BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC

DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIÀY TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH HẢI DƯƠNG

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2016

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC

DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIÀY TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH HẢI DƯƠNG

Chuyên ngành : Kế toán

Mã số : 62.34.30.01

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2016

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, bản luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số

liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

ii

MỤC LỤC MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1 1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................................... 1 2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ............................................... 2 3. Mục đích nghiên cứu của luận án .................................................................................. 11 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án ............................................................. 11 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án ............................................... 11 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án ................................................................... 12 7. Kết cấu của luận án ........................................................................................................ 13 CHƯƠNG 1 ........................................................................................................................ 14 LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN ....................................................... 14 TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT .............................................................. 14 1.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý trong doanh nghiệp sản xuất . 14 1.1.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất .................................. 14 1.1.2. Đặc điểm về tổ chức quản lí trong các doanh nghiệp sản xuất ............................... 15 1.2. Khái niệm, ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp ................ 18 1.2.1. Khái niệm tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất ................... 18 1.2.2. Ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp ....................................... 20 1.3. Cơ sở, nguyên tắc và nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán ......................................... 21 1.3.1. Cơ sở để thực hiện các nội dung của tổ chức công tác kế toán ............................... 21 1.3.2. Những nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp sản xuất ............ 22 1.3.3. Nhiệm vụ của tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp ............................ 24 1.4. Nội dung cơ bản của tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất ... 25 1.4.1. Tổ chức bộ máy kế toán để thực hiện KTTC và KTQT ............................................. 26 1.4.1.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán ................................................................................ 28 1.4.1.2. Lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán ............................................................... 29 1.4.1.3. Mô hình tổ chức KTTC và KTQT .............................................................................. 34 1.4.1.4. Tổ chức, bố trí hoặc thuê nhân sự làm kế toán ......................................................... 35 1.4.2. Sử dụng các phương pháp kế toán để thu thập, xử lý, hệ thống hóa phân tích, cung cấp thông tin kế toán ............................................................................................................... 36 1.4.2.1. Tổ chức thu nhận, kiểm tra thông tin đầu vào .......................................................... 37 1.4.2.2. Tổ chức xử lý, phân loại và hệ thống hóa thông tin kế toán đầu ....................... 43 1.4.2.3. Tổ chức cung cấp thông tin kế toán ........................................................................... 50 1.4.3. Tổ chức kiểm tra kế toán .............................................................................................. 56

iii

1.5. Kinh nghiệm tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất của nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương .................................................................................... 57 1.5.1. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán ở các doanh nghiệp sản xuất của Nhật Bản .. 57 1.5.2. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại các công ty sản xuất của Hàn Quốc............. 60 1.5.3. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại các công ty sản xuất của Đài Loan ........... 61 1.5.4. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại các công ty sản xuất của Mỹ ...................... 63 1.5.5. Bài học kinh nghiệm về tổ chức công tác kế toán cho các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương .......................................................................................... 64 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................................. 67 CHƯƠNG 2 ........................................................................................................................ 68 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC ........................... 68 DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIÀY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG ......... 68 2.1. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý trong các doanh nghiệp sản xuất giày ảnh hưởng đền tổ chức công tác kế toán ....................................... 68 2.1.1. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành da giày ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán .............................................................................................................. 68 2.1.2. Đặc điểm tổ chức quản lý của các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán .......................................................... 77 2.2. Thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương ............................................................................................................ 84 2.2.1. Thực trạng tổ chức bộ máy kế toán ............................................................................. 84 2.2.2. Thực trạng sử dụng các phương pháp kế toán để thu thập, xử lý, phân tích cung cấp thông tin kế toán ............................................................................................................... 88 2.2.3. Thực trạng tổ chức xử lý, hệ thống hóa phân tích và cung cấp thông tin kế toán ............................................................................................................................................. 97 2.3. Đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương ............................................................................................ 104 2.3.1. Ưu điểm ........................................................................................................................ 104 2.3.2. Hạn chế ........................................................................................................................ 105 2.3.3. Nguyên nhân ................................................................................................................ 108 2.3.3.1. Về khuôn khổ pháp lý của kế toán ........................................................................... 108 2.3.3.2. Về việc thực hiện chế độ kế toán và tổ chức công tác kế toán ............................... 109 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ................................................................................................ 113 CHƯƠNG 3 ...................................................................................................................... 114

iv

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC ............ 114 DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIÀY TRÊN ĐỊA BÀN TÌNH HẢI DƯƠNG ....... 114 3.1. Định hướng phát triển các doanh nghiệp sản xuất giày đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 .................................................................................................................... 114 3.2. Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương .............................................. 118 3.2.1. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo tuân thủ Luật kế toán, nguyên tắc kế toán, phù hợp với đặc thù về quản lý kinh tế tài chính ........................................... 118 3.2.2. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày phải đảm bảo phù hợp với định hướng đổi mới và phát triển hệ thống doanh nghiệp Việt Nam ................................................................................................................................................. 120 3.2.3. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày phải đảm bảo phù hợp với định hướng phát triển của ngành da giày Việt Nam .................... 121 3.2.4. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày phải đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin kinh tế tài chính cho công tác quản lý kinh tế cả ở tầm vĩ mô và tầm vi mô .................................................................................... 122 3.2.5. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các công ty sản xuất giày phải đảm bảo tính hiệu quả và có tính khả thi ............................................................................................ 123 3.3. Nội dung hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương ............................................................................................ 124 3.3.1. Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán ........................................................................... 124 3.3.2. Hoàn thiện về tổ chức thu nhận, kiểm tra thông tin ban đầu ................................. 132 3.3.3. Hoàn thiện tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin kế toán ...................................... 134 3.3.4. Hoàn thiện tổ chức cung cấp thông tin thông qua hệ thống báo cáo tài chính và hệ thống báo cáo KTQT ............................................................................................................. 145 3.3.5. Hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính .................................................... 150 3.4. Điều kiện thực hiện giải pháp ................................................................................... 154 3.4.1. Đối với Nhà nước ........................................................................................................ 157 3.4.2. Đối với các Hội nghề nghiệp ..................................................................................... 159 3.4.3. Đối với các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương ................ 160 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ................................................................................................ 161 KẾT LUẬN CHUNG ...................................................................................................... 162 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................... 165 PHỤ LỤC ......................................................................................................................... 177

v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TT CHỮ VIẾT TẮT CHI TIẾT

Doanh nghiệp sản xuất 1 DNSX

KTQT 2 KTQT

KTTC 3 KTTC

Thông tin 4 TT

Chứng từ kế toán 5 CTKT

Hạch toán 6 HT

NVKTPS Nghiệp vụ kinh tế phát sinh 7

Bộ máy kế toán 8 BMKT

Sản xuất kinh doanh 9 SXKD

Xã hội chủ nghĩa 10 XHCN

Kiểm soát nội bộ 11 KSNB

Nhà nước 12 NN

Xây dựng 13 XD

Đầu tư phát triển 14 ĐTPT

Cân đối kế toán 15 CĐKT

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán áp dụng trong các đơn vị khảo sát .............. 86

Bảng 2.2. Trình độ của người làm kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất giày ....... 88

Bảng 2.3. Hình thức kế toán áp dụng trong các đơn vị khảo sát ............................ 101

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán kiểu tập trung ...................................... 30

Sơ đồ 1.2. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán kiểu phân tán ....................................... 32

Sơ đồ 1.3. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán ................. 34

Sơ đồ 2.1. Quy trình công nghệ sản xuất giày da trên địa bàn tỉnh Hải Dương .... 73

Sơ đồ 2.2. Quy trình công nghệ sản xuất giày thể thao trên địa bàn tỉnh Hải Dương ...... 73

Sơ đồ 2.3. Quy trình công nghệ sản xuất giày ép dán trên địa bàn tỉnh Hải Dương ........ 74

Sơ đồ 2.4. Mô hình tổ chức bộ máy quản lý Công ty Cổ phần giày Hải Dương ........... 78

Sơ đồ 2.5. Mô hình tổ chức bộ máy quản lý Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình ....... 79

Sơ đồ 2.6. Tổ chức bộ máy kế toán ........................................................................... 86

Sơ đồ 3.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán kiểu tập trung .................................... 124

Sơ đồ 3.2. Sơ đồ kết hợp công việc của KTTC và KTQT ...................................... 126

vii

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục số 01a): Một số thông tin về các Công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2012 ................................................................................................................... 177 Phụ lục số 01b): Một số thông tin về các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2013 ................................................................................................................... 178 Phụ lục số 1c): Một số thông tin về doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2014 ................................................................................................................... 181 Phụ lục số 01c): Một số thông tin về các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2015 ................................................................................................................... 184 Phụ lục số 02: Xuất khẩu hàng giày dép sang một số thị trường chính năm 2011 và năm 2012 ................................................................................................................................ 186 Phụ lục số 03: Mẫu Sổ chi tiết chi phí sản xuất chung ...................................................... 187 Phụ lục số 04: Mẫu Sổ chi tiết sản xuất toàn doanh nghiệp .............................................. 188 Phụ lục số 05: Mẫu Sổ chi tiết chi phí bán hàng (Chi phí quản lý doanh nghiệp) .......... 189 Phụ lục số 06: Mẫu Sổ chi tiết doanh thu bán hàng hóa nội địa ....................................... 190 Phụ lục số 07: Mẫu Sổ chi tiết doanh thu bán hàng hóa nhập khẩu ................................. 191 Phụ lục số 08: Mẫu Sổ chi tiết doanh thu kết quả .............................................................. 192 Phụ lục số 09: Mẫu báo cáo giá thành sản phẩm ............................................................... 192 Phụ lục số 10: Mẫu báo cáo số lượng sản phẩm sản xuất hàng tháng ............................. 193 Phụ lục số 11: Mẫu báo cáo sản xuất .................................................................................. 193 Phụ lục số 12: Mẫu báo cáo chi phí sản xuất chung .......................................................... 194 Phụ lục số 13: Mẫu Báo cáo kết quả ................................................................................... 194 Phụ lục số 14: Mẫu báo cáo kết quả theo khu vực và bộ phận ......................................... 195 Phụ lục số 15: Mẫu Báo cáo quản trị CPSX theo địa điểm SXKD .................................. 195 Phụ lục số 16: Mẫu báo cáo quản trị chi phí sản xuất chung ............................................ 196 Phụ lục số 17: Mẫu báo cáo quản trị giá thành sản xuất sản phẩm .................................. 196 Phụ lục số 18: Danh sách các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương tham gia khảo sát: .................................................................................................................................. 197 Phụ lục số 19: Qui định liên quan đến các thủ tục kế toán (trích) .................................... 199 Phụ lục số 20: Bảng tổng hợp hình thức kế toán và chế độ kế toán sử dụng của các DN khảo sát ................................................................................................................................... 202 Phụ lục số 21(a): Bảng tổng hợp mô hình Tổ chức bộ máy kế toán tại các DN khảo sát .................................................................................................................................. 203 Phụ lục số 21(b): Trình độ của người làm kế toán tại các doanh nghiệp khảo sát ............ 204 Phụ lục số 22: Bảng phân tích chi phí giá thành sản xuất tháng ....................................... 205 Phụ lục số 23: Danh sách các công ty của Nhật Bản trên địa bàn tỉnh Hải Dương ........ 208 Phụ lục số 24: Phân tích BCKQHĐKD Công ty Cổ phần Giày Cẩm Bình .................... 210

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp sản xuất ở nước ta đã và đang

đạt được kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội.

Mặc dù trong thời gian vừa qua rất nhiều doanh nghiệp của chúng ta đã và

đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn đó là giá nguyên, nhiên liệu đầu vào tăng

cao, lạm phát, thất nghiệp. Khuyến khích, hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp là một

trong những giải pháp cơ bản để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế, thực hiện

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển

bền vững nền kinh tế nước ta trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và khu vực.

Hải Dương là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc vùng kinh tế

trọng điểm Bắc Bộ, Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải

Dương nằm cách thủ đô Hà Nội 57 km về phía Đông, cách thành phố Hải Phòng 45

km về phía Tây. Phía Tây Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang,

phía Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Đông giáp thành phố Hải Phòng, phía

Nam giáp tỉnh Thái Bình và phía Tây giáp tỉnh Hưng Yên, Hải Dương còn là đô thị

loại 2. Theo quy hoạch năm 2007, Hải Dương nằm trong Vùng thủ đô với vai trò là

một trung tâm công nghiệp của toàn vùng. Theo Nghị quyết số 31 năm 2012/NQ -

HĐND ngày 06/7/2012 điều chỉnh bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã

hội tỉnh Hải Dương đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030, Thành phố Hải Dương

đang nỗ lực phấn đấu trở thành đô thị loại 1 trước năm 2020. Với vị trí địa lý thuận

lợi Hải Dương rất phù hợp để phát triển các doanh nghiệp sản xuất, trong đó có các

doanh nghiệp sản xuất giày.

Cùng với sự phát triển cả về quy mô và số lượng doanh nghiệp vấn đề nâng

cao hiệu quả quản lý đối với các doanh nghiệp sản xuất được đặt ra như một tất yếu

khách quan.Trong đó, sử dụng công cụ kế toán - một công cụ quan trọng của hệ

thống công cụ quản lý kinh tế cần phải được nghiên cứu, tổ chức hợp lý và khoa

học, vận dụng vào thực tiễn đạt hiệu quả cao nhất. Hàng loạt chính sách quản lý

kinh tế tài chính được bổ sung, sửa đổi phù hợp với yêu cầu quản lý kinh tế trong

2

thời kỳ mới. Trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán, Luật Kế toán và hệ thống Chuẩn

mực kế toán, kiểm toán Việt Nam đã được ban hành và đi vào cuộc sống là cơ sở

pháp lý cao nhất về kế toán, kiểm toán; Bộ Tài chính cũng đã ban hành nhiều văn

bản, thông tư hướng dẫn về kế toán, kiểm toán; các chính sách kinh tế vĩ mô, chính

sách thuế, luật đất đai, môi trường,... tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý

của các doanh nghiệp sản xuất. Tuy nhiên trên thực tế, việc quản lý doanh nghiệp

sản xuất thuộc các loại hình khác nhau thông qua công cụ kế toán còn nhiều bất cập,

chưa đi vào nền nếp. Đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất giày nói chung và các

doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng. Trong đó, quan

trọng là vấn đề tổ chức công tác kế toán, vấn đề cung cấp thông tin KTTC và KTQT

phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp sản xuất. Do đó, nghiên cứu đề tài

“Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa

bàn tỉnh Hải Dương” là vấn đề có ý nghĩa về lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn,

đồng thời là vấn đề mang tính thời sự cấp thiết, giúp cho các nhà hoạch định chính

sách, các nhà quản lý các doanh nghiệp sản xuất giày vận dụng vào thực tiễn nghiên

cứu, hoạch định chính sách, quản lý trong quá trình phát triển nền kinh tế nói chung

và phát triển doanh nghiệp nói riêng.

2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nhận thức được tầm quan trọng của việc tổ chức công tác kế toán đối với

mỗi doanh nghiệp nên đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này. Có những

luận án nghiên cứu về mặt lý luận, có những luận án nghiên cứu về việc áp dụng

vào thực tiễn. Mỗi nghiên cứu đều có những nét riêng biệt, có tính khả thi riêng đối

với từng đối tượng sử dụng. Riêng vấn đề về tổ chức công tác kế toán đối với các

doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương còn chưa được đề cập. Mặc

dù có một số đề tài nghiên cứu về các Công ty giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương

nhưng hầu hết các đề tài cũng chỉ nghiên cứu đến các phần hành kế toán riêng lẻ

như: kế toán nguyên vật liệu, kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành, kế toán

doanh thu và xác định kết quả kinh doanh. Với vấn đề tổ chức công tác kế toán tại

các Công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương là vấn đề hết sức phức tạp

3

đặc biệt trong điều kiện hiện nay nền kinh tế chuyển biến theo hướng mở cửa và hội

nhập; hành lang pháp lý về các nội dung tổ chức công tác kế toán đang trong quá

trình hoàn thiện theo hướng từng bước phù hợp với với các chuẩn mực kế toán quốc

tế. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hải Dương có trên 20 doanh nghiệp sản xuất giày,

với số lượng tương đối lớn, các doanh nghiệp này đóng góp một lượng không nhỏ

vào thu ngân sách tỉnh và tạo việc làm cho một lượng lớn lao động.

Về nghiên cứu chung về mặt lý luận, nền kinh tế đổi mới từ năm 1986 đã

mang theo thay đổi về tổ chức công tác kế toán từ nước phát triển trong khu vực và

trên thế giới vào Việt Nam. Từ đó đến nay, tổ chức công tác kế toán trong doanh

nghiệp đã từng bước kế thừa và áp dụng sâu rộng vào Việt Nam. Cho đến nay đã có

rất nhiều tác giả đã viết về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp, tác giả

xin đề cập đến một số công trình nghiên cứu sau đây:

Về tổ chức bộ máy kế toán không tách rời KTQT và KTTC và có mối liên hệ

chặt với tất cả các bộ phận khác trong doanh nghiệp.

Nhận thức được vai trò của tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp

trong thời gian qua học phần “Tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp” đã

được đưa vào giảng dạy là học phần bắt buộc nằm trong khối kiến thức chuyên

ngành của chương trình đào tạo ngành kế toán. Trong những năm qua hàng loạt các

giáo trình “Tổ chức công tác kế toán” được xuất bản đưa vào giảng dạy tại các

trường là tài liệu học tập, tham khảo vô cùng quý báu cho sinh viên và những người

làm công tác kế toán tại các doanh nghiệp như:Giáo trình Tổ chức công tác kế toán

trong các doanh nghiệp chủ biên PGS, TS Lưu Đức Tuyên, PGS, TS Ngô Thị Thu

Hồng, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội 2014; Giáo trình Tổ chức công tác kế toán

chủ biên PGS, TS Đoàn Xuân Tiên, Nhà xuất bản lao động xã hội, Hà Nội 2010,

giáo trình tổ chức hạch toán kế toán chủ biên TS. Trần Thị Cẩm Thanh (2014)

Trường đại học Qui Nhơn...

Một là, luận án tiến sỹ kinh tế đề tài “Hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán

trong các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa”. Tác giả Trần Thị Nam Thanh, Đại

học kinh tế quốc dân năm 2004. Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Thị

4

Đông; GS,TS. Nguyễn Quang Quynh. Luận án đã khái quát hóa về các mặt lý luận

về tổ chức hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế

thị trường đó là: Thực trạng phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

trong đó tác giả chỉ rõ vai trò và những đóng góp của doanh nghiệp nhỏ và vừa

trong cơ cấu kinh tế Việt Nam. Luận án cũng phân tích và chỉ rõ những thách thức

mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam đang phải đương đầu (Các thách

thức từ trong nước: giá đầu vào cao, chi phí trung gian cao, máy móc thiết bị cũ lạc

hậu, kinh nghiệm về kinh doanh, năng lực quản lý còn yếu, bộ máy quản lý cồng

kềnh, chồng chéo và thủ tục quản lý hành chính quá phức tạp, các doanh nghiệp nhỏ

và vừa của Việt Nam còn thiếu nền tảng đạo đức kinh tế cần thiết, các thách thức từ

bên ngoài: Xu hướng toàn cầu hóa đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng hoàn

thiện mình, sự mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh nghiệp đòi hỏi các chủ

doanh nghiệp phải và các cán bộ quản lý phải có năng lực quản lý rộng lớn hơn,

hiện đại hơn cả các kỹ năng có tính chất quốc tế, trào lưu sáp nhập của các tập đoàn

và các siêu tập đoàn tạo ra sức ép rất lớn,…).

Luận án đã nghiên cứu, phân tích, đánh giá, tổng kết thực tiễn các mô hình tổ

chức hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa và đề xuất các phương

hướng hoàn thiện tổ chức kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

đó là:

Hoàn thiện về tổ chức bộ máy kế toán

Thứ nhất, lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán phù hợp là hết sức quan

trọng. Luận án phân tích và chỉ rõ riêng mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán

không thích hợp với loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa để bảo đảm tính hiệu quả

không phải doanh nghiệp nhỏ và vừa nào cũng nhất thiết phải tổ chức bộ máy kế

toán thành phòng, ban kế toán mà chỉ cần bố trí người làm kế toán hoặc thuê làm kế

toán, kể cả thuê làm kế toán trưởng, điều này phù hợp với quan điểm đổi mới tổ

chức công tác chuyên môn nghề nghiệp kế toán và kiểm toán.

Thứ hai, việc xác định số lượng các nhân viên kế toán cần thiết dựa trên khối

lượng công việc kế toán của doanh nghiệp, các yêu cầu về trình độ quản lý, trình độ

5

chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ kế toán phù hợp với từng phần hành cụ thể.

Thứ ba, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật

nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ kế toán trong doanh nghiệp. Doanh nghiệp nên có sự

đầu tư thích đáng tạo điều kiện cho cán bộ, nhân viên kế toán nâng cao trình độ

nghiên cứu, trình độ báo cáo, nắm bắt, cập nhật được những thông tin mới trong lĩnh

vực kế toán cũng như các thông tin khoa học, kỹ thuật phục vụ công tác chuyên môn.

Hoàn thiện về tổ chức hệ thống chứng từ kế toán và ghi chép ban đầu

Đối với hệ thống chứng từ kế toán cần hoàn thiện theo hướng đơn giản hóa,

thống nhất hóa đi đến tiêu chuẩn hóa về các mẫu chứng từ. Khi thiết kế cần chú

trọng đến điều kiện ứng dụng tin học trong công tác kế toán.

Hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Việc hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho doanh nghiệp nói

chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng đòi hỏi phải đáp ứng được yêu cầu cơ

bản là đảm bảo phản ánh, kiểm tra, giám sát được tất cả các loại tài sản, hoạt động

kinh tế tài chính diễn ra trong doanh nghiệp. Trên cơ sở hệ thống tài khoản hiện

hành các doanh nghiệp có thể xây dựng hệ thống tài khoản riêng cho doanh nghiệp

mình để phản ánh được toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính phát sinh phục vụ KTTC

và KTQT doanh nghiệp.

Hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính và xây dựng hệ thống báo cáo quản trị

trong doanh nghiệp nhỏ và vừa;

Hoàn thiện về mẫu báo cáo tài chính tổng quát;

Hoàn thiện khuôn mẫu báo cáo tài chính chuẩn;

Hoàn thiện khuôn mẫu báo cáo tài chính rút gọn;

Hoàn thiện công tác kiểm tra kế toán và kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp

nhỏ và vừa.

Xuất phát từ nguyên tắc tự kiểm tra, kiểm soát của hệ thống kế toán doanh

nghiệp cũng như chức năng kiểm tra kiểm soát thông tin của kế toán và việc tổ chức

kiểm tra kế toán trong nội bộ doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần

thiết đảm bảo thông tin kế toán cung cấp chính xác, trung thực, minh bạch, công

6

khai, đúng chế độ, phù hợp với yêu cầu quản lý vĩ mô, vi mô nền kinh tế.

Hoàn thiện ứng dụng công nghệ thông tin trong doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Trong điều kiện hiện nay nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, quy mô hoạt

động của các đơn vị ngày càng lớn, các mối quan hệ kinh tế càng rộng, tính chất các

hoạt động kinh tế càng phức tạp yêu cầu hội nhập kinh tế càng cao thì việc thu

nhận, xử lý và cung cấp thông tin kế toán ngày càng khó khăn và phức tạp. Vì vậy,

công tác tổ chức kế toán ở đây đặc biệt quan trọng là việc lựa chọn phần mềm kế

toán phù hợp, tổ chức quản lý phần mềm và khai thác thông tin trên máy tính, tổ

chức luân chuyển và lưu trữ chứng từ sổ sách đưa ra các các báo cáo phù hợp dùng

cho quản trị theo các tiêu chí trật tự khác nhau để có thể nhìn nhận đánh giá theo

đúng yêu cầu quản lý mà vẫn đảm bảo tuân thủ chế độ kế toán và pháp luật.

Trên cơ sở phân tích những thực trạng về tổ chức công tác trong các doanh

nghiệp nhỏ và vừa chỉ ra những giải pháp hoàn thiện về tổ chức công tác kế toán,

luận án cũng đưa ra những kiến nghị về điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện

(Về phía Nhà nước, về phía các doanh nghiệp).

Hai là, luận án tiến sỹ đề tài “Tổ chức công tác kế toán ở các doanh nghiệp

sản xuất dược phẩm trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin” tác giả Thái Bá

Công, Học viện Tài chính người hướng dẫn khoa học GS, TS. Vương Đình Huệ, TS

Phạm Tiến Bình năm 2007. Luận án đã tập trung trình bày khái quát những vấn đề

cơ bản về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp, các mô hình tổ chức

công tác kế toán thủ công khi chuyển sang kế toán trên máy vi tính.

Phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán ứng dụng công

nghệ thông tin về phần mềm kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất Dược phẩm

Việt Nam.

Đề xuất các giải pháp chủ yếu để hoàn thiện tổ chức công tác kế toán doanh

nghiệp sản xuất Dược phẩm Việt Nam trong quá trình ứng dụng công nghệ thông tin.

Ý nghĩa khoa học: Đề tài nhằm củng cố, làm rõ và bổ sung phần lớn những lý

luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông

tin trên cơ sở đó góp phần nhận thức đầy đủ hơn về nội dung cũng như lý luận của

7

tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng phần mềm kế toán.

Ý nghĩa thực tiễn: Khái quát, phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức công tác

kế toán ứng dụng công nghệ thông tin về phần mềm kế toán tại các DN SXDP Việt

Nam trong thời gian gian qua; chỉ ra được những bất cập, hạn chế và nguyên nhân

tồn tại.

Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán DNSXDP

Việt Nam trong điều kiện ứng dụng CNTT theo hướng vừa đáp ứng được yêu cầu

hội nhập của kế toán của kế toán Việt Nam với kế toán quốc tế, vừa phù hợp với

đặc điểm của các doanh nghiệp được phẩm Việt Nam trong nền kinh tế thị trường

theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba là, luận án Tiến sĩ Kinh tế: “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong

các Doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tăng cường công tác quản trị Doanh nghiệp” -

Tác giả Ngô Thị Thu Hồng - Năm 2007 - Học viện Tài chính; Người hướng dẫn

khoa học PGS, TS. Đoàn Xuân Tiên, TS Phạm Tiến Bình.

Luận án đã tập trung nghiên cứu hệ thống hóa và góp phần làm rõ hơn những

vấn đề lý luận về quản trị doanh nghiệp và tổ chức công tác kế toán trong các doanh

nghiệp nói chung và trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng. Đối tượng

nghiên cứu của luận án là nghiên cứu tổ chức công tác kế toán trong các DNNVV ở

Việt Nam. Thông qua việc nghiên cứu đặc điểm tình hình hoạt động của các

DNNVV để nghiên cứu các mô hình tổ chức công tác kế toán áp dụng trong các

doanh nghiệp này. Phân tích đánh giá những ưu điểm và những hạn chế của việc tổ

chức công tác kế toán nhằm tăng cường công tác quản trị doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Bốn là, luận án tiến sỹ kinh tế “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong

các doanh nghiệp thuộc tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam” người hướng dẫn

khoa học PGS.TS Đỗ Minh Thành GS,TS Nguyễn Đình Đỗ tác giả Trần Hải Long

Trường Đại học Thương mại - Năm 2011.

Luận án đã hệ thống hóa, phân tích làm sáng tỏ thêm những lý luận về tập

đoàn kinh tế, đặc điểm của doanh nghiệp thuộc tập đoàn kinh tế, đặc điểm của các

doanh nghiệp thuộc tập đoàn kinh tế tác động, ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế

8

toán trong các doanh nghiệp.

Luận án đã hệ thống, phân tích làm rõ những vấn đề lý luận chung về tổ chức

công tác trong các doanh nghiệp.

Luận án phân tích đánh giá thực trạng về tổ chức công tác kế toán trong các

doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuộc tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam. Trên

cơ sở đó chỉ rõ những ưu điểm, nhược điểm và phân tích rõ những nguyên nhân của

những hạn chế đó. Luận án đưa ra những giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế

toán trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam.

Năm là, luận án tiến sỹ Kinh tế “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các

công ty cổ phần sản xuất xi măng ở Việt Nam” người hướng dẫn khoa học GS, TS

Nguyễn Đình Đỗ, TS Lưu Đức Tuyên, tác giả Ngô Thị Thu Hương, Học viện Ngân

hàng - Hà Nội, năm 2011. Luận án đã tập trung nghiên cứu làm rõ hơn những vấn

đề lý luận về cổ phần và tổ chức công tác kế toán trong các công ty cổ phần thuộc

loại hình sản xuất. Qua khảo sát thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các công

ty cổ phần sản xuất xi măng Việt Nam những năm qua đề tài phân tích đánh giá

thực trạng và rút những ưu điểm, hạn chế và đánh giá nguyên nhân của những hạn

chế đó, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm nhằm hoàn thiện tổ chức công tác

kế toán trong các doanh nghiệp thuộc loại hình công ty cổ phần sản xuất.

Sáu là, luận án tiến sĩ Kinh tế: “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các

doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con thuộc Bộ Quốc

Phòng”, người hướng dẫn khoa học PGS, TS. Đoàn Vân Anh, PGS TS. Nguyễn Thị

Mùi, tác giả Nguyễn Thu Hương trường Đại học Thương mại. Về mặt lí luận Luận

án đã nghiên cứu, phân tích các khái niệm, quan điểm khác nhau về mô hình công

ty mẹ, công ty con ở nhiều nước trên thế giới, từ đó rút ra khái niệm của bản thân

tác giả, đó là “Công ty mẹ - công ty con được hiểu là một tổ hợp công ty, trong đó,

công ty mẹ là một doanh nghiệp được thành lập và đăng ký theo quy định của pháp

luật, có tư cách pháp nhân và đủ mạnh để kiểm soát hoặc chi phối các công ty khác

(công ty con) trong tổ hợp và được các công ty con chấp nhận sự kiểm soát, chi

phối đó. Với mục tiêu tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp hoạt động theo

9

mô hình công ty mẹ - công ty con thuộc Bộ Quốc Phòng được khoa học, hợp lí

nhằm phát huy được vai trò là công cụ hữu ích cho kiểm soát hoạt động và quản lí

kinh tế tài chính, luận án đề xuất các nhóm giải pháp sau:

- Với hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán, luận án đề xuất hoàn thiện mô hình

tổ chức bộ máy kế toán trên cơ sở hình thành một bộ phận kế toán hợp nhất báo cáo

tài chính tại công ty mẹ, chịu trách nhiệm toàn bộ các khâu công việc liên quan đến

quá trình tổ chức thu nhập, xử lí, lập Báo cáo tài chính hợp nhất.

- Với hoàn thiện tổ chức thu thập, xử lí thông tin KTTC, luận án đề xuất

hoàn thiện các thông tin ban đầu, sử dụng các tài khoản, thiết kế mã hóa chi tiết các

tài khoản và hệ thống sổ kế toán phù hợp làm căn cứ cho việc thu nhận, xử lí, ghi

nhận nhằm cung cấp thông tin đúng đắn trên báo cáo tài chính riêng, đồng thời cung

cấp thông tin về các giao dịch nội bộ giữa các doanh nghiệp trong cùng một công ty

mẹ để thực hiện loại trừ khi lập Báo cáo tài chính hợp nhất.

- Với hoàn thiện tổ chức lập, cung cấp và phân tích thông tin trên báo cáo

tài chính, luận án đề xuất hoàn thiện tổ chức lập Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ tập

trung vào việc nhận dạng đầy đủ các dòng tiền ẩn; hoàn thiện tổ chức lập Báo cáo

tài chính hợp nhất với phương pháp đồng hóa chính sách kế toán trong trường hợp

các đơn vị hoạt động theo mô hình công ty mẹ công ty con có đơn vị khác loại

hình hoạt động, đó là đơn vị sự nghiệp; hoàn thiện điều chỉnh các giao dịch nội bộ

khi hợp nhất nhằm khắc phục những bất cập hiện nay; hoàn thiện kế toán các

khoản đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh khi lập Báo cáo tài chính hợp nhất

bằng đề xuất sử dụng phương pháp vốn chủ để điều chỉnh giá trị của khoản đầu tư

liên kết, liên doanh khi lập báo cáo; Hoàn thiện tổ chức lập Báo cáo Lưu chuyển

tiền tệ hợp nhất, tổ chức lập báo cáo bộ phận phù hợp với đặc thù riêng của các

doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ, công ty con thuộc Bộ Quốc

Phòng tổ chức thực hiện phân tích, xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích và tổ

chức báo cáo kết quả phân tích.

Tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp là vấn đề hết sức phức tạp

và rất cần thiết đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào. Có rất nhiều đề tài của các tác

10

giả viết về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp song mỗi tác giả lại đi

tập trung đi sâu nghiên cứu về một lĩnh vực khác nhau. Trên địa bàn tỉnh Hải

Dương có khoảng hơn 20 doanh nghiệp sản xuất trong lĩnh vực giày da. Mặc dù có

rất nhiều đề tài viết về kế toán trong các doanh nghiệp này nhưng mỗi đề tài lại tập

trung vào các lĩnh vực như; Tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm, Kế toán

nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương,

Kế toán tài sản cố định,...

Các đề tài khi nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán có rất nhiều thành

công đáng kể tuy nhiên hầu hết các đề tài khi nghiên cứu về tổ chức công tác kế

toán trong các doanh nghiệp sản xuất đều tập trung khai thác trên các khía cạnh giác

độ chu trình kế toán được chia thành các nội dung đó là: Tổ chức chứng từ; tổ chức

tài khoản; tổ chức hệ thống sổ, tổ chức lập các báo cáo kế toán để cung cấp thông

tin. Kế toán là một môn khoa học, một nghề nghiệp và cũng là một trong các công

cụ quản lý kinh tế quan trọng của doanh nghiệp kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm

tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật

và thời gian lao động. Kế toán là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ

thông tin về tài sản, sự vận động tài sản, các hoạt động kinh tế tài chính trong doanh

nghiệp, nhằm kiểm tra giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của doanh

nghiệp. Xuất phát từ bản chất của kế toán là một hệ thống thông tin kinh tế, tài

chính của doanh nghiệp và kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh tế của doanh

nghiệp bằng hệ thống các phương pháp của mình. Tổ chức công tác kế toán là tổ

chức việc thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp thông tin về hoạt động của doanh

nghiệp. Với cách tiếp cận theo hệ thống thông tin quản lý sản xuất kinh doanh đó là

chức năng của kế toán là thu thập tin, xử lý, hệ thống hóa và cung cấp thông tin.

Luận án đã nghiên cứu lý luận về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp

sản xuất và thực trạng tổ chức công tác trong các doanh nghiệp sản xuất giày của

Việt Nam trên địa bàn tỉnh Hải Dương dưới cách tiếp cận theo chức năng của kế

toán đó là thu thập, xử lý, hệ thống hóa và cung cấp thông tin kế toán. Tổ chức công

tác kế toán đối với các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương vẫn

11

chưa được đề cập.

3. Mục đích nghiên cứu của luận án

Luận án tập trung nghiên cứu, hệ thống hóa và góp phần làm rõ hơn những

vấn đề lý luận về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất.

Nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp của một số

nước có nền kinh tế phát triển đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Hải Dương, từ đó

phân tích rút ra bài học về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất

giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

Qua khảo sát, đánh giá đúng thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các

doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương những năm qua, đề tài phân

tích đánh giá thực trạng và rút ra những ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân hạn

chế, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán

trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu lý luận

và thực tiễn về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất;

Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu tổ chức

công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

Bên cạnh đó luận án cũng nghiên cứu tổ chức công tác kế toán ở một số doanh

nghiệp sản xuất của nước ngoài trên địa bàn tỉnh nhằm rút ra bài học kinh nghiệm

về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp của Việt Nam. Luận án có sử

dụng các tài liệu, số liệu, các BCTC của các Công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh

Hải Dương trong các năm 2012, 2013, 2014, 2015.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

- Phương pháp tiếp cận thông tin: Luận án vận dụng cơ sở lý thuyết về tổ

chức công tác kế toán để phân tích thực trạng của tổ chức công tác kế toán tại các

doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Đồng thời, luận án sử

dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để thu thập và xử lý

thông tin.

12

+ Nghiên cứu định tính: Nghiên cứu này được thực hiện thông qua việc

quan sát, phỏng vấn sâu các đối tượng cung cấp thu thập thông tin như các nhân

sự thuộc phòng kế toán, các phòng ban khác như bộ phận sản xuất, bộ phận thu

mua, bộ phận kiểm tra chất lượng,... nhằm giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn

tổng quan về tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa

bàn tỉnh Hải Dương;

- Phương pháp thu thập dữ liệu: Dữ liệu phục vụ cho luận án được thu thập

thông qua các nguồn sau:

+ Nguồn dữ liệu thứ cấp: Các dữ liệu thu thập từ nguồn này bao gồm các văn

bản luật, nghị định, thông tư,.... của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành về tổ chức

công tác kế toán; các tài liệu về tổ chức công tác kế toán tham khảo từ giáo trình,

báo, tạp chí, mạng internet; các tài liệu sẵn có của các doanh nghiệp: Tài liệu giới

thiệu về doanh nghiệp, quy chế tài chính, mục tiêu, phương hướng, chính sách phát

triển của doanh nghiệp; Báo cáo tài chính, báo cáo quản trị các năm từ năm 2012

đến năm 2015; các sổ sách, chứng từ, báo cáo kế toán liên quan đến tổ chức công

tác kế toán, phương hướng phát triển các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn

tỉnh Hải Dương đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025...

+ Nguồn dữ liệu sơ cấp: Điều tra thu thập thông tin từ các Phòng, Ban trong

các doanh nghiệp thông qua quan sát trực tiếp, quan sát gián tiếp, phỏng vấn trực

tiếp, điều tra thông qua các phiếu khảo sát, điều tra, bảng hỏi...

- Phương pháp xử lý phân tích dữ liệu: Các dữ liệu thu thập được sẽ được

kiểm tra, sàng lọc, sau đó sử dụng công cụ word, excel để tiến hành thống kê, phân

tích. Bên cạnh đó, tiến hành xử lý số liệu bằng cách sử dụng sơ đồ, bảng biểu... để

phân tích, tổng hợp và đánh giá.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa khoa học

Về mặt lý luận, luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết về tổ chức

công tác kế toán trong các doanh nghiệp. Cụ thể, luận án làm rõ cơ sở lý luận về tổ

chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày về lĩnh vực KTTC cũng

13

như KTQT.

Ý nghĩa thực tiễn

Về mặt thực tiễn và ứng dụng, luận án nghiên cứu, phân tích và đánh giá

đúng thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa

bàn tỉnh Hải Dương. Qua đó đánh giá những điểm đạt được và những hạn chế còn

tồn tại tác giả tìm hiểu nguyên nhân để khắc phục. Trên cơ sở các mô hình lý thuyết

về tổ chức công tác kế toán, đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc

điểm tổ chức quản lý và thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp

tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các

doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo,

nội dung luận án được kết cấu làm 3 chương:

Chương 1: Lý luận về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp

sản xuất

Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp

sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các doanh

nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương

14

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

1.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý trong doanh

nghiệp sản xuất

1.1.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất

Sản xuất ra của cải vật chất là điều kiện tồn tại và phát triển của xã hội loài

người. Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong

thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào các vấn đề chính sau: Sản xuất cái gì? Sản

xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa

việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản xuất. Bất kỳ một doanh

nghiệp sản xuất nào muốn sản xuất cũng cần phải có 3 yếu tố đó là: tư liệu lao

động, đối tượng lao động và lao động: “Doanh nghiệp là một tổ chức có tên riêng,

có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng kí thành lập theo quy định của Pháp luật

nhằm mục đích kinh doanh” [35]. Doanh nghiệp sản xuất là doanh nghiệp sử dụng

các nguồn lực kinh tế kết hợp với công nghệ hợp lý để sản xuất ra sản phẩm cung

cấp trên thị trường. Mục tiêu của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận, cung cấp sản

phẩm, hàng hóa dịch vụ, tiếp tục phát triển, ngoài ra còn có trách nhiệm với xã hội.

Với mục tiêu là lợi nhuận doanh nghiệp sẽ bù đắp chi phí, những rủi ro gặp phải để

tiếp tục phát triển. Nếu không có lợi nhuận doanh nghiệp không thể trả công cho

người lao động, duy trì việc làm lâu dài cho người lao động cũng như không thể

cung cấp lâu dài hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng và cộng đồng. Đặc điểm hoạt

động của doanh nhiệp sản xuất gồm các đặc điểm sau:

Quy trình sản xuất: là một chuỗi các công việc được thực hiện theo thứ tự để

tạo ra các sản phẩm trên cơ sở kết hợp: nguyên vật liệu, nhân công, máy móc thiết

bị, năng lượng và các yếu tố khác.

Các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm bao gồm: Chi phí

nguyên vật liệu, nhiên liệu, chi phí nhân công, chi phí khấu hao máy móc thiết bị,

15

chi phí quản lý và điều hành sản xuất. Vấn đề đặt ra với các doanh nghiệp sản xuất

là tiết kiệm tối ưu các nguồn lực, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản

phẩm. Muốn vậy thì các doanh nghiệp phải quản lý tốt các vấn đề trên, kế toán một

công cụ quản lý kinh tế hữu hiệu cần phải được chú trọng.

1.1.2. Đặc điểm về tổ chức quản lí trong các doanh nghiệp sản xuất

Quản lý là sự tác động có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý

nhằm duy trì hoạt động của các hệ thống, sử dụng tốt nhất mọi tiềm năng có sẵn,

các cơ hội để đưa hệ thống đi đến mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của thị

trường. Quản lý là quá trình vận dụng các quy luật kinh tế, tự nhiên trong việc lựa

chọn và xác định các biện pháp về kinh tế, xã hội, tổ chức kỹ thuật. Từ đó, họ tác

động đến các yếu tố vật chất của sản xuất kinh doanh.

Quản lý doanh nghiệp sản xuất là một hoạt động tác động đến hành vi có ý

thức của người lao động và tập thể người lao động, qua đó tác động đến yếu tố

vật chất, kỹ thuật của sản xuất kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu đề ra của

doanh nghiệp.

Thực chất của quản lý doanh nghiệp là quản lý con người, bởi vì con người

là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất. Trong mọi hệ thống sản xuất, con

người luôn giữ vị trí trung tâm và có ý nghĩa quyết định.

