo theo từng phần hành kế
toán cụ thể nhằm vận dụng các phương pháp kế toán phù hợp để đạt được mục tiêu
thu nhận, xử lý, hệ thống hóa và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính đáp ứng các
yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý.
1.2.2. Ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp
Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp sản xuất là trách nhiệm của
lãnh đạo doanh nghiệp và của kế toán trưởng. Tổ chức công tác kế toán là một trong
những nội dung quan trọng trong tổ chức quản lý ở doanh nghiệp. Với chức năng
cung cấp thông tin và kiểm tra hoạt động kinh tế tài chính, do đó công tác kế toán
ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của công tác quản lý, đồng thời nó còn ảnh
hưởng đến việc đáp ứng các yêu cầu khác nhau của của các đối tượng trực tiếp và
gián tiếp. Với chức năng cung cấp thông tin và kiểm tra giám sát kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách thường xuyên, kịp thời có hệ thống
nên tổ chức công tác kế toán là một trong những nội dung được các doanh nghiệp
quan tâm chú trọng. Tổ chức công tác kế toán không đơn thuần là tổ chức một bộ
phận quản lý trong doanh nghiệp mà nó còn bao hàm cả tính nghệ thuật trong việc
xác lập các yếu tố điều kiện cũng như các mối liên hệ qua lại có tác động trực tiếp,
gián tiếp đến hoạt động kế toán đảm bảo cho kế toán phát huy tối đa các chức năng
21
vốn có của mình. Ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản
xuất được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau:
- Tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý sẽ có được một bộ máy kế toán
gọn nhẹ, tiết kiệm, hiệu quả. Các phần hành kế toán sẽ được phối hợp với nhau một
cách nhịp nhàng, ăn khớp, nhiệm vụ của từng bộ phận rõ ràng, không bị chồng chéo
đảm bảo kiểm soát kỹ lưỡng từng khâu hạch toán hạn chế sai sót;
- Tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý sẽ cung cấp thông tin kịp thời,
chính xác cho các hoạt động quản lý trong doanh nghiệp.
- Tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý sẽ là cơ sở để quản lý tài chính
hiệu quả, đảm bảo cho việc thu nhận, hệ thống hóa thông tin kinh tế đầy đủ, kịp thời
đáng tin cậy phục vụ công tác quản lý kinh tế tài chính (vĩ mô và vi mô). Điều này
giúp nhà quản lý tiết kiệm chi phí khi tìm kiếm thông tin.
Tóm lại, việc tổ chức công tác kế toán khoa học hợp lý không những đảm
bảo cho việc thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp thông tin kế toán đầy đủ, kịp thời,
đáng tin cậy phục vụ cho công tác quản lý kinh tế mà còn giúp các doanh nghiệp
ngăn ngừa các hiện tượng tham ô, lãng phí tài sản, thực hiện tốt chức năng nhiệm
vụ của kế toán.
1.3. Cơ sở, nguyên tắc và nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán
1.3.1. Cơ sở để thực hiện các nội dung của tổ chức công tác kế toán
Xuất phát từ quan điểm của tổ chức công tác kế toán đó là tổ chức hệ thống
thông tin kế toán trong hệ thống quản lý. Như vậy tổ chức công tác kế toán phải lấy
nhu cầu thông tin kế toán làm căn cứ và mục tiêu là sản xuất thông tin đáp ứng nhu
cầu quản lý và phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị. Công tác tổ chức là
yếu tố quan trọng nhất, quyết định việc thực hiện nhiệm vụ ở mỗi đơn vị. Nếu tổ
chức khoa học sẽ phát huy được năng lực của tập thể và của các thành viên, nếu tổ
chức không tốt sẽ gây trì trệ ảnh hưởng đến chất lượng công tác và hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp là tập hợp những người làm kế
toán nhằm đảm bảo thực hiện toàn bộ khối lượng công tác kế toán của mỗi doanh
22
nghiệp. Mỗi nhân viên trong bộ máy kế toán đều được quy định rõ chức năng nhiệm
vụ, và quyền hạn trong quá trình tiến hành công tác kế toán, đồng thời có mối quan
hệ nghiệp vụ qua lại với nhau trong quá trình thực hiện công việc.
Triển khai tổ chức bộ máy kế toán phải dựa trên cơ sở khối lượng công việc,
phân công bố trí công việc cho các thành viên phải từ khối lượng công tác kế toán
đã vạch ra. Tổ chức khoa học, hợp lý công tác kế toán, doanh nghiệp cần phải dựa
vào các căn cứ sau:
Căn cứ vào chế độ về quản lý kinh tế, tài chính của Nhà nước nói chung,
chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán hiện hành và các quy định của pháp luật liên
quan đến kế toán nói riêng;
Căn cứ vào đặc điểm, tính chất hoạt động và mục đích hoạt động của đơn vị;
căn cứ vào quy mô, địa bàn hoạt động của doanh nghiệp, bộ máy tổ chức, bộ máy
quản lý; Tổ chức công tác kế toán phải bắt nguồn từ tổ chức quản lí và phục vụ
quản lí của doanh nghiệp;
Căn cứ vào khả năng trình độ của đội ngũ người làm kế toán hiện có của
doanh nghiệp;
Căn cứ vào trình độ, trang thiết bị và sử dụng công nghệ thông tin cũng như
các phương tiện hỗ trợ công tác kế toán.
1.3.2. Những nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp sản xuất
Tổ chức công tác kế toán là nỗ lực chủ quan của con người nhằm vận dụng
tốt nhất các phương pháp của kế toán trong thực tiễn, nâng cao hiệu quả cung cấp
thông tin phục vụ quản lý. Để phát huy được đầy đủ vai trò, chức năng, nhiệm vụ
của công tác kế toán cũng như thực hiện được những yêu cầu của kế toán cần phải
tổ chức công tác kế toán theo các nguyên tắc sau:
Một là, vận dụng những vấn đề lý luận cơ bản của công tác tổ chức. Lý luận
về tổ chức luôn quan tâm đến tính hệ thống gồm: các phần tử của hệ thống và môi
trường tác động đến hệ thống. Hệ thống không phải là sự lắp ghép tùy tiện các phần
tử mà là sự kết hợp hữu cơ giữa chúng, nhờ đó mà hệ thống không ngừng vận động
và phát triển. Tổ chức công tác kế toán là một đặc thù của tổ chức vì vậy những vấn
23
đề về lý luận cơ bản của tổ chức đó là; tính hệ thống, mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ,
bộ máy cần phải được nghiên cứu một cách đầy đủ trong tổ chức công tác kế toán;
Hai là, tuân thủ Luật kế toán, chuẩn mực kế toán và các văn bản pháp qui về
tài chính, kế toán;
Nhằm tạo ra một môi trường pháp lý cho hoạt động của kế toán, mỗi quốc
gia sẽ ban hành một hệ thống các quy định pháp luật cho hoạt động kế toán. Luật kế
toán, Chuẩn mực kế toán và các Chính sách, Chế độ kế toán nhà nước đã ban hành
là cơ sở pháp lý cho công tác kế toán và công tác quản lý tài chính trong các doanh
nghiệp nói chung và trong các doanh nghiệp sản xuất nói riêng. Tuy nhiên, trong
quá trình tổ chức công tác kế toán, các doanh nghiệp sản xuất phải căn cứ đặc điểm
hoạt động sản xuất kinh doanh và yêu quản lý cụ thể của đơn vị để tổ chức hợp lý,
khoa học và phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin kịp thời, trung thực và tin cậy
phục vụ công tác điều hành quá trình sản xuất kinh doanh và quản lý công ty;
Ba là, phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý, tổ chức hoạt động sản xuất
kinh doanh và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ người làm kế toán;
Mỗi doanh nghiệp hoạt động trên những lĩnh vực khác nhau đều có những
đặc điểm riêng về tổ chức quản lý, về trình độ quản lý, đồng thời có quy mô hoạt
động và yêu cầu quản lý cụ thể khác nhau..
Bốn là, đảm bảo tính thống nhất giữa công tác kế toán và công tác quản lý;
cung cấp kịp thời, trung thực và đầy đủ các thông tin về hoạt động sản xuất kinh
doanh phục vụ yêu cầu quản lý chung toàn công ty;
Các bộ phận quản lý khác nhau trong doanh nghiệp sản xuất có liên quan
chặt chẽ với nhau, cùng thực hiện phục vụ cho công tác quản lý chung của doanh
nghiệp. Tuy nhiên, mỗi bộ phận chức năng khác nhau đảm bảo những nhiệm vụ
khác nhau. Các bộ phận này cần phải cung cấp những thông tin phù hợp với chức
năng, nhiệm vụ của mình phục vụ cho công tác điều hành, quản lý chung của công
ty. Vì vậy, tổ chức công tác kế toán phải chú ý giải quyết tốt mối quan hệ giữa các
bộ phận nhằm đảm bảo đồng bộ trong việc thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp
thông tin phục vụ cho quản lý chung toàn công ty.
24
Năm là, tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp phải đảm bảo kết hợp
tốt giữa KTTC và KTQT;
KTTC và KTQT là hai loại kế toán có những điểm khác nhau về đối tượng
sử dụng thông tin, đặc điểm của thông tin, phạm vi thông tin, kỳ báo cáo... nhưng có
những điểm giống nhau là cả hai đều dựa trên cùng một cơ sở hạch toán ban đầu,
đều thu thập, xử lý cung cấp thông tin kinh tế của doanh nghiệp. Do vậy, khi tổ
chức công tác kế toán phải chú ý để nghiên cứu để kết hợp giữa KTTC và KTQT
làm cho từng loại kế toán đều phát huy tác dụng một cách tốt nhất.
Sáu là, đảm bảo tính tiết kiệm, nâng cao hiệu quả và tính khả thi;
Theo nguyên tắc hạch toán kinh tế, tất cả các công việc liên quan đến quá
trình lựa chọn các phương án sản xuất kinh doanh, công tác tổ chức quản lý nói
chung và công tác tổ chức kế toán nói riêng cần đảm bảo tiết kiệm, trang trải chi
phí, có lãi và có tính khả thi. Tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản
xuất cũng là một trong những phương án tổ chức công việc, tổ chức nhân sự chuyên
môn nên cũng cần phải tuân thủ nguyên tắc tiết kiệm, nâng cao hiệu quả và mang
tính khả thi. Có như vậy mới đảm bảo cho việc tổ chức khoa học, hợp lý công tác kế
toán mang lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp.
1.3.3. Nhiệm vụ của tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp
Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp sản xuất là trách nhiệm của
lãnh đạo doanh nghiệp và của kế toán trưởng.
Nghiên cứu nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản
xuất có ý nghĩa quan trọng nhằm giúp các doanh nghiệp vận dụng một cách linh
hoạt, hiệu quả. Tổ chức công tác kế toán cần phải thực hiện tốt nhiệm vụ sau:
- Tổ chức bộ máy kế toán hợp lý, bao gồm việc phân công, phân nhiệm công
việc kế toán theo từng bộ phận, từng người làm kế toán của từng phần hành kế toán
phù hợp với hình thức tổ chức công tác kế toán. Hướng dẫn mọi người quán triệt và
tuân thủ các chế độ về quản lý kinh tế, tài chính nói chung và chế kế toán nói riêng;
- Tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán, chế độ kế toán, vận dụng các
nguyên tắc kế toán, chuẩn mực kế toán và tổ chức sử dụng các phương tiện kỹ thuật
25
tính toán để thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kế toán cho các đối
tượng sử dụng;
- Xác định rõ mối quan hệ giữa các bộ phận kế toán trong bộ máy kế toán và
giữa các bộ phận kế toán với các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp về các
công việc có liên quan đến công tác kế toán nhằm đảm bảo sự thống nhất trong
cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu quản lý;
- Tổ chức thực hiện chế độ lưu trữ và bảo quản chứng từ, tài liệu kế toán. [37]
1.4. Nội dung cơ bản của tổ chức công tác kế toán trong các doanh
nghiệp sản xuất
Tổ chức công tác kế toán dưới góc độ chức năng của thông tin kế toán bao
gồm: Tổ chức thu nhận thông tin kế toán; Tổ chức xử lý, phân tích thông tin kế
toán; Tổ chức cung cấp thông tin kế toán.
Ở giác độ chu trình (giai đoạn) của kế toán, tổ chức công tác kế toán được
chia thành các nội dung: Tổ chức chứng từ; Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán; Tổ
chức hệ thống sổ kế toán; Tổ chức hệ thống báo cáo và phân tích báo cáo tài chính
và tổ chức kiểm tra kế toán.
Tổ chức công tác kế toán theo đối tượng hạch toán kế toán cụ thể là mối liên
hệ giữa các yếu tố chứng từ, sổ tổng hợp và chi tiết, tổng hợp báo cáo kế toán trong
từng đối tượng cụ thể trên cơ sở mổ sẻ đối tượng kế toán thành các phần hành kế
toán cụ thể như; Phần hành kế toán TSCĐ; Phần hành kế toán nguyên vật liệu; Phần
hành kế toán tiền lương; Phần hành kế toán chi phí, giá thành...; Mỗi phần hành kế
toán có đặc điểm riêng và yêu cầu cung cấp thông tin khác nhau đòi hỏi việc tổ
chức hạch toán kế toán (về chứng từ ban đầu, tài khoản kế toán, sổ kế toán cũng
như báo cáo kế toán) phải chú ý phù hợp với yêu cầu cung cấp thông tin của từng
phần hành. Vì vậy, trong thực tế trên cơ sở nhận thức công tác kế toán theo các giai
đoạn của chu trình kế toán, người ta kết hợp các giai đoạn này theo từng phần hành
kế toán. Việc tổ chức sắp xếp và phân công công tác kế toán trong thực tế ở mỗi
đơn vị trên cơ sở các phần hành kế toán này và ở mỗi phần hành kế toán được tiến
hành thực hiện theo các giai đoạn của chu trình kế toán chứng từ, sổ kế toán, tổng
26
hợp báo cáo kế toán. Nội dung của tổ chức công tác kế toán bao gồm rất nhiều nội
dung nhưng có thể khái quát thành các nội dung sau:
* Tổ chức bộ máy kế toán để thực hiện KTTC và KTQT
Thực chất của tổ chức bộ máy kế toán là tổ chức sắp xếp người làm kế toán
vào các phần hành kế toán cụ thể một cách khoa học, hợp lý nhằm thu nhận một
cách đầy đủ, kịp thời thông tin kinh tế phục vụ công tác điều hành quản lý hoạt
động sản xuất kinh doanh. Việc phát huy năng lực của từng người phụ thuộc vào
việc tổ chức bộ máy kế toán.
* Tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán để thu nhận, xử lý, phân tích,
cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý, bao gồm các việc cụ thể đó là:
+ Tổ chức thu nhận, kiểm tra thông tin đầu vào;
+ Tổ chức xử lý, phân loại, phân tích và cung cấp thông tin qua các phương
thức của báo cáo kế toán;
+ Sử dụng thông tin kế toán cho việc ra quyết định quản lý;
+ Tổ chức kiểm tra kế toán.
1.4.1. Tổ chức bộ máy kế toán để thực hiện KTTC và KTQT
Với mục tiêu là tổ chức thu nhận, xử lý hệ hóa và cung cấp thông tin, đáp
ứng nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin phục vụ công tác quản lý doanh
nghiệp, một trong những khâu quan trọng và có ý nghĩa quyết định là khâu tổ chức
bộ máy kế toán. Tổ chức bộ máy kế toán sao cho thực hiện tốt cả KTTC và KTQT.
Nhiệm vụ của tổ chức bộ máy kế toán là xác định khối lượng công tác kế
toán bao gồm KTTC và KTQT đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ, chính
xác cho các đối tượng sử dụng thông tin trong và ngoài doanh nghiệp.
Tổ chức bộ máy kế toán là tổ chức về nhân sự để thực hiện việc thu thập, xử
lý và cung cấp thông tin kế toán cho các đối tượng khác nhau.
* Nội dung tổ chức bộ máy kế toán bao gồm:
Xác định khối lượng công tác kế toán và các phần hành kế toán;
Xác định số lượng nhân viên cần phải có; yêu cầu về trình độ nghề nghiệp;
bố trí và phân công nhân viên thực hiện các công việc cụ thể; xác lập mối quan hệ
27
giữa các bộ phận kế toán với nhau cũng như giữa bộ phận kế toán với các bộ phận
quản lý khác có liên quan, kế hoạch công tác và việc kiểm tra tình hình thực hiện kế
hoạch. Để tổ chức bộ máy kế toán cần căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp, trình
độ nghề nghiệp và yêu cầu quản lý, đặc điểm về tổ chức sản xuất, quản lý và điều
kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc thu thập, xử lý, cung cấp thông tin.
Bộ máy kế toán là một tập hợp những người làm kế toán nhằm bảo đảm
thực hiện toàn bộ khối lượng công tác kế toán của doanh nghiệp, tổ chức bộ máy kế
toán được hiểu như là việc cơ cấu nhân sự, phân công lao động cho các thành viên
trong bộ máy kế toán thực hiện những phần hành kế toán cụ thể (lao động kế toán).
Tổ chức bộ máy kế toán còn bao gồm cả việc tổ chức phương tiện, thiết bị cho lao
động kế toán.
Mỗi nhân viên trong bộ máy kế toán đều được quy định rõ chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn trong quá trình công tác kế toán, các mối quan hệ nghiệp vụ qua lại
với nhau trong quá trình thực hiện công việc của mỗi người, mỗi bộ phận.
Nguyên tắc tổ chức bộ máy kế toán
- Phải phân công trách nhiệm cụ thể, chức năng, quyền hạn cho từng người
làm kế toán trong từng phần hành;
- Tổ chức bộ máy kế toán phải gọn nhẹ để đảm bảo cung cấp thông tin nhanh
chóng, kịp thời phục vụ yêu cầu quản lý;
- Tổ chức bộ máy kế toán phải căn cứ vào đặc điểm, yêu cầu cụ thể của
doanh nghiệp để vận dụng mô hình tổ chức công tác kế toán cho phù hợp;
- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán là việc lựa chọn, sắp xếp bộ máy đó làm
việc theo dạng nào cho phù hợp với quy mô của doanh nghiệp, phù hợp với trình độ
tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý của doanh nghiệp.
Nội dung tổ chức bộ máy kế toán bao gồm:
Lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán;
Mô hình tổ chức KTTC và KTQT;
Tổ chức, bố trí nhân sự làm kế toán;
Tổ chức kiểm tra kế toán.
28
- Các căn cứ để lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán hợp lý:
+ Đặc điểm về hoạt động vực sản xuất kinh doanh;
+ Qui mô, địa bàn hoạt động của doanh nghiệp (không gian bố trí các đơn vị);
+ Đặc điểm về tổ chức doanh nghiệp, mức độ phân cấp quản lý KTTC;
+ Biên chế và năng lực trình độ của đội ngũ người làm kế toán của đơn vị;
+ Trình độ, trang thiết bị phương tiện kỹ thuật;
+ Điều kiện về thị trường và chiến lược phát triển của doanh nghiệp.
Các nhân tố và điều kiện này chi phối tác động lẫn nhau vì vậy phải phối hợp
các nhân tố và điều kiện trong một thực tế cụ thể để xác định được một hình thức tổ
chức bộ máy kế toán vừa khoa học vừa hợp lý.
1.4.1.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán
Công tác kế toán trong doanh nghiệp bao gồm KTTC và KTQT. KTTC là
việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính bằng
báo cáo tài chính cho đối tượng sử dụng thông tin của đơn vị kế toán. KTQT là việc
thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản
trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội đơn vị kế toán.
Như vậy, tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp bao gồm tổ chức
công tác KTTC và tổ chức công tác KTQT.
Khi tổ chức công tác KTTC và KTQT, doanh nghiệp phải căn cứ vào quy
mô, phạm vi hoạt động; tính chất và yêu cầu quản lý của mình để tổ chức thực hiện
cả hai nội dung cho phù hợp theo một trong ba mô hình sau:
Mô hình tổ chức công tác KTTC tách rời với KTQT: Theo mô hình này,
toàn bộ nội dung tổ chức công tác KTTC và tổ chức KTQT được tách rời và thực
hiện một cách riêng rẽ, độc lập với nhau. Khi tổ chức bộ máy phải tổ chức thành
hai bộ phận riêng biệt: bộ phận KTTC và KTQT. Mỗi bộ phận này sẽ đảm bảo
chức năng, nhiệm vụ riêng biệt. Thực tế mô hình này rất ít được áp dụng bởi hiệu
quả kinh tế không cao, bộ máy kế toán cồng kềnh, có sự trùng lặp giữa kế toán tài
chính và KTQT.
Mô hình tổ chức công tác KTTC kết hợp với KTQT: Theo mô hình này, trong
29
từng nội dung tổ chức công tác kế toán đều có sự kết hợp chặt chẽ giữa KTTC và
KTQT. Khi tổ chức theo mô hình này từng nội dung của tổ chức công tác kế toán:
Thu thập, xử lý, hệ thống hóa, cung cấp thông tin, tổ chức bộ máy kế toán đều phải
kết hợp giữa kế toán và KTQT.
Khi tổ chức bộ máy kế toán, không cần phải tách ra hai bộ phận KTTC và
KTQT riêng biệt. Trong từng bộ phận kế toán theo từng phần hành kế toán đã có sự
kết hợp thực hiện các nhiệm vụ của cả KTTC và KTQT. Tổ chức công tác kế toán
theo mô hình này tường tránh được sự trùng lắp trong việc thực hiện các nội dung
kế toán, phát huy tối đa vai trò, khả năng của từng bộ phận, từng nhân viên kế toán.
Đảm bảo tổ chức bộ máy kế toán được gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao.
Mô hình tổ chức công tác kế toán kết hợp: Trong toàn bộ những nội dung của
kế toán có những nội dung dược tổ chức riêng biệt, có những nội dung được tổ chức
kết hợp. Đối với các bộ phận kế toán được tổ chức riêng biệt: phải tổ chức bộ phận
KTTC và bộ phận KTQT riêng, đồng thời xây dựng hệ thống chứng từ, tài khoản,
sổ sách KTQT riêng biệt theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp. Tổ chức lập và trình
bày hệ thống báo cáo kế toán trên cơ sở thông tin ban đầu vào của KTQT, tách rời
những thông tin trên báo cáo tài chính. Đối với những nội dung kế toán được tổ
chức kết hợp: không phải tổ chức bộ phận kế toán riêng mà bộ phận này thu thập,
xử lý, cung cấp thông tin theo yêu cầu của KTTC và KTQT.
1.4.1.2. Lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán
Hiện nay có 3 mô hình tổ chức bộ máy kế toán: Mô hình tổ chức bộ máy kế
toán tập trung, mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán, mô hình tổ chức bộ máy
kế toán hỗn hợp (vừa tập trung vừa phân tán).
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung
- Mô hình này thường được áp dụng cho các doanh nghiệp có hoặc không có
đơn vị trực thuộc, có quy mô nhỏ và vừa, công việc hạch toán không nhiều, hoặc
đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn nhưng địa bàn tập trung, phương tiện
thông tin liên lạc dễ dàng.
- Theo mô hình này toàn doanh nghiệp (công ty, tổng công ty) chỉ có một
30
phòng kế toán trung tâm làm đơn vị kế toán cơ sở, còn các đơn vị trực thuộc không
có tổ chức kế toán riêng.
- Phòng kế toán chịu trách nhiệm thực hiện toàn bộ công tác kế toán trong
toàn doanh nghiệp. Tại đơn vị trực thuộc có các nhân viên kinh tế làm nhiệm vụ
hạch toán ban đầu, thu nhận và kiểm tra chứng từ để hàng ngày hoặc định kỳ
chuyển về phòng kế toán kiểm tra, luân chuyển và ghi sổ kế toán.
- Tổ chức theo hình thức này thì bộ máy kế toán ở doanh nghiệp là chủ yếu
có thể chia làm nhiều bộ phận như sau:
+ Bộ phận tài chính: làm nhiệm vụ giúp kế toán trưởng xây dựng và quản lý
kế hoạch tài chính doanh nghiệp;
+ Bộ phận kế toán vốn bằng tiền, cho vay và thanh toán: làm nhiệm vụ giúp
kế toán trưởng xây dựng và quản lý kế hoạch tài chính doanh nghiệp, theo dõi tình
hình biến động về vốn bằng tiền, các khoản nợ phải thu phải trả, lập báo cáo lưu
chuyển tiền tệ và các báo cáo nội bộ khác.
+ Bộ phận kế toán tài sản cố định và hàng tồn kho;
+ Bộ phận kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương;
+ Bộ phận kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành;
+ Bộ phận kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh;
+ Bộ phận kế toán nguồn vốn, quỹ;
+ Bộ phận kế toán tổng hợp và kiểm tra.
Hình thức này, phòng kế toán của các doanh nghiệp sản xuất được bố trí theo
sơ đồ 1.1.
- Ưu điểm của hình thức này: chỉ đạo kịp thời công tác kế toán, giúp cho
công tác quản lý được chặt chẽ hơn, dễ ứng dụng công nghệ thông tin và hiện đại
hoá công tác kế toán.
- Nhược điểm: công tác kế toán không gắn liền với sản xuất kinh doanh ở cơ
sở, không nâng cao hiệu lực quản lý ở cấp cơ sở.
Sơ đồ 1.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán kiểu tập trung
31
KẾ TOÁN TRƯỞNG
Bộ phận tài chính Bộ phận Kế toán tổng hợp Bộ phận Kế toán tiền và thanh toán Bộ phận Kế toán doanh thu và Kết quả kinh doanh
Bộ phận kế toán… Bộ phận kế toán chi phí và giá thành Bộ phận kế toán tiền lương Bộ phận kế toán nguồn vốn quỹ
Nhân viên kinh tế ở các đơn vị phụ thuộc
Hình thức tổ chức bộ máy kế toán phân tán
- Hình thức này thường được áp dụng cho các doanh nghiệp có quy mô lớn,
có các đơn vị trực thuộc mà mỗi đơn vị trực thuộc đều được hạch toán tương đối
hoàn chỉnh, địa bàn phân tán. Theo hình thức này toàn doanh nghiệp vừa có một
phòng kế toán trung tâm làm đơn vị kế toán cơ sở (ở đơn vị chính: công ty, tổng
công ty...), vừa tổ chức phòng kế toán ở đơn vị trực thuộc. Các đơn vị trực thuộc
trong trường hợp này đã được phân cấp quản lý KTTC nội bộ ở mức độ cao như
được giao vốn, hạch toán kết quả kinh doanh.
- Trong trường hợp này toàn bộ công việc KTTC của doanh nghiệp được
phân công như sau:
+ Phòng kế toán trung tâm: thực hiện các phần công việc kế toán phát sinh ở
đơn vị chính và báo cáo kế toán phần công việc thực hiện. Xây dựng và quản lý kế
hoạch tài chính, hướng dẫn thực hiện công tác kế toán và thống kê, hướng dẫn kiểm
tra công tác kế toán ở các đơn vị trực thuộc, thu nhận kiểm tra báo cáo kế toán của
các đơn vị trực thuộc để tổng hợp lập báo cáo kế toán toàn doanh nghiệp.
+ Phòng kế toán ở các đơn vị trực thuộc: xây dựng và quản lý kế hoạch tài
chính của đơn vị, tổ chức thực hiện toàn bộ kế toán ở đơn vị để định kỳ lập báo cáo
32
kế toán gửi về phòng kế toán trung tâm, tổ chức thống kê các chỉ tiêu kinh tế trong
phạm vi đơn vị để phục vụ yêu cầu quản lý của đơn vị trực thuộc. Sơ đồ tổ chức bộ
máy kế toán kiểu phân tán (Sơ đồ 1.2):
Sơ đồ 1.2. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán kiểu phân tán
KẾ TOÁN TRƯỞNG
Bộ phận tài chính Bộ phận kiểm tra kế toán Bộ phận kế toán tổng hợp Bộ phận kế toán văn phòng
Phụ trách kế toán ở các đơn vị trực thuộc
Bộ phận kế toán … Bộ phận kế toán tiền lương Bộ phận kế toán thanh toán Bộ phận kế toán chi phí…
Ưu điểm của hình thức này: công tác kế toán gắn liền với hoạt động sản xuất
kinh doanh giúp cho công tác quản lý cơ sở được chặt chẽ hơn.
- Nhược điểm: cung cấp thông tin kế toán toàn doanh nghiệp không được kịp
thời, khó nắm chắc tình hình cơ sở vì vậy chỉ đạo sản xuất toàn doanh nghiệp không
được kịp thời.
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán hỗn hợp
- Mô hình này thường được áp dụng cho các doanh nghiệp có quy mô lớn
địa bàn hoạt động rộng, có các đơn vị trực thuộc mà phân cấp quản lý KTTC là
khác nhau.
33
- Theo mô hình này toàn doanh nghiệp vẫn tổ chức phòng kế toán trung tâm
làm đơn vị kế toán cơ sở chính nhưng ở các đơn vị trực thuộc thì tuỳ thuộc vào đặc
điểm kinh doanh mà có thể tổ chức kế toán riêng hoặc không tổ chức hoặc phân
định một số phần hành giữa đơn vị trung tâm và đơn vị trực thuộc. Đây là hình thức
kết hợp hai hình thức trên, nếu ở các đơn vị trực thuộc đã được phân cấp quản lý
KTTC ở mức độ cao thì tổ chức công tác kế toán riêng, còn lại đơn vị chưa được
phân cấp quản lý KTTC thì không tổ chức kế toán riêng mà nội dung hoạt động
KTTC ở đơn vị này do phòng kế toán trung tâm đảm nhận.
- Công tác kế toán theo hình thức này được phân công như sau:
+ Phòng kế toán trung tâm: xây dựng và quản lý kế hoạch tài chính của
doanh nghiệp, thực hiện các phần hành công việc kế toán phát sinh ở đơn vị chính
và đơn vị trực thuộc không tổ chức kế toán riêng, hướng dẫn kiểm tra công tác kế
toán ở các đơn vị trực thuộc có tổ chức kế toán riêng, thu nhận kiểm tra báo cáo kế
toán của các đơn vị trực thuộc để lập báo cáo kế toán toàn doanh nghiệp.
+ Phòng kế toán ở các đơn vị trực thuộc có tổ chức kế toán riêng: Xây dựng
và quản lý kế hoạch tài chính của đơn vị, thực hiện toàn bộ công tác kế toán, thống
kê, định kỳ lập báo cáo kế toán gửi về phòng kế toán trung tâm.
+ Ở đơn vị trực thuộc không tổ chức kế toán riêng: Bố trí các nhân viên hạch
toán làm nhiệm vụ hạch toán ban đầu, thực hiện từng phần hành công việc kế toán
cụ thể do phòng kế toán trung tâm phân công, định kỳ lập và gửi báo cáo đơn giản
các phần hành về phòng kế toán trung tâm. Sơ đồ 1.3.
Ưu điểm: kết hợp được ưu điểm của cả 2 hình thức trên, phù hợp với điều
kiện cụ thể của từng đơn vị, phục vụ kịp thời cho công tác quản lý.
- Nhược điểm: bộ máy cồng kềnh, phức tạp, cung cấp thông tin kế toán cũng
còn phải mất thời gian.
34
Sơ đồ 1.3. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán
KẾ TOÁN TRƯỞNG
Bộ phận tài chính Bộ phận kiểm tra kế toán Bộ phận kế toán vật tư, TSCĐ Bộ phận kế toán … Bộ phận kế toán tổng hợp Bộ phận kế toán tiền lương
Phụ trách kế toán ở các đơn vị trực thuộc (Phòng, tổ kế toán) Nhân viên kế toán ở các đơn vị trực thuộc không tổ chức kế toán riêng
Bộ phận kế toán tiền lương Bộ phận kế toán thanh toán Bộ phận kế toán … Bộ phận kế toán chi phí…
1.4.1.3. Mô hình tổ chức KTTC và KTQT
Công tác kế toán trong doanh nghiệp bao gồm KTTC và KTQT. KTTC là
việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính bằng
báo cáo tài chính cho đối tượng sử dụng thông tin của đơn vị kế toán. KTQT là việc
thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản
trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội đơn vị kế toán.
Như vậy, tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp bao gồm tổ chức
công tác KTTC và tổ chức công tác KTQT.
Khi tổ chức công tác tài chính và KTQT, doanh nghiệp phải căn cứ vào quy
mô, phạm vi hoạt động; tính chất và yêu cầu quản lý của mình để tổ chức thực hiện
cả hai nội dung cho phù hợp theo một trong ba mô hình sau:
Mô hình tổ chức công tác KTTC tách rời với KTQT: Theo mô hình này, toàn
35
bộ nội dung tổ chức công tác KTTC và tổ chức KTQT được tách rời và thực hiện
một cách riêng rẽ, độc lập với nhau. Khi tổ chức bộ máy phải tổ chức tổ chức thành
hai bộ phận riêng biệt: bộ phận KTTC và KTQT. Mỗi bộ phận này sẽ đảm bảo chức
năng, nhiệm vụ riêng biệt. Trên tực tế mô hình này rất ít được áp dụng bởi hiệu quả
kinh tế không cao, bộ máy kế toán cồng kềnh, có sự trùng lặp giữa kế toán tài chính
và KTQT.
Mô hình tổ chức công tác KTTC kết hợp với KTQT: Theo mô hình này, trong
từng nội dung tổ chức công tác kế toán đều có sự kết hợp chặt chẽ giữa KTTC và
KTQT. Khi tổ chức theo mô hình này từng nội dung của tổ chức công tác kế toán:
Thu thập, xử lý, hệ thống hóa, cung cấp thông tin, tổ chức bộ máy kế toán đều phải
kết hợp giữa KTTC và KTQT.
Khi tổ chức bộ máy kế toán, không cần phải tách ra hai bộ phận KTTC và
KTQT riêng biệt. Trong từng bộ phận kế toán theo từng phần hành kế toán đã có sự
kết hợp thực hiện các nhiệm vụ của cả KTTC và KTQT. Tổ chức công tác kế toán
theo mô hình này tường tránh được sự trùng lắp trong việc thực hiện các nội dung
kế toán, phát huy tối đa vai trò, khả năng của từng bộ phận, từng nhân viên kế toán.
Đảm bảo tổ chức bộ máy kế toán được gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao.
Mô hình tổ chức công tác kế toán kết hợp: Trong toàn bộ những nội dung của
kế toán có những nội dung dược tổ chức riêng biệt, có những nội dung được tổ chức
kết hợp. Đối với các bộ phận kế toán được tổ chức riêng biệt: phải tổ chức bộ phận
KTTC và bộ phận KTQT riêng, đồng thời xây dựng hệ thống chứng từ, tài khoản,
sổ sách KTQT riêng biệt theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp. Tổ chức lập và trình
bày hệ thống báo cáo kế toán trên cơ sở thông tin ban đầu vào của KTQT, tách rời
những thông tin trên báo cáo tài chính. Đối với những nội dung kế toán được tổ
chức kết hợp: không phải tổ chức bộ phận kế toán riêng mà bộ phận này thu thập,
xử lý, cung cấp thông tin theo yêu cầu của KTTC và KTQT.
1.4.1.4. Tổ chức, bố trí hoặc thuê nhân sự làm kế toán
Tổ chức, bố trí nhân sự làm kế toán hoặc thuê nhân sự làm kế toán phải căn
cứ vào khối lượng công tác kế toán và các phần hành kế toán. Căn cứ vào khối
36
lượng công tác kế toán và phần hành kế toán để bố trí con người làm kế toán. Khối
lượng công tác kế toán trước hết được nhìn nhận theo từng giai đoạn của quá trình
hạch toán: Giai đoạn hạch toán ban đầu trên chứng từ kế toán, giai đoạn hệ thống
hóa phân loại theo đối tượng kế toán, giai đoạn xử lý lập các báo báo kế toán cho
các đối tượng bên trong và ngoài doanh nghiệp. Khối lượng công tác kế toán còn
phụ thuộc vào mục đích cung cấp thông tin và tính chất của đối tượng sử dụng
thông tin. Phần hành kế toán chỉ ra khối lượng công tác kế toán bắt buộc cho một
đối tượng hạch toán. Khối lượng các phần hành sẽ khác nhau ở mỗi đơn vị nó tùy
thuộc vào loại hình doanh nghiệp, tính chất hoạt động, quy mô doanh nghiệp. Xác
định rõ phần hành kế toán trong khối lượng công tác kế toán là căn cứ để bố trí nhân
sự làm kế toán. Người làm kế toán và kế toán trưởng phải thỏa mãn các yêu cầu bắt
buộc. Luật pháp từng nước sẽ quy định cụ thể tiêu chuẩn, quyền hạn và trách nhiệm
của người làm kế toán và kế toán trưởng. Người làm kế toán phải có đủ các tiêu
chuẩn sau:
Có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trung thực, liêm khiết, có ý thức chấp
hành pháp luật; Có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ kế toán;
Người làm kế toán có trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật về kế
toán, thực hiện các công việc được phân công và chịu sự trách nhiệm về chuyên
môn nghiệp vụ của mình. Khi thay đổi phải bàn giao công việc và phải chịu trách
nhiệm về công việc trong thời gian mình làm kế toán. Cũng theo quy định hiện hành
của luật kế toán hiện nay các doanh nghiệp có thể thuê người làm kế toán và kế toán
trưởng. Việc thuê người làm kế toán trưởng và kế toán phải được lập thành hợp
đồng bằng văn bản theo quy định của pháp luật.
1.4.2. Sử dụng các phương pháp kế toán để thu thập, xử lý, hệ thống hóa
phân tích, cung cấp thông tin kế toán
Kế toán có một hệ thống phương pháp khoa học riêng đó là phương pháp
chứng từ, phương pháp tài khoản, phương pháp tính giá và phương pháp tổng hợp
cân đối kế toán để thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin phục vụ cho
công tác quản lý kinh tế tài chính nói chung. Việc sử dụng các phương pháp kế toán
37
kết hợp các phương tiện cần thiết hỗ trợ các quá trình thu nhận, xử lý, hệ thống hóa,
phân tích cung cấp lưu trữ thông tin đã giúp cho kế toán ngày càng đáp ứng được
vai trò quan trọng trong các công cụ quản lý kinh tế.
1.4.2.1. Tổ chức thu nhận, kiểm tra thông tin đầu vào
Tổ chức thu nhận thông tin đầu vào
Thu nhận thông tin kế toán là công việc khởi đầu của toàn bộ quy trình kế
toán, có ý nghĩa quyết định đến tính trung thực, khách quan của số liệu kế toán và
báo cáo kế toán. Kế toán doanh nghiệp Việt Nam từ lần cải cách 1995 đến nay cơ
bản được thiết kế theo loại hình “Kế toán động”, trong khi đó hệ thống KTQT cũng
được tổ chức theo kiểu “kế toán động”. Mục tiêu là đánh giá hiệu quả của một
doanh nghiệp, nguyên tắc nền tảng là đánh giá thường xuyên lợi nhuận sinh ra bởi
những nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp trong khuôn khổ hoạt động của doanh
nghiệp, tức là: “Giả thiết doanh nghiệp hoạt động liên tục”.
Toàn bộ thông tin của doanh nghiệp có thể chia làm 2 loại: Thông tin thực
hiện quá khứ và thông tin tương lai.
Tổ chức thu nhận thông tin thực hiện quá khứ
Tổ chức thu nhận thông tin kế toán về nội dung các nghiệp vụ kinh tế, tài
chính phát sinh ở doanh nghiệp và kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của các nghiệp
vụ đó. Muốn thực hiện được điều này thì công việc đầu tiên là phải thiết lập được
hệ thống chứng từ kế toán. Chứng từ kế toán vừa là phương tiện truyền tin, vừa là
phương tiện để chứng minh tính hợp pháp, hợp lý của các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh và thực sự hoàn thành. Chứng từ kế toán là những giấy tờ và vật mang tin
phản ánh nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và thực sự hoàn thành, nó là căn cứ
để tiến hành ghi sổ kế toán có liên quan.
Về phương diện pháp lý: Chứng từ kế toán gắn liền với trách nhiệm vật chất
của cá nhân và đơn vị có liên quan đến nghiệp vụ. Chứng từ kế toán là căn cứ để
kiểm tra kế toán; kiểm soát và thanh tra hoạt động kinh doanh và là cơ sở để giải
quyết mọi tranh chấp về kinh tế.
Về phương diện thu thập và truyền đạt thông tin: Chứng từ kế toán là khởi
38
điểm của toàn bộ công tác kế toán. Chứng từ là cơ sở để truyền đạt mệnh lệnh, ra
chỉ thị chấp hành là cơ sở để ghi sổ kế toán và lập các báo cáo tài chính.
Tổ chức chứng từ là quá trình vận dụng chế độ chứng từ vào đặc thù riêng
của doanh nghiệp. Quá trình tổ chức chứng từ bao gồm việc xác định chủng loại, số
lượng, nội dung kết cấu và qui chế quản lý sử dụng chứng từ. Tiếp theo là việc thiết
lập các bước thủ tục cần thiết để hình thành bộ chứng từ cho từng loại nghiệp vụ
phát sinh gắn với từng đối tượng kế toán nhằm thiết lập thông tin ban đầu hợp pháp,
hợp lệ phục vụ cho việc quản lý, tác nghiệp hàng ngày và ghi sổ kế toán.
Việc thu thập thông tin kế toán thực chất là việc tổ chức chứng từ. Việc thu
thập thông tin kế toán phản ánh vào các chứng từ có một ý nghĩa quyết định đối
với tính trung thực, tính hợp lý và đáng tin cậy của thông tin kế toán đồng thời
cũng là căn cứ không thể thiếu để kiểm toán, kiểm tra hoạt động kinh tế tài chính ở
doanh nghiệp.
Tổ chức hạch toán ban đầu, lập chứng từ kế toán để ghi nhận các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh
Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp và
mọi người trong doanh nghiệp đều phải có trách nhiệm thực hiện các nghiệp vụ đó.
Do vậy để thu nhận thông tin về các nghiệp vụ kinh tế đó thì không chỉ có các nhân
viên ở phòng kế toán đảm nhận mà phải do tất cả những người lao động trong
doanh nghiệp có liên quan thực hiện. Để thiết lập được mối liên hệ giữa phòng kế
toán với các phòng ban khác trong doanh nghiệp cần phải phân định được chức
năng nhiệm vụ của phòng kế toán và các phòng khác trong việc cung cấp các thông
tin kế toán và tổng hợp các thông tin kế toán cho phòng kế toán. Ví dụ: bảng chấm
công (phản ánh thời gian lao động), các chứng từ xác nhận sản phẩm hoàn thành
(Với kết quả lao động theo sản phẩm) các chứng từ này sẽ được lập tại các đơn vị
bộ phận sử dụng lao động gửi cho phòng kế toán. Việc lập chứng từ tại thời điểm
mà nghiệp vụ kế toán phát sinh là hết sức quan trọng nó ảnh hưởng trực tiếp đến
tính trung thực và kịp thời của chứng từ. Nội dung chủ yếu của tổ chức hạch toán
ban đầu bao gồm:
39
Quy định về việc sử dụng các mẫu chứng từ sao cho thích hợp với từng loại
nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh để có thể ghi nhận đầy đủ nội dung thông tin
về nghiệp vụ đó;
Quy định người chịu trách nhiệm ghi thông tin ban đầu vào chứng từ (lập
chứng từ) ở từng bộ phận, từng khâu trong đơn vị. Hướng dẫn từng người cách ghi
các thông tin vào chứng từ, đảm bảo ghi đầy đủ các yếu tố cần thiết của chứng từ.
Tổ chức kiểm tra thông tin phản ánh trên chứng từ kế toán
Chứng từ kế toán vừa là phương tiện chứa đựng thông tin vừa là phương tiện
truyền tin về nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành ở doanh
nghiệp. Trước khi ghi sổ kế toán, người làm kế toán phải kiểm tra thông tin về các
nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh trên chứng từ kế toán. Kiểm tra
chứng từ kế toán có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng của công tác kế toán, vì
vậy cần phải thực hiện nghiêm túc, cẩn thận trước khi ghi sổ kế toán. Tổ chức phân
công các kế toán viên chịu trách nhiệm thu nhận từng loại nghiệp vụ kinh tế tài
chính thuộc phần hành công việc của mình và bắt buộc phải kiểm tra chặt chẽ
chứng từ kế toán trước khi ghi sổ kế toán.
Kiểm tra thông tin về các nghiệp vụ kinh tế phát sinh phản ánh trên chứng từ
kế toán là công việc thường xuyên và cần thiết nhằm đảm bảo tính chính xác cho
việc ghi chép và cung cấp thông tin. Kế toán nguyên vật liệu phải kiểm tra việc
nhập, xuất nguyên vật liệu, sử dụng nguyên vật liệu, kế toán TSCĐ phải kiểm tra
việc mua TSCĐ với bên ngoài việc đưa TSCĐ vào sử dụng ở từng bộ phận, kế toán
tiền mặt kiểm tra tình hình thu chi tiền, kiểm tra các định mức chi phí... Phòng tổ
chức lao động phải kiểm tra ngày công lao động, kiểm tra thang, bậc lương của cán
bộ công chức, viên chức...
Khi chứng từ kế toán chuyển đến phòng kế toán, người làm kế toán phải
kiểm tra trước khi ghi sổ kế toán. Vì vậy, tổ chức phân công cho từng người làm kế
toán, đảm bảo tính hợp lý và tính hiệu quả trong công tác kiểm tra chứng từ kế toán
cần được đặt ra đối với phòng kế toán của các công ty.
Nội dung công việc kiểm tra chứng từ kế toán trước khi ghi sổ kế toán,
40
bao gồm:
Một là, kiểm tra tính hợp lý của nghiệp vụ kinh tế phản ánh trong chứng từ:
Tính hợp lý đòi hỏi nội dung thông tin về nghiệp vụ kinh tế phát sinh phải phù hợp
với kế hoạch, với dự toán, phù hợp với định mức kinh tế, kỹ thuật; Phù hợp với giá
cả thị trường hiện tại;
Hai là, kiểm tra việc ghi đầy đủ các yếu tố của chứng từ nhằm đảm bảo tính
pháp lý của chứng từ kế toán;
Ba là, kiểm tra tính thực tế của nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở đơn vị nhằm
loại trừ việc giả mạo chứng từ để tham ô hoặc thanh toán khống;
Muốn thực hiện việc kiểm tra chứng từ kế toán đòi hỏi phải nắm chắc chế độ
quản lý KTTC hiện hành, nắm chắc kỷ luật thanh toán, tín dụng, các định mức kinh
tế kỹ thuật có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, nắm chắc sự biến động
của giá cả thị trường.
Bốn là, kiểm tra tính hợp pháp của nghiệp vụ kinh tế phát sinh phản ánh
trong chứng từ nhằm đảm bảo tuân thủ các chế độ, thể lệ về quản lý kinh tế, tài
chính hiện hành, hạn chế những hành vi vi phạm làm tổn hại đến tài sản của đơn vị;
Năm là, kiểm tra tính trung thực của các chỉ tiêu hiện vật và giá trị;
Kiểm tra việc tính toán các chỉ tiêu phản ánh trong chứng từ nhằm đảm bảo
tính chính xác của số liệu kế toán;
Nhà nước hướng dẫn các chỉ tiêu đặc trưng để các ngành, các doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế trên cơ sở đó vận dụng vào từng trường hợp cụ thể,
thích hợp. Có thể thêm, bớt một số chỉ tiêu hoặc thay đổi, thiết kế mẫu biểu cho phù
hợp, đảm bảo yêu cầu quản lý cụ thể của công ty.
Tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán
Chứng từ kế toán vừa là vật mang tin vừa là phương tiện truyền tin, do vậy
mỗi đơn vị cần phải xây dựng các chương trình luân chuyển chứng từ thích ứng đối
với từng loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Trong từng chương trình luân chuyển
chứng từ cần quy định rõ trình tự luân chuyển của chứng từ khi lập hoặc nhận được
phải tuần tự luân chuyển qua các bộ phận nào, thời gian thực hiện hoặc kiểm tra nội
41
dung nghiệp vụ kinh tế đến khâu cuối cùng là lưu trữ chứng từ.
Để tổ chức khoa học và hợp lý quá trình luân chuyển chứng từ, cần phải quy
định rõ trách nhiệm của từng bộ phận, từng nhân viên đối với từng loại nghiệp vụ
kinh tế phát sinh.
Mỗi loại chứng từ kế toán có tác dụng và đặc tính vận động khác nhau trong
quản lý nên cần thiết phải xây dựng kế hoạch luân chuyển chứng từ hợp lý đảm bảo
cho chứng từ kế toán vận động qua các khâu nhanh nhất. Để xây dựng kế hoạch
luân chuyển chứng từ hợp lý cần dựa vào những căn cứ sau đây:
Thứ nhất, căn cứ vào quy mô hoạt động, đặc điểm tổ chức quản lý và tổ chức
sản xuất kinh doanh của công ty. Mỗi doanh nghiệp có quy mô hoạt động, đặc điểm
tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh khác nhau nên khối lượng và các
loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh cũng khác nhau, dẫn đến số lượng và các loại chứng
từ kế toán cũng khác nhau. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng kế hoạch,
quy trình luân chuyển chứng từ.
Thứ hai, căn cứ vào tình hình thực tế về tổ chức bộ máy kế toán; mối quan hệ
giữa các bộ phận trong bộ máy kế toán và tổ chức hệ thống thông tin trong doanh
nghiệp, việc xác định đường đi của các chứng từ kế toán phụ thuộc nhiều vào tình
hình tổ chức bộ máy kế toán, mối quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy kế toán
cũng như vấn đề tổ chức hệ thống thông tin trong công ty.
Thứ ba, căn cứ vào đặc điểm của từng loại chứng từ và các loại nghiệp vụ
kinh tế mà chứng từ phản ánh.
Mỗi nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực sự hoàn thành được phản ánh ở
những loại chứng từ khác nhau. Mỗi loại chứng từ này lại được phản ánh vào các
tài khoản kế toán khác nhau, các sổ kế toán cũng khác nhau. Do đó, việc xác định
đường đi của chứng từ phụ thuộc vào loại chứng từ và các loại nghiệp vụ mà
chứng từ phản ánh.
Tổ chức bảo quản, lưu trữ và hủy bỏ chứng từ kế toán
Chứng từ kế toán là căn cứ pháp lý để giải quyết cấc vấn đề tranh chấp kinh
tế nên phải được bảo quản một cách cẩn thận, nghiêm túc. Việc bảo quản và lưu trữ
42
chứng từ kế toán phải chấp hành đúng theo các quy định hiện hành. Tuyệt đối
không làm mất mát hư hỏng chứng từ. Các đơn vị phải thực hiện phân loại chứng từ
lưu trữ, địa điểm lưu trữ và thời hạn lưu trữ. Mọi trường hợp mất chứng từ gốc phải
báo cáo kịp thời với bộ phận chức năng để kịp thời xử lý. Khi các chứng từ kế toán
đã hết thời hạn lưu trữ được phép tiêu hủy theo quy định.
Tổ chức thu thập thông tin tương lai:
KTQT không chỉ quan tâm đến thông tin tại mà còn chú ý đến thông tin
tương lai. Thông tin tương lai là hệ thống thông tin quan trọng mà các nhà quản trị
cần cần phải dự đoán, phán đoán những diễn biến, những hoạt động sản xuất kinh
doanh sắp xảy ra dựa trên cơ sở khoa học hiện tại và quá khứ. Trước hết cần nhận
diện và tổ chức phân loại thông tin theo các tiêu thức khác nhau, sau đó thu thập
bằng các phương pháp phù hợp. Tùy theo nội dung và đặc điểm của các thông tin
cần thu thập, KTQT ngoài các các phương pháp kỹ thuật như tổ chức hệ thống
chứng từ, tài khoản, sổ và báo cáo kế toán có thể sử dụng các phương pháp: quan
sát, thực nghiệm, thăm dò dư luận với các kỹ thuật như phân tổ, thông kê, chọn
mẫu, tổng hợp, ước tính. KTQT thu nhận và cung cấp thông tin tương lai bằng cách
xây dựng kế toán chi phí, giá thành, lợi nhuận đồng thời xây dựng hệ thống định
mức chi phí, dự toán chi phí sản xuất kinh doanh, giúp cho khả năng dự toán tương
lai và khả năng điều hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả cho nhà quản trị. Trong
nền kinh tế thị trường, công tác dự báo vô cùng quan trọng, nó cung cấp các thông
tin cần thiết nhằm phát hiện và bố trí sử dụng các nguồn lực trong tương lai một
cách có căn cứ thực tế. Với các thông tin mà dự báo đưa ra cho phép các nhà hoạch
định chính sách có những quyết định về đầu tư, các quyết định về sản xuất, tiết
kiệm và tiêu dùng, các chính sách tài chính, chính sách kinh tế vĩ mô.
Để xác định được thông tin tương lai phải xác định thông tin lấy ở đâu, do bộ
phận nào cung cấp: dự báo tình hình phát sinh chi phí trong tương lai do biến động
của giá cả, dự toán do bộ phận khác trong doanh nghiệp lập, thông tin thị trường sau
đó phải tiến hành thẩm định, đánh giá các thông tin này trước khi dùng cho các mục
đích nhất định.