Quản lý con người gồm nhiều chức năng phức tạp. Bởi vì, con người chịu

ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: sinh lý, tâm lý, xã hội... Các yếu tố này luôn có sự

hỗ trợ qua lại, tác động nhau hình thành nhân cách mỗi con người.

Trong các doanh nghiệp sản xuất, quản lí kinh tế là một chức năng quan

trọng trong hoạt động quản lí và điều hành chung của doanh nghiệp cũng như quản

lí sản xuất, quản lí chi phí, quản lí việc sử dụng vốn, quản lí nhân sự, quản lí công

nghệ, dây truyền sản xuất, quản lí lợi nhuận và phân phối lợi nhuận. Trong một bộ

máy quản lý doanh nghiệp có 3 yếu tố chính: cơ cấu tổ chức, các bộ phận quản lý,

cơ chế hoạt động của bộ máy trong đó: Cơ cấu tổ chức xác định các bộ phận, các

phân hệ, và phòng ban các phòng ban chức năng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Trong đó mỗi phòng ban, hoặc bộ phận phải được chuyên môn hóa, có trách nhiệm

16

cũng như quyền hạn nhất định nhằm thực hiện các chức năng quản lý. Các bộ phận

quản lý: là những người đứng đầu một tổ chức hay phòng ban chịu trách nhiệm về

các quyết định của mình của mình. Cơ chế hoạt động của bộ máy: Xác định các mối

liên hệ cơ bản và các nguyên tắc làm việc của bộ máy quản lý cũng như các mối

liên hệ cơ bản để bảo đảm mục tiêu chung đề ra. Cơ cấu tổ chức là một tập hợp của

các thành phần (đơn vị và cá nhân) trong một mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau,

chuyên môn và trách nhiệm được trao một số quyền hạn của các giai đoạn khác

nhau để đảm bảo việc thực hiện các chức năng quản lý và phục vụ các mục đích

chung của doanh nghiệp được biết đến. Chúng tôi thấy rằng bản chất của cơ cấu tổ

chức và phân chia quyền lực và trách nhiệm trong kế hoạch quản lý. Vì vậy, một

mặt cơ cấu tổ chức phản ánh cơ cấu và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong công ty,

mặt khác có tác động tích cực đối với sự phát triển của công ty. Ở cấp độ quản lý, ví

dụ, cấp công ty cấp đơn vị, mức chức năng... bộ phận quản lý đại diện cho chức

năng quản lý theo chiều dọc (đường thẳng) đại diện cho một tập trung vào quản lý.

Cơ cấu, ngành chức năng, chẳng hạn như hoạt động văn phòng, tài chính, tiếp thị,

các phòng thí nghiệm nghiên cứu và phát triển, lĩnh vực sản xuất... ngành, lĩnh vực

này đại diện cho một phần mạnh mẽ của các chức năng quản lý để chỉ chuyên môn

trong quản lý kinh doanh. Kế toán với tư cách là một nghề, một công cụ quản lý

kinh tế hữu hiệu không thể tách rời khỏi các mô hình tổ chức quản lý, bởi chính các

mô hình tổ chức quản lý này sẽ chi phối trực tiếp đến tổ chức công tác kế toán. Hiện

nay trong các doanh nghiệp sản xuất có các mô hình tổ chức quản lí như sau:

* Mô hình tổ chức quản lí theo tuyến: Theo mô hình này thì mối quan hệ

của bất kỳ thành viên nào trong doanh nghiệp với người lãnh đạo trực tiếp đều được

hiện bằng một tuyến (đường thẳng). Giám đốc doanh nghiệp giao một phần công

việc của mình cho quản lí và thông qua quản lí mà đưa mọi mệnh lệnh xuống các

phân xưởng. Quản lí có quan hệ trực tiếp với các đốc công, mỗi đốc công lại phụ

trách một số công nhân. Các công nhân hoàn toàn độc lập với nhau và chỉ phụ thuộc

vào một đốc công mà thôi.

Đặc điểm cơ bản của cơ cấu này là: Cấp trên trực tiếp lãnh đạo cấp dưới.

17

Cấp dưới tiếp thu, chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh cấp trên.

* Ưu điểm: Quyền lựu tập trung, quy trách nhiệm rõ ràng, duy trì được tính

kỷ luật và kiểm tra, liên hệ dễ dàng đơn giản, mau lẹ, quyết định nhanh chóng,

mệnh lệnh thống nhất tiện cho Giám đốc. Chính vì vậy mà tạo điều kiện duy trì một

thủ trưởng.

* Nhược điểm: Không có sự phân công hợp lý, không có quan hệ điều hoà

theo chiều ngang. Tất cả đều do cá nhân quyết định nên dễ đi đến chuyên quyền,

độc đoán. Đòi hỏi người lãnh đạo phải có kiến thức sâu rộng, toàn diện, tổng hợp.

Đồng thời không tận dụng được sự tư vấn, giúp đỡ của các chuyên gia có trình độ

cao về từng mặt quản trị và khi cần thiết liên hệ giữa hai thành viên của các tuyến

thì việc báo cáo thông tin đi theo đường vòng.

Đặc điểm của mô hình này thường phù hợp với các doanh nghiệp có qui mô nhỏ

* Mô hình tổ chức quản lí theo chức năng: Theo mô hình này mỗi khâu,

mỗi bộ phận được giao cho người phụ trách chuyên sâu trực tiếp quản lí, mỗi người

có lĩnh vực riêng của mình và trong lĩnh vực ấy họ độc lập hướng dẫn các đốc công

của doanh nghiệp.

Ưu điểm của hệ thống quản lí theo chức năng đó là việc chỉ đạo công việc

được chuyên môn hóa, được giao cho những người đã được đào tạo nghiên cứu một

cách cẩn thận về công việc đó và do đó chỉ đạo sẽ đúng đắn hơn, khoa học hơn.

Nhược điểm: Không duy trì được tính kỷ luật, kiểm tra phối hợp. Người lãnh

đạo tổ chức phải phối hợp với người lãnh đạo chức năng, nhưng do có quá nhiều

mệnh lệnh nên lãnh đạo tổ chức không phối hợp được hết, dẫn đến tình trạng người

thừa hành trong một lúc có thể nhận nhiều mệnh lệnh, thậm chí trái ngược nhau.

* Mô hình tổ chức kết hợp trực tuyến chức năng: Đó là mô hình tổ chức hệ

thống kết hợp giữa hệ thống tổ chức theo tuyến và theo chức năng. Đây là mô hình

quản lý kết hợp giữa sự chỉ huy trực tiếp của các cấp lãnh đạo hành chính trong xí

nghiệp và sự chỉ đạo nghiệp vụ của các nhân viên chức năng các cấp. Loại mô hình

này sẽ tạo được một khung hành chính vững chắc để quản lý, điều hành có hiệu lực

và hiệu quả cao. Các phòng ban có nhiệm vụ hoàn thành tốt các nghiệp vụ chuyên

18

môn của mình và có nhiệm vụ tham mưu cho Ban lãnh đạo Công ty. Sự giúp việc

của các phòng, ban chức năng cho các lãnh đạo nhằm mục đích chuẩn bị ra quyết

định, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các quyết định. Các phòng, ban chức

năng không có quyền tự quyết định hoặc ra mệnh lệnh trực tiếp cho các cấp phân

xưởng, mà chỉ có nhiệm vụ tổng hợp thông tin hoặc dự thảo lên để tham mưu, xin ý

kiến quyết định của lãnh đạo sau đó mới thực hiện. Do vậy, cấp lãnh đạo của Công

ty được chuẩn bị rất kỹ về các mặt nghiệp vụ chuyên môn và thông tin khi cần thiết

để ra các quyết định quản lý và điều hành. Loại cơ cấu này đồng thời giữ được ưu

điểm của cơ cấu trực tuyến và cơ cấu chức năng, lại tránh được các khuyết điểm của

mỗi kiểu cơ cấu đó.

* Ưu điểm: Phát huy được năng lực chuyên môn của các bộ phận chức năng,

đồng thời đảm bảo quyền chỉ huy của hệ thống trực tuyến.

* Nhược điểm: Do có quá nhiều bộ phận chức năng, nên lãnh đạo tổ chức

thường phải họp hành nhiều, gây căng thẳng và mất nhiều thời gian. Ngoài ra, còn

có thể xảy ra mâu thuẫn giữa lãnh đạo các tuyến với nhau do không thống nhất

được quyền hạn và quan điểm.

1.2. Khái niệm, ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp

1.2.1. Khái niệm tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất

Tổ chức công tác kế toán là một trong những nội dung quan trọng trong tổ

chức công tác quản lý ở doanh nghiệp. Với chức năng cung cấp thông tin và kiểm tra

hoạt động kinh tế - tài chính, do đó công tác kế toán ảnh hưởng trực tiếp đến chất

lượng công tác quản lý, đồng thời nó còn ảnh hưởng đến việc đáp ứng các yêu cầu

của các đối tượng trực tiếp và gián tiếp sử dụng thông tin kế toán. Tổ chức công tác

kế toán phù hợp với quy mô và đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp không chỉ tiết

kiệm được chi phí mà còn bảo đảm cung cấp thông tin nhanh, đầy đủ, kịp thời, có

chất lượng. Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về tổ chức công tác kế toán

trong các doanh nghiệp, song có thể tóm tắt thành một số quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất: “Tổ chức hạch toán kế toán là việc thiết lập mối quan

hệ giữa các đối tượng và phương pháp hạch toán để ban hành chế độ kế và tổ chức

19

vận dụng chế độ kế toán trong thực tế tại đơn vị kế toán cơ sở”. [53, tr.9]

Quan điểm thứ hai: “Tổ chức công tác kế toán là việc thiết lập mối quan hệ

giữa các phương pháp hạch toán kế toán (Phương pháp chứng từ, phương pháp tài

khoản, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp cân đối kế toán) trong từng nội

dung hạch toán cụ thể nhằm phản ánh, chính xác, kịp thời tình hình tài sản và các

nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại đơn vị”. [42, tr.192]

Quan điểm thứ ba: “Tổ chức công tác kế toán là việc tổ chức vận dụng các

phương pháp kế toán để liên kết các yếu tố cấu thành, các công việc của kế toán

nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ của kế toán trong doanh nghiệp” [58, tr.11]. Tổ chức

công tác kế toán ở doanh nghiệp là tổ chức việc thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp

thông tin về hoạt động của doanh nghiệp. Tổ chức công tác kế toán trong doanh

nghiệp phải giải quyết được hai phương diện: Tổ chức thực hiện các phương pháp kế

toán, các nguyên tắc kế toán, và các phương pháp, phương tiện tính toán nhằm đạt

được mục đích của công tác kế toán và tổ chức bộ máy kế toán nhằm liên kết các

nhân viên kế toán thực hiện tốt công tác kế toán trong doanh nghiệp.

Quan điểm thứ nhất mới chỉ nói lên tổ chức công tác kế toán là việc thiết lập

mối quan hệ giữa đối tượng và các phương pháp kế toán mà chưa cụ thể đối tượng và

các phương pháp cụ thể sẽ rất khó khăn cho việc triển khai ở các doanh nghiệp.

Nếu quan điểm thứ nhất mới chỉ nêu được tổ chức công tác kế toán là việc

thiết lập mối quan hệ giữa đối tượng kế toán và các phương pháp kế toán mà chưa chỉ

ra phương pháp kế toán là những phương pháp nào thì quan điểm thứ hai đã khắc

phục và chỉ rõ rằng tổ chức công tác kế toán là thiết lập các mối quan hệ giữa các

phương pháp kế toán đó là phương pháp chứng từ, phương pháp tài khoản, phương

pháp tính giá, phương pháp tổng hợp cân đối kế toán nhưng vẫn còn chung chung,

chưa thể hiện vai trò của tổ chức bộ máy trong khái niệm.

Quan điểm thứ ba đã chỉ ra rằng tổ chức công tác kế toán là việc tổ chức thực

hiện các phương pháp kế toán để liên kết các yếu tố cấu thành để thực hiện tốt các

nhiệm vụ của kế toán, quan điểm này vẫn còn chung chung chưa nói lên các yếu tố

tổ chức trong bộ máy kế toán. Theo quan điểm này các yếu tố cấu thành cần phải

20

liên kết chưa được chỉ ra.

Mỗi quan điểm có lý lẽ và cách tiếp cận cũng như luận giải khác nhau nhưng

tựu chung lại cả ba quan điểm đều có chung yếu tố con người vận dụng các phương

pháp kế toán để đạt được nhiệm vụ của kế toán.

Tổ chức công tác kế toán được hiểu là một hệ thống các phương pháp cách

thức phối hợp sử dụng phương tiện và kỹ thuật cũng như nguồn lực của bộ máy kế

toán thể hiện các chức năng và nhiệm vụ của kế toán đó là: Phản ánh, đo lường,

giám sát và thông tin bằng số liệu một cách trung thực, chính xác, kịp thời đối

tượng kế toán trong mối liên hệ mật thiết với các lĩnh vực quản lý khác.

Từ những quan điểm đã nêu về tổ chức công tác kế toán, quan điểm của tác

giả về tổ chức công tác kế toán là: Tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp

sản xuất là việc tổ chức sắp xếp nhân sự làm kế toán theo theo từng phần hành kế

toán cụ thể nhằm vận dụng các phương pháp kế toán phù hợp để đạt được mục tiêu

thu nhận, xử lý, hệ thống hóa và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính đáp ứng các

yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý.

1.2.2. Ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp

Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp sản xuất là trách nhiệm của

lãnh đạo doanh nghiệp và của kế toán trưởng. Tổ chức công tác kế toán là một trong

những nội dung quan trọng trong tổ chức quản lý ở doanh nghiệp. Với chức năng

cung cấp thông tin và kiểm tra hoạt động kinh tế tài chính, do đó công tác kế toán

ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của công tác quản lý, đồng thời nó còn ảnh

hưởng đến việc đáp ứng các yêu cầu khác nhau của của các đối tượng trực tiếp và

gián tiếp. Với chức năng cung cấp thông tin và kiểm tra giám sát kết quả hoạt động

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách thường xuyên, kịp thời có hệ thống

nên tổ chức công tác kế toán là một trong những nội dung được các doanh nghiệp

quan tâm chú trọng. Tổ chức công tác kế toán không đơn thuần là tổ chức một bộ

phận quản lý trong doanh nghiệp mà nó còn bao hàm cả tính nghệ thuật trong việc

xác lập các yếu tố điều kiện cũng như các mối liên hệ qua lại có tác động trực tiếp,

gián tiếp đến hoạt động kế toán đảm bảo cho kế toán phát huy tối đa các chức năng

21

vốn có của mình. Ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản

xuất được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau:

- Tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý sẽ có được một bộ máy kế toán

gọn nhẹ, tiết kiệm, hiệu quả. Các phần hành kế toán sẽ được phối hợp với nhau một

cách nhịp nhàng, ăn khớp, nhiệm vụ của từng bộ phận rõ ràng, không bị chồng chéo

đảm bảo kiểm soát kỹ lưỡng từng khâu hạch toán hạn chế sai sót;

- Tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý sẽ cung cấp thông tin kịp thời,

chính xác cho các hoạt động quản lý trong doanh nghiệp.

- Tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý sẽ là cơ sở để quản lý tài chính

hiệu quả, đảm bảo cho việc thu nhận, hệ thống hóa thông tin kinh tế đầy đủ, kịp thời

đáng tin cậy phục vụ công tác quản lý kinh tế tài chính (vĩ mô và vi mô). Điều này

giúp nhà quản lý tiết kiệm chi phí khi tìm kiếm thông tin.

Tóm lại, việc tổ chức công tác kế toán khoa học hợp lý không những đảm

bảo cho việc thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp thông tin kế toán đầy đủ, kịp thời,

đáng tin cậy phục vụ cho công tác quản lý kinh tế mà còn giúp các doanh nghiệp

ngăn ngừa các hiện tượng tham ô, lãng phí tài sản, thực hiện tốt chức năng nhiệm

vụ của kế toán.

1.3. Cơ sở, nguyên tắc và nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán

1.3.1. Cơ sở để thực hiện các nội dung của tổ chức công tác kế toán

Xuất phát từ quan điểm của tổ chức công tác kế toán đó là tổ chức hệ thống

thông tin kế toán trong hệ thống quản lý. Như vậy tổ chức công tác kế toán phải lấy

nhu cầu thông tin kế toán làm căn cứ và mục tiêu là sản xuất thông tin đáp ứng nhu

cầu quản lý và phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị. Công tác tổ chức là

yếu tố quan trọng nhất, quyết định việc thực hiện nhiệm vụ ở mỗi đơn vị. Nếu tổ

chức khoa học sẽ phát huy được năng lực của tập thể và của các thành viên, nếu tổ

chức không tốt sẽ gây trì trệ ảnh hưởng đến chất lượng công tác và hiệu quả sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp là tập hợp những người làm kế

toán nhằm đảm bảo thực hiện toàn bộ khối lượng công tác kế toán của mỗi doanh

22

nghiệp. Mỗi nhân viên trong bộ máy kế toán đều được quy định rõ chức năng nhiệm

vụ, và quyền hạn trong quá trình tiến hành công tác kế toán, đồng thời có mối quan

hệ nghiệp vụ qua lại với nhau trong quá trình thực hiện công việc.

Triển khai tổ chức bộ máy kế toán phải dựa trên cơ sở khối lượng công việc,

phân công bố trí công việc cho các thành viên phải từ khối lượng công tác kế toán

đã vạch ra. Tổ chức khoa học, hợp lý công tác kế toán, doanh nghiệp cần phải dựa

vào các căn cứ sau:

Căn cứ vào chế độ về quản lý kinh tế, tài chính của Nhà nước nói chung,

chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán hiện hành và các quy định của pháp luật liên

quan đến kế toán nói riêng;

Căn cứ vào đặc điểm, tính chất hoạt động và mục đích hoạt động của đơn vị;

căn cứ vào quy mô, địa bàn hoạt động của doanh nghiệp, bộ máy tổ chức, bộ máy

quản lý; Tổ chức công tác kế toán phải bắt nguồn từ tổ chức quản lí và phục vụ

quản lí của doanh nghiệp;

Căn cứ vào khả năng trình độ của đội ngũ người làm kế toán hiện có của

doanh nghiệp;

Căn cứ vào trình độ, trang thiết bị và sử dụng công nghệ thông tin cũng như

các phương tiện hỗ trợ công tác kế toán.

1.3.2. Những nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp sản xuất

Tổ chức công tác kế toán là nỗ lực chủ quan của con người nhằm vận dụng

tốt nhất các phương pháp của kế toán trong thực tiễn, nâng cao hiệu quả cung cấp

thông tin phục vụ quản lý. Để phát huy được đầy đủ vai trò, chức năng, nhiệm vụ

của công tác kế toán cũng như thực hiện được những yêu cầu của kế toán cần phải

tổ chức công tác kế toán theo các nguyên tắc sau:

Một là, vận dụng những vấn đề lý luận cơ bản của công tác tổ chức. Lý luận

về tổ chức luôn quan tâm đến tính hệ thống gồm: các phần tử của hệ thống và môi

trường tác động đến hệ thống. Hệ thống không phải là sự lắp ghép tùy tiện các phần

tử mà là sự kết hợp hữu cơ giữa chúng, nhờ đó mà hệ thống không ngừng vận động

và phát triển. Tổ chức công tác kế toán là một đặc thù của tổ chức vì vậy những vấn

23

đề về lý luận cơ bản của tổ chức đó là; tính hệ thống, mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ,

bộ máy cần phải được nghiên cứu một cách đầy đủ trong tổ chức công tác kế toán;

Hai là, tuân thủ Luật kế toán, chuẩn mực kế toán và các văn bản pháp qui về

tài chính, kế toán;

Nhằm tạo ra một môi trường pháp lý cho hoạt động của kế toán, mỗi quốc

gia sẽ ban hành một hệ thống các quy định pháp luật cho hoạt động kế toán. Luật kế

toán, Chuẩn mực kế toán và các Chính sách, Chế độ kế toán nhà nước đã ban hành

là cơ sở pháp lý cho công tác kế toán và công tác quản lý tài chính trong các doanh

nghiệp nói chung và trong các doanh nghiệp sản xuất nói riêng. Tuy nhiên, trong

quá trình tổ chức công tác kế toán, các doanh nghiệp sản xuất phải căn cứ đặc điểm

hoạt động sản xuất kinh doanh và yêu quản lý cụ thể của đơn vị để tổ chức hợp lý,

khoa học và phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin kịp thời, trung thực và tin cậy

phục vụ công tác điều hành quá trình sản xuất kinh doanh và quản lý công ty;

Ba là, phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý, tổ chức hoạt động sản xuất

kinh doanh và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ người làm kế toán;

Mỗi doanh nghiệp hoạt động trên những lĩnh vực khác nhau đều có những

đặc điểm riêng về tổ chức quản lý, về trình độ quản lý, đồng thời có quy mô hoạt

động và yêu cầu quản lý cụ thể khác nhau..

Bốn là, đảm bảo tính thống nhất giữa công tác kế toán và công tác quản lý;

cung cấp kịp thời, trung thực và đầy đủ các thông tin về hoạt động sản xuất kinh

doanh phục vụ yêu cầu quản lý chung toàn công ty;

Các bộ phận quản lý khác nhau trong doanh nghiệp sản xuất có liên quan

chặt chẽ với nhau, cùng thực hiện phục vụ cho công tác quản lý chung của doanh

nghiệp. Tuy nhiên, mỗi bộ phận chức năng khác nhau đảm bảo những nhiệm vụ

khác nhau. Các bộ phận này cần phải cung cấp những thông tin phù hợp với chức

năng, nhiệm vụ của mình phục vụ cho công tác điều hành, quản lý chung của công

ty. Vì vậy, tổ chức công tác kế toán phải chú ý giải quyết tốt mối quan hệ giữa các

bộ phận nhằm đảm bảo đồng bộ trong việc thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp

thông tin phục vụ cho quản lý chung toàn công ty.

24

Năm là, tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp phải đảm bảo kết hợp

tốt giữa KTTC và KTQT;

KTTC và KTQT là hai loại kế toán có những điểm khác nhau về đối tượng

sử dụng thông tin, đặc điểm của thông tin, phạm vi thông tin, kỳ báo cáo... nhưng có

những điểm giống nhau là cả hai đều dựa trên cùng một cơ sở hạch toán ban đầu,

đều thu thập, xử lý cung cấp thông tin kinh tế của doanh nghiệp. Do vậy, khi tổ

chức công tác kế toán phải chú ý để nghiên cứu để kết hợp giữa KTTC và KTQT

làm cho từng loại kế toán đều phát huy tác dụng một cách tốt nhất.

Sáu là, đảm bảo tính tiết kiệm, nâng cao hiệu quả và tính khả thi;

Theo nguyên tắc hạch toán kinh tế, tất cả các công việc liên quan đến quá

trình lựa chọn các phương án sản xuất kinh doanh, công tác tổ chức quản lý nói

chung và công tác tổ chức kế toán nói riêng cần đảm bảo tiết kiệm, trang trải chi

phí, có lãi và có tính khả thi. Tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản

xuất cũng là một trong những phương án tổ chức công việc, tổ chức nhân sự chuyên

môn nên cũng cần phải tuân thủ nguyên tắc tiết kiệm, nâng cao hiệu quả và mang

tính khả thi. Có như vậy mới đảm bảo cho việc tổ chức khoa học, hợp lý công tác kế

toán mang lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp.

1.3.3. Nhiệm vụ của tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp

Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp sản xuất là trách nhiệm của

lãnh đạo doanh nghiệp và của kế toán trưởng.

Nghiên cứu nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản

xuất có ý nghĩa quan trọng nhằm giúp các doanh nghiệp vận dụng một cách linh

hoạt, hiệu quả. Tổ chức công tác kế toán cần phải thực hiện tốt nhiệm vụ sau:

- Tổ chức bộ máy kế toán hợp lý, bao gồm việc phân công, phân nhiệm công

việc kế toán theo từng bộ phận, từng người làm kế toán của từng phần hành kế toán

phù hợp với hình thức tổ chức công tác kế toán. Hướng dẫn mọi người quán triệt và

tuân thủ các chế độ về quản lý kinh tế, tài chính nói chung và chế kế toán nói riêng;

- Tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán, chế độ kế toán, vận dụng các

nguyên tắc kế toán, chuẩn mực kế toán và tổ chức sử dụng các phương tiện kỹ thuật

25

tính toán để thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kế toán cho các đối

tượng sử dụng;

- Xác định rõ mối quan hệ giữa các bộ phận kế toán trong bộ máy kế toán và

giữa các bộ phận kế toán với các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp về các

công việc có liên quan đến công tác kế toán nhằm đảm bảo sự thống nhất trong

cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu quản lý;

- Tổ chức thực hiện chế độ lưu trữ và bảo quản chứng từ, tài liệu kế toán. [37]

1.4. Nội dung cơ bản của tổ chức công tác kế toán trong các doanh

nghiệp sản xuất

Tổ chức công tác kế toán dưới góc độ chức năng của thông tin kế toán bao

gồm: Tổ chức thu nhận thông tin kế toán; Tổ chức xử lý, phân tích thông tin kế

toán; Tổ chức cung cấp thông tin kế toán.

Ở giác độ chu trình (giai đoạn) của kế toán, tổ chức công tác kế toán được

chia thành các nội dung: Tổ chức chứng từ; Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán; Tổ

chức hệ thống sổ kế toán; Tổ chức hệ thống báo cáo và phân tích báo cáo tài chính

và tổ chức kiểm tra kế toán.

Tổ chức công tác kế toán theo đối tượng hạch toán kế toán cụ thể là mối liên

hệ giữa các yếu tố chứng từ, sổ tổng hợp và chi tiết, tổng hợp báo cáo kế toán trong

từng đối tượng cụ thể trên cơ sở mổ sẻ đối tượng kế toán thành các phần hành kế

toán cụ thể như; Phần hành kế toán TSCĐ; Phần hành kế toán nguyên vật liệu; Phần

hành kế toán tiền lương; Phần hành kế toán chi phí, giá thành...; Mỗi phần hành kế

toán có đặc điểm riêng và yêu cầu cung cấp thông tin khác nhau đòi hỏi việc tổ

chức hạch toán kế toán (về chứng từ ban đầu, tài khoản kế toán, sổ kế toán cũng

như báo cáo kế toán) phải chú ý phù hợp với yêu cầu cung cấp thông tin của từng

phần hành. Vì vậy, trong thực tế trên cơ sở nhận thức công tác kế toán theo các giai

đoạn của chu trình kế toán, người ta kết hợp các giai đoạn này theo từng phần hành

kế toán. Việc tổ chức sắp xếp và phân công công tác kế toán trong thực tế ở mỗi

đơn vị trên cơ sở các phần hành kế toán này và ở mỗi phần hành kế toán được tiến

hành thực hiện theo các giai đoạn của chu trình kế toán chứng từ, sổ kế toán, tổng

26

hợp báo cáo kế toán. Nội dung của tổ chức công tác kế toán bao gồm rất nhiều nội

dung nhưng có thể khái quát thành các nội dung sau:

* Tổ chức bộ máy kế toán để thực hiện KTTC và KTQT

Thực chất của tổ chức bộ máy kế toán là tổ chức sắp xếp người làm kế toán

vào các phần hành kế toán cụ thể một cách khoa học, hợp lý nhằm thu nhận một

cách đầy đủ, kịp thời thông tin kinh tế phục vụ công tác điều hành quản lý hoạt

động sản xuất kinh doanh. Việc phát huy năng lực của từng người phụ thuộc vào

việc tổ chức bộ máy kế toán.

* Tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán để thu nhận, xử lý, phân tích,

cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý, bao gồm các việc cụ thể đó là:

+ Tổ chức thu nhận, kiểm tra thông tin đầu vào;

+ Tổ chức xử lý, phân loại, phân tích và cung cấp thông tin qua các phương

thức của báo cáo kế toán;

+ Sử dụng thông tin kế toán cho việc ra quyết định quản lý;

+ Tổ chức kiểm tra kế toán.

1.4.1. Tổ chức bộ máy kế toán để thực hiện KTTC và KTQT

Với mục tiêu là tổ chức thu nhận, xử lý hệ hóa và cung cấp thông tin, đáp

ứng nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin phục vụ công tác quản lý doanh

nghiệp, một trong những khâu quan trọng và có ý nghĩa quyết định là khâu tổ chức

bộ máy kế toán. Tổ chức bộ máy kế toán sao cho thực hiện tốt cả KTTC và KTQT.

Nhiệm vụ của tổ chức bộ máy kế toán là xác định khối lượng công tác kế

toán bao gồm KTTC và KTQT đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ, chính

xác cho các đối tượng sử dụng thông tin trong và ngoài doanh nghiệp.

Tổ chức bộ máy kế toán là tổ chức về nhân sự để thực hiện việc thu thập, xử

lý và cung cấp thông tin kế toán cho các đối tượng khác nhau.

* Nội dung tổ chức bộ máy kế toán bao gồm:

Xác định khối lượng công tác kế toán và các phần hành kế toán;

Xác định số lượng nhân viên cần phải có; yêu cầu về trình độ nghề nghiệp;

bố trí và phân công nhân viên thực hiện các công việc cụ thể; xác lập mối quan hệ

27

giữa các bộ phận kế toán với nhau cũng như giữa bộ phận kế toán với các bộ phận

quản lý khác có liên quan, kế hoạch công tác và việc kiểm tra tình hình thực hiện kế

hoạch. Để tổ chức bộ máy kế toán cần căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp, trình

độ nghề nghiệp và yêu cầu quản lý, đặc điểm về tổ chức sản xuất, quản lý và điều

kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc thu thập, xử lý, cung cấp thông tin.

Bộ máy kế toán là một tập hợp những người làm kế toán nhằm bảo đảm

thực hiện toàn bộ khối lượng công tác kế toán của doanh nghiệp, tổ chức bộ máy kế

toán được hiểu như là việc cơ cấu nhân sự, phân công lao động cho các thành viên

trong bộ máy kế toán thực hiện những phần hành kế toán cụ thể (lao động kế toán).

Tổ chức bộ máy kế toán còn bao gồm cả việc tổ chức phương tiện, thiết bị cho lao

động kế toán.

Mỗi nhân viên trong bộ máy kế toán đều được quy định rõ chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn trong quá trình công tác kế toán, các mối quan hệ nghiệp vụ qua lại

với nhau trong quá trình thực hiện công việc của mỗi người, mỗi bộ phận.

Nguyên tắc tổ chức bộ máy kế toán

- Phải phân công trách nhiệm cụ thể, chức năng, quyền hạn cho từng người

làm kế toán trong từng phần hành;

- Tổ chức bộ máy kế toán phải gọn nhẹ để đảm bảo cung cấp thông tin nhanh

chóng, kịp thời phục vụ yêu cầu quản lý;

- Tổ chức bộ máy kế toán phải căn cứ vào đặc điểm, yêu cầu cụ thể của

doanh nghiệp để vận dụng mô hình tổ chức công tác kế toán cho phù hợp;

- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán là việc lựa chọn, sắp xếp bộ máy đó làm

việc theo dạng nào cho phù hợp với quy mô của doanh nghiệp, phù hợp với trình độ

tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý của doanh nghiệp.

Nội dung tổ chức bộ máy kế toán bao gồm:

Lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán;

Mô hình tổ chức KTTC và KTQT;

Tổ chức, bố trí nhân sự làm kế toán;

Tổ chức kiểm tra kế toán.

28

- Các căn cứ để lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán hợp lý:

+ Đặc điểm về hoạt động vực sản xuất kinh doanh;

+ Qui mô, địa bàn hoạt động của doanh nghiệp (không gian bố trí các đơn vị);

+ Đặc điểm về tổ chức doanh nghiệp, mức độ phân cấp quản lý KTTC;

+ Biên chế và năng lực trình độ của đội ngũ người làm kế toán của đơn vị;

+ Trình độ, trang thiết bị phương tiện kỹ thuật;

+ Điều kiện về thị trường và chiến lược phát triển của doanh nghiệp.

Các nhân tố và điều kiện này chi phối tác động lẫn nhau vì vậy phải phối hợp

các nhân tố và điều kiện trong một thực tế cụ thể để xác định được một hình thức tổ

chức bộ máy kế toán vừa khoa học vừa hợp lý.

1.4.1.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán

Công tác kế toán trong doanh nghiệp bao gồm KTTC và KTQT. KTTC là

việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính bằng

báo cáo tài chính cho đối tượng sử dụng thông tin của đơn vị kế toán. KTQT là việc

thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản

trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội đơn vị kế toán.

Như vậy, tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp bao gồm tổ chức

công tác KTTC và tổ chức công tác KTQT.

Khi tổ chức công tác KTTC và KTQT, doanh nghiệp phải căn cứ vào quy

mô, phạm vi hoạt động; tính chất và yêu cầu quản lý của mình để tổ chức thực hiện

cả hai nội dung cho phù hợp theo một trong ba mô hình sau:

Mô hình tổ chức công tác KTTC tách rời với KTQT: Theo mô hình này,

toàn bộ nội dung tổ chức công tác KTTC và tổ chức KTQT được tách rời và thực

hiện một cách riêng rẽ, độc lập với nhau. Khi tổ chức bộ máy phải tổ chức thành

hai bộ phận riêng biệt: bộ phận KTTC và KTQT. Mỗi bộ phận này sẽ đảm bảo

chức năng, nhiệm vụ riêng biệt. Thực tế mô hình này rất ít được áp dụng bởi hiệu

quả kinh tế không cao, bộ máy kế toán cồng kềnh, có sự trùng lặp giữa kế toán tài

chính và KTQT.

Mô hình tổ chức công tác KTTC kết hợp với KTQT: Theo mô hình này, trong

29

từng nội dung tổ chức công tác kế toán đều có sự kết hợp chặt chẽ giữa KTTC và

KTQT. Khi tổ chức theo mô hình này từng nội dung của tổ chức công tác kế toán:

Thu thập, xử lý, hệ thống hóa, cung cấp thông tin, tổ chức bộ máy kế toán đều phải

kết hợp giữa kế toán và KTQT.

Khi tổ chức bộ máy kế toán, không cần phải tách ra hai bộ phận KTTC và

KTQT riêng biệt. Trong từng bộ phận kế toán theo từng phần hành kế toán đã có sự

kết hợp thực hiện các nhiệm vụ của cả KTTC và KTQT. Tổ chức công tác kế toán

theo mô hình này tường tránh được sự trùng lắp trong việc thực hiện các nội dung

kế toán, phát huy tối đa vai trò, khả năng của từng bộ phận, từng nhân viên kế toán.

Đảm bảo tổ chức bộ máy kế toán được gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao.

Mô hình tổ chức công tác kế toán kết hợp: Trong toàn bộ những nội dung của

kế toán có những nội dung dược tổ chức riêng biệt, có những nội dung được tổ chức

kết hợp. Đối với các bộ phận kế toán được tổ chức riêng biệt: phải tổ chức bộ phận

KTTC và bộ phận KTQT riêng, đồng thời xây dựng hệ thống chứng từ, tài khoản,

sổ sách KTQT riêng biệt theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp. Tổ chức lập và trình

bày hệ thống báo cáo kế toán trên cơ sở thông tin ban đầu vào của KTQT, tách rời

những thông tin trên báo cáo tài chính. Đối với những nội dung kế toán được tổ

chức kết hợp: không phải tổ chức bộ phận kế toán riêng mà bộ phận này thu thập,

xử lý, cung cấp thông tin theo yêu cầu của KTTC và KTQT.

1.4.1.2. Lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán

Hiện nay có 3 mô hình tổ chức bộ máy kế toán: Mô hình tổ chức bộ máy kế

toán tập trung, mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán, mô hình tổ chức bộ máy

kế toán hỗn hợp (vừa tập trung vừa phân tán).

Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung

- Mô hình này thường được áp dụng cho các doanh nghiệp có hoặc không có

đơn vị trực thuộc, có quy mô nhỏ và vừa, công việc hạch toán không nhiều, hoặc

đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn nhưng địa bàn tập trung, phương tiện

thông tin liên lạc dễ dàng.

- Theo mô hình này toàn doanh nghiệp (công ty, tổng công ty) chỉ có một

30

phòng kế toán trung tâm làm đơn vị kế toán cơ sở, còn các đơn vị trực thuộc không

có tổ chức kế toán riêng.

- Phòng kế toán chịu trách nhiệm thực hiện toàn bộ công tác kế toán trong

toàn doanh nghiệp. Tại đơn vị trực thuộc có các nhân viên kinh tế làm nhiệm vụ

hạch toán ban đầu, thu nhận và kiểm tra chứng từ để hàng ngày hoặc định kỳ

chuyển về phòng kế toán kiểm tra, luân chuyển và ghi sổ kế toán.

- Tổ chức theo hình thức này thì bộ máy kế toán ở doanh nghiệp là chủ yếu

có thể chia làm nhiều bộ phận như sau:

+ Bộ phận tài chính: làm nhiệm vụ giúp kế toán trưởng xây dựng và quản lý

kế hoạch tài chính doanh nghiệp;

+ Bộ phận kế toán vốn bằng tiền, cho vay và thanh toán: làm nhiệm vụ giúp

kế toán trưởng xây dựng và quản lý kế hoạch tài chính doanh nghiệp, theo dõi tình

hình biến động về vốn bằng tiền, các khoản nợ phải thu phải trả, lập báo cáo lưu

chuyển tiền tệ và các báo cáo nội bộ khác.

+ Bộ phận kế toán tài sản cố định và hàng tồn kho;

+ Bộ phận kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương;

+ Bộ phận kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành;

+ Bộ phận kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh;

+ Bộ phận kế toán nguồn vốn, quỹ;

+ Bộ phận kế toán tổng hợp và kiểm tra.

Hình thức này, phòng kế toán của các doanh nghiệp sản xuất được bố trí theo

sơ đồ 1.1.

- Ưu điểm của hình thức này: chỉ đạo kịp thời công tác kế toán, giúp cho

công tác quản lý được chặt chẽ hơn, dễ ứng dụng công nghệ thông tin và hiện đại

hoá công tác kế toán.

- Nhược điểm: công tác kế toán không gắn liền với sản xuất kinh doanh ở cơ

sở, không nâng cao hiệu lực quản lý ở cấp cơ sở.

Sơ đồ 1.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán kiểu tập trung

31

KẾ TOÁN TRƯỞNG

Bộ phận tài chính Bộ phận Kế toán tổng hợp Bộ phận Kế toán tiền và thanh toán Bộ phận Kế toán doanh thu và Kết quả kinh doanh

Bộ phận kế toán… Bộ phận kế toán chi phí và giá thành Bộ phận kế toán tiền lương Bộ phận kế toán nguồn vốn quỹ

Nhân viên kinh tế ở các đơn vị phụ thuộc

Hình thức tổ chức bộ máy kế toán phân tán

- Hình thức này thường được áp dụng cho các doanh nghiệp có quy mô lớn,

có các đơn vị trực thuộc mà mỗi đơn vị trực thuộc đều được hạch toán tương đối

hoàn chỉnh, địa bàn phân tán. Theo hình thức này toàn doanh nghiệp vừa có một

phòng kế toán trung tâm làm đơn vị kế toán cơ sở (ở đơn vị chính: công ty, tổng

công ty...), vừa tổ chức phòng kế toán ở đơn vị trực thuộc. Các đơn vị trực thuộc

trong trường hợp này đã được phân cấp quản lý KTTC nội bộ ở mức độ cao như

được giao vốn, hạch toán kết quả kinh doanh.

- Trong trường hợp này toàn bộ công việc KTTC của doanh nghiệp được

phân công như sau:

+ Phòng kế toán trung tâm: thực hiện các phần công việc kế toán phát sinh ở

đơn vị chính và báo cáo kế toán phần công việc thực hiện. Xây dựng và quản lý kế

hoạch tài chính, hướng dẫn thực hiện công tác kế toán và thống kê, hướng dẫn kiểm

tra công tác kế toán ở các đơn vị trực thuộc, thu nhận kiểm tra báo cáo kế toán của

các đơn vị trực thuộc để tổng hợp lập báo cáo kế toán toàn doanh nghiệp.

+ Phòng kế toán ở các đơn vị trực thuộc: xây dựng và quản lý kế hoạch tài

chính của đơn vị, tổ chức thực hiện toàn bộ kế toán ở đơn vị để định kỳ lập báo cáo

32

kế toán gửi về phòng kế toán trung tâm, tổ chức thống kê các chỉ tiêu kinh tế trong

phạm vi đơn vị để phục vụ yêu cầu quản lý của đơn vị trực thuộc. Sơ đồ tổ chức bộ

máy kế toán kiểu phân tán (Sơ đồ 1.2):

Sơ đồ 1.2. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán kiểu phân tán

KẾ TOÁN TRƯỞNG

Bộ phận tài chính Bộ phận kiểm tra kế toán Bộ phận kế toán tổng hợp Bộ phận kế toán văn phòng

Phụ trách kế toán ở các đơn vị trực thuộc

Bộ phận kế toán … Bộ phận kế toán tiền lương Bộ phận kế toán thanh toán Bộ phận kế toán chi phí…

Ưu điểm của hình thức này: công tác kế toán gắn liền với hoạt động sản xuất

kinh doanh giúp cho công tác quản lý cơ sở được chặt chẽ hơn.

- Nhược điểm: cung cấp thông tin kế toán toàn doanh nghiệp không được kịp

thời, khó nắm chắc tình hình cơ sở vì vậy chỉ đạo sản xuất toàn doanh nghiệp không

được kịp thời.

Mô hình tổ chức bộ máy kế toán hỗn hợp

- Mô hình này thường được áp dụng cho các doanh nghiệp có quy mô lớn

địa bàn hoạt động rộng, có các đơn vị trực thuộc mà phân cấp quản lý KTTC là

khác nhau.

33

- Theo mô hình này toàn doanh nghiệp vẫn tổ chức phòng kế toán trung tâm

làm đơn vị kế toán cơ sở chính nhưng ở các đơn vị trực thuộc thì tuỳ thuộc vào đặc

điểm kinh doanh mà có thể tổ chức kế toán riêng hoặc không tổ chức hoặc phân

định một số phần hành giữa đơn vị trung tâm và đơn vị trực thuộc. Đây là hình thức

kết hợp hai hình thức trên, nếu ở các đơn vị trực thuộc đã được phân cấp quản lý

KTTC ở mức độ cao thì tổ chức công tác kế toán riêng, còn lại đơn vị chưa được

phân cấp quản lý KTTC thì không tổ chức kế toán riêng mà nội dung hoạt động

KTTC ở đơn vị này do phòng kế toán trung tâm đảm nhận.

- Công tác kế toán theo hình thức này được phân công như sau:

+ Phòng kế toán trung tâm: xây dựng và quản lý kế hoạch tài chính của

doanh nghiệp, thực hiện các phần hành công việc kế toán phát sinh ở đơn vị chính

và đơn vị trực thuộc không tổ chức kế toán riêng, hướng dẫn kiểm tra công tác kế

toán ở các đơn vị trực thuộc có tổ chức kế toán riêng, thu nhận kiểm tra báo cáo kế

toán của các đơn vị trực thuộc để lập báo cáo kế toán toàn doanh nghiệp.

+ Phòng kế toán ở các đơn vị trực thuộc có tổ chức kế toán riêng: Xây dựng

và quản lý kế hoạch tài chính của đơn vị, thực hiện toàn bộ công tác kế toán, thống

kê, định kỳ lập báo cáo kế toán gửi về phòng kế toán trung tâm.

+ Ở đơn vị trực thuộc không tổ chức kế toán riêng: Bố trí các nhân viên hạch

toán làm nhiệm vụ hạch toán ban đầu, thực hiện từng phần hành công việc kế toán

cụ thể do phòng kế toán trung tâm phân công, định kỳ lập và gửi báo cáo đơn giản

các phần hành về phòng kế toán trung tâm. Sơ đồ 1.3.

Ưu điểm: kết hợp được ưu điểm của cả 2 hình thức trên, phù hợp với điều

kiện cụ thể của từng đơn vị, phục vụ kịp thời cho công tác quản lý.

- Nhược điểm: bộ máy cồng kềnh, phức tạp, cung cấp thông tin kế toán cũng

còn phải mất thời gian.

34

Sơ đồ 1.3. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán

KẾ TOÁN TRƯỞNG

Bộ phận tài chính Bộ phận kiểm tra kế toán Bộ phận kế toán vật tư, TSCĐ Bộ phận kế toán … Bộ phận kế toán tổng hợp Bộ phận kế toán tiền lương

Phụ trách kế toán ở các đơn vị trực thuộc (Phòng, tổ kế toán) Nhân viên kế toán ở các đơn vị trực thuộc không tổ chức kế toán riêng

Bộ phận kế toán tiền lương Bộ phận kế toán thanh toán Bộ phận kế toán … Bộ phận kế toán chi phí…

1.4.1.3. Mô hình tổ chức KTTC và KTQT

Công tác kế toán trong doanh nghiệp bao gồm KTTC và KTQT. KTTC là

việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính bằng

báo cáo tài chính cho đối tượng sử dụng thông tin của đơn vị kế toán. KTQT là việc

thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản

trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội đơn vị kế toán.

Như vậy, tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp bao gồm tổ chức

công tác KTTC và tổ chức công tác KTQT.

Khi tổ chức công tác tài chính và KTQT, doanh nghiệp phải căn cứ vào quy

mô, phạm vi hoạt động; tính chất và yêu cầu quản lý của mình để tổ chức thực hiện

cả hai nội dung cho phù hợp theo một trong ba mô hình sau:

Mô hình tổ chức công tác KTTC tách rời với KTQT: Theo mô hình này, toàn

35

bộ nội dung tổ chức công tác KTTC và tổ chức KTQT được tách rời và thực hiện

một cách riêng rẽ, độc lập với nhau. Khi tổ chức bộ máy phải tổ chức tổ chức thành

hai bộ phận riêng biệt: bộ phận KTTC và KTQT. Mỗi bộ phận này sẽ đảm bảo chức

năng, nhiệm vụ riêng biệt. Trên tực tế mô hình này rất ít được áp dụng bởi hiệu quả

kinh tế không cao, bộ máy kế toán cồng kềnh, có sự trùng lặp giữa kế toán tài chính

và KTQT.

Mô hình tổ chức công tác KTTC kết hợp với KTQT: Theo mô hình này, trong

từng nội dung tổ chức công tác kế toán đều có sự kết hợp chặt chẽ giữa KTTC và

KTQT. Khi tổ chức theo mô hình này từng nội dung của tổ chức công tác kế toán:

Thu thập, xử lý, hệ thống hóa, cung cấp thông tin, tổ chức bộ máy kế toán đều phải

kết hợp giữa KTTC và KTQT.

Khi tổ chức bộ máy kế toán, không cần phải tách ra hai bộ phận KTTC và

KTQT riêng biệt. Trong từng bộ phận kế toán theo từng phần hành kế toán đã có sự

kết hợp thực hiện các nhiệm vụ của cả KTTC và KTQT. Tổ chức công tác kế toán

theo mô hình này tường tránh được sự trùng lắp trong việc thực hiện các nội dung

kế toán, phát huy tối đa vai trò, khả năng của từng bộ phận, từng nhân viên kế toán.

Đảm bảo tổ chức bộ máy kế toán được gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao.

Mô hình tổ chức công tác kế toán kết hợp: Trong toàn bộ những nội dung của

kế toán có những nội dung dược tổ chức riêng biệt, có những nội dung được tổ chức

kết hợp. Đối với các bộ phận kế toán được tổ chức riêng biệt: phải tổ chức bộ phận

KTTC và bộ phận KTQT riêng, đồng thời xây dựng hệ thống chứng từ, tài khoản,

sổ sách KTQT riêng biệt theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp. Tổ chức lập và trình

bày hệ thống báo cáo kế toán trên cơ sở thông tin ban đầu vào của KTQT, tách rời

những thông tin trên báo cáo tài chính. Đối với những nội dung kế toán được tổ

chức kết hợp: không phải tổ chức bộ phận kế toán riêng mà bộ phận này thu thập,

xử lý, cung cấp thông tin theo yêu cầu của KTTC và KTQT.

1.4.1.4. Tổ chức, bố trí hoặc thuê nhân sự làm kế toán

Tổ chức, bố trí nhân sự làm kế toán hoặc thuê nhân sự làm kế toán phải căn

cứ vào khối lượng công tác kế toán và các phần hành kế toán. Căn cứ vào khối

36

lượng công tác kế toán và phần hành kế toán để bố trí con người làm kế toán. Khối

lượng công tác kế toán trước hết được nhìn nhận theo từng giai đoạn của quá trình

hạch toán: Giai đoạn hạch toán ban đầu trên chứng từ kế toán, giai đoạn hệ thống

hóa phân loại theo đối tượng kế toán, giai đoạn xử lý lập các báo báo kế toán cho

các đối tượng bên trong và ngoài doanh nghiệp. Khối lượng công tác kế toán còn

phụ thuộc vào mục đích cung cấp thông tin và tính chất của đối tượng sử dụng

thông tin. Phần hành kế toán chỉ ra khối lượng công tác kế toán bắt buộc cho một

đối tượng hạch toán. Khối lượng các phần hành sẽ khác nhau ở mỗi đơn vị nó tùy

thuộc vào loại hình doanh nghiệp, tính chất hoạt động, quy mô doanh nghiệp. Xác

định rõ phần hành kế toán trong khối lượng công tác kế toán là căn cứ để bố trí nhân

sự làm kế toán. Người làm kế toán và kế toán trưởng phải thỏa mãn các yêu cầu bắt

buộc. Luật pháp từng nước sẽ quy định cụ thể tiêu chuẩn, quyền hạn và trách nhiệm

của người làm kế toán và kế toán trưởng. Người làm kế toán phải có đủ các tiêu

chuẩn sau:

Có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trung thực, liêm khiết, có ý thức chấp

hành pháp luật; Có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ kế toán;

Người làm kế toán có trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật về kế

toán, thực hiện các công việc được phân công và chịu sự trách nhiệm về chuyên

môn nghiệp vụ của mình. Khi thay đổi phải bàn giao công việc và phải chịu trách

nhiệm về công việc trong thời gian mình làm kế toán. Cũng theo quy định hiện hành

của luật kế toán hiện nay các doanh nghiệp có thể thuê người làm kế toán và kế toán

trưởng. Việc thuê người làm kế toán trưởng và kế toán phải được lập thành hợp

đồng bằng văn bản theo quy định của pháp luật.

1.4.2. Sử dụng các phương pháp kế toán để thu thập, xử lý, hệ thống hóa

phân tích, cung cấp thông tin kế toán

Kế toán có một hệ thống phương pháp khoa học riêng đó là phương pháp

chứng từ, phương pháp tài khoản, phương pháp tính giá và phương pháp tổng hợp

cân đối kế toán để thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin phục vụ cho

công tác quản lý kinh tế tài chính nói chung. Việc sử dụng các phương pháp kế toán

37

kết hợp các phương tiện cần thiết hỗ trợ các quá trình thu nhận, xử lý, hệ thống hóa,

phân tích cung cấp lưu trữ thông tin đã giúp cho kế toán ngày càng đáp ứng được

vai trò quan trọng trong các công cụ quản lý kinh tế.

1.4.2.1. Tổ chức thu nhận, kiểm tra thông tin đầu vào

Tổ chức thu nhận thông tin đầu vào

Thu nhận thông tin kế toán là công việc khởi đầu của toàn bộ quy trình kế

toán, có ý nghĩa quyết định đến tính trung thực, khách quan của số liệu kế toán và

báo cáo kế toán. Kế toán doanh nghiệp Việt Nam từ lần cải cách 1995 đến nay cơ

bản được thiết kế theo loại hình “Kế toán động”, trong khi đó hệ thống KTQT cũng

được tổ chức theo kiểu “kế toán động”. Mục tiêu là đánh giá hiệu quả của một

doanh nghiệp, nguyên tắc nền tảng là đánh giá thường xuyên lợi nhuận sinh ra bởi

những nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp trong khuôn khổ hoạt động của doanh

nghiệp, tức là: “Giả thiết doanh nghiệp hoạt động liên tục”.

Toàn bộ thông tin của doanh nghiệp có thể chia làm 2 loại: Thông tin thực

hiện quá khứ và thông tin tương lai.

Tổ chức thu nhận thông tin thực hiện quá khứ

Tổ chức thu nhận thông tin kế toán về nội dung các nghiệp vụ kinh tế, tài

chính phát sinh ở doanh nghiệp và kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của các nghiệp

vụ đó. Muốn thực hiện được điều này thì công việc đầu tiên là phải thiết lập được

hệ thống chứng từ kế toán. Chứng từ kế toán vừa là phương tiện truyền tin, vừa là

phương tiện để chứng minh tính hợp pháp, hợp lý của các nghiệp vụ kinh tế phát

sinh và thực sự hoàn thành. Chứng từ kế toán là những giấy tờ và vật mang tin

phản ánh nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và thực sự hoàn thành, nó là căn cứ

để tiến hành ghi sổ kế toán có liên quan.

Về phương diện pháp lý: Chứng từ kế toán gắn liền với trách nhiệm vật chất

của cá nhân và đơn vị có liên quan đến nghiệp vụ. Chứng từ kế toán là căn cứ để

kiểm tra kế toán; kiểm soát và thanh tra hoạt động kinh doanh và là cơ sở để giải

quyết mọi tranh chấp về kinh tế.

Về phương diện thu thập và truyền đạt thông tin: Chứng từ kế toán là khởi

38

điểm của toàn bộ công tác kế toán. Chứng từ là cơ sở để truyền đạt mệnh lệnh, ra

chỉ thị chấp hành là cơ sở để ghi sổ kế toán và lập các báo cáo tài chính.

Tổ chức chứng từ là quá trình vận dụng chế độ chứng từ vào đặc thù riêng

của doanh nghiệp. Quá trình tổ chức chứng từ bao gồm việc xác định chủng loại, số

lượng, nội dung kết cấu và qui chế quản lý sử dụng chứng từ. Tiếp theo là việc thiết

lập các bước thủ tục cần thiết để hình thành bộ chứng từ cho từng loại nghiệp vụ

phát sinh gắn với từng đối tượng kế toán nhằm thiết lập thông tin ban đầu hợp pháp,

hợp lệ phục vụ cho việc quản lý, tác nghiệp hàng ngày và ghi sổ kế toán.

Việc thu thập thông tin kế toán thực chất là việc tổ chức chứng từ. Việc thu

thập thông tin kế toán phản ánh vào các chứng từ có một ý nghĩa quyết định đối

với tính trung thực, tính hợp lý và đáng tin cậy của thông tin kế toán đồng thời

cũng là căn cứ không thể thiếu để kiểm toán, kiểm tra hoạt động kinh tế tài chính ở

doanh nghiệp.

Tổ chức hạch toán ban đầu, lập chứng từ kế toán để ghi nhận các nghiệp vụ

kinh tế phát sinh

Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp và

mọi người trong doanh nghiệp đều phải có trách nhiệm thực hiện các nghiệp vụ đó.

Do vậy để thu nhận thông tin về các nghiệp vụ kinh tế đó thì không chỉ có các nhân

viên ở phòng kế toán đảm nhận mà phải do tất cả những người lao động trong

doanh nghiệp có liên quan thực hiện. Để thiết lập được mối liên hệ giữa phòng kế

toán với các phòng ban khác trong doanh nghiệp cần phải phân định được chức

năng nhiệm vụ của phòng kế toán và các phòng khác trong việc cung cấp các thông

tin kế toán và tổng hợp các thông tin kế toán cho phòng kế toán. Ví dụ: bảng chấm

công (phản ánh thời gian lao động), các chứng từ xác nhận sản phẩm hoàn thành

(Với kết quả lao động theo sản phẩm) các chứng từ này sẽ được lập tại các đơn vị

bộ phận sử dụng lao động gửi cho phòng kế toán. Việc lập chứng từ tại thời điểm

mà nghiệp vụ kế toán phát sinh là hết sức quan trọng nó ảnh hưởng trực tiếp đến

tính trung thực và kịp thời của chứng từ. Nội dung chủ yếu của tổ chức hạch toán

ban đầu bao gồm:

39

Quy định về việc sử dụng các mẫu chứng từ sao cho thích hợp với từng loại

nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh để có thể ghi nhận đầy đủ nội dung thông tin

về nghiệp vụ đó;

Quy định người chịu trách nhiệm ghi thông tin ban đầu vào chứng từ (lập

chứng từ) ở từng bộ phận, từng khâu trong đơn vị. Hướng dẫn từng người cách ghi

các thông tin vào chứng từ, đảm bảo ghi đầy đủ các yếu tố cần thiết của chứng từ.

Tổ chức kiểm tra thông tin phản ánh trên chứng từ kế toán

Chứng từ kế toán vừa là phương tiện chứa đựng thông tin vừa là phương tiện

truyền tin về nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành ở doanh

nghiệp. Trước khi ghi sổ kế toán, người làm kế toán phải kiểm tra thông tin về các

nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh trên chứng từ kế toán. Kiểm tra

chứng từ kế toán có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng của công tác kế toán, vì

vậy cần phải thực hiện nghiêm túc, cẩn thận trước khi ghi sổ kế toán. Tổ chức phân

công các kế toán viên chịu trách nhiệm thu nhận từng loại nghiệp vụ kinh tế tài

chính thuộc phần hành công việc của mình và bắt buộc phải kiểm tra chặt chẽ

chứng từ kế toán trước khi ghi sổ kế toán.

Kiểm tra thông tin về các nghiệp vụ kinh tế phát sinh phản ánh trên chứng từ

kế toán là công việc thường xuyên và cần thiết nhằm đảm bảo tính chính xác cho

việc ghi chép và cung cấp thông tin. Kế toán nguyên vật liệu phải kiểm tra việc

nhập, xuất nguyên vật liệu, sử dụng nguyên vật liệu, kế toán TSCĐ phải kiểm tra

việc mua TSCĐ với bên ngoài việc đưa TSCĐ vào sử dụng ở từng bộ phận, kế toán

tiền mặt kiểm tra tình hình thu chi tiền, kiểm tra các định mức chi phí... Phòng tổ

chức lao động phải kiểm tra ngày công lao động, kiểm tra thang, bậc lương của cán

bộ công chức, viên chức...

Khi chứng từ kế toán chuyển đến phòng kế toán, người làm kế toán phải

kiểm tra trước khi ghi sổ kế toán. Vì vậy, tổ chức phân công cho từng người làm kế

toán, đảm bảo tính hợp lý và tính hiệu quả trong công tác kiểm tra chứng từ kế toán

cần được đặt ra đối với phòng kế toán của các công ty.

Nội dung công việc kiểm tra chứng từ kế toán trước khi ghi sổ kế toán,

40

bao gồm:

Một là, kiểm tra tính hợp lý của nghiệp vụ kinh tế phản ánh trong chứng từ:

Tính hợp lý đòi hỏi nội dung thông tin về nghiệp vụ kinh tế phát sinh phải phù hợp

với kế hoạch, với dự toán, phù hợp với định mức kinh tế, kỹ thuật; Phù hợp với giá

cả thị trường hiện tại;

Hai là, kiểm tra việc ghi đầy đủ các yếu tố của chứng từ nhằm đảm bảo tính

pháp lý của chứng từ kế toán;

Ba là, kiểm tra tính thực tế của nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở đơn vị nhằm

loại trừ việc giả mạo chứng từ để tham ô hoặc thanh toán khống;

Muốn thực hiện việc kiểm tra chứng từ kế toán đòi hỏi phải nắm chắc chế độ

quản lý KTTC hiện hành, nắm chắc kỷ luật thanh toán, tín dụng, các định mức kinh

tế kỹ thuật có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, nắm chắc sự biến động

của giá cả thị trường.

Bốn là, kiểm tra tính hợp pháp của nghiệp vụ kinh tế phát sinh phản ánh

trong chứng từ nhằm đảm bảo tuân thủ các chế độ, thể lệ về quản lý kinh tế, tài

chính hiện hành, hạn chế những hành vi vi phạm làm tổn hại đến tài sản của đơn vị;

Năm là, kiểm tra tính trung thực của các chỉ tiêu hiện vật và giá trị;

Kiểm tra việc tính toán các chỉ tiêu phản ánh trong chứng từ nhằm đảm bảo

tính chính xác của số liệu kế toán;

Nhà nước hướng dẫn các chỉ tiêu đặc trưng để các ngành, các doanh nghiệp

thuộc mọi thành phần kinh tế trên cơ sở đó vận dụng vào từng trường hợp cụ thể,

thích hợp. Có thể thêm, bớt một số chỉ tiêu hoặc thay đổi, thiết kế mẫu biểu cho phù

hợp, đảm bảo yêu cầu quản lý cụ thể của công ty.

Tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán

Chứng từ kế toán vừa là vật mang tin vừa là phương tiện truyền tin, do vậy

mỗi đơn vị cần phải xây dựng các chương trình luân chuyển chứng từ thích ứng đối

với từng loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Trong từng chương trình luân chuyển

chứng từ cần quy định rõ trình tự luân chuyển của chứng từ khi lập hoặc nhận được

phải tuần tự luân chuyển qua các bộ phận nào, thời gian thực hiện hoặc kiểm tra nội

41

dung nghiệp vụ kinh tế đến khâu cuối cùng là lưu trữ chứng từ.

Để tổ chức khoa học và hợp lý quá trình luân chuyển chứng từ, cần phải quy

định rõ trách nhiệm của từng bộ phận, từng nhân viên đối với từng loại nghiệp vụ

kinh tế phát sinh.

Mỗi loại chứng từ kế toán có tác dụng và đặc tính vận động khác nhau trong

quản lý nên cần thiết phải xây dựng kế hoạch luân chuyển chứng từ hợp lý đảm bảo

cho chứng từ kế toán vận động qua các khâu nhanh nhất. Để xây dựng kế hoạch

luân chuyển chứng từ hợp lý cần dựa vào những căn cứ sau đây:

Thứ nhất, căn cứ vào quy mô hoạt động, đặc điểm tổ chức quản lý và tổ chức

sản xuất kinh doanh của công ty. Mỗi doanh nghiệp có quy mô hoạt động, đặc điểm

tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh khác nhau nên khối lượng và các

loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh cũng khác nhau, dẫn đến số lượng và các loại chứng

từ kế toán cũng khác nhau. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng kế hoạch,

quy trình luân chuyển chứng từ.

Thứ hai, căn cứ vào tình hình thực tế về tổ chức bộ máy kế toán; mối quan hệ

giữa các bộ phận trong bộ máy kế toán và tổ chức hệ thống thông tin trong doanh

nghiệp, việc xác định đường đi của các chứng từ kế toán phụ thuộc nhiều vào tình

hình tổ chức bộ máy kế toán, mối quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy kế toán

cũng như vấn đề tổ chức hệ thống thông tin trong công ty.

Thứ ba, căn cứ vào đặc điểm của từng loại chứng từ và các loại nghiệp vụ

kinh tế mà chứng từ phản ánh.

Mỗi nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực sự hoàn thành được phản ánh ở

những loại chứng từ khác nhau. Mỗi loại chứng từ này lại được phản ánh vào các

tài khoản kế toán khác nhau, các sổ kế toán cũng khác nhau. Do đó, việc xác định

đường đi của chứng từ phụ thuộc vào loại chứng từ và các loại nghiệp vụ mà

chứng từ phản ánh.

Tổ chức bảo quản, lưu trữ và hủy bỏ chứng từ kế toán

Chứng từ kế toán là căn cứ pháp lý để giải quyết cấc vấn đề tranh chấp kinh

tế nên phải được bảo quản một cách cẩn thận, nghiêm túc. Việc bảo quản và lưu trữ

42

chứng từ kế toán phải chấp hành đúng theo các quy định hiện hành. Tuyệt đối

không làm mất mát hư hỏng chứng từ. Các đơn vị phải thực hiện phân loại chứng từ

lưu trữ, địa điểm lưu trữ và thời hạn lưu trữ. Mọi trường hợp mất chứng từ gốc phải

báo cáo kịp thời với bộ phận chức năng để kịp thời xử lý. Khi các chứng từ kế toán

đã hết thời hạn lưu trữ được phép tiêu hủy theo quy định.

Tổ chức thu thập thông tin tương lai:

KTQT không chỉ quan tâm đến thông tin tại mà còn chú ý đến thông tin

tương lai. Thông tin tương lai là hệ thống thông tin quan trọng mà các nhà quản trị

cần cần phải dự đoán, phán đoán những diễn biến, những hoạt động sản xuất kinh

doanh sắp xảy ra dựa trên cơ sở khoa học hiện tại và quá khứ. Trước hết cần nhận

diện và tổ chức phân loại thông tin theo các tiêu thức khác nhau, sau đó thu thập

bằng các phương pháp phù hợp. Tùy theo nội dung và đặc điểm của các thông tin

cần thu thập, KTQT ngoài các các phương pháp kỹ thuật như tổ chức hệ thống

chứng từ, tài khoản, sổ và báo cáo kế toán có thể sử dụng các phương pháp: quan

sát, thực nghiệm, thăm dò dư luận với các kỹ thuật như phân tổ, thông kê, chọn

mẫu, tổng hợp, ước tính. KTQT thu nhận và cung cấp thông tin tương lai bằng cách

xây dựng kế toán chi phí, giá thành, lợi nhuận đồng thời xây dựng hệ thống định

mức chi phí, dự toán chi phí sản xuất kinh doanh, giúp cho khả năng dự toán tương

lai và khả năng điều hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả cho nhà quản trị. Trong

nền kinh tế thị trường, công tác dự báo vô cùng quan trọng, nó cung cấp các thông

tin cần thiết nhằm phát hiện và bố trí sử dụng các nguồn lực trong tương lai một

cách có căn cứ thực tế. Với các thông tin mà dự báo đưa ra cho phép các nhà hoạch

định chính sách có những quyết định về đầu tư, các quyết định về sản xuất, tiết

kiệm và tiêu dùng, các chính sách tài chính, chính sách kinh tế vĩ mô.

Để xác định được thông tin tương lai phải xác định thông tin lấy ở đâu, do bộ

phận nào cung cấp: dự báo tình hình phát sinh chi phí trong tương lai do biến động

của giá cả, dự toán do bộ phận khác trong doanh nghiệp lập, thông tin thị trường sau

đó phải tiến hành thẩm định, đánh giá các thông tin này trước khi dùng cho các mục

đích nhất định.

43

1.4.2.2. Tổ chức xử lý, phân loại và hệ thống hóa thông tin kế toán đầu

Những yêu cầu về xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán

Thông tin kế toán cung cấp cho các đối tượng sử dụng là thông tin hữu ích,

giúp họ đề ra được các quyết định kinh tế và biện pháp quản lý thích hợp. Vì vậy

việc hệ thống hoá và xử lý thông tin kế toán cần phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:

Thứ nhất, xử lý và hệ thống hóa theo đúng các nguyên tắc kế toán được

thừa nhận, nhằm đảm bảo tính thực tế, khách quan của hoạt động kinh tế, tài chính

ở đơn vị.

Thứ hai, xử lý và hệ thống hóa thông tin phải gắn với trách nhiệm của những

người thực hiện các nghiệp vụ kinh tế để có thể kiểm tra trách nhiệm vật chất của

họ khi cần thiết.

Thứ ba, xử lý và hệ thống hoá thông tin kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế, tài

chính chi tiết nhằm cụ thể hoá các chỉ tiêu tổng hợp đồng thời phải trình bày rõ căn

cứ tính toán, xác định các chỉ tiêu này phục vụ cho yêu cầu quản lý nội bộ đơn vị.

Thứ tư, xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán phải kịp thời phục vụ cho

công tác điều hành và quản lý kinh tế, tài chính ở doanh nghiệp.

Sử dụng phương pháp tính giá để xử lý, hệ thống hóa thông tin KTTC và

KTQT

Phương pháp tính giá là phương pháp kế toán, sử dụng thước đo tiền tệ để

xác định giá trị của các đối tượng kế toán phục vụ quá trình thu nhận, xử lý, hệ

thống hóa và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính ở đơn vị. Để tính giá được chúng

ta phải xác định được đối tượng tính giá (tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu

nhập, chi phí, kết quả hoạt động). Tùy từng điều kiện và yêu cầu quản lý cụ thể về

thông tin của đối tượng kế toán mà tổ chức vận dụng nguyên tắc tính giá nào cho

phù hợp. Thông qua phương pháp tính giá kế toán sẽ tiến hành các bước tiếp theo

của quy trình kế toán đó là: ghi sổ, tổng hợp số liệu, trình bày thông tin trên báo cáo

tài chính. Để đảm bảo các yêu cầu với thông tin kế toán, phương pháp tính giá phải

đảm bảo các yêu cầu sau:

Tính giá phải đảm bảo tin cậy. Giá trị của các đối tượng kế toán phải dựa

44

trên những căn cứ, bằng chứng tin cậy, phù hợp với các nguyên tắc kế toán đã được

chấp nhận.

Tính giá phải đảm bảo nhất quán.

Nội dung của việc tổ chức vận dụng phương pháp tính giá để xử lý thông tin

kế toán bao gồm như sau:

Tổ chức xác định các đối tượng tính giá cần phải tính giá;

Tổ chức xác định các loại giá cần xác định cho từng đối tượng, trong từng

trường hợp;

Xác định các nguyên tắc kế toán ảnh hưởng tới quá trình tính giá của từng

đối tượng, sự ảnh hưởng của từng nguyên tắc và sự ưu tiên áp dụng đối với từng

nguyên tắc;

Tổ chức thu nhận thông tin cần thiết, cơ sở tính giá cho từng đối tượng, thẩm

định độ tin cậy của các thông tin này;

Tổ chức tính giá cho các đối tượng;

Kiểm tra lại kết quả tính giá và sử dụng thông tin cho các quá trình kế toán

tiếp theo.

Xử lý, hệ thống hóa thông tin KTTC: Thông tin kế toán là thông tin định

lượng. Do đó trong quá trình xử lý, hệ thống hóa và cung cấp các thông tin, kế toán

phải đo lường được các đối tượng kế toán thông qua việc lượng hóa chúng theo các

thước đo phù hợp: thước đo lao động, thước đo hiện vật, thước đo giá trị. Trong đó

tiền tệ là thước đo bắt buộc của kế toán. Để lượng hóa các đối tượng kế toán dưới

thước đo giá trị, kế toán phải sử dụng phương pháp tính giá. Có thể nói phương

pháp tính giá là phương pháp kế toán bắt buộc phải sử dụng khi xử lý thông tin kế

toán. Nếu không thực hiện tính giá thì không thể thực hiện các quy trình tiếp theo

của kế toán như; ghi sổ, tổng hợp số liệu và làm các báo cáo tài chính.

Tổ chức hệ thống hóa phân loại và xử lý thông tin kế toán nhằm đáp ứng

được những yêu cầu của thông tin kế toán. Muốn thực hiện được điều đó phải tổ

chức thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán, tổ chức hệ thống

tài khoản kế toán, sổ kế toán để có thể phân loại và hệ thống hóa thông tin kế toán.

45

Thông tin kế toán là thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính ở đơn vị mà

hoạt động kinh tế, tài chính này được hình thành từ các nghiệp vụ kinh tế, tài chính

đã phát sinh và thực sự hoàn thành, vì vậy thu nhận, xử lý, phân loại và hệ thống

hóa thông tin kế toán từ dữ liệu đầu vào.

Xử lý, hệ thống hóa thông tin KTQT

Thông tin của KTQT thường mang tính chất bí mật. Tùy theo yêu cầu của

nhà quản trị thông tin thường mang tính linh hoạt, sáng tạo ưu tiên tính kịp thời vì

cung cấp cho nhà quản trị lựa chọn phương án ra quyết định. Do mục đích riêng của

KTQT nên nguyên tắc và trình tự tính giá trong những trường hợp đặc biệt mang

tính đặc thù, đặc biệt đối với chi phí - giá thành, dưới góc độ dự toán, quản lý và

kiểm soát chi phí thì chi phí thường được chia thành biến phí và định phí để phân

tích điểm hòa vốn, phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận, phân

tích đánh giá báo cáo thu nhập bộ phận,... đồng thời tùy theo yêu cầu và mức độ

quản lý để tính giá theo phương pháp định phí toàn bộ, hay theo biến phí, hay theo

biến phí có phân bổ hợp lý định phí.

Đối với KTQT, việc tính giá các tài sản mang tính linh hoạt cao hơn KTTC,

không đòi hỏi phải tuân theo các nguyên tắc chung về tính giá mà gắn với yêu cầu

sử dụng các thông tin về giá theo yêu cầu của nhà quản trị doanh nghiệp. KTQT

cũng phải tuân thủ những nguyên tắc và trình tự tính giá các đối tượng trong quá

trình thu nhận thông tin quá khứ như KTTC. Tuy nhiên, do mục đích riêng của

KTQT nên nguyên tắc và trình tự tính giá trong những trường hợp đặc biệt mang

tính đặc thù, đặc biệt đối với chi phí - giá thành, dưới góc độ dự toán, quản lý và

kiểm soát chi phí thì chi phí thường được chia thành biến phí và định phí để phân

tích điểm hòa vốn, phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận, phân tích

đánh giá báo cáo thu nhập bộ phận,... đồng thời tùy theo yêu cầu và mức độ quản lý

để tính giá theo phương pháp định phí toàn bộ, hay theo biến phí, hay theo biến phí

có phân bổ hợp lý định phí.

Xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán bằng tài khoản kế toán và sổ kế toán

Tài khoản kế toán sử dụng trong KTTC

46

Tài khoản kế toán là hình thức biểu hiện của phương pháp tài khoản kế toán.

Tài khoản được dùng để hệ thống hóa, kiểm tra, giám sát, thông tin về hoạt động

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo từng đối tượng. Tài khoản kế toán là

phương tiện để phản ánh sự biến động của đối tượng kế toán, mỗi đối tượng kế toán

được phản ánh trên một tài khoản. Trong các doanh nghiệp sản xuất gồm nhiều đối

tượng kế toán khác nhau, nên cần phải sử dụng các tài khoản kế toán khác nhau để

thu nhận, xử lý, phân loại dữ liệu thông tin đầu vào của kế toán phục vụ yêu cầu

quản lý. Các đối tượng kế toán gồm đối tượng tổng hợp và đối tượng chi tiết. Vì

vậy, cần phải có hệ thống tài khoản kế toán gồm các tài khoản tổng hợp và tài

khoản chi tiết để phản ánh đầy đủ các đối tượng kế toán riêng biệt nhưng có liên

quan chặt chẽ với nhau. Với những nhu cầu thông tin khác nhau trong quản lý kinh

tế nên hệ thống tài khoản kế toán cần phải có những đặc thù riêng để đảm bảo tính

phù hợp và hiệu lực trong quá trình ghi chép kế toán.

Mục đích cơ bản của việc xây dựng hệ thống tài khoản kế toán là hướng tới

việc hệ thống hóa thông tin về tình hình hiện có và sự vận động của các đối tượng

kế toán trong công ty. Khi xây dựng hệ thống tài khoản kế toán cần phải quan tâm

đến các tài khoản có đáp ứng được yêu cầu hệ thống hóa và cung cấp thông tin tổng

quát và thông tin chi tiết phục vụ cho công tác quản lý hay không. Vì vậy, xây dựng

hệ thống tài khoản kế toán được coi là khâu quan trọng và có ý nghĩa lớn trong tổ

chức công tác kế toán ở các doanh nghiệp sản xuất. Để đạt được mục đích trên, việc

xây dựng hệ thống tài khoản kế toán cần đảm bảo tốt các yêu cầu cơ bản dưới đây:

Thứ nhất, hệ thống tài khoản kế toán phải đảm bảo phản ánh một cách khách

quan theo đối tượng kế toán mà nó phản ánh;

Thứ hai, hệ thống tài khoản kế toán phải đảm bảo cho kế toán trong việc

tổng hợp và cung cấp các thông tin cho người sử dụng cũng như đảm bảo phục vụ

tốt cho công tác kiểm tra, kiểm soát trong nội bộ công ty và các cơ quan chức

năng của Nhà nước;

Thứ ba, hệ thống tài khoản kế toán phải đảm bảo việc ghi chép kế toán tuân

thủ các nguyên tắc, Chuẩn mực kế toán, các Quy định của pháp luật, đồng thời đảm

47

bảo việc ghi chép chi tiết phục vụ yêu cầu quản trị công ty;

Thứ tư, hệ thống tài khoản kế toán phải đảm bảo thuận lợi cho việc mã hóa

thông tin khi cơ giới hóa công tác kế toán.

Để đáp ứng được mục đích, yêu cầu trên đây, khi xây dựng hệ thống tài

khoản kế toán cần quán triệt các nguyên tắc sau:

Một là, xây dựng hệ thống tài khoản phải phù hợp với thông lệ chung của kế

toán quốc tế trên cơ sở những nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận, đồng thời

phải phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam;

Hai là, xây dựng hệ thống tài khoản kế toán phải đảm bảo phù hợp với đặc

điểm về lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp sản

xuất nói riêng nhằm đảm bảo có đầy đủ các tài khoản kế toán để phản ánh các đối

tượng kế toán tổng hợp và đối tượng kế toán chi tiết phục vụ yêu cầu quản lý của

các công ty;

Ba là, xây dựng hệ thống tài khoản kế toán phải đảm bảo nguyên tắc cung

cấp thông tin khách quan phục vụ người sử dụng bên ngoài và yêu cầu quản trị nội

bộ công ty;

Mỗi đối tượng sử dụng thông tin của doanh nghiệp có mục đích khác nhau.

Đối với các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, họ cần các thông tin tổng quát về

tình hình tài chính và khả năng sinh lời, khả năng thanh toán thông qua các báo cáo

tài chính, do đó báo cáo tài chính phải được thiết lập trên cơ sở các chỉ tiêu được ghi

nhận từ thông tin của các tài khoản KTTC cung cấp.

Để phục vụ công tác quản trị công ty, các tài khoản kế toán cũng cần phải

được xây dựng chi tiết nhằm cung cấp thông tin một cách cụ thể cho việc lập các

báo cáo quản trị phục vụ cho quản trị công ty.

Bốn là, xây dựng hệ thống tài khoản kế toán cần quán triệt nguyên tắc mở,

nghĩa là khi có các quan hệ kinh tế mới phát sinh thì có thể mở thêm tài khoản cần

thiết để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế mới, đồng thời khi vận dụng ở các công ty

thì có thể mở thêm các tài khoản chi tiết phục vụ yêu cầu quản lý theo các chỉ tiêu

chi tiết phục vụ cho quản trị công ty.

48

Ở nước ta, hệ thống tài khoản kế toán do Bộ Tài chính thống nhất ban hành.

các ngành, các doanh nghiệp không được phép tự xây dựng hệ thống tài khoản kế

toán riêng mà chỉ căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán được Bộ Tài chính ban

hành để xác định danh mục các tài khoản kế toán cần sử dụng cho doanh nghiệp

mình. Để lựa chọn được danh mục tài khoản kế toán hợp lý cần phải nắm chắc đặc

điểm hoạt động của doanh nghiệp, nội dung, nguyên tắc ghi chép của tài khoản.

Trên cơ sở đó, lựa chọn các tài khoản cấp 1, cấp 2 thích hợp sử dụng cho KTTC.

Tài khoản kế toán sử dụng trong KTQT

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, việc xác định các tài khoản KTQT là rất

cần thiết nhằm đáp ứng cho việc thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp các thông

tin chi tiết cụ thể, phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp theo những yêu cầu

quản lý cụ thể.

Căn cứ vào đặc điểm cụ thể và yêu cầu quản lý chi tiết theo các chỉ tiêu quản

trị để mở các tài khoản cấp 2, cấp 3, cấp 4, cấp 5... phục vụ cho KTQT.

Xác định hệ thống KTQT trong trường hợp sử dụng chung hệ thống tài khoản

với các tài khoản sử dụng cho KTTC phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây:

Một là, tùy theo yêu cầu quản lý chi tiết từng đối tượng kế toán đã phản ánh

trên các tài khoản KTTC để chi tiết hóa theo cấp độ của tài khoản kế toán;

Hai là, tài khoản KTQT không nhất thiết chỉ phản ánh về giá trị tiền tệ mà có

thể phản ánh cả về hiện vật;

Ba là, việc xác định các tài khoản KTQT phải đảm bảo yêu cầu cung cấp đầy

đủ, kịp thời cho công tác quản trị từng chỉ tiêu quản trị đã được phê duyệt.

Tổ chức hệ thống sổ kế toán để hệ thống hóa và xử lý thông tin kế toán

Sổ kế toán là những mẫu sổ có kết cấu theo yêu cầu của quá trình xử lý và

cung cấp thông tin kế toán, dùng để ghi chép, hệ thống hóa và lưu giữ toàn bộ

nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động của đơn vị. Vì vậy,

cần phải tổ chức xây dựng mẫu sổ kế toán theo những nguyên tắc sau đây:

- Sổ kế toán phải được xây dựng có kết cấu khoa học, hợp lý, đảm bảo đầy

đủ các yếu tố như ngày, tháng ghi sổ, số hiệu và ngày tháng của chứng từ được ghi

49

sổ, số tiền được ghi sổ nhằm đảm bảo tính pháp lý của việc ghi sổ và có cơ sở cho

việc kiểm tra, kiểm soát khi cần thiết;

- Xây dựng kết cấu các mẫu sổ phù hợp với quy mô và đặc điểm cụ thể của

từng công ty.

Trong điều kiện ứng dụng tin học trong công tác kế toán, sổ kế toán phải

được xây dựng phù hợp với cơ chế hoạt động của máy tính nhằm đảm bảo việc ghi

nhận các thông tin từ các chứng từ kế toán vào sổ kế toán của hình thức kế toán

máy. Theo chế độ kế toán hiện hành, các doanh nghiệp có thể lựa chọn sử dụng các

mẫu sổ kế toán khác nhau không nhất thiết phải tuân theo một hình thức sổ nào điều

này tạo điều kiện hết sức cho các doanh nghiệp có thể vận dụng khai thác tối đa các

ứng dụng khi thiết kế các phần mềm kế toán. Doanh nghiệp được tự xây dựng biểu

mẫu sổ kế toán để sử dụng nhưng phải đảm bảo cung cấp thông tin về các giao dịch

kinh tế một cách minh bạch, đầy đủ, dễ kiểm tra, kiểm soát, đối chiếu.

Sổ kế toán được thiết kế mẫu theo yêu cầu quản lý nội bộ và theo từng chỉ

tiêu cụ thể. Các chỉ tiêu phản ánh trong các mẫu sổ phải đảm bảo cung cấp được

những thông tin chi tiết phục vụ cho việc lập báo cáo KTQT và phân tích thường

xuyên các chỉ tiêu kinh tế tài chính.

Ngoài số liệu thực tế, sổ KTQT còn cần thiết phải có phần ghi các chỉ tiêu dự

toán, kế hoạch nhằm đảm bảo cơ sở cho việc kiểm tra tình hình thực hiện dự toán,

thực hiện định mức theo các chỉ tiêu phản ánh trên các mẫu sổ. Đồng thời, ngoài

việc phản ánh các chỉ tiêu về giá trị còn phải phản ánh cả chỉ tiêu hiện vật.

Hệ thống sổ KTQT cần phải được đánh số hiệu cụ thể và có phần giải thích

cách ghi chép đối với từng chỉ tiêu theo từng mẫu sổ.

Hệ thống sổ kế toán là một tập hợp các sổ kế toán được đơn vị sử dụng. Tập

hợp các sổ kế toán này có mối liên hệ, liên kết với nhau trong quá trình thực hiện

các ghi chép kế toán ở đơn vị.

Hình thức sổ kế toán còn gọi là hình thức kế toán là biểu hiện tổng hợp về

cách thưc tổ chức hệ thống sổ kế toán sử dụng ở mỗi đơn vị, nó được thể hiện qua

việc xác định số lượng sổ; nội dung kết cấu các sổ; trình tự, phương pháp ghi sổ và

50

mối quan hệ giữa các sổ. Hình thức kế toán thực chất là hình thức tổ chức hệ thống

sổ kế toán, bao gồm số lượng các loại sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết, kết

cấu mẫu sổ và mối quan hệ kiểm tra, đối chiếu giữa các sổ kế toán, trình tự ghi chép

và tổng hợp số liệu để lập báo cáo kế toán. Tổ chức vận dụng hình thức kế toán

trong các doanh nghiệp sản xuất thực chất là tổ chức hệ thống sổ kế toán sử dụng

cho việc ghi chép KTTC và KTQT trong doanh nghiệp, nhằm thu nhận, xử lý, phân

tích và cung cấp thông tin kinh tế phục vụ cho quản lý công ty, bao gồm các sổ kế

toán tổng hợp, các sổ kế toán chi tiết đủ chủng loại, có kết cấu phù hợp, đảm bảo

mối quan hệ đối chiếu và phương pháp ghi chép hợp lý.