43
1.4.2.2. Tổ chức xử lý, phân loại và hệ thống hóa thông tin kế toán đầu
Những yêu cầu về xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán
Thông tin kế toán cung cấp cho các đối tượng sử dụng là thông tin hữu ích,
giúp họ đề ra được các quyết định kinh tế và biện pháp quản lý thích hợp. Vì vậy
việc hệ thống hoá và xử lý thông tin kế toán cần phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
Thứ nhất, xử lý và hệ thống hóa theo đúng các nguyên tắc kế toán được
thừa nhận, nhằm đảm bảo tính thực tế, khách quan của hoạt động kinh tế, tài chính
ở đơn vị.
Thứ hai, xử lý và hệ thống hóa thông tin phải gắn với trách nhiệm của những
người thực hiện các nghiệp vụ kinh tế để có thể kiểm tra trách nhiệm vật chất của
họ khi cần thiết.
Thứ ba, xử lý và hệ thống hoá thông tin kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế, tài
chính chi tiết nhằm cụ thể hoá các chỉ tiêu tổng hợp đồng thời phải trình bày rõ căn
cứ tính toán, xác định các chỉ tiêu này phục vụ cho yêu cầu quản lý nội bộ đơn vị.
Thứ tư, xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán phải kịp thời phục vụ cho
công tác điều hành và quản lý kinh tế, tài chính ở doanh nghiệp.
Sử dụng phương pháp tính giá để xử lý, hệ thống hóa thông tin KTTC và
KTQT
Phương pháp tính giá là phương pháp kế toán, sử dụng thước đo tiền tệ để
xác định giá trị của các đối tượng kế toán phục vụ quá trình thu nhận, xử lý, hệ
thống hóa và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính ở đơn vị. Để tính giá được chúng
ta phải xác định được đối tượng tính giá (tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu
nhập, chi phí, kết quả hoạt động). Tùy từng điều kiện và yêu cầu quản lý cụ thể về
thông tin của đối tượng kế toán mà tổ chức vận dụng nguyên tắc tính giá nào cho
phù hợp. Thông qua phương pháp tính giá kế toán sẽ tiến hành các bước tiếp theo
của quy trình kế toán đó là: ghi sổ, tổng hợp số liệu, trình bày thông tin trên báo cáo
tài chính. Để đảm bảo các yêu cầu với thông tin kế toán, phương pháp tính giá phải
đảm bảo các yêu cầu sau:
Tính giá phải đảm bảo tin cậy. Giá trị của các đối tượng kế toán phải dựa
44
trên những căn cứ, bằng chứng tin cậy, phù hợp với các nguyên tắc kế toán đã được
chấp nhận.
Tính giá phải đảm bảo nhất quán.
Nội dung của việc tổ chức vận dụng phương pháp tính giá để xử lý thông tin
kế toán bao gồm như sau:
Tổ chức xác định các đối tượng tính giá cần phải tính giá;
Tổ chức xác định các loại giá cần xác định cho từng đối tượng, trong từng
trường hợp;
Xác định các nguyên tắc kế toán ảnh hưởng tới quá trình tính giá của từng
đối tượng, sự ảnh hưởng của từng nguyên tắc và sự ưu tiên áp dụng đối với từng
nguyên tắc;
Tổ chức thu nhận thông tin cần thiết, cơ sở tính giá cho từng đối tượng, thẩm
định độ tin cậy của các thông tin này;
Tổ chức tính giá cho các đối tượng;
Kiểm tra lại kết quả tính giá và sử dụng thông tin cho các quá trình kế toán
tiếp theo.
Xử lý, hệ thống hóa thông tin KTTC: Thông tin kế toán là thông tin định
lượng. Do đó trong quá trình xử lý, hệ thống hóa và cung cấp các thông tin, kế toán
phải đo lường được các đối tượng kế toán thông qua việc lượng hóa chúng theo các
thước đo phù hợp: thước đo lao động, thước đo hiện vật, thước đo giá trị. Trong đó
tiền tệ là thước đo bắt buộc của kế toán. Để lượng hóa các đối tượng kế toán dưới
thước đo giá trị, kế toán phải sử dụng phương pháp tính giá. Có thể nói phương
pháp tính giá là phương pháp kế toán bắt buộc phải sử dụng khi xử lý thông tin kế
toán. Nếu không thực hiện tính giá thì không thể thực hiện các quy trình tiếp theo
của kế toán như; ghi sổ, tổng hợp số liệu và làm các báo cáo tài chính.
Tổ chức hệ thống hóa phân loại và xử lý thông tin kế toán nhằm đáp ứng
được những yêu cầu của thông tin kế toán. Muốn thực hiện được điều đó phải tổ
chức thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán, tổ chức hệ thống
tài khoản kế toán, sổ kế toán để có thể phân loại và hệ thống hóa thông tin kế toán.
45
Thông tin kế toán là thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính ở đơn vị mà
hoạt động kinh tế, tài chính này được hình thành từ các nghiệp vụ kinh tế, tài chính
đã phát sinh và thực sự hoàn thành, vì vậy thu nhận, xử lý, phân loại và hệ thống
hóa thông tin kế toán từ dữ liệu đầu vào.
Xử lý, hệ thống hóa thông tin KTQT
Thông tin của KTQT thường mang tính chất bí mật. Tùy theo yêu cầu của
nhà quản trị thông tin thường mang tính linh hoạt, sáng tạo ưu tiên tính kịp thời vì
cung cấp cho nhà quản trị lựa chọn phương án ra quyết định. Do mục đích riêng của
KTQT nên nguyên tắc và trình tự tính giá trong những trường hợp đặc biệt mang
tính đặc thù, đặc biệt đối với chi phí - giá thành, dưới góc độ dự toán, quản lý và
kiểm soát chi phí thì chi phí thường được chia thành biến phí và định phí để phân
tích điểm hòa vốn, phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận, phân
tích đánh giá báo cáo thu nhập bộ phận,... đồng thời tùy theo yêu cầu và mức độ
quản lý để tính giá theo phương pháp định phí toàn bộ, hay theo biến phí, hay theo
biến phí có phân bổ hợp lý định phí.
Đối với KTQT, việc tính giá các tài sản mang tính linh hoạt cao hơn KTTC,
không đòi hỏi phải tuân theo các nguyên tắc chung về tính giá mà gắn với yêu cầu
sử dụng các thông tin về giá theo yêu cầu của nhà quản trị doanh nghiệp. KTQT
cũng phải tuân thủ những nguyên tắc và trình tự tính giá các đối tượng trong quá
trình thu nhận thông tin quá khứ như KTTC. Tuy nhiên, do mục đích riêng của
KTQT nên nguyên tắc và trình tự tính giá trong những trường hợp đặc biệt mang
tính đặc thù, đặc biệt đối với chi phí - giá thành, dưới góc độ dự toán, quản lý và
kiểm soát chi phí thì chi phí thường được chia thành biến phí và định phí để phân
tích điểm hòa vốn, phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận, phân tích
đánh giá báo cáo thu nhập bộ phận,... đồng thời tùy theo yêu cầu và mức độ quản lý
để tính giá theo phương pháp định phí toàn bộ, hay theo biến phí, hay theo biến phí
có phân bổ hợp lý định phí.
Xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán bằng tài khoản kế toán và sổ kế toán
Tài khoản kế toán sử dụng trong KTTC
46
Tài khoản kế toán là hình thức biểu hiện của phương pháp tài khoản kế toán.
Tài khoản được dùng để hệ thống hóa, kiểm tra, giám sát, thông tin về hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo từng đối tượng. Tài khoản kế toán là
phương tiện để phản ánh sự biến động của đối tượng kế toán, mỗi đối tượng kế toán
được phản ánh trên một tài khoản. Trong các doanh nghiệp sản xuất gồm nhiều đối
tượng kế toán khác nhau, nên cần phải sử dụng các tài khoản kế toán khác nhau để
thu nhận, xử lý, phân loại dữ liệu thông tin đầu vào của kế toán phục vụ yêu cầu
quản lý. Các đối tượng kế toán gồm đối tượng tổng hợp và đối tượng chi tiết. Vì
vậy, cần phải có hệ thống tài khoản kế toán gồm các tài khoản tổng hợp và tài
khoản chi tiết để phản ánh đầy đủ các đối tượng kế toán riêng biệt nhưng có liên
quan chặt chẽ với nhau. Với những nhu cầu thông tin khác nhau trong quản lý kinh
tế nên hệ thống tài khoản kế toán cần phải có những đặc thù riêng để đảm bảo tính
phù hợp và hiệu lực trong quá trình ghi chép kế toán.
Mục đích cơ bản của việc xây dựng hệ thống tài khoản kế toán là hướng tới
việc hệ thống hóa thông tin về tình hình hiện có và sự vận động của các đối tượng
kế toán trong công ty. Khi xây dựng hệ thống tài khoản kế toán cần phải quan tâm
đến các tài khoản có đáp ứng được yêu cầu hệ thống hóa và cung cấp thông tin tổng
quát và thông tin chi tiết phục vụ cho công tác quản lý hay không. Vì vậy, xây dựng
hệ thống tài khoản kế toán được coi là khâu quan trọng và có ý nghĩa lớn trong tổ
chức công tác kế toán ở các doanh nghiệp sản xuất. Để đạt được mục đích trên, việc
xây dựng hệ thống tài khoản kế toán cần đảm bảo tốt các yêu cầu cơ bản dưới đây:
Thứ nhất, hệ thống tài khoản kế toán phải đảm bảo phản ánh một cách khách
quan theo đối tượng kế toán mà nó phản ánh;
Thứ hai, hệ thống tài khoản kế toán phải đảm bảo cho kế toán trong việc
tổng hợp và cung cấp các thông tin cho người sử dụng cũng như đảm bảo phục vụ
tốt cho công tác kiểm tra, kiểm soát trong nội bộ công ty và các cơ quan chức
năng của Nhà nước;
Thứ ba, hệ thống tài khoản kế toán phải đảm bảo việc ghi chép kế toán tuân
thủ các nguyên tắc, Chuẩn mực kế toán, các Quy định của pháp luật, đồng thời đảm
47
bảo việc ghi chép chi tiết phục vụ yêu cầu quản trị công ty;
Thứ tư, hệ thống tài khoản kế toán phải đảm bảo thuận lợi cho việc mã hóa
thông tin khi cơ giới hóa công tác kế toán.
Để đáp ứng được mục đích, yêu cầu trên đây, khi xây dựng hệ thống tài
khoản kế toán cần quán triệt các nguyên tắc sau:
Một là, xây dựng hệ thống tài khoản phải phù hợp với thông lệ chung của kế
toán quốc tế trên cơ sở những nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận, đồng thời
phải phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam;
Hai là, xây dựng hệ thống tài khoản kế toán phải đảm bảo phù hợp với đặc
điểm về lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp sản
xuất nói riêng nhằm đảm bảo có đầy đủ các tài khoản kế toán để phản ánh các đối
tượng kế toán tổng hợp và đối tượng kế toán chi tiết phục vụ yêu cầu quản lý của
các công ty;
Ba là, xây dựng hệ thống tài khoản kế toán phải đảm bảo nguyên tắc cung
cấp thông tin khách quan phục vụ người sử dụng bên ngoài và yêu cầu quản trị nội
bộ công ty;
Mỗi đối tượng sử dụng thông tin của doanh nghiệp có mục đích khác nhau.
Đối với các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, họ cần các thông tin tổng quát về
tình hình tài chính và khả năng sinh lời, khả năng thanh toán thông qua các báo cáo
tài chính, do đó báo cáo tài chính phải được thiết lập trên cơ sở các chỉ tiêu được ghi
nhận từ thông tin của các tài khoản KTTC cung cấp.
Để phục vụ công tác quản trị công ty, các tài khoản kế toán cũng cần phải
được xây dựng chi tiết nhằm cung cấp thông tin một cách cụ thể cho việc lập các
báo cáo quản trị phục vụ cho quản trị công ty.
Bốn là, xây dựng hệ thống tài khoản kế toán cần quán triệt nguyên tắc mở,
nghĩa là khi có các quan hệ kinh tế mới phát sinh thì có thể mở thêm tài khoản cần
thiết để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế mới, đồng thời khi vận dụng ở các công ty
thì có thể mở thêm các tài khoản chi tiết phục vụ yêu cầu quản lý theo các chỉ tiêu
chi tiết phục vụ cho quản trị công ty.
48
Ở nước ta, hệ thống tài khoản kế toán do Bộ Tài chính thống nhất ban hành.
các ngành, các doanh nghiệp không được phép tự xây dựng hệ thống tài khoản kế
toán riêng mà chỉ căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán được Bộ Tài chính ban
hành để xác định danh mục các tài khoản kế toán cần sử dụng cho doanh nghiệp
mình. Để lựa chọn được danh mục tài khoản kế toán hợp lý cần phải nắm chắc đặc
điểm hoạt động của doanh nghiệp, nội dung, nguyên tắc ghi chép của tài khoản.
Trên cơ sở đó, lựa chọn các tài khoản cấp 1, cấp 2 thích hợp sử dụng cho KTTC.
Tài khoản kế toán sử dụng trong KTQT
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, việc xác định các tài khoản KTQT là rất
cần thiết nhằm đáp ứng cho việc thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp các thông
tin chi tiết cụ thể, phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp theo những yêu cầu
quản lý cụ thể.
Căn cứ vào đặc điểm cụ thể và yêu cầu quản lý chi tiết theo các chỉ tiêu quản
trị để mở các tài khoản cấp 2, cấp 3, cấp 4, cấp 5... phục vụ cho KTQT.
Xác định hệ thống KTQT trong trường hợp sử dụng chung hệ thống tài khoản
với các tài khoản sử dụng cho KTTC phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây:
Một là, tùy theo yêu cầu quản lý chi tiết từng đối tượng kế toán đã phản ánh
trên các tài khoản KTTC để chi tiết hóa theo cấp độ của tài khoản kế toán;
Hai là, tài khoản KTQT không nhất thiết chỉ phản ánh về giá trị tiền tệ mà có
thể phản ánh cả về hiện vật;
Ba là, việc xác định các tài khoản KTQT phải đảm bảo yêu cầu cung cấp đầy
đủ, kịp thời cho công tác quản trị từng chỉ tiêu quản trị đã được phê duyệt.
Tổ chức hệ thống sổ kế toán để hệ thống hóa và xử lý thông tin kế toán
Sổ kế toán là những mẫu sổ có kết cấu theo yêu cầu của quá trình xử lý và
cung cấp thông tin kế toán, dùng để ghi chép, hệ thống hóa và lưu giữ toàn bộ
nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động của đơn vị. Vì vậy,
cần phải tổ chức xây dựng mẫu sổ kế toán theo những nguyên tắc sau đây:
- Sổ kế toán phải được xây dựng có kết cấu khoa học, hợp lý, đảm bảo đầy
đủ các yếu tố như ngày, tháng ghi sổ, số hiệu và ngày tháng của chứng từ được ghi
49
sổ, số tiền được ghi sổ nhằm đảm bảo tính pháp lý của việc ghi sổ và có cơ sở cho
việc kiểm tra, kiểm soát khi cần thiết;
- Xây dựng kết cấu các mẫu sổ phù hợp với quy mô và đặc điểm cụ thể của
từng công ty.
Trong điều kiện ứng dụng tin học trong công tác kế toán, sổ kế toán phải
được xây dựng phù hợp với cơ chế hoạt động của máy tính nhằm đảm bảo việc ghi
nhận các thông tin từ các chứng từ kế toán vào sổ kế toán của hình thức kế toán
máy. Theo chế độ kế toán hiện hành, các doanh nghiệp có thể lựa chọn sử dụng các
mẫu sổ kế toán khác nhau không nhất thiết phải tuân theo một hình thức sổ nào điều
này tạo điều kiện hết sức cho các doanh nghiệp có thể vận dụng khai thác tối đa các
ứng dụng khi thiết kế các phần mềm kế toán. Doanh nghiệp được tự xây dựng biểu
mẫu sổ kế toán để sử dụng nhưng phải đảm bảo cung cấp thông tin về các giao dịch
kinh tế một cách minh bạch, đầy đủ, dễ kiểm tra, kiểm soát, đối chiếu.
Sổ kế toán được thiết kế mẫu theo yêu cầu quản lý nội bộ và theo từng chỉ
tiêu cụ thể. Các chỉ tiêu phản ánh trong các mẫu sổ phải đảm bảo cung cấp được
những thông tin chi tiết phục vụ cho việc lập báo cáo KTQT và phân tích thường
xuyên các chỉ tiêu kinh tế tài chính.
Ngoài số liệu thực tế, sổ KTQT còn cần thiết phải có phần ghi các chỉ tiêu dự
toán, kế hoạch nhằm đảm bảo cơ sở cho việc kiểm tra tình hình thực hiện dự toán,
thực hiện định mức theo các chỉ tiêu phản ánh trên các mẫu sổ. Đồng thời, ngoài
việc phản ánh các chỉ tiêu về giá trị còn phải phản ánh cả chỉ tiêu hiện vật.
Hệ thống sổ KTQT cần phải được đánh số hiệu cụ thể và có phần giải thích
cách ghi chép đối với từng chỉ tiêu theo từng mẫu sổ.
Hệ thống sổ kế toán là một tập hợp các sổ kế toán được đơn vị sử dụng. Tập
hợp các sổ kế toán này có mối liên hệ, liên kết với nhau trong quá trình thực hiện
các ghi chép kế toán ở đơn vị.
Hình thức sổ kế toán còn gọi là hình thức kế toán là biểu hiện tổng hợp về
cách thưc tổ chức hệ thống sổ kế toán sử dụng ở mỗi đơn vị, nó được thể hiện qua
việc xác định số lượng sổ; nội dung kết cấu các sổ; trình tự, phương pháp ghi sổ và
50
mối quan hệ giữa các sổ. Hình thức kế toán thực chất là hình thức tổ chức hệ thống
sổ kế toán, bao gồm số lượng các loại sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết, kết
cấu mẫu sổ và mối quan hệ kiểm tra, đối chiếu giữa các sổ kế toán, trình tự ghi chép
và tổng hợp số liệu để lập báo cáo kế toán. Tổ chức vận dụng hình thức kế toán
trong các doanh nghiệp sản xuất thực chất là tổ chức hệ thống sổ kế toán sử dụng
cho việc ghi chép KTTC và KTQT trong doanh nghiệp, nhằm thu nhận, xử lý, phân
tích và cung cấp thông tin kinh tế phục vụ cho quản lý công ty, bao gồm các sổ kế
toán tổng hợp, các sổ kế toán chi tiết đủ chủng loại, có kết cấu phù hợp, đảm bảo
mối quan hệ đối chiếu và phương pháp ghi chép hợp lý.
1.4.2.3. Tổ chức cung cấp thông tin kế toán
Đối tượng cần sử dụng thông tin kế toán
Thông tin kế toán là thông tin về toàn bộ quá trình hoạt động của doanh
nghiệp, phản ánh tình hình và hiệu quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp. Vì
vậy thông tin kế toán phải là thông tin hữu ích, cần thiết không thể thiếu phục vụ
cho rất nhiều đối tượng khác nhau. Có rất nhiều đối tượng quan tâm đến thông tin
kế toán đó là:
Thông qua các thông tin trên báo cáo tài chính cung cấp, các nhà quản lý
doanh nghiệp biết được tình hình sử dụng các loaị tài sản, lao động vật tư tiền vốn,
tình hình chi phí và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm phục vụ cho việc
điều hành, quản lý kịp thời cũng như việc phân tích đánh giá tình hình, kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó mà đề ra các biện pháp, quyết
định phù hợp về đường hướng phát triển của doanh nghiệp. (Các quyết định ngắn
hạn, dài hạn).
Những đối tượng có lợi ích trực tiếp đối với thông tin do kế toán cung cấp là
các chủ đầu tư, chủ nợ, các cổ đông, những đối tác liên doanh. Căn cứ vào thông tin
kế toán của doanh nghiệp họ có thể đánh giá được thực trạng và dự đoán tình hình
hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp để đưa ra được những
quyết định đầu tư, chính sách lãi suất, cho vay, góp vốn nhiều hay ít, đầu tư vào lĩnh
vực ngành nghề nào, chính sách đầu tư ra sao.
51
Thông tin kế toán cung cấp cho các cơ quan quản lý chức năng về tình hình
hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ đã qua. Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của
mình mà từng cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra giám sát, hoạt động của các
doanh nghiệp, kiểm tra tình hình thực hiện chính sách chế độ về quản lý kinh tế, tài
chính của doanh nghiệp:
+ Kiểm tra tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có tuân thủ
theo pháp luật hay không, có hoạt động kinh doanh theo đúng ngành nghề, lĩnh vực
đã đăng ký hay không?
+ Kiểm tra tình hình thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm với của doanh nghiệp
với Nhà nước thông qua xác định số thuế phải nộp, đã nộp, được khấu trừ, được
miễn giảm, cũng như quyết toán thuế và và các khoản đã nộp Nhà nước. Từ đó
quyết định truy thu, xử phạt, miễn giảm thuế,...
+ Các thông tin kế toán còn giúp cho cơ quan quản lý chức năng tổng hợp số
liệu, thông tin theo các chỉ tiêu kinh tế trong từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế.
Ngoài ra, các thông tin trên báo cáo tài chính công khai còn củng cố niềm tin
và sức mạnh cho công nhân viên của doanh nghiệp để họ nhiệt tình hăng say trong
lao động, tham gia đầu tư trái phiếu của Công ty phát hành.
Mỗi đối tượng sử dụng thông tin kế toán khác nhau đều có mục đích cụ thể
khác nhau vì vậy yêu cầu cung cấp thông tin kế toán cũng khác nhau.
Tổ chức lập các báo cáo để cung cấp thông tin kế toán
Báo cáo kế toán là phương tiện để truyền tải, cung cấp thông tin kế toán đến
các đối tượng sử dụng thông tin. Báo cáo kế toán là các báo cáo được lập trên cơ sở
tổng hợp số liệu, thông tin của kế toán.
Căn cứ vào tính chất pháp lý của báo cáo kế toán thì báo cáo được chia thành
báo cáo hai loại báo cáo tài chính và báo cáo KTQT.
Báo cáo KTTC: Là báo cáo kế toán mang tính thống nhất bắt buộc, có giá trị
pháp lý cao. Các doanh nghiệp phải lập theo quy định trong chế độ báo cáo kế toán,
nộp báo cáo theo thời hạn quy định.
Báo cáo KTQT: Trên cơ sở toàn bộ thông tin đã tập hợp trong nội bộ doanh
52
nghiệp, thiết lập hệ thống báo cáo kế toán nội bộ gồm các báo cáo nhanh, báo cáo
định kỳ, báo cáo đột xuất,... ngoài tổng hợp cân đối số liệu từ các sổ sách kế toán,
KTQT còn sử dụng kỹ thuật thống kê, phương pháp toán... để phân tích các chỉ tiêu
thực hiện mục tiêu quản lý doanh nghiệp, giúp cho nhà quản trị ra quyết định đúng
đắn, hiệu quả hơn.
Báo cáo KTQT không mang tính chất thống nhất bắt buộc. Báo cáo KTQT
nhằm cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu quản lý nội bộ ngành, nội bộ đơn vị. Chế
độ quy định về báo cáo này chỉ mang tính hướng dẫn. Theo nội dung kinh tế của
thông tin kế toán thì báo cáo kế toán cụ thể khác nhau. Ví dụ: Báo cáo KTTC gồm:
- Bảng cân đối kế toán;
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh;
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ;
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính.
Báo cáo quản trị gồm: Báo cáo hàng tồn kho, báo cáo tăng, giảm TSCĐ, báo
cáo chi phí giá thành của từng loại sản phẩm. Báo cáo doanh thu, lãi, lỗ; Báo cáo
các khoản công nợ.
Căn cứ vào kỳ lập báo cáo thì báo cáo kế toán bao gồm:
Báo cáo kế toán định kỳ và báo cáo kế toán thường xuyên;
Căn cứ vào cơ sở lập báo cáo, báo cáo kế toán trong doanh nghiệp chia thành:
Báo cáo thực hiện và báo cáo dự báo.
Tổ chức lập báo cáo tài chính
Tổ chức lập báo cáo tài chính cần phải dựa vào các quy định về mẫu biểu,
phương pháp lập đã được quy định để phân công và hướng dẫn các bộ phận liên
quan thực hiện. Trên cơ sở báo cáo tài chính đã lập và các tài liệu khác, công ty
thực hiện phân tích báo cáo nhằm cung cấp được những thông tin hữu ích phục vụ
cho công tác quản lý của công ty. Đối với các báo cáo tài chính, công ty phải lập
vào cuối niên độ kế toán; trường hợp pháp luật có quy định lập báo cáo tài chính
theo kỳ kế toán khác thì đơn vị kế toán phải lập theo kỳ kế toán đó. Báo cáo tài
chính phải được lập đúng nội dung, phương pháp và trình bày nhất quán giữa các kỳ
53
kế toán; trường hợp báo cáo tài chính trình bày khác nhau giữa các kỳ kế toán thì
phải thuyết minh rõ lý do.
Tổ chức lập báo cáo quản trị
Đối với báo cáo KTQT, công ty căn cứ vào yêu cầu cụ thể để lập theo mẫu
biểu và theo thời điểm thích hợp nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin phục vụ quản trị
nội bộ. Báo cáo KTQT cũng có thể được lập theo định kỳ hoặc thường xuyên. Số
lượng báo cáo KTQT phải lập nhiều hay ít tùy thuộc vào yêu cầu quản lý nội bộ.
Nội dung thông tin cần báo cáo và kết cấu mẫu biểu báo cáo KTQT rất đa dạng,
gồm nhiều loại phù hợp với yêu cầu quản lý nội bộ từng bộ phận trong công ty.
Song, có thể khái quát thành các báo cáo sau:
- Các báo cáo phục vụ yêu cầu quản trị tài sản của công ty.
Đó là các báo cáo phản ánh số hiện có và tình hình biến động của từng loại
vốn kinh doanh, từng loại nguồn vốn kinh doanh cụ thể nhằm cung cấp thông tin
giúp nhà quản lý công ty nắm chắc và quản lý chặt chẽ được tài sản; kiểm tra, giám
sát được tình hình sử dụng vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của công ty.
Thuộc loại báo cáo này gồm các báo cáo kế toán cụ thể như báo cáo tăng, giảm tài
sản cố định; báo cáo tình hình xuất nhập vật tư, thành phẩm, hàng hóa; báo cáo tình
hình công nợ theo từng tài khoản phản ánh công nợ; báo cáo tăng, giảm theo từng
nguồn vốn. Kết cấu mẫu loại báo cáo này được xây dựng dựa trên cơ sở quan hệ cân
đối của từng loại vốn, từng nguồn vốn.
- Các báo cáo phục vụ yêu cầu phân cấp quản lý kinh tế, tài chính nội bộ. Đó
là các báo cáo phản ánh các chỉ tiêu phân cấp nội bộ như báo cáo doanh thu bán
hàng theo địa điểm kinh doanh, hoặc theo nhóm hàng; báo cáo chi phí trực tiếp, báo
cáo kết quả kinh doanh theo từng đơn vị nội bộ...
Các báo cáo kế toán phục vụ yêu cầu quản trị kinh doanh.
Đó là các báo cáo được lập trên cơ sở hệ thống hóa thông tin KTQT phục vụ
yêu cầu quản trị kinh doanh của doanh nghiệp. Báo cáo này có thể được chia làm 3
loại: các báo cáo phản ánh về giá trị; các báo cáo phản ánh về hiện vật; các báo cáo
kết hợp phản ánh về giá trị và hiện vật như báo cáo chi phí sản xuất và giá thành sản
54
phẩm; báo cáo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp; báo cáo chi phí nhân công trực tiếp;
báo cáo chi phí sản xuất chung; báo cáo chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp, báo cáo kết quả kinh doanh theo từng nhóm mặt hàng...
Tổ chức cung cấp thông tin trên báo cáo kế toán
Mục đích cuối cùng của kế toán là cung cấp thông tin cho các đối tượng sử
dụng. Thông tin trên báo cáo kế toán phải được cung cấp cho các đối tượng sử dụng
một cách đầy đủ, kịp thời. Tùy theo từng loại báo cáo và tùy theo từng đối tượng sử
dụng thông tin để tổ chức cung cấp thông tin cho phù hợp.
Đối với báo cáo tài chính cần thiết phải tổ chức lập và gửi cho các đơn vị
nhận báo cáo theo đúng thời gian đã quy định đối với từng loại báo cáo tài chính
(Báo cáo năm hay báo cáo giữa niên độ). Đồng thời phải công khai các thông tin tài
chính của doanh nghiệp theo những nội dung đã quy định.
Đối với báo cáo KTQT phải tổ chức lập và gửi cho các nhà quản trị doanh
nghiệp một cách kịp thời. Từng báo cáo KTQT phải được lập, phân tích tỉ mỉ và gửi
cho nhà quản trị ở phạm vi nào, lĩnh vực nào.
Tổ chức phân tích thông tin kế toán
Để đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng ngoài nhiệm vụ
cung cấp thông tin kế toán, tổ chức công tác kế toán còn phải nhiệm vụ hết sức quan
trọng đó là phân tích thông tin kế toán. Để phân tích được các thông tin kế toán, các
phương pháp thường sử dụng đó là: Phương pháp so sánh: So sánh giữa các thông
tin kế toán giữa thực tế với kế hoạch; so sánh các thông tin kế toán giữa các thời
điểm với nhau để đánh giá sự biến động cũng như khả năng, xu hướng phát triển
của doanh nghiệp; so sánh thông tin kế toán giữa các phương án sản xuất khác nhau
để các nhà quản trị có thể tìm ra phương án tối ưu và ra quyết định kinh tế kịp thời.
Phương pháp phân tích nhân tố: Phương pháp này thường được dùng để phân tích
thông tin của KTQT, phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ doanh nghiệp. Phân tích các
chỉ tiêu tổng hợp và phân tích các nhân tố cụ thể tác động vào chỉ tiêu tổng hợp để
tìm ra mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố, từ đó giúp cho đối tượng sử dụng thông
tin có thể xem xét ra các quyết định phù hợp.
55
+ Tổ chức phân tích thông tin quá khứ: Căn cứ vào thông tin quá khứ và
thông tin tương lai đã thu nhập được, kế toán tiến hành so sánh phân tích tình hình
thực hiện kế hoạch, thực hiện dự toán chi phí sản xuất kinh doanh. Thông qua phân
tích thông tin quá khứ, có thể xác định được từng nhân tố, nguyên nhân ảnh hưởng,
từ đó nhà quản trị đưa ra những giải pháp khắc phục những tồn tại, khai thác khả
năng tiềm tàng để sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp hiệu quả hơn.
+ Tổ chức phân tích thông tin tương lai, cung cấp thông tin để tư vấn cho nhà
quản trị. KTQT đặc biệt quan tâm tới phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng -
lợi nhuận, phân tích điểm hòa vốn, phục vụ cho ra quyết định ngắn hạn như: Quyết
định tiếp tục hay chấm dứt sản xuất kinh doanh một bộ phận, quyết định tư sản xuất
hay mua ngoài, quyết định bán ngay nửa thành phẩm hay sản xuất thành phẩm rồi
mới bán, quyết định trong điều kiện năng lực sản xuất kinh doanh bị giới hạn, quyết
định chấp nhận một đơn đặt hàng hay không.
Bên cạnh đó, kế toán còn cung cấp, phân tích thông tin bằng những phương
pháp nhất định để giúp nhà quản trị ra quyết định dài hạn, lựa chọn dự án đầu tư.
Sau khi lập các báo cáo tài chính, nhiệm vụ quan trọng của kế toán là tổ chức
phân tích báo cáo tài chính nhằm cung cấp được các thông tin hữu ích phục vụ công
tác quản lý công ty, đồng thời cung cấp các thông tin cần thiết cho công tác quản lý
chung của công ty, tổ chức công tác phân tích báo cáo tài chính trong các doanh
nghiệp sản xuất là việc thiết lập trình tự các bước công việc cần tiến hành trong quá
trình phân tích. Để phân tích báo cáo kế toán thực sự phát huy hiệu quả cần tổ chức
khoa học hợp lý, phù hợp với đặc điểm kinh doanh và loại hình công ty. Theo đó, tổ
chức phân tích báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp sản xuất thường được tiến
hành qua các bước sau:
- Tổ chức lập kế hoạch phân tích
Tổ chức lập kế hoạch phân tích là khâu đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng,
ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tác phân tích. Lập kế hoạch phân tích bao
gồm việc xác định mục tiêu, chương trình phân tích. Kế hoạch phân tích phải xác
định rõ nội dung phân tích, phạm vi phân tích, thời gian thực hiện và những thông
56
tin cần thiết thông qua các chỉ tiêu phân tích.
- Tổ chức thực hiện công tác phân tích
Tổ chức thực hiện công tác phân tích là khâu triển khai thực hiện kế hoạch
phân tích đã đề ra, bao gồm việc thu thập nguồn tài liệu, lựa chọn và tính toán các
chỉ tiêu phân tích, xác định nguyên nhân và nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân
tích. Kế toán trưởng phải phân công trách nhiệm cụ thể cho các bộ phận kế toán và
từng người làm kế toán trong việc thu nhận, cung cấp và tính toán phân tích đối với
từng chỉ tiêu cụ thể để công tác phân tích đạt hiệu quả cao nhất.
- Tổ chức báo cáo kết quả phân tích
Tổ chức báo cáo kết quả phân tích là khâu cuối cùng của công tác phân tích
báo cáo tài chính. Trên cơ sở các tính toán, phân tích, dự báo tình hình tài chính và
hoạt động kinh doanh, cán bộ làm công tác phân tích phải nêu rõ nguyên nhân và
trình bày kiến nghị, giúp cho nhà quản lý có cơ sở tin cậy cho việc đề ra các quyết
định đúng đắn trong điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Ngoài việc tổ chức phân tích báo cáo tài chính định kỳ, công ty cần thiết phải
tổ chức phân tích báo cáo tài chính thường xuyên theo định kỳ ngắn nhằm xử lý và
cung cấp kịp thời thông tin phục vụ cho công tác điều hành và các quyết định kinh
doanh của lãnh đạo công ty, việc này hết sức cần thiết. Phân tích thường xuyên chủ
yếu dựa vào số liệu định mức kỹ thuật và số liệu thực tế do KTQT cung cấp.
1.4.3. Tổ chức kiểm tra kế toán
Tổ chức kiểm tra kế toán là một trong những nội dung quan trọng của tổ
chức công tác kế toán trong doanh nghiệp sản xuất nói riêng và trong tất cả các
doanh nghiệp nói chung nhằm đảm bảo thực hiện nghiêm túc Luật kế toán, Chế độ
kế toán, đồng thời ngăn ngừa hiện tượng tham ô, lãng phí hoặc kịp thời sửa chữa,
bổ sung, chỉnh sửa những vấn đề còn chưa hoàn thiện.
Nội dung kiểm tra kế toán bao gồm:
- Kiểm tra việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên chứng từ kế
toán, sổ kế toán và báo cáo kế toán đảm bảo thực hiện đúng chế độ, chính sách quản
lý tài chính của Nhà nước và những quy định cụ thể của ngành và của công ty.
57
- Kiểm tra việc tổ chức, chỉ đạo công tác kế toán trong công ty, việc thực
hiện trách nhiệm của các bộ phận kế toán trong việc cung cấp thông tin; kiểm tra kết
quả công tác của bộ máy kế toán, mối quan hệ công tác giữa các bộ phận kế toán
với nhau và với các bộ phận chức năng khác có liên quan.
Công tác kiểm tra kế toán nội bộ công ty do giám đốc và kế toán trưởng chịu
trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo. Tùy theo quy mô của công ty mà có thể bố trí thành
bộ phận kiểm tra riêng. Trường hợp công ty có quy mô không lớn thì có thể bố trí
công tác kiểm tra kiêm nhiệm cùng với các bộ phận kế toán thích hợp.
Phương pháp kiểm tra kế toán chủ yếu được áp dụng là đối chiếu số liệu giữa
chứng từ kế toán, sổ kế toán và báo cáo kế toán; giữa số liệu kế toán tổng hợp và số
liệu kế toán chi tiết; giữa số liệu trên sổ kế toán với số liệu thực tế.
Căn cứ để kiểm tra kế toán là các chứng từ kế toán, sổ kế toán, báo cáo kế
toán và các chế độ, định mức kinh tế, kỹ thuật trong từng trường hợp cụ thể.
Kế toán trưởng căn cứ vào tình hình thực tế về đội ngũ người làm kế toán để
bố trí, sắp xếp kiểm tra kế toán theo từng khâu phù hợp nhằm đảm bảo số liệu ghi
chép kế toán phản ánh trung thực, khách quan, kịp thời mọi hoạt động trong công ty
tùy thuộc vào yêu cầu quản trị trong từng trường hợp cụ thể của từng doanh nghiệp.
1.5. Kinh nghiệm tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất
của nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương
1.5.1. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán ở các doanh nghiệp sản xuất của
Nhật Bản
“Hiện nay trên địa bàn tỉnh Hải Dương có 289 dự án đầu tư nước ngoài đến
từ 24 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng số vốn đăng ký 6.380 triệu USD. Hầu hết
các doanh nghiệp đang hoạt động trong trong các lĩnh vực đó là sản xuất giày dép,
may mặc, lắp ráp linh kiện điện tử, sản xuất máy bơm, sản xuất các thiết bị điều
khiển.[43]. Một trong những nước có đầu tư lớn vào Hải Dương phải kể đến là Nhật
Bản với 38 công ty, tổng số vốn đầu tư lên tới hơn 900 triệu USD. (Xem phụ lục số
23). Với đất nước có nền kinh tế chủ yếu theo hướng tư nhân hóa. Người Nhật nổi
tiếng là những con người rất cẩn thận, làm việc nghiêm túc, tươm tất, yêu bản thân
58
và tiết kiệm. Đặc biệt là ý thức tổ chức kỷ luật rất cao. Qua nghiên cứu khảo sát ở
một số doanh nghiệp của Nhật như: Công ty TNHH Sumidenso Việt Nam là doanh
nghiệp thuộc tập đoàn Sumitomo - Nhật Bản tập đoàn lớn sản xuất và kinh doanh
toàn cầu với các sản phẩm điện, điện tử công nghiệp cao, Công ty TNHH công
nghiệp Brother Việt Nam. Tổ chức công tác kế toán ở các công ty sản xuất của Nhật
Bản tại Hải Dương có thể khái quát theo một số điểm cơ bản sau đây:
Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán là Đôla Mỹ (USD), Việt Nam đồng, các
đồng tiền khác với USD được quy đổi theo giá thực tế ngày phát sinh giao dịch.
Năm tài chính của các Công ty hiện đang được áp dụng trùng với năm
Dương lịch (từ ngày 01 tháng 01 đến 31 tháng 12 hàng năm).
Thứ nhất về tổ chức bộ máy kế toán: Tổ chức bộ máy kế toán gọn nhẹ do
việc áp dụng tin học trong công tác kế toán ở mức độ cao. Mặc dù số lượng công
nhân và quy mô sản xuất rất lớn như Công ty TNHH Sumidenso, Công ty TNHH
Brother Việt Nam nhưng tổ chức bộ máy kế toán hết sức gọn nhẹ. Trong bộ phận kế
toán được phân chia có những nhân viên chuyên làm KTTC và có những nhân viên
chuyên xử lý, phân tích số liệu phục vụ KTQT. Các tập đoàn của Nhật Bản thường
sử dụng phần mềm tích hợp bao gồm cả quản lý hành chính, quản lý nhân sự và
phần mềm kế toán. Phần mềm tích hợp này thể hiện tính ưu việt của nó khi nhà
quản trị có thể vào từng phần hành một để khai thác kiểm tra số liệu, thông tin. Còn
đối với người sử dụng phần mềm sẽ hạn chế quyền chia sẻ (người sử dụng chỉ được
chia sẻ mức độ giới hạn do tập đoàn quy định). Ngoài ra tập đoàn còn sử dụng một
số phần mềm quản lý những phần hành nhỏ. Người Nhật nổi tiếng là thích làm việc
nhóm, rất chú trọng đến yếu tố tập thể. Vì vậy, từng khâu, từng phần hành kế toán
đều được phân công hết sức cụ thể để tất cả mọi người cùng hiểu, cùng làm một
cách chính xác, kịp thời.
Về tổ chức thực hiện qui trình KTTC và KTQT: Tất cả các quy định liên
quan đến các thủ tục kế toán đều được công khai một cách minh bạch: quy định
chung; quy trình quản lý tài sản; quy định về chứng từ thanh toán; quy trình mua
hàng; quy trình thuê ngoài sửa chữa tài sản; quy trình tạm ứng; quy trình thanh toán;
59
chính sách tiền lương, thưởng (xem phụ lục số 19).
Thứ hai, về tổ chức thu nhận thông tin ban đầu, tổ chức hệ thống chứng từ kế
toán gồm việc tổ chức ghi chép ban đầu các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực hiện
quy trình luân chuyển chứng từ, kiểm tra và lưu trữ chứng từ, lựa chọn các mẫu
chứng từ sử dụng cho KTTC và KTQT. Hầu hết các công ty của Nhật Bản đều quy
định và công khai từng phần hành công việc của kế toán.
Đặc biệt các công ty sản xuất của Nhật Bản sử dụng rất nhiều chứng từ nội
bộ (chứng từ tiền mặt, chứng từ chi phí, chứng từ TSCĐ, chứng từ mua hàng, trong
từng chứng từ lại được chi tiết cụ thể). Việc kiểm soát chứng từ hết sức chặt chẽ,
nghiêm ngặt. Sự kiểm tra, kiểm soát ít nhất được thực hiện từ hai người trở lên.
Việc kiểm soát chặt chẽ chứng từ nội bộ rất quan trọng dẫn đến hạn chế tối đa các
sai sót trong quá trình hạch toán và giúp ích rất nhiều trong quá trình thanh tra, kiểm
tra. Bất kỳ một khâu nào cũng được quy định hết sức cụ thể, chi tiết.
Thứ ba, tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin: tài khoản kế toán được xây
dựng riêng biệt ở mỗi tập đoàn. Các tập đoàn nếu có trụ sở ở các nước trên thế giới
đều sử dụng chung một hệ thống tài khoản. Tài khoản kế toán của tập đoàn thường
có nhiều ký tự: 5, 9 ký tự và được dùng thống nhất rất thuận tiện cho việc theo dõi
của nhà quản lý.
Các công ty căn cứ vào đặc điểm quản lý, đặc điểm sản xuất và yêu cầu cụ
thể của mình để thiết kế các mẫu sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết phù hợp.
Hệ thống sổ kế toán được thiết kế theo mẫu riêng của từng công ty.
Các mẫu sổ kế toán tổng hợp thường mở cho các tài khoản KTTC, phản ánh
đối tượng kế toán tổng hợp nhằm cung cấp thông tin về KTTC phục vụ cho việc lập
báo cáo tài chính.
Các mẫu sổ kế toán chi tiết cụ thể thường mở cho các tài khoản KTQT, phản
ánh đối tượng kế toán một cách chi tiết cụ thể nhằm cung cấp thông tin về KTQT
phục vụ cho việc lập báo cáo KTQT và cung cấp thông tin cho chủ doanh nghiệp
điều hành thường xuyên quá trình hoạt động của doanh nghiệp hệ thống sổ kế toán
được thiết kế theo mẫu riêng của từng doanh nghiệp phục vụ cho việc lập báo cáo
60
KTQT và cung cấp thông tin cho chủ doanh nghiệp điều hành thường xuyên quá
trình hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ tư, về tổ chức hệ thống báo cáo ở các doanh nghiệp: Các doanh nghiệp
đều thiết kế mẫu biểu báo cáo, lập trình các phần mềm để khi nhập dữ liệu kế toán
phản ánh vào các tài khoản KTTC và KTQT sẽ được tự động chuyển vào các sổ kế
toán có liên quan. Cuối kỳ, các thông tin của KTTC cung cấp cho việc lập báo cáo
tài chính, các thông tin của KTQT cung cấp cho việc lập báo cáo quản trị. Đặc biệt,
các công ty của Nhật Bản rất chú trọng đến báo cáo KTQT. Báo cáo quản trị được
lập và phân tích một cách thực sự theo yêu cầu của nhà quản trị yếu tố chi phí, từng
tháng, từng quý, từng năm và được phân tích rất tỉ mỉ, cụ thể giúp nhà quản trị ra
quyết định đúng đắn, kịp thời.
Thứ năm, về tổ chức kiểm tra kế toán: Các công ty ở Nhật Bản đều rất chú
trọng công tác kiểm tra kế toán điều này xuất phát từ bản tính cẩn thận, ưa sự chỉnh
chu của người Nhật. Công tác kiểm tra kế toán được thực hiện hàng tháng, quý,
năm. Tất cả các báo cáo tài chính của các công ty đều được kiểm tra hết sức nghiêm
ngặt. Kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập. Tổ chức quản lý
thông tin của người Nhật hết sức khoa học, đảm bảo bí mật những thông tin cần
thiết. Người Nhật kiểm soát chặt chẽ và qui định những thư điện tử được phép gửi
cho ai và ai được phép gửi. Tất cả các công việc, phần hành đều được an toàn tuyệt
đối, các nhân viên không được phép sao chép bất kỳ tài liệu nào ra khỏi máy tính tại
Công ty.
1.5.2. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại các công ty sản xuất của Hàn Quốc
Trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay có khoảng 20 doanh nghiệp của Hàn
Quốc hoạt động (có danh sách kèm theo) trên một số lĩnh vực như: sản xuất hàng
may mặc, giày da, thiết bị điện tử. Hầu hết các Công ty của Hàn Quốc hoạt động
trên địa bàn Hải Dương đều là những Công ty có tiềm lực tài chính mạnh như: Công
ty mẹ Công ty TNHH Good Financial với vốn góp 2.595.000 USD, đội ngũ cán bộ
công nhân viên là trên 5.000 người đều là cán bộ có kinh nghiệm và công nhân lành
nghề, Công ty Samil Hà Nội Vina với trên 3000 lao động… Đại bộ phận các Công
61
ty này được xây dựng theo mô hình tương tự như các thành viên của Công ty mẹ tại
Hàn Quốc - đó là các mô hình đã được kiểm nghiệm thành công.
Qua khảo sát một số doanh nghiệp của Hàn Quốc trên địa bàn tỉnh Hải
Dương có thể khái quát như sau:
Về tổ chức bộ máy quản lý: Các Công ty được tổ chức theo mô hình Công ty
TNHH, Công ty TNHH một thành viên.
Bộ máy kế toán được tổ chức hết sức đơn giản gọn nhẹ, khoa học đảm bảo
đáp ứng được các yêu cầu cung cấp thông tin khi cần thiết. Công tác tuyển chọn
những con người làm kế toán hết sức công khai, minh bạch và có các tiêu chí rõ
ràng. Vì việc mà tuyển người đáp ứng công việc. Trong bộ máy kế toán cũng kết
hợp KTTC và KTQT trên cùng phần hành kế toán. Việc tập huấn thông tư, hướng
dẫn chuẩn mực kế toán cho nhân viên kế toán hết sức được chú trọng. 100% các
nhân viên kế toán trong các công ty này tham gia tích cực tập huấn chế độ kế toán
theo TT200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2014 của Bộ trưởng Bộ tài chính.
Về tổ chức chứng từ kế toán: Các doanh nghiệp của Hàn Quốc thường sử
dụng rất nhiều chứng từ điện tử đó là các chứng từ liên quan đến hoạt động xuất
nhập khẩu hàng hóa, các hợp đồng làm việc với hải quan (mở tờ khai, lấy tờ khai.,
kiểm hàng). Việc vận dụng để xử lý các chứng từ đảm bảo linh hoạt có như vậy
người Hàn Quốc mới thành công tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Về tổ chức tài khoản kế toán: Với đặc thù là các doanh nghiệp sản xuất có
quy mô lớn các doanh nghiệp sản xuất của Hàn Quốc trên địa bàn tỉnh Hải Dương
đều sử dụng chế độ kế toán theo QĐ15- BTC nay là TT200/2014/TT-BTC ban hành
ngày 22/12/2014 của Bộ trưởng Bộ tài chính. Các tài khoản được mã hóa theo yêu
cầu quản lý. Ví dụ TK 627709, 627704…
Về kiểm tra kế toán: Báo cáo tài chính hàng năm đều được kiểm toán bởi
Công ty TNHH Kiểm toán độc lập Quốc gia Việt Nam và năm 2014 được kiểm toán
bởi Công ty TNHH Kiểm toán ASEAN, nên đảm bảo chất lượng về số liệu.
1.5.3. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại các công ty sản xuất của Đài Loan
Trên địa bàn tỉnh Hải Dương có rất nhiều doanh nghiệp của Đài Loan có
62
khoảng 20 doanh nghiệp đang hoạt động trên các lĩnh vực: sản xuất linh kiện điện
tử, may mặc, linh kiện ô tô, đồ chơi, đồ dùng điện tử, đồ nhựa tiêu dùng, máy nối,
linh kiện điện thoại, thức ăn chăn nuôi. Qua khảo sát tổ chức công tác kế toán của
các doanh nghiệp sản xuất của Đài Loan trên địa bàn tỉnh Hải Dương có thể khái
quát như sau:
Về tổ chức bộ máy kế toán: Các Công ty được tổ chức bộ máy kế toán kiểu
tập trung, kết hợp KTTC và KTQT trong từng phần hành kế toán. Niên độ kế toán
bắt đầu 01/01 kết thúc 31/12; đồng tiền sử dụng trong kế toán VNĐ.
Về tổ chức chứng từ kế toán: Các Công ty của Đài Loan đều lập kế hoạch,
trình tự luân chuyển chứng từ.
Về tổ chức tài khoản kế toán: Tài khoản kế toán được thiết kế trên cơ sở các
tài khoản kế toán ban hành theo TT200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ
trưởng Bộ tài chính, trên cơ sở các tài khoản theo quy định của Nhà nước các doanh
nghiệp của Đài Loan đã thiết kế các tài khoản chi tiết có 6 chữ số đáp ứng yêu cầu
quản lý, ví dụ TK 622.101 chi phí tiền lương nhân công trực tiếp, TK622.102 chi
phí tăng ca.
Về tổ chức lập báo cáo kế toán: Các doanh nghiệp sản xuất của Đài Loan
luôn chấp hành tốt chế độ báo cáo tài chính theo quy định của Nhà nước đồng thời
rất chú trọng đến báo cáo quản trị. (Xem phụ lục số 22).
Về công tác kiểm tra kế toán: Công tác kiểm tra kế toán được thực hiện
thường xuyên theo tháng theo hai hình thức kiểm tra đường thẳng và kiểm tra theo
đường chéo. Công tác kiểm tra chứng từ được lập thành quy trình kiểm tra kế toán
viên lập, kế toán trưởng kiểm tra, chủ tài khoản duyệt ký. Kiểm tra theo đường
thẳng: Ví dụ Phòng thu mua ký hợp đồng mua hàng, người bán giao hàng và xuất
hóa đơn, phòng thu mua tập hợp chứng từ (hợp đồng, phiếu nhập kho, hóa đơn) làm
phiếu thanh toán, phòng kế toán nhận chứng từ thanh toán kiểm tra các chứng từ,
hoá đơn nếu hợp lệ sẽ làm phiếu chi kế toán trưởng và chủ tài khoản ký duyệt và
thanh toán.
Kiểm tra chéo: Được thực hiện bởi kiểm toán viên nội bộ. Tất cả các quy
63
trình và phạm vi ký duyệt chứng từ sẽ được kiểm toán nội bộ kiểm tra. Người ký
hợp đồng có đúng thẩm quyền không? Các lưu trình nhập hàng có sai sót gì không?
Người ký phiếu thanh toán, thu mua có đúng thẩm quyền không? Các số liệu của kế
toán có khớp đúng với số liệu sao kê của Ngân hàng không?
Về phân tích các báo cáo kế toán: Các Công ty sản xuất của Đài Loan rất chú
trọng đến việc phân tích báo cáo kế toán. Việc phân tích báo cáo kế toán được thực
hiện hàng tháng đó là chỉ tiêu tiền, công nợ, hàng tồn kho, nợ vay.
1.5.4. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại các công ty sản xuất của Mỹ
Mỹ là nước có nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ. Bản thân không
tham gia vào việc ban hành các chuẩn mực kế toán quốc tế. Việc ban hành các
chuẩn mực kế toán do Hiệp hội kế toán Mỹ trực tiếp ban hành và công bố. Theo
Hiệp hội này định nghĩa kế toán là quá trình nhận biết, đo lường và truyền đạt các
thông tin đánh giá và đưa ra quyết định kinh doanh. Những thông tin này được diễn
đạt bằng đơn vị tiền tệ. Có thể khái quát các chức năng của kế toán như sau:
+ Quan sát các hoạt động đo lường các sự kiện và các quá trình kinh tế bằng
thước đo giá trị thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh;
+ Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được ghi chép tập hợp lại sau đó được
phân loại và được tổng hợp theo từng đối tượng;
+ Lập các báo cáo KTTC và các báo cáo quản trị nhằm cung cấp thông tin
cho các đối tượng quan tâm.
Với các chức năng trên tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp ở
Mỹ thường có các đặc điểm như sau:
Nhà nước không xây dựng hệ thống tài khoản thống nhất bắt buộc. Các
doanh nghiệp dựa vào loại hình kinh doanh và số lượng nghiệp vụ kinh tế phát sinh
nhiều hay ít để tổ chức xây dựng các tài khoản kế toán đáp ứng yêu cầu của KTTC
và KTQT. Doanh nghiệp tự đặt tên cho tài khoản và số hiệu của chúng. Các tài
khoản của mỗi doanh nghiệp đều được xây dựng trong mối quan hệ với báo cáo tài
chính đó là tài khoản thuộc bảng cân đối kế toán và tài khoản thuộc báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh. Nguyên tắc xây dựng tài khoản trong doanh nghiệp vừa đảm
64
bảo tuân thủ chuẩn mực kế toán và các nguyên tắc kế toán được thừa nhận. Phải có
đủ các loại tài khoản khác nhau để phản ánh được tính đa dạng của đối tượng kế
toán, đồng thời cung cấp đầy đủ thông tin cho nhà quản lý. Phải thể hiện được tính
hai mặt của đối tượng kế toán là tính độc lập và thống nhất giữa tài sản và nguồn
hình thành tài sản, giữa thu và chi. Phải thể hiện được tính vận động của các đối
tượng kế toán qua các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, kinh doanh. Các
tài khoản kế toán được xây dựng một cách linh hoạt phù hợp với đặc điểm hoạt
động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp.
Tổ chức xây dựng, ghi chép vào sổ kế toán: Sổ kế toán được thiết kế thành
nhiều loại để phản ánh đầy đủ thông tin cho nhà quản lý theo thời gian và theo đối
tượng. Việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào tài khoản kế toán thường
được chia theo các khâu phần hành ví dụ; khâu mua hàng, khâu bán hàng, khâu sản
xuất, khâu xác định kết quả kinh doanh, khâu phân phối lợi nhuận.
Tổ chức báo cáo tài chính và báo cáo KTQT: Hệ thống kế toán Mỹ bắt buộc
các doanh nghiệp phải lập các báo cáo kế toán theo chế độ quy định về thời gian lập
cũng như về mẫu của các báo cáo. Các báo cáo tài chính bắt buộc hiện nay bao
gồm: Bảng cân đối kế toán (Balance Sheet), báo cáo kết quả kinh doanh (Income
Statement), Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash Flows) và báo cáo nguồn vốn chủ sở
hữu (Statement of Owners Equity). Ngoài các báo KTTC trên doanh nghiệp còn lập
các báo cáo quản trị tùy theo yêu cầu quản lý.
1.5.5. Bài học kinh nghiệm về tổ chức công tác kế toán cho các doanh nghiệp
sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất giày trên địa bàn tỉnh
Hải Dương thường được tổ chức công tác kế toán đặc biệt là kế toán quản trị theo
yêu cầu bắt buộc của công ty mẹ và được triển khai một cách thống nhất trong Tập
đoàn. Qua nghiên cứu tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp ở một số
nước trên thế giới có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu cho tổ chức
công tác kế toán trong các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp sản xuất
giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng như sau:
65
Một là, bất kể loại hình doanh nghiệp nào thì kế toán cũng đều được coi là
một trong những công cụ quan trọng để quản lý kinh tế tài chính. KTQT không thể
thiếu trong tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp. Tổ chức công tác kế
toán trong các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa
bàn tỉnh Hải Dương nói riêng đều bao gồm các công việc tổ chức KTTC và tổ
chức KTQT;
Hai là, tổ chức bộ máy kế toán phải gọn, nhẹ, phù hợp với đặc điểm của từng
đơn vị nhằm đảm bảo cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng và thông tin
cho công tác quản trị doanh nghiệp, đối với các doanh nghiệp sản xuất giày nên tổ
chức theo mô hình kết hợp vừa KTTC vừa KTQT trong cùng một bộ máy nhằm sử
dụng nhân lực kế toán và tổ chức thông tin kế toán nhanh nhất hiệu quả nhất. Từng
phần hành phải phân công rõ ràng đảm bảo nâng cao tinh thần trách nhiệm, tránh
chồng chéo trong thu nhận xử lý cung cấp thông tin.
Ba là, tổ chức KTTC nhằm thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin
về hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị một cách tổng quát, phục vụ cho các đối
tượng sử dụng thông tin của doanh nghiệp trong quan hệ kinh tế cũng như phục vụ
công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan hữu quan đối với mọi mặt hoạt động
của công ty. Vì vậy, cần sử dụng các tài khoản KTTC, sổ kế toán và báo cáo kế toán
tổng hợp. Thông tin của KTTC cần được công khai, minh bạch.
Bốn là, tổ chức KTQT nhằm thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin
về hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp một cách chi tiết, cụ thể theo yêu
cầu quản lý của từng doanh nghiệp. Do đó, tổ chức công tác KTQT cần sử dụng các
tài khoản kế toán, sổ kế toán và báo cáo KTQT. Thông tin của KTQT phục vụ cho
công tác quản lý nội bộ nên thường được giữ bí mật và được phân tích một cách
thường xuyên, liên tục giúp nhà quản lý có các quyết định đúng đắn trong kinh
doanh. Điều đặc biệt là các công ty của Nhật rất quan tâm đến KTQT và đặt lên
hàng đầu. Mặt khác, thông tin của KTQT là những thông tin rất hữu ích mà nhờ đó
nhà quản trị có những quyết định kịp thời phù hợp.
Năm là, phát huy hơn nữa vai trò của KTQT trong việc lập và phân tích dự
66
toán nhất là dự toán chi phí (Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, Chi phí nhân công
trực tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phí dự toán sản xuất, dự toán tiền).
Sáu là, tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên
địa bàn tỉnh Hải Dương phải đảm bảo tuân thủ các Nguyên tắc, Chuẩn mực và Chế
độ kế toán, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản trị cụ thể từng chỉ tiêu quản trị của mỗi
doanh nghiệp.
Bảy là, một số nội dung kế toán không thể tách biệt giữa KTTC và KTQT.
Vì vậy, trong quá trình tổ chức công tác kế toán cần chú ý đến đặc điểm này để xây
dựng tài khoản kế toán phù hợp. Không nhất thiết phải xây dựng riêng biệt hệ thống
tài khoản KTTC và hệ thống tài khoản KTQT mà có thể kết hợp ngay trên cùng một
hệ thống tài khoản kế toán theo từng cấp độ tài khoản.
Tám là, tăng cường và làm tốt công tác kiểm soát nội bộ vì kiểm soát nội bộ
có tác dụng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng thông tin kế toán qua việc
hạn chế các sai sót, gian lận. Tuy nhiên, kiểm soát nội bộ nếu được tổ chức một
cách đầy đủ sẽ làm tăng đáng kể chi phí của doanh nghiệp. Trong điều kiện nguồn
lực có giới hạn, doanh nghiệp khó có thể chấp nhận chi trả những chi phí này. Từ lý
do trên, việc kết hợp tổ chức kế toán với hệ thống kiểm soát nội bộ là điều cần thiết.
Việc kết hợp tổ chức kế toán với hệ thống kiểm soát nội bộ một cách chọn lọc sẽ
giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kiểm soát nội bộ với chi phí hợp lý.
67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nghiên cứu lý luận về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản
xuất là vấn đề cần thiết nhằm hệ thống hóa và làm rõ thêm lý luận về các doanh
nghiệp sản xuất. Việc nghiên cứu đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
sản xuất, đặc điểm về tổ chức quản lý trong các doanh nghiệp sản xuất. Các nghiên
cứu của chương 1 đạt được những vấn đề sau:
- Làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về tổ chức công tác kế toán trong
các doanh nghiệp, đặc điểm hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý trong doanh
nghiệp sản xuất ảnh hưởng tới tổ chức công tác kế toán;
- Hệ thống hóa, phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức công tác
kế toán trong các doanh nghiệp như; Tổ chức bộ máy kế toán để thực hiện
KTTC và KTQT, Sử dụng các phương pháp kế toán để thu thập, xử lý, hệ thống
hóa, phân tích và cung cấp thông tin kế toán tổ chức thu nhận, kiểm tra thông
tin ban đầu (tổ chức thu nhận thông tin quá khứ bằng các bản chứng từ kế toán,
tổ chức hạch toán ban đầu, tổ chức kiểm tra thông tin phản ánh trên chứng từ kế
toán, tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán, tổ chức bảo quản lưu trữ và hủy bỏ
chứng từ kế toán; tổ chức thu nhận thông tin tương lai bằng các phương pháp dự
báo, dự toán, thị trường, giá cả); tổ chức hệ thống hóa, xử lý, thông tin kế toán
(những yêu cầu của hệ thống hóa và xử lý thông tin, sử dụng phương pháp tính giá
để xử lý, hệ thống hóa thông tin; tổ chức chức hệ thống tài khoản kế toán và sổ kế
toán để hệ thống hóa và xử lý thông tin kế toán, tổ chức cung cấp thông tin kế
toán (các đối tượng sử dụng thông tin kế toán, nhu cầu sử dụng thông tin kế toán
của các đối tượng, tổ chức lập báo cáo kế toán, tổ chức hệ thống báo cáo kế toán;
tổ chức lập, phân tích và công khai báo cáo kế toán; tổ chức kiểm tra kế toán.
Những vấn đề lí luận được trình bày là cơ sở để xem xét đánh giá thực trạng tổ
chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày tại địa bàn tỉnh Hải
Dương. Từ đó, xác định các nội dung, giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác
kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
68
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIÀY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
2.1. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý trong
các doanh nghiệp sản xuất giày ảnh hưởng đền tổ chức công tác kế toán
2.1.1. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành da giày ảnh
hưởng đến tổ chức công tác kế toán
Nhìn lại chặng đường đổi mới nền kinh tế, chúng ta có thể thấy được vai trò
và sự sáng suốt của Đảng và Nhà nước trong quá trình đưa đất nước đi lên. Với
quan điểm đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đưa đất nước trở nên
hùng mạnh có thể sánh vai được với các cường quốc trên thế giới Đảng và Nhà
nước luôn luôn quan tâm đầu tư phát triển tất cả các thành phần kinh tế, các ngành.
Với trọng tâm phát triển ngành công nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay thì sự
đầu tư phát triển ngành công nghiệp nhẹ là một lợi thế của chúng ta.
Việt Nam được xếp hàng là một trong 10 nước có xuất khẩu hàng đầu trên
thị trường quốc tế hiện nay về da giày, riêng ở thị trường EU, Việt Nam xếp thứ hai
sau Trung Quốc. Kim ngạch xuất khẩu của ngành da Việt Nam có mức tăng trưởng
trung bình 16% đứng thứ ba sau ngành dệt may và dầu khí.
Ngành công nghiệp da, giày cũng là một trong những ngành được đặc biệt
quan tâm, không chỉ bởi nó đem lại một nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nước mà nó
còn là một trong những ngành giải quyết được nhiều gánh nặng cho đất nước như
việc làm, cải thiện đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay thì
ngành da, giày của chúng ta so với ngành da, giày của các nước khác trên thế giới
còn nhiều lạc hậu. Để có thể có được các thị trường mạnh như Mỹ, EU, Nhật đòi
hỏi chúng ta phải có sự đầu tư hơn nữa trong những năm tới. Đặc biệt là chúng ta đã
ra nhập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (Asean Free Trade Area - Gọi tắt là
AFTA) và Tổ chức thương mại quốc tế (World Trade Organization - gọi tắt là
WTO). Do đó, chúng ta cần một phương hướng, một chiến lược, một kế hoạch đầu
69
tư phát triển ngành công nghiệp da giày trong những năm tới.
* Đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh giày: Nhìn nhận lại tất cả các
công đoạn, phương thức và cách tổ chức sản xuất, tiêu thụ giày dép của các doanh
nghiệp Việt Nam cho thấy, ngành da giày Việt Nam chủ yếu dựa trên 4 phương
thức sản xuất: gia công thuần túy; mua nguyên liệu bán thành phẩm; sản xuất theo
hàng FOB - hoặc xuất hàng FOB (sản xuất cho các thương hiệu nước ngoài, tiêu
thụ ở thị trường XK); hoặc là sản phẩm mang thương hiệu của chính DN Việt Nam
(nhưng phương thức này thực hiện được rất ít vì thương hiệu của ta chưa đủ mạnh)
Gia công thuần túy: Các doanh nghiệp sản xuất giày của ta sẽ nhận đối
tượng lao động (nguyên liệu hoặc bán thành phẩm) được tiến hành một cách sáng
tạo và có ý thức nhằm tạo cho sản phẩm một giá trị sử dụng nào đó. Bên đặt gia
công có thể giao toàn bộ nguyên vật liệu hoặc chỉ nguyên vật liệu chính hoặc bán
thành phẩm có khi gồm cả máy móc thiết bị, chuyên gia cho bên nhận gia công.
Trong trường hợp không giao nhận nguyên vật liệu chính thì bên đặt gia công có thể
chỉ định cho bên kia mua nguyên vật liệu ở một địa điểm nào đó với giá cả được ấn
định từ trước hoặc thanh toán thực tế trên hoá đơn. Còn bên nhận gia công có nghĩa
vụ tiếp nhận hoặc mua nguyên vật liệu sau đó tiến hành gia công, sản xuất theo
đúng yêu cầu của bên đặt gia công cả về số lượng chủng loại, mẫu mã, thời gian.
Sau khi hoàn thành quá trình gia công thì giao lại thành phẩm cho bên đặt gia công
và nhận một khoản phí gia công theo thoả thuận từ trước. Trong bối cảnh thị trường
tiêu thụ khó khăn như hiện nay thì sản xuất gia công an toàn và ít rủi ro hơn doanh
nghiệp có thể yên tâm hoàn toàn về đầu ra. Mặc dù vậy, nếu làm hàng gia công
thuần túy thì lợi nhuận không cao bằng làm hàng FOB, thậm chí có những đôi giày
giá bán lên tới hàng trăm USD nhưng các doanh nghiệp Việt Nam khi làm gia công
chỉ được hưởng từ 2 đến 2,2 USD/đôi. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức
công tác kế toán đặc biệt là đối với tổ chức quản lý theo dõi phần hành kế toán tiền
lương tiền công phải trả cho người lao động vì chúng ta gia công chủ yếu lấy công
làm lãi. Với số lượng lao động lớn chủ yếu là lao động nữ đòi hỏi việc tổ chức
chứng từ kế toán để theo dõi tiền lương, tiền công, các khoản trích theo lương của
người lao động tương đối phức tạp.
70
Phương thức sản xuất làm hàng FOB: Đây là hình thức sản xuất theo kiểu
“mua nguyên vật liệu, bán thành phẩm”. Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất giày rất
muốn chuyển sang làm hàng FOB nhưng không phải DN nào cũng có thể làm được
điều đó”. Phương thức sản xuất FOB đòi hỏi DN chủ động toàn bộ quá trình sản
xuất, phía đối tác nước ngoài chỉ giao thiết kế sản phẩm, DN tự tìm kiếm nguyên,
phụ liệu, tổ chức sản xuất và giao hàng đúng hạn nên rủi ro rất nhiều, vốn đầu tư lại
lớn trong khi vòng quay vốn chậm. Doanh nghiệp có thể giảm nhiều chi phí nhất là
chi phí mua nguyên, phụ liệu vì có thể chủ động tìm kiếm lựa chọn các nhà cung
cấp do phía nước ngoài chỉ định.
Chẳng hạn như DN cần vốn lớn để mua nguyên, phụ liệu sản xuất nhưng
thời gian để làm ra sản phẩm, rồi xuất khẩu, thu tiền về cũng phải mất tới hai đến ba
tháng. Trong khi đó, DN trong nước chủ yếu là DN nhỏ và vừa, phần lớn hoạt động
bằng vốn vay ngân hàng với lãi suất vay quá cao. Trong nhiều năm qua, các doanh
nghiệp da giày của Việt Nam chủ yếu chỉ tham gia một vài khâu trong chuỗi giá trị
của sản phẩm giày dép toàn cầu, nên rất ít các doanh nghiệp chủ động xây dựng các
nhà máy sản xuất nguyên phụ liệu da giày.
Phương thức sản xuất cho các thương hiệu nước ngoài tiêu thụ ở thị trường
xuất khẩu: Ở phương thức này các doanh nghiệp sản xuất giày của chúng ta sẽ ký
hợp đồng với các hãng sản xuất nổi tiếng có thương hiệu và sản xuất theo theo thiết
kế theo thương hiệu của hãng đã ký kết.
Phương thức sản xuất mà sản phẩm mang chính thương hiệu của chính
doanh nghiệp Việt Nam: Theo phương thức này các doanh nhiệp sản xuất giày của
ta sẽ chủ động hoàn toàn từ thiết kế mẫu mã, nguyên vật liệu, công nghệ sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm bởi sản phẩm sẽ mang thương hiệu chính doanh nghiệp của
mình. Cách này chưa nhiều vì hầu hết các doanh nghiệp sản xuất giày của chúng
ta chưa đủ mạnh cả về thương hiệu, nguồn lực tài chính, khả năng cạnh tranh trên
thị trường.
* Đặc điểm về nguyên vật liệu của ngành giày: Trong số các nguyên liệu để
sản xuất giày là da, giả da, các nguyên liệu phụ trợ (như keo dán, chỉ khâu, nút,
nhãn hiệu, cót…), có đến 70 - 80% phải nhập khẩu từ các nước châu Á như: Hàn
71
Quốc, Đài Loan, Trung Quốc… Chất liệu giả da, đặc biệt được sử dụng nhiều cho
giày thể thao, mặc dù chiếm tỷ trọng XK gần bằng 50% giá trị da giày XK nói
chung, cũng sử dụng đến 80% nguyên liệu nhập ngoại.
Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức công tác kế toán đặc biệt đối với
tổ chức phần hành kế toán nguyên vật liệu. Hầu hết vật liệu chính đều nhập khẩu
hoặc chúng ta gia công thì nguyên vật liệu được nhập theo yêu cầu của đối tác. Các
doanh nghiệp của chúng ta khi sản xuất phải rất chú trọng đến tiêu chuẩn, qui cách
của đối tác, ngoài ra khi tiết kiệm nguyên vật liệu để sản xuất dôi dư thì phần sản
phẩm này cũng rất khó tiêu thụ trong nước vì bị rào cản là kiểu cách, mẫu mã bản
quyền của đối tác.
Hiện nay có tới trên 60% doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu giày dép là
những đơn vị gia công cho các công ty nước ngoài do hạn chế về trình độ, về tài
chính và sản phẩm của doanh nghiệp chưa có thương hiệu trên thị trường thế giới.
Nguyên liệu sản xuất của ngành da giày chiếm đến 80% giá trị sản phẩm trong đó
ngành sản xuất da đóng vai trò quan trọng nhất. Theo LEFASO, nhu cầu da thuộc
năm 2007 của toàn ngành khoảng 350 triệu mét vuông (m2), trong khi đó các nhà
máy thuộc da của Việt Nam mới chỉ sản xuất và đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu
da thuộc của cả nước, 80% còn lại phải nhập khẩu. Do vậy, hầu hết các doanh
nghiệp xuất khẩu giày dép ra thị trường quốc tế đều lựa chọn phương thức xuất
khẩu qua trung gian. Hàng hoá được sản xuất ở Việt Nam sẽ được dán nhãn mác
của một công ty nước ngoài để xuất sang thị trường nhập khẩu. Những thương hiệu
đó thường là những thương hiệu có tiếng trên thị trường thế giới hoặc đã được
người tiêu dùng tại nước nhập khẩu biết đến.
Các doanh nghiệp này không tham gia vào các giai đoạn thiết kế và phân
phối sản phẩm, mà chỉ đóng góp 30% - 50% giá trị sản phẩm trong giai đoạn sản
xuất. Giá trị mà họ đóng góp thêm vào sản phẩm là rất nhỏ bé qua việc “bán” sức
lao động của công nhân. Các doanh nghiệp này khó có thể kiếm thêm lãi bởi chi
phí lao động ngày càng có xu hướng giảm sức cạnh tranh so với các quốc gia khác
trên toàn cầu. Nếu phương thức sản xuất gia công giày dép hạn chế được rủi ro, thì
lợi nhuận thu được cũng bị hạn chế theo. Trong thực tế, để gia tăng giá trị, nhiều
72
doanh nghiệp sản xuất và gia công giày dép đã có cố gắng chuyển sang phương
thức tự sản xuất toàn bộ. Trong khi nhiều doanh nghiệp đã chuyển đổi thành công,
một số doanh nghiệp khác lại gặp nhiều trở ngại, vướng mắc. Điều này thường xảy
ra do sự thiếu hiểu biết về các kiến thức đòi hỏi phải có để chuyển đổi sang cấp độ
tiếp theo.
* Đặc điểm công nghệ sản xuất giày: Đối với doanh nghiệp sản xuất, công
nghệ là yếu tố then chốt quyết định chất lượng sản phẩm mà chất lượng sản phẩm là
điều không thể thiếu trong việc giành lợi thế cạnh tranh. Công nghệ gồm máy móc
thiết bị, quy trình sản xuất, kỹ năng kỹ xảo của công nhân cũng như các bí quyết
công nghệ trong chế tạo làm ra sản phẩm Công nghệ còn là yếu tố quyết định năng
suất lao động từ đó hạ giá thành sản phẩm. Công nghệ phải được doanh nghiệp lựa
chọn một cách tối ưu sao cho phù hợp với tiềm năng, tình hình tài chính của DN,
trình độ quản lý, tay nghề của người lao động, đảm bảo hiệu quả cao nhất.
Hiện nay, trình độ công nghệ của ngành da giày Việt Nam đang ở mức trung
bình và trung bình khá, song lại khá lệ thuộc vào nước ngoài về trang bị máy móc.
Khả năng đầu tư và chuyển giao công nghệ mới phụ thuộc vào nguồn tài chính hạn
hẹp, đội ngũ chuyên gia hiểu biết sâu và cập nhật công nghệ mới còn rất ít và chưa
đáp ứng được nhu cầu phát triển của doanh nghiệp. Kinh nghiệm và khả năng đàm
phán, ký kết hợp đồng về công nghệ còn hạn chế,… Đây là một trong những
nguyên nhân làm hạn chế năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của
ngành trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài. Điều này còn gây khó khăn cho
ngành trong việc cạnh tranh trên thị trường đặc biệt là thị trường quốc tế. Qui trình
công nghệ sản xuất giày là qui trình công nghệ phức tạp kiểu chế biến liên tục, sản
xuất ra sản phẩm phải trải qua nhiều giai đoạn chế biến theo sơ đồ sau:
73
Nguyên vật liệu
QC
QC
Vải, xốp, pu
Cao su hóa chất
Chỉ, ôzê
Quá trình cán các chi tiết cao su:
Quá trình bồi tráng NVL
Thuê
Quá trình cắt chi tiết mũ
- Đế - Viền - Pho hậu - Xốp lưỡi gà - Xốp lót giày
Quá trình may mũ
QC
QC
QC
Quá trình bao gói sản phẩm
Gò, lưu hoá
Sản phẩm hoàn thành nhập kho
QC
Sơ đồ 2.1. Quy trình công nghệ sản xuất giày da trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Nguyên liệu
Bồi
Chặt
May
Thêu
Gò ráp
Kho thành phẩm
Đóng hộp
Sơ đồ 2.2. Quy trình công nghệ sản xuất giày thể thao trên địa bàn tỉnh Hải Dương
74
Sơ đồ 2.3. Quy trình công nghệ sản xuất giày ép dán trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Đóng hộp, thùng Bồi nguyên liệu (Máy Đài Loan)
C ô n g đ o ạ n
1
Xử lý mốc (Máy Đài Loan) Cắt chặt BTP (máy Đài Loan)
Dãy da
ép đế - ép cạnh (Máy Đài Loan)
Kiểm tra
Kiểm tra bán thành phẩm cắt
Vệ sinh CN đánh bóng (Máy ĐL) Thủ công (bôi keo, dập gấp)
C ô n g đ o ạ n
2
May (Máy Nhật - Hàn Quốc - ĐL) Nhổ phom (Máy Đài Loan)
Kiểm tra BTP may mũ Làm lạnh (Máy Đài Loan)
ép đế - ép cạnh (Máy Đài Loan) Gò mũi (Máy Đài Loan)
Định vị (Máy Đài Loan) Bôi keo đế sấy (Máy Đài Loan)
Mài chân gò (Máy Đài Loan) Hấp chân không (Máy Đài Loan)
75
Tất cả các công đoạn trong quy trình công nghệ được thực hiện trong 4 phân
xưởng. Mỗi phân xưởng có thể có các phân xưởng nhỏ. Trong các phân xưởng nhỏ
lại có các tổ, các đội sản xuất.
- Phân xưởng chặt: là phân xưởng đầu tiên trong quá trình công nghệ, khi có
lệnh sản xuất phân xưởng nhận lệnh và lên kho lấy nguyên vật liệu như: vải, bạt,
mút xốp, đế,... để chế biến.
- Phân xưởng may: đây là phân xưởng thứ 2 trong quy trình chế biến NVL sử
dụng là bán sản phẩm của phân xưởng cắt và nguyên vật liệu lấy từ trên kho như:
vải phin, tem. Nhiệm vụ của các phân xưởng là may các chi tiết thành mũ giày hoàn
chỉnh qua các kỹ thuật như: kẻ chỉ, may nẹp vào mũ, mũ giày sau khi may xong sẽ
được chuyển giao cho phân xưởng gò chứ không chuyển cho phân xưởng cán.
May có 2 phân xưởng: phân xưởng may 1 và phân xưởng may 2, trong đó lại
chia thành nhiều tổ, mỗi tổ 1 loại giày, mỗi công nhân trong một tổ thực hiện các
thao tác kỹ thuật riêng.
- Phân xưởng gò ráp: thực hiện song song với phân xưởng may và cắt có
nhiệm vụ: từ cao su và các loại hoá chất cần thiết lấy từ kho vật tư sử dụng sản xuất
các đế giày bằng cao su. Yêu cầu kỹ thuật đối với đế giày là đảm bảo độ nhẹ, bền,
dẻo dai nên giai đoạn này có nhiều bí quyết kỹ thuật cần bảo vệ.
- Phân xưởng gò: đây là phân xưởng nằm trong giai đoạn cuối cùng của quá
trình sản xuất giày sản phẩm tạo ra là những đôi giày hoàn chỉnh theo mẫu mã chất
lượng quy định trong đơn đặt hàng. Giày sau khi gò xong được đưa vào bộ phận lưu
hoá để hấp ở nhiệt độ cao đảm bảo độ bền của giày. Cuối cùng giày được xâu dây
và đóng gói nhập kho.
* Đặc điểm sản phẩm: giày là sản phẩm chịu ảnh hưởng rất lớn của thời tiết,
khí hậu và vùng địa lý. Sản phẩm giày chủ yếu được tiêu thụ nhiều ở các nước ôn
đới và hàn đới, lượng sản phẩm tiêu thụ tăng vọt vào mùa đông. Ngoài việc sử dụng
để bảo vệ và làm êm đôi bàn chân (vì bàn chân chứa nhiều xương hơn tất cả các bộ
phận khác trong cơ thể 52 xương) trong khi thực hiện các hoạt động khác nhau, giày
cũng là sản phẩm của thời trang, nó tôn vinh vẻ đẹp của con người. Do vậy, chủng
76
loại, mẫu mã, màu sắc của giày chịu ảnh hưởng sâu sắc của môi trường xã hội, văn
hóa, tập quán tiêu dùng và thu nhập của dân cư. Giày là một vật dụng thiết yếu
trong đời sống con người vì vậy nó cũng gắn liền với các nền văn hóa của nhân loại.
Với những đặc trưng trên thì giày là sản phẩm có vòng đời ngắn, sự thay đổi mẫu
mã hình thức diễn ra liên tục.
Các đặc điểm của sản phẩm, đặc điểm hoạt động và quy trình công nghệ sản
xuất trên đây ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán đó là do có nhiều khâu trong
quy trình sản xuất và quá trình sản xuất được tổ chức thành nhiều phân xưởng (phân
xưởng chặt; trong phân xưởng chặt lại gồm 2 bộ phận bộ phận cán (bồi) và bộ phận
chặt; phân xưởng may, trong phân xưởng may lại có phân xưởng may 1, may 2, và
một số bộ phận thêu; phân xưởng gò - ráp. Phân xưởng gò - ráp lại gồm có nhiều
chuyền trong mỗi chuyền lại có các tổ) các bộ phận khác nhau (Bộ phận lưu hóa,
(hấp), bộ phận xâu dây, bộ phận đóng gói). Do đó, kế toán cần mở đầy đủ sổ kế
toán, tài khoản kế toán tổng hợp, chi tiết phục vụ cho việc thu nhận, xử lý các thông
tin ở từng phân xưởng, từng bộ phận nhằm cung cấp kịp thời, đầy đủ các thông tin
bộ phận phục vụ cho yêu cầu quản lý. Do sản xuất chia thành nhiều tổ, đội, phân
xưởng sản xuất khác nhau và nhiều bộ phận quản lý riêng biệt nhau. Việc tổ chức
KTQT cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi nếu không tổ chức tốt KTQT sẽ không đảm bảo
việc phân tích và cung cấp thông tin cho các bộ phận. KTQT dựa trên việc mô tả
cách thức hoạt động và tiêu dùng nguồn lực. Như vậy, KTQT gắn liền với tổ chức
và công nghệ của doanh nghiệp. Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường, thông
tin kế toán là nguồn thông tin quan trọng cung cấp cho nhà quản lý, kênh thông tin
đòi hỏi phải trải suốt trong nội bộ doanh nghiệp và do đó các cấp quản lý khác nhau
có thể liên lạc với nhau. KTQT cung cấp các thông tin cụ thể phục vụ cho việc ra
quyết định điều hành quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, những đặc
điểm sản xuất kinh doanh, tính chất của quy trình công nghệ, yêu cầu và trình độ
quản lý của doanh nghiệp là những nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác KTQT
trong doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp sản xuất giày với đặc điểm là sản xuất hàng loạt sản phẩm
77
với khối lượng lớn, sản phẩm được sản xuất đại trà đồng loạt, đồng nhất, được đặt
mua sau khi sản xuất như vậy đòi hỏi kế toán phải thu nhận, xử lý và cung cấp
thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của từng công đoạn, từng bộ
phận sản xuất cũng như của toàn bộ quy trình công nghệ.
2.1.2. Đặc điểm tổ chức quản lý của các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa
bàn tỉnh Hải Dương ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán
Đặc điểm chung về cơ cấu tổ chức quản lý tại các doanh nghiệp sản xuất
giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương được tổ chức theo cơ cấu trực tuyến chức năng.
Đây là một cơ cấu quản lý mà toàn bộ công việc quản lý được giải quyết theo một
kênh liên hệ đường thẳng giữa cấp trên và cấp dưới trực thuộc. Chỉ có lãnh đạo
quản lý ở từng cấp mới có nhiệm vụ và quyền hạn ra mệnh lệnh chỉ thị cho cấp dưới
(Tức là: mỗi phòng, ban của doanh nghiệp chỉ nhận quyết định từ một thủ trưởng
cấp trên theo nguyên tắc trực tuyến). Giám đốc của doanh nghiệp là người ra quyết
định cuối cùng nhưng để hỗ trợ cho quá trình ra quyết định của Giám đốc thì cần
phải có các bộ phận chức năng. Các bộ phận chức năng này không ra lệnh một cách
trực tiếp cho các đơn vị cấp dưới mà chỉ nghiên cứu, chuẩn bị các quyết định cho
lãnh đạo, quản lý và thực hiện việc hướng dẫn lập kế hoạch, tổ chức thực thi, kiểm
tra, giám sát việc thực hiện các mục tiêu trong phạm vi chức năng chuyên môn của
mình. Qua khảo sát thực tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay có khoảng trên 20
doanh nghiệp đang sản xuất các sản phẩm giày. Qua khảo sát các doanh nghiệp sản
xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương đại đa số các doanh nghiệp là doanh nghiệp
sản xuất giày theo phương thức gia công thuần túy. Chủ yếu có qui mô nhỏ và vừa,
địa bàn hoạt động tập trung. Các doanh nghiệp sản xuất giày này có thể chia thành
các nhóm:
Công ty Cổ phần: Công ty Cổ phần giày Hải Dương, Công ty Cổ phần giày
Cẩm Bình, Công ty cổ phần Golden Sun, Công ty Cổ phần sản xuất Thương mại
Thảo Nguyên;
Công ty TNHH: Công ty TNHH Thượng mại NTT, Công ty TNHH Vina
Okamoto, Công ty TNHH Long Sơn, Công ty TNHH giày Continuance Việt Nam,
78
Công ty TNHH MTV may Dũng Anh, Công ty TNHH Sao Vàng, Công ty TNHH
một thành viên Minh Phúc, Công ty TNHH MTV Bằng Nam, Công ty TNHH
Vietory, Doanh nghiệp may tư nhân Phú Triệu, Công ty TNHH sản xuất Tân
Cương, Công ty TNHH Samil Hà Nội Vina, Doanh nghiệp tư nhân Hoa Việt.
Mô hình tổ chức bộ máy quản lý một số doanh nghiệp giày trên địa bàn tỉnh
Hải Dương như sau:
Sơ đồ 2.4. Mô hình tổ chức bộ máy quản lý Công ty Cổ phần giày Hải Dương
Hội đồng quản trị Ban kiểm soát
an gi¸m ®èc
Ban giám đốc
Phó giám đốc hành chính Phó giám đốc SX kinh doanh
Phòng KCS
Phòng Vật tư
Phòng Kế hoạch XNK
Phòng Kế toán - Tài vụ Phòng Kỹ thuật Phòng Cơ điện
Phòng Tổ chức Hành chính
Phân xưởng Gò - Ráp Phân xưởng chặt Phân xưởng may
79
Sơ đồ 2.5. Mô hình tổ chức bộ máy quản lý Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình
Hội đồng quản trị
Phó giám đốc phụ trách sản xuất
Ban giám đốc
Phòng kế toán
Ban cơ điện
Phòng vật tư
Phòng HC
Phòng TCLĐ
Phó giám đốc kỹ thuật phụ trách an toàn, hành chính
Phòng KH XNK Phòng kỹ thuật KCS
PX gò I PX chặt PX may I PX may II PX chuẩn bị PX đế PX gò II PX thêu
Chức năng, nhiệm vụ của các phòng, ban, phân xưởng:
- Công ty hoạt động theo hình thức Công ty cổ phần. Chủ tịch Hội đồng quản
trị kiêm Giám đốc công ty điều hành chung các hoạt động của Công ty và là người
đại diện theo pháp luật của Công ty.
- Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân danh
Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan tới mục đích và quyền lợi của Công ty,
trừ những vấn đề thuộc quyền ĐHĐCĐ quyết định. Hội đồng quản trị xây dựng
định hướng, chính sách tồn tại và phát triển để thực hiện các quyết định của
ĐHĐCĐ thông qua việc hoạch định chính sách, ra quyết định hành động cho từng
thời điểm phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty. Hội đồng quản trị
Công ty hiện có 05 thành viên do Đại hội đồng cổ đông bầu hoặc miễn nhiệm.
- Ban kiểm soát: là cơ quan do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, thay mặt cổ
đông kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh, quản trị và điều hành của Công ty. Ban
80
kiểm soát hoạt động độc lập với hội đồng quản trị và bộ máy điều hành của giám
đốc. Ban kiểm soát Công ty hiện tại có 03 người, 01 trưởng ban và 02 thành viên.
Trưởng ban kiểm soát do các thành viên trong ban bầu.
- Giám đốc: là người đại diện cho công ty, chịu trách nhiệm trước Nhà nước,
Pháp luật, Uỷ ban nhân dân tỉnh về mọi hoạt động của công ty.
+ Giám đốc có nhiệm vụ sau:
. Phụ trách chung về những công việc trọng tâm, chiến lược của công ty;
. Chỉ đạo công tác kinh doanh, Marketing, công tác tổ chức cán bộ, công tác
đối ngoại và đầu tư mở rộng sản xuất...
+ Phó giám đốc có nhiệm vụ sau:
. Phó giám đốc tài chính chỉ đạo công tác kế toán, tài vụ, công tác hành
chính, công tác xây dựng cơ bản, công tác bảo vệ và vệ sinh môi trường.
. Phó giám đốc kinh doanh chỉ đạo công tác sản xuất kinh doanh của công ty.
. Các phó giám đốc là người giúp việc cho giám đốc, giám đốc giao cho
những công việc cụ thể theo mảng chức năng của từng phó giám đốc, chịu trách
nhiệm trước giám đốc và Pháp luật về quyết định của mình.
- Các phòng ban thường bao gồm một số phòng như sau:
Tổ chức cán bộ trong các phòng có trưởng phòng, phó phòng và nhân viên.
+ Phòng Kế toán - tài vụ: thực hiện chế độ hạch toán tổng hợp, tự chủ tài
chính trong doanh nghiệp, quản lý các loại vốn của công ty. Xây dựng kế hoạch
tài chính, hạch toán kế toán, phân tích hoạt động kinh tế và các chức năng tài
chính của công ty. Thực hiện nghiêm chỉnh pháp lệnh thống kê kế toán, chế độ
báo cáo tài chính hiện hành của doanh nghiệp nhà nước, thường xuyên kiểm tra
hoạt động tài chính của các đơn vị thành viên (nếu có).
+ Phòng tổ chức hành chính (phòng TCHC): có nhiệm vụ tiếp khách Công
ty, quản lý các giấy tờ thuộc hành chính. Lập kế hoạch và kiểm tra trình độ lao
động trong từng Công ty như: lương, thưởng, phụ cấp, bảo hộ lao động giúp giám
đốc quản lý về mặt con người, nắm được năng lực của từng người để phân công,
bố trí phù hợp. Kết hợp với các phân xưởng để quản lý định mức lao động từ đó
81
tính thưởng cho từng người, tính các sổ BHXH cho từng người lao động và các
khoản khác.
+ Phòng vật tư: lập kế hoạch điều động sản xuất cho Công ty, khai thác và
thu mua vật tư cho sản xuất, xây dựng kế hoạch sản xuất từng ngày, từng tháng,
từng quý, từng năm. Có kế hoạch cung cấp vật tư cho từng phân xưởng theo tình
hình thực tế đồng thời nắm vững lượng vật tư xuất ra cho sản xuất, lượng vật tư tồn
kho, lượng thiếu hụt, dự tính theo kế hoạch thời điểm cung ứng vật tư cho sản xuất
kịp thời.
+ Phòng kế hoạch xuất - nhập khẩu (phòng KDXNK): khai thác các đơn
hàng, làm kế hoạch sản xuất giày và kế hoạch nhập nguyên vật liệu, máy móc thiết
bị khác phối hợp với phòng kỹ thuật, theo đơn đặt hàng thiết kế những mẫu mới phù
hợp với thị trường tiêu thụ.
+ Phòng kỹ thuật: có nhiệm vụ nghiên cứu cơ cấu mặt hàng, thiết kế mẫu,
chế tạo sản phẩm chào hàng phù hợp từng nước, từng mùa. Chế thử sản phẩm đã kí
hợp đồng, lập quy trình công nghệ, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật, chất liệu sản
phẩm, tổ chức hướng dẫn kiểm tra quản lý chất lượng sản phẩm, lập kế hoạch sửa
chữa, bảo dưỡng thiết bị theo định kỳ.
+ Phòng quản lý chất lượng (phòng QLCL): có nhiệm vụ bám sát quá trình
sản xuất để cùng các phân xưởng kiểm tra chất lượng sản phẩm từng công đoạn,
quản lý chất lượng ở mọi khâu của quá trình sản xuất.
+ Phòng cơ điện: bố trí điện, nước, năng lượng cho sản xuất và phục vụ cho
các hoạt động khác của Công ty.
- Các phân xưởng bao gồm 3 phân xưởng:
+ Phân xưởng chặt: gồm hai bộ phận:
. Bộ phận cán (phân xưởng bồi) chia làm ba tổ, có nhiệm vụ cán một số
nguyên liệu cần phải được áp dính vào nhau trước khi đem chặt.
. Bộ phận chặt: chia làm 3 tổ có nhiệm vụ nhận nguyên liệu từ kho là các loại
da, giả da và một số nguyên liệu đã cán do bộ phận cán chuyển sang.
+ Phân xưởng may: chia làm 3 phân xưởng nhỏ:
82
Phân xưởng may I, phân xưởng may II, phân xưởng may III, và một số bộ
phận thêu. Bộ phận thêu nhận các chi tiết từ xưởng chặt và thêu trang trí theo các
mẫu thêu khác nhau tuỳ từng mẫu giày. Sau đó chuyển sang xưởng may, phân
xưởng may nhận những chi tiết nhỏ của một đôi giày do bộ phận thêu chuyển sang
cùng với các vật liệu phụ khác từ kho để may thành mũ giày.
+ Phân xưởng gò - ráp: chia thành hai dây chuyền. Mỗi dây chuyền có 3 tổ.
Xưởng này có nhiệm vụ nhận đế và các chất phụ gia từ kho chủ yếu là keo, nhận
các đôi giày từ xưởng may chuyển sang để gò thành đôi giày hoàn chỉnh.
Để việc quản lý sản xuất ở từng phân xưởng được chặt chẽ, công ty bố trí
mỗi phân xưởng một quản đốc, một phó quản đốc, một kế toán và một thống kê
xưởng. Các nhân viên xưởng này có nhiệm vụ theo dõi, giám sát và đôn đốc sản
xuất đảm bảo đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng sản phẩm cũng như việc quản lý chi
phí, tránh tình trạng lãng phí các yếu tố sản xuất. Một mặt tạo ra tính chủ động sản
xuất trong công ty và tăng tinh thần trách nhiệm trong quản lý và việc sử dụng vốn
ở các phân xưởng…
Những đặc điểm cơ bản về quản lí của các doanh nghiệp sản xuất giày trên
địa bàn tỉnh Hải Dương đã ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức công tác kế toán trên
các góc độ sau đây:
Ảnh hưởng đối với việc lựa chọn tổ chức bộ máy kế toán để thực hiện KTTC
và KTQT
Xuất phát từ đặc điểm chung về cơ cấu tổ chức quản lý tại doanh nghiệp sản
xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương là cơ cấu trực tuyến chức năng. Đó là hoạt
động quản lý theo cơ chế quản lý một cấp quản lý. Từ đặc điểm này dẫn đến hầu hết
các doanh nghiệp đều lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung còn gọi là
tổ chức kế toán một cấp. Mặt khác đại bộ phận các doanh nghiệp sản xuất giày trên
địa bàn tỉnh Hải Dương có địa bàn hoạt động tập trung, quy mô nhỏ nên việc lựa
chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung là hợp lí, đảm bảo sự lãnh đạo thống
nhất tập trung đối với công tác kế toán trong doanh nghiệp, cung cấp thông tin kịp
thời, thuận tiện cho việc phân công, chuyên môn hóa người làm kế toán, xử lý thông
83
tin nhanh chóng. Đồng thời, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này dễ dàng ứng
dụng tin học trong công tác kế toán. Hầu hết các doanh nghiệp thực hiện gia công
một số chi tiết của sản phẩm giày xuất khẩu. Qua khảo sát thực tế các doanh nghiệp
sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương, đại bộ phận các doanh nghiệp áp dụng
mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung, kết hợp KTTC và KTQT trong từng
phần hành kế toán.
Ảnh hưởng tới việc thu nhận và cung cấp thông tin cho các bộ phận
Tùy thuộc vào yêu cầu hạch toán kinh tế, nhu cầu thông tin trong quản lý
cũng như trình độ hạch toán kinh tế và quản lý kinh tế của doanh nghiệp, phối hợp
chuyên môn giữa các bộ phận khác nhau có liên quan cho công tác thu thập số liệu,
sử dụng số liệu để cùng tham gia nhận định, đánh giá các kết quả phân tích đạt
được, từ đó làm cơ sở ra quyết định. Thông tin của kế toán cần được cung cấp cho
người sử dụng đúng mục đích và đối tượng, các đối tượng sử dụng thông tin theo
các cấp độ quản trị khác nhau. Yêu cầu và trình độ quản lý càng cao, càng đòi hỏi
phải tổ chức công tác KTQT để cung cấp thông tin cho nhà quản trị nắm bắt kịp
thời, đầy đủ mọi thông tin cụ thể chi tiết, để cung cấp thông tin cho việc ra quyết
định của nhà quản lý.
Ảnh hưởng tới việc lựa chọn hình thức kế toán
Do trình độ chuyên môn nghiệp vụ của những người làm kế toán còn hạn
chế, việc lựa chọn hình thức kế toán Nhật ký chung hoặc hình thức kế toán Chứng
từ ghi sổ là phù hợp với các doanh nghiệp sản xuất giày. Mặt khác, hình thức kế
toán Nhật ký chung và hình thức chứng từ ghi sổ có rất nhiều ưu điểm: dễ ghi chép,
thuận tiện cho việc phân công, phân nhiệm đối với những người làm kế toán hơn
các hình thức kế toán khác.
Ảnh hưởng đến việc lựa chọn danh mục tài khoản kế toán dùng cho KTTC và
dùng cho KTQT
Việc vận dụng hệ thống tài khoản kế toán sử dụng cho KTTC hợp lý nhằm
lựa chọn được các tài khoản tổng hợp và tài khoản chi tiết phù hợp là một trong các
vấn đề cần được chú trọng trong khi nghiên cứu đặc điểm của doanh nghiệp sản
84
xuất giày. Trường hợp này, các doanh nghiệp cần căn cứ vào hệ thống tài khoản kế
toán ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ - BTC ngày 20/3/2006 nay thay thế
bằng TT200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/20014 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính để lựa chọn các tài khoản dùng cho KTTC thích hợp với đặc điểm cụ thể của
doanh nghiệp. Đồng thời, căn cứ vào yêu cầu quản lý cụ thể đối với các chỉ tiêu
quản trị để thiết lập hệ thống tài khoản kế toán sử dụng cho KTQT.
Ảnh hưởng đến việc thực hiện hệ thống báo cáo tài chính
Việc áp dụng và hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính hợp lý, nhằm cung
cấp được những thông tin cần thiết phục vụ cho công tác quản lý của các doanh
nghiệp sản xuất giày cũng như các cơ quan chức năng của Nhà nước là một yêu cầu
rất cơ bản. Do đó, đây cũng là vấn đề cần được nghiên cứu để hoàn thiện. Nhìn
chung, báo cáo tài chính của doanh nghiệp phải được thiết kế đơn giản, dễ hiểu, bao
gồm cả hệ thống báo cáo bắt buộc và hệ thống báo cáo hướng dẫn. Các chỉ tiêu
phản ánh trong báo cáo cũng cần đảm bảo đơn giản, dễ hiểu và phản ánh đầy đủ các
thông tin phục vụ yêu cầu quản lý của mỗi doanh nghiệp.
2.2. Thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản
xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương
2.2.1. Thực trạng tổ chức bộ máy kế toán
Mỗi doanh nghiệp sản xuất giày có đặc điểm khác nhau về quy mô sản xuất
nhưng đại đa số đều có địa bàn hoạt động tập trung, quy mô nhỏ và vừa. Qua bảng
phụ lục 1a, 1b, 1c ta thấy ngành nghề kinh doanh chính là thực hiện gia công gia công
giày dép hoặc gia công một số chi tiết của sản phẩm giày: đế, mũi. Các doanh nghiệp
sản xuất giày trên địa bàn Hải Dương thường tồn tại dưới hình thức sở hữu là Công ty
cổ phần, Công ty TNHH, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. (Xem phụ lục số
1a, 1b, 1c). Các doanh nghiệp có qui mô lớn thường là các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài như công ty TNHH giày Continuance Việt Nam, Công ty TNHH Samil
Hà Nội, Công ty TNHH giày Panta Việt Nam, Công ty Cổ phần Golden Sun. Các
doanh nghiệp này chủ yếu hoạt động theo mô hình tổ chức đã thành công của công ty
mẹ ở nước ngoài. Qua bảng phụ lục 1a, ta thấy thời điểm 31/12/2012 trên địa bàn tỉnh
85
Hải Dương có tổng số là 15.252 lao động làm việc trong lĩnh vực sản xuất giày dép
thì có đến 10.064 lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm
65,98%.
Năm 2013 với 16.472 lao động thì có đến 12.019 lao động sản xuất giày là
của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 72,69%. Năm 2014 với 15.851
lao động trong đó lao động trong các công ty có vốn đầu tư nước ngoài là 10.353
chiếm 65,31%. Năm 2015 với 18.510 lao động thì có 16.245 lao động trong doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 87,76%. Qua đó có thể thấy các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng mở rộng về qui mô bởi đó là các mô
hình tổ chức quản lý đã thành công ở công ty mẹ.
Đại đa số các doanh nghiệp hoạt động theo phương thức gia công xuất khẩu,
một số ít doanh nghiệp sản xuất giày để bán (chủ yếu là giày thể thao) và có những
doanh nghiệp sản xuất kết hợp cả gia công và sản xuất để bán. Qua khảo sát các
doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương cho thấy phần lớn các
doanh nghiệp này đều áp dụng tổ chức bộ máy kế toán tập trung có kết hợp KTTC
và KTQT trong từng phần hành kế toán. Tùy theo đặc điểm cụ thể và địa bàn hoạt
động của từng doanh nghiệp, các doanh nghiệp thường lựa chọn một trong ba mô
hình tổ chức bộ máy kế toán đang được áp dụng rộng rãi ở nước ta hiện nay. Đó là
mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung, mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán
và mô hình tổ chức bộ máy kế toán hỗn hợp (vừa tập trung vừa phân tán). Trong tổ
chức bộ máy kế toán của các doanh nghiệp sản xuất giày đều phân công nhân viên
kế toán của các bộ phận kế toán đảm nhận cả phần KTTC và KTQT, tức là thực
hiện mô hình kết hợp giữa KTTC và KTQT trong cùng bộ máy kế toán. Tuy nhiên,
ở hầu hết các doanh nghiệp sản xuất giày hiện nay, KTQT chưa được chú trọng
nhiều. Qua khảo sát 20 (hai mươi) doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải
Dương cho thấy, có 90% doanh nghiệp đã lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán
tập trung và 10% doanh nghiệp đã lựa chọn mô hình tổ chức công tác kế toán kết
hợp hai hình thức trên. Cụ thể, số liệu khảo sát về mô hình tổ chức bộ máy kế toán
áp dụng tại các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
86
Bảng 2.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán áp dụng trong các đơn vị khảo sát
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán Mô hình tổ chức bộ máy kế toán hỗn hợp
Cộng Số lượng (Công ty) 18 0 2 20 Phần trăm (%) 90 0 10 100
Nguồn: Khảo sát thực tế theo hình thức phiếu điều tra xem chi tiết phụ lục số 21a
Theo mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung, toàn doanh nghiệp có một
phòng kế toán ở đơn vị hành chính, bao gồm các bộ phận kế toán đảm nhiệm từng
phần hành kế toán riêng biệt nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhiệm vụ cơ
bản của phòng kế toán là thực hiện việc ghi chép kế toán tổng hợp và kế toán chi
tiết tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến các hoạt động của đơn vị.
Các bộ phận phụ thuộc hoặc trực thuộc đơn vị chỉ bố trí từ một đến hai nhân viên
hạch toán kinh tế. Các nhân viên này có nhiệm vụ ghi chép ban đầu, lập chứng từ
các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại bộ phận đơn vị, định kỳ chuyển về phòng kế toán
đơn vị chính kiểm tra, xử lý và ghi sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết. Các bộ
phận kế toán ở các doanh nghiệp này thường được bố trí gồm các phần hành kế toán
được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.6. Tổ chức bộ máy kế toán
Kế toán trưởng
...
Bộ phận kế toán nguồn vốn, quỹ
Bộ phận kế toán TSCĐ
Bộ phận kế toán...
Bộ phận kế toán tổng hợp Bộ phận kế toán vốn bằng tiền và t.toán Bộ phận kế toán chi phí và tính ZSP
Bộ phận kế toán DT và xác định KQKD
87
Kế toán trưởng: là người chịu trách nhiệm trước giám đốc doanh nghiệp về
việc tổ chức công tác kế toán, tài chính tại doanh nghiệp, thực hiện việc hướng dẫn
các nhân viên kế toán trong bộ máy kế toán làm tốt công tác kế toán theo đúng chế
độ Nhà nước quy định và quy trình kế toán do doanh nghiệp quy định.