1.4.2.3. Tổ chức cung cấp thông tin kế toán

Đối tượng cần sử dụng thông tin kế toán

Thông tin kế toán là thông tin về toàn bộ quá trình hoạt động của doanh

nghiệp, phản ánh tình hình và hiệu quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp. Vì

vậy thông tin kế toán phải là thông tin hữu ích, cần thiết không thể thiếu phục vụ

cho rất nhiều đối tượng khác nhau. Có rất nhiều đối tượng quan tâm đến thông tin

kế toán đó là:

Thông qua các thông tin trên báo cáo tài chính cung cấp, các nhà quản lý

doanh nghiệp biết được tình hình sử dụng các loaị tài sản, lao động vật tư tiền vốn,

tình hình chi phí và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm phục vụ cho việc

điều hành, quản lý kịp thời cũng như việc phân tích đánh giá tình hình, kết quả hoạt

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó mà đề ra các biện pháp, quyết

định phù hợp về đường hướng phát triển của doanh nghiệp. (Các quyết định ngắn

hạn, dài hạn).

Những đối tượng có lợi ích trực tiếp đối với thông tin do kế toán cung cấp là

các chủ đầu tư, chủ nợ, các cổ đông, những đối tác liên doanh. Căn cứ vào thông tin

kế toán của doanh nghiệp họ có thể đánh giá được thực trạng và dự đoán tình hình

hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp để đưa ra được những

quyết định đầu tư, chính sách lãi suất, cho vay, góp vốn nhiều hay ít, đầu tư vào lĩnh

vực ngành nghề nào, chính sách đầu tư ra sao.

51

Thông tin kế toán cung cấp cho các cơ quan quản lý chức năng về tình hình

hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ đã qua. Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của

mình mà từng cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra giám sát, hoạt động của các

doanh nghiệp, kiểm tra tình hình thực hiện chính sách chế độ về quản lý kinh tế, tài

chính của doanh nghiệp:

+ Kiểm tra tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có tuân thủ

theo pháp luật hay không, có hoạt động kinh doanh theo đúng ngành nghề, lĩnh vực

đã đăng ký hay không?

+ Kiểm tra tình hình thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm với của doanh nghiệp

với Nhà nước thông qua xác định số thuế phải nộp, đã nộp, được khấu trừ, được

miễn giảm, cũng như quyết toán thuế và và các khoản đã nộp Nhà nước. Từ đó

quyết định truy thu, xử phạt, miễn giảm thuế,...

+ Các thông tin kế toán còn giúp cho cơ quan quản lý chức năng tổng hợp số

liệu, thông tin theo các chỉ tiêu kinh tế trong từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế.

Ngoài ra, các thông tin trên báo cáo tài chính công khai còn củng cố niềm tin

và sức mạnh cho công nhân viên của doanh nghiệp để họ nhiệt tình hăng say trong

lao động, tham gia đầu tư trái phiếu của Công ty phát hành.

Mỗi đối tượng sử dụng thông tin kế toán khác nhau đều có mục đích cụ thể

khác nhau vì vậy yêu cầu cung cấp thông tin kế toán cũng khác nhau.

Tổ chức lập các báo cáo để cung cấp thông tin kế toán

Báo cáo kế toán là phương tiện để truyền tải, cung cấp thông tin kế toán đến

các đối tượng sử dụng thông tin. Báo cáo kế toán là các báo cáo được lập trên cơ sở

tổng hợp số liệu, thông tin của kế toán.

Căn cứ vào tính chất pháp lý của báo cáo kế toán thì báo cáo được chia thành

báo cáo hai loại báo cáo tài chính và báo cáo KTQT.

Báo cáo KTTC: Là báo cáo kế toán mang tính thống nhất bắt buộc, có giá trị

pháp lý cao. Các doanh nghiệp phải lập theo quy định trong chế độ báo cáo kế toán,

nộp báo cáo theo thời hạn quy định.

Báo cáo KTQT: Trên cơ sở toàn bộ thông tin đã tập hợp trong nội bộ doanh

52

nghiệp, thiết lập hệ thống báo cáo kế toán nội bộ gồm các báo cáo nhanh, báo cáo

định kỳ, báo cáo đột xuất,... ngoài tổng hợp cân đối số liệu từ các sổ sách kế toán,

KTQT còn sử dụng kỹ thuật thống kê, phương pháp toán... để phân tích các chỉ tiêu

thực hiện mục tiêu quản lý doanh nghiệp, giúp cho nhà quản trị ra quyết định đúng

đắn, hiệu quả hơn.

Báo cáo KTQT không mang tính chất thống nhất bắt buộc. Báo cáo KTQT

nhằm cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu quản lý nội bộ ngành, nội bộ đơn vị. Chế

độ quy định về báo cáo này chỉ mang tính hướng dẫn. Theo nội dung kinh tế của

thông tin kế toán thì báo cáo kế toán cụ thể khác nhau. Ví dụ: Báo cáo KTTC gồm:

- Bảng cân đối kế toán;

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh;

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ;

- Bản thuyết minh báo cáo tài chính.

Báo cáo quản trị gồm: Báo cáo hàng tồn kho, báo cáo tăng, giảm TSCĐ, báo

cáo chi phí giá thành của từng loại sản phẩm. Báo cáo doanh thu, lãi, lỗ; Báo cáo

các khoản công nợ.

Căn cứ vào kỳ lập báo cáo thì báo cáo kế toán bao gồm:

Báo cáo kế toán định kỳ và báo cáo kế toán thường xuyên;

Căn cứ vào cơ sở lập báo cáo, báo cáo kế toán trong doanh nghiệp chia thành:

Báo cáo thực hiện và báo cáo dự báo.

Tổ chức lập báo cáo tài chính

Tổ chức lập báo cáo tài chính cần phải dựa vào các quy định về mẫu biểu,

phương pháp lập đã được quy định để phân công và hướng dẫn các bộ phận liên

quan thực hiện. Trên cơ sở báo cáo tài chính đã lập và các tài liệu khác, công ty

thực hiện phân tích báo cáo nhằm cung cấp được những thông tin hữu ích phục vụ

cho công tác quản lý của công ty. Đối với các báo cáo tài chính, công ty phải lập

vào cuối niên độ kế toán; trường hợp pháp luật có quy định lập báo cáo tài chính

theo kỳ kế toán khác thì đơn vị kế toán phải lập theo kỳ kế toán đó. Báo cáo tài

chính phải được lập đúng nội dung, phương pháp và trình bày nhất quán giữa các kỳ

53

kế toán; trường hợp báo cáo tài chính trình bày khác nhau giữa các kỳ kế toán thì

phải thuyết minh rõ lý do.

Tổ chức lập báo cáo quản trị

Đối với báo cáo KTQT, công ty căn cứ vào yêu cầu cụ thể để lập theo mẫu

biểu và theo thời điểm thích hợp nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin phục vụ quản trị

nội bộ. Báo cáo KTQT cũng có thể được lập theo định kỳ hoặc thường xuyên. Số

lượng báo cáo KTQT phải lập nhiều hay ít tùy thuộc vào yêu cầu quản lý nội bộ.

Nội dung thông tin cần báo cáo và kết cấu mẫu biểu báo cáo KTQT rất đa dạng,

gồm nhiều loại phù hợp với yêu cầu quản lý nội bộ từng bộ phận trong công ty.

Song, có thể khái quát thành các báo cáo sau:

- Các báo cáo phục vụ yêu cầu quản trị tài sản của công ty.

Đó là các báo cáo phản ánh số hiện có và tình hình biến động của từng loại

vốn kinh doanh, từng loại nguồn vốn kinh doanh cụ thể nhằm cung cấp thông tin

giúp nhà quản lý công ty nắm chắc và quản lý chặt chẽ được tài sản; kiểm tra, giám

sát được tình hình sử dụng vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của công ty.

Thuộc loại báo cáo này gồm các báo cáo kế toán cụ thể như báo cáo tăng, giảm tài

sản cố định; báo cáo tình hình xuất nhập vật tư, thành phẩm, hàng hóa; báo cáo tình

hình công nợ theo từng tài khoản phản ánh công nợ; báo cáo tăng, giảm theo từng

nguồn vốn. Kết cấu mẫu loại báo cáo này được xây dựng dựa trên cơ sở quan hệ cân

đối của từng loại vốn, từng nguồn vốn.

- Các báo cáo phục vụ yêu cầu phân cấp quản lý kinh tế, tài chính nội bộ. Đó

là các báo cáo phản ánh các chỉ tiêu phân cấp nội bộ như báo cáo doanh thu bán

hàng theo địa điểm kinh doanh, hoặc theo nhóm hàng; báo cáo chi phí trực tiếp, báo

cáo kết quả kinh doanh theo từng đơn vị nội bộ...

Các báo cáo kế toán phục vụ yêu cầu quản trị kinh doanh.

Đó là các báo cáo được lập trên cơ sở hệ thống hóa thông tin KTQT phục vụ

yêu cầu quản trị kinh doanh của doanh nghiệp. Báo cáo này có thể được chia làm 3

loại: các báo cáo phản ánh về giá trị; các báo cáo phản ánh về hiện vật; các báo cáo

kết hợp phản ánh về giá trị và hiện vật như báo cáo chi phí sản xuất và giá thành sản

54

phẩm; báo cáo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp; báo cáo chi phí nhân công trực tiếp;

báo cáo chi phí sản xuất chung; báo cáo chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh

nghiệp, báo cáo kết quả kinh doanh theo từng nhóm mặt hàng...

Tổ chức cung cấp thông tin trên báo cáo kế toán

Mục đích cuối cùng của kế toán là cung cấp thông tin cho các đối tượng sử

dụng. Thông tin trên báo cáo kế toán phải được cung cấp cho các đối tượng sử dụng

một cách đầy đủ, kịp thời. Tùy theo từng loại báo cáo và tùy theo từng đối tượng sử

dụng thông tin để tổ chức cung cấp thông tin cho phù hợp.

Đối với báo cáo tài chính cần thiết phải tổ chức lập và gửi cho các đơn vị

nhận báo cáo theo đúng thời gian đã quy định đối với từng loại báo cáo tài chính

(Báo cáo năm hay báo cáo giữa niên độ). Đồng thời phải công khai các thông tin tài

chính của doanh nghiệp theo những nội dung đã quy định.

Đối với báo cáo KTQT phải tổ chức lập và gửi cho các nhà quản trị doanh

nghiệp một cách kịp thời. Từng báo cáo KTQT phải được lập, phân tích tỉ mỉ và gửi

cho nhà quản trị ở phạm vi nào, lĩnh vực nào.

Tổ chức phân tích thông tin kế toán

Để đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng ngoài nhiệm vụ

cung cấp thông tin kế toán, tổ chức công tác kế toán còn phải nhiệm vụ hết sức quan

trọng đó là phân tích thông tin kế toán. Để phân tích được các thông tin kế toán, các

phương pháp thường sử dụng đó là: Phương pháp so sánh: So sánh giữa các thông

tin kế toán giữa thực tế với kế hoạch; so sánh các thông tin kế toán giữa các thời

điểm với nhau để đánh giá sự biến động cũng như khả năng, xu hướng phát triển

của doanh nghiệp; so sánh thông tin kế toán giữa các phương án sản xuất khác nhau

để các nhà quản trị có thể tìm ra phương án tối ưu và ra quyết định kinh tế kịp thời.

Phương pháp phân tích nhân tố: Phương pháp này thường được dùng để phân tích

thông tin của KTQT, phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ doanh nghiệp. Phân tích các

chỉ tiêu tổng hợp và phân tích các nhân tố cụ thể tác động vào chỉ tiêu tổng hợp để

tìm ra mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố, từ đó giúp cho đối tượng sử dụng thông

tin có thể xem xét ra các quyết định phù hợp.

55

+ Tổ chức phân tích thông tin quá khứ: Căn cứ vào thông tin quá khứ và

thông tin tương lai đã thu nhập được, kế toán tiến hành so sánh phân tích tình hình

thực hiện kế hoạch, thực hiện dự toán chi phí sản xuất kinh doanh. Thông qua phân

tích thông tin quá khứ, có thể xác định được từng nhân tố, nguyên nhân ảnh hưởng,

từ đó nhà quản trị đưa ra những giải pháp khắc phục những tồn tại, khai thác khả

năng tiềm tàng để sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp hiệu quả hơn.

+ Tổ chức phân tích thông tin tương lai, cung cấp thông tin để tư vấn cho nhà

quản trị. KTQT đặc biệt quan tâm tới phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng -

lợi nhuận, phân tích điểm hòa vốn, phục vụ cho ra quyết định ngắn hạn như: Quyết

định tiếp tục hay chấm dứt sản xuất kinh doanh một bộ phận, quyết định tư sản xuất

hay mua ngoài, quyết định bán ngay nửa thành phẩm hay sản xuất thành phẩm rồi

mới bán, quyết định trong điều kiện năng lực sản xuất kinh doanh bị giới hạn, quyết

định chấp nhận một đơn đặt hàng hay không.

Bên cạnh đó, kế toán còn cung cấp, phân tích thông tin bằng những phương

pháp nhất định để giúp nhà quản trị ra quyết định dài hạn, lựa chọn dự án đầu tư.

Sau khi lập các báo cáo tài chính, nhiệm vụ quan trọng của kế toán là tổ chức

phân tích báo cáo tài chính nhằm cung cấp được các thông tin hữu ích phục vụ công

tác quản lý công ty, đồng thời cung cấp các thông tin cần thiết cho công tác quản lý

chung của công ty, tổ chức công tác phân tích báo cáo tài chính trong các doanh

nghiệp sản xuất là việc thiết lập trình tự các bước công việc cần tiến hành trong quá

trình phân tích. Để phân tích báo cáo kế toán thực sự phát huy hiệu quả cần tổ chức

khoa học hợp lý, phù hợp với đặc điểm kinh doanh và loại hình công ty. Theo đó, tổ

chức phân tích báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp sản xuất thường được tiến

hành qua các bước sau:

- Tổ chức lập kế hoạch phân tích

Tổ chức lập kế hoạch phân tích là khâu đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng,

ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tác phân tích. Lập kế hoạch phân tích bao

gồm việc xác định mục tiêu, chương trình phân tích. Kế hoạch phân tích phải xác

định rõ nội dung phân tích, phạm vi phân tích, thời gian thực hiện và những thông

56

tin cần thiết thông qua các chỉ tiêu phân tích.

- Tổ chức thực hiện công tác phân tích

Tổ chức thực hiện công tác phân tích là khâu triển khai thực hiện kế hoạch

phân tích đã đề ra, bao gồm việc thu thập nguồn tài liệu, lựa chọn và tính toán các

chỉ tiêu phân tích, xác định nguyên nhân và nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân

tích. Kế toán trưởng phải phân công trách nhiệm cụ thể cho các bộ phận kế toán và

từng người làm kế toán trong việc thu nhận, cung cấp và tính toán phân tích đối với

từng chỉ tiêu cụ thể để công tác phân tích đạt hiệu quả cao nhất.

- Tổ chức báo cáo kết quả phân tích

Tổ chức báo cáo kết quả phân tích là khâu cuối cùng của công tác phân tích

báo cáo tài chính. Trên cơ sở các tính toán, phân tích, dự báo tình hình tài chính và

hoạt động kinh doanh, cán bộ làm công tác phân tích phải nêu rõ nguyên nhân và

trình bày kiến nghị, giúp cho nhà quản lý có cơ sở tin cậy cho việc đề ra các quyết

định đúng đắn trong điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

Ngoài việc tổ chức phân tích báo cáo tài chính định kỳ, công ty cần thiết phải

tổ chức phân tích báo cáo tài chính thường xuyên theo định kỳ ngắn nhằm xử lý và

cung cấp kịp thời thông tin phục vụ cho công tác điều hành và các quyết định kinh

doanh của lãnh đạo công ty, việc này hết sức cần thiết. Phân tích thường xuyên chủ

yếu dựa vào số liệu định mức kỹ thuật và số liệu thực tế do KTQT cung cấp.

1.4.3. Tổ chức kiểm tra kế toán

Tổ chức kiểm tra kế toán là một trong những nội dung quan trọng của tổ

chức công tác kế toán trong doanh nghiệp sản xuất nói riêng và trong tất cả các

doanh nghiệp nói chung nhằm đảm bảo thực hiện nghiêm túc Luật kế toán, Chế độ

kế toán, đồng thời ngăn ngừa hiện tượng tham ô, lãng phí hoặc kịp thời sửa chữa,

bổ sung, chỉnh sửa những vấn đề còn chưa hoàn thiện.

Nội dung kiểm tra kế toán bao gồm:

- Kiểm tra việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên chứng từ kế

toán, sổ kế toán và báo cáo kế toán đảm bảo thực hiện đúng chế độ, chính sách quản

lý tài chính của Nhà nước và những quy định cụ thể của ngành và của công ty.

57

- Kiểm tra việc tổ chức, chỉ đạo công tác kế toán trong công ty, việc thực

hiện trách nhiệm của các bộ phận kế toán trong việc cung cấp thông tin; kiểm tra kết

quả công tác của bộ máy kế toán, mối quan hệ công tác giữa các bộ phận kế toán

với nhau và với các bộ phận chức năng khác có liên quan.

Công tác kiểm tra kế toán nội bộ công ty do giám đốc và kế toán trưởng chịu

trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo. Tùy theo quy mô của công ty mà có thể bố trí thành

bộ phận kiểm tra riêng. Trường hợp công ty có quy mô không lớn thì có thể bố trí

công tác kiểm tra kiêm nhiệm cùng với các bộ phận kế toán thích hợp.

Phương pháp kiểm tra kế toán chủ yếu được áp dụng là đối chiếu số liệu giữa

chứng từ kế toán, sổ kế toán và báo cáo kế toán; giữa số liệu kế toán tổng hợp và số

liệu kế toán chi tiết; giữa số liệu trên sổ kế toán với số liệu thực tế.

Căn cứ để kiểm tra kế toán là các chứng từ kế toán, sổ kế toán, báo cáo kế

toán và các chế độ, định mức kinh tế, kỹ thuật trong từng trường hợp cụ thể.

Kế toán trưởng căn cứ vào tình hình thực tế về đội ngũ người làm kế toán để

bố trí, sắp xếp kiểm tra kế toán theo từng khâu phù hợp nhằm đảm bảo số liệu ghi

chép kế toán phản ánh trung thực, khách quan, kịp thời mọi hoạt động trong công ty

tùy thuộc vào yêu cầu quản trị trong từng trường hợp cụ thể của từng doanh nghiệp.

1.5. Kinh nghiệm tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất

của nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương

1.5.1. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán ở các doanh nghiệp sản xuất của

Nhật Bản

“Hiện nay trên địa bàn tỉnh Hải Dương có 289 dự án đầu tư nước ngoài đến

từ 24 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng số vốn đăng ký 6.380 triệu USD. Hầu hết

các doanh nghiệp đang hoạt động trong trong các lĩnh vực đó là sản xuất giày dép,

may mặc, lắp ráp linh kiện điện tử, sản xuất máy bơm, sản xuất các thiết bị điều

khiển.[43]. Một trong những nước có đầu tư lớn vào Hải Dương phải kể đến là Nhật

Bản với 38 công ty, tổng số vốn đầu tư lên tới hơn 900 triệu USD. (Xem phụ lục số

23). Với đất nước có nền kinh tế chủ yếu theo hướng tư nhân hóa. Người Nhật nổi

tiếng là những con người rất cẩn thận, làm việc nghiêm túc, tươm tất, yêu bản thân

58

và tiết kiệm. Đặc biệt là ý thức tổ chức kỷ luật rất cao. Qua nghiên cứu khảo sát ở

một số doanh nghiệp của Nhật như: Công ty TNHH Sumidenso Việt Nam là doanh

nghiệp thuộc tập đoàn Sumitomo - Nhật Bản tập đoàn lớn sản xuất và kinh doanh

toàn cầu với các sản phẩm điện, điện tử công nghiệp cao, Công ty TNHH công

nghiệp Brother Việt Nam. Tổ chức công tác kế toán ở các công ty sản xuất của Nhật

Bản tại Hải Dương có thể khái quát theo một số điểm cơ bản sau đây:

Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán là Đôla Mỹ (USD), Việt Nam đồng, các

đồng tiền khác với USD được quy đổi theo giá thực tế ngày phát sinh giao dịch.

Năm tài chính của các Công ty hiện đang được áp dụng trùng với năm

Dương lịch (từ ngày 01 tháng 01 đến 31 tháng 12 hàng năm).

Thứ nhất về tổ chức bộ máy kế toán: Tổ chức bộ máy kế toán gọn nhẹ do

việc áp dụng tin học trong công tác kế toán ở mức độ cao. Mặc dù số lượng công

nhân và quy mô sản xuất rất lớn như Công ty TNHH Sumidenso, Công ty TNHH

Brother Việt Nam nhưng tổ chức bộ máy kế toán hết sức gọn nhẹ. Trong bộ phận kế

toán được phân chia có những nhân viên chuyên làm KTTC và có những nhân viên

chuyên xử lý, phân tích số liệu phục vụ KTQT. Các tập đoàn của Nhật Bản thường

sử dụng phần mềm tích hợp bao gồm cả quản lý hành chính, quản lý nhân sự và

phần mềm kế toán. Phần mềm tích hợp này thể hiện tính ưu việt của nó khi nhà

quản trị có thể vào từng phần hành một để khai thác kiểm tra số liệu, thông tin. Còn

đối với người sử dụng phần mềm sẽ hạn chế quyền chia sẻ (người sử dụng chỉ được

chia sẻ mức độ giới hạn do tập đoàn quy định). Ngoài ra tập đoàn còn sử dụng một

số phần mềm quản lý những phần hành nhỏ. Người Nhật nổi tiếng là thích làm việc

nhóm, rất chú trọng đến yếu tố tập thể. Vì vậy, từng khâu, từng phần hành kế toán

đều được phân công hết sức cụ thể để tất cả mọi người cùng hiểu, cùng làm một

cách chính xác, kịp thời.

Về tổ chức thực hiện qui trình KTTC và KTQT: Tất cả các quy định liên

quan đến các thủ tục kế toán đều được công khai một cách minh bạch: quy định

chung; quy trình quản lý tài sản; quy định về chứng từ thanh toán; quy trình mua

hàng; quy trình thuê ngoài sửa chữa tài sản; quy trình tạm ứng; quy trình thanh toán;

59

chính sách tiền lương, thưởng (xem phụ lục số 19).

Thứ hai, về tổ chức thu nhận thông tin ban đầu, tổ chức hệ thống chứng từ kế

toán gồm việc tổ chức ghi chép ban đầu các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực hiện

quy trình luân chuyển chứng từ, kiểm tra và lưu trữ chứng từ, lựa chọn các mẫu

chứng từ sử dụng cho KTTC và KTQT. Hầu hết các công ty của Nhật Bản đều quy

định và công khai từng phần hành công việc của kế toán.

Đặc biệt các công ty sản xuất của Nhật Bản sử dụng rất nhiều chứng từ nội

bộ (chứng từ tiền mặt, chứng từ chi phí, chứng từ TSCĐ, chứng từ mua hàng, trong

từng chứng từ lại được chi tiết cụ thể). Việc kiểm soát chứng từ hết sức chặt chẽ,

nghiêm ngặt. Sự kiểm tra, kiểm soát ít nhất được thực hiện từ hai người trở lên.

Việc kiểm soát chặt chẽ chứng từ nội bộ rất quan trọng dẫn đến hạn chế tối đa các

sai sót trong quá trình hạch toán và giúp ích rất nhiều trong quá trình thanh tra, kiểm

tra. Bất kỳ một khâu nào cũng được quy định hết sức cụ thể, chi tiết.

Thứ ba, tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin: tài khoản kế toán được xây

dựng riêng biệt ở mỗi tập đoàn. Các tập đoàn nếu có trụ sở ở các nước trên thế giới

đều sử dụng chung một hệ thống tài khoản. Tài khoản kế toán của tập đoàn thường

có nhiều ký tự: 5, 9 ký tự và được dùng thống nhất rất thuận tiện cho việc theo dõi

của nhà quản lý.

Các công ty căn cứ vào đặc điểm quản lý, đặc điểm sản xuất và yêu cầu cụ

thể của mình để thiết kế các mẫu sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết phù hợp.

Hệ thống sổ kế toán được thiết kế theo mẫu riêng của từng công ty.

Các mẫu sổ kế toán tổng hợp thường mở cho các tài khoản KTTC, phản ánh

đối tượng kế toán tổng hợp nhằm cung cấp thông tin về KTTC phục vụ cho việc lập

báo cáo tài chính.

Các mẫu sổ kế toán chi tiết cụ thể thường mở cho các tài khoản KTQT, phản

ánh đối tượng kế toán một cách chi tiết cụ thể nhằm cung cấp thông tin về KTQT

phục vụ cho việc lập báo cáo KTQT và cung cấp thông tin cho chủ doanh nghiệp

điều hành thường xuyên quá trình hoạt động của doanh nghiệp hệ thống sổ kế toán

được thiết kế theo mẫu riêng của từng doanh nghiệp phục vụ cho việc lập báo cáo

60

KTQT và cung cấp thông tin cho chủ doanh nghiệp điều hành thường xuyên quá

trình hoạt động của doanh nghiệp.

Thứ tư, về tổ chức hệ thống báo cáo ở các doanh nghiệp: Các doanh nghiệp

đều thiết kế mẫu biểu báo cáo, lập trình các phần mềm để khi nhập dữ liệu kế toán

phản ánh vào các tài khoản KTTC và KTQT sẽ được tự động chuyển vào các sổ kế

toán có liên quan. Cuối kỳ, các thông tin của KTTC cung cấp cho việc lập báo cáo

tài chính, các thông tin của KTQT cung cấp cho việc lập báo cáo quản trị. Đặc biệt,

các công ty của Nhật Bản rất chú trọng đến báo cáo KTQT. Báo cáo quản trị được

lập và phân tích một cách thực sự theo yêu cầu của nhà quản trị yếu tố chi phí, từng

tháng, từng quý, từng năm và được phân tích rất tỉ mỉ, cụ thể giúp nhà quản trị ra

quyết định đúng đắn, kịp thời.

Thứ năm, về tổ chức kiểm tra kế toán: Các công ty ở Nhật Bản đều rất chú

trọng công tác kiểm tra kế toán điều này xuất phát từ bản tính cẩn thận, ưa sự chỉnh

chu của người Nhật. Công tác kiểm tra kế toán được thực hiện hàng tháng, quý,

năm. Tất cả các báo cáo tài chính của các công ty đều được kiểm tra hết sức nghiêm

ngặt. Kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập. Tổ chức quản lý

thông tin của người Nhật hết sức khoa học, đảm bảo bí mật những thông tin cần

thiết. Người Nhật kiểm soát chặt chẽ và qui định những thư điện tử được phép gửi

cho ai và ai được phép gửi. Tất cả các công việc, phần hành đều được an toàn tuyệt

đối, các nhân viên không được phép sao chép bất kỳ tài liệu nào ra khỏi máy tính tại

Công ty.

1.5.2. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại các công ty sản xuất của Hàn Quốc

Trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay có khoảng 20 doanh nghiệp của Hàn

Quốc hoạt động (có danh sách kèm theo) trên một số lĩnh vực như: sản xuất hàng

may mặc, giày da, thiết bị điện tử. Hầu hết các Công ty của Hàn Quốc hoạt động

trên địa bàn Hải Dương đều là những Công ty có tiềm lực tài chính mạnh như: Công

ty mẹ Công ty TNHH Good Financial với vốn góp 2.595.000 USD, đội ngũ cán bộ

công nhân viên là trên 5.000 người đều là cán bộ có kinh nghiệm và công nhân lành

nghề, Công ty Samil Hà Nội Vina với trên 3000 lao động… Đại bộ phận các Công

61

ty này được xây dựng theo mô hình tương tự như các thành viên của Công ty mẹ tại

Hàn Quốc - đó là các mô hình đã được kiểm nghiệm thành công.

Qua khảo sát một số doanh nghiệp của Hàn Quốc trên địa bàn tỉnh Hải

Dương có thể khái quát như sau:

Về tổ chức bộ máy quản lý: Các Công ty được tổ chức theo mô hình Công ty

TNHH, Công ty TNHH một thành viên.

Bộ máy kế toán được tổ chức hết sức đơn giản gọn nhẹ, khoa học đảm bảo

đáp ứng được các yêu cầu cung cấp thông tin khi cần thiết. Công tác tuyển chọn

những con người làm kế toán hết sức công khai, minh bạch và có các tiêu chí rõ

ràng. Vì việc mà tuyển người đáp ứng công việc. Trong bộ máy kế toán cũng kết

hợp KTTC và KTQT trên cùng phần hành kế toán. Việc tập huấn thông tư, hướng

dẫn chuẩn mực kế toán cho nhân viên kế toán hết sức được chú trọng. 100% các

nhân viên kế toán trong các công ty này tham gia tích cực tập huấn chế độ kế toán

theo TT200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2014 của Bộ trưởng Bộ tài chính.

Về tổ chức chứng từ kế toán: Các doanh nghiệp của Hàn Quốc thường sử

dụng rất nhiều chứng từ điện tử đó là các chứng từ liên quan đến hoạt động xuất

nhập khẩu hàng hóa, các hợp đồng làm việc với hải quan (mở tờ khai, lấy tờ khai.,

kiểm hàng). Việc vận dụng để xử lý các chứng từ đảm bảo linh hoạt có như vậy

người Hàn Quốc mới thành công tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Về tổ chức tài khoản kế toán: Với đặc thù là các doanh nghiệp sản xuất có

quy mô lớn các doanh nghiệp sản xuất của Hàn Quốc trên địa bàn tỉnh Hải Dương

đều sử dụng chế độ kế toán theo QĐ15- BTC nay là TT200/2014/TT-BTC ban hành

ngày 22/12/2014 của Bộ trưởng Bộ tài chính. Các tài khoản được mã hóa theo yêu

cầu quản lý. Ví dụ TK 627709, 627704…

Về kiểm tra kế toán: Báo cáo tài chính hàng năm đều được kiểm toán bởi

Công ty TNHH Kiểm toán độc lập Quốc gia Việt Nam và năm 2014 được kiểm toán

bởi Công ty TNHH Kiểm toán ASEAN, nên đảm bảo chất lượng về số liệu.

1.5.3. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại các công ty sản xuất của Đài Loan

Trên địa bàn tỉnh Hải Dương có rất nhiều doanh nghiệp của Đài Loan có

62

khoảng 20 doanh nghiệp đang hoạt động trên các lĩnh vực: sản xuất linh kiện điện

tử, may mặc, linh kiện ô tô, đồ chơi, đồ dùng điện tử, đồ nhựa tiêu dùng, máy nối,

linh kiện điện thoại, thức ăn chăn nuôi. Qua khảo sát tổ chức công tác kế toán của

các doanh nghiệp sản xuất của Đài Loan trên địa bàn tỉnh Hải Dương có thể khái

quát như sau:

Về tổ chức bộ máy kế toán: Các Công ty được tổ chức bộ máy kế toán kiểu

tập trung, kết hợp KTTC và KTQT trong từng phần hành kế toán. Niên độ kế toán

bắt đầu 01/01 kết thúc 31/12; đồng tiền sử dụng trong kế toán VNĐ.

Về tổ chức chứng từ kế toán: Các Công ty của Đài Loan đều lập kế hoạch,

trình tự luân chuyển chứng từ.

Về tổ chức tài khoản kế toán: Tài khoản kế toán được thiết kế trên cơ sở các

tài khoản kế toán ban hành theo TT200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ

trưởng Bộ tài chính, trên cơ sở các tài khoản theo quy định của Nhà nước các doanh

nghiệp của Đài Loan đã thiết kế các tài khoản chi tiết có 6 chữ số đáp ứng yêu cầu

quản lý, ví dụ TK 622.101 chi phí tiền lương nhân công trực tiếp, TK622.102 chi

phí tăng ca.

Về tổ chức lập báo cáo kế toán: Các doanh nghiệp sản xuất của Đài Loan

luôn chấp hành tốt chế độ báo cáo tài chính theo quy định của Nhà nước đồng thời

rất chú trọng đến báo cáo quản trị. (Xem phụ lục số 22).

Về công tác kiểm tra kế toán: Công tác kiểm tra kế toán được thực hiện

thường xuyên theo tháng theo hai hình thức kiểm tra đường thẳng và kiểm tra theo

đường chéo. Công tác kiểm tra chứng từ được lập thành quy trình kiểm tra kế toán

viên lập, kế toán trưởng kiểm tra, chủ tài khoản duyệt ký. Kiểm tra theo đường

thẳng: Ví dụ Phòng thu mua ký hợp đồng mua hàng, người bán giao hàng và xuất

hóa đơn, phòng thu mua tập hợp chứng từ (hợp đồng, phiếu nhập kho, hóa đơn) làm

phiếu thanh toán, phòng kế toán nhận chứng từ thanh toán kiểm tra các chứng từ,

hoá đơn nếu hợp lệ sẽ làm phiếu chi kế toán trưởng và chủ tài khoản ký duyệt và

thanh toán.

Kiểm tra chéo: Được thực hiện bởi kiểm toán viên nội bộ. Tất cả các quy

63

trình và phạm vi ký duyệt chứng từ sẽ được kiểm toán nội bộ kiểm tra. Người ký

hợp đồng có đúng thẩm quyền không? Các lưu trình nhập hàng có sai sót gì không?

Người ký phiếu thanh toán, thu mua có đúng thẩm quyền không? Các số liệu của kế

toán có khớp đúng với số liệu sao kê của Ngân hàng không?

Về phân tích các báo cáo kế toán: Các Công ty sản xuất của Đài Loan rất chú

trọng đến việc phân tích báo cáo kế toán. Việc phân tích báo cáo kế toán được thực

hiện hàng tháng đó là chỉ tiêu tiền, công nợ, hàng tồn kho, nợ vay.

1.5.4. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại các công ty sản xuất của Mỹ

Mỹ là nước có nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ. Bản thân không

tham gia vào việc ban hành các chuẩn mực kế toán quốc tế. Việc ban hành các

chuẩn mực kế toán do Hiệp hội kế toán Mỹ trực tiếp ban hành và công bố. Theo

Hiệp hội này định nghĩa kế toán là quá trình nhận biết, đo lường và truyền đạt các

thông tin đánh giá và đưa ra quyết định kinh doanh. Những thông tin này được diễn

đạt bằng đơn vị tiền tệ. Có thể khái quát các chức năng của kế toán như sau:

+ Quan sát các hoạt động đo lường các sự kiện và các quá trình kinh tế bằng

thước đo giá trị thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh;

+ Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được ghi chép tập hợp lại sau đó được

phân loại và được tổng hợp theo từng đối tượng;

+ Lập các báo cáo KTTC và các báo cáo quản trị nhằm cung cấp thông tin

cho các đối tượng quan tâm.

Với các chức năng trên tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp ở

Mỹ thường có các đặc điểm như sau:

Nhà nước không xây dựng hệ thống tài khoản thống nhất bắt buộc. Các

doanh nghiệp dựa vào loại hình kinh doanh và số lượng nghiệp vụ kinh tế phát sinh

nhiều hay ít để tổ chức xây dựng các tài khoản kế toán đáp ứng yêu cầu của KTTC

và KTQT. Doanh nghiệp tự đặt tên cho tài khoản và số hiệu của chúng. Các tài

khoản của mỗi doanh nghiệp đều được xây dựng trong mối quan hệ với báo cáo tài

chính đó là tài khoản thuộc bảng cân đối kế toán và tài khoản thuộc báo cáo kết quả

hoạt động kinh doanh. Nguyên tắc xây dựng tài khoản trong doanh nghiệp vừa đảm

64

bảo tuân thủ chuẩn mực kế toán và các nguyên tắc kế toán được thừa nhận. Phải có

đủ các loại tài khoản khác nhau để phản ánh được tính đa dạng của đối tượng kế

toán, đồng thời cung cấp đầy đủ thông tin cho nhà quản lý. Phải thể hiện được tính

hai mặt của đối tượng kế toán là tính độc lập và thống nhất giữa tài sản và nguồn

hình thành tài sản, giữa thu và chi. Phải thể hiện được tính vận động của các đối

tượng kế toán qua các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, kinh doanh. Các

tài khoản kế toán được xây dựng một cách linh hoạt phù hợp với đặc điểm hoạt

động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp.

Tổ chức xây dựng, ghi chép vào sổ kế toán: Sổ kế toán được thiết kế thành

nhiều loại để phản ánh đầy đủ thông tin cho nhà quản lý theo thời gian và theo đối

tượng. Việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào tài khoản kế toán thường

được chia theo các khâu phần hành ví dụ; khâu mua hàng, khâu bán hàng, khâu sản

xuất, khâu xác định kết quả kinh doanh, khâu phân phối lợi nhuận.

Tổ chức báo cáo tài chính và báo cáo KTQT: Hệ thống kế toán Mỹ bắt buộc

các doanh nghiệp phải lập các báo cáo kế toán theo chế độ quy định về thời gian lập

cũng như về mẫu của các báo cáo. Các báo cáo tài chính bắt buộc hiện nay bao

gồm: Bảng cân đối kế toán (Balance Sheet), báo cáo kết quả kinh doanh (Income

Statement), Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash Flows) và báo cáo nguồn vốn chủ sở

hữu (Statement of Owners Equity). Ngoài các báo KTTC trên doanh nghiệp còn lập

các báo cáo quản trị tùy theo yêu cầu quản lý.

1.5.5. Bài học kinh nghiệm về tổ chức công tác kế toán cho các doanh nghiệp

sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất giày trên địa bàn tỉnh

Hải Dương thường được tổ chức công tác kế toán đặc biệt là kế toán quản trị theo

yêu cầu bắt buộc của công ty mẹ và được triển khai một cách thống nhất trong Tập

đoàn. Qua nghiên cứu tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp ở một số

nước trên thế giới có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu cho tổ chức

công tác kế toán trong các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp sản xuất

giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng như sau:

65

Một là, bất kể loại hình doanh nghiệp nào thì kế toán cũng đều được coi là

một trong những công cụ quan trọng để quản lý kinh tế tài chính. KTQT không thể

thiếu trong tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp. Tổ chức công tác kế

toán trong các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa

bàn tỉnh Hải Dương nói riêng đều bao gồm các công việc tổ chức KTTC và tổ

chức KTQT;

Hai là, tổ chức bộ máy kế toán phải gọn, nhẹ, phù hợp với đặc điểm của từng

đơn vị nhằm đảm bảo cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng và thông tin

cho công tác quản trị doanh nghiệp, đối với các doanh nghiệp sản xuất giày nên tổ

chức theo mô hình kết hợp vừa KTTC vừa KTQT trong cùng một bộ máy nhằm sử

dụng nhân lực kế toán và tổ chức thông tin kế toán nhanh nhất hiệu quả nhất. Từng

phần hành phải phân công rõ ràng đảm bảo nâng cao tinh thần trách nhiệm, tránh

chồng chéo trong thu nhận xử lý cung cấp thông tin.

Ba là, tổ chức KTTC nhằm thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin

về hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị một cách tổng quát, phục vụ cho các đối

tượng sử dụng thông tin của doanh nghiệp trong quan hệ kinh tế cũng như phục vụ

công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan hữu quan đối với mọi mặt hoạt động

của công ty. Vì vậy, cần sử dụng các tài khoản KTTC, sổ kế toán và báo cáo kế toán

tổng hợp. Thông tin của KTTC cần được công khai, minh bạch.

Bốn là, tổ chức KTQT nhằm thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin

về hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp một cách chi tiết, cụ thể theo yêu

cầu quản lý của từng doanh nghiệp. Do đó, tổ chức công tác KTQT cần sử dụng các

tài khoản kế toán, sổ kế toán và báo cáo KTQT. Thông tin của KTQT phục vụ cho

công tác quản lý nội bộ nên thường được giữ bí mật và được phân tích một cách

thường xuyên, liên tục giúp nhà quản lý có các quyết định đúng đắn trong kinh

doanh. Điều đặc biệt là các công ty của Nhật rất quan tâm đến KTQT và đặt lên

hàng đầu. Mặt khác, thông tin của KTQT là những thông tin rất hữu ích mà nhờ đó

nhà quản trị có những quyết định kịp thời phù hợp.

Năm là, phát huy hơn nữa vai trò của KTQT trong việc lập và phân tích dự

66

toán nhất là dự toán chi phí (Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, Chi phí nhân công

trực tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phí dự toán sản xuất, dự toán tiền).

Sáu là, tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên

địa bàn tỉnh Hải Dương phải đảm bảo tuân thủ các Nguyên tắc, Chuẩn mực và Chế

độ kế toán, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản trị cụ thể từng chỉ tiêu quản trị của mỗi

doanh nghiệp.

Bảy là, một số nội dung kế toán không thể tách biệt giữa KTTC và KTQT.

Vì vậy, trong quá trình tổ chức công tác kế toán cần chú ý đến đặc điểm này để xây

dựng tài khoản kế toán phù hợp. Không nhất thiết phải xây dựng riêng biệt hệ thống

tài khoản KTTC và hệ thống tài khoản KTQT mà có thể kết hợp ngay trên cùng một

hệ thống tài khoản kế toán theo từng cấp độ tài khoản.

Tám là, tăng cường và làm tốt công tác kiểm soát nội bộ vì kiểm soát nội bộ

có tác dụng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng thông tin kế toán qua việc

hạn chế các sai sót, gian lận. Tuy nhiên, kiểm soát nội bộ nếu được tổ chức một

cách đầy đủ sẽ làm tăng đáng kể chi phí của doanh nghiệp. Trong điều kiện nguồn

lực có giới hạn, doanh nghiệp khó có thể chấp nhận chi trả những chi phí này. Từ lý

do trên, việc kết hợp tổ chức kế toán với hệ thống kiểm soát nội bộ là điều cần thiết.

Việc kết hợp tổ chức kế toán với hệ thống kiểm soát nội bộ một cách chọn lọc sẽ

giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kiểm soát nội bộ với chi phí hợp lý.

67

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Nghiên cứu lý luận về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản

xuất là vấn đề cần thiết nhằm hệ thống hóa và làm rõ thêm lý luận về các doanh

nghiệp sản xuất. Việc nghiên cứu đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

sản xuất, đặc điểm về tổ chức quản lý trong các doanh nghiệp sản xuất. Các nghiên

cứu của chương 1 đạt được những vấn đề sau:

- Làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về tổ chức công tác kế toán trong

các doanh nghiệp, đặc điểm hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý trong doanh

nghiệp sản xuất ảnh hưởng tới tổ chức công tác kế toán;

- Hệ thống hóa, phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức công tác

kế toán trong các doanh nghiệp như; Tổ chức bộ máy kế toán để thực hiện

KTTC và KTQT, Sử dụng các phương pháp kế toán để thu thập, xử lý, hệ thống

hóa, phân tích và cung cấp thông tin kế toán tổ chức thu nhận, kiểm tra thông

tin ban đầu (tổ chức thu nhận thông tin quá khứ bằng các bản chứng từ kế toán,

tổ chức hạch toán ban đầu, tổ chức kiểm tra thông tin phản ánh trên chứng từ kế

toán, tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán, tổ chức bảo quản lưu trữ và hủy bỏ

chứng từ kế toán; tổ chức thu nhận thông tin tương lai bằng các phương pháp dự

báo, dự toán, thị trường, giá cả); tổ chức hệ thống hóa, xử lý, thông tin kế toán

(những yêu cầu của hệ thống hóa và xử lý thông tin, sử dụng phương pháp tính giá

để xử lý, hệ thống hóa thông tin; tổ chức chức hệ thống tài khoản kế toán và sổ kế

toán để hệ thống hóa và xử lý thông tin kế toán, tổ chức cung cấp thông tin kế

toán (các đối tượng sử dụng thông tin kế toán, nhu cầu sử dụng thông tin kế toán

của các đối tượng, tổ chức lập báo cáo kế toán, tổ chức hệ thống báo cáo kế toán;

tổ chức lập, phân tích và công khai báo cáo kế toán; tổ chức kiểm tra kế toán.

Những vấn đề lí luận được trình bày là cơ sở để xem xét đánh giá thực trạng tổ

chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày tại địa bàn tỉnh Hải

Dương. Từ đó, xác định các nội dung, giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác

kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

68

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC

DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIÀY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG

2.1. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý trong

các doanh nghiệp sản xuất giày ảnh hưởng đền tổ chức công tác kế toán

2.1.1. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành da giày ảnh

hưởng đến tổ chức công tác kế toán

Nhìn lại chặng đường đổi mới nền kinh tế, chúng ta có thể thấy được vai trò

và sự sáng suốt của Đảng và Nhà nước trong quá trình đưa đất nước đi lên. Với

quan điểm đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đưa đất nước trở nên

hùng mạnh có thể sánh vai được với các cường quốc trên thế giới Đảng và Nhà

nước luôn luôn quan tâm đầu tư phát triển tất cả các thành phần kinh tế, các ngành.

Với trọng tâm phát triển ngành công nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay thì sự

đầu tư phát triển ngành công nghiệp nhẹ là một lợi thế của chúng ta.

Việt Nam được xếp hàng là một trong 10 nước có xuất khẩu hàng đầu trên

thị trường quốc tế hiện nay về da giày, riêng ở thị trường EU, Việt Nam xếp thứ hai

sau Trung Quốc. Kim ngạch xuất khẩu của ngành da Việt Nam có mức tăng trưởng

trung bình 16% đứng thứ ba sau ngành dệt may và dầu khí.

Ngành công nghiệp da, giày cũng là một trong những ngành được đặc biệt

quan tâm, không chỉ bởi nó đem lại một nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nước mà nó

còn là một trong những ngành giải quyết được nhiều gánh nặng cho đất nước như

việc làm, cải thiện đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay thì

ngành da, giày của chúng ta so với ngành da, giày của các nước khác trên thế giới

còn nhiều lạc hậu. Để có thể có được các thị trường mạnh như Mỹ, EU, Nhật đòi

hỏi chúng ta phải có sự đầu tư hơn nữa trong những năm tới. Đặc biệt là chúng ta đã

ra nhập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (Asean Free Trade Area - Gọi tắt là

AFTA) và Tổ chức thương mại quốc tế (World Trade Organization - gọi tắt là

WTO). Do đó, chúng ta cần một phương hướng, một chiến lược, một kế hoạch đầu

69

tư phát triển ngành công nghiệp da giày trong những năm tới.

* Đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh giày: Nhìn nhận lại tất cả các

công đoạn, phương thức và cách tổ chức sản xuất, tiêu thụ giày dép của các doanh

nghiệp Việt Nam cho thấy, ngành da giày Việt Nam chủ yếu dựa trên 4 phương

thức sản xuất: gia công thuần túy; mua nguyên liệu bán thành phẩm; sản xuất theo

hàng FOB - hoặc xuất hàng FOB (sản xuất cho các thương hiệu nước ngoài, tiêu

thụ ở thị trường XK); hoặc là sản phẩm mang thương hiệu của chính DN Việt Nam

(nhưng phương thức này thực hiện được rất ít vì thương hiệu của ta chưa đủ mạnh)

Gia công thuần túy: Các doanh nghiệp sản xuất giày của ta sẽ nhận đối

tượng lao động (nguyên liệu hoặc bán thành phẩm) được tiến hành một cách sáng

tạo và có ý thức nhằm tạo cho sản phẩm một giá trị sử dụng nào đó. Bên đặt gia

công có thể giao toàn bộ nguyên vật liệu hoặc chỉ nguyên vật liệu chính hoặc bán

thành phẩm có khi gồm cả máy móc thiết bị, chuyên gia cho bên nhận gia công.

Trong trường hợp không giao nhận nguyên vật liệu chính thì bên đặt gia công có thể

chỉ định cho bên kia mua nguyên vật liệu ở một địa điểm nào đó với giá cả được ấn

định từ trước hoặc thanh toán thực tế trên hoá đơn. Còn bên nhận gia công có nghĩa

vụ tiếp nhận hoặc mua nguyên vật liệu sau đó tiến hành gia công, sản xuất theo

đúng yêu cầu của bên đặt gia công cả về số lượng chủng loại, mẫu mã, thời gian.

Sau khi hoàn thành quá trình gia công thì giao lại thành phẩm cho bên đặt gia công

và nhận một khoản phí gia công theo thoả thuận từ trước. Trong bối cảnh thị trường

tiêu thụ khó khăn như hiện nay thì sản xuất gia công an toàn và ít rủi ro hơn doanh

nghiệp có thể yên tâm hoàn toàn về đầu ra. Mặc dù vậy, nếu làm hàng gia công

thuần túy thì lợi nhuận không cao bằng làm hàng FOB, thậm chí có những đôi giày

giá bán lên tới hàng trăm USD nhưng các doanh nghiệp Việt Nam khi làm gia công

chỉ được hưởng từ 2 đến 2,2 USD/đôi. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức

công tác kế toán đặc biệt là đối với tổ chức quản lý theo dõi phần hành kế toán tiền

lương tiền công phải trả cho người lao động vì chúng ta gia công chủ yếu lấy công

làm lãi. Với số lượng lao động lớn chủ yếu là lao động nữ đòi hỏi việc tổ chức

chứng từ kế toán để theo dõi tiền lương, tiền công, các khoản trích theo lương của

người lao động tương đối phức tạp.

70

Phương thức sản xuất làm hàng FOB: Đây là hình thức sản xuất theo kiểu

“mua nguyên vật liệu, bán thành phẩm”. Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất giày rất

muốn chuyển sang làm hàng FOB nhưng không phải DN nào cũng có thể làm được

điều đó”. Phương thức sản xuất FOB đòi hỏi DN chủ động toàn bộ quá trình sản

xuất, phía đối tác nước ngoài chỉ giao thiết kế sản phẩm, DN tự tìm kiếm nguyên,

phụ liệu, tổ chức sản xuất và giao hàng đúng hạn nên rủi ro rất nhiều, vốn đầu tư lại

lớn trong khi vòng quay vốn chậm. Doanh nghiệp có thể giảm nhiều chi phí nhất là

chi phí mua nguyên, phụ liệu vì có thể chủ động tìm kiếm lựa chọn các nhà cung

cấp do phía nước ngoài chỉ định.

Chẳng hạn như DN cần vốn lớn để mua nguyên, phụ liệu sản xuất nhưng

thời gian để làm ra sản phẩm, rồi xuất khẩu, thu tiền về cũng phải mất tới hai đến ba

tháng. Trong khi đó, DN trong nước chủ yếu là DN nhỏ và vừa, phần lớn hoạt động

bằng vốn vay ngân hàng với lãi suất vay quá cao. Trong nhiều năm qua, các doanh

nghiệp da giày của Việt Nam chủ yếu chỉ tham gia một vài khâu trong chuỗi giá trị

của sản phẩm giày dép toàn cầu, nên rất ít các doanh nghiệp chủ động xây dựng các

nhà máy sản xuất nguyên phụ liệu da giày.

Phương thức sản xuất cho các thương hiệu nước ngoài tiêu thụ ở thị trường

xuất khẩu: Ở phương thức này các doanh nghiệp sản xuất giày của chúng ta sẽ ký

hợp đồng với các hãng sản xuất nổi tiếng có thương hiệu và sản xuất theo theo thiết

kế theo thương hiệu của hãng đã ký kết.

Phương thức sản xuất mà sản phẩm mang chính thương hiệu của chính

doanh nghiệp Việt Nam: Theo phương thức này các doanh nhiệp sản xuất giày của

ta sẽ chủ động hoàn toàn từ thiết kế mẫu mã, nguyên vật liệu, công nghệ sản xuất

và tiêu thụ sản phẩm bởi sản phẩm sẽ mang thương hiệu chính doanh nghiệp của

mình. Cách này chưa nhiều vì hầu hết các doanh nghiệp sản xuất giày của chúng

ta chưa đủ mạnh cả về thương hiệu, nguồn lực tài chính, khả năng cạnh tranh trên

thị trường.

* Đặc điểm về nguyên vật liệu của ngành giày: Trong số các nguyên liệu để

sản xuất giày là da, giả da, các nguyên liệu phụ trợ (như keo dán, chỉ khâu, nút,

nhãn hiệu, cót…), có đến 70 - 80% phải nhập khẩu từ các nước châu Á như: Hàn

71

Quốc, Đài Loan, Trung Quốc… Chất liệu giả da, đặc biệt được sử dụng nhiều cho

giày thể thao, mặc dù chiếm tỷ trọng XK gần bằng 50% giá trị da giày XK nói

chung, cũng sử dụng đến 80% nguyên liệu nhập ngoại.

Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức công tác kế toán đặc biệt đối với

tổ chức phần hành kế toán nguyên vật liệu. Hầu hết vật liệu chính đều nhập khẩu

hoặc chúng ta gia công thì nguyên vật liệu được nhập theo yêu cầu của đối tác. Các

doanh nghiệp của chúng ta khi sản xuất phải rất chú trọng đến tiêu chuẩn, qui cách

của đối tác, ngoài ra khi tiết kiệm nguyên vật liệu để sản xuất dôi dư thì phần sản

phẩm này cũng rất khó tiêu thụ trong nước vì bị rào cản là kiểu cách, mẫu mã bản

quyền của đối tác.

Hiện nay có tới trên 60% doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu giày dép là

những đơn vị gia công cho các công ty nước ngoài do hạn chế về trình độ, về tài

chính và sản phẩm của doanh nghiệp chưa có thương hiệu trên thị trường thế giới.

Nguyên liệu sản xuất của ngành da giày chiếm đến 80% giá trị sản phẩm trong đó

ngành sản xuất da đóng vai trò quan trọng nhất. Theo LEFASO, nhu cầu da thuộc

năm 2007 của toàn ngành khoảng 350 triệu mét vuông (m2), trong khi đó các nhà

máy thuộc da của Việt Nam mới chỉ sản xuất và đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu

da thuộc của cả nước, 80% còn lại phải nhập khẩu. Do vậy, hầu hết các doanh

nghiệp xuất khẩu giày dép ra thị trường quốc tế đều lựa chọn phương thức xuất

khẩu qua trung gian. Hàng hoá được sản xuất ở Việt Nam sẽ được dán nhãn mác

của một công ty nước ngoài để xuất sang thị trường nhập khẩu. Những thương hiệu

đó thường là những thương hiệu có tiếng trên thị trường thế giới hoặc đã được

người tiêu dùng tại nước nhập khẩu biết đến.

Các doanh nghiệp này không tham gia vào các giai đoạn thiết kế và phân

phối sản phẩm, mà chỉ đóng góp 30% - 50% giá trị sản phẩm trong giai đoạn sản

xuất. Giá trị mà họ đóng góp thêm vào sản phẩm là rất nhỏ bé qua việc “bán” sức

lao động của công nhân. Các doanh nghiệp này khó có thể kiếm thêm lãi bởi chi

phí lao động ngày càng có xu hướng giảm sức cạnh tranh so với các quốc gia khác

trên toàn cầu. Nếu phương thức sản xuất gia công giày dép hạn chế được rủi ro, thì

lợi nhuận thu được cũng bị hạn chế theo. Trong thực tế, để gia tăng giá trị, nhiều

72

doanh nghiệp sản xuất và gia công giày dép đã có cố gắng chuyển sang phương

thức tự sản xuất toàn bộ. Trong khi nhiều doanh nghiệp đã chuyển đổi thành công,

một số doanh nghiệp khác lại gặp nhiều trở ngại, vướng mắc. Điều này thường xảy

ra do sự thiếu hiểu biết về các kiến thức đòi hỏi phải có để chuyển đổi sang cấp độ

tiếp theo.

* Đặc điểm công nghệ sản xuất giày: Đối với doanh nghiệp sản xuất, công

nghệ là yếu tố then chốt quyết định chất lượng sản phẩm mà chất lượng sản phẩm là

điều không thể thiếu trong việc giành lợi thế cạnh tranh. Công nghệ gồm máy móc

thiết bị, quy trình sản xuất, kỹ năng kỹ xảo của công nhân cũng như các bí quyết

công nghệ trong chế tạo làm ra sản phẩm Công nghệ còn là yếu tố quyết định năng

suất lao động từ đó hạ giá thành sản phẩm. Công nghệ phải được doanh nghiệp lựa

chọn một cách tối ưu sao cho phù hợp với tiềm năng, tình hình tài chính của DN,

trình độ quản lý, tay nghề của người lao động, đảm bảo hiệu quả cao nhất.

Hiện nay, trình độ công nghệ của ngành da giày Việt Nam đang ở mức trung

bình và trung bình khá, song lại khá lệ thuộc vào nước ngoài về trang bị máy móc.

Khả năng đầu tư và chuyển giao công nghệ mới phụ thuộc vào nguồn tài chính hạn

hẹp, đội ngũ chuyên gia hiểu biết sâu và cập nhật công nghệ mới còn rất ít và chưa

đáp ứng được nhu cầu phát triển của doanh nghiệp. Kinh nghiệm và khả năng đàm

phán, ký kết hợp đồng về công nghệ còn hạn chế,… Đây là một trong những

nguyên nhân làm hạn chế năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của

ngành trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài. Điều này còn gây khó khăn cho

ngành trong việc cạnh tranh trên thị trường đặc biệt là thị trường quốc tế. Qui trình

công nghệ sản xuất giày là qui trình công nghệ phức tạp kiểu chế biến liên tục, sản

xuất ra sản phẩm phải trải qua nhiều giai đoạn chế biến theo sơ đồ sau:

73

Nguyên vật liệu

QC

QC

Vải, xốp, pu

Cao su hóa chất

Chỉ, ôzê

Quá trình cán các chi tiết cao su:

Quá trình bồi tráng NVL

Thuê

Quá trình cắt chi tiết mũ

- Đế - Viền - Pho hậu - Xốp lưỡi gà - Xốp lót giày

Quá trình may mũ

QC

QC

QC

Quá trình bao gói sản phẩm

Gò, lưu hoá

Sản phẩm hoàn thành nhập kho

QC

Sơ đồ 2.1. Quy trình công nghệ sản xuất giày da trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Nguyên liệu

Bồi

Chặt

May

Thêu

Gò ráp

Kho thành phẩm

Đóng hộp

Sơ đồ 2.2. Quy trình công nghệ sản xuất giày thể thao trên địa bàn tỉnh Hải Dương

74

Sơ đồ 2.3. Quy trình công nghệ sản xuất giày ép dán trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Đóng hộp, thùng Bồi nguyên liệu (Máy Đài Loan)

C ô n g đ o ạ n

1

Xử lý mốc (Máy Đài Loan) Cắt chặt BTP (máy Đài Loan)

Dãy da

ép đế - ép cạnh (Máy Đài Loan)

Kiểm tra

Kiểm tra bán thành phẩm cắt

Vệ sinh CN đánh bóng (Máy ĐL) Thủ công (bôi keo, dập gấp)

C ô n g đ o ạ n

2

May (Máy Nhật - Hàn Quốc - ĐL) Nhổ phom (Máy Đài Loan)

Kiểm tra BTP may mũ Làm lạnh (Máy Đài Loan)

ép đế - ép cạnh (Máy Đài Loan) Gò mũi (Máy Đài Loan)

Định vị (Máy Đài Loan) Bôi keo đế sấy (Máy Đài Loan)

Mài chân gò (Máy Đài Loan) Hấp chân không (Máy Đài Loan)

75

Tất cả các công đoạn trong quy trình công nghệ được thực hiện trong 4 phân

xưởng. Mỗi phân xưởng có thể có các phân xưởng nhỏ. Trong các phân xưởng nhỏ

lại có các tổ, các đội sản xuất.

- Phân xưởng chặt: là phân xưởng đầu tiên trong quá trình công nghệ, khi có

lệnh sản xuất phân xưởng nhận lệnh và lên kho lấy nguyên vật liệu như: vải, bạt,

mút xốp, đế,... để chế biến.

- Phân xưởng may: đây là phân xưởng thứ 2 trong quy trình chế biến NVL sử

dụng là bán sản phẩm của phân xưởng cắt và nguyên vật liệu lấy từ trên kho như:

vải phin, tem. Nhiệm vụ của các phân xưởng là may các chi tiết thành mũ giày hoàn

chỉnh qua các kỹ thuật như: kẻ chỉ, may nẹp vào mũ, mũ giày sau khi may xong sẽ

được chuyển giao cho phân xưởng gò chứ không chuyển cho phân xưởng cán.

May có 2 phân xưởng: phân xưởng may 1 và phân xưởng may 2, trong đó lại

chia thành nhiều tổ, mỗi tổ 1 loại giày, mỗi công nhân trong một tổ thực hiện các

thao tác kỹ thuật riêng.

- Phân xưởng gò ráp: thực hiện song song với phân xưởng may và cắt có

nhiệm vụ: từ cao su và các loại hoá chất cần thiết lấy từ kho vật tư sử dụng sản xuất

các đế giày bằng cao su. Yêu cầu kỹ thuật đối với đế giày là đảm bảo độ nhẹ, bền,

dẻo dai nên giai đoạn này có nhiều bí quyết kỹ thuật cần bảo vệ.

- Phân xưởng gò: đây là phân xưởng nằm trong giai đoạn cuối cùng của quá

trình sản xuất giày sản phẩm tạo ra là những đôi giày hoàn chỉnh theo mẫu mã chất

lượng quy định trong đơn đặt hàng. Giày sau khi gò xong được đưa vào bộ phận lưu

hoá để hấp ở nhiệt độ cao đảm bảo độ bền của giày. Cuối cùng giày được xâu dây

và đóng gói nhập kho.

* Đặc điểm sản phẩm: giày là sản phẩm chịu ảnh hưởng rất lớn của thời tiết,

khí hậu và vùng địa lý. Sản phẩm giày chủ yếu được tiêu thụ nhiều ở các nước ôn

đới và hàn đới, lượng sản phẩm tiêu thụ tăng vọt vào mùa đông. Ngoài việc sử dụng

để bảo vệ và làm êm đôi bàn chân (vì bàn chân chứa nhiều xương hơn tất cả các bộ

phận khác trong cơ thể 52 xương) trong khi thực hiện các hoạt động khác nhau, giày

cũng là sản phẩm của thời trang, nó tôn vinh vẻ đẹp của con người. Do vậy, chủng

76

loại, mẫu mã, màu sắc của giày chịu ảnh hưởng sâu sắc của môi trường xã hội, văn

hóa, tập quán tiêu dùng và thu nhập của dân cư. Giày là một vật dụng thiết yếu

trong đời sống con người vì vậy nó cũng gắn liền với các nền văn hóa của nhân loại.

Với những đặc trưng trên thì giày là sản phẩm có vòng đời ngắn, sự thay đổi mẫu

mã hình thức diễn ra liên tục.

Các đặc điểm của sản phẩm, đặc điểm hoạt động và quy trình công nghệ sản

xuất trên đây ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán đó là do có nhiều khâu trong

quy trình sản xuất và quá trình sản xuất được tổ chức thành nhiều phân xưởng (phân

xưởng chặt; trong phân xưởng chặt lại gồm 2 bộ phận bộ phận cán (bồi) và bộ phận

chặt; phân xưởng may, trong phân xưởng may lại có phân xưởng may 1, may 2, và

một số bộ phận thêu; phân xưởng gò - ráp. Phân xưởng gò - ráp lại gồm có nhiều

chuyền trong mỗi chuyền lại có các tổ) các bộ phận khác nhau (Bộ phận lưu hóa,

(hấp), bộ phận xâu dây, bộ phận đóng gói). Do đó, kế toán cần mở đầy đủ sổ kế

toán, tài khoản kế toán tổng hợp, chi tiết phục vụ cho việc thu nhận, xử lý các thông

tin ở từng phân xưởng, từng bộ phận nhằm cung cấp kịp thời, đầy đủ các thông tin

bộ phận phục vụ cho yêu cầu quản lý. Do sản xuất chia thành nhiều tổ, đội, phân

xưởng sản xuất khác nhau và nhiều bộ phận quản lý riêng biệt nhau. Việc tổ chức

KTQT cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi nếu không tổ chức tốt KTQT sẽ không đảm bảo

việc phân tích và cung cấp thông tin cho các bộ phận. KTQT dựa trên việc mô tả

cách thức hoạt động và tiêu dùng nguồn lực. Như vậy, KTQT gắn liền với tổ chức

và công nghệ của doanh nghiệp. Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường, thông

tin kế toán là nguồn thông tin quan trọng cung cấp cho nhà quản lý, kênh thông tin

đòi hỏi phải trải suốt trong nội bộ doanh nghiệp và do đó các cấp quản lý khác nhau

có thể liên lạc với nhau. KTQT cung cấp các thông tin cụ thể phục vụ cho việc ra

quyết định điều hành quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, những đặc

điểm sản xuất kinh doanh, tính chất của quy trình công nghệ, yêu cầu và trình độ

quản lý của doanh nghiệp là những nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác KTQT

trong doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp sản xuất giày với đặc điểm là sản xuất hàng loạt sản phẩm

77

với khối lượng lớn, sản phẩm được sản xuất đại trà đồng loạt, đồng nhất, được đặt

mua sau khi sản xuất như vậy đòi hỏi kế toán phải thu nhận, xử lý và cung cấp

thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của từng công đoạn, từng bộ

phận sản xuất cũng như của toàn bộ quy trình công nghệ.

2.1.2. Đặc điểm tổ chức quản lý của các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa

bàn tỉnh Hải Dương ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán

Đặc điểm chung về cơ cấu tổ chức quản lý tại các doanh nghiệp sản xuất

giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương được tổ chức theo cơ cấu trực tuyến chức năng.

Đây là một cơ cấu quản lý mà toàn bộ công việc quản lý được giải quyết theo một

kênh liên hệ đường thẳng giữa cấp trên và cấp dưới trực thuộc. Chỉ có lãnh đạo

quản lý ở từng cấp mới có nhiệm vụ và quyền hạn ra mệnh lệnh chỉ thị cho cấp dưới

(Tức là: mỗi phòng, ban của doanh nghiệp chỉ nhận quyết định từ một thủ trưởng

cấp trên theo nguyên tắc trực tuyến). Giám đốc của doanh nghiệp là người ra quyết

định cuối cùng nhưng để hỗ trợ cho quá trình ra quyết định của Giám đốc thì cần

phải có các bộ phận chức năng. Các bộ phận chức năng này không ra lệnh một cách

trực tiếp cho các đơn vị cấp dưới mà chỉ nghiên cứu, chuẩn bị các quyết định cho

lãnh đạo, quản lý và thực hiện việc hướng dẫn lập kế hoạch, tổ chức thực thi, kiểm

tra, giám sát việc thực hiện các mục tiêu trong phạm vi chức năng chuyên môn của

mình. Qua khảo sát thực tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay có khoảng trên 20

doanh nghiệp đang sản xuất các sản phẩm giày. Qua khảo sát các doanh nghiệp sản

xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương đại đa số các doanh nghiệp là doanh nghiệp

sản xuất giày theo phương thức gia công thuần túy. Chủ yếu có qui mô nhỏ và vừa,

địa bàn hoạt động tập trung. Các doanh nghiệp sản xuất giày này có thể chia thành

các nhóm:

Công ty Cổ phần: Công ty Cổ phần giày Hải Dương, Công ty Cổ phần giày

Cẩm Bình, Công ty cổ phần Golden Sun, Công ty Cổ phần sản xuất Thương mại

Thảo Nguyên;

Công ty TNHH: Công ty TNHH Thượng mại NTT, Công ty TNHH Vina

Okamoto, Công ty TNHH Long Sơn, Công ty TNHH giày Continuance Việt Nam,

78

Công ty TNHH MTV may Dũng Anh, Công ty TNHH Sao Vàng, Công ty TNHH

một thành viên Minh Phúc, Công ty TNHH MTV Bằng Nam, Công ty TNHH

Vietory, Doanh nghiệp may tư nhân Phú Triệu, Công ty TNHH sản xuất Tân

Cương, Công ty TNHH Samil Hà Nội Vina, Doanh nghiệp tư nhân Hoa Việt.

Mô hình tổ chức bộ máy quản lý một số doanh nghiệp giày trên địa bàn tỉnh

Hải Dương như sau:

Sơ đồ 2.4. Mô hình tổ chức bộ máy quản lý Công ty Cổ phần giày Hải Dương

Hội đồng quản trị Ban kiểm soát

an gi¸m ®èc

Ban giám đốc

Phó giám đốc hành chính Phó giám đốc SX kinh doanh

Phòng KCS

Phòng Vật tư

Phòng Kế hoạch XNK

Phòng Kế toán - Tài vụ Phòng Kỹ thuật Phòng Cơ điện

Phòng Tổ chức Hành chính

Phân xưởng Gò - Ráp Phân xưởng chặt Phân xưởng may

79

Sơ đồ 2.5. Mô hình tổ chức bộ máy quản lý Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình

Hội đồng quản trị

Phó giám đốc phụ trách sản xuất

Ban giám đốc

Phòng kế toán

Ban cơ điện

Phòng vật tư

Phòng HC

Phòng TCLĐ

Phó giám đốc kỹ thuật phụ trách an toàn, hành chính

Phòng KH XNK Phòng kỹ thuật KCS

PX gò I PX chặt PX may I PX may II PX chuẩn bị PX đế PX gò II PX thêu

Chức năng, nhiệm vụ của các phòng, ban, phân xưởng:

- Công ty hoạt động theo hình thức Công ty cổ phần. Chủ tịch Hội đồng quản

trị kiêm Giám đốc công ty điều hành chung các hoạt động của Công ty và là người

đại diện theo pháp luật của Công ty.

- Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân danh

Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan tới mục đích và quyền lợi của Công ty,

trừ những vấn đề thuộc quyền ĐHĐCĐ quyết định. Hội đồng quản trị xây dựng

định hướng, chính sách tồn tại và phát triển để thực hiện các quyết định của

ĐHĐCĐ thông qua việc hoạch định chính sách, ra quyết định hành động cho từng

thời điểm phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty. Hội đồng quản trị

Công ty hiện có 05 thành viên do Đại hội đồng cổ đông bầu hoặc miễn nhiệm.

- Ban kiểm soát: là cơ quan do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, thay mặt cổ

đông kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh, quản trị và điều hành của Công ty. Ban

80

kiểm soát hoạt động độc lập với hội đồng quản trị và bộ máy điều hành của giám

đốc. Ban kiểm soát Công ty hiện tại có 03 người, 01 trưởng ban và 02 thành viên.

Trưởng ban kiểm soát do các thành viên trong ban bầu.

- Giám đốc: là người đại diện cho công ty, chịu trách nhiệm trước Nhà nước,

Pháp luật, Uỷ ban nhân dân tỉnh về mọi hoạt động của công ty.

+ Giám đốc có nhiệm vụ sau:

. Phụ trách chung về những công việc trọng tâm, chiến lược của công ty;

. Chỉ đạo công tác kinh doanh, Marketing, công tác tổ chức cán bộ, công tác

đối ngoại và đầu tư mở rộng sản xuất...

+ Phó giám đốc có nhiệm vụ sau:

. Phó giám đốc tài chính chỉ đạo công tác kế toán, tài vụ, công tác hành

chính, công tác xây dựng cơ bản, công tác bảo vệ và vệ sinh môi trường.

. Phó giám đốc kinh doanh chỉ đạo công tác sản xuất kinh doanh của công ty.

. Các phó giám đốc là người giúp việc cho giám đốc, giám đốc giao cho

những công việc cụ thể theo mảng chức năng của từng phó giám đốc, chịu trách

nhiệm trước giám đốc và Pháp luật về quyết định của mình.

- Các phòng ban thường bao gồm một số phòng như sau:

Tổ chức cán bộ trong các phòng có trưởng phòng, phó phòng và nhân viên.

+ Phòng Kế toán - tài vụ: thực hiện chế độ hạch toán tổng hợp, tự chủ tài

chính trong doanh nghiệp, quản lý các loại vốn của công ty. Xây dựng kế hoạch

tài chính, hạch toán kế toán, phân tích hoạt động kinh tế và các chức năng tài

chính của công ty. Thực hiện nghiêm chỉnh pháp lệnh thống kê kế toán, chế độ

báo cáo tài chính hiện hành của doanh nghiệp nhà nước, thường xuyên kiểm tra

hoạt động tài chính của các đơn vị thành viên (nếu có).

+ Phòng tổ chức hành chính (phòng TCHC): có nhiệm vụ tiếp khách Công

ty, quản lý các giấy tờ thuộc hành chính. Lập kế hoạch và kiểm tra trình độ lao

động trong từng Công ty như: lương, thưởng, phụ cấp, bảo hộ lao động giúp giám

đốc quản lý về mặt con người, nắm được năng lực của từng người để phân công,

bố trí phù hợp. Kết hợp với các phân xưởng để quản lý định mức lao động từ đó

81

tính thưởng cho từng người, tính các sổ BHXH cho từng người lao động và các

khoản khác.

+ Phòng vật tư: lập kế hoạch điều động sản xuất cho Công ty, khai thác và

thu mua vật tư cho sản xuất, xây dựng kế hoạch sản xuất từng ngày, từng tháng,

từng quý, từng năm. Có kế hoạch cung cấp vật tư cho từng phân xưởng theo tình

hình thực tế đồng thời nắm vững lượng vật tư xuất ra cho sản xuất, lượng vật tư tồn

kho, lượng thiếu hụt, dự tính theo kế hoạch thời điểm cung ứng vật tư cho sản xuất

kịp thời.

+ Phòng kế hoạch xuất - nhập khẩu (phòng KDXNK): khai thác các đơn

hàng, làm kế hoạch sản xuất giày và kế hoạch nhập nguyên vật liệu, máy móc thiết

bị khác phối hợp với phòng kỹ thuật, theo đơn đặt hàng thiết kế những mẫu mới phù

hợp với thị trường tiêu thụ.

+ Phòng kỹ thuật: có nhiệm vụ nghiên cứu cơ cấu mặt hàng, thiết kế mẫu,

chế tạo sản phẩm chào hàng phù hợp từng nước, từng mùa. Chế thử sản phẩm đã kí

hợp đồng, lập quy trình công nghệ, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật, chất liệu sản

phẩm, tổ chức hướng dẫn kiểm tra quản lý chất lượng sản phẩm, lập kế hoạch sửa

chữa, bảo dưỡng thiết bị theo định kỳ.

+ Phòng quản lý chất lượng (phòng QLCL): có nhiệm vụ bám sát quá trình

sản xuất để cùng các phân xưởng kiểm tra chất lượng sản phẩm từng công đoạn,

quản lý chất lượng ở mọi khâu của quá trình sản xuất.

+ Phòng cơ điện: bố trí điện, nước, năng lượng cho sản xuất và phục vụ cho

các hoạt động khác của Công ty.

- Các phân xưởng bao gồm 3 phân xưởng:

+ Phân xưởng chặt: gồm hai bộ phận:

. Bộ phận cán (phân xưởng bồi) chia làm ba tổ, có nhiệm vụ cán một số

nguyên liệu cần phải được áp dính vào nhau trước khi đem chặt.

. Bộ phận chặt: chia làm 3 tổ có nhiệm vụ nhận nguyên liệu từ kho là các loại

da, giả da và một số nguyên liệu đã cán do bộ phận cán chuyển sang.

+ Phân xưởng may: chia làm 3 phân xưởng nhỏ:

82

Phân xưởng may I, phân xưởng may II, phân xưởng may III, và một số bộ

phận thêu. Bộ phận thêu nhận các chi tiết từ xưởng chặt và thêu trang trí theo các

mẫu thêu khác nhau tuỳ từng mẫu giày. Sau đó chuyển sang xưởng may, phân

xưởng may nhận những chi tiết nhỏ của một đôi giày do bộ phận thêu chuyển sang

cùng với các vật liệu phụ khác từ kho để may thành mũ giày.

+ Phân xưởng gò - ráp: chia thành hai dây chuyền. Mỗi dây chuyền có 3 tổ.

Xưởng này có nhiệm vụ nhận đế và các chất phụ gia từ kho chủ yếu là keo, nhận

các đôi giày từ xưởng may chuyển sang để gò thành đôi giày hoàn chỉnh.

Để việc quản lý sản xuất ở từng phân xưởng được chặt chẽ, công ty bố trí

mỗi phân xưởng một quản đốc, một phó quản đốc, một kế toán và một thống kê

xưởng. Các nhân viên xưởng này có nhiệm vụ theo dõi, giám sát và đôn đốc sản

xuất đảm bảo đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng sản phẩm cũng như việc quản lý chi

phí, tránh tình trạng lãng phí các yếu tố sản xuất. Một mặt tạo ra tính chủ động sản

xuất trong công ty và tăng tinh thần trách nhiệm trong quản lý và việc sử dụng vốn

ở các phân xưởng…

Những đặc điểm cơ bản về quản lí của các doanh nghiệp sản xuất giày trên

địa bàn tỉnh Hải Dương đã ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức công tác kế toán trên

các góc độ sau đây:

Ảnh hưởng đối với việc lựa chọn tổ chức bộ máy kế toán để thực hiện KTTC

và KTQT

Xuất phát từ đặc điểm chung về cơ cấu tổ chức quản lý tại doanh nghiệp sản

xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương là cơ cấu trực tuyến chức năng. Đó là hoạt

động quản lý theo cơ chế quản lý một cấp quản lý. Từ đặc điểm này dẫn đến hầu hết

các doanh nghiệp đều lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung còn gọi là

tổ chức kế toán một cấp. Mặt khác đại bộ phận các doanh nghiệp sản xuất giày trên

địa bàn tỉnh Hải Dương có địa bàn hoạt động tập trung, quy mô nhỏ nên việc lựa

chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung là hợp lí, đảm bảo sự lãnh đạo thống

nhất tập trung đối với công tác kế toán trong doanh nghiệp, cung cấp thông tin kịp

thời, thuận tiện cho việc phân công, chuyên môn hóa người làm kế toán, xử lý thông

83

tin nhanh chóng. Đồng thời, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này dễ dàng ứng

dụng tin học trong công tác kế toán. Hầu hết các doanh nghiệp thực hiện gia công

một số chi tiết của sản phẩm giày xuất khẩu. Qua khảo sát thực tế các doanh nghiệp

sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương, đại bộ phận các doanh nghiệp áp dụng

mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung, kết hợp KTTC và KTQT trong từng

phần hành kế toán.

Ảnh hưởng tới việc thu nhận và cung cấp thông tin cho các bộ phận

Tùy thuộc vào yêu cầu hạch toán kinh tế, nhu cầu thông tin trong quản lý

cũng như trình độ hạch toán kinh tế và quản lý kinh tế của doanh nghiệp, phối hợp

chuyên môn giữa các bộ phận khác nhau có liên quan cho công tác thu thập số liệu,

sử dụng số liệu để cùng tham gia nhận định, đánh giá các kết quả phân tích đạt

được, từ đó làm cơ sở ra quyết định. Thông tin của kế toán cần được cung cấp cho

người sử dụng đúng mục đích và đối tượng, các đối tượng sử dụng thông tin theo

các cấp độ quản trị khác nhau. Yêu cầu và trình độ quản lý càng cao, càng đòi hỏi

phải tổ chức công tác KTQT để cung cấp thông tin cho nhà quản trị nắm bắt kịp

thời, đầy đủ mọi thông tin cụ thể chi tiết, để cung cấp thông tin cho việc ra quyết

định của nhà quản lý.

Ảnh hưởng tới việc lựa chọn hình thức kế toán

Do trình độ chuyên môn nghiệp vụ của những người làm kế toán còn hạn

chế, việc lựa chọn hình thức kế toán Nhật ký chung hoặc hình thức kế toán Chứng

từ ghi sổ là phù hợp với các doanh nghiệp sản xuất giày. Mặt khác, hình thức kế

toán Nhật ký chung và hình thức chứng từ ghi sổ có rất nhiều ưu điểm: dễ ghi chép,

thuận tiện cho việc phân công, phân nhiệm đối với những người làm kế toán hơn

các hình thức kế toán khác.

Ảnh hưởng đến việc lựa chọn danh mục tài khoản kế toán dùng cho KTTC và

dùng cho KTQT

Việc vận dụng hệ thống tài khoản kế toán sử dụng cho KTTC hợp lý nhằm

lựa chọn được các tài khoản tổng hợp và tài khoản chi tiết phù hợp là một trong các

vấn đề cần được chú trọng trong khi nghiên cứu đặc điểm của doanh nghiệp sản

84

xuất giày. Trường hợp này, các doanh nghiệp cần căn cứ vào hệ thống tài khoản kế

toán ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ - BTC ngày 20/3/2006 nay thay thế

bằng TT200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/20014 của Bộ trưởng Bộ Tài

chính để lựa chọn các tài khoản dùng cho KTTC thích hợp với đặc điểm cụ thể của

doanh nghiệp. Đồng thời, căn cứ vào yêu cầu quản lý cụ thể đối với các chỉ tiêu

quản trị để thiết lập hệ thống tài khoản kế toán sử dụng cho KTQT.

Ảnh hưởng đến việc thực hiện hệ thống báo cáo tài chính

Việc áp dụng và hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính hợp lý, nhằm cung

cấp được những thông tin cần thiết phục vụ cho công tác quản lý của các doanh

nghiệp sản xuất giày cũng như các cơ quan chức năng của Nhà nước là một yêu cầu

rất cơ bản. Do đó, đây cũng là vấn đề cần được nghiên cứu để hoàn thiện. Nhìn

chung, báo cáo tài chính của doanh nghiệp phải được thiết kế đơn giản, dễ hiểu, bao

gồm cả hệ thống báo cáo bắt buộc và hệ thống báo cáo hướng dẫn. Các chỉ tiêu

phản ánh trong báo cáo cũng cần đảm bảo đơn giản, dễ hiểu và phản ánh đầy đủ các

thông tin phục vụ yêu cầu quản lý của mỗi doanh nghiệp.

2.2. Thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản

xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương

2.2.1. Thực trạng tổ chức bộ máy kế toán

Mỗi doanh nghiệp sản xuất giày có đặc điểm khác nhau về quy mô sản xuất

nhưng đại đa số đều có địa bàn hoạt động tập trung, quy mô nhỏ và vừa. Qua bảng

phụ lục 1a, 1b, 1c ta thấy ngành nghề kinh doanh chính là thực hiện gia công gia công

giày dép hoặc gia công một số chi tiết của sản phẩm giày: đế, mũi. Các doanh nghiệp

sản xuất giày trên địa bàn Hải Dương thường tồn tại dưới hình thức sở hữu là Công ty

cổ phần, Công ty TNHH, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. (Xem phụ lục số

1a, 1b, 1c). Các doanh nghiệp có qui mô lớn thường là các doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài như công ty TNHH giày Continuance Việt Nam, Công ty TNHH Samil

Hà Nội, Công ty TNHH giày Panta Việt Nam, Công ty Cổ phần Golden Sun. Các

doanh nghiệp này chủ yếu hoạt động theo mô hình tổ chức đã thành công của công ty

mẹ ở nước ngoài. Qua bảng phụ lục 1a, ta thấy thời điểm 31/12/2012 trên địa bàn tỉnh

85

Hải Dương có tổng số là 15.252 lao động làm việc trong lĩnh vực sản xuất giày dép

thì có đến 10.064 lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm

65,98%.

Năm 2013 với 16.472 lao động thì có đến 12.019 lao động sản xuất giày là

của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 72,69%. Năm 2014 với 15.851

lao động trong đó lao động trong các công ty có vốn đầu tư nước ngoài là 10.353

chiếm 65,31%. Năm 2015 với 18.510 lao động thì có 16.245 lao động trong doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 87,76%. Qua đó có thể thấy các doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng mở rộng về qui mô bởi đó là các mô

hình tổ chức quản lý đã thành công ở công ty mẹ.

Đại đa số các doanh nghiệp hoạt động theo phương thức gia công xuất khẩu,

một số ít doanh nghiệp sản xuất giày để bán (chủ yếu là giày thể thao) và có những

doanh nghiệp sản xuất kết hợp cả gia công và sản xuất để bán. Qua khảo sát các

doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương cho thấy phần lớn các

doanh nghiệp này đều áp dụng tổ chức bộ máy kế toán tập trung có kết hợp KTTC

và KTQT trong từng phần hành kế toán. Tùy theo đặc điểm cụ thể và địa bàn hoạt

động của từng doanh nghiệp, các doanh nghiệp thường lựa chọn một trong ba mô

hình tổ chức bộ máy kế toán đang được áp dụng rộng rãi ở nước ta hiện nay. Đó là

mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung, mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán

và mô hình tổ chức bộ máy kế toán hỗn hợp (vừa tập trung vừa phân tán). Trong tổ

chức bộ máy kế toán của các doanh nghiệp sản xuất giày đều phân công nhân viên

kế toán của các bộ phận kế toán đảm nhận cả phần KTTC và KTQT, tức là thực

hiện mô hình kết hợp giữa KTTC và KTQT trong cùng bộ máy kế toán. Tuy nhiên,

ở hầu hết các doanh nghiệp sản xuất giày hiện nay, KTQT chưa được chú trọng

nhiều. Qua khảo sát 20 (hai mươi) doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải

Dương cho thấy, có 90% doanh nghiệp đã lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán

tập trung và 10% doanh nghiệp đã lựa chọn mô hình tổ chức công tác kế toán kết

hợp hai hình thức trên. Cụ thể, số liệu khảo sát về mô hình tổ chức bộ máy kế toán

áp dụng tại các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

86

Bảng 2.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán áp dụng trong các đơn vị khảo sát

Mô hình tổ chức bộ máy kế toán

Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán Mô hình tổ chức bộ máy kế toán hỗn hợp

Cộng Số lượng (Công ty) 18 0 2 20 Phần trăm (%) 90 0 10 100

Nguồn: Khảo sát thực tế theo hình thức phiếu điều tra xem chi tiết phụ lục số 21a

Theo mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung, toàn doanh nghiệp có một

phòng kế toán ở đơn vị hành chính, bao gồm các bộ phận kế toán đảm nhiệm từng

phần hành kế toán riêng biệt nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhiệm vụ cơ

bản của phòng kế toán là thực hiện việc ghi chép kế toán tổng hợp và kế toán chi

tiết tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến các hoạt động của đơn vị.