Bộ phận kế toán tổng hợp: bộ phận này thường có một kế toán viên kế toán
có trình độ chuyên môn khá tốt hoặc một phó phòng kế toán đảm nhiệm một số
phần hành kế toán mà chưa bố trí cho các bộ phận kế toán khác, đồng thời có nhiệm
vụ tổng hợp số liệu, tài liệu do các bộ phận kế toán khác gửi đến để lập báo cáo tài
chính toàn doanh nghiệp.
Bộ phận kế toán TSCĐ: bộ phận này thường có một số nhân viên kế toán
thực hiện toàn bộ các công việc ghi chép KTTC và KTQT về tài sản dài hạn như
TSCĐ, các khoản đầu tư dài hạn khác và tài sản ngắn hạn như các loại nguyên vật
liệu, công cụ, dụng cụ,... cung cấp thông tin tổng hợp cho bộ phận kế toán tổng hợp
để lập báo cáo tài chính, đồng thời cung cấp thông tin chi tiết để lập các báo cáo
quản trị theo yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp.
Bộ phận kế toán vốn bằng tiền và thanh toán: bộ phận này thường có một số
nhân viên kế toán thực hiện việc ghi chép KTTC và KTQT về các nghiệp vụ thanh
toán với khách hàng, thanh toán với người bán và giao dịch với ngân hàng, cung
cấp thông tin tổng hợp cho kế toán tổng hợp để lập báo cáo tài chính và cung cấp
các thông tin chi tiết để lập các báo cáo quản trị theo yêu cầu quản lý cụ thể về các
khoản thanh toán của doanh nghiệp.
Bộ phận kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm: bộ phận này thường có
một số nhân viên thực hiện toàn bộ việc ghi chép các nghiệp vụ về chi phí và tính
giá thành sản phẩm, cung cấp thông tin tổng hợp cho bộ phận kế toán tổng hợp để
lập báo cáo tài chính và cung cấp thông tin chi tiết để lập các báo cáo quản trị theo
yêu cầu quản lý cụ thể về chi phí và giá thành của doanh nghiệp.
Bộ phận kế toán doanh thu và các định kết quả kinh doanh: bộ phận này
thường có một số nhân viên thực hiện việc ghi chép KTTC về các nghiệp vụ về bán
hàng, tính toán kết quả kinh doanh và cung cấp thông tin tổng hợp cho bộ phận kế
88
toán tổng hợp để lập báo cáo tài chính. Đồng thời, cung cấp thông tin chi tiết để lập
các báo cáo quản trị theo yêu cầu quản lý cụ thể về doanh thu và kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp.
Khảo sát thực tế về trình độ của người làm kế toán trong các doanh nghiệp
sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Bảng 2.2. Trình độ của người làm kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất giày
Trình độ chuyên môn đào tạo Số lượng (DN) Tỷ lệ (%)
1. Sau đại học 2 1,8
2. Đại học 81 72,97
3. Cao đẳng 22 19,81
4. Trung cấp 6 5,4
5. Sơ cấp - -
Cộng 111 100
Nguồn: Khảo sát thực tế theo hình thức phiếu điều tra chi tiết phụ lục số 21b
Qua bảng trên thấy rằng nhân viên có trình độ đại học chiếm tỷ trọng cao
nhất (72,97%), trình độ cao đẳng (19,81%), trình độ sau đại học chỉ chiếm 1,8% chủ
yếu là các kế toán trưởng, nhìn chung số nhân viên này đáp ứng được yêu cầu
chuyên môn nghiệp vụ của doanh nghiệp. Trong đó, một số đơn vị có tỷ lệ người
làm kế toán tốt nghiệp đại học khá cao, chiếm tới hơn 100% trong tổng số những
người làm kế toán của đơn vị. Hàng năm, hầu hết trong số này đã được bồi dưỡng,
cập nhật kiến thức về kế toán khi có sự thay đổi, bổ sung chế độ kế toán thông qua
các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn. Do đó, có khả năng chuyên môn vững vàng
100% doanh nghiệp sản xuất giày đã sử dụng máy vi tính trong công tác kế toán nên
việc cung cấp, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin khá kịp thời, đáp ứng yêu cầu
điều hành sản xuất kinh doanh của lãnh đạo doanh nghiệp sản xuất giày.
2.2.2. Thực trạng sử dụng các phương pháp kế toán để thu thập, xử lý, phân
tích cung cấp thông tin kế toán
Bản chất của kế toán được thể hiện là quá trình thu nhận xử lý những dữ liệu
có tính chất tài chính để cung cấp thông tin cho những đối tượng cần thiết. Quá
trình kế toán được bắt đầu từ khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lập chứng từ, ghi sổ,..
89
lập các báo cáo kế toán. Kế toán sử dụng hệ thống các phương pháp kế toán
(Phương pháp chứng từ, phương pháp tài khoản, phương pháp tính giá, phương
pháp tổng hợp cân đối kế toán) để thực hiện quá trình thu nhận, ghi chép, tổng hợp,
phân tích và cung cấp các thông tin kế toán.
Thực trạng thu thập thông tin kiểm tra thông tin đầu vào của hệ thống kế toán
Đối với các doanh nghiệp chỉ sản xuất theo phương thức gia công xuất khẩu
Thu nhận thông tin thực hiện quá khứ: các doanh nghiệp này chủ yếu sản xuất hàng
gia công vì khách hàng cung cấp toàn bộ nguyên liệu, mẫu mã doanh nghiệp tổ
chức sản xuất phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng sản phẩm và đặc biệt thời gian
giao hàng. Hàng gia công có đặc điểm là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm tỉ
trọng rất nhỏ trong tổng giá thành do toàn bộ NVL kể kể cả bao bì do khách hàng
(bên đặt gia công) cung cấp theo giá CIF tại cảng Hải Phòng hoặc theo các điều
kiện của hợp đồng gia công.
Về tổ chức chứng từ vật liệu; kế toán chỉ quản lý về mặt số lượng của NVL
nhập kho theo từng hợp đồng gia công và khi có lệnh xuất thì cung cấp cho các
phân xưởng. Kế toán không hạch toán phần giá vốn thực tế của bản thân NVL dùng
cho sản xuất mà chỉ hạch toán phần chi phí vận chuyển số NVL đó từ cảng về kho
vào khoản mục chi phí NVL trực tiếp phục vụ công tác tính giá thành sản phẩm
trong kỳ. Căn cứ vào hệ thống chứng từ kế toán do Bộ tài chính ban hành, các
doanh nghiệp sản xuất giày này tùy theo đặc điểm cụ thể của từng doanh nghiệp về
nội dung, số lượng, loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh để tổ chức vận dụng hệ thống
chứng từ kế toán phù hợp. Một số doanh nghiệp sản xuất giày sử dụng danh mục
chứng từ kế toán ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ/BTC ngày 20/03/2006 và
Thông tư số 244/2009/TT- BTC nay thay thế bằng TT200/2014/TT-BTC ban hành
ngày 22/12/2014 của Bộ trưởng Bộ tài chính chủ yếu là các công ty cổ phần, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, một số doanh nghiệp sử dụng danh mục chứng từ
kế toán được ban hành theo QĐ số 48/2006/QĐ/BTC ngày 14/9/2006 và Thông tư
số 138/ 2010/ TT- BTC đó là các công ty TNHH MTV, Doanh nghiệp tư nhân,
Công ty TNHH...
90
Thu nhận thông tin tương lai: Trách nhiệm của các nhà quản trị trong doanh
nghiệp là điều hành quản lý các hoạt động của doanh nghiệp. Các chức năng của
nhà doanh nghiệp tất cả đều xoay quanh vấn đề ra quyết định. Để ra quyết định thì
cần phải có thông tin một trong những thông tin không thể thiếu được đó là thông
tin tương lai. Các thông tin tương lai thường là các thông tin không có sẵn do đó kế
toán đặc biệt là KTQT phải sử dụng một số phương pháp, kỹ thuật, công cụ để thu
thập trình bày thành các dạng phù hợp với nhu cầu của các nhà quản trị. Qua khảo
sát một số doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương cho thấy phần
lớn các doanh nghiệp sản xuất giày chưa thực sự làm tốt khi thu nhận thông tin
tương lai đó là thông tin dự báo: dự báo thị trường, thông tin về đánh giá chất lượng
sản phẩm, dự báo nhu cầu tiêu thụ, dự báo nguồn hàng. Đặc biệt là các thông tin về
về thị trường sản phẩm là vấn đề cốt yếu mà doanh nghiệp phải quan tâm nhiều nhất
bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Công ty cổ
phần giày Hải Dương, Công ty cổ phần giày Cẩm Bình, Công ty TNHH Bằng Nam,
Công ty TNHH Việt Phát phòng kinh doanh xuất nhập khẩu làm thêm nhiệm vụ
nghiên cứu thị trường, công việc nghiên cứu thị trường không được đầu tư thỏa
đáng. Đại bộ phận các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương sản
xuất theo đơn đặt hàng cho các đối tác nước ngoài do đó việc thu thập thông tin thị
trường, nghiên cứu thị trường là những hoạt động quan trọng của mỗi doanh nghiệp.
Nếu chúng ta không đầu tư nghiên cứu các thông tin thị trường một cách cụ thể các
doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương rất có thể bị đối tác trốn
đơn hàng hoặc sản xuất không đáp ứng nhu cầu đối tác.
Qua khảo sát thực trạng về tổ chức chứng từ và ghi chép ban đầu trong các
doanh nghiệp sản xuất giày như: Công ty Cổ phần giày Hải Dương, Công ty TNHH
Công Nghiệp Oriental Sports Việt Nam, Công ty TNHH Giày Continuance Việt
Nam, Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình, cho thấy:
- Thực trạng tổ chức hạch toán ban đầu, lập chứng từ kế toán để ghi nhận
các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
* Chứng từ kế toán tiền mặt: đây là các chứng từ kế toán liên quan đến tiền
91
tiền mặt tại quỹ, các chứng từ này sử dụng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh liên quan đến tăng, giảm tiền mặt tại quỹ gồm: Phiếu thu, Phiếu chi, Giấy đề
nghị tạm ứng, Giấy đề nghị thanh toán, Bảng kê quỹ… cụ thể là:
Phiếu thu, Phiếu chi (Mẫu 01-TT; 02-TT): khi phát sinh các nghiệp vụ thu,
chi tiền mặt, bộ phận kế toán thanh toán lập Phiếu thu hoặc phiếu chi thành 2 hoặc 3
liên. Các chứng từ này được Kế toán trưởng duyệt và đó là cơ sở để thủ quỹ thu, chi
tiền mặt, vào sổ quỹ, sau đó chuyển cho kế toán thanh toán để ghi sổ kế toán tổng
hợp và sổ kế toán chi tiết.
Bảng kiểm kê quỹ (Mẫu 08a-TT, 08b-TT): chứng từ này được lập khi thực
hiện việc kiểm kê quỹ. Bảng kiểm kê quỹ được lập thành 2 liên và chi tiết theo từng
loại tiền.
* Chứng từ kế toán hàng tồn kho: các chứng từ này gồm: Phiếu nhập kho;
Phiếu xuất kho; Biên bản giao nhận vật tư; Biên bản kiểm kê sản phẩm… Qua khảo
sát thực trạng về lập các chứng từ này cho thấy:
Tất cả các hoạt động kinh tế xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp liên quan đến việc nhập, xuất vật liệu đều phải được lập chứng từ kế
toán đầy đủ, kịp thời, chính xác theo đúng chế độ ban đầu về chứng từ đã được Nhà
nước ban hành đồng thời phải đảm bảo những thủ tục nhất định.
Do đặc điểm của hầu hết các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh
Hải Dương là sản xuất gia công do vậy chi phí NVL chính (các loại da, giả da, vải)
chỉ bao gồm chi phí vận chuyển nội địa, bốc dỡ NVL chính do khách hành cung
ứng từ cảng về đến kho. NVL gia công được theo dõi trên tài khoản riêng (Hàng
hóa nhận gia công).
Thủ tục nhập kho vật liệu nhập khẩu:
Căn cứ vào hoá đơn thương mại, bản kê chi tiết hàng hoá nhập khẩu, biên
bản kiểm tra vật tư, Phòng Kế hoạch vật tư tiến hành làm thủ tục nhập kho. Phiếu
nhập kho được viết thành 4 liên:
+ Một liên do Phòng vật tư giữ và lưu lại;
+ Một liên chuyển cho kế toán thanh toán;
92
+ Một liên chuyển cho thủ kho;
+ Một liên chuyển cho kế toán vật liệu.
Trong phiếu nhập kho căn cứ vào số lượng thực nhập để ghi vào cột số lượng
rồi căn cứ vào giá trên hoá đơn ngoại để ghi vào cột giá đơn vị và cột thành tiền.
Phiếu nhập kho phải được người giao vật tư, thủ kho, người viết phiếu, phụ trách
cung tiêu và thủ trưởng đơn vị ký.
Thủ tục nhập kho vật liệu mua trong nước:
Vật tư mua trong nước được chia làm hai loại:
- Loại phục vụ cho sản xuất có số lượng tương đối ổn định thì có ký kết hợp
đồng kinh tế.
- Loại phục vụ cho sản xuất, văn phòng phẩm, thay thế có số lượng nhỏ,
không ổn định thì không ký kết hợp đồng kinh tế mà phải lập dự trù mua.
Để làm thủ tục nhập kho cần có hợp đồng, hoá đơn tài chính có dấu của đơn
vị bán, biên bản kiểm nghiệm vật tư, dự trù mua vật tư. Sau khi có đầy đủ các yếu
tố cần thiết, Phòng vật tư tiến hành làm thủ tục nhập kho. Phiếu nhập kho được viết
làm 4 liên:
+ Một liên lưu tại Vật tư;
+ Một liên do người đi mua, người cung cấp giữ cùng hoá đơn tài chính để
làm thủ tục thanh toán;
+ Một liên giao cho kế toán vật tư;
+ Một liên giao cho thủ kho.
Hình thức ghi chép trên phiếu nhập kho cũng tương tự như việc ghi trên
phiếu nhập kho vật liệu nhập khẩu.
Ghi chú: Khi vật tư về nhập kho, thủ kho có trách nhiệm sắp xếp các loại vật
liệu trong kho một cách hợp lý, khoa học, đảm bảo theo yêu cầu từng loại, từng thứ
vật liệu. Ngoài ra còn tiện lợi cho việc theo dõi công tác nhập, xuất kho, kiểm tra
số tồn kho. Vật liệu trong kho của doanh nghiệp chủ yếu dùng cho sản xuất sản
phẩm, cho quản lý sản xuất và cho quản lý doanh nghiệp, ngoài ra còn trao đổi với
đơn vị khác.
93
Thủ tục xuất kho vật liệu:
Tại doanh nghiệp vật tư được chia làm 2 loại:
- Loại vật tư đã xác định được mức tiêu hao;
- Loại vật tư chưa xác định được mức tiêu hao.
Xuất kho vật tư xác định được mức tiêu hao: là loại phục vụ cho sản xuất
sản phẩm.
+ Dựa vào định mức tiêu hao nguyên vật liệu sản phẩm và chỉ lệnh sản xuất,
phòng KHVT tiến hành viết phiếu xuất kho vật tư theo hạn mức và giao lại cho bộ
phận sản xuất để đến kho vật tư lĩnh vật tư. Khi thực hiện xuất đúng số lượng, thủ
kho và người nhận ký vào phiếu xuất kho.
+ Phiếu xuất kho vật tư theo hạn mức được viết làm 4 liên:
. Một liên lưu tại phòng Vật tư;
. Một liên lưu tại kho;
. Một liên người lĩnh vật tư giữ;
. Một liên gửi cho phòng kế toán để kế toán vật tư hạch toán.
+ Khi viết phiếu xuất kho tiến hành viết phiếu cho từng phân xưởng, từng
đơn đặt hàng. Đối với những đơn hàng có số lượng lớn thì việc viết phiếu xuất kho
được tiến hành theo từng phần. Việc xuất kho vật tư này được thể hiện qua phiếu
xuất kho theo hạn mức.
Xuất kho vật tư không định mức
Loại này bao gồm:
- Vật tư sản xuất (kể cả xuất bổ sung khi dùng quá định mức);
- Vật tư thay thế, sửa chữa, bảo trì, vệ sinh máy móc, thiết bị;
- Văn phòng phẩm.
Khi xuất kho vật tư ở loại này phải căn cứ vào dự trù đã được duyệt, thủ tục
viết phiếu và số lượng phiếu viết cho một lần xuất kho tương tự như việc viết phiếu
xuất kho vật tư theo hạn mức.
* Chứng từ kế toán về TSCĐ: các chứng từ kế toán về TSCĐ gồm: Biên bản
giao nhận TSCĐ (Mẫu 01-TSCĐ); Biên bản nghiệm thu TSCĐ; Biên bản thanh lý
94
TSCĐ (Mẫu 02-TSCĐ)…
* Chứng từ kế toán về lao động tiền lương: Với đặc thù của doanh nghiệp
sản xuất đó là sử dụng rất nhiều các yếu tố đầu vào đó là nguyên, nhiên, vật liệu,
công nghệ, sức lao động để tạo ra sản phẩm. Do đặc điểm của tiền lương là trả
lương cho người lao động theo sản phẩm, theo thời gian, theo lương khoán tùy theo
lao động làm ở bộ phận nào? Tính chất công việc, ngoài ra số tiền mà người lao
động nhận được còn gồm tiền làm đêm, làm thêm giờ, phụ cấp các loại. Các chứng
từ này gồm: Bảng chấm công (Mẫu 01a-LĐTL); Bảng thanh toán lương (Mẫu 02-
LĐTL); Bảng thanh toán làm thêm giờ (Mẫu 06-LĐTL); Bảng phân phối thu nhập
theo lao động; Bảng kê các khoản trích theo lương (Mẫu 10-LĐTL)..
Do đặc điểm sản xuất gia công là chủ yếu nên chi phí nhân công trực tiếp
chiếm tỉ trọng lớn khoản trên 50% chi phí. Bao gồm các khoản tiền lương của công
nhân trực tiếp sản xuất, được tính trên đơn giá lương sản phẩm (bao gồm sản phẩm
trong định mức và sản phẩm vượt định mức có đơn giá khác nhau) và các khoản
trích theo lương. Khi bắt đầu đưa một đơn hàng vào sản xuất, phòng kỹ thuật sẽ tiến
hành cho sản xuất thử và ấn định thời gian hoàn thành làm căn cứ để tính đơn giá
căn cứ vào đó phòng kế hoạch sẽ tổng hợp lại thành bảng đơn giá sản phẩm cho
từng đơn hàng. Qua khảo sát thực tế một số doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn
tỉnh Hải Dương Công ty cổ phần giày Hải Dương, Công ty cổ phần giày Cẩm Bình,
Công ty TNHH Việt Phát: Người phụ trách tại các bộ phận sử dụng lao động
(phòng, phân xưởng, tổ, đội) theo dõi số công thực hiện của từng lao động trên các
bảng chấm công. Cuối tháng các phân xưởng căn cứ vào bảng chấm công, số giờ
làm thêm, đơn giá lương sản phẩm, hệ số phụ cấp các chức danh để lập bảng thanh
toán tiền lương cho công nhân từng tổ trong phân xưởng và bảng tổng hợp tiền
lương toàn phân xưởng quản đốc sau đó trình lên phòng Tổ chức Hành chính để
kiểm tra. Bảng tính lương của các phân xưởng sau khi được kiểm tra được chuyển
về phòng Kế toán tài chính, kế toán thanh toán căn cứ vào bảng lương của các đơn
vị để lập bảng thanh toán lương của toàn bộ cán bộ, công nhân viên và tiến hành
cập nhật vào phần mềm trên các TK 334, 338, 622,... Sau khi cập nhật dữ liệu vào
95
phần mềm kế toán có thể in ra sổ chi tiết, sổ của TK 622, TK 338 và các TK khác có
liên quan.
- Thực trạng tổ chức kiểm tra thông tin phản ánh trên chứng từ kế toán
Để đảm bảo tính đúng đắn của việc lập chứng từ kế toán, làm cơ sở pháp lý
cho việc ghi sổ kế toán thì việc kiểm tra chứng từ kế toán là rất quan trọng. Tuy
nhiên, ở một số doanh nghiệp sản xuất giày, công tác kiểm tra lần đầu chứng từ kế
toán của người làm kế toán còn hạn chế; một số chứng từ không ghi ngày, tháng,
thậm chí thiếu một số nội dung quy định khác như các đơn vị tính phụ, thời hạn
thanh toán, phương thức vận chuyển...
Thông thường, kế toán trưởng hoặc kế toán tổng hợp là người kiểm tra chứng
từ kế toán lần hai. Các chứng từ kế toán được kiểm tra lần hai nhìn chung đã phát
hiện được những thiếu sót của những người lập chứng từ cũng như chứng từ đã
được kiểm tra lần đầu. Từ đó có sự bổ sung, chỉnh sửa phù hợp.
- Thực trạng phân loại, sắp xếp chứng từ kế toán
Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong các doanh nghiệp sản xuất giày rất đa
dạng nên các doanh nghiệp này cũng sử dụng nhiều loại chứng từ khác nhau để
phản ánh theo từng loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực sự đã hoàn thành. Việc
sắp xếp, phân loại chứng từ được thực hiện tùy theo yêu cầu quản lý chung của mỗi
doanh nghiệp. Qua khảo sát thực tế cho thấy, về cơ bản việc phân loại chứng từ
đang được các doanh nghiệp thực hiện theo tiêu thức mức độ phản ánh trên chứng
từ bao gồm: Chứng từ gốc (chứng từ ban đầu) và chứng từ trung gian (chứng từ
tổng hợp). Số lượng chứng từ mỗi loại phụ thuộc vào việc vận dụng hình thức kế
toán cụ thể và mức độ tin học hóa công tác kế toán trong từng doanh nghiệp. Cụ thể,
ở Công ty Cổ phần giày Hải Dương, Công Ty TNHH Samil Hà Nội Vina, Công Ty
TNHH Công Nghiệp Oriental Sports Việt Nam, Công Ty TNHH Giày Continuance
Việt Nam, Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình,…việc sắp xếp, phân loại chứng từ gồm:
Phiếu thu, phiếu chi tiền mặt, giấy Báo nợ, giấy Báo có, chứng từ nhập, xuất vật tư,
tài sản.., theo cách sắp xếp này, thứ tự của chứng từ được đánh số liên tục theo từng
loại chứng từ gốc.
96
- Thực trạng tổ chức bảo quản, lưu trữ và hủy bỏ chứng từ kế toán
Chứng từ kế toán ở các doanh nghiệp sản xuất giày hiện nay được đánh số
theo thứ tự và đóng thành từng tập theo tháng, do phòng kế toán của doanh nghiệp
cất giữ. Sau khi báo cáo tài chính được xét duyệt, toàn bộ chứng từ được phòng kế
toán làm hồ sơ đưa vào lưu trữ tại kho lưu trữ của doanh nghiệp trong thời hạn
quy định là 10 năm. Hiện nay, chỉ có một số ít doanh nghiệp có kho lưu trữ tư liệu
còn phần nhiều các doanh nghiệp thường lưu trữ chứng từ kế toán tại phòng kế
toán của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, công tác tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ và ghi chép ban đầu
ở một số doanh nghiệp còn một số hạn chế như: về việc lập, ghi chép các yếu tố liên
quan đến các nội dung ghi trên chứng từ kế toán quy định đôi khi chưa đầy đủ, vẫn
còn tình trạng khi lập chứng từ không ghi số hiệu chứng từ hoặc một số yếu tố chưa
thể hiện đầy đủ; ví dụ như Công ty TNHH Việt Phát, nghiệp vụ phản ánh trên
chứng từ còn dài dòng, diễn đạt vắn tắt gây phức tạp và khó khăn cho công tác kiểm
tra, thanh tra kế toán.
Các doanh nghiệp sản xuất giày đều trên cơ sở hệ thống chứng từ kế toán mà
Nhà nước đã ban hành để vận dụng vào điều kiện cụ thể của doanh nghiệp. Tuy
nhiên, qua công tác khảo sát thực tế cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp chỉ thực
hiện tốt việc vận dụng đối với các chứng từ bắt buộc còn các chứng từ hướng dẫn
được sử dụng rất ít và thường không có hiệu quả. Việc ghi chép ban đầu trên một số
loại chứng từ ở các doanh nghiệp khác nhau có sự vận dụng khác nhau. Ví dụ, ở
Công ty TNHH Việt Phát, Công ty TNHH MTV Bằng Nam. Nhiều đơn vị phản ánh
không kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hàng ngày nên công việc dồn vào
những ngày cuối tháng, ảnh hưởng đến công tác khoá sổ và lập BCTC.
Một số doanh nghiệp sản xuất giày có quy trình luân chuyển chứng từ khá chặt
chẽ như Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình, Công ty Cổ phần giày Hải Dương, Công ty
TNHH Giày Continuance Việt Nam, Công ty Cổ phần Golden Sun, Chi nhánh Công
ty TNHH Sao Vàng đảm bảo tránh được các khâu trung gian của chứng từ đi qua,
công tác kiểm tra chứng từ bao gồm kiểm tra các yếu tố ghi trên chứng từ, kiểm tra
97
nội dung ghi chép trên chứng từ được thực hiện tốt. Việc bảo quản và lưu trữ chứng
từ kế toán cũng được thực hiện theo đúng các quy định của chế độ kế toán hiện hành
nên công tác cung cấp thông tin phục vụ quản lý kịp thời và đạt hiệu quả cao.
* Đối với chứng từ điện tử: Hiện nay qua khảo sát toàn bộ doanh nghiệp sản
xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương 100% số doanh nghiệp có sử dụng chứng từ
điện tử đó là các giấy ghi đơn hàng, các thủ tục làm việc với cơ quan hải quan, cơ
quan thuế. Đối với các chứng từ nộp thuế từ quý 2 năm 2015 Cục thuế thỉnh Hải
Dương yêu cầu bắt buộc toàn bộ các doanh nghiệp phải nộp thuế qua phương tiện
điện tử trừ các doanh nghiệp đặc biệt, các chứng từ làm việc với cơ quan hải quan.
2.2.3. Thực trạng tổ chức xử lý, hệ thống hóa phân tích và cung cấp thông
tin kế toán
Thực trạng xử lý, hệ thống hóa cung cấp thông tin KTTC:
Để xử lí, hệ thống hóa các thông tin kinh tế tài chính kế toán trong các công
ty sản xuất giày đã sử dụng rất nhiều phương pháp một trong những phương pháp
quan trọng đó là phương pháp tính giá. “Trong quá trình thu nhận, xử lý, hệ thống
hóa và cung cấp thông tin, kế toán phải đo lường được các đối tượng kế toán thông
qua việc lượng hóa chúng bằng các thước đo hiện vật, thước đo lao động và thước
đo tiền tệ” [58, tr.68]. Trong khoa học kế toán nhiều loại giá khác nhau được sử
dụng xác định trị giá của đối tượng kế toán. Các loại giá đó bao gồm giá vốn thực
tế, giá trị hợp lý, giá thị trường, giá thấp nhất giữa giá vốn thực tế và giá thị trường,
giá trị hiện tại, giá trị có thể thu hồi được,... Mỗi loại giá khác nhau có những ưu
điểm, nhược điểm nhất định đối với những đặc tính của thông tin kế toán. Hơn nữa
sự ảnh hưởng của nó đến các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính cũng không giống nhau,
việc lựa chọn loại giá nào để tính giá các đối tượng kế toán phụ thuộc vào điều kiện
từng quốc gia cụ thể trong từng thời kỳ cụ thể. Đại bộ phận các doanh nghiệp sản
xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương mới chỉ quan tâm đến tính giá của KTTC mà
chưa quan tâm đến mục đích sử dụng các thông tin về giá theo yêu cầu quản trị
doanh nghiệp. Việc tính giá tài sản, các đối tượng kế toán mới chỉ dừng lại ở các
nguyên tắc chung về tính giá của KTTC.
98
Đối với các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay
còn nhiều điểm chưa hợp lý đặc biệt là tính giá của vật liệu xuất kho.
Qua khảo sát 20 (hai mươi) doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn Hải
Dương cho thấy:
Hầu hết các doanh nghiệp đều sử dụng phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ
mà không chia ra vật liệu được nhập từ các nguồn nhập khác nhau để vận dụng
phương pháp tính giá khoa học, hợp lý. Hầu hết khi tính giá vật liệu xuất kho các
doanh nghiệp mới chỉ chú ý đến việc tính giá theo KTTC mà chưa chú trọng đến chi
phí của KTQT. Qua khảo sát ở các doanh nghiệp như; Công ty Cổ phần giày Hải
Dương, Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình, Công ty TNHH Samil Hà Nội Vina, Công
ty TNHH Sao Vàng, Công ty TNHH MTV may Dũng Anh, Công ty TNHH giày da
Sao Vàng Ninh Giang.
- Thực trạng tổ chức hệ thống tài khoản kế toán xử lý và hệ thống hóa
thông tin kế toán
Đối với các tài khoản sử dụng cho KTTC: Qua khảo sát thực tế ở một số
doanh nghiệp sản xuất giày cho thấy, hiện nay có một số doanh nghiệp đang áp
dụng hệ thống tài khoản kế toán theo theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày
20/3/2006 & Thông tư số 244/2009/TT-BTC nay thay thế bằng TT200/2014/TT-
BTC ban hành ngày 22/12/2014 của Bộ trưởng Bộ tài chính, các doanh nghiệp này
thường là những công ty cổ phần có quy mô lớn, được chuyển đổi từ doanh nghiệp
nhà nước thành CTCP như Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình, Công ty Cổ phần giày
Hải Dương, Công ty TNHH Samil Hà Nội, Công ty TNHH sản xuất và thương mại
Tân Cương. Một số công ty đang áp dụng hệ thống tài khoản kế toán ban hành theo
quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 & Thông tư số 138/2010/TT- BTC
như: Công ty Cổ Phần Sản xuất Thương mại Thảo Nguyên, Công ty TNHH MTV
Thương mại Thuận Thành, Công ty TNHH MTV - Sản xuất Thương mại Đức Vạn
Lộc, Doanh nghiệp Tn may mặc và Vt Hoa Việt, Công ty TNHH Long Sơn, Công ty
TNHH MTV Minh Phúc, Công ty TNHH MTV Bằng Nam, Công ty TNHH giày da
Sao Vàng Ninh Giang... Các công ty sản xuất giày đã lựa chọn các tài khoản cấp 1
99
và cấp 2 trong từng loại tài khoản để áp dụng phù hợp với hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp mình. Căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh, tính chất, yêu cầu,
trình độ quản lý và trình độ của người làm kế toán trong đơn vị, dựa vào quy định
tại điểm 4 mục Quy định chung của chế độ kế toán để xác định các tài khoản cấp 1
và TK cấp 2 sử dụng cho KTTC.
Các doanh nghiệp căn cứ vào số lượng nghiệp vụ kinh tế phát sinh để xây
dựng hệ thống tài khoản tổng hợp và tài khoản chi tiết theo yêu cầu quản lý:
Nhóm tài khoản phản ánh các khoản tiền và thanh toán TK 111, TK 112, TK 113,
TK 131,...
Nhóm các TK theo dõi doanh thu như: TK 511, TK 512, TK 521,...
Nhóm các TK theo dõi chi phí như: TK 621, TK 622, TK 627, TK 635...
Nhóm các TK theo dõi các khoản đầu tư: TK 221, TK 211, TK 214,....
- Việc xác định tài khoản sử dụng cho KTTC hoàn toàn tôn trọng hệ thống
tài khoản kế toán đã được Bộ Tài chính quy định;
- Tình hình ghi chép kế toán trên hệ thống tài khoản KTTC:
+ Một số doanh nghiệp khi tập hợp chi phí sản xuất chung chưa chính xác
ví dụ chi phí vật liệu dùng cho bộ phận phân xưởng hạch toán vào chi phí NVL
trực tiếp, chi phí tiền lương nhân viên phân xưởng hạch toán vào chi phí nhân
công trực tiếp như công ty Cổ phần giày Hải Dương, Công ty TNHH MTV Bằng
Nam. Một số chi phí hạch toán chưa thống nhất giữa các doanh nghiệp ví dụ chi
phí cho chuyên gia nước ngoài có doanh nghiệp hạch toán vào chi phí sản xuất
chung như Công ty cổ phần giày Hải Dương, có công ty lại hạch toán vào chi phí
quản lý doanh nghiệp như công ty Samil Hà Nội Vina
+ Hầu hết các doanh nghiệp đều sử dụng TK002 “Hàng hóa nhận gia công”
để theo dõi phần nguyên vật liệu nhận của bên gia công mặc dù TT200/2014/TT-
BTC đã bỏ các tài khoản ngoài bảng.
+ Đại bộ phận các doanh nghiệp sản xuất giày không sử dụng TK 151 -
Hàng mua đang đi đường cuối tháng, mặc dù nghiệp vụ này ở doanh nghiệp nào
cũng vẫn phát sinh như: Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình, Công ty Cổ phần giày
100
Hải Dương. Khi phát sinh các nghiệp vụ mua nguyên vật liệu, kế toán ở các công
ty này ghi như sau:
Nợ TK 152 - Nguyên liệu, vật liệu (nếu là NVL)
Có TK 111, 112, 331: thanh toán bằng tiền hoặc chưa thanh toán
Hoặc: nếu NVL mua nhập khẩu
Nợ TK 152: Giá mua NVL bao gồm cả thuế NK (nếu có)
Có TK 333: thuế nhập khẩu phải nộp
Có TK 111, 112, 331: Thanh toán bằng tiền hoặc chưa thanh toán
+ Trường hợp NVL tồn kho bị thiếu hụt, mất mát trong quá trình bảo quản,
hầu hết các doanh nghiệp ghi vào chi phí bán hàng trong kỳ như: Công ty cổ phần
giày Cẩm Bình, Công ty CP giày Hải Dương, Công ty TNHH Samil Hà Nội Vina,
Công ty TNHH Giày Continuance Việt Nam, Chi nhánh Công ty TNHH Sao Vàng.
- Đại bộ phận các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương không
lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho và dự phòng phải thu khó đòi (nay là dự phòng
tổn thất tài sản - TK229) do các doanh nghiệp hầu hết là sản xuất theo đơn đặt hàng.
- Tài khoản sử dụng cho KTQT
Các doanh nghiệp sản xuất giày thực hiện KTTC và KTQT trên cùng hệ
thống tài khoản. Do đó, trên cơ sở hệ thống tài khoản kế toán do Nhà nước ban
hành, các doanh nghiệp xây dựng các tài khoản kế toán chi tiết một cách cụ thể để
phản ánh các đối tượng kế toán theo yêu cầu quản trị của doanh nghiệp.
Nguyên tắc chung của việc xác định các tài khoản sử dụng cho KTQT trong
các doanh nghiệp sản xuất giày là:
+ Các tài khoản kế toán được chi tiết theo cấp, nếu hệ thống tài khoản kế
toán đã có các tài khoản chi tiết đến cấp 2 phản ánh KTTC thì tài khoản KTQT sẽ
chi tiết đến cấp 3, 4, 5... để phản ánh các đối tượng cụ thể theo yêu cầu quản lý.
+ Việc lựa chọn số hiệu các tài khoản KTQT, căn cứ vào các chỉ tiêu quản lý
như theo nhóm sản phẩm, hàng hóa, theo địa điểm sản xuất kinh doanh, phân xưởng
sản xuất...
Khảo sát một số doanh nghiệp cho thấy cách xác định tài khoản KTQT như
101
sau: Căn cứ vào yêu cầu quản lý đối với từng chỉ tiêu quản trị để xác định tài
khoản trên cơ sở các tài khoản cấp 1 hoặc cấp 2 đã được chế độ kế toán quy định,
ví dụ tài khoản 155 - Thành phẩm. Trong chế độ kế toán theo quyết định số
48/2006/QĐ-BTC, tài khoản này chỉ có TK cấp 1, Các doanh nghiệp mở tài khoản
cấp 2 để phản ánh số hiện có và tình hình biến động của từng loại giày:
TK 1551 - Giày da; TK 1552 - Giày vải; TK 1553 - Giày thể thao.
Tương tự như vậy, TK 642 - Chi phí quản lý kinh doanh, trong chế độ kế
toán theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC, tài khoản này được mở các tài khoản cấp
2 để phản ánh chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp như sau:
TK 6421 - Chi phí bán hàng; TK 6422 - Chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Thực trạng về tổ chức hệ thống sổ kế toán để xử lý và hệ thống hóa
thông tin kế toán
Trong các doanh nghiệp sản xuất giày thường áp dụng hình thức Nhật ký
chung là chủ yếu, một số đơn vị áp dụng hình thức Chứng từ ghi sổ. Theo số liệu
khảo sát về hình thức kế toán áp dụng tại 20 (hai mươi) doanh nghiệp sản xuất giày
trên địa bàn tỉnh Hải Dương cho thấy, các doanh nghiệp sản xuất giày có 12 doanh
nghiệp áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chung (chiếm 60%), 6 doanh nghiệp áp
dụng hình thức chứng từ ghi sổ (chiếm 30%) còn lại các doanh nghiệp áp dụng 2
hình thức là Nhật ký - Sổ cái, Nhật ký chứng từ. Đặc biệt là các doanh nghiệp được
khảo sát đều làm công tác kế toán trên máy vi tính và áp dụng phần mềm kế toán
phù hợp với đặc điểm của từng đơn vị.
Bảng 2.3. Hình thức kế toán áp dụng trong các đơn vị khảo sát
Stt Hình thức kế toán Tỷ lệ %
Hình thức kế toán Nhật ký chung Hình thức Nhật ký - chứng từ Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ Hình thức kế toán Nhật ký - Sổ cái
1 2 3 4 Cộng Số lượng DN 12 1 6 1 20 60 5 30 5 100
Nguồn: Khảo sát thực tế theo hình thức phiếu điều tra xem phụ lục số 20
102
Với đặc thù là các doanh nghiệp sản xuất gia công hàng xuất khẩu. Doanh
thu của hàng gia công được ghi nhận khi hàng hóa xuất ra khỏi kho có phiếu xuất
kho và được mở tờ khai hải quan. Hàng hóa sẽ đi đến cảng và sau khi hoàn thành
mọi thủ tục xác thực được xuất chính thức rời khỏi cảng. Toàn bộ chứng từ được
luân chuyển về phòng kế toán của doanh nghiệp và được phát hành hóa đơn, đồng
thời ghi nhận doanh thu. Tỷ giá xuất kho được xác định tỷ giá thực tế tại thời điểm
mở tờ khai hải quan tại cơ quan hải quan.
Về tổ chức lập và phân tích báo cáo kế toán để cung cấp thông tin
Đối với báo cáo tài chính: Đại bộ phận các doanh nghiệp sản xuất giày chấp
hành đầy đủ số lượng các báo cáo tài chính bắt buộc đó là Bảng cân đối kế toán
(BCĐKT), Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (BCKQHĐKD), Báo cáo lưu
chuyển tiền tệ (BCLCTT), Thuyết minh báo cáo tài chính (TMBCTC). Tuân thủ
theo đúng nguyên tắc lập và trình bày các chỉ tiêu kinh tế - tài chính phản ánh trên
báo cáo tài chính. Sử dụng mẫu biểu và áp dụng phương pháp lập báo cáo tài chính
theo đúng quy định. Đồng thời, định kỳ có thực hiện công tác phân tích báo cáo tài
chính để cung cấp các thông tin về tình hình kinh tế tài chính cho nhà quản lý có cơ
sở ra quyết định. Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp còn một số tồn tại sau đây: Qua
khảo sát các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương:
* Đối với các Công ty cổ phần: Hầu hết các Công ty cổ phần sản xuất giày là
các công ty hoạt động khá lâu trong lĩnh vực sản xuất giày đã thiết lập được hệ
thống các nhà cung cấp trong nước và nước ngoài có uy tín, cung cấp hàng đảm bảo
chất lượng, giá cả hợp lý. Thông tin phục vụ vay vốn thì các NHTM sẽ tổ chức
thẩm định, đánh giá dựa trên rất nhiều các chỉ tiêu: nhóm tỉ suất khả năng thanh
toán, nhóm tỉ suất về cấu trúc tài chính, nhóm tỉ suất về hiệu quả kinh doanh. Qua
đó thấy được sự biến động doanh thu của tài sản, nợ phải thu để các doanh nghiệp
kịp thời có ra quyết định có biện pháp xử lý kịp.
Ngoài ra công ty còn sử dụng phân tích các tỉ suất của BCTC: phân tích
nguồn tài trợ; các khoản phải thu; hàng tồn kho.
Hầu hết các doanh nghiệp chỉ mới quan tâm đến các báo cáo bắt buộc theo
chế độ quy định như Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,...
103
mà không quan tâm nhiều đến việc lập các báo cáo quản trị do đó chưa đủ cung cấp
thông tin phục vụ cho các nhà quản trị trong việc điều hành quản lý hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Một số chỉ tiêu trong báo cáo tài chính không phản ánh đầy đủ số liệu cụ thể
là trong Bảng cân đối kế toán: chỉ tiêu dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi, dự
phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng giảm giá đầu tư tài chính dài hạn thường
không có số liệu do các doanh nghiệp không lập dự phòng đối với các chỉ tiêu này.
Trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: chỉ tiêu giá vốn hàng bán chỉ được
phản ánh theo giá gốc của hàng đã bán mà không bao gồm các khoản hao hụt, mất
mát; chi phí chung không được phân bổ hoặc phân bổ theo tiêu thức chưa hợp lý
Đối với báo cáo KTQT: Đại bộ phận các doanh nghiệp nói chung và các
doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng đều chưa nhận
thức đầy đủ về tầm quan trọng của KTQT. Qua khảo sát các doanh nghiệp sản xuất
giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương cho thấy đại đa số các doanh nghiệp này chưa chú
trọng đến công tác KTQT. Mặt khác, từ trước năm 1996 ở nước ta, chưa có quan
niệm về KTQT. Do đó nội dung về KTQT nhiều người, kể cả những người có
chuyên môn sâu về kế toán cũng chưa hiểu một cách thấu đáo.
Công tác xây dựng các tiêu chuẩn, định mức cụ thể cho từng chỉ tiêu chi phí,
doanh thu và kết quả kinh doanh phần lớn chưa được thực hiện;
Việc lập báo cáo quản trị và phân tích báo cáo kế toán quản trị nhằm cung
cấp những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định của nhà quản trị chưa kịp thời,
thậm chí nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện.
Thực trạng công tác kiểm tra kế toán:
Công tác kiểm tra kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày do các đơn
vị thực hiện dưới sự chỉ đạo của kế toán trưởng. Công việc kiểm tra kế toán thường
được thực hiện qua các khâu của chu trình kế toán đó là: lập chứng từ, ghi sổ kế
toán (tổng hợp và chi tiết); lập báo cáo kế toán (bao gồm báo cáo KTTC và báo cáo
KTQT). Nội dung kiểm tra kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày thường tập
trung vào các vấn đề sau:
Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ; kiểm tra các yếu tố cơ bản trên
104
chứng từ;
Kiểm soát chất lượng của thông tin kế toán, sự phối hợp của bộ phận kế toán
với các bộ phận khác trong doanh nghiệp trong quá trình cung cấp thông tin;
Kiểm tra việc ghi sổ kế toán;
Kiểm tra việc chấp hành các quy định của Nhà nước về lập báo cáo, thời hạn
lập, các quy định về báo cáo tài chính;
Lập báo cáo để báo cáo kịp thời kết quả kiểm tra kế toán.
2.3. Đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các doanh
nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương
2.3.1. Ưu điểm
Mặc dù trong thời gian qua phải đối mặt với vô vàn khó khăn về giá nguyên
liệu đầu vào tăng cao, sự cạnh tranh khốc liệt nhất là từ nước láng giềng Trung
Quốc nhưng các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương vẫn đạt
mức tăng trưởng đáng kể, điều đó có sự đóng góp không nhỏ của kế toán - một
trong những công cụ quản lý kinh tế hữu hiệu:
Về tổ chức bộ máy kế toán: Xuất phát từ đặc điểm chung về cơ cấu tổ chức
quản lý tại doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương là cơ cấu trực
tuyến chức năng. Đó là hoạt động quản lý theo cơ chế quản lý một cấp quản lý. Từ
đặc điểm này dẫn đến hầu hết các doanh nghiệp đều lựa chọn mô hình tổ chức bộ
máy kế toán tập trung còn gọi là tổ chức kế toán một cấp. Mặt khác, đại bộ phận các
doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương có địa bàn hoạt động tập
trung, quy mô nhỏ nên việc lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung là
hợp lí, đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất tập trung đối với công tác kế toán trong
doanh nghiệp, cung cấp thông tin kịp thời, thuận tiện cho việc phân công, chuyên
môn hóa người làm kế toán, xử lý thông tin nhanh chóng. Đồng thời, tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp này dễ dàng ứng dụng tin học trong công tác kế toán. Các doanh
nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã áp dụng mô hình tổ chức bộ
máy kế toán tập trung kết hợp KTTC và KTQT trong từng phần hành kế toán.
Về tổ chức sử dụng các phương pháp kế toán nhằm thu thập, xử lý, hệ thống
hóa và cung cấp thông tin kế toán: Trong công tác tổ chức kế toán, các doanh
105
nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã nhận thức rõ vai trò quan trọng
của việc tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý. Vì vậy, đã tổ chức công tác
kế toán phù hợp với đặc điểm và yêu cầu quản lý cụ thể của đơn vị như việc tổ chức
lựa chọn hình thức tổ chức công tác kế toán hợp lý và khoa học, tổ chức thực hiện
hiện hệ thống chứng từ kế toán và ghi chép ban đầu đảm bảo theo đúng chế độ quy
định; vận dụng hình thức kế toán phù hợp; tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế
toán cũng như chế độ báo cáo tài chính đảm bảo cung cấp được thông tin phục vụ
cho các đối tượng quan tâm cũng như cho yêu cầu quản trị của doanh nghiệp.
Do đặc thù hầu hết các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải
Dương là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nghiệp vụ kinh tế phát sinh không nhiều
một số doanh nghiệp không tổ chức bộ máy kế toán mà tiến hành thuê người làm kế
toán như: công ty TNHH MTV Bằng Nam, Công ty TNHH MTV Minh Phúc, việc
này hoàn toàn phù hợp với quy định của Luật kế toán 2015. Tổ chức công tác kế
toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay đã
tuân thủ các quy định của Luật kế toán, các Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán.
Điều đó được thể hiện sự vận dụng phù hợp hệ thống chứng từ, hệ thống tài khoản,
hệ thống sổ và báo cáo kế toán nhằm cung cấp thông tin kịp thời phục vụ công tác
quản lý cho các đối tượng bên trong và ngoài doanh nghiệp.
Một số doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã chuyển
đổi loại hình thành công ty cổ phần. Trong quá trình phát triển loại hình CTCP, sự
hỗ trợ của Nhà nước thông qua việc đổi mới, hoàn thiện chế độ kế toán nhằm tạo ra
sự thống nhất, phù hợp đã tạo sự thuận lợi đáng kể cho các đối tượng này quản lý
tốt quá trình SXKD như Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình, Công ty Cổ phần giày
Hải Dương. Song sự hoàn thiện chế độ kế toán doanh nghiệp chỉ có ý nghĩa tích cực
khi các doanh nghiệp nhận thức đúng đắn và vận dụng phù hợp vào doanh nghiệp
của mình. Vấn đề này, trên thực tế đã có nhiều Công ty thực hiện khá tốt nên hiệu
quả quản lý kinh tế tài chính đã được nâng lên.
2.3.2. Hạn chế
Việc áp dụng chế độ kế toán ở các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn
tỉnh Hải Dương khác nhau chưa có sự thống nhất, cụ thể là có một số doanh nghiệp
106
áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-
BTC ban hành ngày 20/3/2006 và Thông tư số 244/2009/TT-BTC nay thay thế bằng
TT200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/20014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính còn
một số công ty áp dụng chế độ kế toán theo Quyết định số 48/2006/QĐ - BTC ngày
14/9/2006 và Thông tư số 138 /2010 /TT- BTC. Điều này, gây khó khăn cho công
tác kiểm tra, quản lý của các cơ quan quản lý vĩ mô của Nhà nước cũng như các đối
tượng bên ngoài quan tâm đến doanh nghiệp.
Công tác hướng dẫn, kiểm tra của các cơ quan cũng như của Hội nghề
nghiệp chưa đảm bảo thường xuyên, kịp thời và cụ thể. Điều này, gây không ít khó
khăn đối với các doanh nghiệp sản xuất giày. Cũng chính điều đó đã ảnh hưởng trực
tiếp đối với việc tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế
toán hình thức sổ kế toán và báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp sản xuất giày
trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Công tác KTQT còn nhiều hạn chế bởi cả những
nguyên nhân khách quan và chủ quan như sự hiểu biết về KTQT của nhiều người,
kể cả một số người làm công tác kế toán trong các doanh nghiệp; trình độ của
những người làm kế toán chưa cao… Có thể khái quát những hạn chế trong tổ chức
công tác kế toán ở các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo một
số mặt dưới đây:
Về tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ và ghi chép ban đầu
Đây là khâu quan trọng, đảm bảo sự chính xác của nghiệp vụ kinh tế phát
sinh được ghi trong sổ kế toán và báo cáo kế toán. Song, trong khâu này thường có
những tồn tại là:
+ Việc ghi chép các yếu tố, nội dung trên chứng từ chưa đầy đủ, còn có hiện
tượng không ghi ngày, tháng lập chứng từ, ngày tháng phát sinh và nội dung nghiệp
vụ kinh tế phát sinh chưa được ghi chính xác, rõ ràng;
+ Công tác kiểm tra, soát xét và xử lý những thiếu sót trên chứng từ chưa
được thực hiện thường xuyên;
+ Việc chấp hành quy định về phân loại, sửa chữa, lưu trữ chứng từ chưa
đảm bảo theo đúng chế độ quy định, gây khó khăn cho công tác kiểm tra, kiểm soát
của các cơ quan chức năng của Nhà nước.
107
+ Việc thiết kế hệ thống chứng từ riêng để thu thập thông tin mà KTTC chưa
thu thập được còn nhiều hạn chế.
Về tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán và phương pháp ghi chép
trên các tài khoản
Đối với tài khoản sử dụng cho KTTC: Căn cứ vào chế độ Kế toán Nhà nước
ban hành, các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã lựa chọn,
vận dụng tương đối tốt các tài khoản sử dụng cho KTTC. Việc sử dụng các tài
khoản chi tiết để phản ánh một cách cụ thể các nội dung cần theo dõi chi tiết phục
vụ cho công tác KTQT như các nghiệp vụ về chi phí, doanh thu, kết quả kinh doanh
còn nhiều hạn chế. Điều này, ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng cung cấp thông tin
của kế toán đối với công tác quản trị doanh nghiệp.
+ Trong hạch toán đối với một số phần hành kế toán, một số nghiệp vụ kinh
tế phát sinh ở một số tài khoản kế toán còn lẫn lộn và chưa có sự thống nhất giữa
các doanh nghiệp. Điều này gây khó khăn cho công tác kiểm tra, kiểm soát của các
cơ quan chức năng và chưa đúng với chế độ kế toán quy định Công ty Cổ phần giày
Hải Dương, Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Thảo Nguyên, Công ty TNHH
Sao Vàng, tiền lương của bộ phận quản lý phân xưởng không hạch toán vào TK 627
mà hạch toán toàn bộ vào TK 622 gây khó khăn khi xác định chi phí nhân công trực
tiếp đây là chi phí chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm. Các chi phí cho
chuyên gia (Mua đồ ăn, uống, sinh hoạt) có doanh nghiêp hạch toán vào chi phí sản
xuất chung như Công ty Cổ phần giày Hải Dương, có doanh nghiệp hạch toán vào
chi phí bán hàng như công ty TNHH Samil Hà Nội.
Về tổ chức vận dụng hình thức sổ kế toán:
Qua khảo sát một số doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương
cho thấy, hình thức sổ kế toán mà đơn vị lựa chọn cũng có những mẫu sổ nội dung
ghi chép trong sổ chưa đầy đủ. Đối với các doanh nghiệp sản xuất nói chung, các
công ty sản xuất giày nói riêng với đặc thù là quá trình sản xuất sử dụng rất nhiều
lao động chủ yếu lao động nữ. Trong các khâu của quá trình sản xuất thì 60% số lao
động tập trung ở bộ phận may. Các sổ chi tiết theo dõi theo yêu cầu quản lý là rất
cần thiết ví dụ sổ chi tiết theo dõi chi phí nhân công, sổ chi tiết theo dõi chi phí gia
108
công,.... Đại bộ phận các doanh nghiệp chỉ mới sử dụng hệ thống sổ kế toán tổng
hợp, còn hệ thống sổ kế toán chi tiết thực hiện chưa đầy đủ, kể cả mẫu sổ và các chỉ
tiêu phản ánh trên sổ.