Các bộ phận phụ thuộc hoặc trực thuộc đơn vị chỉ bố trí từ một đến hai nhân viên

hạch toán kinh tế. Các nhân viên này có nhiệm vụ ghi chép ban đầu, lập chứng từ

các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại bộ phận đơn vị, định kỳ chuyển về phòng kế toán

đơn vị chính kiểm tra, xử lý và ghi sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết. Các bộ

phận kế toán ở các doanh nghiệp này thường được bố trí gồm các phần hành kế toán

được thể hiện qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.6. Tổ chức bộ máy kế toán

Kế toán trưởng

...

Bộ phận kế toán nguồn vốn, quỹ

Bộ phận kế toán TSCĐ

Bộ phận kế toán...

Bộ phận kế toán tổng hợp Bộ phận kế toán vốn bằng tiền và t.toán Bộ phận kế toán chi phí và tính ZSP

Bộ phận kế toán DT và xác định KQKD

87

Kế toán trưởng: là người chịu trách nhiệm trước giám đốc doanh nghiệp về

việc tổ chức công tác kế toán, tài chính tại doanh nghiệp, thực hiện việc hướng dẫn

các nhân viên kế toán trong bộ máy kế toán làm tốt công tác kế toán theo đúng chế

độ Nhà nước quy định và quy trình kế toán do doanh nghiệp quy định.

Bộ phận kế toán tổng hợp: bộ phận này thường có một kế toán viên kế toán

có trình độ chuyên môn khá tốt hoặc một phó phòng kế toán đảm nhiệm một số

phần hành kế toán mà chưa bố trí cho các bộ phận kế toán khác, đồng thời có nhiệm

vụ tổng hợp số liệu, tài liệu do các bộ phận kế toán khác gửi đến để lập báo cáo tài

chính toàn doanh nghiệp.

Bộ phận kế toán TSCĐ: bộ phận này thường có một số nhân viên kế toán

thực hiện toàn bộ các công việc ghi chép KTTC và KTQT về tài sản dài hạn như

TSCĐ, các khoản đầu tư dài hạn khác và tài sản ngắn hạn như các loại nguyên vật

liệu, công cụ, dụng cụ,... cung cấp thông tin tổng hợp cho bộ phận kế toán tổng hợp

để lập báo cáo tài chính, đồng thời cung cấp thông tin chi tiết để lập các báo cáo

quản trị theo yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp.

Bộ phận kế toán vốn bằng tiền và thanh toán: bộ phận này thường có một số

nhân viên kế toán thực hiện việc ghi chép KTTC và KTQT về các nghiệp vụ thanh

toán với khách hàng, thanh toán với người bán và giao dịch với ngân hàng, cung

cấp thông tin tổng hợp cho kế toán tổng hợp để lập báo cáo tài chính và cung cấp

các thông tin chi tiết để lập các báo cáo quản trị theo yêu cầu quản lý cụ thể về các

khoản thanh toán của doanh nghiệp.

Bộ phận kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm: bộ phận này thường có

một số nhân viên thực hiện toàn bộ việc ghi chép các nghiệp vụ về chi phí và tính

giá thành sản phẩm, cung cấp thông tin tổng hợp cho bộ phận kế toán tổng hợp để

lập báo cáo tài chính và cung cấp thông tin chi tiết để lập các báo cáo quản trị theo

yêu cầu quản lý cụ thể về chi phí và giá thành của doanh nghiệp.

Bộ phận kế toán doanh thu và các định kết quả kinh doanh: bộ phận này

thường có một số nhân viên thực hiện việc ghi chép KTTC về các nghiệp vụ về bán

hàng, tính toán kết quả kinh doanh và cung cấp thông tin tổng hợp cho bộ phận kế

88

toán tổng hợp để lập báo cáo tài chính. Đồng thời, cung cấp thông tin chi tiết để lập

các báo cáo quản trị theo yêu cầu quản lý cụ thể về doanh thu và kết quả kinh doanh

của doanh nghiệp.

Khảo sát thực tế về trình độ của người làm kế toán trong các doanh nghiệp

sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Bảng 2.2. Trình độ của người làm kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất giày

Trình độ chuyên môn đào tạo Số lượng (DN) Tỷ lệ (%)

1. Sau đại học 2 1,8

2. Đại học 81 72,97

3. Cao đẳng 22 19,81

4. Trung cấp 6 5,4

5. Sơ cấp - -

Cộng 111 100

Nguồn: Khảo sát thực tế theo hình thức phiếu điều tra chi tiết phụ lục số 21b

Qua bảng trên thấy rằng nhân viên có trình độ đại học chiếm tỷ trọng cao

nhất (72,97%), trình độ cao đẳng (19,81%), trình độ sau đại học chỉ chiếm 1,8% chủ

yếu là các kế toán trưởng, nhìn chung số nhân viên này đáp ứng được yêu cầu

chuyên môn nghiệp vụ của doanh nghiệp. Trong đó, một số đơn vị có tỷ lệ người

làm kế toán tốt nghiệp đại học khá cao, chiếm tới hơn 100% trong tổng số những

người làm kế toán của đơn vị. Hàng năm, hầu hết trong số này đã được bồi dưỡng,

cập nhật kiến thức về kế toán khi có sự thay đổi, bổ sung chế độ kế toán thông qua

các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn. Do đó, có khả năng chuyên môn vững vàng

100% doanh nghiệp sản xuất giày đã sử dụng máy vi tính trong công tác kế toán nên

việc cung cấp, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin khá kịp thời, đáp ứng yêu cầu

điều hành sản xuất kinh doanh của lãnh đạo doanh nghiệp sản xuất giày.

2.2.2. Thực trạng sử dụng các phương pháp kế toán để thu thập, xử lý, phân

tích cung cấp thông tin kế toán

Bản chất của kế toán được thể hiện là quá trình thu nhận xử lý những dữ liệu

có tính chất tài chính để cung cấp thông tin cho những đối tượng cần thiết. Quá

trình kế toán được bắt đầu từ khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lập chứng từ, ghi sổ,..

89

lập các báo cáo kế toán. Kế toán sử dụng hệ thống các phương pháp kế toán

(Phương pháp chứng từ, phương pháp tài khoản, phương pháp tính giá, phương

pháp tổng hợp cân đối kế toán) để thực hiện quá trình thu nhận, ghi chép, tổng hợp,

phân tích và cung cấp các thông tin kế toán.

Thực trạng thu thập thông tin kiểm tra thông tin đầu vào của hệ thống kế toán

Đối với các doanh nghiệp chỉ sản xuất theo phương thức gia công xuất khẩu

Thu nhận thông tin thực hiện quá khứ: các doanh nghiệp này chủ yếu sản xuất hàng

gia công vì khách hàng cung cấp toàn bộ nguyên liệu, mẫu mã doanh nghiệp tổ

chức sản xuất phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng sản phẩm và đặc biệt thời gian

giao hàng. Hàng gia công có đặc điểm là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm tỉ

trọng rất nhỏ trong tổng giá thành do toàn bộ NVL kể kể cả bao bì do khách hàng

(bên đặt gia công) cung cấp theo giá CIF tại cảng Hải Phòng hoặc theo các điều

kiện của hợp đồng gia công.

Về tổ chức chứng từ vật liệu; kế toán chỉ quản lý về mặt số lượng của NVL

nhập kho theo từng hợp đồng gia công và khi có lệnh xuất thì cung cấp cho các

phân xưởng. Kế toán không hạch toán phần giá vốn thực tế của bản thân NVL dùng

cho sản xuất mà chỉ hạch toán phần chi phí vận chuyển số NVL đó từ cảng về kho

vào khoản mục chi phí NVL trực tiếp phục vụ công tác tính giá thành sản phẩm

trong kỳ. Căn cứ vào hệ thống chứng từ kế toán do Bộ tài chính ban hành, các

doanh nghiệp sản xuất giày này tùy theo đặc điểm cụ thể của từng doanh nghiệp về

nội dung, số lượng, loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh để tổ chức vận dụng hệ thống

chứng từ kế toán phù hợp. Một số doanh nghiệp sản xuất giày sử dụng danh mục

chứng từ kế toán ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ/BTC ngày 20/03/2006 và

Thông tư số 244/2009/TT- BTC nay thay thế bằng TT200/2014/TT-BTC ban hành

ngày 22/12/2014 của Bộ trưởng Bộ tài chính chủ yếu là các công ty cổ phần, doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, một số doanh nghiệp sử dụng danh mục chứng từ

kế toán được ban hành theo QĐ số 48/2006/QĐ/BTC ngày 14/9/2006 và Thông tư

số 138/ 2010/ TT- BTC đó là các công ty TNHH MTV, Doanh nghiệp tư nhân,

Công ty TNHH...

90

Thu nhận thông tin tương lai: Trách nhiệm của các nhà quản trị trong doanh

nghiệp là điều hành quản lý các hoạt động của doanh nghiệp. Các chức năng của

nhà doanh nghiệp tất cả đều xoay quanh vấn đề ra quyết định. Để ra quyết định thì

cần phải có thông tin một trong những thông tin không thể thiếu được đó là thông

tin tương lai. Các thông tin tương lai thường là các thông tin không có sẵn do đó kế

toán đặc biệt là KTQT phải sử dụng một số phương pháp, kỹ thuật, công cụ để thu

thập trình bày thành các dạng phù hợp với nhu cầu của các nhà quản trị. Qua khảo

sát một số doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương cho thấy phần

lớn các doanh nghiệp sản xuất giày chưa thực sự làm tốt khi thu nhận thông tin

tương lai đó là thông tin dự báo: dự báo thị trường, thông tin về đánh giá chất lượng

sản phẩm, dự báo nhu cầu tiêu thụ, dự báo nguồn hàng. Đặc biệt là các thông tin về

về thị trường sản phẩm là vấn đề cốt yếu mà doanh nghiệp phải quan tâm nhiều nhất

bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Công ty cổ

phần giày Hải Dương, Công ty cổ phần giày Cẩm Bình, Công ty TNHH Bằng Nam,

Công ty TNHH Việt Phát phòng kinh doanh xuất nhập khẩu làm thêm nhiệm vụ

nghiên cứu thị trường, công việc nghiên cứu thị trường không được đầu tư thỏa

đáng. Đại bộ phận các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương sản

xuất theo đơn đặt hàng cho các đối tác nước ngoài do đó việc thu thập thông tin thị

trường, nghiên cứu thị trường là những hoạt động quan trọng của mỗi doanh nghiệp.

Nếu chúng ta không đầu tư nghiên cứu các thông tin thị trường một cách cụ thể các

doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương rất có thể bị đối tác trốn

đơn hàng hoặc sản xuất không đáp ứng nhu cầu đối tác.

Qua khảo sát thực trạng về tổ chức chứng từ và ghi chép ban đầu trong các

doanh nghiệp sản xuất giày như: Công ty Cổ phần giày Hải Dương, Công ty TNHH

Công Nghiệp Oriental Sports Việt Nam, Công ty TNHH Giày Continuance Việt

Nam, Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình, cho thấy:

- Thực trạng tổ chức hạch toán ban đầu, lập chứng từ kế toán để ghi nhận

các nghiệp vụ kinh tế phát sinh

* Chứng từ kế toán tiền mặt: đây là các chứng từ kế toán liên quan đến tiền

91

tiền mặt tại quỹ, các chứng từ này sử dụng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát

sinh liên quan đến tăng, giảm tiền mặt tại quỹ gồm: Phiếu thu, Phiếu chi, Giấy đề

nghị tạm ứng, Giấy đề nghị thanh toán, Bảng kê quỹ… cụ thể là:

Phiếu thu, Phiếu chi (Mẫu 01-TT; 02-TT): khi phát sinh các nghiệp vụ thu,

chi tiền mặt, bộ phận kế toán thanh toán lập Phiếu thu hoặc phiếu chi thành 2 hoặc 3

liên. Các chứng từ này được Kế toán trưởng duyệt và đó là cơ sở để thủ quỹ thu, chi

tiền mặt, vào sổ quỹ, sau đó chuyển cho kế toán thanh toán để ghi sổ kế toán tổng

hợp và sổ kế toán chi tiết.

Bảng kiểm kê quỹ (Mẫu 08a-TT, 08b-TT): chứng từ này được lập khi thực

hiện việc kiểm kê quỹ. Bảng kiểm kê quỹ được lập thành 2 liên và chi tiết theo từng

loại tiền.

* Chứng từ kế toán hàng tồn kho: các chứng từ này gồm: Phiếu nhập kho;

Phiếu xuất kho; Biên bản giao nhận vật tư; Biên bản kiểm kê sản phẩm… Qua khảo

sát thực trạng về lập các chứng từ này cho thấy:

Tất cả các hoạt động kinh tế xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp liên quan đến việc nhập, xuất vật liệu đều phải được lập chứng từ kế

toán đầy đủ, kịp thời, chính xác theo đúng chế độ ban đầu về chứng từ đã được Nhà

nước ban hành đồng thời phải đảm bảo những thủ tục nhất định.

Do đặc điểm của hầu hết các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh

Hải Dương là sản xuất gia công do vậy chi phí NVL chính (các loại da, giả da, vải)

chỉ bao gồm chi phí vận chuyển nội địa, bốc dỡ NVL chính do khách hành cung

ứng từ cảng về đến kho. NVL gia công được theo dõi trên tài khoản riêng (Hàng

hóa nhận gia công).

Thủ tục nhập kho vật liệu nhập khẩu:

Căn cứ vào hoá đơn thương mại, bản kê chi tiết hàng hoá nhập khẩu, biên

bản kiểm tra vật tư, Phòng Kế hoạch vật tư tiến hành làm thủ tục nhập kho. Phiếu

nhập kho được viết thành 4 liên:

+ Một liên do Phòng vật tư giữ và lưu lại;

+ Một liên chuyển cho kế toán thanh toán;

92

+ Một liên chuyển cho thủ kho;

+ Một liên chuyển cho kế toán vật liệu.

Trong phiếu nhập kho căn cứ vào số lượng thực nhập để ghi vào cột số lượng

rồi căn cứ vào giá trên hoá đơn ngoại để ghi vào cột giá đơn vị và cột thành tiền.

Phiếu nhập kho phải được người giao vật tư, thủ kho, người viết phiếu, phụ trách

cung tiêu và thủ trưởng đơn vị ký.

Thủ tục nhập kho vật liệu mua trong nước:

Vật tư mua trong nước được chia làm hai loại:

- Loại phục vụ cho sản xuất có số lượng tương đối ổn định thì có ký kết hợp

đồng kinh tế.

- Loại phục vụ cho sản xuất, văn phòng phẩm, thay thế có số lượng nhỏ,

không ổn định thì không ký kết hợp đồng kinh tế mà phải lập dự trù mua.

Để làm thủ tục nhập kho cần có hợp đồng, hoá đơn tài chính có dấu của đơn

vị bán, biên bản kiểm nghiệm vật tư, dự trù mua vật tư. Sau khi có đầy đủ các yếu

tố cần thiết, Phòng vật tư tiến hành làm thủ tục nhập kho. Phiếu nhập kho được viết

làm 4 liên:

+ Một liên lưu tại Vật tư;

+ Một liên do người đi mua, người cung cấp giữ cùng hoá đơn tài chính để

làm thủ tục thanh toán;

+ Một liên giao cho kế toán vật tư;

+ Một liên giao cho thủ kho.

Hình thức ghi chép trên phiếu nhập kho cũng tương tự như việc ghi trên

phiếu nhập kho vật liệu nhập khẩu.

Ghi chú: Khi vật tư về nhập kho, thủ kho có trách nhiệm sắp xếp các loại vật

liệu trong kho một cách hợp lý, khoa học, đảm bảo theo yêu cầu từng loại, từng thứ

vật liệu. Ngoài ra còn tiện lợi cho việc theo dõi công tác nhập, xuất kho, kiểm tra

số tồn kho. Vật liệu trong kho của doanh nghiệp chủ yếu dùng cho sản xuất sản

phẩm, cho quản lý sản xuất và cho quản lý doanh nghiệp, ngoài ra còn trao đổi với

đơn vị khác.

93

Thủ tục xuất kho vật liệu:

Tại doanh nghiệp vật tư được chia làm 2 loại:

- Loại vật tư đã xác định được mức tiêu hao;

- Loại vật tư chưa xác định được mức tiêu hao.

Xuất kho vật tư xác định được mức tiêu hao: là loại phục vụ cho sản xuất

sản phẩm.

+ Dựa vào định mức tiêu hao nguyên vật liệu sản phẩm và chỉ lệnh sản xuất,

phòng KHVT tiến hành viết phiếu xuất kho vật tư theo hạn mức và giao lại cho bộ

phận sản xuất để đến kho vật tư lĩnh vật tư. Khi thực hiện xuất đúng số lượng, thủ

kho và người nhận ký vào phiếu xuất kho.

+ Phiếu xuất kho vật tư theo hạn mức được viết làm 4 liên:

. Một liên lưu tại phòng Vật tư;

. Một liên lưu tại kho;

. Một liên người lĩnh vật tư giữ;

. Một liên gửi cho phòng kế toán để kế toán vật tư hạch toán.

+ Khi viết phiếu xuất kho tiến hành viết phiếu cho từng phân xưởng, từng

đơn đặt hàng. Đối với những đơn hàng có số lượng lớn thì việc viết phiếu xuất kho

được tiến hành theo từng phần. Việc xuất kho vật tư này được thể hiện qua phiếu

xuất kho theo hạn mức.

Xuất kho vật tư không định mức

Loại này bao gồm:

- Vật tư sản xuất (kể cả xuất bổ sung khi dùng quá định mức);

- Vật tư thay thế, sửa chữa, bảo trì, vệ sinh máy móc, thiết bị;

- Văn phòng phẩm.

Khi xuất kho vật tư ở loại này phải căn cứ vào dự trù đã được duyệt, thủ tục

viết phiếu và số lượng phiếu viết cho một lần xuất kho tương tự như việc viết phiếu

xuất kho vật tư theo hạn mức.

* Chứng từ kế toán về TSCĐ: các chứng từ kế toán về TSCĐ gồm: Biên bản

giao nhận TSCĐ (Mẫu 01-TSCĐ); Biên bản nghiệm thu TSCĐ; Biên bản thanh lý

94

TSCĐ (Mẫu 02-TSCĐ)…

* Chứng từ kế toán về lao động tiền lương: Với đặc thù của doanh nghiệp

sản xuất đó là sử dụng rất nhiều các yếu tố đầu vào đó là nguyên, nhiên, vật liệu,

công nghệ, sức lao động để tạo ra sản phẩm. Do đặc điểm của tiền lương là trả

lương cho người lao động theo sản phẩm, theo thời gian, theo lương khoán tùy theo

lao động làm ở bộ phận nào? Tính chất công việc, ngoài ra số tiền mà người lao

động nhận được còn gồm tiền làm đêm, làm thêm giờ, phụ cấp các loại. Các chứng

từ này gồm: Bảng chấm công (Mẫu 01a-LĐTL); Bảng thanh toán lương (Mẫu 02-

LĐTL); Bảng thanh toán làm thêm giờ (Mẫu 06-LĐTL); Bảng phân phối thu nhập

theo lao động; Bảng kê các khoản trích theo lương (Mẫu 10-LĐTL)..

Do đặc điểm sản xuất gia công là chủ yếu nên chi phí nhân công trực tiếp

chiếm tỉ trọng lớn khoản trên 50% chi phí. Bao gồm các khoản tiền lương của công

nhân trực tiếp sản xuất, được tính trên đơn giá lương sản phẩm (bao gồm sản phẩm

trong định mức và sản phẩm vượt định mức có đơn giá khác nhau) và các khoản

trích theo lương. Khi bắt đầu đưa một đơn hàng vào sản xuất, phòng kỹ thuật sẽ tiến

hành cho sản xuất thử và ấn định thời gian hoàn thành làm căn cứ để tính đơn giá

căn cứ vào đó phòng kế hoạch sẽ tổng hợp lại thành bảng đơn giá sản phẩm cho

từng đơn hàng. Qua khảo sát thực tế một số doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn

tỉnh Hải Dương Công ty cổ phần giày Hải Dương, Công ty cổ phần giày Cẩm Bình,

Công ty TNHH Việt Phát: Người phụ trách tại các bộ phận sử dụng lao động

(phòng, phân xưởng, tổ, đội) theo dõi số công thực hiện của từng lao động trên các

bảng chấm công. Cuối tháng các phân xưởng căn cứ vào bảng chấm công, số giờ

làm thêm, đơn giá lương sản phẩm, hệ số phụ cấp các chức danh để lập bảng thanh

toán tiền lương cho công nhân từng tổ trong phân xưởng và bảng tổng hợp tiền

lương toàn phân xưởng quản đốc sau đó trình lên phòng Tổ chức Hành chính để

kiểm tra. Bảng tính lương của các phân xưởng sau khi được kiểm tra được chuyển

về phòng Kế toán tài chính, kế toán thanh toán căn cứ vào bảng lương của các đơn

vị để lập bảng thanh toán lương của toàn bộ cán bộ, công nhân viên và tiến hành

cập nhật vào phần mềm trên các TK 334, 338, 622,... Sau khi cập nhật dữ liệu vào

95

phần mềm kế toán có thể in ra sổ chi tiết, sổ của TK 622, TK 338 và các TK khác có

liên quan.

- Thực trạng tổ chức kiểm tra thông tin phản ánh trên chứng từ kế toán

Để đảm bảo tính đúng đắn của việc lập chứng từ kế toán, làm cơ sở pháp lý

cho việc ghi sổ kế toán thì việc kiểm tra chứng từ kế toán là rất quan trọng. Tuy

nhiên, ở một số doanh nghiệp sản xuất giày, công tác kiểm tra lần đầu chứng từ kế

toán của người làm kế toán còn hạn chế; một số chứng từ không ghi ngày, tháng,

thậm chí thiếu một số nội dung quy định khác như các đơn vị tính phụ, thời hạn

thanh toán, phương thức vận chuyển...

Thông thường, kế toán trưởng hoặc kế toán tổng hợp là người kiểm tra chứng

từ kế toán lần hai. Các chứng từ kế toán được kiểm tra lần hai nhìn chung đã phát

hiện được những thiếu sót của những người lập chứng từ cũng như chứng từ đã

được kiểm tra lần đầu. Từ đó có sự bổ sung, chỉnh sửa phù hợp.

- Thực trạng phân loại, sắp xếp chứng từ kế toán

Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong các doanh nghiệp sản xuất giày rất đa

dạng nên các doanh nghiệp này cũng sử dụng nhiều loại chứng từ khác nhau để

phản ánh theo từng loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực sự đã hoàn thành. Việc

sắp xếp, phân loại chứng từ được thực hiện tùy theo yêu cầu quản lý chung của mỗi

doanh nghiệp. Qua khảo sát thực tế cho thấy, về cơ bản việc phân loại chứng từ

đang được các doanh nghiệp thực hiện theo tiêu thức mức độ phản ánh trên chứng

từ bao gồm: Chứng từ gốc (chứng từ ban đầu) và chứng từ trung gian (chứng từ

tổng hợp). Số lượng chứng từ mỗi loại phụ thuộc vào việc vận dụng hình thức kế

toán cụ thể và mức độ tin học hóa công tác kế toán trong từng doanh nghiệp. Cụ thể,

ở Công ty Cổ phần giày Hải Dương, Công Ty TNHH Samil Hà Nội Vina, Công Ty

TNHH Công Nghiệp Oriental Sports Việt Nam, Công Ty TNHH Giày Continuance

Việt Nam, Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình,…việc sắp xếp, phân loại chứng từ gồm:

Phiếu thu, phiếu chi tiền mặt, giấy Báo nợ, giấy Báo có, chứng từ nhập, xuất vật tư,

tài sản.., theo cách sắp xếp này, thứ tự của chứng từ được đánh số liên tục theo từng

loại chứng từ gốc.

96

- Thực trạng tổ chức bảo quản, lưu trữ và hủy bỏ chứng từ kế toán

Chứng từ kế toán ở các doanh nghiệp sản xuất giày hiện nay được đánh số

theo thứ tự và đóng thành từng tập theo tháng, do phòng kế toán của doanh nghiệp

cất giữ. Sau khi báo cáo tài chính được xét duyệt, toàn bộ chứng từ được phòng kế

toán làm hồ sơ đưa vào lưu trữ tại kho lưu trữ của doanh nghiệp trong thời hạn

quy định là 10 năm. Hiện nay, chỉ có một số ít doanh nghiệp có kho lưu trữ tư liệu

còn phần nhiều các doanh nghiệp thường lưu trữ chứng từ kế toán tại phòng kế

toán của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, công tác tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ và ghi chép ban đầu

ở một số doanh nghiệp còn một số hạn chế như: về việc lập, ghi chép các yếu tố liên

quan đến các nội dung ghi trên chứng từ kế toán quy định đôi khi chưa đầy đủ, vẫn

còn tình trạng khi lập chứng từ không ghi số hiệu chứng từ hoặc một số yếu tố chưa

thể hiện đầy đủ; ví dụ như Công ty TNHH Việt Phát, nghiệp vụ phản ánh trên

chứng từ còn dài dòng, diễn đạt vắn tắt gây phức tạp và khó khăn cho công tác kiểm

tra, thanh tra kế toán.

Các doanh nghiệp sản xuất giày đều trên cơ sở hệ thống chứng từ kế toán mà

Nhà nước đã ban hành để vận dụng vào điều kiện cụ thể của doanh nghiệp. Tuy

nhiên, qua công tác khảo sát thực tế cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp chỉ thực

hiện tốt việc vận dụng đối với các chứng từ bắt buộc còn các chứng từ hướng dẫn

được sử dụng rất ít và thường không có hiệu quả. Việc ghi chép ban đầu trên một số

loại chứng từ ở các doanh nghiệp khác nhau có sự vận dụng khác nhau. Ví dụ, ở

Công ty TNHH Việt Phát, Công ty TNHH MTV Bằng Nam. Nhiều đơn vị phản ánh

không kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hàng ngày nên công việc dồn vào

những ngày cuối tháng, ảnh hưởng đến công tác khoá sổ và lập BCTC.

Một số doanh nghiệp sản xuất giày có quy trình luân chuyển chứng từ khá chặt

chẽ như Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình, Công ty Cổ phần giày Hải Dương, Công ty

TNHH Giày Continuance Việt Nam, Công ty Cổ phần Golden Sun, Chi nhánh Công

ty TNHH Sao Vàng đảm bảo tránh được các khâu trung gian của chứng từ đi qua,

công tác kiểm tra chứng từ bao gồm kiểm tra các yếu tố ghi trên chứng từ, kiểm tra

97

nội dung ghi chép trên chứng từ được thực hiện tốt. Việc bảo quản và lưu trữ chứng

từ kế toán cũng được thực hiện theo đúng các quy định của chế độ kế toán hiện hành

nên công tác cung cấp thông tin phục vụ quản lý kịp thời và đạt hiệu quả cao.

* Đối với chứng từ điện tử: Hiện nay qua khảo sát toàn bộ doanh nghiệp sản

xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương 100% số doanh nghiệp có sử dụng chứng từ

điện tử đó là các giấy ghi đơn hàng, các thủ tục làm việc với cơ quan hải quan, cơ

quan thuế. Đối với các chứng từ nộp thuế từ quý 2 năm 2015 Cục thuế thỉnh Hải

Dương yêu cầu bắt buộc toàn bộ các doanh nghiệp phải nộp thuế qua phương tiện

điện tử trừ các doanh nghiệp đặc biệt, các chứng từ làm việc với cơ quan hải quan.

2.2.3. Thực trạng tổ chức xử lý, hệ thống hóa phân tích và cung cấp thông

tin kế toán

Thực trạng xử lý, hệ thống hóa cung cấp thông tin KTTC:

Để xử lí, hệ thống hóa các thông tin kinh tế tài chính kế toán trong các công

ty sản xuất giày đã sử dụng rất nhiều phương pháp một trong những phương pháp

quan trọng đó là phương pháp tính giá. “Trong quá trình thu nhận, xử lý, hệ thống

hóa và cung cấp thông tin, kế toán phải đo lường được các đối tượng kế toán thông

qua việc lượng hóa chúng bằng các thước đo hiện vật, thước đo lao động và thước

đo tiền tệ” [58, tr.68]. Trong khoa học kế toán nhiều loại giá khác nhau được sử

dụng xác định trị giá của đối tượng kế toán. Các loại giá đó bao gồm giá vốn thực

tế, giá trị hợp lý, giá thị trường, giá thấp nhất giữa giá vốn thực tế và giá thị trường,

giá trị hiện tại, giá trị có thể thu hồi được,... Mỗi loại giá khác nhau có những ưu

điểm, nhược điểm nhất định đối với những đặc tính của thông tin kế toán. Hơn nữa

sự ảnh hưởng của nó đến các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính cũng không giống nhau,

việc lựa chọn loại giá nào để tính giá các đối tượng kế toán phụ thuộc vào điều kiện

từng quốc gia cụ thể trong từng thời kỳ cụ thể. Đại bộ phận các doanh nghiệp sản

xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương mới chỉ quan tâm đến tính giá của KTTC mà

chưa quan tâm đến mục đích sử dụng các thông tin về giá theo yêu cầu quản trị

doanh nghiệp. Việc tính giá tài sản, các đối tượng kế toán mới chỉ dừng lại ở các

nguyên tắc chung về tính giá của KTTC.

98

Đối với các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay

còn nhiều điểm chưa hợp lý đặc biệt là tính giá của vật liệu xuất kho.

Qua khảo sát 20 (hai mươi) doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn Hải

Dương cho thấy:

Hầu hết các doanh nghiệp đều sử dụng phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ

mà không chia ra vật liệu được nhập từ các nguồn nhập khác nhau để vận dụng

phương pháp tính giá khoa học, hợp lý. Hầu hết khi tính giá vật liệu xuất kho các

doanh nghiệp mới chỉ chú ý đến việc tính giá theo KTTC mà chưa chú trọng đến chi

phí của KTQT. Qua khảo sát ở các doanh nghiệp như; Công ty Cổ phần giày Hải

Dương, Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình, Công ty TNHH Samil Hà Nội Vina, Công

ty TNHH Sao Vàng, Công ty TNHH MTV may Dũng Anh, Công ty TNHH giày da

Sao Vàng Ninh Giang.

- Thực trạng tổ chức hệ thống tài khoản kế toán xử lý và hệ thống hóa

thông tin kế toán

Đối với các tài khoản sử dụng cho KTTC: Qua khảo sát thực tế ở một số

doanh nghiệp sản xuất giày cho thấy, hiện nay có một số doanh nghiệp đang áp

dụng hệ thống tài khoản kế toán theo theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày

20/3/2006 & Thông tư số 244/2009/TT-BTC nay thay thế bằng TT200/2014/TT-

BTC ban hành ngày 22/12/2014 của Bộ trưởng Bộ tài chính, các doanh nghiệp này

thường là những công ty cổ phần có quy mô lớn, được chuyển đổi từ doanh nghiệp

nhà nước thành CTCP như Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình, Công ty Cổ phần giày

Hải Dương, Công ty TNHH Samil Hà Nội, Công ty TNHH sản xuất và thương mại

Tân Cương. Một số công ty đang áp dụng hệ thống tài khoản kế toán ban hành theo

quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 & Thông tư số 138/2010/TT- BTC

như: Công ty Cổ Phần Sản xuất Thương mại Thảo Nguyên, Công ty TNHH MTV

Thương mại Thuận Thành, Công ty TNHH MTV - Sản xuất Thương mại Đức Vạn

Lộc, Doanh nghiệp Tn may mặc và Vt Hoa Việt, Công ty TNHH Long Sơn, Công ty

TNHH MTV Minh Phúc, Công ty TNHH MTV Bằng Nam, Công ty TNHH giày da

Sao Vàng Ninh Giang... Các công ty sản xuất giày đã lựa chọn các tài khoản cấp 1

99

và cấp 2 trong từng loại tài khoản để áp dụng phù hợp với hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp mình. Căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh, tính chất, yêu cầu,

trình độ quản lý và trình độ của người làm kế toán trong đơn vị, dựa vào quy định

tại điểm 4 mục Quy định chung của chế độ kế toán để xác định các tài khoản cấp 1

và TK cấp 2 sử dụng cho KTTC.

Các doanh nghiệp căn cứ vào số lượng nghiệp vụ kinh tế phát sinh để xây

dựng hệ thống tài khoản tổng hợp và tài khoản chi tiết theo yêu cầu quản lý:

Nhóm tài khoản phản ánh các khoản tiền và thanh toán TK 111, TK 112, TK 113,

TK 131,...

Nhóm các TK theo dõi doanh thu như: TK 511, TK 512, TK 521,...

Nhóm các TK theo dõi chi phí như: TK 621, TK 622, TK 627, TK 635...

Nhóm các TK theo dõi các khoản đầu tư: TK 221, TK 211, TK 214,....

- Việc xác định tài khoản sử dụng cho KTTC hoàn toàn tôn trọng hệ thống

tài khoản kế toán đã được Bộ Tài chính quy định;

- Tình hình ghi chép kế toán trên hệ thống tài khoản KTTC:

+ Một số doanh nghiệp khi tập hợp chi phí sản xuất chung chưa chính xác

ví dụ chi phí vật liệu dùng cho bộ phận phân xưởng hạch toán vào chi phí NVL

trực tiếp, chi phí tiền lương nhân viên phân xưởng hạch toán vào chi phí nhân

công trực tiếp như công ty Cổ phần giày Hải Dương, Công ty TNHH MTV Bằng

Nam. Một số chi phí hạch toán chưa thống nhất giữa các doanh nghiệp ví dụ chi

phí cho chuyên gia nước ngoài có doanh nghiệp hạch toán vào chi phí sản xuất

chung như Công ty cổ phần giày Hải Dương, có công ty lại hạch toán vào chi phí

quản lý doanh nghiệp như công ty Samil Hà Nội Vina

+ Hầu hết các doanh nghiệp đều sử dụng TK002 “Hàng hóa nhận gia công”

để theo dõi phần nguyên vật liệu nhận của bên gia công mặc dù TT200/2014/TT-

BTC đã bỏ các tài khoản ngoài bảng.

+ Đại bộ phận các doanh nghiệp sản xuất giày không sử dụng TK 151 -

Hàng mua đang đi đường cuối tháng, mặc dù nghiệp vụ này ở doanh nghiệp nào

cũng vẫn phát sinh như: Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình, Công ty Cổ phần giày

100

Hải Dương. Khi phát sinh các nghiệp vụ mua nguyên vật liệu, kế toán ở các công

ty này ghi như sau:

Nợ TK 152 - Nguyên liệu, vật liệu (nếu là NVL)

Có TK 111, 112, 331: thanh toán bằng tiền hoặc chưa thanh toán

Hoặc: nếu NVL mua nhập khẩu

Nợ TK 152: Giá mua NVL bao gồm cả thuế NK (nếu có)

Có TK 333: thuế nhập khẩu phải nộp

Có TK 111, 112, 331: Thanh toán bằng tiền hoặc chưa thanh toán

+ Trường hợp NVL tồn kho bị thiếu hụt, mất mát trong quá trình bảo quản,

hầu hết các doanh nghiệp ghi vào chi phí bán hàng trong kỳ như: Công ty cổ phần

giày Cẩm Bình, Công ty CP giày Hải Dương, Công ty TNHH Samil Hà Nội Vina,

Công ty TNHH Giày Continuance Việt Nam, Chi nhánh Công ty TNHH Sao Vàng.

- Đại bộ phận các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương không

lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho và dự phòng phải thu khó đòi (nay là dự phòng

tổn thất tài sản - TK229) do các doanh nghiệp hầu hết là sản xuất theo đơn đặt hàng.

- Tài khoản sử dụng cho KTQT

Các doanh nghiệp sản xuất giày thực hiện KTTC và KTQT trên cùng hệ

thống tài khoản. Do đó, trên cơ sở hệ thống tài khoản kế toán do Nhà nước ban

hành, các doanh nghiệp xây dựng các tài khoản kế toán chi tiết một cách cụ thể để

phản ánh các đối tượng kế toán theo yêu cầu quản trị của doanh nghiệp.

Nguyên tắc chung của việc xác định các tài khoản sử dụng cho KTQT trong

các doanh nghiệp sản xuất giày là:

+ Các tài khoản kế toán được chi tiết theo cấp, nếu hệ thống tài khoản kế

toán đã có các tài khoản chi tiết đến cấp 2 phản ánh KTTC thì tài khoản KTQT sẽ

chi tiết đến cấp 3, 4, 5... để phản ánh các đối tượng cụ thể theo yêu cầu quản lý.

+ Việc lựa chọn số hiệu các tài khoản KTQT, căn cứ vào các chỉ tiêu quản lý

như theo nhóm sản phẩm, hàng hóa, theo địa điểm sản xuất kinh doanh, phân xưởng

sản xuất...

Khảo sát một số doanh nghiệp cho thấy cách xác định tài khoản KTQT như

101

sau: Căn cứ vào yêu cầu quản lý đối với từng chỉ tiêu quản trị để xác định tài

khoản trên cơ sở các tài khoản cấp 1 hoặc cấp 2 đã được chế độ kế toán quy định,

ví dụ tài khoản 155 - Thành phẩm. Trong chế độ kế toán theo quyết định số

48/2006/QĐ-BTC, tài khoản này chỉ có TK cấp 1, Các doanh nghiệp mở tài khoản

cấp 2 để phản ánh số hiện có và tình hình biến động của từng loại giày:

TK 1551 - Giày da; TK 1552 - Giày vải; TK 1553 - Giày thể thao.

Tương tự như vậy, TK 642 - Chi phí quản lý kinh doanh, trong chế độ kế

toán theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC, tài khoản này được mở các tài khoản cấp

2 để phản ánh chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp như sau:

TK 6421 - Chi phí bán hàng; TK 6422 - Chi phí quản lý doanh nghiệp.

- Thực trạng về tổ chức hệ thống sổ kế toán để xử lý và hệ thống hóa

thông tin kế toán

Trong các doanh nghiệp sản xuất giày thường áp dụng hình thức Nhật ký

chung là chủ yếu, một số đơn vị áp dụng hình thức Chứng từ ghi sổ. Theo số liệu

khảo sát về hình thức kế toán áp dụng tại 20 (hai mươi) doanh nghiệp sản xuất giày

trên địa bàn tỉnh Hải Dương cho thấy, các doanh nghiệp sản xuất giày có 12 doanh

nghiệp áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chung (chiếm 60%), 6 doanh nghiệp áp

dụng hình thức chứng từ ghi sổ (chiếm 30%) còn lại các doanh nghiệp áp dụng 2

hình thức là Nhật ký - Sổ cái, Nhật ký chứng từ. Đặc biệt là các doanh nghiệp được

khảo sát đều làm công tác kế toán trên máy vi tính và áp dụng phần mềm kế toán

phù hợp với đặc điểm của từng đơn vị.

Bảng 2.3. Hình thức kế toán áp dụng trong các đơn vị khảo sát

Stt Hình thức kế toán Tỷ lệ %

Hình thức kế toán Nhật ký chung Hình thức Nhật ký - chứng từ Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ Hình thức kế toán Nhật ký - Sổ cái

1 2 3 4 Cộng Số lượng DN 12 1 6 1 20 60 5 30 5 100

Nguồn: Khảo sát thực tế theo hình thức phiếu điều tra xem phụ lục số 20

102

Với đặc thù là các doanh nghiệp sản xuất gia công hàng xuất khẩu. Doanh

thu của hàng gia công được ghi nhận khi hàng hóa xuất ra khỏi kho có phiếu xuất

kho và được mở tờ khai hải quan. Hàng hóa sẽ đi đến cảng và sau khi hoàn thành

mọi thủ tục xác thực được xuất chính thức rời khỏi cảng. Toàn bộ chứng từ được

luân chuyển về phòng kế toán của doanh nghiệp và được phát hành hóa đơn, đồng

thời ghi nhận doanh thu. Tỷ giá xuất kho được xác định tỷ giá thực tế tại thời điểm

mở tờ khai hải quan tại cơ quan hải quan.

Về tổ chức lập và phân tích báo cáo kế toán để cung cấp thông tin

Đối với báo cáo tài chính: Đại bộ phận các doanh nghiệp sản xuất giày chấp

hành đầy đủ số lượng các báo cáo tài chính bắt buộc đó là Bảng cân đối kế toán

(BCĐKT), Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (BCKQHĐKD), Báo cáo lưu

chuyển tiền tệ (BCLCTT), Thuyết minh báo cáo tài chính (TMBCTC). Tuân thủ

theo đúng nguyên tắc lập và trình bày các chỉ tiêu kinh tế - tài chính phản ánh trên

báo cáo tài chính. Sử dụng mẫu biểu và áp dụng phương pháp lập báo cáo tài chính

theo đúng quy định. Đồng thời, định kỳ có thực hiện công tác phân tích báo cáo tài

chính để cung cấp các thông tin về tình hình kinh tế tài chính cho nhà quản lý có cơ

sở ra quyết định. Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp còn một số tồn tại sau đây: Qua

khảo sát các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương:

* Đối với các Công ty cổ phần: Hầu hết các Công ty cổ phần sản xuất giày là

các công ty hoạt động khá lâu trong lĩnh vực sản xuất giày đã thiết lập được hệ

thống các nhà cung cấp trong nước và nước ngoài có uy tín, cung cấp hàng đảm bảo

chất lượng, giá cả hợp lý. Thông tin phục vụ vay vốn thì các NHTM sẽ tổ chức

thẩm định, đánh giá dựa trên rất nhiều các chỉ tiêu: nhóm tỉ suất khả năng thanh

toán, nhóm tỉ suất về cấu trúc tài chính, nhóm tỉ suất về hiệu quả kinh doanh. Qua

đó thấy được sự biến động doanh thu của tài sản, nợ phải thu để các doanh nghiệp

kịp thời có ra quyết định có biện pháp xử lý kịp.

Ngoài ra công ty còn sử dụng phân tích các tỉ suất của BCTC: phân tích

nguồn tài trợ; các khoản phải thu; hàng tồn kho.

Hầu hết các doanh nghiệp chỉ mới quan tâm đến các báo cáo bắt buộc theo

chế độ quy định như Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,...

103

mà không quan tâm nhiều đến việc lập các báo cáo quản trị do đó chưa đủ cung cấp

thông tin phục vụ cho các nhà quản trị trong việc điều hành quản lý hoạt động sản

xuất kinh doanh.

Một số chỉ tiêu trong báo cáo tài chính không phản ánh đầy đủ số liệu cụ thể

là trong Bảng cân đối kế toán: chỉ tiêu dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi, dự

phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng giảm giá đầu tư tài chính dài hạn thường

không có số liệu do các doanh nghiệp không lập dự phòng đối với các chỉ tiêu này.

Trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: chỉ tiêu giá vốn hàng bán chỉ được

phản ánh theo giá gốc của hàng đã bán mà không bao gồm các khoản hao hụt, mất

mát; chi phí chung không được phân bổ hoặc phân bổ theo tiêu thức chưa hợp lý

Đối với báo cáo KTQT: Đại bộ phận các doanh nghiệp nói chung và các

doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng đều chưa nhận

thức đầy đủ về tầm quan trọng của KTQT. Qua khảo sát các doanh nghiệp sản xuất

giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương cho thấy đại đa số các doanh nghiệp này chưa chú

trọng đến công tác KTQT. Mặt khác, từ trước năm 1996 ở nước ta, chưa có quan

niệm về KTQT. Do đó nội dung về KTQT nhiều người, kể cả những người có

chuyên môn sâu về kế toán cũng chưa hiểu một cách thấu đáo.

Công tác xây dựng các tiêu chuẩn, định mức cụ thể cho từng chỉ tiêu chi phí,

doanh thu và kết quả kinh doanh phần lớn chưa được thực hiện;

Việc lập báo cáo quản trị và phân tích báo cáo kế toán quản trị nhằm cung

cấp những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định của nhà quản trị chưa kịp thời,

thậm chí nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện.

Thực trạng công tác kiểm tra kế toán:

Công tác kiểm tra kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày do các đơn

vị thực hiện dưới sự chỉ đạo của kế toán trưởng. Công việc kiểm tra kế toán thường

được thực hiện qua các khâu của chu trình kế toán đó là: lập chứng từ, ghi sổ kế

toán (tổng hợp và chi tiết); lập báo cáo kế toán (bao gồm báo cáo KTTC và báo cáo

KTQT). Nội dung kiểm tra kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày thường tập

trung vào các vấn đề sau:

Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ; kiểm tra các yếu tố cơ bản trên

104

chứng từ;

Kiểm soát chất lượng của thông tin kế toán, sự phối hợp của bộ phận kế toán

với các bộ phận khác trong doanh nghiệp trong quá trình cung cấp thông tin;

Kiểm tra việc ghi sổ kế toán;

Kiểm tra việc chấp hành các quy định của Nhà nước về lập báo cáo, thời hạn

lập, các quy định về báo cáo tài chính;

Lập báo cáo để báo cáo kịp thời kết quả kiểm tra kế toán.

2.3. Đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các doanh

nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương

2.3.1. Ưu điểm

Mặc dù trong thời gian qua phải đối mặt với vô vàn khó khăn về giá nguyên

liệu đầu vào tăng cao, sự cạnh tranh khốc liệt nhất là từ nước láng giềng Trung

Quốc nhưng các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương vẫn đạt

mức tăng trưởng đáng kể, điều đó có sự đóng góp không nhỏ của kế toán - một

trong những công cụ quản lý kinh tế hữu hiệu:

Về tổ chức bộ máy kế toán: Xuất phát từ đặc điểm chung về cơ cấu tổ chức

quản lý tại doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương là cơ cấu trực

tuyến chức năng. Đó là hoạt động quản lý theo cơ chế quản lý một cấp quản lý. Từ

đặc điểm này dẫn đến hầu hết các doanh nghiệp đều lựa chọn mô hình tổ chức bộ

máy kế toán tập trung còn gọi là tổ chức kế toán một cấp. Mặt khác, đại bộ phận các

doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương có địa bàn hoạt động tập

trung, quy mô nhỏ nên việc lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung là

hợp lí, đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất tập trung đối với công tác kế toán trong

doanh nghiệp, cung cấp thông tin kịp thời, thuận tiện cho việc phân công, chuyên

môn hóa người làm kế toán, xử lý thông tin nhanh chóng. Đồng thời, tạo điều kiện

cho các doanh nghiệp này dễ dàng ứng dụng tin học trong công tác kế toán. Các doanh

nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã áp dụng mô hình tổ chức bộ

máy kế toán tập trung kết hợp KTTC và KTQT trong từng phần hành kế toán.

Về tổ chức sử dụng các phương pháp kế toán nhằm thu thập, xử lý, hệ thống

hóa và cung cấp thông tin kế toán: Trong công tác tổ chức kế toán, các doanh

105

nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã nhận thức rõ vai trò quan trọng

của việc tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý. Vì vậy, đã tổ chức công tác

kế toán phù hợp với đặc điểm và yêu cầu quản lý cụ thể của đơn vị như việc tổ chức

lựa chọn hình thức tổ chức công tác kế toán hợp lý và khoa học, tổ chức thực hiện

hiện hệ thống chứng từ kế toán và ghi chép ban đầu đảm bảo theo đúng chế độ quy

định; vận dụng hình thức kế toán phù hợp; tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế

toán cũng như chế độ báo cáo tài chính đảm bảo cung cấp được thông tin phục vụ

cho các đối tượng quan tâm cũng như cho yêu cầu quản trị của doanh nghiệp.

Do đặc thù hầu hết các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải

Dương là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nghiệp vụ kinh tế phát sinh không nhiều

một số doanh nghiệp không tổ chức bộ máy kế toán mà tiến hành thuê người làm kế

toán như: công ty TNHH MTV Bằng Nam, Công ty TNHH MTV Minh Phúc, việc

này hoàn toàn phù hợp với quy định của Luật kế toán 2015. Tổ chức công tác kế

toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay đã

tuân thủ các quy định của Luật kế toán, các Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán.

Điều đó được thể hiện sự vận dụng phù hợp hệ thống chứng từ, hệ thống tài khoản,

hệ thống sổ và báo cáo kế toán nhằm cung cấp thông tin kịp thời phục vụ công tác

quản lý cho các đối tượng bên trong và ngoài doanh nghiệp.

Một số doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã chuyển

đổi loại hình thành công ty cổ phần. Trong quá trình phát triển loại hình CTCP, sự

hỗ trợ của Nhà nước thông qua việc đổi mới, hoàn thiện chế độ kế toán nhằm tạo ra

sự thống nhất, phù hợp đã tạo sự thuận lợi đáng kể cho các đối tượng này quản lý

tốt quá trình SXKD như Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình, Công ty Cổ phần giày

Hải Dương. Song sự hoàn thiện chế độ kế toán doanh nghiệp chỉ có ý nghĩa tích cực

khi các doanh nghiệp nhận thức đúng đắn và vận dụng phù hợp vào doanh nghiệp

của mình. Vấn đề này, trên thực tế đã có nhiều Công ty thực hiện khá tốt nên hiệu

quả quản lý kinh tế tài chính đã được nâng lên.

2.3.2. Hạn chế

Việc áp dụng chế độ kế toán ở các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn

tỉnh Hải Dương khác nhau chưa có sự thống nhất, cụ thể là có một số doanh nghiệp

106

áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-

BTC ban hành ngày 20/3/2006 và Thông tư số 244/2009/TT-BTC nay thay thế bằng

TT200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/20014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính còn

một số công ty áp dụng chế độ kế toán theo Quyết định số 48/2006/QĐ - BTC ngày

14/9/2006 và Thông tư số 138 /2010 /TT- BTC. Điều này, gây khó khăn cho công

tác kiểm tra, quản lý của các cơ quan quản lý vĩ mô của Nhà nước cũng như các đối

tượng bên ngoài quan tâm đến doanh nghiệp.

Công tác hướng dẫn, kiểm tra của các cơ quan cũng như của Hội nghề

nghiệp chưa đảm bảo thường xuyên, kịp thời và cụ thể. Điều này, gây không ít khó

khăn đối với các doanh nghiệp sản xuất giày. Cũng chính điều đó đã ảnh hưởng trực

tiếp đối với việc tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế

toán hình thức sổ kế toán và báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp sản xuất giày

trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Công tác KTQT còn nhiều hạn chế bởi cả những

nguyên nhân khách quan và chủ quan như sự hiểu biết về KTQT của nhiều người,

kể cả một số người làm công tác kế toán trong các doanh nghiệp; trình độ của

những người làm kế toán chưa cao… Có thể khái quát những hạn chế trong tổ chức

công tác kế toán ở các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo một

số mặt dưới đây:

Về tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ và ghi chép ban đầu

Đây là khâu quan trọng, đảm bảo sự chính xác của nghiệp vụ kinh tế phát

sinh được ghi trong sổ kế toán và báo cáo kế toán. Song, trong khâu này thường có

những tồn tại là:

+ Việc ghi chép các yếu tố, nội dung trên chứng từ chưa đầy đủ, còn có hiện

tượng không ghi ngày, tháng lập chứng từ, ngày tháng phát sinh và nội dung nghiệp

vụ kinh tế phát sinh chưa được ghi chính xác, rõ ràng;

+ Công tác kiểm tra, soát xét và xử lý những thiếu sót trên chứng từ chưa

được thực hiện thường xuyên;

+ Việc chấp hành quy định về phân loại, sửa chữa, lưu trữ chứng từ chưa

đảm bảo theo đúng chế độ quy định, gây khó khăn cho công tác kiểm tra, kiểm soát

của các cơ quan chức năng của Nhà nước.

107

+ Việc thiết kế hệ thống chứng từ riêng để thu thập thông tin mà KTTC chưa

thu thập được còn nhiều hạn chế.

Về tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán và phương pháp ghi chép

trên các tài khoản

Đối với tài khoản sử dụng cho KTTC: Căn cứ vào chế độ Kế toán Nhà nước

ban hành, các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã lựa chọn,

vận dụng tương đối tốt các tài khoản sử dụng cho KTTC. Việc sử dụng các tài

khoản chi tiết để phản ánh một cách cụ thể các nội dung cần theo dõi chi tiết phục

vụ cho công tác KTQT như các nghiệp vụ về chi phí, doanh thu, kết quả kinh doanh

còn nhiều hạn chế. Điều này, ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng cung cấp thông tin

của kế toán đối với công tác quản trị doanh nghiệp.

+ Trong hạch toán đối với một số phần hành kế toán, một số nghiệp vụ kinh

tế phát sinh ở một số tài khoản kế toán còn lẫn lộn và chưa có sự thống nhất giữa

các doanh nghiệp. Điều này gây khó khăn cho công tác kiểm tra, kiểm soát của các

cơ quan chức năng và chưa đúng với chế độ kế toán quy định Công ty Cổ phần giày

Hải Dương, Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Thảo Nguyên, Công ty TNHH

Sao Vàng, tiền lương của bộ phận quản lý phân xưởng không hạch toán vào TK 627

mà hạch toán toàn bộ vào TK 622 gây khó khăn khi xác định chi phí nhân công trực

tiếp đây là chi phí chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm. Các chi phí cho

chuyên gia (Mua đồ ăn, uống, sinh hoạt) có doanh nghiêp hạch toán vào chi phí sản

xuất chung như Công ty Cổ phần giày Hải Dương, có doanh nghiệp hạch toán vào

chi phí bán hàng như công ty TNHH Samil Hà Nội.

Về tổ chức vận dụng hình thức sổ kế toán:

Qua khảo sát một số doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương

cho thấy, hình thức sổ kế toán mà đơn vị lựa chọn cũng có những mẫu sổ nội dung

ghi chép trong sổ chưa đầy đủ. Đối với các doanh nghiệp sản xuất nói chung, các

công ty sản xuất giày nói riêng với đặc thù là quá trình sản xuất sử dụng rất nhiều

lao động chủ yếu lao động nữ. Trong các khâu của quá trình sản xuất thì 60% số lao

động tập trung ở bộ phận may. Các sổ chi tiết theo dõi theo yêu cầu quản lý là rất

cần thiết ví dụ sổ chi tiết theo dõi chi phí nhân công, sổ chi tiết theo dõi chi phí gia

108

công,.... Đại bộ phận các doanh nghiệp chỉ mới sử dụng hệ thống sổ kế toán tổng

hợp, còn hệ thống sổ kế toán chi tiết thực hiện chưa đầy đủ, kể cả mẫu sổ và các chỉ

tiêu phản ánh trên sổ.

Về tổ chức lập báo tài chính và phân tích báo cáo tài chính:

+ Thời hạn lập và nộp báo cáo chậm;

+ Số lượng các báo cáo theo quy định chưa đầy đủ;

+ Các chỉ tiêu phản ánh trong báo cáo tài chính chưa đảm bảo độ chính xác

do quá trình ghi chép KTTC trong các phần hành kế toán chưa chuẩn xác;

+ Công tác phân tích báo cáo tài chính chưa được quan tâm đúng mức.

Về tổ chức kiểm tra kế toán: Qua khảo sát 20 doanh nghiêp sản xuất giày

trên địa bàn tỉnh Hải Dương còn có những hạn chế về tổ chức kiểm tra kế toán đó

là: Hầu hết các doanh nghiệp chỉ tổ chức kiểm tra kế toán khi chuẩn bị khóa sổ lập

báo cáo, việc kiểm tra thường xuyên chưa được chú trọng. Do đó, chưa phát hiện

kịp thời các sai sót khi xử lý chứng từ ban đầu.

Nôi dung công tác kiểm tra kế toán cũng mới chỉ chú trọng đến kiểm tra

công tác KTTC mà chưa chú trọng KTQT.

2.3.3. Nguyên nhân

2.3.3.1. Về khuôn khổ pháp lý của kế toán

Trước những yêu cầu đổi mới nền kinh tế, Nhà nước và các Hội nghề nghiệp

đã thực sự quan tâm đối với công tác kế toán, thường xuyên bổ sung, sửa đổi các

nội dung của hệ thống kế toán Việt Nam nhằm phù hợp với sự vận động phát triển

của nền kinh tế và phù hợp với chuẩn mực, nguyên tắc kế toán quốc tế đặc biệt là

việc ban hành Luật Kế toán Việt Nam năm 2003 đã tạo khung pháp lý quan trọng

cho công tác kế toán và là căn cứ cho việc ban hành hệ thống Chuẩn mực kế toán

Việt Nam. Luật Kế toán quy định phạm vi điều chỉnh cho tất cả các nội dung công

tác kế toán từ việc quy định có tính pháp lý về vai trò, vị trí của kế toán, tổ chức bộ

máy kế toán, người làm kế toán, hoạt động nghề nghiệp kế toán đến việc quy định

các đối tượng áp dụng Luật kế toán. Có thể khẳng định rằng, Luật Kế toán Việt

Nam ra đời đã đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi khách quan của nền kinh tế nước ta

đang phát triển theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, tạo điều kiện thuận lợi về

109

pháp lý cho việc phát triển các dịch vụ tài chính, kế toán. Đồng thời, đáp ứng được

yêu cầu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và hội nhập

kinh tế khu vực, thế giới. Tuy nhiên sau hơn 10 năm triển khai thực hiện đã bộc lộ

nhiều điểm chưa phù hợp thực tế công tác kế toán trong điều kiện kinh tế thị trường

phát triển không ngừng như hiện nay. Trong thời gian tới đã và đang được sửa đổi,

điều chỉnh một số điều cho phù hợp thực tiễn để Luật thực sự là kim chỉ nam cho

những người làm kế toán.

Về cơ bản, hệ thống kế toán Việt Nam hiện nay đã đáp ứng được yêu cầu thu

nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin không chỉ cho quản lý nhà nước về

kinh tế tài chính mà còn phù hợp với yêu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng

khác nhau trong nền kinh tế; tạo điều kiện cho các loại hình doanh nghiệp có đủ

thông tin cần thiết phục vụ yêu cầu phát triển kinh doanh theo luật pháp.

Việc hướng dẫn triển khai thực hiện chế độ kế toán vào thực tế trong các

doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp sản xuất giày nói riêng của cơ quan

quản lý Nhà nước về kế toán, các tổ chức nghề nghiệp cũng luôn luôn được chú

trọng. Trên thực tế, trong quá trình đổi mới kế toán Việt Nam, hàng loạt các văn

bản, thông tư hướng dẫn về kế toán được ban hành bởi Bộ Tài chính đã góp phần

tích cực trong việc thực hiện chế độ kế toán ở các doanh nghiệp thuộc mọi thành

phần kinh tế. Ngoài việc hướng dẫn thông qua các văn bản, các lớp bồi dưỡng ngắn

hạn cũng được tổ chức kịp thời nhằm đáp ứng yêu cầu cập nhật thông tin mới về

chế độ kế toán, nguyên tắc và chuẩn mực kế toán Việt Nam.

2.3.3.2. Về việc thực hiện chế độ kế toán và tổ chức công tác kế toán

Trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương, nhìn

chung việc chấp hành chế độ kế toán là khá tốt, đã thực sự coi trọng vai trò của kế

toán đối với công tác quản lý kinh doanh, thể hiện qua việc vận dụng hệ thống

chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán, hệ thống sổ kế toán và hệ thống báo

cáo tài chính.

Khi có sự thay đổi, bổ sung chế độ kế toán bằng các văn bản, thông tư hướng

dẫn, các doanh nghiệp sản xuất giày đã tổ chức học tập, cập nhật và vận dụng một

cách kịp thời vào công tác quản lý kinh tế tài chính. Do đó, hiệu quả quản lý ở hầu

110

hết các doanh nghiệp này đã được nâng lên một cách đáng kể.

Bên cạnh những ưu điểm là cơ bản, trong quá trình vận tổ chức công tác kế

toán ở các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương còn những hạn

chế cơ bản dưới đây.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong tổ chức công tác kế toán

trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên điạ bàn tỉnh Hải Dương, có thể khái quát

các nguyên nhân thành hai nhóm nguyên nhân như sau:

Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, những năm vừa qua chúng ta đối mặt với khủng hoảng kinh tế

khiến sức mua của người dân giảm đi rõ rệt, nguy cơ khách hàng trốn đơn hàng, đẩy

lượng tồn kho của các doanh nghiệp lên cao. Hàng không bán được dẫn đến khó

quay vòng vốn, khó tiếp cận nguồn vốn ưu đãi của ngân hàng gây khó khăn trong

các doanh nghiệp. Việc không bán được hàng dẫn đến sản xuất bị ngừng trệ, ảnh

hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp;

Thứ hai, phần rất lớn các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải

Dương là các doanh nghiệp làm ăn nhỏ lẻ, manh mún, tính liên kết giữa các doanh

nghiệp không cao. Hiệp hội các doanh nghiệp chưa phát huy hết vai trò của mình

chưa đủ uy tín và sức thuyết phục nên không liên kết được các doanh nghiệp, đa

phần các doanh nghiệp phải tự xoay sở tìm hướng đi cho mình, mạnh ai nấy sống;

Thứ ba, những năm qua hàng loạt các chính sách kinh tế tài chính vĩ mô của

Nhà nước thay đổi, đang trong quá trình sửa đổi, hoàn thiện. Cùng với đó là các

thay đổi trong hướng dẫn hạch toán, sử dụng hóa đơn, chính sách thuế song việc

hướng dẫn cụ thể tới các doanh nghiệp đôi khi chưa được kịp thời. Mặt khác, một

số chính sách còn nhiều điểm bất cập chưa phù hợp với thực tế;

Thứ tư, mặc dù đã được Chính phủ chấp thuận cho việc đầu tư xây dựng nhà

máy thuộc da bằng vốn viện trợ phát triển nhưng Hiệp hội da giày - túi xách Việt

Nam (Lefaso) vẫn chưa thể tìm ra địa điểm để xây dựng. Đó cũng là khó khăn cho

các doanh nghiệp sản xuất giày nói riêng trên địa bàn tỉnh Hải Dương gặp trở ngại

trong vấn đề nguyên vật liệu đầu vào.

Thứ năm, về mặt lý luận, do chưa có sự khẳng định, nhận thức đúng về vai

111

trò, bản chất, sự khác biệt giữa KTTC và KTQT, KTQT và kế toán chi tiết do vậy

chưa có một văn bản pháp lý nào về chế độ, thể lệ kế toán ghi nhận có một loại kế

toán cần thiết cho quản trị doanh nghiệp - Đó là KTQT.

Mặc dù, thông tin KTQT cung cấp xuất phát từ yêu cầu quản lý của các nhà

quản trị doanh nghiệp và việc ghi chép KTQT có tính độc lập và không hoàn toàn

tuân thủ theo các nguyên tắc, chuẩn mực, văn bản quy định của Nhà nước về kế

toán, xong cần thiết phải có các tài liệu hướng dẫn tổ chức KTQT cho các doanh

nghiệp. Hiện nay, chúng ta cũng chưa có những tài liệu hướng dẫn này.

Nguyên nhân chủ quan

Quan điểm của các nhà quản lý doanh nghiệp về tổ chức công tác kế toán

vẫn theo cách tiếp cận cũ, chưa thực sự khoa học và còn nhiều hạn chế.

Trình độ quản lý của các cán bộ quản lý và kế toán chưa đồng đều còn hạn

chế nhiều cán bộ quản lý các doanh nghiệp sản xuất giày chưa nhận thức đúng về

vai trò cũng như chưa khai thác triệt để các thông tin của KTQT. Việc phân tích các

yếu tố chi phí, lợi nhuận còn chưa phát huy tối đa hiệu quả.

Khả năng ứng dụng tin học của người làm công tác kế toán trong các doanh

nghiệp chưa đồng đều dẫn đến việc khai thác, sử dụng các phần mềm kế toán, phần

mềm quản lý chưa tốt.

Về tổ chức sản xuất: phần lớn công nhân sản xuất trực tiếp trong các doanh

nghiệp giày có trình độ văn hóa thấp và tay nghề không cao, nên việc triển khai các

mẫu mã, công đoạn, cách thức sản xuất mới rất khó khăn. Công nhân làm việc theo

kiểu dập khuôn, không có sáng kiến để cải tiến qui trình sản xuất, nâng cao chất

lượng sản phẩm. Chưa có trường lớp đào tạo chuyên môn riêng cho ngành giày dép,

lao động trong ngành phần lớn là do các doanh nghiệp tự đào tạo qua thực tế và theo

yêu cầu sản xuất, cho nên dẫn đến tình trạng thiếu hiểu biết về cơ bản, gây nhiều khó

khăn, trì trệ trong sản xuất.

Bộ máy kế toán doanh nghiệp chỉ thực hiện công tác KTTC, chưa thực sự

chú trọng quan tâm thực hiện công tác KTQT, do đó chưa cung cấp thông tin kịp

thời giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp. Cụ thể, công tác dự toán sản xuất, dự

toán nguyên vật liệu, dự toán tiền,... chưa được thực hiện tốt nên phải tốn nhiều thời

112

gian trong quá trình chuẩn bị nguyên liệu cho sản xuất. Cũng như việc lập dự toán

tiền chưa chính xác, doanh nghiệp thường xuyên bị động trong vấn đề thanh toán

cho nhà cung cấp nguyên vật liệu, ảnh hưởng đến việc giao hàng của nhà cung cấp

cho doanh nghiệp. Việc lựa chọn nhà cung cấp còn dựa trên tiêu thức “giá” hơn là

chất lượng họ cung cấp.

Phần lớn giày dép của các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải

Dương thuộc hàng có chất lượng trung bình trở xuống (giá bán lẻ dưới 40 USD/

đôi). Giày xuất khẩu do các doanh nghiệp này sản xuất đều thông qua đối tác thứ

ba. Hoạt động kinh doanh trực tiếp của các doanh nghiệp qua khảo sát rất hạn chế.

Đơn cử, vấn đề nhà xưởng, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như Công

Ty TNHH Samil Hà Nội Vina hầu như xây mới theo tiêu chuẩn sản xuất công

nghiệp với quy mô hợp lý, khép kín sản xuất trong phạm vi của Công ty, đồng thời

đầu tư hoàn chỉnh hệ thống tự động hóa thiết kế, các dây chuyền sản xuất thử

nghiệm phục vụ công tác ra mẫu chào hàng đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách

hàng, các nhà nhập khẩu. Trong khi, các DNNN được cổ phần hóa như Công ty Cổ

phần giày Cẩm Bình và Công ty Cổ phần giày Hải Dương nhiều khi phải tận dụng

các cơ sở hiện có hoặc cải tạo từ hệ thống kho tàng cũ.

Những người điều hành sản xuất chưa làm tốt công việc được giao, không

theo dõi, đôn đốc việc sản xuất, sắp xếp tiến độ sản xuất chưa hợp lý.

Tất cả các nguyên nhân trên đã tạo nên những hạn chế cơ bản của tổ chức

công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

113

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất nói chung và

trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng là vấn

đề phức tạp. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, hội nhập kinh tế thế giới và khu vực

đang trở thành xu thế tất yếu, các DN ở Việt Nam đang trong quá phát triển cả về số

lượng và chất lượng; hàng loạt các chính sách, chế độ về quản lý kinh tế cũng như

về kế toán đã và đang có nhiều thay đổi. Nghiên cứu thực trạng tổ chức công tác kế

toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong điều

kiện đó gặp không ít khó khăn. Song, từ việc khảo sát thực tiễn thông qua các số

liệu, tài liệu thu thập được liên quan đến tổ chức công tác kế toán trong một số

doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương, tác giả phân tích những ưu

điểm, hạn chế và nguyên nhân cơ bản của thực trạng làm cơ sở cho những kiến nghị

và đề xuất trong chương 3.

114

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC

DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIÀY TRÊN ĐỊA BÀN TÌNH HẢI DƯƠNG

3.1. Định hướng phát triển các doanh nghiệp sản xuất giày đến năm

2020 và tầm nhìn đến năm 2030

Sở dĩ ngành công nghiệp da giày đã được Đảng và Nhà nước quan tâm định

hướng đầu tư phát triển đến năm 2020 và hoạch định tầm nhìn tới năm 2025 theo

Quyết định số 6209/QĐ-BCT ngày 25 tháng 11 năm 2010 là do dựa trên một số căn

cứ tổng quát về tình hình sản xuất cũng như thị trường tiêu thụ và nhập khẩu da

giày trên thế giới. Cụ thể đối với ngành sản xuất giày:

Thứ nhất, theo đánh giá và dự đoán của các chuyên gia kinh tế thì trong những

năm tới, các nước Châu Á và Viễn Đông sẽ chiếm 75% sản lượng giày dép trên toàn

thế giới (khoảng trên 10 tỷ đôi). Việt Nam là nước được đánh giá là nước có tiềm

năng để chiếm lĩnh thị trường này. Với tốc độ tăng trưởng dự kiến, kim ngạch xuất

khẩu của toàn ngành năm 2015 là 9,1 tỷ USD; năm 2020 là 14,5 tỷ USD và năm 2025

đạt 21 tỷ USD. Nâng dần tỷ lệ nội địa hóa các loại sản phẩm là một trong những vấn

đề được quan tâm đặc biệt trong quá trình xây dựng quy hoạch, trong đó phấn đấu

năm 2015 tỷ lệ nội địa hóa đạt 60-65%, năm 2020 đạt 75-80% và năm 2025 đạt 80-

85%; đến năm 2020, tổng sản phẩm giày dép các loại dự kiến đạt 1,6 tỷ đôi...

Thứ hai, các nước và khu vực có mức tiêu thụ và nhập khẩu giày dép lớn trên

thế giới mà Việt Nam có lợi thế xâm nhập là Mỹ, EU, Nhật.

Hiện nay EU là thị trường nhập khẩu chủ yếu các sản phẩm giày dép của

Việt Nam, chiếm xấp xỉ 80% kim ngạch xuất nhập khẩu. Chúng ta cần củng cố và

phát triển thị trường này, khai thác tối đa các ưu đãi mà thị trường này còn dành cho

Việt Nam (chưa bị quản lý bằng các hạn ngạch) được hưởng ưu đãi thu quan bằng

70% mức thuế bình thường nếu đảm bảo tiêu chuẩn mà họ yêu cầu. Tăng cường

mối quan hệ kinh doanh trực tiếp với các nhà nhập khẩu EU, một vấn đề đang được

EU quan tâm.

Nhật Bản là thị trường có nhu cầu nhập khẩu hàng năm khoảng 350 triệu đôi

115

giày dép từ nước ngoài. Hiện nay kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam vào

Nhật bản chỉ chiếm khoảng 7 đến 8% tổng kim ngạch. Tuy nhiên chúng ta có khả

năng nâng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này trong những năm tới.

Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) là hai thị trường có nhu cầu tiêu thụ và nhập

khẩu giày lớn nhất thế giới. Xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang hai thị trường

lớn nhất của ngành da giày nói trên lần lượt đạt 1,09 tỉ đô la Mỹ (tăng 8,2% so với

cùng kỳ năm trước) và 1,04 tỉ đô la Mỹ (tăng 20,4%). Hai thị trường này chiếm

66,3% tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam.

Ngoài ra, xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang một số nước vốn không

phải là thị trường truyền thống của ngành da giày cũng tăng mạnh trong 5 tháng đầu

năm 2013. Điển hình như, xuất khẩu sang Thái Lan tăng trên 43% so với cùng kỳ

năm trước (với kim ngạch gần 10 triệu đô la Mỹ), sang Achentina tăng 39% (đạt

trên 18 triệu đô la Mỹ), Israel tăng 35% (6,7 triệu đô la Mỹ), Slovakia tăng 33% (31

triệu đô la Mỹ), Nga tăng trên 31% (33,8 triệu đô la Mỹ),...

Trong năm 2012, Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc

và Brazil là các đối tác lớn nhất nhập khẩu giày dép của Việt Nam. Tổng kim

ngạch cộng gộp hàng dệt may xuất sang 5 thị trường này đạt 5,77 tỷ USD, chiếm

gần 80% trong tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép của cả nước. Kim ngạch xuất

khẩu giày dép của Việt Nam sang các thị trường này trong năm qua đều đạt tốc độ

tăng trưởng dương nhưng thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng của năm trước (Phụ

lục số 02).

Trong đó, EU luôn là khu vực thị trường dẫn đầu về nhập khẩu giày dép của

Việt Nam với kim ngạch đạt 2,65 tỷ USD, chỉ tăng nhẹ 1,6% so với năm trước và

chiếm 36,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép của cả nước. Trong số các

nhóm hàng của Việt Nam xuất sang EU thì hàng giày dép đứng thứ 2 với tỷ trọng

chiếm 13,1% (sau hàng điện thoại các loại và linh kiện với tỷ trọng 27,9%).

Năm 2015, xuất khẩu toàn ngành da giày đạt đạt gần 15 tỷ USD, tăng gần

16% so với năm 2014: trong đó giày dép đạt 12 tỷ USD tăng 16%, túi xách đạt

2,88tỷ USD. Trong năm 2016, với đà phát triển như trên cùng những cơ hội từ

các FTA, đặc biệt với việc Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vừa thành lập, giá

116

trị xuất khẩu của ngành sẽ tăng từ 15 - 20% so với năm 2015 [TTX Việt Nam].

Nếu có hiệp định thương mại và quy chế tối huệ quốc, nếu các doanh nghiệp

Việt nam đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường và có khả năng cạnh tranh thì

chúng ta có thể xuất khẩu giày dép sang Mỹ không thua kém vào EU, thậm chí có

thể cao hơn.

Ngoài ra, các khu vực thị trường khác như Trung Đông, Bắc Âu, Úc, Liên

Xô cũ...cũng đáng để chúng ta quan tâm và phát triển.

Thứ ba, một căn cứ tiếp theo chúng ta có thể kể đến đó là chúng ta có một thị

trường nội địa rộng lớn chưa được khai thác hết. Trong thời gian qua sản phẩm của

ngành mới được tiêu thụ với một lượng không đáng kể từ sự dư thừa xuất khẩu. Chỉ

có được một số ít các doanh nghiệp chiếm được thị trường nội địa (giày vải Thượng

Đình, Vina giày...). Với số dân xấp xỉ 80 triệu người giai đoạn hiện nay và dự kiến

đến năm 2010 nó vào khoảng 100 triệu người thì tất yếu nhu cầu về sản phẩm da

giày phải tăng lên. Tức là trong tương lai không xa ngành công nghiệp da giày có

một thị trường nội địa rất lớn. Vấn đề đó là căn cứ cơ bản để thúc đẩy các hoạt động

đầu tư phát triển cả chiều sâu lẫn chiều rộng để đảm bảo đủ khả năng cạnh tranh

ngay trên thị trường nội địa.

Dựa vào các căn cứ có tính chất tương đối trên mà chúng ta có thể xây dựng

cho ngành công nghiệp da giày những mục tiêu cụ thể cho đến những năm 2020.

Một số mục tiêu cơ bản của ngành da giày cho thời gian tới như sau:

Nâng cao trình độ phát triển của toàn ngành nhằm để có đủ năng lực, điều

kiện hội nhập với thị trường thế giới, trụ vững được xuất khẩu, đáp ứng được

đầy đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước. Đây có thể nói là mục tiêu cơ bản và tổng

quát nhất. Nó xác định tất cả các nhiệm vụ cho ngành da giày phải làm trong thời

gian tới.

Với mục tiêu cụ thể về số lượng như sau:

Mục tiêu về kim ngạch xuất nhập khẩu

Dựa vào tình hình phát triển trong những năm qua mà chúng ta xây dựng

một mục tiêu cụ thể là đến năm 2020 thì phải phấn đấu xuất khẩu đạt 14.5 tỷ USD

và đến năm 2025 thì con số này cần phải đạt được 21 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng

117

kim ngạch xuất khẩu bình quân trong giai đoạn 2011 - 2015 là 10,9%/ năm; giai

đoạn 2016 - 2020 là 9,7%/ năm và giai đoạn 2021 - 2025 là 7,6%/ năm;

Mục tiêu về sản lượng

Sản lượng sản phẩm và tốc độ tăng trưởng sản phẩm bình quân đến năm

2020 dự kiến đạt tới 1.698 triệu đôi và tầm nhìn đến năm 2025 dự kiến đạt 1.827

triệu đôi.

Mục tiêu về việc làm

Với số lao động thu hút vào ngành hiện nay là khoảng 300.000 lao động

chưa kể đến số lao động phục vụ cho các lĩnh vực ngành da giày. Thì mục tiêu ở

đây là ngày càng tạo thêm được nhiều việc làm hơn nữa, phát triển nhiều ngành

nghề phụ có thể giải quyết được công ăn việc làm.

Mục tiêu về trình độ cán bộ công nhân viên

Với trình độ của công nhân như hiện nay thì chưa có thể đáp ứng được các

yêu cầu phát triển và hoà nhập với quốc tế. Vì vậy, mục tiêu là cần phải nâng cao

dần trình độ của tất cả các cán bộ, công nhân lao động để có thể đáp ứng được

những đòi hỏi của một ngành công nghiệp phát triển, hiện đại.

Quan điểm phát triển

Với mục tiêu vươn lên trụ vững, phát triển và hoà nhập với thế giới, các

nước trong khu vực trong những năm tới thì ngành công nghiệp da giày cần có

phương hướng cụ thể như sau:

Kết thúc đàm phán Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) cũng

như các hiệp định khác sẽ mang lại những cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt Nam;

trong đó có các doanh nghiệp ngành da giày. Để tận dụng được lợi thế từ các Hiệp

định này, ngành da giày cần tăng tốc chuẩn bị nguyên phụ liệu trong nước để được

hưởng thuế suất vào thị trường Mỹ và EU và một số thị trường”

Đầu tư phát triển ngành sản xuất da giày hướng ra xuất khẩu. Khẳng định

quan điểm hướng về xuất khẩu này, thì cần có sự đầu tư phát triển chuyển mạnh

từ gia công sang mua nguyên liệu bán thành phẩm, đảm bảo nâng cao hiệu quả,

tăng nhanh tích luỹ, nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hoá các mặt hàng

xuất khẩu.

118

Đầu tư phát triển các cơ sở sản xuất nguyên phụ liệu, hoá chất, phụ tùng,

thiết bị... phục vụ cho ngành nhằm hạn chế tối đa nguyên liệu nhập khẩu, tiết kiệm

ngoại tệ, chủ động trong sản xuất kinh doanh.

Đẩy mạnh tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa công nghiệp thuộc da với

sản xuất giày dép và các sản phẩm khác chế biến từ da thuộc.

Đầu tư nghiên cứu thiết kế, triển khai mẫu mốt, ứng dụng công nghệ kỹ

thuật tiên tiến, đổi mới thiết bị tạo thế chủ động trong sản xuất, chào hàng, đáp ứng

các yêu cầu phát triển của ngành cũng như mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá

đất nước.

Đầu tư bồi dưỡng và nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân

lành nghề của ngành đảm bảo tiếp tục nhanh chóng sự chuyển dịch sản xuất, chuyển

giao công nghệ kỹ thuật tiên tiến từ các nước phát triển, làm chủ trong quá trình sản

xuất, hạn chế sự lệ thuộc vào đối tác bên ngoài.

Đầu tư nghiên cứu thị trường nội địa, khai thác tối đa các nhu cầu về các sản

phẩm của ngành.

Chú trọng đầu tư chiều sâu để cân đối lại dây chuyền sản xuất cho đồng bộ,

bổ sung các thiết bị lẻ để thay thế các máy móc cũ đã quá lạc hậu, đầu tư cải tạo

nâng cấp một số trang thiết bị, đổi mới công nghệ với phương châm là tăng sản

lượng, tăng năng suất thiết bị và năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, nâng cao

chất lượng sản phẩm, mở rộng mặt hàng, khắc phục sự ô nhiễm môi trường...

Ưu tiên các dự án đầu tư mở rộng và đầu tư mới nhằm gia tăng công suất,

đảm bảo đạt trình độ công nghệ, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá.

3.2. Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán

trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương

3.2.1. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo tuân thủ Luật kế

toán, nguyên tắc kế toán, phù hợp với đặc thù về quản lý kinh tế tài chính

Kế toán với tư cách là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công

cụ quản lý kinh tế không thể tách rời khỏi các chính sách, quy định về quản lý kinh

tế tài chính của Nhà nước. Nhiệm vụ chủ yếu của kế toán là thu nhận, xử lý, phân

tích và cung cấp thông tin cho nhà quản lý nhằm đưa ra các quyết định tài chính tối

119

ưu. Vì vậy, trong quá trình tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo sự phù hợp của

các chính sách, chế độ về quản lý kinh tế tài chính. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện

nay, nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu với kinh tế thế giới,

hàng loạt chính sách kinh tế, tài chính đang được hoàn chỉnh, bổ sung và sửa đổi.

Trong điều kiện đó, chính sách kế toán, ngoài việc phải đảm bảo tính đặc thù của

nền kinh tế Việt Nam còn phải đảm bảo sự phù hợp với các Thông lệ, Chuẩn mực

quốc tế về kết toán. “Đối với công tác kế toán phải được thực hiện theo những

chuẩn mực chung trên phạm vi toàn cầu”.

Trong quá trình hội nhập, Việt Nam đã có những bước phát triển rất quan

trọng và đang nỗ lực tạo ra những bước đi thích hợp nhằm đưa công tác kế toán hòa

nhập với kế toán các nước trên thế giới. Cụ thể, sau hơn 10 năm triển khai đưa vào

thực hiện Luật Kế toán đã bộc lộ một số điểm chưa phù hợp nay đã ban hành Luật

kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015 có hiệu lực áp dụng năm 01/01/2017 là

văn bản pháp lý cao nhất để Nhà nước quản lý mọi hoạt động kế toán ở tầm vĩ mô,

đồng thời làm cơ sở cho việc điều chỉnh các hành vi của người làm công tác kế toán

trong các doanh nghiệp và các cơ sở kinh tế. Mặt khác, Luật Kế toán còn quy định

cụ thể việc kiểm tra kế toán gồm các nội dung như kiểm tra việc thực hiện các nội

dung công tác kế toán; kiểm tra việc tổ chức bộ máy kế toán và người làm kế toán;

kiểm tra việc tổ chức quản lý và hoạt động nghề nghiệp kế toán; kiểm tra việc chấp

hành các quy định khác của pháp luật. Các vấn đề mà Luật kế toán quy định sẽ tạo

điều kiện về pháp lý cho việc tuân thủ các chính sách, chế độ quản lý kinh tế tài

chính của Nhà nước trong các doanh nghiệp nói chung và trong các công ty sản xuất

giày nói riêng, trong đó có các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

Ban hành các Chuẩn mực kế toán Việt Nam trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc

các nguyên tắc, Chuẩn mực kế toán quốc tế, phù hợp với đặc thù và yêu cầu quản lý

cụ thể về trình độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Quá

trình xây dựng và ban hành Chuẩn mực kế toán Việt Nam được chuẩn bị chu đáo,

nghiên cứu kỹ lưỡng trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc Chuẩn mực kế toán quốc tế.

Do đó, khi các doanh nghiệp nói chung và các công ty sản xuất giày nói riêng

tổ chức công tác kế toán cần phải đảm bảo yêu cầu phù hợp với đặc thù về quản lý

120

kinh tế tài chính và tôn trọng các Nguyên tắc, Chuẩn mực quốc tế về kế toán. Có như

vậy, kế toán mới thực sự phát huy được là công cụ quản lý kinh tế có hiệu lực nhất.

3.2.2. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất

giày phải đảm bảo phù hợp với định hướng đổi mới và phát triển hệ thống doanh

nghiệp Việt Nam

Đảng và Nhà nước ta đã và đang rất quan tâm đến việc hoạch định phương

hướng đổi mới và phát triển hệ thống doanh nghiệp Việt Nam, cụ thể đối với các

loại hình doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp tư nhân,

công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… Chức năng chính của

quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung và đối với doanh nghiệp nói riêng

là định hướng về mặt chiến lược cho sự phát triển của các doanh nghiệp được thực

hiện gián tiếp qua các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô, công cụ pháp luật; hỗ trợ

và điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp bằng các công cụ kinh tế vĩ mô; kiểm

tra, giám sát sự tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp; tham gia khắc phục những

khuyết tật của thị trường. Nhà nước phải đặc biệt coi trọng và thực hiện tốt chức

năng hỗ trợ công dân lập thân, lập nghiệp về kinh tế, coi đó là một trong những nét

đặc thù của sự đổi mới chức năng quản lý nhà nước về kinh tế so với trước thời kỳ

đổi mới.