Về tổ chức lập báo tài chính và phân tích báo cáo tài chính:
+ Thời hạn lập và nộp báo cáo chậm;
+ Số lượng các báo cáo theo quy định chưa đầy đủ;
+ Các chỉ tiêu phản ánh trong báo cáo tài chính chưa đảm bảo độ chính xác
do quá trình ghi chép KTTC trong các phần hành kế toán chưa chuẩn xác;
+ Công tác phân tích báo cáo tài chính chưa được quan tâm đúng mức.
Về tổ chức kiểm tra kế toán: Qua khảo sát 20 doanh nghiêp sản xuất giày
trên địa bàn tỉnh Hải Dương còn có những hạn chế về tổ chức kiểm tra kế toán đó
là: Hầu hết các doanh nghiệp chỉ tổ chức kiểm tra kế toán khi chuẩn bị khóa sổ lập
báo cáo, việc kiểm tra thường xuyên chưa được chú trọng. Do đó, chưa phát hiện
kịp thời các sai sót khi xử lý chứng từ ban đầu.
Nôi dung công tác kiểm tra kế toán cũng mới chỉ chú trọng đến kiểm tra
công tác KTTC mà chưa chú trọng KTQT.
2.3.3. Nguyên nhân
2.3.3.1. Về khuôn khổ pháp lý của kế toán
Trước những yêu cầu đổi mới nền kinh tế, Nhà nước và các Hội nghề nghiệp
đã thực sự quan tâm đối với công tác kế toán, thường xuyên bổ sung, sửa đổi các
nội dung của hệ thống kế toán Việt Nam nhằm phù hợp với sự vận động phát triển
của nền kinh tế và phù hợp với chuẩn mực, nguyên tắc kế toán quốc tế đặc biệt là
việc ban hành Luật Kế toán Việt Nam năm 2003 đã tạo khung pháp lý quan trọng
cho công tác kế toán và là căn cứ cho việc ban hành hệ thống Chuẩn mực kế toán
Việt Nam. Luật Kế toán quy định phạm vi điều chỉnh cho tất cả các nội dung công
tác kế toán từ việc quy định có tính pháp lý về vai trò, vị trí của kế toán, tổ chức bộ
máy kế toán, người làm kế toán, hoạt động nghề nghiệp kế toán đến việc quy định
các đối tượng áp dụng Luật kế toán. Có thể khẳng định rằng, Luật Kế toán Việt
Nam ra đời đã đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi khách quan của nền kinh tế nước ta
đang phát triển theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, tạo điều kiện thuận lợi về
109
pháp lý cho việc phát triển các dịch vụ tài chính, kế toán. Đồng thời, đáp ứng được
yêu cầu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và hội nhập
kinh tế khu vực, thế giới. Tuy nhiên sau hơn 10 năm triển khai thực hiện đã bộc lộ
nhiều điểm chưa phù hợp thực tế công tác kế toán trong điều kiện kinh tế thị trường
phát triển không ngừng như hiện nay. Trong thời gian tới đã và đang được sửa đổi,
điều chỉnh một số điều cho phù hợp thực tiễn để Luật thực sự là kim chỉ nam cho
những người làm kế toán.
Về cơ bản, hệ thống kế toán Việt Nam hiện nay đã đáp ứng được yêu cầu thu
nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin không chỉ cho quản lý nhà nước về
kinh tế tài chính mà còn phù hợp với yêu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng
khác nhau trong nền kinh tế; tạo điều kiện cho các loại hình doanh nghiệp có đủ
thông tin cần thiết phục vụ yêu cầu phát triển kinh doanh theo luật pháp.
Việc hướng dẫn triển khai thực hiện chế độ kế toán vào thực tế trong các
doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp sản xuất giày nói riêng của cơ quan
quản lý Nhà nước về kế toán, các tổ chức nghề nghiệp cũng luôn luôn được chú
trọng. Trên thực tế, trong quá trình đổi mới kế toán Việt Nam, hàng loạt các văn
bản, thông tư hướng dẫn về kế toán được ban hành bởi Bộ Tài chính đã góp phần
tích cực trong việc thực hiện chế độ kế toán ở các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế. Ngoài việc hướng dẫn thông qua các văn bản, các lớp bồi dưỡng ngắn
hạn cũng được tổ chức kịp thời nhằm đáp ứng yêu cầu cập nhật thông tin mới về
chế độ kế toán, nguyên tắc và chuẩn mực kế toán Việt Nam.
2.3.3.2. Về việc thực hiện chế độ kế toán và tổ chức công tác kế toán
Trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương, nhìn
chung việc chấp hành chế độ kế toán là khá tốt, đã thực sự coi trọng vai trò của kế
toán đối với công tác quản lý kinh doanh, thể hiện qua việc vận dụng hệ thống
chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán, hệ thống sổ kế toán và hệ thống báo
cáo tài chính.
Khi có sự thay đổi, bổ sung chế độ kế toán bằng các văn bản, thông tư hướng
dẫn, các doanh nghiệp sản xuất giày đã tổ chức học tập, cập nhật và vận dụng một
cách kịp thời vào công tác quản lý kinh tế tài chính. Do đó, hiệu quả quản lý ở hầu
110
hết các doanh nghiệp này đã được nâng lên một cách đáng kể.
Bên cạnh những ưu điểm là cơ bản, trong quá trình vận tổ chức công tác kế
toán ở các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương còn những hạn
chế cơ bản dưới đây.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong tổ chức công tác kế toán
trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên điạ bàn tỉnh Hải Dương, có thể khái quát
các nguyên nhân thành hai nhóm nguyên nhân như sau:
Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, những năm vừa qua chúng ta đối mặt với khủng hoảng kinh tế
khiến sức mua của người dân giảm đi rõ rệt, nguy cơ khách hàng trốn đơn hàng, đẩy
lượng tồn kho của các doanh nghiệp lên cao. Hàng không bán được dẫn đến khó
quay vòng vốn, khó tiếp cận nguồn vốn ưu đãi của ngân hàng gây khó khăn trong
các doanh nghiệp. Việc không bán được hàng dẫn đến sản xuất bị ngừng trệ, ảnh
hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp;
Thứ hai, phần rất lớn các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải
Dương là các doanh nghiệp làm ăn nhỏ lẻ, manh mún, tính liên kết giữa các doanh
nghiệp không cao. Hiệp hội các doanh nghiệp chưa phát huy hết vai trò của mình
chưa đủ uy tín và sức thuyết phục nên không liên kết được các doanh nghiệp, đa
phần các doanh nghiệp phải tự xoay sở tìm hướng đi cho mình, mạnh ai nấy sống;
Thứ ba, những năm qua hàng loạt các chính sách kinh tế tài chính vĩ mô của
Nhà nước thay đổi, đang trong quá trình sửa đổi, hoàn thiện. Cùng với đó là các
thay đổi trong hướng dẫn hạch toán, sử dụng hóa đơn, chính sách thuế song việc
hướng dẫn cụ thể tới các doanh nghiệp đôi khi chưa được kịp thời. Mặt khác, một
số chính sách còn nhiều điểm bất cập chưa phù hợp với thực tế;
Thứ tư, mặc dù đã được Chính phủ chấp thuận cho việc đầu tư xây dựng nhà
máy thuộc da bằng vốn viện trợ phát triển nhưng Hiệp hội da giày - túi xách Việt
Nam (Lefaso) vẫn chưa thể tìm ra địa điểm để xây dựng. Đó cũng là khó khăn cho
các doanh nghiệp sản xuất giày nói riêng trên địa bàn tỉnh Hải Dương gặp trở ngại
trong vấn đề nguyên vật liệu đầu vào.
Thứ năm, về mặt lý luận, do chưa có sự khẳng định, nhận thức đúng về vai
111
trò, bản chất, sự khác biệt giữa KTTC và KTQT, KTQT và kế toán chi tiết do vậy
chưa có một văn bản pháp lý nào về chế độ, thể lệ kế toán ghi nhận có một loại kế
toán cần thiết cho quản trị doanh nghiệp - Đó là KTQT.
Mặc dù, thông tin KTQT cung cấp xuất phát từ yêu cầu quản lý của các nhà
quản trị doanh nghiệp và việc ghi chép KTQT có tính độc lập và không hoàn toàn
tuân thủ theo các nguyên tắc, chuẩn mực, văn bản quy định của Nhà nước về kế
toán, xong cần thiết phải có các tài liệu hướng dẫn tổ chức KTQT cho các doanh
nghiệp. Hiện nay, chúng ta cũng chưa có những tài liệu hướng dẫn này.
Nguyên nhân chủ quan
Quan điểm của các nhà quản lý doanh nghiệp về tổ chức công tác kế toán
vẫn theo cách tiếp cận cũ, chưa thực sự khoa học và còn nhiều hạn chế.
Trình độ quản lý của các cán bộ quản lý và kế toán chưa đồng đều còn hạn
chế nhiều cán bộ quản lý các doanh nghiệp sản xuất giày chưa nhận thức đúng về
vai trò cũng như chưa khai thác triệt để các thông tin của KTQT. Việc phân tích các
yếu tố chi phí, lợi nhuận còn chưa phát huy tối đa hiệu quả.
Khả năng ứng dụng tin học của người làm công tác kế toán trong các doanh
nghiệp chưa đồng đều dẫn đến việc khai thác, sử dụng các phần mềm kế toán, phần
mềm quản lý chưa tốt.
Về tổ chức sản xuất: phần lớn công nhân sản xuất trực tiếp trong các doanh
nghiệp giày có trình độ văn hóa thấp và tay nghề không cao, nên việc triển khai các
mẫu mã, công đoạn, cách thức sản xuất mới rất khó khăn. Công nhân làm việc theo
kiểu dập khuôn, không có sáng kiến để cải tiến qui trình sản xuất, nâng cao chất
lượng sản phẩm. Chưa có trường lớp đào tạo chuyên môn riêng cho ngành giày dép,
lao động trong ngành phần lớn là do các doanh nghiệp tự đào tạo qua thực tế và theo
yêu cầu sản xuất, cho nên dẫn đến tình trạng thiếu hiểu biết về cơ bản, gây nhiều khó
khăn, trì trệ trong sản xuất.
Bộ máy kế toán doanh nghiệp chỉ thực hiện công tác KTTC, chưa thực sự
chú trọng quan tâm thực hiện công tác KTQT, do đó chưa cung cấp thông tin kịp
thời giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp. Cụ thể, công tác dự toán sản xuất, dự
toán nguyên vật liệu, dự toán tiền,... chưa được thực hiện tốt nên phải tốn nhiều thời
112
gian trong quá trình chuẩn bị nguyên liệu cho sản xuất. Cũng như việc lập dự toán
tiền chưa chính xác, doanh nghiệp thường xuyên bị động trong vấn đề thanh toán
cho nhà cung cấp nguyên vật liệu, ảnh hưởng đến việc giao hàng của nhà cung cấp
cho doanh nghiệp. Việc lựa chọn nhà cung cấp còn dựa trên tiêu thức “giá” hơn là
chất lượng họ cung cấp.
Phần lớn giày dép của các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải
Dương thuộc hàng có chất lượng trung bình trở xuống (giá bán lẻ dưới 40 USD/
đôi). Giày xuất khẩu do các doanh nghiệp này sản xuất đều thông qua đối tác thứ
ba. Hoạt động kinh doanh trực tiếp của các doanh nghiệp qua khảo sát rất hạn chế.
Đơn cử, vấn đề nhà xưởng, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như Công
Ty TNHH Samil Hà Nội Vina hầu như xây mới theo tiêu chuẩn sản xuất công
nghiệp với quy mô hợp lý, khép kín sản xuất trong phạm vi của Công ty, đồng thời
đầu tư hoàn chỉnh hệ thống tự động hóa thiết kế, các dây chuyền sản xuất thử
nghiệm phục vụ công tác ra mẫu chào hàng đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách
hàng, các nhà nhập khẩu. Trong khi, các DNNN được cổ phần hóa như Công ty Cổ
phần giày Cẩm Bình và Công ty Cổ phần giày Hải Dương nhiều khi phải tận dụng
các cơ sở hiện có hoặc cải tạo từ hệ thống kho tàng cũ.
Những người điều hành sản xuất chưa làm tốt công việc được giao, không
theo dõi, đôn đốc việc sản xuất, sắp xếp tiến độ sản xuất chưa hợp lý.
Tất cả các nguyên nhân trên đã tạo nên những hạn chế cơ bản của tổ chức
công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
113
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất nói chung và
trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng là vấn
đề phức tạp. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, hội nhập kinh tế thế giới và khu vực
đang trở thành xu thế tất yếu, các DN ở Việt Nam đang trong quá phát triển cả về số
lượng và chất lượng; hàng loạt các chính sách, chế độ về quản lý kinh tế cũng như
về kế toán đã và đang có nhiều thay đổi. Nghiên cứu thực trạng tổ chức công tác kế
toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong điều
kiện đó gặp không ít khó khăn. Song, từ việc khảo sát thực tiễn thông qua các số
liệu, tài liệu thu thập được liên quan đến tổ chức công tác kế toán trong một số
doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương, tác giả phân tích những ưu
điểm, hạn chế và nguyên nhân cơ bản của thực trạng làm cơ sở cho những kiến nghị
và đề xuất trong chương 3.
114
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIÀY TRÊN ĐỊA BÀN TÌNH HẢI DƯƠNG
3.1. Định hướng phát triển các doanh nghiệp sản xuất giày đến năm
2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Sở dĩ ngành công nghiệp da giày đã được Đảng và Nhà nước quan tâm định
hướng đầu tư phát triển đến năm 2020 và hoạch định tầm nhìn tới năm 2025 theo
Quyết định số 6209/QĐ-BCT ngày 25 tháng 11 năm 2010 là do dựa trên một số căn
cứ tổng quát về tình hình sản xuất cũng như thị trường tiêu thụ và nhập khẩu da
giày trên thế giới. Cụ thể đối với ngành sản xuất giày:
Thứ nhất, theo đánh giá và dự đoán của các chuyên gia kinh tế thì trong những
năm tới, các nước Châu Á và Viễn Đông sẽ chiếm 75% sản lượng giày dép trên toàn
thế giới (khoảng trên 10 tỷ đôi). Việt Nam là nước được đánh giá là nước có tiềm
năng để chiếm lĩnh thị trường này. Với tốc độ tăng trưởng dự kiến, kim ngạch xuất
khẩu của toàn ngành năm 2015 là 9,1 tỷ USD; năm 2020 là 14,5 tỷ USD và năm 2025
đạt 21 tỷ USD. Nâng dần tỷ lệ nội địa hóa các loại sản phẩm là một trong những vấn
đề được quan tâm đặc biệt trong quá trình xây dựng quy hoạch, trong đó phấn đấu
năm 2015 tỷ lệ nội địa hóa đạt 60-65%, năm 2020 đạt 75-80% và năm 2025 đạt 80-
85%; đến năm 2020, tổng sản phẩm giày dép các loại dự kiến đạt 1,6 tỷ đôi...
Thứ hai, các nước và khu vực có mức tiêu thụ và nhập khẩu giày dép lớn trên
thế giới mà Việt Nam có lợi thế xâm nhập là Mỹ, EU, Nhật.
Hiện nay EU là thị trường nhập khẩu chủ yếu các sản phẩm giày dép của
Việt Nam, chiếm xấp xỉ 80% kim ngạch xuất nhập khẩu. Chúng ta cần củng cố và
phát triển thị trường này, khai thác tối đa các ưu đãi mà thị trường này còn dành cho
Việt Nam (chưa bị quản lý bằng các hạn ngạch) được hưởng ưu đãi thu quan bằng
70% mức thuế bình thường nếu đảm bảo tiêu chuẩn mà họ yêu cầu. Tăng cường
mối quan hệ kinh doanh trực tiếp với các nhà nhập khẩu EU, một vấn đề đang được
EU quan tâm.
Nhật Bản là thị trường có nhu cầu nhập khẩu hàng năm khoảng 350 triệu đôi
115
giày dép từ nước ngoài. Hiện nay kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam vào
Nhật bản chỉ chiếm khoảng 7 đến 8% tổng kim ngạch. Tuy nhiên chúng ta có khả
năng nâng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này trong những năm tới.
Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) là hai thị trường có nhu cầu tiêu thụ và nhập
khẩu giày lớn nhất thế giới. Xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang hai thị trường
lớn nhất của ngành da giày nói trên lần lượt đạt 1,09 tỉ đô la Mỹ (tăng 8,2% so với
cùng kỳ năm trước) và 1,04 tỉ đô la Mỹ (tăng 20,4%). Hai thị trường này chiếm
66,3% tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam.
Ngoài ra, xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang một số nước vốn không
phải là thị trường truyền thống của ngành da giày cũng tăng mạnh trong 5 tháng đầu
năm 2013. Điển hình như, xuất khẩu sang Thái Lan tăng trên 43% so với cùng kỳ
năm trước (với kim ngạch gần 10 triệu đô la Mỹ), sang Achentina tăng 39% (đạt
trên 18 triệu đô la Mỹ), Israel tăng 35% (6,7 triệu đô la Mỹ), Slovakia tăng 33% (31
triệu đô la Mỹ), Nga tăng trên 31% (33,8 triệu đô la Mỹ),...
Trong năm 2012, Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc
và Brazil là các đối tác lớn nhất nhập khẩu giày dép của Việt Nam. Tổng kim
ngạch cộng gộp hàng dệt may xuất sang 5 thị trường này đạt 5,77 tỷ USD, chiếm
gần 80% trong tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép của cả nước. Kim ngạch xuất
khẩu giày dép của Việt Nam sang các thị trường này trong năm qua đều đạt tốc độ
tăng trưởng dương nhưng thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng của năm trước (Phụ
lục số 02).
Trong đó, EU luôn là khu vực thị trường dẫn đầu về nhập khẩu giày dép của
Việt Nam với kim ngạch đạt 2,65 tỷ USD, chỉ tăng nhẹ 1,6% so với năm trước và
chiếm 36,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép của cả nước. Trong số các
nhóm hàng của Việt Nam xuất sang EU thì hàng giày dép đứng thứ 2 với tỷ trọng
chiếm 13,1% (sau hàng điện thoại các loại và linh kiện với tỷ trọng 27,9%).
Năm 2015, xuất khẩu toàn ngành da giày đạt đạt gần 15 tỷ USD, tăng gần
16% so với năm 2014: trong đó giày dép đạt 12 tỷ USD tăng 16%, túi xách đạt
2,88tỷ USD. Trong năm 2016, với đà phát triển như trên cùng những cơ hội từ
các FTA, đặc biệt với việc Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vừa thành lập, giá
116
trị xuất khẩu của ngành sẽ tăng từ 15 - 20% so với năm 2015 [TTX Việt Nam].
Nếu có hiệp định thương mại và quy chế tối huệ quốc, nếu các doanh nghiệp
Việt nam đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường và có khả năng cạnh tranh thì
chúng ta có thể xuất khẩu giày dép sang Mỹ không thua kém vào EU, thậm chí có
thể cao hơn.
Ngoài ra, các khu vực thị trường khác như Trung Đông, Bắc Âu, Úc, Liên
Xô cũ...cũng đáng để chúng ta quan tâm và phát triển.
Thứ ba, một căn cứ tiếp theo chúng ta có thể kể đến đó là chúng ta có một thị
trường nội địa rộng lớn chưa được khai thác hết. Trong thời gian qua sản phẩm của
ngành mới được tiêu thụ với một lượng không đáng kể từ sự dư thừa xuất khẩu. Chỉ
có được một số ít các doanh nghiệp chiếm được thị trường nội địa (giày vải Thượng
Đình, Vina giày...). Với số dân xấp xỉ 80 triệu người giai đoạn hiện nay và dự kiến
đến năm 2010 nó vào khoảng 100 triệu người thì tất yếu nhu cầu về sản phẩm da
giày phải tăng lên. Tức là trong tương lai không xa ngành công nghiệp da giày có
một thị trường nội địa rất lớn. Vấn đề đó là căn cứ cơ bản để thúc đẩy các hoạt động
đầu tư phát triển cả chiều sâu lẫn chiều rộng để đảm bảo đủ khả năng cạnh tranh
ngay trên thị trường nội địa.
Dựa vào các căn cứ có tính chất tương đối trên mà chúng ta có thể xây dựng
cho ngành công nghiệp da giày những mục tiêu cụ thể cho đến những năm 2020.
Một số mục tiêu cơ bản của ngành da giày cho thời gian tới như sau:
Nâng cao trình độ phát triển của toàn ngành nhằm để có đủ năng lực, điều
kiện hội nhập với thị trường thế giới, trụ vững được xuất khẩu, đáp ứng được
đầy đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước. Đây có thể nói là mục tiêu cơ bản và tổng
quát nhất. Nó xác định tất cả các nhiệm vụ cho ngành da giày phải làm trong thời
gian tới.
Với mục tiêu cụ thể về số lượng như sau:
Mục tiêu về kim ngạch xuất nhập khẩu
Dựa vào tình hình phát triển trong những năm qua mà chúng ta xây dựng
một mục tiêu cụ thể là đến năm 2020 thì phải phấn đấu xuất khẩu đạt 14.5 tỷ USD
và đến năm 2025 thì con số này cần phải đạt được 21 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng
117
kim ngạch xuất khẩu bình quân trong giai đoạn 2011 - 2015 là 10,9%/ năm; giai
đoạn 2016 - 2020 là 9,7%/ năm và giai đoạn 2021 - 2025 là 7,6%/ năm;
Mục tiêu về sản lượng
Sản lượng sản phẩm và tốc độ tăng trưởng sản phẩm bình quân đến năm
2020 dự kiến đạt tới 1.698 triệu đôi và tầm nhìn đến năm 2025 dự kiến đạt 1.827
triệu đôi.
Mục tiêu về việc làm
Với số lao động thu hút vào ngành hiện nay là khoảng 300.000 lao động
chưa kể đến số lao động phục vụ cho các lĩnh vực ngành da giày. Thì mục tiêu ở
đây là ngày càng tạo thêm được nhiều việc làm hơn nữa, phát triển nhiều ngành
nghề phụ có thể giải quyết được công ăn việc làm.
Mục tiêu về trình độ cán bộ công nhân viên
Với trình độ của công nhân như hiện nay thì chưa có thể đáp ứng được các
yêu cầu phát triển và hoà nhập với quốc tế. Vì vậy, mục tiêu là cần phải nâng cao
dần trình độ của tất cả các cán bộ, công nhân lao động để có thể đáp ứng được
những đòi hỏi của một ngành công nghiệp phát triển, hiện đại.
Quan điểm phát triển
Với mục tiêu vươn lên trụ vững, phát triển và hoà nhập với thế giới, các
nước trong khu vực trong những năm tới thì ngành công nghiệp da giày cần có
phương hướng cụ thể như sau:
Kết thúc đàm phán Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) cũng
như các hiệp định khác sẽ mang lại những cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt Nam;
trong đó có các doanh nghiệp ngành da giày. Để tận dụng được lợi thế từ các Hiệp
định này, ngành da giày cần tăng tốc chuẩn bị nguyên phụ liệu trong nước để được
hưởng thuế suất vào thị trường Mỹ và EU và một số thị trường”
Đầu tư phát triển ngành sản xuất da giày hướng ra xuất khẩu. Khẳng định
quan điểm hướng về xuất khẩu này, thì cần có sự đầu tư phát triển chuyển mạnh
từ gia công sang mua nguyên liệu bán thành phẩm, đảm bảo nâng cao hiệu quả,
tăng nhanh tích luỹ, nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hoá các mặt hàng
xuất khẩu.
118
Đầu tư phát triển các cơ sở sản xuất nguyên phụ liệu, hoá chất, phụ tùng,
thiết bị... phục vụ cho ngành nhằm hạn chế tối đa nguyên liệu nhập khẩu, tiết kiệm
ngoại tệ, chủ động trong sản xuất kinh doanh.
Đẩy mạnh tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa công nghiệp thuộc da với
sản xuất giày dép và các sản phẩm khác chế biến từ da thuộc.
Đầu tư nghiên cứu thiết kế, triển khai mẫu mốt, ứng dụng công nghệ kỹ
thuật tiên tiến, đổi mới thiết bị tạo thế chủ động trong sản xuất, chào hàng, đáp ứng
các yêu cầu phát triển của ngành cũng như mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nước.
Đầu tư bồi dưỡng và nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân
lành nghề của ngành đảm bảo tiếp tục nhanh chóng sự chuyển dịch sản xuất, chuyển
giao công nghệ kỹ thuật tiên tiến từ các nước phát triển, làm chủ trong quá trình sản
xuất, hạn chế sự lệ thuộc vào đối tác bên ngoài.
Đầu tư nghiên cứu thị trường nội địa, khai thác tối đa các nhu cầu về các sản
phẩm của ngành.
Chú trọng đầu tư chiều sâu để cân đối lại dây chuyền sản xuất cho đồng bộ,
bổ sung các thiết bị lẻ để thay thế các máy móc cũ đã quá lạc hậu, đầu tư cải tạo
nâng cấp một số trang thiết bị, đổi mới công nghệ với phương châm là tăng sản
lượng, tăng năng suất thiết bị và năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, nâng cao
chất lượng sản phẩm, mở rộng mặt hàng, khắc phục sự ô nhiễm môi trường...
Ưu tiên các dự án đầu tư mở rộng và đầu tư mới nhằm gia tăng công suất,
đảm bảo đạt trình độ công nghệ, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá.
3.2. Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán
trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương
3.2.1. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo tuân thủ Luật kế
toán, nguyên tắc kế toán, phù hợp với đặc thù về quản lý kinh tế tài chính
Kế toán với tư cách là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công
cụ quản lý kinh tế không thể tách rời khỏi các chính sách, quy định về quản lý kinh
tế tài chính của Nhà nước. Nhiệm vụ chủ yếu của kế toán là thu nhận, xử lý, phân
tích và cung cấp thông tin cho nhà quản lý nhằm đưa ra các quyết định tài chính tối
119
ưu. Vì vậy, trong quá trình tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo sự phù hợp của
các chính sách, chế độ về quản lý kinh tế tài chính. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện
nay, nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu với kinh tế thế giới,
hàng loạt chính sách kinh tế, tài chính đang được hoàn chỉnh, bổ sung và sửa đổi.
Trong điều kiện đó, chính sách kế toán, ngoài việc phải đảm bảo tính đặc thù của
nền kinh tế Việt Nam còn phải đảm bảo sự phù hợp với các Thông lệ, Chuẩn mực
quốc tế về kết toán. “Đối với công tác kế toán phải được thực hiện theo những
chuẩn mực chung trên phạm vi toàn cầu”.
Trong quá trình hội nhập, Việt Nam đã có những bước phát triển rất quan
trọng và đang nỗ lực tạo ra những bước đi thích hợp nhằm đưa công tác kế toán hòa
nhập với kế toán các nước trên thế giới. Cụ thể, sau hơn 10 năm triển khai đưa vào
thực hiện Luật Kế toán đã bộc lộ một số điểm chưa phù hợp nay đã ban hành Luật
kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015 có hiệu lực áp dụng năm 01/01/2017 là
văn bản pháp lý cao nhất để Nhà nước quản lý mọi hoạt động kế toán ở tầm vĩ mô,
đồng thời làm cơ sở cho việc điều chỉnh các hành vi của người làm công tác kế toán
trong các doanh nghiệp và các cơ sở kinh tế. Mặt khác, Luật Kế toán còn quy định
cụ thể việc kiểm tra kế toán gồm các nội dung như kiểm tra việc thực hiện các nội
dung công tác kế toán; kiểm tra việc tổ chức bộ máy kế toán và người làm kế toán;
kiểm tra việc tổ chức quản lý và hoạt động nghề nghiệp kế toán; kiểm tra việc chấp
hành các quy định khác của pháp luật. Các vấn đề mà Luật kế toán quy định sẽ tạo
điều kiện về pháp lý cho việc tuân thủ các chính sách, chế độ quản lý kinh tế tài
chính của Nhà nước trong các doanh nghiệp nói chung và trong các công ty sản xuất
giày nói riêng, trong đó có các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Ban hành các Chuẩn mực kế toán Việt Nam trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc
các nguyên tắc, Chuẩn mực kế toán quốc tế, phù hợp với đặc thù và yêu cầu quản lý
cụ thể về trình độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Quá
trình xây dựng và ban hành Chuẩn mực kế toán Việt Nam được chuẩn bị chu đáo,
nghiên cứu kỹ lưỡng trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc Chuẩn mực kế toán quốc tế.
Do đó, khi các doanh nghiệp nói chung và các công ty sản xuất giày nói riêng
tổ chức công tác kế toán cần phải đảm bảo yêu cầu phù hợp với đặc thù về quản lý
120
kinh tế tài chính và tôn trọng các Nguyên tắc, Chuẩn mực quốc tế về kế toán. Có như
vậy, kế toán mới thực sự phát huy được là công cụ quản lý kinh tế có hiệu lực nhất.
3.2.2. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất
giày phải đảm bảo phù hợp với định hướng đổi mới và phát triển hệ thống doanh
nghiệp Việt Nam
Đảng và Nhà nước ta đã và đang rất quan tâm đến việc hoạch định phương
hướng đổi mới và phát triển hệ thống doanh nghiệp Việt Nam, cụ thể đối với các
loại hình doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp tư nhân,
công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… Chức năng chính của
quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung và đối với doanh nghiệp nói riêng
là định hướng về mặt chiến lược cho sự phát triển của các doanh nghiệp được thực
hiện gián tiếp qua các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô, công cụ pháp luật; hỗ trợ
và điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp bằng các công cụ kinh tế vĩ mô; kiểm
tra, giám sát sự tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp; tham gia khắc phục những
khuyết tật của thị trường. Nhà nước phải đặc biệt coi trọng và thực hiện tốt chức
năng hỗ trợ công dân lập thân, lập nghiệp về kinh tế, coi đó là một trong những nét
đặc thù của sự đổi mới chức năng quản lý nhà nước về kinh tế so với trước thời kỳ
đổi mới.
Thứ nhất, đối với các doanh nghiệp Nhà nước, nhìn lại quá trình lịch sử,
chúng ta đi lên từ cơ sở, vật chất rất nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế mất cân đối
trầm trọng, lực lượng thù địch bao vây cấm vận kinh tế triệt để. Trong hoàn cảnh
đó, chúng ta đã xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ bằng biện pháp huy động một
nguồn lực lớn của đất nước và viện trợ quốc tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
cho nền kinh tế quốc dân dưới hình thức các DNNN làm nòng cốt, cùng với khu
vực kinh tế hợp tác xã làm nền tảng đáp ứng những nhu cầu của xã hội. Đại hội VI
đã đề ra chủ trương đổi mới và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, có
sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN.
Thứ hai, đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, DNNVV có vai trò quan
trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước và vai trò này ngày càng được tăng
lên cùng với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, bởi DNNVV đang là động
121
lực cho phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, huy động vốn trong nước, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế…
Thứ ba, đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng khẳng
định vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, tác động đến mọi mặt của đời
sống, kinh tế, xã hội và chính trị của nước ta. Tỉ trọng kim ngạch xuất xuất khẩu của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong ngành da giày gần
57%. Trong điều kiện của chúng ta hiện nay một đất nước mới tham gia vào quá
trình hội nhập có xuất phát điểm rất thấp, chúng ta đang thiếu vốn, thiếu công nghệ
hiện đại, thiếu việc làm đứng trước nhu cầu ấy chủ trương mở cửa thu hút vốn FDI
của Đảng và Chính phủ đã được ban hành kịp thời nhờ đó hoạt động của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã thực sự trở thành cú huých thúc đẩy nền kinh tế
Việt Nam phát triển, phá vỡ vòng luẩn quẩn của một nước kém phát triển.
Trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, định hướng đổi mới và phát triển
hệ thống doanh nghiệp Việt Nam được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm về chủ
trương đổi mới các loại hình doanh nghiệp nhằm phát triển nền kinh tế đất nước đa
dạng về thành phần và hiệu quả về hoạt động quản lý, trong đó hoạch định về
phương hướng đầu tư phát triển và tầm nhìn đối với các doanh nghiệp sản xuất nói
chung và các đơn vị sản xuất giày nói riêng được xúc tiến mạnh mẽ và đã đạt được
kết quả nhất định. Các công ty sản xuất giày không ngừng được gia tăng cả về số
lượng và chất lượng. Trong điều kiện đó, tổ chức công tác kế toán trong các công ty
sản xuất giày cần phải được hoàn thiện theo hướng góp phần thiết lập môi trường
thông tin minh bạch và kịp thời nhằm đảm bảo cho các nhà quản lý trong công ty
cũng như các đối tượng sử dụng thông tin của công ty thỏa mãn nhu cầu sử dụng và
khai thác thông tin đáng tin cậy.
3.2.3. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất
giày phải đảm bảo phù hợp với định hướng phát triển của ngành da giày Việt Nam
Theo quyết định số 880/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển
ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
- Phát triển ngành dệt may - da giày theo hướng chuyên môn hóa, hiện đại
hóa, nhằm tạo ra bước nhảy vọt về chất và lượng sản phẩm.
122
- Lấy xuất khẩu làm mục tiêu cho phát triển của ngành, đồng thời đáp ứng
tối đa nhu cầu thị trường nội địa. Tập trung phát triển mạnh các sản phẩm công
nghiệp hỗ trợ, sản xuất nguyên phụ liệu, nâng cao giá trị gia tăng của các sản
phẩm trong ngành.
- Tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp ngành dệt may - da giày giai đoạn
đến năm 2020 đạt 10 - 12%; giai đoạn đến năm 2030 đạt 8 - 9%.
- Năm 2020 tỷ trọng ngành dệt may - da giày chiếm 10 - 12% trong cơ cấu
ngành công nghiệp và đáp ứng 90 - 95% nhu cầu thị trường; năm 2030 chiếm tỷ
trọng 7 - 8% và đáp ứng 100% nhu cầu.
- Đến năm 2020:
+ Tiếp tục phát triển sản xuất các sản phẩm ngành dệt may, da giày theo
hướng phục vụ xuất khẩu, kết hợp đáp ứng nhu cầu trong nước với mẫu mã, chất
lượng, giá cả phù hợp sức mua của người tiêu dùng các vùng miền, chú trọng các
vùng nông thôn, miền núi;
+ Đầu tư nâng cấp kết hợp đầu tư mới các dây chuyền sản xuất sản phẩm
thời trang cao cấp; xây dựng các trung tâm thiết kế mẫu mốt có quy mô hiện đại;
tiếp tục triển khai chương trình 5 tỷ mét vải. Hợp tác với ngành dầu khí trong đầu tư
một số dự án xơ sợi tổng hợp.
+ Nghiên cứu xây dựng trung tâm xúc tiến thương mại chuyên ngành.
Tập trung đáp ứng nhu cầu các phụ liệu ngành may và da giày; khai thác có
hiệu quả các dự án xơ sợi tổng hợp.
- Đến năm 2030:
+ Tập trung phát triển vùng nguyên liệu bông, vùng chăn nuôi gia súc để chủ
động một phần nguyên liệu bông, da cho ngành.
+ Tiếp tục nghiên cứu phát triển các loại quần áo thời trang, giày cao cấp
phục vụ các thị trường đòi hỏi chất lượng cao.
Từ những định hướng chiến lược phát triển ngành dầu khí trong thời gian tới,
vấn đề đặt ra với các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương:
3.2.4. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất
giày phải đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin kinh tế tài chính cho
123
công tác quản lý kinh tế cả ở tầm vĩ mô và tầm vi mô
Chất lượng công tác kế toán trong các doanh nghiệp nói chung và trong các
công ty sản xuất giày nói riêng phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng tổ chức công tác
kế toán. Mục đích của tổ chức công tác kế toán hợp lý và khoa học là nhằm đảm
bảo thu nhận, xử lý kịp thời, đầy đủ và chính xác các thông tin phục vụ yêu cầu
quản lý kinh tế tài chính ở cả tầm vĩ mô và tầm vi mô. Do đó, nâng cao chất lượng
và hiệu quả của tổ chức công tác kế toán cần phải hoàn thiện cả môi trường pháp lý
về kế toán và việc tổ chức thực hiện chế độ kế toán trong các công ty. Điều đó đặt
ra yêu cầu đối với Nhà nước phải xây dựng hệ thống kế toán phù hợp với tình hình
thực tế về quản lý kinh tế tài chính trong các doanh nghiệp trên cơ sở các nguyên
tắc cơ bản sau đây:
- Thống nhất về nguyên tắc, phương pháp xử lý, hệ thống hóa, cung cấp
thông tin kế toán đối với tất cả các loại hình công ty thuộc mọi thành phần kinh tế;
- Phù hợp với các nguyên tắc, thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế và
chuẩn mực kế toán quốc gia, đồng thời tuân thủ Luật Kế toán Việt Nam; giải quyết
tốt mối quan hệ giữa chính sách tài chính, chính sách thuế và chính sách kế toán;
- Đảm bảo sự thống nhất quản lý trong phạm vi quốc gia, đồng thời đảm bảo
phát huy tính tự chủ của các công ty trong quản lý kinh tế tài chính thông qua hệ
thống kế toán, bao gồm chế độ chứng từ kế toán và ghi chép ban đầu, chế độ tài
khoản kế toán, chế độ sổ kế toán và chế độ báo cáo kế toán;
- Hệ thống kế toán phải đảm bảo đơn giản, dễ làm, dễ hiểu, dễ kiểm soát
công khai và minh bạch;
- Đảm bảo sự kịp thời, đầy đủ và trung thực của các thông tin kế toán cung
cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin.
3.2.5. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các công ty sản xuất giày
phải đảm bảo tính hiệu quả và có tính khả thi
Tổ chức công tác kế toán trong các công ty sản xuất giày cần phải đảm bảo
thực hiện nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả và khả thi. Theo đó, tổ chức công tác kế
toán phải thực hiện đầy đủ các quy trình từ công tác nghiên cứu lý luận, khảo sát
thực tiễn đến các công việc chuẩn bị điều kiện cần thiết để thực hiện kế hoạch. Tùy
124
từng điều kiện cụ thể của mỗi công ty để xây dựng kế hoạch tổ chức công tác kế
toán hợp lý và khoa học; đảm bảo thực hiện được tốt các yêu cầu đã nêu ra nhằm
tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả cũng như đảm bảo tính khả thi của phương
án đề xuất.
3.3. Nội dung hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh
nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các công ty sản xuất giày trên địa
bàn tỉnh Hải Dương bao gồm nhiều nội dung. Song, xét trên góc độ các bộ phận cấu
thành hệ thống kế toán và những tồn tại trong tổ chức công tác kế toán trong thời
gian qua ở các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương, đồng thời tính
đến hiệu quả của việc cung cấp thông tin kế toán đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế tài
chính của các cơ quan quản lý các cấp cũng như của bản thân từng công ty, luận án
tập trung hoàn thiện các nội dung tổ chức công tác kế toán sau đây:
3.3.1. Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán
* Tổ chức bộ máy kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn
tỉnh Hải Dương theo mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung kết hợp KTTC và
KTQT theo từng phần hành kế toán. Qua khảo sát các doanh nghiệp sản xuất giày
trên địa bàn tỉnh Hải Dương, đại đa số các doanh nghiệp đã kết hợp KTTC và
KTQT trong từng phần hành kế toán, tuy nhiên để KTTC và KTQT phát huy được
hết khả năng cung cấp thông tin thì đòi hỏi phải tổ chức KTTC và KTQT một cách
khoa học, rõ nét, bài bản hơn.
Đại bộ phận các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương có
quy mô nhỏ địa bàn hoạt động tập trung do đó việc bố trí mô hình tổ chức bộ máy
kế toán tập trung, kết hợp KTTC và KTQT trong từng phần hành trên cùng một bộ
máy là phù hợp.
Tổ chức bộ máy kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn
tỉnh Hải Dương cần phải hoàn thiện để đảm bảo phù hợp với đặc điểm, cơ cấu tổ
chức yêu cầu của quản lý của từng doanh nghiệp. Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
kiểu tập trung:
Sơ đồ 3.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán kiểu tập trung
125
KẾ TOÁN TRƯỞNG
Bộ phận Kế toán
Bộ phận kiểm tra
Bộ phận Kế toán Bộ phận tài doanh thu và Kết tổng hợp kế toán chính quả kinh doanh
Bộ phận
Bộ phận Bộ phận Bộ phận
kế toán kế toán kế toán kế toán tiền nguồn chi phí … lương vốn quỹ và giá
thành
Nhân viên kinh tế ở các
đơn vị phụ thuộc
Theo mô hình này các bộ phận đã dược phân công sẽ thực hiện cả công việc
KTTC và KTQT, nghĩa là phải xác định được công việc nào, thông tin nào cần cho
việc lập báo cáo của KTC, thông tin nào cần cho việc lập báo cáo của KTQT. Cuối
kỳ tổng hợp thông tin về KTTC để lập báo cáo tài chính, thông tin về KTQT lập báo
cáo quản trị. Để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình đòi hỏi giữa các bộ
phận kế toán trong bộ máy kế toán phải có mối liên hệ chặt chẽ trong việc thu nhận
và cung cấp thông tin KTTC và thông tin KTQT. Theo mô hình này, phòng kế toán
của doanh nghiệp bao gồm các bộ phận kế toán đảm nhiệm các phần hành KTTC và
KTQT cụ thể như:
- Bộ phận tài chính;
- Bộ phận kế toán tài sản cố định vật tư;
126
- Bộ phận kế toán tiền lương và các khoản thanh toán với người lao động;
- Bộ phận kế toán tiền và thanh toán;
- Bộ phận kế toán chi phí và giá thành;
- Bộ phận kế toán nguồn vốn, quỹ;
- Bộ phận kế toán tổng hợp;
- Bộ phận kiểm tra kế toán.
Tương ứng với mỗi bộ phận của KTTC nói trên bao gồm các phần hành
KTQT. Nhân viên kế toán thực hiện các công việc của KTTC đồng thời được giao
nhiệm vụ của KTQT.
Công việc chủ yếu của KTQT ở các bộ phận này căn cứ vào yêu cầu quản lý
cụ thể đối với từng chỉ tiêu lựa chọn trong quản lý doanh nghiệp.
Nhiệm vụ cụ thể của kế toán viên trong các bộ phận kế toán theo mô hình kết
hợp giữa KTTC và KTQT như sau:
Bộ phận tài chính:
Bộ phận này chịu trách nhiệm về tình hình thực hiện chế độ tài chính, đôn
đốc việc thực hiện kế hoạch tài chính, khai thác, huy động vốn, sử dụng vốn trong
toàn doanh nghiệp.
Bộ phận kế toán tài sản cố định và vật tư:
- KTTC ghi sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết tài sản cố định và các
loại vật tư. Số liệu của KTTC cung cấp cho việc lập báo cáo tài chính.
- KTQT, căn cứ vào yêu cầu quản trị doanh nghiệp, lựa chọn các chỉ tiêu chi
tiết phục vụ cho yêu cầu KTQT:
+ Mở sổ chi tiết theo dõi tài sản cố định, khấu hao tài sản cố định.
+ Lập dự toán tình hình tăng, giảm tài sản cố định theo từng nguồn vốn đầu
tư, theo từng nơi sử dụng tài sản cố định.
+ Lập dự toán đối với các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản cố định, chỉ tiêu
doanh thu trên tài sản cố định, chỉ tiêu lợi nhuận trên tài sản cố định.
+ Phân tích tình hình thực hiện các chỉ tiêu liên quan đến TSCĐ đã được dự toán.
+ Cung cấp số liệu cho việc lập báo cáo quản trị.
Sơ đồ 3.2. Sơ đồ kết hợp công việc của KTTC và KTQT
Xử lý số liệu
127
Kế toán tài chính
- Ghi sổ tổng hợp - Ghi sổ chi tiết
Lập báo cáo tài chính (các chỉ tiêu liên quan)
tổng hợp
Xử lý số liệu
Kế toán quản trị
Lập báo cáo quản trị (các chỉ tiêu liên quan)
cụ thể
- Lập các dự toán - Ghi chép số liệu theo từng chỉ tiêu dự toán - Phân tích…
Bộ phận kế toán và thanh toán:
- KTTC ghi sổ kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết các loại tiền, các khoản
thanh toán với người bán, người mua, với NSNN, với các đơn vị phụ thuộc.
- KTQT tiền và thanh toán căn cứ vào yêu cầu quản trị cụ thể đối với từng
chỉ tiêu để mở sổ kế toán nhằm thu nhận được các thông tin phục vụ cho KTQT và
lập báo cáo quản trị:
+ Lập dự toán thu, chi tiền cho mục đích khác nhau và theo từng bộ phận sử
dụng tiền;
+ Lập kế toán dự toán tình hình công nợ đối với từng đối tượng theo từng
khoản nợ, theo thời hạn nợ;
+ Tính toán so sánh các phương án, trả vay mua bán chịu hoặc trả tiền ngay
để hưởng chiết khấu;
+ Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán tiền thường xuyên;
+ Cung cấp số liệu cho lập báo cáo quản trị về các chỉ tiêu công nợ và
thanh toán.
Bộ phận kế toán chi phí và giá thành:
- KTTC ghi sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết chi phí sản xuất, kinh
doanh, tính giá thành sản phẩm theo loại sản phẩm… Nhằm cung cấp các số liệu
tổng hợp phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và các chỉ tiêu chi phí và giá thành.
- KTQT chi phí và giá thành căn cứ vào yêu cầu quản lý cụ thể để thực hiện
128
các công việc sau đây:
+ Lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí, lập dự toán chi phí sản xuất kinh
doanh theo từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm.
+ Phân loại chi phí sản xuất theo tiêu chuẩn phân loại phù hợp với yêu cầu
quản trị.
+ Lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ chi phí và tính toán phân bổ chi phí các đối
tượng chịu chi phí.
+ Lập kế hoạch giá thành theo công việc, theo địa điểm kinh doanh…
+ Mở sổ kế toán thu thập, ghi chép cụ thể, chi tiết các số liệu liên quan đến
tính toán giá thành sản phẩm theo yêu cầu quản trị.
Các bộ phận kế toán thuộc mô hình này có quan hệ chặt chẽ với nhau trong
việc cung cấp thông tin, số liệu phục vụ yêu cầu KTTC và KTQT cũng như các yêu
cầu quản trị của nhà quản lý. Cụ thể là:
- Bộ phận kế toán vốn bằng tiền và thanh toán: cung cấp thông tin về các
loại tiền hiện có và tình hình thanh toán công nợ theo từng chủ nợ, khả năng thanh
toán hiện hành và thanh toán nhanh. Trên cơ sở đó nhà quản lý nắm chắc tình hình
tài chính thực tế của doanh nghiệp. Các thông tin này được sử dụng để quyết định
mua hàng, tài sản cố định và vật tư, đồng thời xem xét tình hình chi phí bởi các số
liệu được cung cấp từ bộ phận kế toán tài sản cố định, vật tư, kế toán chi phí và giá
thành sản phẩm.
- Bộ phận kế toán chi phí và giá thành
+ Phân tích chi phí và giá thành;
+ Cung cấp số liệu cho việc lập báo cáo quản trị về các chỉ tiêu liên quan đến
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm…
- Bộ phận kế toán nguồn vốn, quỹ
+ KTTC nguồn vốn, quỹ ghi sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết nguồn
vốn, các quỹ của doanh nghiệp và cung cấp số liệu tổng hợp để lập báo cáo tài
chính về các chỉ tiêu này.
+ KTQT nguồn vốn, quỹ căn cứ yêu cầu cụ thể về quản lý các nguồn vốn,
129
quỹ để mở sổ thu nhận số liệu phục vụ cho quản trị các nguồn vốn và các quỹ của
doanh nghiệp.
+ Lập dự toán về khả năng khai thác và sử dụng nguồn vốn quỹ.
+ Tính toán các chỉ tiêu quản trị như tỷ suất tự tài trợ, tỷ suất tài trợ, chỉ tiêu
doanh thu trên nguồn vốn chủ sở hữu, lợi nhuận trên nguồn vốn chủ sở hữu…
+ Phân tích các chỉ tiêu thuộc nguồn vốn, quỹ để có biện pháp khai thác và
sử dụng hiệu quả nguồn vốn, quỹ của doanh nghiệp.
+ Cung cấp số liệu cho việc lập báo cáo quản trị về các chỉ tiêu quản trị
nguồn vốn, quỹ.
- Bộ phận kế toán tổng hợp
+ KTTC trên cơ sở tổng hợp số liệu, tài liệu từ các bộ phận kế toán có liên
quan và thực hiện ghi chép kế toán tổng hợp và chi tiết các phần hành KTTC còn lại
để lập báo cáo tài chính.
+ KTQT ở bộ phận này có nhiệm vụ thực hiện các công việc còn lại theo yêu
cầu quản lý của doanh nghiệp; căn cứ số liệu, tài liệu đã thu nhận được của các bộ
phận KTQT khác gửi đến để lập các báo cáo KTQT.
+ Bộ phận kiểm tra kế toán sẽ lập kế hoạch kiểm tra, trực tiếp kiểm tra tất cả
các phần hành kế toán (kiểm tra thực hiện Luật kế toán, lập xử lý chứng từ, vận
dụng tài khoản, sổ sách, tổ chức lãnh đạo công tác kế toán,…)
Ưu điểm cơ bản của mô hình kết hợp:
Một là, kết hợp chặt chẽ giữa quản lý tổng hợp và quản lý cụ thể theo từng
chỉ tiêu;
Hai là, việc phân công, phân nhiệm trong phòng kế toán thuận lợi, đơn giản,
dễ làm, tạo điều kiện quản lý chặt chẽ khối lượng công việc của nhân viên kế toán;
Ba là, việc thu nhận và xử lý thông tin nhanh từ khâu thu nhận, xử lý chứng
từ, ghi sổ kế toán đến việc cung cấp số liệu;
Bốn là, thuận tiện cho việc cơ giới hóa công tác kế toán.
Tuy nhiên, mô hình này có một số nhược điểm sau:
- Không tạo điều kiện thuận lợi cho chuyên môn hóa theo hai loại KTTC và
130
KTQT từ đó hạn chế đến quá trình quản lý nội bộ.
Để tổ chức theo mô hình kế toán toán tập trung, kết hợp với KTTC và KTQT
trong từng phần hành kế toán các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải
Dương cần giải quyết triệt để các vấn đề sau:
- Tổ chức phân công phù hợp năng lực, phân định trách nhiệm của từng
người trong từng bộ phận, phần hành.
Đối với nhân viên kế toán có trình độ chuyên môn vững vàng, có kinh
nghiệm quản lý sẽ được bố trí những phần hành kế toán phức tạp. Đại bộ phận các
doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương là các doanh nghiệp thực
hiện gia công các loại giày xuất khẩu cho các đối tác nước ngoài, nhận nguyên vật
liệu chính, vật liệu phụ của đối tác và lấy công làm lãi do vậy đó với việc bố trí
người làm kế toán các phần hành là hết sức quan trọng đặc biệt là phần hành kế toán
nguyên vật liệu và kế toán tiền lương và các khoản thanh toán với người lao động.
Đây là phần hành phức tạp cần phải được theo dõi đặc biệt. Qua khảo sát một số
doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương cho thấy: Ví dụ Công ty Cổ
phần giày Hải Dương, Công ty TNHH Việt Phát riêng phần hạch toán tiền lương
được làm thủ công dưới sự hỗ trợ của bảng tính excel để theo dõi riêng cuối kỳ mới
được kế toán tổng hợp kết xuất vào phần mềm kế toán. Bởi đặc điểm của hầu hết
các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương có lực lượng lao động
là nữ đang độ tuổi sinh nở thường xuyên có sự biến động về nghỉ thai sản, con ốm,
mẹ nghỉ. Với lực lượng lao động nữ đông theo dõi phức tạp đòi hỏi tổ chức phần
hành kế toán tiền lương và các khoản phải nộp cho người lao động phải hết sức
khoa học, khai thác tối đa sự hỗ trợ của các thiết bị công nghệ, nắm chắc các quy
định của luật bảo hiểm xã hội, có quan hệ phối hợp tốt với cơ quan bảo hiểm.
- Nâng cao chất lượng chuyên môn, ý thức chấp hành pháp luật cho đội ngũ
những người làm công tác kế toán. Đặc biệt, sau khi tham gia TPP, Việt Nam cần
phải điều chỉnh cả những yếu tố thương mại như những nội dung liên quan tới lao
động, quyền sở hữu trí tuệ... khẳng định sự cấp thiết phải tiến hành cải cách thể
chế, tự do hóa thị trường. Điều này đòi hỏi những người làm kế toán trong các
131
doanh nghiệp sản xuất giày của chúng ta phải đủ trình độ để đáp ứng yêu cầu
nghề nghiệp.
Trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay các doanh nghiệp sản xuất giày đa số
là các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong điều kiện kinh tế khó khăn như hiện nay có
rất nhiều doanh nghiệp không tổ chức bộ máy kế toán riêng thành phòng ban kế
toán mà tiến hành thuê người làm kế toán kể cả kế toán trưởng, điều này hoàn toàn
phù hợp với quan điểm đổi mới tổ chức công tác chuyên môn nghề nghiệp kế toán
kiểm toán. Công việc kế toán, trước đây phải gắn với con người cụ thể trong đơn vị
kế toán. Nay đã được đổi thành nghề nghiệp dịch vụ có thể thuê mướn. Trong nền
kinh tế thị trường như hiện nay, tổ chức kế toán - kiểm toán với tư cách là tổ chức
xã hội dân sự đã hình thành và ngày càng có vai trò quan trọng trong quản lý nghề
nghiệp, tư vấn khoa học và phản biện đối với Nhà nước. Vấn đề đặt ra là những
người làm kế toán thuê cho các doanh nghiệp này không được quản lý một cách
chặt chẽ bài bản. Giữa doanh nghiệp và những người này không có ràng buộc về
trách nhiệm pháp lý. Những người này là sinh viên làm thêm hoặc là cán bộ nghỉ
hưu. Một bộ phận không nhỏ chưa nắm chắc, chưa cập nhật kịp thời các quy định
liên quan đến pháp luật về kế toán cũng như đảm bảo các điều kiện cần thiết trong
việc cung cấp và bảo mật thông tin cho doanh nghiệp. Trong trường hợp này toàn
bộ khâu thu thập thông tin ban đầu như tìm hiểu thông tin thị trường, ký và thanh lý
hợp đồng, lập chứng từ đều do những người trong doanh nghiệp thực hiện, như vậy
sẽ tách rời khâu thu thập thông tin và xử lý thông tin người được thuê về sẽ xử lý
các thông tin đã được thu thập. Hầu hết những người làm kế toán thuê cho doanh
nghiệp không có mặt thường xuyên ở doanh nghiệp và thường chỉ đảm bảo đối phó
với cơ quan thuế, cơ quan chức năng kiểm tra doanh nghiệp còn những thông tin
phục vụ để nhà quản trị ra quyết định thì hết sức hạn chế. Những người này cũng
phải được tập huấn, giám sát các hoạt động hành nghề đảm bảo tuân thủ pháp luật
nộp báo cáo đúng thời hạn quy định và cung cấp thông tin kịp thời đáng tin cậy.
Người làm công tác kế toán cho các doanh nghiệp phải luôn nâng cao ý thức trách
nhiệm với công việc, khả năng tự học để nắm chắc chế độ tài chính vận dụng tốt
132
vào công việc. Nhất là trong điều kiện hiện nay chúng ta đang dần hoàn thiện Luật
kế toán, các chuẩn mực kế toán theo hướng mở, công khai, minh bạch về tình hình
tài chính cho các doanh nghiệp. Kế toán ngày nay không chỉ là công cụ quản lý mà
trở thành một nghề nghiệp chuyên môn, do đó không phải ai cũng có thể làm được
kế toán. Người làm kế toán phải có những tiêu chuẩn nhất định về đạo đức nghề
nghiệp về năng lực chuyên môn. Muốn có được đội ngũ những người làm kế toán
đủ năng lực các doanh nghiệp phải thường xuyên tiến hành sàng lọc bồi dưỡng, tập
huấn, phổ biến kiến thức.
3.3.2. Hoàn thiện về tổ chức thu nhận, kiểm tra thông tin ban đầu
+ Thu nhận thông tin thực hiện quá khứ: Hạch toán ban đầu thông qua việc
lập các chứng từ kế toán là khâu đầu tiên của mọi hệ thống kế toán khi tổ chức thu
thập thông tin thực hiện quá khứ. Việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên
quan đến chi phí doanh thu cụ thể đầy đủ, chính xác vào các chứng từ ban đầu sẽ
giúp cho các khâu kế toán tiếp theo được tiến hành thuận lợi. Nhờ đó mà nhanh
chóng có được các thông tin cần thiết đảm bảo yêu cầu: phù hợp và hữu ích.
Trong kế toán chi phí, chứng từ gốc liên quan đến chi phí thực tế phát sinh là
những chứng từ về các yếu tố sản xuất kinh doanh như:
- Phiếu xuất kho (phiếu xuất vật tư, sản phẩm hàng hóa);
- Các chứng từ về tiền lương (tiền công) phải trả cho người lao động;
- Bảng tính khấu hao TSCĐ;
- Các phiếu chi tiền mặt, các chứng từ của ngân hàng (giấy báo nợ, bản sao
kê của ngân hàng).
Tùy thuộc vào yêu cầu thông tin chi tiết về chi phí, giá thành, giá vốn hàng
bán mà KTQT doanh nghiệp có thể tổ chức chứng từ ban đầu một cách hợp lý.
Chẳng hạn trong doanh nghiệp sản xuất thực hiện sản xuất nhiều loại sản phẩm và
yêu cầu quản trị cần phải có thông tin về giá thành của từng loại sản phẩm và đơn vị
sản phẩm hoàn thành thì có thể tổ chức chứng từ ban đầu theo cách:
- Đối với chi phí trực tiếp (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân
công trực tiếp) nên lập chứng từ riêng cho từng loại sản phẩm (trong trường hợp
133
này nên xác định đối tượng tập hợp chi phí là từng loại sản phẩm).
- Đối với chi phí sản xuất chung thì tổ chức chứng từ để tập hợp được chi phí
theo từng yếu tố chi phí, theo địa điểm phát sinh chi phí (phân xưởng, bộ phận sản
xuất…), sau đó lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ thích hợp để xác định chi phí này cho
từng loại sản phẩm.
- Đối với chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng việc tổ chức chứng
từ để phản ánh các chi phí này tương tự như chi phí sản xuất chung. Do đặc thù đối
với sản xuất gia công chi phí bán hàng bao gồm: chi phí xuất nhập khẩu, chi phí mở
tờ khai hải quan, lấy tờ khai hải quan, chi phí bốc dỡ container.
Trong kế toán doanh thu, các chứng từ gốc liên quan đến doanh thu thực tế
phát sinh là các hóa đơn bán hàng, hóa đơn (GTGT), bảng kê hàng bán lẻ. Việc tổ
chức các chứng từ này cũng cần xuất phát từ yêu cầu thông tin chi tiết về doanh thu
tương ứng với chi phí để xác định kết quả. Nếu cần thông tin về doanh thu, kết quả
của từng mặt hàng thì cần lập các chứng từ này chi tiết cho từng mặt hàng xuất bán
để phản ánh doanh thu của từng mặt hàng theo từng lần xuất bán. Tuy nhiên để
đảm bảo sự kết hợp giữa KTQT và KTTC cần có sự kết hợp các mục đích của
KTTC như lập chứng từ bán hàng phản ánh doanh thu từng mặt hàng kết hợp phản
ánh doanh thu bán hàng theo từng phương thức bán hàng (bán chịu, bán trả góp,
bán thu tiền ngay…) Với đặc thù là các doanh nghiệp sản xuất gia công hàng xuất
khẩu. Doanh thu của hàng gia công được ghi nhận khi hàng hóa xuất ra khỏi kho
có phiếu xuất kho và được mở tờ khai hải quan. Hàng hóa sẽ đi đến cảng và sau khi
hoàn thành mọi thủ tục xác thực được xuất chính thức rời khỏi cảng. Toàn bộ
chứng từ được quay về và được phát hành hóa đơn đồng thời ghi nhận doanh thu.
Tỷ giá xuất kho được xác định tỷ giá thực tế tại thời điểm mở tờ khai hải quan tại
cơ quan hải quan.
+ Thu nhận thông tin tương lai: KTQT thu nhận và cung cấp thông tin tương
lai bằng cách xây dựng kế toán chi phí, giá thành, lợi nhuận đồng thời xây dựng hệ
thống định mức chi phí, dự toán chi phí sản xuất kinh doanh, giúp cho khả năng dự
toán tương lai và khả năng điều hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả cho nhà
134
quản trị. Hầu hết các quyết định của nhà quản trị đều liên quan đến chi phí. Đối
với mỗi loại quyết định, chi phí có liên quan có đặc điểm và nội dung khác nhau.
Để xây dựng được định mức dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí
nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, giá thành phải phân loại chi phí
thành biến phí và định phí.
3.3.3. Hoàn thiện tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin kế toán
Để xử lý hệ thống hóa thông tin kế toán, người làm kế toán phải sử dụng rất
nhiều phương pháp khác nhau. Qua khảo sát thực tế tác giả đưa ra một số vấn đề sau:
Hoàn thiện phương pháp tính giá để xử lý thông tin kế toán: Phương pháp
tính giá là phương pháp kế toán sử dụng thước đo tiền tệ để xác định giá trị của các
đối tượng kế toán phục vụ quá trình thu nhận, xử lý, hệ thống hóa và cung cấp
thông tin kinh tế - tài chính ở đơn vị. Trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa
bàn tỉnh Hải Dương hiện nay hầu hết là các doanh nghiệp gia công sản xuất theo
đơn đặt hàng. Nguyên vật liệu thường được sử dụng bởi hai nguồn đó là nhập khẩu
của chính đối tác và nguồn mua trong nước. Việc tính giá nguyên vật liệu xuất kho
phải hết sức linh hoạt.
Khi tính giá thực tế xuất kho nên phân thành nguyên vật liệu nhập khẩu để
sản xuất theo đơn đặt hàng sẽ được tính giá thực tế theo phương pháp đích danh và
phải theo dõi riêng; đối với nguyên vật liệu mua về để sản xuất sẽ tính theo phương
pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ như vậy sẽ hợp lý và đảm bảo để tính chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp chính xác hơn và vì thế xác định giá thành giày sản xuất ra
cũng chính xác hơn. Qua khảo sát thực tế việc tính giá vật liệu xuất kho ở Công ty
Cổ phần giày Hải Dương, Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình đều sử dụng phương
pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ.
Hoàn thiện tổ chức tài khoản kế toán để xử lý, hệ thống hóa thông tin kế
toán: Trong điều kiện thực hiện mô hình tổ chức KTTC kết hợp với KTQT trong bộ
máy kế toán chung của doanh nghiệp, việc tổ chức tài khoản kế toán để phản ánh
chi tiết chi phí doanh thu, kết quả nên dựa vào hệ thống tài khoản kế toán sử dụng
trong KTTC để mở các tài khoản chi tiết (tài khoản cấp 2,3,4…). Chẳng hạn TK
135
621 - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp nên mở các TK cấp 2 để phản ánh chi phí
này theo từng loại sản phẩm A, B, C… các tài khoản cấp 2 này có thể là:
TK 6211 chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sản phẩm A
TK 6212 chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sản phẩm B
Tương tự như vậy TK cấp 2 cho TK 622 chi phí nhân công trực tiếp. TK 627
chi phí sản xuất chung thì KTQT có thể mở TK cấp 2 để tập hợp từng yếu tố chi phí
trong sản xuất chung thì KTQT có thể mở TK cấp 3 để phản ánh từng yếu tố chi phí
sản xuất chung được phân bổ cho từng loại sản phẩm hoặc sử dụng các TK cấp 2
của TK 627 theo quy định trong hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp để tập hợp
từng yếu tố chi phí sản xuất chung. Sau đó phân bổ những chi phí này cho từng loại
sản phẩm để kết chuyển sang từng chi tiết của TK 154 chi phí sản xuất kinh doanh
dở dang.
Các TK 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, TK 155 - thành phẩm,
TK 632 - giá vốn hàng bán, TK 511 - doanh thu bán hàng trong hệ thống tài khoản
kế toán doanh nghiệp cũng cần được mở các TK cấp 2,3,4 để phản ánh chi tiết chi
phí sản xuất, giá thành sản phẩm, giá vốn hàng xuất bán, doanh thu bán hàng và các
khoản doanh thu theo từng mặt hàng hoặc ngành hàng tùy thuộc vào yêu cầu quản
trị doanh nghiệp.
Việc mở các TK chi tiết cho TK641 - Chi phí bán hàng, TK642 - Chi phí
quản lý doanh nghiệp theo yêu cầu cung cấp thông tin chi tiết về các chi phí này
nhằm phục vụ cho xác định kết quả chi tiết của từng mặt hàng theo yêu cầu quản
trị chi phí và kết quả cũng có thể thực hiện tương tự như TK627 - Chi phí sản
xuất chung.
TK421 - Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, TK911 - Xác định kết quả kinh
doanh cũng cần được mở các tài khoản chi tiết để xác định và phản ánh kết quả của
từng mặt hàng, từng loại sản phẩm hàng hóa.
Kết cấu của các tài khoản chi tiết (TK cấp 2,3,4) mở theo từng tài khoản tổng
hợp tương ứng cũng nên dựa theo kết cấu của các tài khoản tổng hợp này nhưng
mang nội dung của chỉ tiêu chi tiết.
136
Việc tổ chức tài khoản kế toán để phản ánh chi tiết chi phí, doanh thu, kết
quả theo yêu cầu quản trị như trên vừa đảm bảo cung cấp thông tin chi tiếp theo yêu
cầu quản trị doanh nghiệp, vừa đảm bảo khả năng đối chiếu giữa thông tin chi tiết
với thông tin tổng hợp liên quan của các đối tượng kế toán biểu hiện cụ thể trong
từng doanh nghiệp.
Về tổ chức tài khoản nguyên liệu, vật liệu
Qua khảo sát một số doanh nghiệp sản xuất giày trên điạ bàn tỉnh Hải Dương
cho thấy trong việc phân loại vật liệu một số doanh nghiệp phân loại chưa hợp lý.
Đối với tài khoản để theo dõi hạch toán nguyên vật liệu nên xây dựng thêm các tài
khoản cấp 2 do nguyên vật liệu ở các đơn vị đa dạng, phong phú về chủng loại màu
sắc, số lượng rất nhiều. Khi phân loại nguyên vật liệu nên phân loại vật liệu theo
mục đích sử dụng và giá trị của chúng. Vật liệu mua trong nước nếu có giá trị sử
dụng lớn, thường xuyên và cấu thành sản phẩm thì nên đưa vào vật liệu chính.
Ngược lại, vật liệu ngoại nhập nếu giá trị sử dụng nhỏ nên coi là vật liệu phụ và đưa
vào vật liệu phụ.
Ví dụ: Những vật liệu được coi là nguyên vật liệu chính mà được mua trong
nước như:
+ Mút xốp các loại;
+ Dây giày;
+ Giấy gói, giấy nhét, nylon đựng giày;
+ Hòm carton đựng sản phẩm;
+ Đế giày...
Và những vật liệu nhập khẩu có thể coi là vật liệu phụ như:
+ Bàn chải quét keo;
+ Bánh mài tre;
+ Bánh mài cước...
Về tình hình sử dụng vật liệu: Hệ thống định mức tiêu hao vật liệu phải được
xây dựng trên yêu cầu kỹ thuật công nghệ của sản phẩm kết hợp với thực tế và kinh
nghiệm sản xuất. Ngoài ra phải sử dụng hợp lý, tiết kiệm chi phí vật liệu trên cơ sở
137
các định mức, nên có chế độ thưởng phạt nghiêm minh với việc tiết kiệm cũng như
lãng phí nguyên vật liệu. Bên cạnh đó phải có sự kiểm chứng, báo cáo, thông tin
phản hồi vật tư hàng ngày. Từ đó kiểm tra được hạn mức kế hoạch tại tất cả các
phân xưởng sản xuất trong công ty. Thông qua việc tiêu hao vật tư thực tế và hạn
mức kế hoạch mà công ty có sự chuẩn bị mua sắm, dự trữ vật tư đảm bảo cho quá
trình sản xuất được liên tục.
Thực hiện kiểm tra giám sát mặt giá trị của vật liệu: tổ chức xuyên suốt số
liệu từ phòng vật tư - kho - phân xưởng - phòng kế toán. Từ đó, sẽ đưa ra những
thông tin để dự báo dự trữ, chủ động thu mua và cung cấp vật liệu.
* Hoàn thiện tổ chức sổ kế toán để xử lý, hệ thống hóa thông tin kế toán
Để thiết kế mẫu các sổ kế toán phản ánh chi tiết chi phí trong doanh nghiệp
cần căn cứ vào:
- Yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp;
- Đối tượng tập hợp chi phí mà doanh nghiệp đã xác định.
Nhằm đảm bảo yêu cầu:
- Theo dõi được chi tiết từng khoản mục chi phí, yếu tố chi phí kết hợp với
việc nhận dạng chi phí biến đổi và chi phí cố định;
- Phân tích chi phí theo từng đối tượng tập hợp chi phí đã các định phù hợp
với yêu cầu cung cấp thông tin chi tiết về chi phí để vừa phục vụ yêu cầu quản lý
chi phí đáp ứng yêu cầu xác định kết quả từng hoạt động, từng mặt hàng... theo yêu
cầu của nhà quản trị doanh nghiệp.
Nguyên tắc chung để ghi sổ chi tiết chi phí là:
- Những chi phí trực tiếp thì khi phát sinh sẽ được trực tiếp vào sổ kế toán
chi tiết tương ứng;
- Đối với những chi phí chung (thường là chi phí sản xuất chung, chi phí bán
hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp) khi phát sinh nên ghi vào sổ tương ứng mở cho
từng khoản chi phí này (riêng chi phí sản xuất chung có thể mở số theo từng địa
điểm phát sinh chi phí - phân xưởng, bộ phận sản xuất...).
Định kỳ phân bổ các chi phí này cho các đối tượng chịu chi phí liên quan.
138
Ví dụ: Mẫu số chi phí sản xuất chung trong doanh nghiệp sản xuất có thể
theo mẫu sau: Phụ lục số 03
Mẫu sổ chi tiết sản xuất toàn doanh nghiệp (Xem chi tiết tại Phụ lục số 04)
Tương tự như mẫu sổ chi tiết chi phí sản xuất chung, có thể mở sổ chi tiết chi
phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp theo mẫu (Xem chi tiết tại Phụ lục số
05) Thiết kế sổ chi tiết doanh thu, kết quả kinh doanh.
Việc thiết kế mẫu sổ kế toán chi tiết doanh thu, kết quả có thể thực hiện bằng
1 trong 2 cách:
- Mẫu sổ chi tiết doanh thu riêng.
- Mẫu sổ chi tiết doanh thu kết hợp với chi tiết kết quả kinh doanh dù thiết kế
mẫu sổ chi tiết doanh thu, kết quả theo cách nào thì cũng cần đáp ứng các yêu cầu:
+ Phản ánh được các chi tiết doanh thu, kết quả theo yêu cầu cung cấp thông
tin phục vụ quản trị doanh thu, kết quả;
+ Đảm bảo sự tương thích về đối tượng cần theo dõi chi tiết giữa doanh thu
với chi phí để xác định kết quả chi tiết theo yêu cầu quản trị. Thông thường sổ chi tiết
doanh thu, kết quả nên mở cho từng loại sản phẩm, dịch vụ, từng mặt hàng tiêu thụ.
Mẫu sổ doanh thu độc lập (Xem chi tiết tại Phụ lục số 06)
Mẫu sổ chi tiết doanh thu bán hàng xuất khẩu (Xem chi tiết tại Phụ lục số 07)
Để có thông tin về lãi gộp thì trên sổ này có thể thêm dòng “Chi phí sản
phẩm của hàng đã bán” và dòng “Lãi gộp” sau dòng “Doanh thu thuần”.
Mẫu sổ chi tiết doanh thu kết hợp với chi tiết kết quả dinh doanh (Xem chi
tiết tại Phụ lục số 08).
Để ghi vào mẫu sổ kết hợp này cần phải căn cứ vào:
- Chứng từ gốc là các hóa đơn bán hàng hoặc hóa đơn (GTGT) và chứng từ
liên quan để ghi vào các cột “doanh thu”, “các khoản giảm doanh thu”.
- Căn cứ vào kết quả tính giá hàng xuất bản đã bán để ghi vào cột “Chi phí
sản phẩm của hàng đã bán” (đối với sản phẩm, hàng hóa) hoặc căn cứ vào giá phí
của dịch vụ đã cung cấp để ghi vào cột này (đối với dịch vụ đã cung cấp).
- Căn cứ vào kết quả phân bổ, chi phí bán hàng, chi phí quản trị doanh
139
nghiệp thể hiện trên sổ chi tiết chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp để
ghi vào các cột tương ứng.
Trong trường hợp bán hàng thu ngoại tệ thì trên sổ chi tiết doanh thu cần có
cột theo dõi nguyên tệ, tỷ lệ giá quy đổi ngoại tệ và số tiền theo đơn vị đồng Việt
Nam sau khi quy đổi.
Hoàn thiện hệ thống báo cáo thực hiện
Để giúp các nhà quản trị thực hiện chức năng kiểm soát, các kế toán viên
KTQT sử dụng các số liệu chi tiết về chi phí, doanh thu, kết quả thực hiện trên các
sổ kế toán liên quan để soạn thảo các báo cáo thực hiện.
Trong đa số các báo cáo thực hiện, KTQT nên vừa trình bày các thông tin
thực hiện, vừa trình bày những thông tin về dự toán (kế hoạch) tương ứng để đảm
bảo so sánh những kết quả thực tế đạt được với dự toán, liệt kê tất cả những sự khác
biệt giữa thực hiện với dự toán để giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá
tình hình thực hiện kế hoạch (dự toán). Khi thiết kế và soạn thảo các báo cáo KTQT
cần đảm bảo các yêu cầu:
- Các thông tin trên báo cáo phải được phân chia thành các chỉ tiêu phù hợp
với các tiêu chuẩn đánh giá thông tin trong mỗi tình huống quyết định khác nhau;
- Các chỉ tiêu trong báo cáo phải có quan hệ chặt chẽ, lôgíc với nhau;
- Các số liệu thực tế, dự toán, định mức hoặc các mục tiêu định trước trong
báo cáo phải so sánh được với nhau để giúp các nhà quản trị doanh nghiệp sử dụng
thông tin thực hiện chức năng kiểm soát các hoạt động;
- Hình thức kết cấu các báo cáo cần đa dạng, linh hoạt tùy thuộc vào tiêu
chuẩn đánh giá thông tin trong mỗi báo cáo phục vụ cho từng tình huống cụ thể;
- Các chỉ tiêu trong báo cáo thực hiện nên được phân bổ theo loại sản phẩm,
mặt hàng hoặc theo khu vực, thời gian, bộ phận…
Một số mẫu báo cáo thực hiện có thể thiết kế theo các mẫu sau:
Mẫu: Báo cáo giá thành sản phẩm (từng phân xưởng) (Xem chi tiết tại Phụ
lục số 09);
Mẫu: Báo cáo số lượng sản phẩm sản xuất hàng tháng (Xem chi tiết tại Phụ
140
lục số 10);
Mẫu: Báo cáo sản xuất (từng phân xưởng) (Xem chi tiết tại Phụ lục số 11).
Các báo cáo thực hiện do KTQT lập ra sẽ được gửi cho các cấp quản trị
trong doanh nghiệp. Do vậy, các thông tin trên báo cáo phải giúp các nhà quản trị
trong doanh nghiệp biết được kế toán đề ra đã được thực hiện như thế nào và chỗ
nào cần phải thay đổi, bổ sung, điều chỉnh nhằm hướng mọi hoạt động của doanh
nghiệp về mục tiêu đã xác định. KTQT doanh nghiệp thực hiện thu thập, trình bày
và cung cấp các thông tin định lượng về các hoạt động của doanh nghiệp cho các
nhà quản trị doanh nghiệp để họ ra quyết định liên quan đến hoạch định và kiểm
soát các hoạt động trong doanh nghiệp. Trong quá trình hoạch định và kiểm soát,
các nhà quản trị doanh nghiệp luôn quan tâm đến khả năng sinh lời của doanh
nghiệp. Cụ thể khi ra quyết định, các nhà quản trị doanh nghiệp phải xem xét số
lượng hoạt động (số lượng sản phẩm sản xuất và bán ra) trong mối quan hệ với chi
phí bỏ và lợi nhuận thu được. Điều đó cũng có nghĩa là muốn kiểm soát được lợi
nhuận, các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải biết được chi phí cho các hoạt động
quan hệ như thế nào đến khối lượng hoạt động và đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Thực tế hoạt động của doanh nghiệp cho thấy một số chi phí không thay đổi
khi số lượng hoạt động của doanh nghiệp thay đổi (định phí), nhưng một số chi phí
khác lại thay đổi khi số lượng hoạt động thay đổi (biến phí). KTQT khi cung cấp
các thông tin về chi phí (kể cả thông tin thực hiện và thông tin dự báo) cần phải
phân biệt được định phí và biến phí. Việc phân biệt chi phí thành định phí và biến
phí có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các thông tin chi phí thích hợp cho
việc ra quyết định cũng như trong việc phân tích mối quan hệ chi phí khối lượng lợi
nhuận và trong việc dự báo chi phí.
Từ sự phân tích trên cho thấy khi cung cấp các thông tin về chi phí trong các
báo cáo KTQT, đặc biệt là báo cáo kết quả, cần phải phân biệt chi phí thành biến
phí và định phí.
Mẫu: Báo cáo chi phí sản xuất chung (Xem chi tiết tại Phụ lục số 12)
Trong các chỉ tiêu trên thì chỉ tiêu “Số giờ máy hoạt động” là tiêu thức
141
thường sử dụng để phân bổ chi phí sản xuất chung (cả khi lập dự toán và khi phân
bổ chi phí sản xuất chung thực tế).
Mẫu: Báo cáo kết quả (Xem chi tiết tại Phụ lục số 13)
Trong các chỉ tiêu thuộc mẫu báo cáo này các chỉ tiêu về định phí chỉ cần
theo dõi tổng số.
Trong một doanh nghiệp với nhiều bộ phận phụ thuộc hoạt động trong nhiều
lĩnh vực hoặc thuộc nhiều khu vực khác nhau thì các báo cáo kết quả thực hiện cũng
cần phân biệt rõ doanh thu, chi phí (định phí và biến phí) và lợi nhuận trước thuế
theo từng bộ phận, từng hoạt động hoặc từng khu vực… và theo toàn doanh nghiệp
để giúp các nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp có thể đánh giá được cụ thể kết
quả hoạt động theo bộ phận, hoạt động hoặc khu vực… cụ thể.
Trong trường hợp này các mẫu Báo cáo kết quả theo khu vực và bộ (Xem chi
tiết tại Phụ lục số 14)
Trong 2 mẫu báo cáo này có thể tách định phí chung của toàn doanh nghiệp
thành mọi chi tiêu riêng nhằm đánh giá chính xác trách nhiệm của các nhà quản trị
ở từng bộ phận, lĩnh vực, khu vực… Trước kết quả đạt được ở bộ phận, lĩnh vực,
khu vực… họ trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý và kiểm soát chi phí. Có thể coi các
mẫu báo cáo này là những báo cáo bộ phận, các thông tin trên đó cho phép đánh giá
kết quả hoạt động của từng bộ phận, lĩnh vực, khu vực… giúp các nhà quản trị
doanh nghiệp đánh giá kết quả hoạt động của từng bộ phận (lĩnh vực, khu vực…),
qua đó giúp họ ra các quyết định quản lý đúng đắn.
Để KTQT doanh nghiệp thực sự là hệ thống kế toán cung cấp những thông
tin định lượng giúp các nhà quản trị trong doanh nghiệp ra các quyết định liên quan
đến hoạch định và kiểm soát, thì vấn đề tổ chức một cách khoa học, hợp lý việc thu
thập thông tin thực hiện một cách chi tiết về chi phí, doanh thu, kết quả các hoạt
động là vấn đề quan trọng. Bởi vì các thông tin thực hiện giúp các nhà quản trị kiểm
soát kết quả và hiệu quả các giải pháp, các quyết định và kế hoạch đã đề ra trước
đó. Mặt khác, kết quả trong quá khứ có thể hữu dụng trong việc xác định các ước
lượng cho tương lai. Điều này cũng có nghĩa là các thông tin chi tiết về chi phí,
142
doanh thu, kết quả các hoạt động sản xuất kinh doanh trong quá khứ gần cũng phần
nào tham dự vào việc thực hiện mục đích sử dụng thông tin để ra quyết định cho
tương lai.
Trên cơ sở hệ thống tài khoản kế toán chung áp dụng cho các doanh nghiệp
nhà nước đã ban hành, các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương căn cứ
vào đặc điểm cụ thể của từng công ty, đồng thời căn cứ vào số lượng, loại nghiệp vụ
kinh tế phát sinh và yêu cầu quản trị công ty để tổ chức vận dụng các tài khoản kế
toán tổng hợp và tài khoản kế toán chi tiết phục vụ cho KTTC và KTQT.
* Về báo cáo KTQT
Báo cáo KTQT là những báo cáo phục vụ yêu cầu quản trị và điều hành hoạt
động sản xuất kinh doanh của nhà quản lý doanh nghiệp.
Báo cáo KTQT cung cấp những thông tin mà nhà quản lý cần để lập kế
hoạch, đánh giá, kiểm soát hoạt động trong doanh nghiệp, nó tồn tại vì lợi ích của
doanh nghiệp. Nói một cách tổng quát nó cung cấp những thông tin kế toán phục vụ
cho mục tiêu ra quyết định của nhà quản lý.
Vì thông tin KTQT chỉ được chuẩn bị và sử dụng riêng cho nhà quản lý nên
việc lập báo cáo này không cần thiết phải tuân theo những nguyên tắc kế toán nhất
định. Bản chất của báo cáo KTQT là hệ thống thông tin được soạn thảo và trình bày
theo các yêu cầu quản trị, điều hành sản xuất kinh doanh và ra các quyết định của
bản thân từng doanh nghiệp nên nó có tính chất linh hoạt không phụ thuộc vào
những nguyên tắc kế toán. Điều cơ bản của báo cáo này là giúp cho nhà quản lý
thấy được những việc đã, đang và sẽ diễn ra trong hoạt động của doanh nghiệp gắn
liền với từng bộ phận, từng chức năng nhất định.
Khảo sát KTQT ở các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương cho
đến thời điểm hiện nay, KTQT tồn tại dưới hai mô hình.
Với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hệ thống quản lý dựa chủ
yếu trên nền tảng chuyên môn hoá sâu theo từng bộ phận hoạt động sản xuất kinh
doanh như Công ty cổ phần giày Cẩm Bình và Công ty cổ phần giày Hải Dương
từng hoạt động quản lý thì nội dung KTQT được xây dựng theo hướng cung cấp
143
thông tin định lượng về tình hình kinh tế - tài chính theo từng bộ phận chuyên môn
hoá để phục vụ hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết định của từng
nhà quản lý ở từng cấp quản trị. Nội dung mô hình KTQT này thường bao gồm
những lý luận và nghiệp vụ kỹ thuật cơ bản về:
Thứ nhất, phân loại, kiểm soát, đánh giá chi phí theo từng phạm vi chuyên
môn hoá, cấp bậc quản trị.
Thứ hai, xác định, kiểm soát, đánh giá giá thành sản phẩm, chủ yếu là giá
thành sản phẩm của từng quá trình sản xuất.
Thứ ba, dự toán ngân sách hoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm theo
từng bộ phận và đánh giá trách nhiệm quản lý ở từng cấp bậc quản trị.
Thứ tư, thu thập, phân tích thông tin để thiết lập thông tin thích hợp xây dựng
giá bán, phương án kinh doanh ngắn hạn, phương án kinh doanh dài hạn theo từng
bộ phận, cấp bậc quản trị.
Thứ năm, phân tích, dự báo một số chỉ số tài chính ở từng bộ phận,
doanh nghiệp.
Với những doanh nghiệp có hệ thống quản lý dựa chủ yếu trên nền tảng từng
“quá trình hoạt động” như Công ty TNHH Việt Phát, Công ty TNHH Minh Phúc, nội
dung KTQT được xây dựng theo hướng cung cấp thông tin định lượng về tình hình
kinh tế - tài chính từng “quá trình hoạt động” để phục vụ hoạch định, tổ chức phối
hợp - thực hiện, đánh giá hiệu quả của từng “đội công tác quá trình”. Nội dung mô
hình KTQT này thường gồm những lý luận và nghiệp vụ kỹ thuật cơ bản về:
Thứ nhất, phân loại, kiểm soát, đánh giá chi phí theo từng “quá trình hoạt
động”. Quá trình hoạt động ở đây có thể hiểu một cách đơn giản là bao gồm tất cả
các công đoạn, bộ phận như nghiên cứu và phát triển sản phẩm, sản xuất, dịch vụ,
thiết kế tiến trình sản xuất, sản phẩm, Marketing, phân phối, dịch vụ sau phân phối
cho khách hàng hoặc bao gồm một nhóm công đoạn, bộ phận gắn kết nhau trong
quá trình sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, dự toán ngân sách hoạt động của từng “quá trình hoạt động” và
đánh giá hiệu quả của từng “đội công tác quá trình”. Đội công tác quá trình được tổ
144
chức bao gồm nhiều người có chuyên môn khác nhau cùng thực hiện một quá trình
kinh doanh.
Thứ ba, thu thập, phân tích thông tin để thiết lập thông tin thích hợp phục vụ
lựa chọn từng “quá trình hoạt động” và phối hợp thực hiện quá trình hoạt động của
“đội công tác quá trình”.
Thứ tư, phân tích, dự báo các chỉ số tài chính theo từng “quá trình hoạt
động”, doanh nghiệp.
Ngoài ra, đối với mô hình KTQT được xây dựng theo hướng cung cấp thông
tin định lượng về tình hình kinh tế - tài chính từng “quá trình hoạt động” cần hoàn
thiện một số nội dung sau:
Chứng từ kế toán: TT 200 đã bỏ chứng từ bắt buộc, toàn bộ chứng từ là
chứng từ hướng dẫn điều naỳ tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp sản xuất
trong đó có các doanh nghiệp sản xuất giày của chúng ta chủ động, thiết kế các mẫu
chứng từ để thực hiện thu nhận thông tin quá khứ chi tiếp theo từng mục tiêu quản
lý, KTQT cần sử dụng rộng rãi các chứng từ hướng dẫn. Doanh nghiệp cần cụ thể
hóa hệ thống chứng từ hướng dẫn, chọn lọc, bổ sung, sửa đổi các chỉ tiêu trên chứng
từ cho phù hợp với nội dung KTQT, thiết kế một số chứng từ kế toán cần thiết để
phản ánh các nội dung thông tin thích hợp theo yêu cầu của quản trị doanh nghiệp,
phục vụ cho thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin cho việc đánh giá tình hình thực
hiện định mức, kế hoạch và dự toán cũng như phục vụ cho việc lập định mức, kế
hoạch và dự toán mới.
Tài khoản kế toán: dựa trên hệ thống tài khoản kế toán Nhà nước ban hành,
KTQT dựa trên cơ sở mục tiêu và yêu cầu quản lý chi tiết với từng đối tượng để mở
các tài khoản chi tiết cấp 2, cấp 3, cấp 4… để chi tiết hóa các tài khoản của KTTC,
từ đó tập hợp, xử lý, phân tích thông tin một cách có hệ thống và khoa học. Trên các
tài khoản chi tiết phản ánh kết hợp thước đo giá trị với các thước đo khác.
Sổ kế toán: hệ thống sổ kế toán, đặc biệt là các sổ chi tiết cần thiết kế mẫu sổ
với số lượng, chủng loại, các chỉ tiêu cần phản ánh phù hợp theo yêu cầu quản trị và
trình độ trang bị công nghệ xử lý thông tin tại doanh nghiệp, các sổ kế toán cần
145
phản ánh theo nhiều chỉ tiêu phù hợp với các yêu cầu quản lý khác nhau để có thông
tin hữu ích sử dụng trên báo cáo KTQT đặc thù để có thể tổng hợp theo nhiều yêu
cầu khác nhau. Ví dụ, các sổ kế toán phản ánh chi phí sản xuất kinh doanh vừa đảm
bảo cung cấp thông tin về chi phí theo nội dung kinh tế của chi phí, hay theo công
dụng của chi phí, hay theo mối quan hệ chi phí với khối lượng hoạt động, hay theo
mối quan hệ chi phí với quy trình công nghệ… đồng thời phục vụ cho việc lập các
báo cáo kiểm soát, đánh giá từng bộ phận.
Tính giá và lập báo cáo KTQT: KTQT cũng phải tuân thủ những nguyên tắc
và trình tự tính giá các đối tượng trong quá trình thu nhận thông tin quá khứ như
KTTC. Tuy nhiên, do mục đích riêng của KTQT nên nguyên tắc và trình tự tính giá
trong những trường hợp đặc biệt mang tính đặc thù, đặc biệt.
Chi phí - giá thành: dưới góc độ dự toán, quản lý và kiểm soát chi phí thì chi
phí thường được chia thành biến phí và định phí để phân tích điểm hòa vốn, phân
tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận, phân tích đánh giá báo cáo thu
nhập bộ phận, đồng thời tùy theo yêu cầu và mức độ quản lý để tính giá theo
phương pháp định phí toàn bộ, hay theo biến phí, hay theo biến phí có phân bổ hợp
lý định phí.
Trên cơ sở toàn bộ thông tin đã tập hợp trong nội bộ doanh nghiệp, thiết lập
hệ thống báo cáo kế toán nội bộ gồm các báo cáo nhanh, báo cáo định kỳ, báo cáo
đột xuất ngoài tổng hợp, cân đối số liệu từ các sổ sách kế toán, KTQT còn sử dụng
kỹ thuật thống kê, phương pháp toán… để phân tích các chỉ tiêu thực hiện mục tiêu
quản lý doanh nghiệp, giúp cho nhà quản trị ra quyết định đúng đắn, hiệu quả hơn.
3.3.4. Hoàn thiện tổ chức cung cấp thông tin thông qua hệ thống báo cáo tài
chính và hệ thống báo cáo KTQT
Hoàn thiện tổ chức hệ thống báo cáo tài chính:
Nội dung cơ bản của hoàn thiện tổ chức hệ thống báo cáo tài chính là hoàn
thiện các quy định về chế độ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp sản xuất giày
nói chung và các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng, bao
gồm các quy định về mẫu biểu, phương pháp lập, thời hạn lập và nộp báo cáo tài
146
chính cũng như các chỉ tiêu phản ánh trong báo cáo tài chính bắt buộc; hoàn thiện
về phương pháp phân tích báo cáo tài chính, xử lý, phân tích và cung cấp các thông
tin của KTQT cho nhà quản lý trong công ty.
Đối với Nhà nước, nghiên cứu bổ sung, sửa đổi và ban hành các quy định bắt
buộc về báo cáo tài chính chung cho các loại hình doanh nghiệp sản xuất theo
hướng những thông tin bắt buộc phải trình bày và những thông tin hướng dẫn.
Thông tin hướng dẫn là những thông tin khuyến khích công ty trình bày trên báo
cáo tài chính. Thực hiện được điều này sẽ tạo điều kiện cho công ty chủ động, sáng
tạo trong việc trình bày thông tin trên báo cáo tài chính, phù hợp với đặc điểm loại
hình kinh doanh và có khả năng so sánh giữa các loại hình công ty trong phạm vi
quốc gia cũng như với các nước trên thế giới, đảm bảo sự hài hòa giữa kế toán Việt
Nam với kế toán quốc tế. Theo đó, các thông tin trên báo cáo tài chính cần hoàn
thiện, bao gồm:
- Các thông tin phản ánh trên bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn
bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản của công ty tại thời điểm nhất
định, đồng thời phản ánh tình hình tài chính thông qua mối quan hệ giữa các chỉ
tiêu, khoản mục trình bày trên bảng. Tuy nhiên, hiện nay các chỉ tiêu trên Bảng
CĐKT chưa thực sự phản ánh đúng giá trị thực của tài sản nên cũng không thể phản
ánh thực chất hiệu quả kinh doanh của công ty.
- Các thông tin phản ánh trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Một số chỉ tiêu của báo cáo kết quả kinh doanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố
chủ quan của công ty như chỉ tiêu giá vốn hàng bán phụ thuộc vào việc lựa chọn
phương pháp xác định giá vốn hàng xuất kho để bán, phương pháp tính trích khấu
hao TSCĐ và phương pháp ghi chép kế toán các khoản chi phí phải trả, chi phí trả
trước... Vì vậy, để đảm bảo nguyên tắc phù hợp của kế toán thì các doanh nghiệp
cần phải xác định phương pháp tính giá vốn hàng xuất kho để bán phù hợp và sử
dụng phương pháp đã lựa chọn trong thời gian ổn định lâu dài, đồng thời áp dụng
phương pháp trích trước chi phí, tính toán ghi chép chi phí phải trả hợp lý nhằm
147
đảm bảo sự chính xác của giá vốn hàng bán.
- Các thông tin trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ nhằm cung cấp các thông tin về các dòng tiền
luân chuyển trong đơn vị. Do đó, báo cáo này cần được thiết kế đơn giản, dễ hiểu,
dễ thực hiện và có thể gộp lại một số chỉ tiêu phản ánh dòng tiền vào và dòng tiền ra
như có thể phân chia riêng các dòng tiền đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn. Theo đó
báo cáo lưu chuyển tiền tệ nên thiết lập theo các mục lớn như sau:
Mục I: Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh;
Mục II-1: Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư ngắn hạn (gồm các khoản đầu
tư tài chính ngắn hạn và các khoản đầu tư ngắn hạn khác);
Mục II-2: Lưu chuyển từ hoạt động đầu tư dài hạn (gồm các khoản đầu tư tài
chính dài hạn và các khoản đầu tư dài hạn khác);
Mục III: Lưu chuyển từ hoạt động tài chính.
- Các thông tin trên Thuyết minh báo cáo tài chính
Các thông tin trình bày trên Thuyết minh báo cáo tài chính nhằm giải thích
và trình bày những thông tin về tình trạng tài chính của công ty mà trên các báo cáo
tài chính khác chưa được phản ánh. Với lý do đó, Thuyết minh báo cáo tài chính
của các công ty cần bổ sung thêm các nội dung sau đây:
+ Bổ sung thêm mục các khoản phải thu và phải trả; những thông tin về bán
hàng theo phương thức trả chậm, trả góp với thời hạn trên một năm; và các thông
tin về đầu tư chứng khoán ngắn hạn và dài hạn;
+ Bổ sung thông tin về tài sản ngắn hạn đã đem đi thế chấp để vay tiền;
+ Bổ sung thông tin về chứng khoán sẽ bán để thu hồi vốn vào cuối kỳ kế
toán. Vì các khoản tiền thu được do bán chứng khoán là một trong những nội dung
cấu thành tài sản ngắn hạn của công ty và được dùng để thanh toán các khoản nợ
ngắn hạn.
- Hoàn thiện hệ thống báo cáo KTQT
Báo cáo KTQT được lập trên cơ sở thông tin của KTQT cung cấp và lập theo
yêu cầu của các cấp quản trị trong công ty để ra được quyết định kinh tế phù hợp. Do
148
vậy, thông tin KTQT được cung cấp bởi hệ thống báo cáo KTQT phải được tổ chức
phù hợp với nhu cầu và mục tiêu của công tác quản lý công ty cũng như từng quyết
định kinh doanh cụ thể của nhà quản lý.
Quản lý trong công ty sản xuất giày gồm các chức năng cơ bản như: lập kế
hoạch; dự toán; tổ chức thực hiện; kiểm tra đánh giá và ra quyết định. Theo đó, với
vai trò cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà quản trị doanh nghiệp, hệ thống báo
cáo KTQT phải cung cấp được các thông tin về định mức, dự toán; thông tin về tình
hình thực hiện và các thông tin phân tích, dự báo và tư vấn. Song, thực tế tại các
doanh nghiệp sản xuất giày nói chung và các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa
bàn tỉnh Hải Dương nói riêng, việc tổ chức KTQT và lập báo cáo KTQT còn chưa
được chú trọng đúng mức, làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác
quản trị của công ty.
Hệ thống báo cáo KTQT được thiết kế, lập và trình bày mang tính linh hoạt,
không mang tính thống nhất và tuân thủ như báo cáo tài chính. Số lượng và mẫu
biểu báo cáo KTQT không chỉ khác nhau giữa các doanh nghiệp sản xuất giày mà
còn có thể khác nhau giữa các bộ phận và giai đoạn của một doanh nghiệp. Song,
dựa trên những yêu cầu và nguyên tắc cơ bản của việc hoàn thiện và chức năng cơ
bản của doanh nghiệp sản xuất nói chung và các công ty sản xuất giày trên địa bàn
tỉnh Hải Dương nói riêng, hệ thống báo cáo KTQT của các công ty này cần được
hoàn thiện những nội dung sau đây:
+ Các thông tin trên báo cáo KTQT phải được phân chia thành các chỉ
tiêu phù hợp với các tiêu chuẩn đánh giá thông tin trong mỗi tình huống kinh tế
khác nhau;
+ Các chỉ tiêu trong báo cáo KTQT phải quan hệ chặt chẽ với nhau;
+ Các số liệu thực tế, dự toán, định mức hoặc các mục tiêu định trước trong
báo cáo phải so sánh được với nhau để giúp các nhà quản trị doanh nghiệp sử dụng
thông tin thực hiện chức năng kiểm soát hoạt động một cách có căn cứ và tin cậy.
+ Hình thức kết cấu báo cáo KTQT cần đa dạng, linh hoạt tùy thuộc vào
tiêu chuẩn đánh giá thông tin trong mỗi báo cáo phục vụ cho từng tình huống kinh
149
tế cụ thể;
+ Các chỉ tiêu trong báo cáo KTQT thực hiện nên được phân bổ theo địa
điểm, thời gian, bộ phận, theo nhóm sản phẩm...
Qua khảo sát thực trạng tổ chức KTQT tại các công ty sản xuất giày trên địa
bàn tỉnh Hải Dương cho thấy, KTQT khi cung cấp các thông tin về chi phí (kể cả
thông tin thực hiện và thông tin dự báo) chưa phân biệt được định phí và biến phí.
Để có được thông tin này khi tổ chức KTQT trong các công ty cần phân loại chi phí
thành định phí và biến phí, đồng thời lập báo cáo chi phí kinh doanh và báo cáo kết
quả kinh doanh theo tiêu thức phân loại này. Dưới đây trình bày một số mẫu báo
cáo KTQT ở các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương:
- Báo cáo quản trị chi phí sản xuất kinh doanh
Báo cáo quản trị chi phí sản xuất kinh doanh được lập dựa trên các số liệu,
tài liệu do KTQT chi phí sản xuất kinh doanh cung cấp từ các sổ KTQT chi phí
sản xuất kinh doanh theo đối tượng tập hợp chi phí. Nếu đối tượng tập hợp chi
phí sản xuất kinh doanh là địa điểm sản xuất kinh doanh thì báo cáo này được
lập theo địa điểm sản xuất kinh doanh nhằm cung cấp số liệu chi tiết cho quản trị
chi phí sản xuất hnh doanh theo. Từng địa sản xuất điểm sản xuất kinh doanh.
Nếu yêu cầu quản lý chi phí theo từng loại sản phẩm thì báo cáo này được lập
theo loại sản phẩm.
Báo cáo quản trị chi phí sản xuất theo địa điểm sản xuất kinh doanh được
thiết lập theo mẫu (Xem chi tiết tại Phụ lục số 15).
Báo cáo chi phí sản xuất kinh doanh theo địa điểm sản xuất kinh doanh cung
cấp cho nhà quản trị công ty các thông tin chi tiết về tình hình chi phí sản xuất kinh
doanh ở từng địa điểm phát sinh chi phí. Trên cơ sở đó, nhà quản trị kiểm tra, kiểm
soát được tình hình thực hiện định mức chi phí của từng địa điểm, làm cơ sở cho
việc xác định kết quả kinh doanh theo từng địa điểm.
Cơ sở lập báo cáo này là căn cứ vào sổ chi tiết chi phí sản xuất theo yếu tố
cho từng địa điểm sản xuất kinh doanh.
- Báo cáo quản trị chi phí sản xuất chung
150
Báo cáo quản trị chi phí sản xuất chung cung cấp cho nhà quản trị công ty các
thông tin về tình hình thực hiện định mức chi phí sản xuất chung, tạo điều kiện cho
việc kiểm tra, kiểm soát chi phí sản xuất theo từng địa điểm sản xuất kinh doanh.
Cơ sở lập báo cáo này là căn cứ vào sổ chi tiết chi phí sản xuất chung và dự
toán chi phí sản xuất chung.
Mẫu: Báo cáo quản trị chi phí sản xuất chung (Xem chi tiết tại Phụ lục số 16).
- Báo cáo quản trị giá thành sản phẩm
Báo cáo quản trị giá thành sản phẩm cung cấp thông tin về tổng giá thành và
giá thành đơn vị theo từng sản phẩm sản xuất của công ty. Trên cơ sở đó giúp nhà
quản trị phân tích, đánh giá tình hình tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản
phẩm để tăng lợi nhuận.
Cơ sở lập báo cáo này là căn cứ vào sổ chi tiết chi phí sản xuất, giá thành và
dự toán chi phí sản xuất và giá thành của các loại sản phẩm.
Mẫu Báo cáo quản trị giá thành sản xuất sản phẩm (Xem chi tiết tại Phụ
lục số 17).
3.3.5. Hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính
Phân tích báo cáo tài chính trong các DNSX có ý nghĩa quan trọng trong việc
cung cấp các thông tin về thực trạng tài chính của công ty cho các đối tượng trực
tiếp và gián tiếp quan tâm đến doanh nghiệp. Nguồn tài liệu sử dụng trong phân tích
báo cáo tài chính chủ yếu là báo cáo tài chính và các tài liệu thực tế khác có liên
quan. Do đó, hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính, trước hết phải hoàn thiện tổ
chức công tác phân tích, hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích... Việc phân
tích các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp không những giúp doanh
nghiệp xác định đúng hướng đi, biện pháp đầu tư mà còn giúp doanh nghiệp cung
cấp thông tin ra bên ngoài doanh nghiệp như nhà đầu tư, đặc biệt là NHTM hay các
tổ chức tín dụng giúp doanh nghiệp có thể được vay vốn dễ dàng, kịp thời.
Nội dung tổ chức công tác phân tích tài chính được xác định bao gồm:
+ Lập kế hoạch phân tích
Trong khâu lập kế hoạch phân tích tài chính cần chú ý đến vấn đề xác định
151
nguồn tài liệu phân tích; các chỉ tiêu phân tích; thời gian phân tích và người thực
hiện công tác phân tích.
Đối với các tài liệu phân tích cần được chuẩn bị đầy đủ, gồm Bảng cân đối
kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và
Thuyết minh báo cáo tài chính; thu thập các thông tin thực tế có liên quan đến thực
trạng tài chính để đảm bảo tính trung thực của kết quả phân tích:
+ Thực hiện kế hoạch phân tích
Sau khi kế hoạch phân tích được phê duyệt; công tác phân tích tài chính
được thực hiện bởi các những người có chuyên môn làm công tác phân tích tài
chính của doanh nghiệp. Những người này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan
đến công tác kế toán trong công ty.
Song trên thực tế thường là kế toán trưởng, kế toán tổng hợp hoặc người
được kế toán trưởng ủy quyền.
+ Lập báo cáo phân tích
Sau khi công tác phân tích được hoàn thành, người làm công tác phân tích
cần có báo cáo phân tích tài chính. Báo cáo phân tích tài chính phải thể hiện được
cả nội dung về kết quả số liệu phân tích của từng chỉ tiêu phân tích tài chính và cả
về lời văn thuyết trình thực trạng phân tích, những ưu, nhược điểm trong quá trình
thực hiện các chỉ tiêu phân tích và đề xuất các kiến nghị chủ yếu để thực hiện có
hiệu quả các chỉ tiêu phân tích tài chính của công ty.
Để thực hiện tốt công tác phân tích tài chính của công ty, trước khi phân tích
cần kiểm tra tính xác thực của các thông tin đã trình bày trên báo cáo tài chính.
Thông thường sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp cân đối: Phương pháp này dựa trên mối quan hệ cân đối vốn
có của kế toán như cân đối giữa tài sản và nguồn vốn, thể hiện qua phương trình kế
toán sau đây:
Tài sản = Nguồn vốn = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu.
Phương pháp đối chiếu: Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu giữa số
liệu tổng hợp và số liệu chi tiết hoặc giữa số liệu trên sổ kế toán với số liệu thực tế
152
kiểm kê. Sau khi công việc kiểm tra được hoàn tất, tiến hành phân tích tài chính
thông qua các báo cáo tài chính chủ yếu sau:
Thông qua Bảng cân đối kế toán
Phân tích tài chính thông qua Bảng CĐKT nhằm mục đích cung cấp những
thông tin về năng lực hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính của công
ty cho các đối tượng quan tâm. Vì vậy, cần phân tích các vấn đề cơ bản sau:
+ Xem xét quy mô, tốc độ phát triển của tổng tài sản và từng loại tài sản
trong công ty. Điều này được thực hiện bằng cách so sánh chỉ tiêu tổng tài sản và
chỉ tiêu từng loại tài sản cuối kỳ với đầu năm để xác định số tăng, giảm cả số tuyệt
đối và số tương đối. Từ đó sẽ xác định được quy mô tăng hay giảm của tài sản trong
doanh nghiệp;
+ Xem xét tính hợp lý của cơ cấu tài sản: được thực hiện bằng cách tính tỷ
trọng của từng loại tài sản trong tổng tài sản của công ty, đồng thời so sánh số
chênh lệch về tỷ trọng của từng loại tài sản để thấy mức độ phát triển và sự hợp lý
về cơ cấu tài sản;
+ Khi phân tích tài chính thông qua phần Tài sản của Bảng CĐKT cần xác
định chỉ tiêu tỷ suất đầu tư. Tỷ suất này bao gồm tỷ suất đầu tư chung, tỷ suất đầu tư
ngắn hạn và tỷ suất đầu tư dài hạn;
Khi phân tích các chỉ tiêu về đầu tư nói trên thì ngoài việc xác định tính hợp
lý của tỷ suất này trong từng năm còn phải so sánh tỷ suất năm nay với tỷ suất các
năm trước để thấy rõ mức phát triển của từng khoản đầu tư của công ty.
+ Khi phân tích chỉ tiêu tài chính thông qua phần Nguồn vốn trên Bảng
CĐKT, ngoài việc so sánh số cuối kỳ với số đầu năm của từng loại nguổn vốn, cần
xác định các tỷ suất sau:
- Các khoản phải thu:
Tổng các khoản Tỷ lệ các khoản x phải thu phải thu = 100% với phải trả Tổng nợ phải trả
Nếu chỉ tiêu này lớn hơn 100%, chứng tỏ vốn của doanh nghiệp bị chiếm
153
dụng nhiều, ngược lại nếu chỉ tiêu này càng nhỏ hơn 100%, chứng tỏ doanh nghiệp
chiếm dụng vốn nhiều. Tuy nhiên số đi chiếm dụng nhỏ hay lớn đều cho thấy tình
hình tài chính không lành mạnh và đều ảnh hưởng đến uy tín và kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp.
- Tỷ suất tự tài trợ: Tỷ suất này cung cấp thông tin về tình hình đảm bảo
nguổn vốn chủ sở hữu cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tỷ suất này càng cao thể
hiện tính chủ động về vốn đảm bảo cho kinh doanh càng cao. Điều đó thể hiện tình
hình tài chính của công ty là tốt. Phương pháp xác định chỉ tiêu này như sau:
Nguồn vốn chủ
sở hữu Tỷ suất tự tài x
trợ = 100% Tổng nguồn
vốn
Thông qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty nhằm cung cấp
các thông tin về tình hình thực hiện kế hoạch, dự toán chi phí sản xuất, giá vốn hàng
bán, doanh thu và thu nhập của các hoạt động cũng như tình hình thực hiện nghĩa vụ
với ngân sách nhà nước về các loại thuế.
Phương pháp phân tích báo cáo kết quả kinh doanh được sử dụng chủ yếu là
phương pháp so sánh. So sánh giữa số cuối kỳ và số đầu năm theo từng chỉ tiêu trên
báo cáo tài chính nhằm xác định mức độ tăng, giảm của các chỉ tiêu, đồng thời cần
chú trọng phân tích mối quan hệ giữa tốc độ tăng doanh thu, tốc độ tăng lợi nhuận
với tốc độ tăng chi phí để xem xét tính hiệu quả trong kinh doanh của công ty. Mặt
khác, cần xác định các nhân tố ảnh hưởng đối với lợi nhuận của công ty để có các
giải pháp điều chỉnh phương án sản xuất kinh doanh (Xem phụ lục số 24)
Thông qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Phân tích tài chính thông qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ nhằm cung cấp các
thông tin về việc hình thành và sử dụng các luồng tiền trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty cho các đối tượng quan tâm.
Khi các luồng tiền được hình thành hợp lý và sử dụng có hiệu quả sẽ mang
154
lại cho công ty khả năng tài chính khả quan và ngược lại.
Phương pháp phân tích là so sánh theo từng chỉ tiêu của số kỳ này và kỳ
trước cả về số tuyệt đối và số tương đối để thấy được khả năng tạo ra tiền của từng
hoạt động và sự biến động của từng khoản thu, chi tiền. Tính toán mức độ tạo ra
tiền từ hoạt động kinh doanh.
3.4. Điều kiện thực hiện giải pháp
Sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng các doanh nghiệp
nói chung đòi hỏi Nhà nước cần phải sửa đổi và ban hành mới các chính sách quản
lý kinh tế tài chính nhằm tạo môi trường pháp lý cho các đơn vị phát triển, trong đó
có các chính sách về kế toán.
Những năm qua, hệ thống kế toán Việt Nam đã có nhiều đổi mới nhằm đáp
ứng và phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Hàng loạt các văn bản pháp quy hướng dẫn về kế toán doanh
nghiệp đã được ban hành và đi vào cuộc sống. Sự thay đổi hệ thống kế toán Việt
Nam được đánh dấu bằng việc ban hành Quyết định 1141-QĐ/CĐKT ngày
01/11/1995 thay cho các quyết định về chế độ kế toán trước đây. Các chế độ kế toán
này, trong quá trình thực hiện đã có những bổ sung, sửa đổi phù hợp. Đặc biệt, Luật
Kế toán và hệ thống Chuẩn mực kế toán Việt Nam đã đánh dấu bước ngoặt về đổi
mới công tác kế toán cả về mặt tư duy và tính pháp lý, tạo thuận lợi cho các doanh
nghiệp Việt Nam phát triển trong điều kịên hội nhập ngày càng sâu với thế giới và
khu vực. Trong hoàn cảnh đó, Nhà nước cũng đã có sự đổi mới về hệ thống kế toán
doanh nghiệp bởi việc ban hành Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006
và Thông tư số 244/2009/ TT- BTC thay thế Quyết định số 1141-TC/QĐ/CĐKT và
Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 thay thế Quyết định 1177-TC/QĐ-
CĐKT. Ngày 22/12/2014, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 200/2014/TT-BTC
hướng dẫn Chế độ kế toán Doanh nghiệp thay thế cho Quyết định 15/2006/ QĐ-
BTC & Thông tư 244/2009/TT-BTC.
Tuy nhiên, nền kinh tế, xã hội không ngừng phát triển với tốc độ tăng trưởng
khá nên các chính sách, chế độ cũng cần thường xuyên phải được sửa đổi phù hợp
155
với thực tế. Do đó, để đảm bảo hoàn thiện môi trường pháp lý về kế toán áp dụng
cho các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương phù hợp với điều kiện
hiện nay thì ngoài các văn bản về kế toán có tính pháp lý cao nhất như Luật kế toán
Việt Nam, các văn bản dưới luật còn hiệu lực, cần tiếp tục đổi mới hệ thống kế toán
doanh nghiệp hiện hành theo hướng cơ bản sau đây:
Về Luật Kế toán: “Với hàng loạt vấn đề mới về thể chế kinh tế đã được xác
lập, bao gồm cả thể chế kinh tế vĩ mô, thể chế kinh tế tài chính Nhà nước, tài chính
DN. Nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện vào kinh tế khu
vực và thế giới” [47]. Dich vụ kế toán và hành nghề kế toán kế toán đã được thừa
nhận, phát triển dần trở thành một lĩnh vực thương mại quan trọng trong nền kinh tế.
Luật Kế toán cần được sửa đổi một cách căn bản và toàn diện. Sắp tới khi Luật Kế
toán 2015 có hiệu lực thi hành, Nhà nước cần nghiên cứu ban hành các văn bản
hướng dẫn thi hành Luật kế toán 2015 để Luật thực sự đi vào cuộc sống của công tác
kế toán.
Về Hệ thống Chuẩn mực kế toán: Tiếp tục ban hành, hoàn thiện hệ thống
Chuẩn mực kế toán phù hợp với thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế, đảm bảo
Việt hóa các nội dung Chuẩn mực làm cơ sở cho các doanh nghiệp nói chung trong
đó có các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương triển khai trong
quá trình tổ chức công tác kế toán. Sau thời gian triển khai thực hiện cần có tổng
kết, đánh giá để sửa chữa, bổ sung cho phù hợp và ứng dụng được vào thực tiễn
quản lý trong doanh nghiệp và các cơ sở kinh tế.
Về chế độ kế toán: Chế độ kế toán là những qui định và hướng dẫn kế toán
trong một lĩnh vực hoặc một công viêc cụ thể nào đó do cơ quan quản lý Nhà nước
về kế toán hoặc tổ chức được cơ quan quản lý Nhà nước về kế toán ủy quyền ban
hành. Cần quy định thống nhất hệ thống kế toán sử dụng cho các loại hình doanh
nghiệp, đối với từng loại hình doanh nghiệp khi xây dựng hệ thống tài khoản, hệ
thống chứng từ nên xây dựng theo hướng mở giúp các doanh nghiệp tự xây dựng,
lựa chọn cho phù hợp với đặc điểm cụ thể và yêu cầu quản trị. Hệ thống kế toán này
chỉ quy định những vấn đề chung, cơ bản nhất mang tính bắt buộc về KTTC và
156
những hướng dẫn cơ bản về KTQT mà tất cả các loại hình doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh ở các lĩnh vực khác nhau thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có thể
vận dụng được. Tạo điều kiện tối đa để các doanh nghiệp được chủ động, sáng tạo
trong việc vận dụng chế độ kế toán cho phù hợp với đặc điểm riêng có của mình
đồng thời vẫn chấp hành tốt các quy định của Nhà nước. Trong thời gian tới cần
nghiên cứu thực hiện một số công việc sau:
+ Tích hợp một số tài khoản KTTC theo hướng: những tài khoản có nội dung
tương tự nhau nên ghép lại thành một tài khoản; phải có đủ các loại tài khoản khác
nhau để phản ánh được tính đa dạng của đối tượng kế toán, đồng thời cung cấp đầy
đủ thông tin cho nhà quản lý;
+ Rà soát, đổi tên một số tài khoản kế toán chưa phù hợp giữa tên gọi và nội
dung phản ánh của tài khoản;
+ Chú trọng bản chất nghiệp vụ hơn hình thức biểu hiện.
Đặc biệt trong thời gian không xa khi hiệp định TPP được thông qua, các
doanh nghiệp sản xuất giày sẽ phải đối mặt với rất nhiều thách thức ngoài những lợi
ích mà TPP mang lại. TPP, viết tắt của từ Trans - Pacific Partnership Agreement
(Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương), là hiệp định, thỏa thuận thương
mại tự do giữa 12 quốc gia với mục đích hội nhập nền kinh tế khu vực Châu Á -
Thái Bình Dương). Mục tiêu chính của TPP là xóa bỏ các loại thuế và rào cản cho
hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên. Ngoài ra, TPP sẽ thống
nhất nhiều luật lệ, quy tắc giữa các nước này như: sở hữu trí tuệ, chất lượng thực
phẩm, an toàn lao động. Thỏa thuận TPP bao gồm 29 chương, trong đó chỉ có 5
chương là trực tiếp liên quan đến vấn đề trao đổi hàng hóa, dịch vụ, các chương còn
lại đề cập vấn đề liên quan đến các chuẩn mực khác nhau về môi trường, chất lượng
lao động, luật lệ tài chính, thực phẩm, thuốc men. Khi tham gia TPP, hàng da giày sẽ
hưởng rất nhiều lợi thế để cạnh tranh với hàng Trung Quốc (vì hàng Trung Quốc còn
phải chịu thuê). Như vậy các hãng giày lớn của Mỹ và Châu Âu sẽ rời từ Trung quốc
sang Việt Nam để hưởng lợi thế từ TPP. Điều này sẽ làm cho ngành da giày có nhiều
đơn hàng, tạo việc làm cho hơn một triệu lao động. Tuy nhiên TPP cũng đặt ra nhiều
157
tiêu chuẩn hết sức nghiêm ngặt về môi trường, an toàn vệ sinh, lao động, sở hữu trí
tuệ,... đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất giày phải chuẩn bị hết sức kỹ lưỡng.
Ngoài nỗ lực của bản thân doanh nghiệp, rất cần sự trợ giúp của cơ quan Nhà
nước, của tỉnh, của các ban ngành tạo điều kiện cho các đơn vị hoạt động, có thể
cạnh tranh và nâng cao hiệu quả tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp.
Để các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp
sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương thực sự đạt được hiệu quả tích cực nhằm
tăng cường công tác quản trị công ty cần phải có những điều kiện nhất định. Dưới
đây luận án trình bày và phân tích một số điều kiện chủ yếu thuộc về phía Nhà nước,
Hội nghề nghiệp và thuộc về phía các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh
Hải Dương:
3.4.1. Đối với Nhà nước
Nhà nước Việt Nam, với chức năng quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân
thông qua các chính sách kinh tế, tài chính vĩ mô và hệ thống các chính sách quản lý
vĩ mô khác cần đảm bảo đầy đủ các điều kiện cơ bản, tạo khung pháp lý và định
hướng cho sự phát triển chung của toàn xã hội.
Không nên can thiệp quá sâu và quy định đối với từng ngành nghề, tạo cho
doanh nghiệp chủ động và sáng tạo trong công tác kế toán. Nhà nước nên tạo dựng
đầy đủ và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán, đảm bảo cho công tác kế toán,
tổ chức bộ máy kế toán, hành nghề kế toán được thực hiện theo pháp luật.
Hoàn thiện và ổn định chính sách kinh tế tài chính vĩ mô. Hiện nay, ở nước
ta, các chính sách kinh tế tài chính vĩ mô đang được dần hoàn thiện nhằm phù hợp
với điều kiện phát triển mới, nhiều chính sách kinh tế vĩ mô còn chưa có sự thống
nhất nên ảnh hưởng không ít đến sự phát triển chung của nền kinh tế và của các
công ty. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các chính sách kinh tế tài chính vĩ
mô theo hướng sau:
Thứ nhất, ổn định chính sách tiền tệ, kiềm chế tăng giá và lạm phát: Các cơ
chế, chính sách cần được xây dựng và hoàn thiện phù hợp với xu thế và bối cảnh
hội nhập kinh tế thế giới, đảm bảo sự bình đẳng, ổn định, thông thoáng và minh
158
bạch. Đặc biệt là trong điều kiện lạm phát và giá cả hàng hoá tăng cao như hiện nay
cần tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, quản lý thị trường vàng và ngoại hối để
tránh sự biến động lớn.
Thứ hai, xây dựng kế hoạch phát triển trong từng thời kỳ theo quy hoạch tổng
thể và kết hợp với quy hoạch chi tiết về phát triển của toàn bộ nền kinh tế và của
từng ngành, từng lĩnh vực, từng vùng lãnh thổ theo kế hoạch thứ tự ưu tiên nhằm thu
hút đầu tư nước ngoài cho sự phát triển của các công ty sản xuất giày. Các chương
trình trợ giúp đối với doanh nghiệp như chương trình khuyến khích đầu tư, chương
trình trợ giúp tiếp cận các nguồn vốn của các tổ chức tín dụng, các ngân hàng và các
tập đoàn tài chính; trợ giúp xuất khẩu; trợ giúp thông tin; hỗ trợ kỹ thuật,...
Thứ ba, thống nhất quản lý nhà nước về chiến lược phát triển kinh tế trên
phạm vi toàn quốc và trên từng vùng, lãnh thổ;
Thứ tư, xây dựng và sửa đổi hoàn thiện hệ thống Luật, các văn bản dưới
Luật, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nói chung và các công ty sản xuất giày nói
riêng hoạt động trên cơ sở tuân thủ pháp luật; thường xuyên rà soát các văn bản
pháp quy, xóa bỏ những văn bản không phù hợp và xây dựng mới các văn bản
hướng dẫn theo từng thời kỳ phát triển của đất nước.
Thứ năm, hoàn thiện hệ thống Chuẩn mực kế toán, hệ thống kế toán Việt
Nam và các văn bản hướng dẫn thực hiện Chuẩn mực kế toán, hệ thống kế toán, tạo
sự thực hiện thống nhất trong phạm vi cả nước.
Thứ sáu, hoàn thiện về việc ban hành các thông tư hướng dẫn chuẩn mực tạo
cho điều kiện thuận lợi cho các đơn vị áp dụng, cập nhật kịp thời tránh tình trạng
như hiện nay các đơn vị thường rơi vào tình trạng trì trệ trong việc nghiên cứu áp
dụng chính sách của Nhà nước ban hành; Hoặc khi áp dụng kịp thời lại xảy ra tình
trạng áp dụng sai do nghiên cứu chính sách chưa đúng hướng.
Trong thời gian không xa khi Hiệp định TPP được thông qua, để Việt Nam
có thể hưởng lợi một cách tốt nhất từ TPP, tận dụng được mọi ưu thế của mình sau
khi hội nhập thì trước hết cần phải có những thay đổi về chính sách và pháp luật
trong nước để thúc đẩy phát triển những ngành có lợi thế so sánh. Ngành da giày
159
được đánh giá là sẽ được lợi sau khi TPP có hiệu lực cần chủ động các nhân tố lao
động, vốn, đất đai và các tài nguyên khác.
3.4.2. Đối với các Hội nghề nghiệp
Tăng cường và nâng cao vai trò của các Hội nghề nghiệp, đặc biệt là Hội
kế toán Việt Nam trong việc hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ đối với công tác
kế toán trong các doanh nghiệp nói chung và trong các doanh nghiệp sản xuất giày
nói riêng.
Hiệp hội là nơi đại diện của các doanh nghiệp luôn đưa ra các hoạt động có
lợi cho các doanh nghiệp trong ngành. Các doanh nghiệp gia công sản xuất giày
xuất khẩu ra nước ngoài hiện đang gặp khó khăn bởi sự cạnh tranh gay gắt đặc biệt
là từ Trung Quốc. Việc thu thập thông tin thị trường, nghiên cứu thị trường, xúc tiến
thương mại trọng điểm là một trong những hoạt động quan trọng mà Hiệp hội giày
lúc này cần phải thực hiện để giúp đỡ các doanh nghiệp trong ngành. Đặc biệt trong
thời gian tới khi chúng ta đàm phán thành công hiệp định TPP. Mới đây nhất tại
buổi đàm phán với Tổng thống Hoa kỳ Barack Obama ngày 23/5/2016 tại Hà Nội,
Tổng thống Hoa Kỳ nhất trí sẽ sẽ sớm thúc đẩy Quốc hội Hoa Kỳ thông qua TPP,
cam kết trợ giúp Việt Nam nâng cao năng lực để để triển khai thỏa thuận này. TPP
chỉ cho phép các doanh nghiệp xuất khẩu được hưởng ưu đãi thuế quan còn 0-5%
nếu chứng minh hàng hóa được sản xuất hoàn toàn tại bên xuất khẩu và nguyên vật
liệu của bên đó hoặc một phần từ các nước trong khu vực ASEAN. Để tận dụng
được các lợi thế từ Hiệp định này thì ngành da giày phải tăng tốc chuẩn bị nguyên
phụ liệu trong nước để được hưởng thuế suất vào thị trường Mỹ và EU và một số thị
trường. Tuy nhiên, với sự lạc quan về một nền kinh tế khởi sắc, cũng như hoạt động
giao thương phát triển, năm 2016 các doanh nghiệp sẽ có mức doanh thu tăng
trưởng tốt. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng như các doanh nghiệp nước ngoài cần
chuẩn bị chu đáo, riêng doanh nghiệp Việt Nam cần đưa khoa học công nghệ vào để
tăng năng suất.
Yếu tố này thì các doanh nghiệp sản xuất giày của chúng ta đang gặp khó
khăn vì hầu hết nguyên vật liệu nhập khẩu từ Trung Quốc.
160
3.4.3. Đối với các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Các điều kiện cơ bản thuộc về các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn
tỉnh Hải Dương bao gồm:
Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, có các chương trình hỗ trợ trực tiếp
cho các doanh nghiệp về đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến thương mại, tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp trong tỉnh tiếp xúc với các thông tin của Nhà nước. Đặc biệt
củng cố hoạt động của Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh để thật sự là cầu nối giữa các
doanh nghiệp với nhau, giữa doanh nghiệp với ban ngành của địa phương. Là nơi tổ
chức các lớp đào tạo, các buổi hội thảo cho đội ngũ những người làm công tác kế
toán, là trung tâm tư vấn về cơ chế chính sách, hướng dẫn ghi sổ kế toán, lập báo
cáo tài chính, thực hiện Luật kế toán, Chuẩn mực kế toán…
Xác định được vai trò, tầm quan trọng của doanh nghiệp trong chiến lược phát
triển kinh tế của tỉnh, thời gian qua tỉnh Hải Dương đã có nhiều giải pháp giúp doanh
nghiệp vượt qua khó khăn góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội
đã đề ra, thời gian tới để cạnh tranh được thì từng doanh nghiệp phải nỗ lực hơn nữa
tìm hướng đi hợp lý, chủ động nâng cao hiệu quả tổ chức công tác kế toán trong
doanh nghiệp là một trong những giải pháp tạo ra thành công cho doanh nghiệp.
Tổ chức phân cấp công tác quản lý kinh tế tài chính đối với các đơn vị nội bộ
công ty. Trong trường hợp công ty có nhiều bộ phận sản xuất kinh doanh trực thuộc
và phụ thuộc, công ty cần tổ chức phân cấp công tác quản lý nội bộ nhằm nâng cao
trách nhiệm quản lý ở từng bộ phận. Theo đó, tổ chức công tác kế toán cũng được
thực hiện trên cơ sở mô hình phân cấp, đảm bảo nhiệm vụ của từng bộ phận được
thực hiện theo sự chỉ đạo chung của toàn công ty.
Trên cơ sở hệ thống kế toán nhà nước đã ban hành, các doanh nghiệp sản
xuất giày căn cứ vào đặc điểm cụ thể về loại hình sản xuất kinh doanh của mình để
lập quy trình thực hiện công tác kế toán phù hợp, đặc biệt là công tác KTQT; quy
định đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể của từng bộ phận kế toán,
từng người làm kế toán trong bộ máy kế toán doanh nghiệp.
Thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kiến
161
thức tin học cho những người làm kế toán, đồng thời cập nhật chính sách chế độ
mới cho đội ngũ làm kế toán. Bên cạnh đó, cần nâng cao trình độ cho kế toán
trưởng, giám đốc công ty thông qua việc đào tào, bồi dưỡng qua các lớp bồi dưỡng
kế toán trưởng và giám đốc doanh nghiệp.
Tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin trong kế toán nhằm nâng cao năng
suất lao động kế toán và cung cấp thông tin kế toán đầy đủ, kịp thời phục vụ yêu
cầu quản trị doanh nghiệp.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày
trên địa bàn tỉnh Hải Dương là vấn đề phức tạp cần có sự nghiên cứu tỷ mỉ cả về lý
luận và thực tiễn. Những nội dung hoàn thiện được nghiên cứu một cách khoa học
dựa trên cơ sở lý luận và những đánh giá khách quan về thực trạng tổ chức công tác
kế toán trong một số doanh nghiệp sản xuất giày mà tác giả luận án đã khảo sát thực
tế. Các nội dung hoàn thiện này vừa mang tính khái quát, vừa mang tính cụ thể, bao
gồm các nội dung hoàn thiện trên lĩnh vực vĩ mô của Nhà nước như các văn bản
pháp luật của nhà nước về kế toán và trong phạm vi bản thân đối với các doanh
nghiệp về vấn đề tổ chức công tác kế toán, tổ chức hệ thống thông tin kế toán phục
vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp. Mặt khác, cũng trong chương này, luận án
đã phân tích một số điều kiện cơ bản thuộc về nhà nước, Hội nghề nghiệp và các
doanh nghiệp sản xuất giày trong việc thực hiện các giải pháp đã đề xuất.
162
KẾT LUẬN CHUNG
Trong những năm gần đây, phát triển các doanh nghiệp sản xuất giày đã và
đang được nhà nước cũng như toàn xã hội quan tâm. Các doanh nghiệp sản xuất
giày phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng đã khẳng định vị trí của mình và
có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội. Tăng cường công
tác quản lý công ty sản xuất giày thông qua việc sử dụng công cụ kế toán là cần
thiết khách quan. Do vậy, đổi mới và hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các
công ty sản xuất giày nói chung và các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh
Hải Dương nói riêng là vấn đề đã và đang được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý
quan tâm cả về lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ tầm quan trọng đó, luận án “Hoàn
thiện tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh
Hải Dương” đã nghiên cứu và rút ra những kết luận cơ bản sau đây:
Một là, hệ thống hóa và làm rõ thêm các vấn đề lý luận về tổ chức công
tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất nói chung và tổ chức công tác kế
toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng.
Các vấn đề được nghiên cứu một cách khoa học, tạo điều kiện cho việc nâng cao
nhận thức lý luận trong hoạch định chính sách quản lý vĩ mô. Đồng thời, luận án
trình bày và phân tích vai trò của KTTC và KTQT trong việc cung cấp thông tin
phục vụ quản trị, giúp các nhà quản lý trong các doanh nghiệp sản xuất giày
nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của tổ chức kế toán đối với công tác quản trị
trong doanh nghiệp.
Hai là, thông qua khảo sát thực tế về tổ chức công tác kế toán trong một số
doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương, luận án đã phân tích những
ưu điểm, những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trong tổ chức
công tác kế toán. Các nhận xét, đánh giá mang tính khách quan, giúp cho các nhà
quản trị thấy rõ thực chất của công tác quản trị doanh nghiệp những năm qua, từ đó
có biện pháp tích cực đổi mới công tác quản trị.
Ba là, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận án đã đề xuất các nội
163
dung hoàn thiện về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày
trên địa bàn tỉnh Hải Dương nhằm cung cấp thông tin một cách kịp thời, đầy đủ và
trung thực cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc đưa ra các quyết định kinh
doanh tối ưu, bao gồm:
- Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán;
- Hoàn thiện về tổ chức thu nhận thông tin ban đầu thông qua hệ thống chứng
từ kế toán và ghi chép ban đầu;
- Hoàn thiện tổ chức cung cấp thông tin thông qua hệ thống báo tài chính và
hệ thống báo cáo KTQT;
- Hoàn thiện công tác phân tích tài chính.
Bốn là, Luận án đã đề xuất những điều kiện cơ bản thuộc về phía Nhà nước,
Hội nghề nghiệp và các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Đó cũng chính là các kiến nghị để thực hiện các giải pháp đề xuất. Tổ chức công tác
kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày nói chung và trong các doanh nghiệp
sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng là vấn đề hết sức phức tạp cần
được nghiên cứu kỹ lưỡng nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế trong giai đoạn
mới. Toàn bộ nội dung luận án thể hiện tính lý luận và thực tiễn một cách khái quát
về vấn đề tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa
bàn tỉnh Hải Dương. Vấn đề này sẽ còn được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.
164
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG
BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Nguyễn Thị Đào (2010), “Chuẩn mực kế toán số 05 và vấn đề hoàn thiện
chế độ kế toán bất động sản đầu tư qua thực tế tại Hải Dương”, “Tạp chí Kiểm toán”,
(8/105), Tr. 29.
2. Nguyễn Thị Đào (2015), “Hoàn thiện tổ chức công tác trong các doanh
nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương”, “Nghiên cứu Tài chính kế toán”,
(6/143), Tr. 68.
3. Nguyễn Thị Đào (2015), “Xây dựng mô hình tổ chức bộ máy kế toán trong
các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương”, “Nghiên cứu Tài chính
kế toán”, (10/147), Tr. 69.
165
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Công thương (2014) số 2757/ QĐ - BCT, Phê duyệt quy hoạch phát
triển công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
2. Bộ Tài chính (2000), Hệ thống kế toán doanh nghiệp, Nxb Tài chính,
Hà Nội.
3. Bộ Tài chính (2002), Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa, Nxb Tài
chính, Hà Nội.
4. Bộ Tài chính (2006), Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa, Nxb Tài
chính, Hà Nội.
5. Nguyễn Hữụ Ba (2001), Giáo trình lý thuyết hạch toán kế toán, Nxb Tài
chính, Hà Nội.
6. Vũ Huy Cẩm (1996), Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm, Nxb Thống kê, Hà Nội.
7. Nguyễn Văn Công (2001), Lập, đọc, kiểm tra và phân tích báo cáo tài
chính, Nxb Tài chính, Hà Nội.
8. Nguyễn Văn Công (1992), Phân tích hoạt động Kinh doanh, Nxb Tài chính,
Hà Nội.
9. Ngô Thế Chi (1996), Kế toán trưởng trong cơ chế quản lý mới, Nxb
Thống kê, Hà Nội.
10. Ngô Thế Chi, Nguyễn Trọng Cơ (2002), Hướng dẫn thực hành Kế toán
và phân tích tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa, Nxb Thống kê, Hà Nội.
11. Ngô Thế Chi, Nguyễn Mạnh Thiều (2015), Giáo trình kế toán dành cho nhà
quản lý, Nxb Tài chính.
12. Ngô Thế Chi, Trương Thị Thủy (2007), Giáo trình KTTC, Nxb Tài chính.
13. Ngô Thế Chi, Trương Thị Thủy (2013), Giáo trình KTTC, Nxb Tài chính.
14. Đại học Kinh tế quốc dân (2002), Lý thuyết hạch toán kế toán, Nxb Tài
chính, Hà Nội.
15. Đại học Kinh tế quốc dân (1998), Giáo trình quản trị kinh doanh, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
166
16. Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước (1998).
17. Nguyễn Đình Đỗ, Vương Đình Huệ (1996), Giáo trình kế toán doanh
nghiệp, Nxb Tài chính, Hà Nội.
18. Nguyễn Đình Đỗ, Vương Đình Huệ (1996), Giáo trình kế toán doanh
nghiệp, Nxb Tài chính, Hà Nội.
19. Nguyễn Đình Đỗ (2006), Qui trình kế toán doanh nghiệp trong xu thế đổi
mới hội nhập và phát triển, Nxb Lao động xã hội.
20. Nguyễn Thị Đông (1997), Lý thuyết hạch toán kế toán, Nxb Tài chính,
Hà Nội.
21. Mấy vấn đề về cán bộ tổ chức trong cách mạng XHCN, NXB sự thật, Hà
Nội (1973)
22. Nguyễn Thị Đông (1998), Tổ chức hạch toán kế toán, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
23. Nguyễn Thị Đông (2002), Lý thuyết hạch toán kế toán, Nxb Tài chính,
Hà Nội.
24. Phạm Thị Gái (1997), Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
25.Nguyễn Phú Giang (2008), Giáo trình kế toán thương mại và dịch vụ,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
26. Nguyễn Đình Giao (1997), Kinh tế học vi mô, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
27. Lê Thị Thanh Hà, Trần Thị Kỳ, Giáo trình nguyên lý kế toán, Nxb
Thống kê.
28. Hệ thống kế toán Việt Nam (2006), Nxb Tài chính, Hà Nội.
29. Nguyễn Trọng Hoài, Phùng Thanh Bình, Nguyễn Khánh Duy (2014), Dự
báo và phân tích dữ liệu trong Kinh tế và Tài chính, Nxb Tài chính, TP Hồ Chí Minh.
30. Vương Đình Huệ, Đoàn Xuân Tiên (1999), Giáo trình KTQT, Nxb Tài
chính, Hà Nội.
31. Kennit. D. Larson (1994), KTTC theo hệ thống kế toán Mỹ, Nxb Thống
kê, Hà Nội.
32. Đặng Thị Loan (2011), KTTC trong các doanh nghiệp, Nxb Đại học kinh
167
tế quốc dân.
33. Trần Hải Long (2012), Hoàn thiện tổ chức công tác trong các doanh
nghiệp thuộc tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam, luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện
Tài chính, Hà Nội.
34. Huỳnh Lợi - Lê Khắc Tâm (2001), Kế toán quản trị, Nxb Thống kê, Hà Nội.
35. Luật Doanh nghiệp (2014).
36. Luật Giao dịch điện tử (2005)
37. Luật Kế toán Việt Nam (2003), Nxb Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội.
38. Luật Kế toán Việt Nam (2016), Nxb Lao động, Hà Nội.
39. Lê Gia Lục (1999), Kế toán đại cương và tổ chức công tác kế toán trong
doanh nghiệp, Nxb Thống kê, Hà Nội.
40. Hùng Mạnh (1998), Kế toán quản lý, Nxb Thống kê, Hà Nội.
41. Bùi Văn Mai (2003), “Những nét mới trong dự thảo luật Kế toán Việt
Nam”, Kế toán, (40), Tr 7 - 9.
42. Trần Ngọc Nghĩa (2006), Giáo trình Lý thuyết hạch toán kế toán, Nxb
Tài chính, Hà Nội.
43. Nguồn báo Xây dựng Hải Dương 20/01/2015
44. Niên giám thống kê các năm.
45. Nathan. Hệ thống Lavin (1994), Kế toán chi phí theo hệ thống kế toán
Mỹ, Nxb Thống kê, Hà Nội.
46. P.M Kec - gien - txep (1999), Những nguyên lý của công tác tổ chức,
Nxb Thanh niên.
47. Đặng Văn Thanh., Luật Kế toán cần được sửa đổi một cách toàn diện và
căn bản, Tạp chí Kế toán & Kiểm toán số 4/2015
48. Nguyễn Minh Phương (2002), Giáo trình KTQT, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
49. Nguyễn Ngọc Quang (2011), Giáo trình KTQT, Nxb Đại học kinh tế
quốc dân.
50. Nguyễn Quang Quynh (1986), Những vấn đề cơ bản về tổ chức hạch
168
toán kế toán, Nxb Thống kê, Hà Nội.
51. Nguyễn Ngọc Song (1996), Hoàn thiện công tác kế toán trong các xí
nghiệp liên doanh với nước ngoài áp dụng chế độ kế toán Việt Nam, luận án phó
tiến sĩ khoa học kinh tế, Trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà Nội.
52. Nguyễn Ngọc Tâm (2015), Công nghiệp hỗ trợ tỉnh Hải Dương quy
hoạch để phát triển
53.Trần Thị Cẩm Thanh (2014), Giáo trình Tổ chức hạch toán kế toán, Nxb
Chính trị quốc gia.
54. Trần Hữu Thục (2009), Chế độ kế toán doanh nghiệp, hướng dẫn lập
chứng từ kế toán, hướng dẫn ghi sổ kế toán, Nxb Thống kê, Hà Nội.
55. Thông tư 200/2014/TT-BTC về Hướng dẫn Chế độ kế toán doanh
nghiệp, có hiệu lực từ 01/01/2015.
56. Đoàn Xuân Tiên, Lê Văn Liên, Nguyễn Thị Hồng Vân (2014), Giáo trình
nguyên lý kế toán, Nxb Tài chính.
57. Đoàn Xuân Tiên, Nguyễn Vũ Việt (2014), Giáo trình kế toán máy,
Nxb Tài chính.
58. Lưu Đức Tuyên, Ngô Thị Thu Hồng (2011), Tổ chức công tác kế toán trong
doanh nghiệp, Nxb Tài chính, Hà Nội.
59. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011), Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
60. Tài liệu kế toán tại các Công ty cổ phần Giày Cẩm Bình, Công ty cổ phần
Giày Hải Dương, Công ty Sumidenso,...
61. Tài liệu tại các trang website: Tailieu.vn, Luanvan.co, Thuvien24.com,
doc.edu.vn, Khodetai.com, Doko.vn, Reportshop.com.vn,...
169
UBND TỈNH HẢI DƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNG PHIẾU ĐIỀU TRA KHẢO SÁT
HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIÀY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
Chúng tôi xin trân trọng ghi nhận sự tham gia của ông (bà) vào đề tài nghiên
cứu này và xin cam đoan rằng nội dung trả lời và các thông tin cá nhân của ông (bà)
sẽ chỉ được dùng cho mục đích nghiên cứu.
Tên doanh nghiệp: ........................................................................................................
Tên người được phỏng vấn: .........................................................................................
Vị trí công tác: ..............................................................................................................
Xin quý doanh nghiệp trả lời các câu hỏi dưới đây theo cách đánh dấu vào
các phương án trả lời hoặc có ý kiến.
1. Doanh nghiệp thuộc hình thức sở hữu nào?
- Doanh nghiệp Nhà nước
- Doanh nghiệp Liên doanh
- Công ty cổ phần
- Công ty 100% vốn nước ngoài
2. Doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh giày theo phương thức nào dưới đây
- Gia công thuần túy
- Phương thức sản xuất làm hàng FOB
- Phương thức sản xuất cho các thương hiệu nước ngoài
- Phương thức sản xuất sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam
3. Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán ban hành theo quyết định nào?
- Chế độ kế toán ban hành theo QĐ 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006
- Chế độ kế toán ban hành theo QĐ 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006
- Chế độ kế toán khác (Xin nêu cụ thể) …………………………………
170
4. Bộ máy kế toán của doanh nghiệp được tổ chức theo mô hình nào?
- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung
- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán
- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán
5. Cơ cấu phân cấp tổ chức, hoạt động; mô hình tổ chức các phòng ban nghiệp vụ
- Rõ ràng, đầy đủ
- Chưa rõ ràng, đầy đủ
- Không rõ ràng, không phân chia thành các phòng ban
6. Cơ chế quản lý tài chính và tổ chức hệ thống kế toán
- Cơ chế quản lý tài chính đầy đủ, hệ thống tài chính kế toán rõ ràng
- Cơ chế quản lý tài chính đầy đủ, hệ thông tài chính kế toán chưa rõ ràng
- Cơ chế q.lý tài chính chưa đầy đủ, hệ thống tài chính kế toán tương đối rõ ràng
- Cơ chế quản lý tài chính chưa đầy đủ, hệ thống tài chính kế toán chưa rõ ràng
7. Tại doanh nghiệp có tổ chức bộ máy kế toán quản trị không?
- Có
- Không
8. Tổ chức bộ máy kế toán quản trị tại doanh nghiệp (nếu có) theo mô hình nào?
- Độc lập với bộ máy kế toán tài chính
- Kết hợp với bộ máy kế toán tài chính
9. Tổ chức kế toán quản trị tại doanh nghiệp (nếu có) được thực hiện như thế nào?
- Kết hợp với kế toán tài chính trên cùng một phần hành kế toán
- Không kết hợp với kế toán tài chính trên cùng một phần hành kế toán
…
- Cách tổ chức khác (xin nêu cụ thể) ………………………………………………
………………………………………………………………………………………
10. Bộ máy kế toán của doanh nghiệp có bao nhiêu nhân viên kế toán? …………
Số lượng các nhân viên kế toán có trình độ:
- Trình độ thạc sĩ: ……
- Trình độ đại học: ……
171
- Trình độ cao đẳng: …..
- Trình độ trung cấp: ……
- Chưa qua đào tạo chuyên môn: ……
11. Các nhân viên kế toán trong bộ máy được phân công công việc theo:
- Phân công theo các phần hành kế toán
- Phân công theo quy trình kế toán
…
- Cách phân công khác (xin trình bày cụ thể): ……………………………………
……………………………………………………………………………..............
12. Hệ thống chứng từ kế toán tại DN sử dụng bao gồm các chứng từ nào?
- Chỉ chứng từ bắt buộc
- Chỉ chứng từ hướng dẫn
- Cả hai loại chứng từ trên
13. Mẫu chứng từ kế toán bắt buộc tại DN có đúng mẫu quy định không?
- Đúng quy định
- Không đúng quy định
- Có chứng từ đúng, có chứng từ không đúng
14. Việc ghi chép trên chứng từ kế toán tại doanh nghiệp bằng cách thức nào?
- Ghi chép bằng tay
- Ghi chép bằn máy vi tính
- Kết hợp cả hai cách thức trên
15. Tại doanh nghiệp có sử dụng chứng từ kế toán điện tử không?
- Có sử dụng
- Không sử dụng
16. Chứng từ kế toán điện tử sử dụng tại doanh nghiệp (nếu có) gồm những chứng
từ nào?
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
17. Thiết lập các quy trình hoạt động và quy trình kiểm soát nội bộ
172
- Được thiết lập, cập nhập và kiểm tra thường xuyên
- Được thiết lập nhưng chưa được thực hiện toàn diện trong thực tế
- Có tồn tại nhưng không được chính thức hóa hay được ban hành thành văn bản
- Chưa được thiết lập các quy trình kiểm soát nội bộ, quy trình hoạt động
18. Tại doanh nghiệp có tiến hành kiểm tra chứng từ kế toán không?
- Có kiểm tra
- Không kiểm tra
19. Các công việc kiểm tra chứng từ kế toán (nếu có) bao gồm những công việc nào?
- Kiểm tra tính hợp pháp của nghiệp vụ phát sinh lập trên chứng từ
- Kiểm tra nội dung kinh tế của nghiệp vụ lập trên chứng từ
- Kiểm tra tính rõ ràng, đầy đủ của các yếu tố cơ bản trên chứng từ
- Kiểm tra tính trung thực, chính xác của số liệu, nội dung trên chứng từ
- Kiểm tra việc định khoản trên chứng từ
- Các công việc kiểm tra khác: …………………………………………………..
…
…………………………………………………………………………………....
20. Doanh nghiệp có lập kế hoạch, trình tự luân chuyển chứng từ kế toán không?
- Có
- Không
21. Các tài khoản kế toán sử dụng trong DN được thực hiện như thế nào?
- Tuân thủ hoàn toàn theo chế độ kế toán doanh nghiệp đã áp dụng
- Tuân thủ một phần đồng thời có xây dựng một số tài khoản đặc thù
22. Căn cứ pháp lý của các tài khoản kế toán đặc thù (nếu có) tại doanh nghiệp là gì?
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
23. Các tài khoản đặc thù (nếu có) mà doanh nghiệp áp dung bao gồm tài khoản nào?
…………………………………………………………………..………………
…………………………………………………………………………………...
173
…………………………………………………………………………………...
24. Doanh nghiệp có xây dựng thêm tài khoản chi tiết ngoài hướng dẫn không?
- Có xây dựng
- Không xây dựng
25. Nguyên tắc xây dựng tài khoản chi tiết ngoài hướng dẫn (nếu có) là gì?
- Theo cấp độ chi tiết được xây dựng sau hướng dẫn của chế độ kế toán
- Đáp ứng được yêu cầu quản trị
- Thuận lợi cho việc mã hóa tài khoản
- Phù hợp với trang thiết bị trong công tác kế toán
…
- Nguyên tắc khác (xin nêu cụ thể): ………………………………………………
……………………………………………………………………………………..
26. Tại doanh nghiệp hiện đang áp dụng hình thức kế toán nào?
- Hình thức Nhật ký sổ cái
- Hình thức Nhật ký chung
- Hình thức Chứng từ ghi sổ
- Hình thức Nhật ký chứng từ
- Hình thức kế toán máy
27. Trong trường hợp doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán máy thì mẫu sổ
được thiết kế xây dựng theo hình thức nào?
- Hình thức Nhật ký sổ cái
- Hình thức Nhật ký chung
- Hình thức Chứng từ ghi sổ
- Hình thức Nhật ký chứng từ
28. Sổ kế toán chi tiết tại doanh nghiệp có phù hợp với tài khoản chi tiết không?
- Có
- Không
29. Sổ kế toán chi tiết tại DN đã đáp ứng được yêu cầu công tác quản lý chưa?
- Đã đáp ứng
174
- Chưa đáp ứng
30. Sổ kế toán chi tiết cần mở thêm tại doanh nghiệp là những sổ nào?
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
31. Doanh nghiệp đã lập đầy đủ các báo cáo tài chính theo chế độ kế toán không?
- Đầy đủ
- Chưa đầy đủ
32. Các báo cáo tài chính doanh nghiệp lập đã tuân thủ yêu cầu nào dưới đây?
- Trung thực, hợp lý
- Khách quan, đầy đủ, kịp thời
- Đơn giản, dễ hiểu, rõ ràng
- Có thể so sánh được
- Liên tục
- Đúng biểu mẫu quy định
33. Việc lập báo cáo tài chính tại doanh nghiệp được thực hiện:
- Định kỳ
- Bất thường
- Khi có yêu cầu
34. Tại doanh nghiệp đã tiến hành lập được những báo cáo kế toán quản trị nào? :
………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
35. DN cần phải tiến hành lập thêm những báo cáo kế toán quản trị nào?:
………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
36. Báo cáo kế toán quản trị tại doanh nghiệp cần thể hiện được thông tin gì?
175
- Thông tin về định mức
- Thông tin về kế hoạch
37. Doanh nghiệp có tiến hành kiểm tra báo cáo tài chính không?
- Có kiểm tra
- Không kiểm tra
38. Kiểm tra báo cáo tài chính (nếu có) tại doanh nghiệp được thực hiện như thế nào?
- Hàng tháng
- Hàng quý
- Hàng năm
- Khi có yêu cầu
- Khác
39. Tại doanh nghiệp có tiến hàng phân tích báo cáo tài chính không?
- Có phân tích
- Không phân tích
40. Doanh nghiệp cần phân tích những chỉ tiêu gì trên báo cáo tài chính?
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
41. Phân tích báo cáo tài chính tại doanh nghiệp cần thực hiện khi nào?
- Định kỳ
- Khi có yêu cầu
42. Doanh nghiệp có tiến hành kiểm tra công tác kế toán không?
- Có kiểm tra
- Không kiểm tra
43. Kiểm tra công tác kế toán (nếu có) tại doanh nghiệp được thực hiện khi nào?
- Định kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm
- Khi cần thiết
44. Kiểm tra công tác kế toán tại doanh nghiệp đã đáp ứng được yêu cầu chưa?
176
- Đã đáp ứng
- Chưa đáp ứng
45. Kiểm tra công tác kế toán tại doanh nghiệp cần làm gì để đáp ứng yêu cầu?
- Lập bộ phận kiểm tra
- Xây dựng kế hoạch kiểm tra
- Tiến hành kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kỳ một cách đồng thời
- Tiến hành phân tích kết quả kiểm tra
46. Ạnh (Chị) có tham gia tập huấn về thông tư 200 BTC ngày 22/12/20014?
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
47. Ý kiến đóng góp cho sự phát triển công tác kế toán trong doanh nghiệp?
…………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
Xin chân thành cảm ơn quý doanh nghiệp đã giúp đỡ. Phiếu điều tra xin gửi về
theo địa chỉ: Nguyễn Thị Đào Khoa Kế toán - Kiểm toán trường Đại học Hải Dương
số điện thoại 0166 8019548 hoặc địa chỉ Email: uhddaonguyen.edu@gmail.com
177
PHỤ LỤC
Phụ lục số 01a): Một số thông tin về các Công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2012
Lao động thời điểm 1/1/2012
Lao động thời điểm 31/12/2012
STT
Tên Doanh nghiệp
Địa chỉ
Tên ngành kinh doanh
Loại hình DN
Trị giá vốn HB (triệu đồng)
Tổng số tài sản có 31/12/2012 (triệu đồng)
Tổng DT BH và CC DV (triệu đồng)
Lợi nhuận BH và CCDV (triệu đồng)
Tổng số
T.đó: Nữ
Tổng số
T.đó: Nữ
8
Tổng số tài sản có 1/1/2012 (triệu đồng) 18
3
6
9
11
12
13
14
19
20
21
22
A
1077 Lê Thanh Nghị
10
848
653
798
608
78854
63892
157649
151904
5745
1
Giày Thể Thao XK
Tất Thượng
7
Gia Công Giày
107
103
169
160
1424
4164
4165
2
-1
Tiên Tảo 9
3
50
47
522
412
329
83
9
40
32
4
2
1
10658
8596
103
98
5
Km 44 +100, Quốc Lộ 5, Khu 16
844
5
Khu 19 Lai Cách
10
398
813
384
192362
223812
330922
301508
29014
4
Bình Xuyên
9
6
10
4
32849
33273
7154
3428
3726
50
41
Tiên Tảo - Thanh An
8
7
50
41
1428
3856
1072
791
281
Gia Công Mũ Giày Gia Công Giày Dép Xk SX Giày Thể Thao Gia Công Hàng 10 Giày, Dép Da Gia Công Mũ Giày
10
SX Giày Da
65
64
8
74
73
1018
809
2842
2840
2
9
Đội 3 Thiên Đông
7
SX Giày Dép
11
7
10
6
959
819
263.2
147.2
116
10
Kim Xuyên
9
298 Sx Giày Dép
350
290
253
15240
15424
15803
14493
1310
11
596
An Bình 9
145
150
145
1041
778
6445
5849
150
Gia Công Mũ Giày
12
Đội 1 10 Gia Công Giày Da
42
55
55
42
1046
Công Ty CP Giày Hải Dương Doanh Nghiệp Tn May Mặc Và Vt Hoa Việt Công Ty TNHH Mtv Bằng Nam Công Ty TNHH Cựu Chiến Binh Thành Đông Công Ty CP Giày Cẩm Bình Công Ty TNHH Huy Phong HTX Tiểu Thủ CN Thanh Niên Thanh An Hà Liễu Thanh Doanh Nghiệp Tư nhân May Phú Triệu Quang Công Ty CP SX TM Thảo Nguyên Công Ty TNHH Long Sơn Công Ty CP TM Và Dịch Vụ Khâm Khá Công Ty TNHH Mtv - SX TM Đức Vạn Lộc
Lao động thời điểm 1/1/2012
Lao động thời điểm 31/12/2012
STT
Tên Doanh nghiệp
Địa chỉ
Tên ngành kinh doanh
Loại hình DN
Trị giá vốn HB (triệu đồng)
Tổng số tài sản có 31/12/2012 (triệu đồng)
Tổng DT BH và CCDV (triệu đồng)
Lợi nhuận BH và CCDV (triệu đồng)
Tổng số
T.đó: Nữ
Tổng số
T.đó: Nữ
A
Tổng số tài sản có 1/1/2012 (triệu đồng) 18
12
13
14
19
20
21
22
3
6
11
13 Công Ty Giày Bình Dương
181
181
167
20647
30286
45035
40977
4058
8 9 Cổ Phục
359
9 Gia Công Sx Giày Dép Xk
10
14
Quốc Lộ 5 - Km 53
2 SX Form Giày Pvc
7
1542
1262
470
449
5
2
21
Công Ty CP Đầu Tư Và TM Vĩnh Phong
9
15 Công Ty TNHH Việt Phát
Km 52 Quốc Lộ 5
SX Giày Da XK
162
117
150
108
42373
38916
70697
61063
9436
10
16
Ngõ 51, Quán Thánh
SX Giày
250
170
4905
3658
3267
3566
6
1
-299
9
17
Phúc Lâm
Gia Công Giày Da
2
1
200
2
1
200
9
18
232 - Trần Hưng Đạo
SX Giày Dép
15
9
15
456
484
373
9
394
111
9
19
6/80 Quang Trung
Gia Công Mũ Giày
41
26
7
1749
1617
450
429
5
21
11
20
196 Sx ủng Cao Su
263
324
135
93839
101460
54598
43762
10836
11 Gia Công Giày
21
2982
4451
3785
61638
68143
122942
179370
-56428
Công Ty CP Vật Tư Và Giày Dép XK Hải Hưng Công Ty TNHH Mtv SX Và TM Thiên Phúc Công Ty TNHH Mtv TM Thuận Thành Công Ty TNHH Mtv Phúc An Phú Công Ty TNHH Vina Okamoto Công Ty TNHH Giày Continuance Việt Nam
11
22 Công Ty CP Golden Sun
2448
2171
2156
68066
65485
63464
55459
8005
2459
11
23
1637
1615
1398
1242
298161
335724
402029
225793
176147
3597 Dép Các Loại Sx, Gia Công Giày XK Sx Giày Dép Và Phụ Kiện Kèm Theo
11
24
Giày Da XK
1749
1310
1720
1300
44767
46075
105273
89442
15831
9
25
Gia Công Mũ Giày
2426
2300
2301
2254
5937
6458
69471
68651
820
9
26
37 Gia Công Giấy
50
50
37
806
578
1768
1420
348
CTy TNHH Công Nghiệp Oriental Sports VN Công Ty TNHH Samil Hà Nội Vina Chi Nhánh Công Ty TNHH Sao Vàng Công Ty TNHH Một Thành Viên V T S
Lô 14,15 Kcn Nam Sách Km 43 Quốc Lộ 5a Lai Cách Cẩm Giàng Km1+100 Đường 188 Hiệp An Kinh Môn Thôn Miếu Lãng - Đồng Lạc Km 52 Quốc Lộ 5 Bình Hàn Khu 3 Trần Hưng Đạo Số 20 Trần Bình Trọng
15547 13181 15252
2966
979433
1054569
1467580.2
1256868.2
210025
178
Cộng
Cục thống kê tỉnh Hải Dương năm 2013
179
Tên Doanh nghiệp
STT
Lao động thời điểm 1/1/2013
Lao động thời điểm 31/12/2013
Địa chỉ
Số điện thoại
Tên ngành kinh doanh
Tổng số TS có 1/1/2013 (triệu đồng)
Loại hình DN
Tổng số TS có 31/12/2013 (triệu đồng)
Tổng DTBH và CCDV (triệu đồng)
Trị giá vốn HB (triệu đồng)
Lợi nhuận BH và CCDV (triệu đồng)
Tổng số
T.đó: Nữ
Tổng số
T.đó: Nữ
2
5
6
7
8
10
11
12
13
17
18
19
20
21
A
Tiên Tảo
8
33
35
33
517
511
1278
1028
250
1
3203511757
690
9
400
700
392
227805
212476
336916 324104
12812
2
795
9
607
650
494
63211
79286
109983 104283
5700
3
3860678
Gia Công Mũi 35 Giày SX Giày Thể 3203785416 Khu 19 Lai Cách Thao Giày Thể Thao Xuất Khẩu
1077 Lê Thanh Nghị
Tất Thượng
Gia Công Giày
240
229
6
240
219
1541
1947
12440
11558
4
3749574
882
Ngọc Lâm
5
320
282
1121
2337
16469
15553
253
225
5
916
Cổ Phục
8
309
289
14364
17794
22286
19651
2635
209
175
6
3203721635
Gia Công Giày Gia Công Giày Xuất Khẩu
3203724632 Đội 3 Thiên Đông
7 SX Giày Dép
10
9
10
7
823
869
177
124
7
53
Hoàng Sơn
Gia Công Giày
8
32
28
978
612
569
8
978391819
43
8
1696 1455 1589 1359
5632
5612
75249
74636
9
3764898
613
Khu 3 Trần Hưng Đạo
Gia Công Mũi Giày
110 Quán Thánh
8 May Giày Dép
3833068
40
73
73
40
1089
3873
3458
10
415
An Bình
6
146
150
146
5402
5005
6622
5918
11
3203729998
704
Gia Công Mũ 150 Giày
3202215068 Kim Xuyên
Sx Giày Dép
297
254
8
297
254
20829
18213
27741
26810
12
931
26 Tuệ Tĩnh
3589688
8
48
42
1048
1188
1151
13
37
Gia Công Mũi Giày
Công Ty TNHH Mtv Bằng Nam Công Ty CP Giày Cẩm Bình Công Ty CP Giày Hải Dương DN Tn May Mặc Và Vt Hoa Việt 3741003 Hợp Tác Xã Lâm Ngọc Công Ty Giày Bình Dương Công Ty CP SX TM Thảo Nguyên Công Ty TNHH Mtv May Dũng Anh Chi Nhánh Công Ty TNHH Sao Vàng Công Ty TNHH Thương Mại Ntt Công Ty CP TM Và Dịch Vụ Khâm Khá Công Ty TNHH Long Sơn Công Ty TNHH Mtv May Minh Phúc
Phụ lục số 01b): Một số thông tin về các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2013
Lao động thời điểm 1/1/2013
Lao động thời điểm 31/12/2013
STT
Tên Doanh nghiệp
Địa chỉ
Số điện thoại
Tên ngành kinh doanh
Loại hình DN
Trị giá vốn HB (triệu đồng)
A
2
5
6
7
8
Tổng số 10
T.đó: Nữ 11
Tổng số 12
T.đó: Nữ 13
Tổng số TS có 1/1/2013 (triệu đồng) 17
Tổng số TS có 31/12/2013 (triệu đồng) 18
Tổng DTBH và CCDV (triệu đồng) 19
20
Lợi nhuận BH và CCDV (triệu đồng) 21
14 Công Ty CP Golden
3203828945
11 Sx, Gia Công
2402
2362
1987
1928
68880
68175
90888
80481
10407
Sun
Giày Xuất Khẩu
15 Công Ty TNHH Vina
3203574680
11 Ủng Cao Su
298
219
264
201
93233
94413
85775
65717
20058
Okamoto
16 Công Ty TNHH Giày
3203570456
11 Gia Công Giày
3164
2690
3666
3116
48479
101970
195480
133665
61815
Continuance VN
Dép Các Loại
17 Công Ty TNHH Giày
3203576068
11 Gia Công Giày
2373
2017
2538
2158
81212
120845
150467
115101
35366
Panta Việt Nam
Dép Các Loại
18 Công Ty TNHH CN
3203751267
11 Sx Giày Dép Và
1421
1200
1666
1300
325061
476343
627640
446745
178715
Oriental Sports VN
Km1+100 Đường 188 Hiệp An Kinh Môn Lô 14,15 Kcn Nam Sách Km 43 Quốc Lộ 5a Lai Cách Thôn Ngõ - Bình Xuyên Thôn Miếu Lãng - Đồng Lạc
Phụ Kiện Kèm Theo
19 Công Ty TNHH Samil
3832364
11 Giày Da Xuất
1800
1898
1780
40859
30020
184664
182309
2355
Hà Nội Vina
Km 52 Quốc Lộ 5 Bình Hàn
2103 Khẩu
180
Cộng
16209 13859 16472 14068
998969
1238931
1949748 1612861
334707
Cục thống kê tỉnh Hải Dương năm 2014
181
Tài sản 1/1/2014 (triệu đồng)
Tài sản 31/12/2014 (triệu đồng)
Nguồn vốn 01/1/2014 (triệu đồng)
Nguồn vốn 31/12/2014 (triệu đồng)
Chia ra
Chia ra
Chia ra
Chia ra
Tên DN
Địa chỉ
Loại hình DN
Tổng số LĐ (người)
Trong đó:LĐ nữ (người)
Trị giá vốn hàng bán (triệu đồng)
Tổng tài sản
Tổng tài sản
Tổng nguồn vốn
Tổng nguồn vốn
TS dài hạn
Tổng DT thuần BH và CCDV (triệu đồng)
TS ngắn hạn
TS dài hạn
TS ngắn hạn
Nợ phải trả
Nợ phải trả
Nguồn vốn chủ sở hữu
Nguồn vốn chủ sở hữu
393
1068
777
291
978
12
966
1068
77
991
612
569
585
978
39
8
40
Hoàng Sơn
1048
1048
8
48
42
337
337
1048
38
1010
337
59
278
1374
1914
26 Tuệ Tĩnh
200
1946
1129
229
6
817
3846
3092
754
1946
1010
936
3846
2789
1057
10366
9248
Tất Thượng
320
350
5
2337
2225
112
4468
4297
171
2337
1965
372
4468
3954
514
18821
17512
1613
8
1516
5611
1507
4104
5199
1157
4042
5611
5836
-225
5199
5338
-139
55921
55516
Ngọc Lâm Khu 3 Trần Hưng Đạo
Tiên Tảo
511
511
32
35
8
472
472
511
36
475
472
42
430
1712
1421
Hà Liễu
344
344
6
1996
1504
492
344
2
342
1996
975
1021
2585
2503
184
8
4085 Cổ Phục
17794
13709
172
41502
11055
30447
17794
9301
8493
41502
24834
16668
10444
8155
Công Ty TNHH MTV May Dũng Anh Công Ty TNHH Mtv May Minh Phúc DN Tn May Mặc Và Vt Hoa Việt Hợp Tác Xã Lâm Ngọc Chi Nhánh Công Ty TNHH Sao Vàng Công Ty TNHH Mtv Bằng Nam DN Tư Nhân May Phú Triệu Công Ty Giày Bình Dương
Phụ lục số 1c): Một số thông tin về doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2014
Tài sản 1/1/2014 (triệu đồng)
Tài sản 31/12/2014 (triệu đồng)
Nguồn vốn 01/1/2014 (triệu đồng)
Nguồn vốn 31/12/2014 (triệu đồng)
Chia ra
Chia ra
Chia ra
Chia ra
Địa chỉ
Tên DN
Loại hình DN
Tổng số LĐ (người)
Trong đó:LĐ nữ (người)
Tổng tài sản
Tổng tài sản
Tổng nguồn vốn
Tổng nguồn vốn
Trị giá vốn hàng bán (triệu đồng)
TS dài hạn
TS ngắn hạn
TS dài hạn
TS ngắn hạn
Nợ phải trả
Nợ phải trả
Nguồn vốn chủ sở hữu
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tổng doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ (triệu đồng)
9868
24626
4944
19682
18213
5757
12456
24626
5989
18637
27472
25996
417
8
355
8345
18213
Công Ty TNHH Long Sơn
7937 85776
52909
26154
26755
93713
24012
69701
52909
9873
43036
3269
3600
13
93713
7
3
Công Ty TNHH SX Thương Mại Tân Cương
1650 476343 391783 84560 784920 600619 184301 476343 150521 325822 784920 210605 574315 1361537 1056382
1693
11
Công Ty TNHH Công Nghiệp Oriental Sports Việt Nam
Kim Xuyên Lô Xn 1-1 Kcn Lai Cách Thôn Miếu Lãng - Đồng Lạc
171687 105445
66242
171687
80867
90820
12852
30350
11
Hiệp An
870
822
48
820
131
689
870
152
718
158
96
820
47
10
9
5
815
556
259
1089
492
597
815
522
293
4623
3869
1089
811
278
44
69
8
Công Ty TNHH Thương Mại Ntt
Công Ty TNHH Vietory Đội 3 Công Ty 773 Thiên CPSXTM Thảo Nguyên Đông 110 Quán Thánh
9
5066 An Bình
5005
143
-61
22
5427
514
4913
5005
80
4925
5427
649
4778
4039
3779
Công Ty CP Thương Mại Và Dịch Vụ Khâm Khá
182
Tài sản 1/1/2014 (triệu đồng)
Tài sản 31/12/2014 (triệu đồng)
Nguồn vốn 01/1/2014 (triệu đồng)
Nguồn vốn 31/12/2014 (triệu đồng)
Chia ra
Chia ra
Chia ra
Chia ra
Tên DN
Địa chỉ
Loại hình DN
Tổng số LĐ (người)
Trong đó: LĐ nữ (người)
Tổng tài sản
Tổng tài sản
Tổng nguồn vốn
Tổng nguồn vốn
Trị giá vốn hàng bán (triệu đồng)
TS dài hạn
TS ngắn hạn
TS dài hạn
Nợ phải trả
TS ngắn hạn
Nguồn vốn chủ sở hữu
Nợ phải trả
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tổng doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ (triệu đồng)
9
492
660
80997
60200
20797
88235
63979
24256
80997
68545
12452
88235 75855
12380
105331
96125
11
201
94413
27854
66559
75465
22572
52893
94413
92255
2158
75465 57231
18234
35146
13798
Công Ty CP Giày Hải Dương Công Ty TNHH Vina Okamoto
11
1928
1987
68175
19222
48953
77439
77439
68175
7806
60369
77439
2210
75229
38248
28516
Công Ty CP Golden Sun
3666
3116
11
115385 104053
11332
192543
177493
15050
115385
31135
84250 192543 34614
157929
395686 292401
2538
2158
11
133905 111128
22777
147017
78494
68523
133905
51082
82823 147017 58077
88940
112487
77929
30019
1898
1780
11
25690
4329
30437
24914
5523
30019
28688
1331
30437 74277
-43840
170847 194262
1077 Lê Thanh Nghị Lô 14,15 264 Kcn Nam Sách Km1+100 Đường 188 Hiệp An Kinh Môn Km 43 Công Ty Quốc Lộ TNHH Giày 5a Lai Continuance Cách Việt Nam Thôn Công Ty Ngõ - TNHH Giày Bình Panta Việt Xuyên Nam Km 52 Công Ty Quốc Lộ TNHH 5 Bình Samil Hà Hàn Nội Vina
183
15851
14075
1148646
778793
369853
1711278
1206636
504642
1148646
478704
669942 1711278 648989 1062289
2373530
1923941
Cộng
Cục thống kê tỉnh Hải Dương năm 2015
184
Lao động thời điểm 1/1/2015
Lao động thời điểm 31/12/2015
STT
Tên Doanh nghiệp
Địa chỉ
Số điện thoại
Tên ngành kinh doanh
Loại hình doanh nghiệp
Tổng số tài sản có 1/1/2015 (triệu đồng)
Tổng số TS có 31/12/2015 (triệu đồng)
Trị giá vốn hàng bán (triệu đồng)
LNBH và CCDV (triệu đồng)
Tổng số
T.đó: Nữ
Tổng số
T.đó: Nữ
A
1
3
4
5
6
7
8
9
10
11
Tổng DTBH và CCDV (triệu đồng) 12
13
14
1
3203570456
11
4007
3250
4345
3695
192543
265805
487270
401680
85590
Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Giày Continuance Việt Nam
2 Km 43 Quốc Lộ 5a Lai Cách
2
3203751267
11
2011
1916
1897
1808
784920
904682
1315598
1021510
294088
Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Công Nghiệp Oriental Sports Việt Nam
Thôn Miếu Lãng - Đồng Lạc
3
3203576068
11
3857
3306
3295
2854
147017
189448
391425
332992
58433
Thôn Ngõ - Bình Xuyên
Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Giày Panta Việt Nam
4
3832364
11
2011
1658
2010
1875
30437
33937
208988
220682
-11694
Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Samil Hà Nội Vina
Gia Công Giày Dép Xuất Khẩu Giày Dép Và Dịch Vụ Sản Xuất Giày Dép Sản Xuất, Gia Công Giày Dép Xuất Khẩu Sản Xuất Giày Thể Thao Xuất Khẩu
5
3203574680
11
261
200
254
198
75465
73664
79860
62547
17313
Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Vina Okamoto
Sản Xuất ủng Cao Su
Km 52 Quốc Lộ 5 Bình Hàn Lô 14,15 Kcn Nam Sách
6
Hiệp An
3828945
11
996
922
4021
3770
171687
224620
251803
223017
28786
Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Vietory
7
3203789188
11
0
0
423
317
0
303033
2642
5372
-2730
Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Giày Ngọc Hưng
8
3555268
13
156
150
393
162
93713
106436
50489
38451
12038
9
3833068
8
35
22
16
10
778
660
471
400
71
Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Sản Xuất Thương Mại Tân Cương Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Thương Mai Ntt
Cụm Cn Lương Điền - Cẩm Giàng Lô Xn 1-1 Kcn Lai Cách 110 Quán Thánh
Sản Xuất, Gia Công Giày Dép Gia Công Giày Dép Xuất Khẩu Gia Công Đế Giày Thể Thao Sản Xuất Giày Dép
Phụ lục số 01c): Một số thông tin về các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2015
Lao động thời điểm
STT
Tên Doanh nghiệp
Địa chỉ
Lao động thời điểm 1/1/2015
Tên ngành kinh doanh
Số điện thoại
Tổng DTBH và CCDV (triệu đồng)
Trị giá vốn hàng bán (triệu đồng)
LNBH và CCDV (triệu đồng)
31/12/2015 Tổng số T.đó: Nữ Tổng số T.đó: Nữ
2
A
1
5
6
7
8
9
12
13
14
3
Loại hình doanh nghiệp 4
Tổng số tài sản có 1/1/2015 (triệu đồng) 10
Tổng số TS có 31/12/2015 (triệu đồng) 11
10 Hợp Tác Xã Yuntai
3203741003
5 Gia Công Giày
150
120
104
83
1751
1470
9160
8378
782
11 Cty TNHH Phương Anh
3203842064
6
16
7
23
7
8958
4259
4235
2680
1555
Gia Công May Giày Thương Tật
Tân Kỳ - Tư Kỳ Km52 Quoc Lo 5a Phường Bình Hàn
An Bình
3203729998
6 May Mũ Giày
5427
4871
1398
1681
-283
12
12
116
12
12
3589688
8
337
407
2687
2326
361
48
45
53
40
13
26 Tuệ Tĩnh
Minh Đức
3744125
8
0
240
3686
3438
248
100
105
105
100
14
Kim Xuyên 3202215068
8
324
451
24626
31134
61525
55972
5553
442
337
15
May Gia Công Mũ Giày Gia Công Giày Thể Thao Sản Xuất Giày Dép Xuất Khẩu
Công Ty Cổ Phần Thương Mại Và Dịch Vụ Khâm Khá Cty TNHH Mtv May Minh Phúc Cty TNHH Mtv Huy Tuyết Mai Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Long Sơn
3860678
9
Sản Xuất Giày
456
630
88235
85165
149033
141057
7976
647
422
16
Công Ty Cổ Phần Giày Hải Dương
1077 Lê Thanh Nghị
230
140
17 Hợp Tác Xã Lâm Ngọc Ngọc Lâm
3741003
5 Gia Công Giày
218
160
4468
2787
17168
15843
1325
280
132
Tất Thượng
3749574
6 Gia Công Giày
210
147
3846
2617
13454
12599
855
18
Doanh Nghiệp Tn May Mặc Và Vt Hoa Việt
19
Cổ Phục
3203721635
8
186
174
179
167
41502
40652
24146
19587
4559
Công Ty Giày Bình Dương
Gia Công Giày Thể Thao Xuất Khẩu
185
15559
13093
18510
16129
1675710
2275887
3075038
2570212
504826
Cộng
9: Công ty Cổ phần 11: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Cục thống kê tỉnh Hải Dương năm 2016
Chú thích: Ký hiệu về loại hình doanh nghiệp 5: Hợp tác xã 6: Doanh nghiệp tư nhân 8: Công ty TNHH
186
Phụ lục số 02: Xuất khẩu hàng giày dép sang một số thị trường chính năm 2011 và năm 2012
Bảng 02: Xuất khẩu hàng giày dép sang một số thị trường chính năm 2011 và năm 2012
Năm 2011 Năm 2012
Thị trường Kim ngạch Tốc độ tăng so với Kim ngạch Tốc độ tăng so với
(Triệu USD) năm trước (%) (Triệu USD) năm trước (%)
15,7 2.609 2.650 1,6 EU
35,5 1.908 2.243 17,6 Hoa Kỳ
44,7 249 328 31,9 Nhật Bản
63,0 253 301 19,1 Trung Quốc
43,8 182 249 37,3 Braxin
Nguồn: Tổng cục Hải quan
187
Phụ lục số 03: Mẫu Sổ chi tiết chi phí sản xuất chung
Bảng số 03:
SỔ CHI TIẾT CHI PHÍ SẢN XUẤT CHUNG
Bộ phận:
Tháng …năm…
Chứng từ Chi tiết theo yếu tố chi phí
Dịch vụ mua ngoài Cộng Các chi phí bằng tiền khác Diễn giải Ngày ghi sổ SH NT Nhân công Vật liệu Công cụ Khấu hao … Thuế … Chi phí điện Chi phí nước Chi phí ĐT – Fax Chi phí sửa chữa Chi phí tiếp khách
Cộng CFSC phân bổ cho S.phẩmA S. phẩm B …... .
188
Phụ lục số 04: Mẫu Sổ chi tiết sản xuất toàn doanh nghiệp
Bảng số 04:
SỔ CHI TIẾT SẢN XUẤT TOÀN DOANH NGHIỆP
Tháng… năm…
Chi tiết theo yếu tố chi phí Chi phí Dịch vụ mua ngoài CF = tiền Cộng
NVL trực tiếp Nhân công Vật liệu Công cụ Khấu hao …. … Nhân công trực tiếp Chi phí sửa chữa Thuế Đối tượng chịu chi phí Chi phí điện Chi phí nước Chi phí tiếp khách Chi phí ĐT – Fax
- Phân xưởng 1 + Sản phẩm A + Sản phẩm B ….............. - Phân xưởng 2 + Sản phẩm C + Sản phẩm D
…...... Tổng cộng
189
Phụ lục số 05: Mẫu Sổ chi tiết chi phí bán hàng (Chi phí quản lý doanh nghiệp)
Bảng số 05:
SỔ CHI TIẾT CHI PHÍ BÁN HÀNG
(Hoặc SỔ CHI TIẾT CHI PHÍ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP)
Tháng… năm…
Chứng từ Chi tiết theo yếu tố chi phí
Dịch vụ mua ngoài CF = tiền Cộng
Diễn giải Ngày ghi sổ SH NT Nhân công Vật liệu Công cụ Khấu hao … Thuế …. Chi phí điện Chi phí nước Chi phí ĐT – Fax Chi phí sửa chữa Chi phí tiếp khách
Cộng CF bán hàng (hoặc chi phí QLDN) phân bổ cho S.phẩm A S.phẩm B
190
Phụ lục số 06: Mẫu Sổ chi tiết doanh thu bán hàng hóa nội địa
Bảng số 06
SỔ CHI TIẾT DOANH THU BÁN HÀNG NỘI ĐỊA
Loại sản phẩm (hàng hóa, dịch vụ) Nhóm sản phẩm (hàng hóa, dịch vụ) Tên sản phẩm (dịch vụ, mặt hàng)
Tháng… năm…
Chứng từ Doanh thu Các khoản giảm doanh thu
Diễn giải Hàng bán bị Ngày ghi sổ SH NT SL Đơn giá Thành tiền Giảm giá hàng bán trả lại Thuế tiêu thụ đặc biệt XK
Cộng phát sinh sản phẩm (dịch vụ mặt hàng)…...........
Doanh thu thuần của sản phẩm (dịch vụ mặt hàng)
191
Phụ lục số 07: Mẫu Sổ chi tiết doanh thu bán hàng hóa nhập khẩu
Bảng số 07
SỔ CHI TIẾT DOANH THU BÁN HÀNG (XUẤT KHẨU)
Loại sản phẩm (hàng hóa)…....
Nhóm sản phẩm (hàng hóa)…....
Tên sản phẩm (hàng hóa):….......
Tháng… năm…
Chứng từ Doanh thu Các khoản giảm doanh thu
Thành tiền Diễn giải Giảm giá hàng bán Hàng bán bị trả lại Thuế xuất khẩu Ngày ghi sổ SL Đơn vị tiền (ngoại tệ) SH NT Tỷ lệ quy đổi ngoại tệ Đơn giá VNĐ VNĐ VNĐ VNĐ VNĐ Đơn giá (ngoại tệ) Ngoại tệ Ngoại tệ Ngoại tệ Ngoại tệ
Cộng phát sinh sản hóa) (hàng phẩm Doanh thu thuần của sản phẩm (hàng hóa)
Phụ lục số 08: Mẫu Sổ chi tiết doanh thu kết quả
Bảng số 08
SỔ CHI TIẾT DOANH THU KẾT QUẢ
Tên sản phẩm (dịch vụ, mặt hàng) Tháng…... năm…...
Chứng từ
Ngày ghi sổ Diễn giải Doanh thu CF bán hàng Kết quả SH NT Các khoản giảm doanh thu CF quản lý DN CFSP của hàng đã bán
Cộng
Phụ lục số 09: Mẫu báo cáo giá thành sản phẩm
Bảng số 09
BÁO CÁO GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
Tháng…... năm….
Phân xưởng X
Giá thành thực tế Giá thành KH Đối tượng Chênh lệch giá thành đơn vị Giá đơn vị Giá thành Đơn vị Số lượng
- Bộ phận (PX…) + Sản phẩm A + Sản phẩm B - Bộ phận (PX…) + Sản phẩm C + Sản phẩm D ….............
Cộng
Phụ lục số 10: Mẫu báo cáo số lượng sản phẩm sản xuất hàng tháng
Bảng số 10
BÁO CÁO SỐ LƯỢNG SẢN PHẨM SẢN XUẤT HÀNG THÁNG
Tháng…... năm….
Phân xưởng X
Loại SP Ngày 1 2 3 4 5 6 …... Tổng
A
B
….
Tổng
Phụ lục số 11: Mẫu báo cáo sản xuất
Bảng số 11:
BÁO CÁO SẢN XUẤT
Phân xưởng X
CF NVL trực tiếp CF NC trực tiếp CF sản xuất chung
I. Số lượng sản xuất 1. Số sản phẩm dở dang đầu kỳ 2. Tỷ lệ thực hiện kỳ này của SPDD 3. Số bắt đầu sản xuất và hoàn thành trong kỳ 4. Số sản phẩm dở cuối kỳ 5.Tỷ lệ hoàn thành của sản phẩm dở cuối kỳ 6. Số lượng sản phẩm tương đương
II. Chi phí sản xuất 1. Chi phí sản xuất PS trong kỳ 2. Chi phí sản xuất bình quân
Phụ lục số 12: Mẫu báo cáo chi phí sản xuất chung
Bảng số 12
Báo cáo chi phí sản xuất chung
Tháng….. năm….
Thực hiện
Dự toán Chênh lệch
Chỉ tiêu 1. Số giờ máy hoạt động 2. Biến phí - Chi phí vật liệu - Chi phí nhân công quản lý sản xuất - Chi phí dịch vụ mua ngoài …......................... 3. Định phí - Chi phí khấu hao TSCĐ - Chi phí thuê TSCĐ - Các chi phí khác ….............
Phụ lục số 13: Mẫu Báo cáo kết quả
Bảng số 13: Báo cáo kết quả Tháng….. năm…... Khối lượng
Thực hiện Dự toán Chênh lệch Chỉ tiêu
Tổng số Đơn vị Tổng số Đơn vị Tổng số Đơn vị
1. DT bán hàng 2. Biến phí - Chi phí NVL trực tiếp - Chi phí NC trực tiếp - Chi phí SXC - Chi phí bán hàng - Chi phí quản lý DN 3. Lãi trên biến phí 4. Định phí - Định phí sản xuất - Định phí quản lý DN 5. LN trước thuế
Phụ lục số 14: Mẫu báo cáo kết quả theo khu vực và bộ phận
Bảng số 14: Báo cáo kết quả theo khu vực và bộ phận
Tháng….. năm…...
Khu vực Bộ phận trong khu vực A Bộ phận trong khu vực B Chỉ tiêu Toàn DN 1 l 3
2 … 2 … 4 …
1. Doanh thu 2. Biến phí 3. Lãi trên biến phí 4. Định phí - Định phí sản xuất - Định phí bán hàng - Định phí QLDN 5. LN trước thuế
Phụ lục số 15: Mẫu Báo cáo quản trị CPSX theo địa điểm SXKD
Bảng số 15: Báo cáo quản trị chi phí sản xuất theo địa điểm SXKD
Tháng.... năm....
Đơn vị tính:
Chi phí sản xuất Toàn doanh nghiệp Chi phí sản xuất theo địa điểm PX2 PX1 ......
1. Chi phí trực tiếp - Biến phí sản xuất + Nguyên vật liệu + Nhân công ..... - Định phí sản xuất + Khấu hao TSCĐ + Lương thời gian ..... 2. Chi phí sản xuất chung - Biến phí + công cụ, dụng cụ + Nhân công ..... - Định phí + Khấu hao TSCĐ .....
3. Cộng chi phí
Phụ lục số 16: Mẫu báo cáo quản trị chi phí sản xuất chung
Bảng số 16: Báo cáo quản trị chi phí sản xuất chung Tháng.... năm.... Đơn vị tính:
Dự toán Thực hiện Chênh lệch Nội dung
1. Biến phí sản xuất chung - Chi phí vật liệu - Chi phí nhân công - Chi phí CCDC - Chi phí dịch vụ mua ngoài -..................... 2. Định phí sản xuất chung - Chi phí khấu hao TSCĐ - Chi phí điện thoại - Chi phí khác 3. Phân bổ cho các địa điểm - Đơn vị....... - Đơn vị............
Cộng
Phụ lục số 17: Mẫu báo cáo quản trị giá thành sản xuất sản phẩm
Bảng số 17: Báo cáo quản trị giá thành sản xuất sản phẩm
Tháng..........năm....
Giá thành đơn vị Tổng giá thành
Đối tượng KH TT KH TT Chênh lệch Chênh lệch
PX 1 - Biến phí + Nguyên vật liệu + Nhân công - Định phí + Khấu hao TSCĐ +... PX2 - Biến phí + Nguyên vật liệu + Nhân công - Định phí + Khấu hao TSCĐ +...
Cộng
Phụ lục số 18: Danh sách các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương tham gia khảo sát:
Vũ Mạnh Khuề
1
Tiên Tảo
Kế toán viên
Cty TNHH MTV Bằng Nam
0989548413
2
Km 52 quốc lộ 5, phường Bình Hàn
Đỗ Hồng Sơn
Kế toán viên
3
Phạm Thị Thu 0978811833 Kế toán viên
Cty TNHH Việt Phát DNTN may mặc và VT Hoa Việt Tất Thượng
Lê Thị Thuyết
4
Lô 1 khu công nghiệp Lai Cách
Kế toán viên
Cty TNHH SX TM Tân Cương
03203555268
Trưởng phòng nhân
5
Thôn Ngô- Bình Xuyên
Phạm Văn Huy
Cty TNHH giày Panta VN
sự
Trần Thị Nguyệt (0983784622)
Kế toán trưởng
6
Km 52, quốc lộ 5, phường Bình Hàn
Cty TNHH Samil Hà Nội Vina
Tống Kiều Nga (0916843221)
Kế toán viên
7
Khu 3 Trần Hưng Đạo
Phạm Văn Mạnh
Kế toán viên
8
Xã Bình Xuyên, Kim Thành
Nguyễn Thị Thoan
Kế toán trưởng
Cty TNHH giày da Sao Vàng Ninh Giang Cty TNHH Thành Long
Phạm Thị Luyến
9
Kế toán viên
Cty cổ phần SXTM Thảo Nguyên Đội 3 Thiên Đông
0968 8566183
Nguyễn Mai Thu Huyền
10
Lô 14, 15 khu công nghiệp Nam Sách
03203574680
Kế toán trưởng
Cty TNHH Vina Okamoto
0912512568
Nguyễn Văn Lưu
11
Số 1077 Lê Thanh Nghị
Kế toán trưởng
Cty cổ phần giày Hải Dương
0943759819
STT Tên công ty Địa chỉ Tên người phỏng vấn Vị trí công tác
Nguyễn Thị Hương
Cổ Phục, Kim Thành
Kế toán trưởng
12
Cty giày Bình Dương
03203721635
Km1+100 đường 188 Hiệp An, Kinh
Đinh Thị Huế
Kế toán viên
13
Cty cổ phần Golden Sun
Môn
0973018385
Trưởng phòng sản
Hoàng Tân, Chí Linh
Trần Nam Trung
14
Cty cổ phần giày Thăng Long
xuất
Thị trấn Lai Cách – Cẩm Giàng
Nguyễn Thị Hoa
Kế toán viên
15
Cty cổ phần giày Cẩm Bình
Nguyễn Thị Khanh
26 Tuệ Tĩnh
Kế toán viên
16
C.ty TNHH MTV Minh Phúc
0987317696
Miếu lãng- Đồng Lạc
Kế toán trưởng
17
Cty TNHH CN Oriental Sport Việt Nam
Đặng Thị Phương
Lê Thị Đản
Kim Xuyên, Bình Giang
Kế toán trưởng
18
Cty TNHH Long Sơn
0982810996
Km 43, quốc lộ 5A, Lai Cách
Trịnh Thị Yên
Kế toán trưởng
19
Cty TNHH Vietory
Kế toán tổng hợp
Nguyễn Thị Hạnh
20
Cty TNHH MTV may Dũng Anh Hoàng Sơn
STT Tên công ty Địa chỉ Tên người phỏng vấn Vị trí công tác
199
Phụ lục số 19: Qui định liên quan đến các thủ tục kế toán (trích)
5.6. Quy định về Thông quan hàng mua trong nước
- Ngày 4 tháng 4 năm 2007, Bộ Thương Mại (BTM) đã ra Thông tư số
04/2007/TT-BTM về Hướng dẫn hoạt động xuất nhập khẩu, gia công, thanh lý hàng
nhập khẩu và tiêu thụ sản phẩm của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
Theo đó, quan hệ mua bán hàng hóa giữa Doanh nghiệp chế xuất và thị trường nội
địa là quan hệ xuất nhập khẩu, và thủ tục thông quan được thực hiện tại cơ quan hải
quan. Đối với SDVN là tại Chi cục Hải quan Tỉnh Hải Dương.
- Về nguyên tắc 100% hàng hóa mua trong nước bắt buộc phải thông quan
(trừ những loại hàng hóa không cần thông quan như từ trước tới nay như: văn
phòng phẩm; ăn uống, y tế; bàn ghế làm việc; xe đưa đón nhân viên… các hàng hóa
phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của Công ty; và các loại dịch vụ). Như vậy, với
bất cứ việc mua hàng với số tiền là bao nhiêu cũng phải bắt buộc thông quan, trừ
những hàng hóa, dịch vụ nêu trên.
- Khi đề nghị thanh toán, người gửi đề nghị thanh toán cần gửi kèm theo bản
phôtô Tờ khai hải quan đính kèm làm chứng từ thanh toán. Tờ khai Hải quan gốc sẽ
được lưu tại Bộ phận kế toán.
5.7. Quy trình mua hàng
- Quá trình mua hàng được bắt đầu khi người có nhu cầu đề nghị được cung
cấp hàng hoá, dịch vụ cho đến khi người đó nhận được đúng loại hàng hoá, dịch vụ
người thẩm phê Bộ
Bộ phận có nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ mở đề “Giấy nghị mua hàng” (P/R) và phải có duyệt ký của trưởng bộ phận đó.
Bộ phận có nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ trình người có thẩm quyền phê duyệt P/R theo hướng dẫn tại Bảng 4.2
Bộ phận có thẩm quyền mua hàng phải có trách nhiệm lưu giữ đầy đủ tất cả các giấy tờ, chứng từ liên quan để thủ đảm bảo tục thanh toán với kế toán.
cho Chuyển bộ phận có quyền thẩm hàng mua ứng tương được nêu tại Bảng 4.2. Bộ phận có thẩm quyền mua hàng tiến hành điền đầy đủ thông tin về giá cả, nhà cung cấp và ký vào P/R
Sau khi P/R được có quyền duyệt, phận có nhu cầu về hàng hoá trình Bộ phận có thẩm quyền mua hàng. để tiến hành làm hợp đồng và mua hàng.
Bộ phận có thẩm quyền mua hàng tiến hành bàn giao hàng hoá cho Bộ phận có nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ đó. Và làm Giấy nhận giao hàng hoặc Phiếu nhập kho
đó. Sau đây là Quy trình 4.5:
200
- Kết hợp với Bảng 4.2 về phân cấp ký duyệt, sau đây là Quy trình mua hàng
tổng thể số 4.5 mà những bộ phận nêu tại Bảng 4.2 cần phải tuân thủ khi mua hàng
hoá, dịch vụ trong nước.
- Tại bước 2 của quy trình sau (Quy trình 4.5): tức là bước Bộ phận có thẩm
quyền mua hàng tiến hành điền đầy đủ thông tin về giá cả, nhà cung cấp và ký vào
P/R: Ở bước này Bộ phận có thẩm quyền mua hàng phải (i): tiến hành thu thập đầy
đủ ít nhất là ba (03) báo giá cho mỗi loại hàng hoá ghi trên P/R đó (nếu là nhà cung
cấp lần đầu tiên, hoặc là nhà cung cấp cũ nhưng giá sản phẩm đó trên thị trường nay
đã thay đổi); (ii): tiến hành thương thảo với nhà cung cấp để đạt được mức giá hợp
lý chắc chắn.
13. QUY ĐỊNH VỀ VIỆC CUNG CẤP THÔNG TIN CHO KẾ TOÁN
13.1. Yêu cầu đối với việc cung cấp thông tin cho Kế toán
Theo chính sách, quy định của tập đoàn, hàng tháng, SDVN phải gửi báo cáo
tháng về tình hình, kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty cho SWS/ SEI vào
ngày làm việc thứ 5 của tháng sau; gửi báo cáo quý (báo cáo hợp nhất số liệu) vào
ngày làm việc thứ 7 của tháng đầu tiên của quý sau.
Ngày làm việc là ngày tính theo lịch làm việc của SWS/ SEI hàng năm.
Thông thường, ngày làm việc của SWS/ SEI là các ngày không gồm thứ 7, chủ nhật
và các ngày lễ của họ; không tính theo các ngày lễ tại Việt Nam.
Việc các bộ phận gửi số liệu, báo cáo cho kế toán chậm hơn quy định sẽ ảnh
hưởng đến việc tuân thủ của Công ty đối với các quy định trên của tập đoàn.
201
13.2. Lịch khóa sổ bắt buộc của Kế toán
Do các yêu cầu trên, Kế toán bắt buộc phải tuân thủ lịch hoàn thành từng
phần việc của Kế toán như sau:
Ngày phải
STT
Hạng mục
Liên quan đến
hoàn thành
Vay và Lãi vay
Ngày làm việc thứ 1 ACC
1
Tiền và các khoản tương đương tiền
Ngày làm việc thứ 2 ACC
2
Doanh thu và Phải thu
Ngày làm việc thứ 3
PC/MD/TUBE/DS
3
4 Mua hàng và Phải trả
Ngày làm việc thứ 3 MC/ALL
Tài sản cố định
Ngày làm việc thứ 3 ALL
6
Tiền lương và các khoản khác
Ngày làm việc thứ 3 ADM
7
Lập dự phòng
Ngày làm việc thứ 4 ACC
8
Thuế các loại
Ngày làm việc thứ 4 ACC
9
10 Nghiệp vụ trích trước
Ngày làm việc thứ 4 ACC
11 Hàng tồn kho
Ngày làm việc thứ 4 MC/MD/TUBE
Tính giá thành sản phẩm
Ngày làm việc thứ 4 ACC
12
Sổ nhật ký/ Chứng từ
Ngày làm việc thứ 5 ACC
13
14 Kiểm tra, xem xét, phê duyệt, khóa sổ
Ngày làm việc thứ 5 ACC/BOD
202
Phụ lục số 20: Bảng tổng hợp hình thức kế toán và chế độ kế toán sử dụng của
các DN khảo sát
Hình thức kế toán
QĐ
QĐ15
TT
Tên DN
48
(TT200)
NKSC NKC NKCT CTGS
x
x
1 Cty TNHH MTV Bằng Nam
x
x
2 Cty TNHH Việt Phát
x
x
3 DNTN may mặc và VT Hoa Việt
x
x
4 Cty TNHH SX TM Tân Cương
x
x
5 Cty TNHH giày Panta VN
x
x
6 Cty TNHH Samil Hà Nội Vina
7 Cty TNHH giày da Sao Vàng
x
x
Ninh Giang
x
x
8 Cty TNHH Thành Long
x
x
9 Cty cổ phần SXTM Thảo Nguyên
x
x
10 Cty TNHH Vina Okamoto
x
x
11 Cty cổ phần giày Hải Dương
x
x
12 Cty giày Bình Dương
x
x
13 Cty cổ phần Golden Sun
x
x
14 Cty cổ phần giày Thăng Long
x
x
15 Cty cổ phần giày Cẩm Bình
x
x
16 C.ty TNHH MTV Minh Phúc
17 Cty TNHH CN Oriental Sport
x
x
Việt Nam
x
x
18 Cty TNHH Long Sơn
x
x
19 Cty TNHH Vietory
x
x
20 Cty TNHH MTV may Dũng Anh
8
12
1
12
1
6
Cộng
203
Phụ lục số 21(a): Bảng tổng hợp mô hình Tổ chức bộ máy kế toán tại
các DN khảo sát
Tổ chức
Tổ chức bộ
Tổ chức bộ
STT
BMKT
máykế toán
máy kế toán
Tên DN khảo sát
tập trung
phân tán
hỗn hợp
Cty TNHH MTV Bằng Nam
1
x
Cty TNHH Việt Phát
2
x
3 DNTN may mặc và VT Hoa Việt
x
Cty TNHH SX TM Tân Cương
4
x
Cty TNHH giày Panta VN
5
x
Cty TNHH Samil Hà Nội Vina
6
x
7
x
Cty TNHH giày da Sao Vàng Ninh Giang Cty TNHH Thành Long
8
x
Cty cổ phần SXTM Thảo Nguyên
9
x
10 Cty TNHH Vina Okamoto
x
11 Cty cổ phần giày Hải Dương
x
12 Cty giày Bình Dương
x
13 Cty cổ phần Golden Sun
x
14 Cty cổ phần giày Thăng Long
x
15 Cty cổ phần giày Cẩm Bình
x
16 C.ty TNHH MTV Minh Phúc
x
17 Cty TNHH CN Oriental Sport VN
x
18 Cty TNHH Long Sơn
x
19 Cty TNHH Vietory
x
20 Cty TNHH MTV may Dũng Anh
x
Cộng
18
2
204
Phụ lục số 21(b): Trình độ của người làm kế toán tại các doanh nghiệp khảo sát
Trình độ chuyên môn đào tạo
STT Tên doanh nghiệp
Cty TNHH MTV Bằng Nam
1
Thạc sĩ Đại học Cao đẳng Trung cấp Sơ cấp
Cty TNHH Việt Phát
2
Số lượng nhân viên kế toán 1 1
3 DNTN may mặc và VT Hoa Việt
3 1 2
Cty TNHH SX TM Tân Cương
4
2 1 1
Cty TNHH giày Panta VN
5
4 1 2 1
Cty TNHH Samil Hà Nội Vina
6
3 1 2
7
5 1 1 3
Cty TNHH giày da Sao Vàng Ninh Giang Cty TNHH Thành Long
8
5 5
9
Cty cổ phần SXTM Thảo Nguyên
9 3 5 1
10 Cty TNHH Vina Okamoto
3 1 2
11 Cty cổ phần giày Hải Dương
2 1 1
12 Cty giày Bình Dương
10 2 7 1
13 Cty cổ phần Golden Sun
7 2 4 1
14 Cty cổ phần giày Thăng Long
9 4 5
15 Cty cổ phần giày Cẩm Bình
7 7
16 C.ty TNHH MTV Minh Phúc
15 6 9
17 Cty TNHH CN Oriental Sport
1 1
Việt Nam
18 Cty TNHH Long Sơn
10 10
19 Cty TNHH Vietory
4 4
20 Cty TNHH MTV may Dũng Anh
10 10
1 1
Cộng
81 111 2 22 6
205
Phụ lục số 22: Bảng phân tích chi phí giá thành sản xuất tháng
全廠生產费用明细表(不含水產) BẢNG CHI TIẾT CHI PHÍ GIÁ THÀNH SX THÁNG
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
合计 Cộng
序 号 STT
月份 Tháng 费用明细 Chi tiết chi phí NL
Nguyen vat lieu
209,272,000 204,612,352 210,663,936 213,066,270
537,979
535,910
533,229
537,070
2,144,189
工资(盾) Lương (đồng)
1
107,592
104,385
108,598
115,256
435,831
加班(盾) Tăng ca (đồng)
薪金 Tiền lương
645,571
640,295
641,827
652,326
2,580,020
合计 Cộng
785,577
775,258
801,789
846,589
3,209,213
①电费(盾) Tiền điện (đồng)
2
660,905
655,025
665,892
685,028
2,666,850
动力费 Phí động lực
-
-
-
-
-
②当月电耗(度) Hao điện trong tháng (số) ③当月发电机油费(盾/月) Phí dầu máy phát điện trong tháng (đồng/tháng)
蒸汽用量(立方米/月)
1,122
842
899
770
3,633
3
燃油费(盾) Phí dầu ma zút (đồng)
蒸汽费用(越盾/月)
509,108
382,058
407,921
349,388
1,648,474
4
237,873
193,165
225,025
245,369
901,432
润滑油、脂(盾) Dầu, mỡ bôi trơn (đồng)
905,589
901,525
920,520
3,660,194
932,560
283,560
316,763
327,507
1,272,855
345,025
5
1,050
-
69,960
71,010
-
206
配件、修缮费用 Phí khắc phục sửa chữa, linh kiện thay thế
46,335
53,280
43,591
72,127
215,333
①库房零、部件领用费用 Chi phí lĩnh dùng linh phụ kiện kho 库房零、部件领用费用-鋼模 Chi phílinh phụ kiện -khuon ②零、部件外加工费用(盾) Phí linh phụ kiện gia công&sua chua ngoài (đồng) ③堆高机修理费用(盾) Phí sửa chữa xe nâng (đồng)
69,805
71,491
69,136
274,642
64,210
④工程费用(盾) Chi phí công trình (đồng)
-
-
-
-
-
-
-
当月总费用(1+2+3+4+5) (盾) Tổng chi phí trong tháng (đồng)
212,756,467
207,946,186
214,171,212
216,573,864 -
13,833,171
吨 费 用 分 析 表
BẢNG PHÂN TÍCH CHI PHÍ TẤN
29,684
29,056
29,856
30,158
118,754.0
891
754
733
678
3,056.0
1
28,793
28,302
29,123
29,480
115,698.0
207
每月产能(吨) Năng lực sx mỗi tháng (tấn) 粉料(吨) Hàng bột (tấn) 颗粒(吨) Hàng viên (tấn)
3
3
2
2
2.6
7,050
7,042
7,056
7,065
2
21.7
22.0
21.5
21.6
21.7
3
26.5
26.7
26.9
28.1
27.0
22.3
22.5
22.3
22.7
22.5
4
18.5
18.7
18.8
19.7
18.9
26.7
26.9
27.1
28.3
27.2
17.2
13.1
13.7
11.6
13.9
5
8.0
6.6
7.5
8.1
7.6
6
44.0
46.2
47.9
46.9
46.3
7
粉料占总产量的百分比(%) Hàng bột chiếm tổng sản lượng (%) Nguyen vat lieu (000đ/tan) 薪水(盾/吨) Lương (đồng/tấn) 年平均每吨饲料动力费(盾/吨) Phí động lực năm trung bình mỗi tấn cám (000đ/tan) 平均每吨饲料电耗(度/吨) 粉料电费 (盾/吨) Tiền điện hàng bột (000đ/tan) 粒料水电费 (盾/吨) Tiền điện nước hàng viên (000đ/tan) 每吨燃油费费 (盾/吨) Phí dầu mazut mỗi tấn (000đ/tan) 每吨润滑油、脂费 (盾/吨) Phí dầu, mỡ bôi trơn mỗi tấn (đồng/tấn) 每吨修缮费(盾/吨) Phí sửa chữa khắc phục mỗi tấn (000đ/tan)
7,167.4
7,156.7
7,173.5
7,181.3 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0
0.0
116.5
每吨成本 (盾/吨) Giá thành mỗi tấn (000đ/tan)
208
Phụ lục số 23: Danh sách các công ty của Nhật Bản trên địa bàn tỉnh Hải Dương Nguồn: Sở kế hoạch Đầu tư năm 2014
STT
Số giấy phép đầu tư
Tên doanh nghiệp
Vốn đầu tư (Triệu USD)
042043000011 ngày 31/3/2004 – TĐ lần 6 ngày 26/3/2010 042023000016 ngày 16/1/2006 – TĐ lần 5 ngày 07/5/2012 042043000090 ngày 28/3/2008 – TĐ lần 1 ngày 12/6/2012
1 2 3
04212000149 ngày 27/3/2012 – TĐ lần 4 ngày 29/10/2013
4
66,67 36,50 4,50
Cty TNHH Sumidenso Việt Nam Cty TNHH Dây cáp điện ôtô Sumiden VN Cty TNHH VN Harajuku Electrical Appliance Cty TNHH Hóa chất và Môi trường Aureole Mitani – CN Hải Dương (CN hạch toán độc lập) Côngty TNHH KC Việt Nam Công ty TNHH FULUHASHI (VIỆT NAM) Công ty TNHH Fujikura Kasei Việt Nam Công ty TNHH Koyo Việt nam Công ty TNHH Phòng cháy chữa cháy Tomoken VN Cty TNHH Bơm Ebara VN Cty TNHH Việt Nam Toyo Denso
042043000156 Ngày 06/11/2012 042043000169 Ngày 18/6/2013 042043000177 Ngày 24/01/14 TĐ 1 ngày 18/2/2014 042043000191 Ngày 24/6/2014 042403000197 Ngày 15/9/2014 04222000151 ngày 13/7/2012 TĐ lần 1 ngày 21/11//2012 043042000035 ngày 06/9/2006 – TĐ lần 8 ngày 10/9/2013 042023000042 ngày 14/11/2006 – TĐ lần 6 ngày 20/01/2014 Cty TNHH Aiden VN (DN Chế xuất) 042043000017 ngày 19/1/2006 – TĐ lần 6 ngày 21/8/2013 042043000026 ngày 30/6/2006 – TĐ lần 5 ngày 17/5/2011 043042000033 ngày 09/8/2006 042023000038 ngày 27/9/2006 – TĐ lần 7 ngày 1/11/2013 04212000040 ngày 10/11/2006 – TĐ lần 5 ngày 12/5/2014
5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17
10,00
042043000074 ngày 11/9/2007 TĐ lần 1 ngày 20/01/2014
18
1,875 1,20 0,975 1,00 1,55 5,50 57,076 120,00 90,00 3,00 8,00 11,00 6,00
Công ty TNHH Công nghiệp Brother Việt Nam Công ty TNHH Atarih Precision VN Cty TNHH Kuroda Kagaku VN Cty TNHH TT gia công Hà Nội VN POSCO- VNPC CN Công ty TNHH Aureole BCD Công ty TNHH Fuji Việt Nam Đổi thành Công ty Teikokugiken co., LTD Cty TNHH Arion Electric Việt Nam
042023000146 ngày 07/2/2012 TĐ lần 1 04/12/2012
19
1,45
5,00
209
STT
Số giấy phép đầu tư
Tên doanh nghiệp
Vốn đầu tư (Triệu USD)
Chi nhánh Cty TNHH Molitec Steel (VN) tại HD Công ty TNHH FUJI CHEMI Việt Nam Công ty TNHH Điện tử UMC Việt Nam
20 21 22
Công ty TNHH Điện tử Iriso Việt Nam
23
1,09 0,50 100,00
04212000147 ngày 13/2/2012 042043000168 TĐ lần 1 - 29/10/2013 04202000039 ngày 7/11/2006 – TĐ lần 5 ngày 1/4/2013 042043000043 ngày 16/11/2006 – TĐ lần 6 ngày 9/8/2013 Có thể công nghệ cao được 042043000056 ngày 22/1/2007 – TĐ lần 6 ngày 20/1/2014 042043000059 ngày 02/3/2007 – TĐ lần 1 ngày 29/12/2008 042043000061 ngày 04/4/2007 – TĐ lần 10 ngày 10/9/2013 04212000083 ngày 2/01/2008 – TĐ lần 1 ngày 28/7/2009 042043000084 ngày 10/1/2008 – TĐ lần 5 ngày 9/12/2013 042023000088 ngày 21/3/2008 – TĐ lần 9 ngày 02/7/2014 042043000092 ngày 21/4/2008 – TĐ lần 8 ngày 15/3/2013 042043000101 ngày 16/6/2008 – TĐ lần 4 ngày 18/7/2014 04212000102 ngày 26/6/2008 – TĐ lần 1 ngày 24/7/2009 04222000134 ngày 30/11/2010 042043000137 ngày 31/3/2011 – TĐ lần 2 ngày 01/8/2014 042043000154 Ngày 19/9/2012 - TĐ 1 ngày 14/3/2013 042043000163 Ngày 01/4/2013 - TĐ 1 ngày 25/2/2014 042043000174 - Ngày 21/10/2013 042043000170 Ngày 29/7/2013 - TĐ lần 1 25/4/2013
Công ty TNHH Quốc tế Jaguar Hà Nội Công ty TNHH Sản xuất VSM Nhật Bản Cty TNHH Uniden VN CN Công ty TNHH Sankyu (VN) tại Hải Dương Cty TNHH sản xuất máy may Pegasus VN Công ty TNHH Hitachi Cable Việt Nam Công ty TNHH Valqua VN Cty TNHH Công nghệ Ikka Việt Nam Cty TNHH Sankyu Logistics VN Công ty Ajinomoto VIỆT NAM Công ty TNHH Toko Mimtech Nhật Bản Công ty TNHH ICS VIỆT NAM Công ty TNHH máy Brother Việt Nam Công ty TNHH Showa Valve Việt nam Công ty TNHH Frontier Việt Nam
24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38
80,00
Tổng
35,00 8,00 93,30 2,50 20,00 50,70 7,00 18,00 0,20 5,887 4,652 5,50 73,00 2,00 1,00 939,625
210
Phụ lục số 24: Phân tích BCKQHĐKD Công ty Cổ phần Giày Cẩm Bình
Tăng/Giảm
(2015/2014)
Chỉ tiêu Năm 2015 Năm 2014 Tương Tuyệt đối đối (%)
-6.4 Doanh thu thuần 383.351 409.406 -26.055
-7.0 Giá vốn hàng bán 362.135 389.373 -27.238
Lợi nhuận thuần từ hoạt 1.230 1.699 -469 -27.6 động SXKD
Lợi nhuận sau thuế 995 1.360 -365 -34.1
- Đánh giá quy mô, xu hướng biến động, nguyên nhân tăng, giảm doanh thu,
lợi nhuận: nhìn vào bảng trên ta thấy năm 2015 doanh thu và lợi nhuận đều sụt giảm
so với năm 2014, cụ thể doanh thu thuần là 383.351 triệu đồng, giảm 26 .055 triệu
đồng (mức giảm là 6,4%) so với năm 2014, tương ứng lợi nhuận sau thuế là 995
triệu đồng, giảm 365 triệu đồng (mức giảm là 34,1%). Doanh thu giảm là do năm
2015, công ty gặp khó khăn trong việc tiêu thụ gạch ốp lát. Nhu cầu thị trường sụt
giảm là nguyên nhân khiến Doanh thu giảm mặc dù ở các lĩnh vực còn lại là sản
xuất giày và Giấy carton vẫn duy trì được sự tăng trưởng so với các năm trước.
- Cơ cấu về doanh thu và lợi nhuận theo từng loại sản phẩm, dịch vụ/ lĩnh
vực hoạt động:
Doanh thu 2015 Sản phẩm/ Dịch vụ Tỷ trọng (%) (triệu đồng)
Giày thể thao 30.907 7,5
Gạch men 378.499 92,5
Giấy Carton
Tổng cộng 409.406 100
(Nguồn: Ngân hàng Công thương Hải Dương chi nhánh Khu Công nghiệp năm 2015)