Thứ nhất, đối với các doanh nghiệp Nhà nước, nhìn lại quá trình lịch sử,

chúng ta đi lên từ cơ sở, vật chất rất nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế mất cân đối

trầm trọng, lực lượng thù địch bao vây cấm vận kinh tế triệt để. Trong hoàn cảnh

đó, chúng ta đã xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ bằng biện pháp huy động một

nguồn lực lớn của đất nước và viện trợ quốc tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật

cho nền kinh tế quốc dân dưới hình thức các DNNN làm nòng cốt, cùng với khu

vực kinh tế hợp tác xã làm nền tảng đáp ứng những nhu cầu của xã hội. Đại hội VI

đã đề ra chủ trương đổi mới và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, có

sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN.

Thứ hai, đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, DNNVV có vai trò quan

trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước và vai trò này ngày càng được tăng

lên cùng với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, bởi DNNVV đang là động

121

lực cho phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, huy động vốn trong nước, chuyển

dịch cơ cấu kinh tế…

Thứ ba, đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng khẳng

định vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, tác động đến mọi mặt của đời

sống, kinh tế, xã hội và chính trị của nước ta. Tỉ trọng kim ngạch xuất xuất khẩu của

các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong ngành da giày gần

57%. Trong điều kiện của chúng ta hiện nay một đất nước mới tham gia vào quá

trình hội nhập có xuất phát điểm rất thấp, chúng ta đang thiếu vốn, thiếu công nghệ

hiện đại, thiếu việc làm đứng trước nhu cầu ấy chủ trương mở cửa thu hút vốn FDI

của Đảng và Chính phủ đã được ban hành kịp thời nhờ đó hoạt động của các doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã thực sự trở thành cú huých thúc đẩy nền kinh tế

Việt Nam phát triển, phá vỡ vòng luẩn quẩn của một nước kém phát triển.

Trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, định hướng đổi mới và phát triển

hệ thống doanh nghiệp Việt Nam được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm về chủ

trương đổi mới các loại hình doanh nghiệp nhằm phát triển nền kinh tế đất nước đa

dạng về thành phần và hiệu quả về hoạt động quản lý, trong đó hoạch định về

phương hướng đầu tư phát triển và tầm nhìn đối với các doanh nghiệp sản xuất nói

chung và các đơn vị sản xuất giày nói riêng được xúc tiến mạnh mẽ và đã đạt được

kết quả nhất định. Các công ty sản xuất giày không ngừng được gia tăng cả về số

lượng và chất lượng. Trong điều kiện đó, tổ chức công tác kế toán trong các công ty

sản xuất giày cần phải được hoàn thiện theo hướng góp phần thiết lập môi trường

thông tin minh bạch và kịp thời nhằm đảm bảo cho các nhà quản lý trong công ty

cũng như các đối tượng sử dụng thông tin của công ty thỏa mãn nhu cầu sử dụng và

khai thác thông tin đáng tin cậy.

3.2.3. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất

giày phải đảm bảo phù hợp với định hướng phát triển của ngành da giày Việt Nam

Theo quyết định số 880/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển

ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

- Phát triển ngành dệt may - da giày theo hướng chuyên môn hóa, hiện đại

hóa, nhằm tạo ra bước nhảy vọt về chất và lượng sản phẩm.

122

- Lấy xuất khẩu làm mục tiêu cho phát triển của ngành, đồng thời đáp ứng

tối đa nhu cầu thị trường nội địa. Tập trung phát triển mạnh các sản phẩm công

nghiệp hỗ trợ, sản xuất nguyên phụ liệu, nâng cao giá trị gia tăng của các sản

phẩm trong ngành.

- Tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp ngành dệt may - da giày giai đoạn

đến năm 2020 đạt 10 - 12%; giai đoạn đến năm 2030 đạt 8 - 9%.

- Năm 2020 tỷ trọng ngành dệt may - da giày chiếm 10 - 12% trong cơ cấu

ngành công nghiệp và đáp ứng 90 - 95% nhu cầu thị trường; năm 2030 chiếm tỷ

trọng 7 - 8% và đáp ứng 100% nhu cầu.

- Đến năm 2020:

+ Tiếp tục phát triển sản xuất các sản phẩm ngành dệt may, da giày theo

hướng phục vụ xuất khẩu, kết hợp đáp ứng nhu cầu trong nước với mẫu mã, chất

lượng, giá cả phù hợp sức mua của người tiêu dùng các vùng miền, chú trọng các

vùng nông thôn, miền núi;

+ Đầu tư nâng cấp kết hợp đầu tư mới các dây chuyền sản xuất sản phẩm

thời trang cao cấp; xây dựng các trung tâm thiết kế mẫu mốt có quy mô hiện đại;

tiếp tục triển khai chương trình 5 tỷ mét vải. Hợp tác với ngành dầu khí trong đầu tư

một số dự án xơ sợi tổng hợp.

+ Nghiên cứu xây dựng trung tâm xúc tiến thương mại chuyên ngành.

Tập trung đáp ứng nhu cầu các phụ liệu ngành may và da giày; khai thác có

hiệu quả các dự án xơ sợi tổng hợp.

- Đến năm 2030:

+ Tập trung phát triển vùng nguyên liệu bông, vùng chăn nuôi gia súc để chủ

động một phần nguyên liệu bông, da cho ngành.

+ Tiếp tục nghiên cứu phát triển các loại quần áo thời trang, giày cao cấp

phục vụ các thị trường đòi hỏi chất lượng cao.

Từ những định hướng chiến lược phát triển ngành dầu khí trong thời gian tới,

vấn đề đặt ra với các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương:

3.2.4. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất

giày phải đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin kinh tế tài chính cho

123

công tác quản lý kinh tế cả ở tầm vĩ mô và tầm vi mô

Chất lượng công tác kế toán trong các doanh nghiệp nói chung và trong các

công ty sản xuất giày nói riêng phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng tổ chức công tác

kế toán. Mục đích của tổ chức công tác kế toán hợp lý và khoa học là nhằm đảm

bảo thu nhận, xử lý kịp thời, đầy đủ và chính xác các thông tin phục vụ yêu cầu

quản lý kinh tế tài chính ở cả tầm vĩ mô và tầm vi mô. Do đó, nâng cao chất lượng

và hiệu quả của tổ chức công tác kế toán cần phải hoàn thiện cả môi trường pháp lý

về kế toán và việc tổ chức thực hiện chế độ kế toán trong các công ty. Điều đó đặt

ra yêu cầu đối với Nhà nước phải xây dựng hệ thống kế toán phù hợp với tình hình

thực tế về quản lý kinh tế tài chính trong các doanh nghiệp trên cơ sở các nguyên

tắc cơ bản sau đây:

- Thống nhất về nguyên tắc, phương pháp xử lý, hệ thống hóa, cung cấp

thông tin kế toán đối với tất cả các loại hình công ty thuộc mọi thành phần kinh tế;

- Phù hợp với các nguyên tắc, thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế và

chuẩn mực kế toán quốc gia, đồng thời tuân thủ Luật Kế toán Việt Nam; giải quyết

tốt mối quan hệ giữa chính sách tài chính, chính sách thuế và chính sách kế toán;

- Đảm bảo sự thống nhất quản lý trong phạm vi quốc gia, đồng thời đảm bảo

phát huy tính tự chủ của các công ty trong quản lý kinh tế tài chính thông qua hệ

thống kế toán, bao gồm chế độ chứng từ kế toán và ghi chép ban đầu, chế độ tài

khoản kế toán, chế độ sổ kế toán và chế độ báo cáo kế toán;

- Hệ thống kế toán phải đảm bảo đơn giản, dễ làm, dễ hiểu, dễ kiểm soát

công khai và minh bạch;

- Đảm bảo sự kịp thời, đầy đủ và trung thực của các thông tin kế toán cung

cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin.

3.2.5. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các công ty sản xuất giày

phải đảm bảo tính hiệu quả và có tính khả thi

Tổ chức công tác kế toán trong các công ty sản xuất giày cần phải đảm bảo

thực hiện nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả và khả thi. Theo đó, tổ chức công tác kế

toán phải thực hiện đầy đủ các quy trình từ công tác nghiên cứu lý luận, khảo sát

thực tiễn đến các công việc chuẩn bị điều kiện cần thiết để thực hiện kế hoạch. Tùy

124

từng điều kiện cụ thể của mỗi công ty để xây dựng kế hoạch tổ chức công tác kế

toán hợp lý và khoa học; đảm bảo thực hiện được tốt các yêu cầu đã nêu ra nhằm

tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả cũng như đảm bảo tính khả thi của phương

án đề xuất.

3.3. Nội dung hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh

nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các công ty sản xuất giày trên địa

bàn tỉnh Hải Dương bao gồm nhiều nội dung. Song, xét trên góc độ các bộ phận cấu

thành hệ thống kế toán và những tồn tại trong tổ chức công tác kế toán trong thời

gian qua ở các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương, đồng thời tính

đến hiệu quả của việc cung cấp thông tin kế toán đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế tài

chính của các cơ quan quản lý các cấp cũng như của bản thân từng công ty, luận án

tập trung hoàn thiện các nội dung tổ chức công tác kế toán sau đây:

3.3.1. Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán

* Tổ chức bộ máy kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn

tỉnh Hải Dương theo mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung kết hợp KTTC và

KTQT theo từng phần hành kế toán. Qua khảo sát các doanh nghiệp sản xuất giày

trên địa bàn tỉnh Hải Dương, đại đa số các doanh nghiệp đã kết hợp KTTC và

KTQT trong từng phần hành kế toán, tuy nhiên để KTTC và KTQT phát huy được

hết khả năng cung cấp thông tin thì đòi hỏi phải tổ chức KTTC và KTQT một cách

khoa học, rõ nét, bài bản hơn.

Đại bộ phận các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương có

quy mô nhỏ địa bàn hoạt động tập trung do đó việc bố trí mô hình tổ chức bộ máy

kế toán tập trung, kết hợp KTTC và KTQT trong từng phần hành trên cùng một bộ

máy là phù hợp.

Tổ chức bộ máy kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn

tỉnh Hải Dương cần phải hoàn thiện để đảm bảo phù hợp với đặc điểm, cơ cấu tổ

chức yêu cầu của quản lý của từng doanh nghiệp. Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán

kiểu tập trung:

Sơ đồ 3.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán kiểu tập trung

125

KẾ TOÁN TRƯỞNG

Bộ phận Kế toán

Bộ phận kiểm tra

Bộ phận Kế toán Bộ phận tài doanh thu và Kết tổng hợp kế toán chính quả kinh doanh

Bộ phận

Bộ phận Bộ phận Bộ phận

kế toán kế toán kế toán kế toán tiền nguồn chi phí … lương vốn quỹ và giá

thành

Nhân viên kinh tế ở các

đơn vị phụ thuộc

Theo mô hình này các bộ phận đã dược phân công sẽ thực hiện cả công việc

KTTC và KTQT, nghĩa là phải xác định được công việc nào, thông tin nào cần cho

việc lập báo cáo của KTC, thông tin nào cần cho việc lập báo cáo của KTQT. Cuối

kỳ tổng hợp thông tin về KTTC để lập báo cáo tài chính, thông tin về KTQT lập báo

cáo quản trị. Để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình đòi hỏi giữa các bộ

phận kế toán trong bộ máy kế toán phải có mối liên hệ chặt chẽ trong việc thu nhận

và cung cấp thông tin KTTC và thông tin KTQT. Theo mô hình này, phòng kế toán

của doanh nghiệp bao gồm các bộ phận kế toán đảm nhiệm các phần hành KTTC và

KTQT cụ thể như:

- Bộ phận tài chính;

- Bộ phận kế toán tài sản cố định vật tư;

126

- Bộ phận kế toán tiền lương và các khoản thanh toán với người lao động;

- Bộ phận kế toán tiền và thanh toán;

- Bộ phận kế toán chi phí và giá thành;

- Bộ phận kế toán nguồn vốn, quỹ;

- Bộ phận kế toán tổng hợp;

- Bộ phận kiểm tra kế toán.

Tương ứng với mỗi bộ phận của KTTC nói trên bao gồm các phần hành

KTQT. Nhân viên kế toán thực hiện các công việc của KTTC đồng thời được giao

nhiệm vụ của KTQT.

Công việc chủ yếu của KTQT ở các bộ phận này căn cứ vào yêu cầu quản lý

cụ thể đối với từng chỉ tiêu lựa chọn trong quản lý doanh nghiệp.

Nhiệm vụ cụ thể của kế toán viên trong các bộ phận kế toán theo mô hình kết

hợp giữa KTTC và KTQT như sau:

Bộ phận tài chính:

Bộ phận này chịu trách nhiệm về tình hình thực hiện chế độ tài chính, đôn

đốc việc thực hiện kế hoạch tài chính, khai thác, huy động vốn, sử dụng vốn trong

toàn doanh nghiệp.

Bộ phận kế toán tài sản cố định và vật tư:

- KTTC ghi sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết tài sản cố định và các

loại vật tư. Số liệu của KTTC cung cấp cho việc lập báo cáo tài chính.

- KTQT, căn cứ vào yêu cầu quản trị doanh nghiệp, lựa chọn các chỉ tiêu chi

tiết phục vụ cho yêu cầu KTQT:

+ Mở sổ chi tiết theo dõi tài sản cố định, khấu hao tài sản cố định.

+ Lập dự toán tình hình tăng, giảm tài sản cố định theo từng nguồn vốn đầu

tư, theo từng nơi sử dụng tài sản cố định.

+ Lập dự toán đối với các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản cố định, chỉ tiêu

doanh thu trên tài sản cố định, chỉ tiêu lợi nhuận trên tài sản cố định.

+ Phân tích tình hình thực hiện các chỉ tiêu liên quan đến TSCĐ đã được dự toán.

+ Cung cấp số liệu cho việc lập báo cáo quản trị.

Sơ đồ 3.2. Sơ đồ kết hợp công việc của KTTC và KTQT

Xử lý số liệu

127

Kế toán tài chính

- Ghi sổ tổng hợp - Ghi sổ chi tiết

Lập báo cáo tài chính (các chỉ tiêu liên quan)

tổng hợp

Xử lý số liệu

Kế toán quản trị

Lập báo cáo quản trị (các chỉ tiêu liên quan)

cụ thể

- Lập các dự toán - Ghi chép số liệu theo từng chỉ tiêu dự toán - Phân tích…

Bộ phận kế toán và thanh toán:

- KTTC ghi sổ kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết các loại tiền, các khoản

thanh toán với người bán, người mua, với NSNN, với các đơn vị phụ thuộc.

- KTQT tiền và thanh toán căn cứ vào yêu cầu quản trị cụ thể đối với từng

chỉ tiêu để mở sổ kế toán nhằm thu nhận được các thông tin phục vụ cho KTQT và

lập báo cáo quản trị:

+ Lập dự toán thu, chi tiền cho mục đích khác nhau và theo từng bộ phận sử

dụng tiền;

+ Lập kế toán dự toán tình hình công nợ đối với từng đối tượng theo từng

khoản nợ, theo thời hạn nợ;

+ Tính toán so sánh các phương án, trả vay mua bán chịu hoặc trả tiền ngay

để hưởng chiết khấu;

+ Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán tiền thường xuyên;

+ Cung cấp số liệu cho lập báo cáo quản trị về các chỉ tiêu công nợ và

thanh toán.

Bộ phận kế toán chi phí và giá thành:

- KTTC ghi sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết chi phí sản xuất, kinh

doanh, tính giá thành sản phẩm theo loại sản phẩm… Nhằm cung cấp các số liệu

tổng hợp phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và các chỉ tiêu chi phí và giá thành.

- KTQT chi phí và giá thành căn cứ vào yêu cầu quản lý cụ thể để thực hiện

128

các công việc sau đây:

+ Lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí, lập dự toán chi phí sản xuất kinh

doanh theo từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm.

+ Phân loại chi phí sản xuất theo tiêu chuẩn phân loại phù hợp với yêu cầu

quản trị.

+ Lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ chi phí và tính toán phân bổ chi phí các đối

tượng chịu chi phí.

+ Lập kế hoạch giá thành theo công việc, theo địa điểm kinh doanh…

+ Mở sổ kế toán thu thập, ghi chép cụ thể, chi tiết các số liệu liên quan đến

tính toán giá thành sản phẩm theo yêu cầu quản trị.

Các bộ phận kế toán thuộc mô hình này có quan hệ chặt chẽ với nhau trong

việc cung cấp thông tin, số liệu phục vụ yêu cầu KTTC và KTQT cũng như các yêu

cầu quản trị của nhà quản lý. Cụ thể là:

- Bộ phận kế toán vốn bằng tiền và thanh toán: cung cấp thông tin về các

loại tiền hiện có và tình hình thanh toán công nợ theo từng chủ nợ, khả năng thanh

toán hiện hành và thanh toán nhanh. Trên cơ sở đó nhà quản lý nắm chắc tình hình

tài chính thực tế của doanh nghiệp. Các thông tin này được sử dụng để quyết định

mua hàng, tài sản cố định và vật tư, đồng thời xem xét tình hình chi phí bởi các số

liệu được cung cấp từ bộ phận kế toán tài sản cố định, vật tư, kế toán chi phí và giá

thành sản phẩm.

- Bộ phận kế toán chi phí và giá thành

+ Phân tích chi phí và giá thành;

+ Cung cấp số liệu cho việc lập báo cáo quản trị về các chỉ tiêu liên quan đến

chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm…

- Bộ phận kế toán nguồn vốn, quỹ

+ KTTC nguồn vốn, quỹ ghi sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết nguồn

vốn, các quỹ của doanh nghiệp và cung cấp số liệu tổng hợp để lập báo cáo tài

chính về các chỉ tiêu này.

+ KTQT nguồn vốn, quỹ căn cứ yêu cầu cụ thể về quản lý các nguồn vốn,

129

quỹ để mở sổ thu nhận số liệu phục vụ cho quản trị các nguồn vốn và các quỹ của

doanh nghiệp.

+ Lập dự toán về khả năng khai thác và sử dụng nguồn vốn quỹ.

+ Tính toán các chỉ tiêu quản trị như tỷ suất tự tài trợ, tỷ suất tài trợ, chỉ tiêu

doanh thu trên nguồn vốn chủ sở hữu, lợi nhuận trên nguồn vốn chủ sở hữu…

+ Phân tích các chỉ tiêu thuộc nguồn vốn, quỹ để có biện pháp khai thác và

sử dụng hiệu quả nguồn vốn, quỹ của doanh nghiệp.

+ Cung cấp số liệu cho việc lập báo cáo quản trị về các chỉ tiêu quản trị

nguồn vốn, quỹ.

- Bộ phận kế toán tổng hợp

+ KTTC trên cơ sở tổng hợp số liệu, tài liệu từ các bộ phận kế toán có liên

quan và thực hiện ghi chép kế toán tổng hợp và chi tiết các phần hành KTTC còn lại

để lập báo cáo tài chính.

+ KTQT ở bộ phận này có nhiệm vụ thực hiện các công việc còn lại theo yêu

cầu quản lý của doanh nghiệp; căn cứ số liệu, tài liệu đã thu nhận được của các bộ

phận KTQT khác gửi đến để lập các báo cáo KTQT.

+ Bộ phận kiểm tra kế toán sẽ lập kế hoạch kiểm tra, trực tiếp kiểm tra tất cả

các phần hành kế toán (kiểm tra thực hiện Luật kế toán, lập xử lý chứng từ, vận

dụng tài khoản, sổ sách, tổ chức lãnh đạo công tác kế toán,…)

Ưu điểm cơ bản của mô hình kết hợp:

Một là, kết hợp chặt chẽ giữa quản lý tổng hợp và quản lý cụ thể theo từng

chỉ tiêu;

Hai là, việc phân công, phân nhiệm trong phòng kế toán thuận lợi, đơn giản,

dễ làm, tạo điều kiện quản lý chặt chẽ khối lượng công việc của nhân viên kế toán;

Ba là, việc thu nhận và xử lý thông tin nhanh từ khâu thu nhận, xử lý chứng

từ, ghi sổ kế toán đến việc cung cấp số liệu;

Bốn là, thuận tiện cho việc cơ giới hóa công tác kế toán.

Tuy nhiên, mô hình này có một số nhược điểm sau:

- Không tạo điều kiện thuận lợi cho chuyên môn hóa theo hai loại KTTC và

130

KTQT từ đó hạn chế đến quá trình quản lý nội bộ.

Để tổ chức theo mô hình kế toán toán tập trung, kết hợp với KTTC và KTQT

trong từng phần hành kế toán các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải

Dương cần giải quyết triệt để các vấn đề sau:

- Tổ chức phân công phù hợp năng lực, phân định trách nhiệm của từng

người trong từng bộ phận, phần hành.

Đối với nhân viên kế toán có trình độ chuyên môn vững vàng, có kinh

nghiệm quản lý sẽ được bố trí những phần hành kế toán phức tạp. Đại bộ phận các

doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương là các doanh nghiệp thực

hiện gia công các loại giày xuất khẩu cho các đối tác nước ngoài, nhận nguyên vật

liệu chính, vật liệu phụ của đối tác và lấy công làm lãi do vậy đó với việc bố trí

người làm kế toán các phần hành là hết sức quan trọng đặc biệt là phần hành kế toán

nguyên vật liệu và kế toán tiền lương và các khoản thanh toán với người lao động.

Đây là phần hành phức tạp cần phải được theo dõi đặc biệt. Qua khảo sát một số

doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương cho thấy: Ví dụ Công ty Cổ

phần giày Hải Dương, Công ty TNHH Việt Phát riêng phần hạch toán tiền lương

được làm thủ công dưới sự hỗ trợ của bảng tính excel để theo dõi riêng cuối kỳ mới

được kế toán tổng hợp kết xuất vào phần mềm kế toán. Bởi đặc điểm của hầu hết

các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương có lực lượng lao động

là nữ đang độ tuổi sinh nở thường xuyên có sự biến động về nghỉ thai sản, con ốm,

mẹ nghỉ. Với lực lượng lao động nữ đông theo dõi phức tạp đòi hỏi tổ chức phần

hành kế toán tiền lương và các khoản phải nộp cho người lao động phải hết sức

khoa học, khai thác tối đa sự hỗ trợ của các thiết bị công nghệ, nắm chắc các quy

định của luật bảo hiểm xã hội, có quan hệ phối hợp tốt với cơ quan bảo hiểm.

- Nâng cao chất lượng chuyên môn, ý thức chấp hành pháp luật cho đội ngũ

những người làm công tác kế toán. Đặc biệt, sau khi tham gia TPP, Việt Nam cần

phải điều chỉnh cả những yếu tố thương mại như những nội dung liên quan tới lao

động, quyền sở hữu trí tuệ... khẳng định sự cấp thiết phải tiến hành cải cách thể

chế, tự do hóa thị trường. Điều này đòi hỏi những người làm kế toán trong các

131

doanh nghiệp sản xuất giày của chúng ta phải đủ trình độ để đáp ứng yêu cầu

nghề nghiệp.

Trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay các doanh nghiệp sản xuất giày đa số

là các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong điều kiện kinh tế khó khăn như hiện nay có

rất nhiều doanh nghiệp không tổ chức bộ máy kế toán riêng thành phòng ban kế

toán mà tiến hành thuê người làm kế toán kể cả kế toán trưởng, điều này hoàn toàn

phù hợp với quan điểm đổi mới tổ chức công tác chuyên môn nghề nghiệp kế toán

kiểm toán. Công việc kế toán, trước đây phải gắn với con người cụ thể trong đơn vị

kế toán. Nay đã được đổi thành nghề nghiệp dịch vụ có thể thuê mướn. Trong nền

kinh tế thị trường như hiện nay, tổ chức kế toán - kiểm toán với tư cách là tổ chức

xã hội dân sự đã hình thành và ngày càng có vai trò quan trọng trong quản lý nghề

nghiệp, tư vấn khoa học và phản biện đối với Nhà nước. Vấn đề đặt ra là những

người làm kế toán thuê cho các doanh nghiệp này không được quản lý một cách

chặt chẽ bài bản. Giữa doanh nghiệp và những người này không có ràng buộc về

trách nhiệm pháp lý. Những người này là sinh viên làm thêm hoặc là cán bộ nghỉ

hưu. Một bộ phận không nhỏ chưa nắm chắc, chưa cập nhật kịp thời các quy định

liên quan đến pháp luật về kế toán cũng như đảm bảo các điều kiện cần thiết trong

việc cung cấp và bảo mật thông tin cho doanh nghiệp. Trong trường hợp này toàn

bộ khâu thu thập thông tin ban đầu như tìm hiểu thông tin thị trường, ký và thanh lý

hợp đồng, lập chứng từ đều do những người trong doanh nghiệp thực hiện, như vậy

sẽ tách rời khâu thu thập thông tin và xử lý thông tin người được thuê về sẽ xử lý

các thông tin đã được thu thập. Hầu hết những người làm kế toán thuê cho doanh

nghiệp không có mặt thường xuyên ở doanh nghiệp và thường chỉ đảm bảo đối phó

với cơ quan thuế, cơ quan chức năng kiểm tra doanh nghiệp còn những thông tin

phục vụ để nhà quản trị ra quyết định thì hết sức hạn chế. Những người này cũng

phải được tập huấn, giám sát các hoạt động hành nghề đảm bảo tuân thủ pháp luật

nộp báo cáo đúng thời hạn quy định và cung cấp thông tin kịp thời đáng tin cậy.

Người làm công tác kế toán cho các doanh nghiệp phải luôn nâng cao ý thức trách

nhiệm với công việc, khả năng tự học để nắm chắc chế độ tài chính vận dụng tốt

132

vào công việc. Nhất là trong điều kiện hiện nay chúng ta đang dần hoàn thiện Luật

kế toán, các chuẩn mực kế toán theo hướng mở, công khai, minh bạch về tình hình

tài chính cho các doanh nghiệp. Kế toán ngày nay không chỉ là công cụ quản lý mà

trở thành một nghề nghiệp chuyên môn, do đó không phải ai cũng có thể làm được

kế toán. Người làm kế toán phải có những tiêu chuẩn nhất định về đạo đức nghề

nghiệp về năng lực chuyên môn. Muốn có được đội ngũ những người làm kế toán

đủ năng lực các doanh nghiệp phải thường xuyên tiến hành sàng lọc bồi dưỡng, tập

huấn, phổ biến kiến thức.

3.3.2. Hoàn thiện về tổ chức thu nhận, kiểm tra thông tin ban đầu

+ Thu nhận thông tin thực hiện quá khứ: Hạch toán ban đầu thông qua việc

lập các chứng từ kế toán là khâu đầu tiên của mọi hệ thống kế toán khi tổ chức thu

thập thông tin thực hiện quá khứ. Việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên

quan đến chi phí doanh thu cụ thể đầy đủ, chính xác vào các chứng từ ban đầu sẽ

giúp cho các khâu kế toán tiếp theo được tiến hành thuận lợi. Nhờ đó mà nhanh

chóng có được các thông tin cần thiết đảm bảo yêu cầu: phù hợp và hữu ích.

Trong kế toán chi phí, chứng từ gốc liên quan đến chi phí thực tế phát sinh là

những chứng từ về các yếu tố sản xuất kinh doanh như:

- Phiếu xuất kho (phiếu xuất vật tư, sản phẩm hàng hóa);

- Các chứng từ về tiền lương (tiền công) phải trả cho người lao động;

- Bảng tính khấu hao TSCĐ;

- Các phiếu chi tiền mặt, các chứng từ của ngân hàng (giấy báo nợ, bản sao

kê của ngân hàng).

Tùy thuộc vào yêu cầu thông tin chi tiết về chi phí, giá thành, giá vốn hàng

bán mà KTQT doanh nghiệp có thể tổ chức chứng từ ban đầu một cách hợp lý.

Chẳng hạn trong doanh nghiệp sản xuất thực hiện sản xuất nhiều loại sản phẩm và

yêu cầu quản trị cần phải có thông tin về giá thành của từng loại sản phẩm và đơn vị

sản phẩm hoàn thành thì có thể tổ chức chứng từ ban đầu theo cách:

- Đối với chi phí trực tiếp (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân

công trực tiếp) nên lập chứng từ riêng cho từng loại sản phẩm (trong trường hợp

133

này nên xác định đối tượng tập hợp chi phí là từng loại sản phẩm).

- Đối với chi phí sản xuất chung thì tổ chức chứng từ để tập hợp được chi phí

theo từng yếu tố chi phí, theo địa điểm phát sinh chi phí (phân xưởng, bộ phận sản

xuất…), sau đó lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ thích hợp để xác định chi phí này cho

từng loại sản phẩm.

- Đối với chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng việc tổ chức chứng

từ để phản ánh các chi phí này tương tự như chi phí sản xuất chung. Do đặc thù đối

với sản xuất gia công chi phí bán hàng bao gồm: chi phí xuất nhập khẩu, chi phí mở

tờ khai hải quan, lấy tờ khai hải quan, chi phí bốc dỡ container.

Trong kế toán doanh thu, các chứng từ gốc liên quan đến doanh thu thực tế

phát sinh là các hóa đơn bán hàng, hóa đơn (GTGT), bảng kê hàng bán lẻ. Việc tổ

chức các chứng từ này cũng cần xuất phát từ yêu cầu thông tin chi tiết về doanh thu

tương ứng với chi phí để xác định kết quả. Nếu cần thông tin về doanh thu, kết quả

của từng mặt hàng thì cần lập các chứng từ này chi tiết cho từng mặt hàng xuất bán

để phản ánh doanh thu của từng mặt hàng theo từng lần xuất bán. Tuy nhiên để

đảm bảo sự kết hợp giữa KTQT và KTTC cần có sự kết hợp các mục đích của

KTTC như lập chứng từ bán hàng phản ánh doanh thu từng mặt hàng kết hợp phản

ánh doanh thu bán hàng theo từng phương thức bán hàng (bán chịu, bán trả góp,

bán thu tiền ngay…) Với đặc thù là các doanh nghiệp sản xuất gia công hàng xuất

khẩu. Doanh thu của hàng gia công được ghi nhận khi hàng hóa xuất ra khỏi kho

có phiếu xuất kho và được mở tờ khai hải quan. Hàng hóa sẽ đi đến cảng và sau khi

hoàn thành mọi thủ tục xác thực được xuất chính thức rời khỏi cảng. Toàn bộ

chứng từ được quay về và được phát hành hóa đơn đồng thời ghi nhận doanh thu.

Tỷ giá xuất kho được xác định tỷ giá thực tế tại thời điểm mở tờ khai hải quan tại

cơ quan hải quan.

+ Thu nhận thông tin tương lai: KTQT thu nhận và cung cấp thông tin tương

lai bằng cách xây dựng kế toán chi phí, giá thành, lợi nhuận đồng thời xây dựng hệ

thống định mức chi phí, dự toán chi phí sản xuất kinh doanh, giúp cho khả năng dự

toán tương lai và khả năng điều hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả cho nhà

134

quản trị. Hầu hết các quyết định của nhà quản trị đều liên quan đến chi phí. Đối

với mỗi loại quyết định, chi phí có liên quan có đặc điểm và nội dung khác nhau.

Để xây dựng được định mức dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí

nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, giá thành phải phân loại chi phí

thành biến phí và định phí.

3.3.3. Hoàn thiện tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin kế toán

Để xử lý hệ thống hóa thông tin kế toán, người làm kế toán phải sử dụng rất

nhiều phương pháp khác nhau. Qua khảo sát thực tế tác giả đưa ra một số vấn đề sau:

Hoàn thiện phương pháp tính giá để xử lý thông tin kế toán: Phương pháp

tính giá là phương pháp kế toán sử dụng thước đo tiền tệ để xác định giá trị của các

đối tượng kế toán phục vụ quá trình thu nhận, xử lý, hệ thống hóa và cung cấp

thông tin kinh tế - tài chính ở đơn vị. Trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa

bàn tỉnh Hải Dương hiện nay hầu hết là các doanh nghiệp gia công sản xuất theo

đơn đặt hàng. Nguyên vật liệu thường được sử dụng bởi hai nguồn đó là nhập khẩu

của chính đối tác và nguồn mua trong nước. Việc tính giá nguyên vật liệu xuất kho

phải hết sức linh hoạt.

Khi tính giá thực tế xuất kho nên phân thành nguyên vật liệu nhập khẩu để

sản xuất theo đơn đặt hàng sẽ được tính giá thực tế theo phương pháp đích danh và

phải theo dõi riêng; đối với nguyên vật liệu mua về để sản xuất sẽ tính theo phương

pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ như vậy sẽ hợp lý và đảm bảo để tính chi phí

nguyên vật liệu trực tiếp chính xác hơn và vì thế xác định giá thành giày sản xuất ra

cũng chính xác hơn. Qua khảo sát thực tế việc tính giá vật liệu xuất kho ở Công ty

Cổ phần giày Hải Dương, Công ty Cổ phần giày Cẩm Bình đều sử dụng phương

pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ.

Hoàn thiện tổ chức tài khoản kế toán để xử lý, hệ thống hóa thông tin kế

toán: Trong điều kiện thực hiện mô hình tổ chức KTTC kết hợp với KTQT trong bộ

máy kế toán chung của doanh nghiệp, việc tổ chức tài khoản kế toán để phản ánh

chi tiết chi phí doanh thu, kết quả nên dựa vào hệ thống tài khoản kế toán sử dụng

trong KTTC để mở các tài khoản chi tiết (tài khoản cấp 2,3,4…). Chẳng hạn TK

135

621 - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp nên mở các TK cấp 2 để phản ánh chi phí

này theo từng loại sản phẩm A, B, C… các tài khoản cấp 2 này có thể là:

TK 6211 chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sản phẩm A

TK 6212 chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sản phẩm B

Tương tự như vậy TK cấp 2 cho TK 622 chi phí nhân công trực tiếp. TK 627

chi phí sản xuất chung thì KTQT có thể mở TK cấp 2 để tập hợp từng yếu tố chi phí

trong sản xuất chung thì KTQT có thể mở TK cấp 3 để phản ánh từng yếu tố chi phí

sản xuất chung được phân bổ cho từng loại sản phẩm hoặc sử dụng các TK cấp 2

của TK 627 theo quy định trong hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp để tập hợp

từng yếu tố chi phí sản xuất chung. Sau đó phân bổ những chi phí này cho từng loại

sản phẩm để kết chuyển sang từng chi tiết của TK 154 chi phí sản xuất kinh doanh

dở dang.

Các TK 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, TK 155 - thành phẩm,

TK 632 - giá vốn hàng bán, TK 511 - doanh thu bán hàng trong hệ thống tài khoản

kế toán doanh nghiệp cũng cần được mở các TK cấp 2,3,4 để phản ánh chi tiết chi

phí sản xuất, giá thành sản phẩm, giá vốn hàng xuất bán, doanh thu bán hàng và các

khoản doanh thu theo từng mặt hàng hoặc ngành hàng tùy thuộc vào yêu cầu quản

trị doanh nghiệp.

Việc mở các TK chi tiết cho TK641 - Chi phí bán hàng, TK642 - Chi phí

quản lý doanh nghiệp theo yêu cầu cung cấp thông tin chi tiết về các chi phí này

nhằm phục vụ cho xác định kết quả chi tiết của từng mặt hàng theo yêu cầu quản

trị chi phí và kết quả cũng có thể thực hiện tương tự như TK627 - Chi phí sản

xuất chung.

TK421 - Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, TK911 - Xác định kết quả kinh

doanh cũng cần được mở các tài khoản chi tiết để xác định và phản ánh kết quả của

từng mặt hàng, từng loại sản phẩm hàng hóa.

Kết cấu của các tài khoản chi tiết (TK cấp 2,3,4) mở theo từng tài khoản tổng

hợp tương ứng cũng nên dựa theo kết cấu của các tài khoản tổng hợp này nhưng

mang nội dung của chỉ tiêu chi tiết.

136

Việc tổ chức tài khoản kế toán để phản ánh chi tiết chi phí, doanh thu, kết

quả theo yêu cầu quản trị như trên vừa đảm bảo cung cấp thông tin chi tiếp theo yêu

cầu quản trị doanh nghiệp, vừa đảm bảo khả năng đối chiếu giữa thông tin chi tiết

với thông tin tổng hợp liên quan của các đối tượng kế toán biểu hiện cụ thể trong

từng doanh nghiệp.

Về tổ chức tài khoản nguyên liệu, vật liệu

Qua khảo sát một số doanh nghiệp sản xuất giày trên điạ bàn tỉnh Hải Dương

cho thấy trong việc phân loại vật liệu một số doanh nghiệp phân loại chưa hợp lý.

Đối với tài khoản để theo dõi hạch toán nguyên vật liệu nên xây dựng thêm các tài

khoản cấp 2 do nguyên vật liệu ở các đơn vị đa dạng, phong phú về chủng loại màu

sắc, số lượng rất nhiều. Khi phân loại nguyên vật liệu nên phân loại vật liệu theo

mục đích sử dụng và giá trị của chúng. Vật liệu mua trong nước nếu có giá trị sử

dụng lớn, thường xuyên và cấu thành sản phẩm thì nên đưa vào vật liệu chính.

Ngược lại, vật liệu ngoại nhập nếu giá trị sử dụng nhỏ nên coi là vật liệu phụ và đưa

vào vật liệu phụ.

Ví dụ: Những vật liệu được coi là nguyên vật liệu chính mà được mua trong

nước như:

+ Mút xốp các loại;

+ Dây giày;

+ Giấy gói, giấy nhét, nylon đựng giày;

+ Hòm carton đựng sản phẩm;

+ Đế giày...

Và những vật liệu nhập khẩu có thể coi là vật liệu phụ như:

+ Bàn chải quét keo;

+ Bánh mài tre;

+ Bánh mài cước...

Về tình hình sử dụng vật liệu: Hệ thống định mức tiêu hao vật liệu phải được

xây dựng trên yêu cầu kỹ thuật công nghệ của sản phẩm kết hợp với thực tế và kinh

nghiệm sản xuất. Ngoài ra phải sử dụng hợp lý, tiết kiệm chi phí vật liệu trên cơ sở

137

các định mức, nên có chế độ thưởng phạt nghiêm minh với việc tiết kiệm cũng như

lãng phí nguyên vật liệu. Bên cạnh đó phải có sự kiểm chứng, báo cáo, thông tin

phản hồi vật tư hàng ngày. Từ đó kiểm tra được hạn mức kế hoạch tại tất cả các

phân xưởng sản xuất trong công ty. Thông qua việc tiêu hao vật tư thực tế và hạn

mức kế hoạch mà công ty có sự chuẩn bị mua sắm, dự trữ vật tư đảm bảo cho quá

trình sản xuất được liên tục.

Thực hiện kiểm tra giám sát mặt giá trị của vật liệu: tổ chức xuyên suốt số

liệu từ phòng vật tư - kho - phân xưởng - phòng kế toán. Từ đó, sẽ đưa ra những

thông tin để dự báo dự trữ, chủ động thu mua và cung cấp vật liệu.

* Hoàn thiện tổ chức sổ kế toán để xử lý, hệ thống hóa thông tin kế toán

Để thiết kế mẫu các sổ kế toán phản ánh chi tiết chi phí trong doanh nghiệp

cần căn cứ vào:

- Yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp;

- Đối tượng tập hợp chi phí mà doanh nghiệp đã xác định.

Nhằm đảm bảo yêu cầu:

- Theo dõi được chi tiết từng khoản mục chi phí, yếu tố chi phí kết hợp với

việc nhận dạng chi phí biến đổi và chi phí cố định;

- Phân tích chi phí theo từng đối tượng tập hợp chi phí đã các định phù hợp

với yêu cầu cung cấp thông tin chi tiết về chi phí để vừa phục vụ yêu cầu quản lý

chi phí đáp ứng yêu cầu xác định kết quả từng hoạt động, từng mặt hàng... theo yêu

cầu của nhà quản trị doanh nghiệp.

Nguyên tắc chung để ghi sổ chi tiết chi phí là:

- Những chi phí trực tiếp thì khi phát sinh sẽ được trực tiếp vào sổ kế toán

chi tiết tương ứng;

- Đối với những chi phí chung (thường là chi phí sản xuất chung, chi phí bán

hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp) khi phát sinh nên ghi vào sổ tương ứng mở cho

từng khoản chi phí này (riêng chi phí sản xuất chung có thể mở số theo từng địa

điểm phát sinh chi phí - phân xưởng, bộ phận sản xuất...).

Định kỳ phân bổ các chi phí này cho các đối tượng chịu chi phí liên quan.

138

Ví dụ: Mẫu số chi phí sản xuất chung trong doanh nghiệp sản xuất có thể

theo mẫu sau: Phụ lục số 03

Mẫu sổ chi tiết sản xuất toàn doanh nghiệp (Xem chi tiết tại Phụ lục số 04)

Tương tự như mẫu sổ chi tiết chi phí sản xuất chung, có thể mở sổ chi tiết chi

phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp theo mẫu (Xem chi tiết tại Phụ lục số

05) Thiết kế sổ chi tiết doanh thu, kết quả kinh doanh.

Việc thiết kế mẫu sổ kế toán chi tiết doanh thu, kết quả có thể thực hiện bằng

1 trong 2 cách:

- Mẫu sổ chi tiết doanh thu riêng.

- Mẫu sổ chi tiết doanh thu kết hợp với chi tiết kết quả kinh doanh dù thiết kế

mẫu sổ chi tiết doanh thu, kết quả theo cách nào thì cũng cần đáp ứng các yêu cầu:

+ Phản ánh được các chi tiết doanh thu, kết quả theo yêu cầu cung cấp thông

tin phục vụ quản trị doanh thu, kết quả;

+ Đảm bảo sự tương thích về đối tượng cần theo dõi chi tiết giữa doanh thu

với chi phí để xác định kết quả chi tiết theo yêu cầu quản trị. Thông thường sổ chi tiết

doanh thu, kết quả nên mở cho từng loại sản phẩm, dịch vụ, từng mặt hàng tiêu thụ.

Mẫu sổ doanh thu độc lập (Xem chi tiết tại Phụ lục số 06)

Mẫu sổ chi tiết doanh thu bán hàng xuất khẩu (Xem chi tiết tại Phụ lục số 07)

Để có thông tin về lãi gộp thì trên sổ này có thể thêm dòng “Chi phí sản

phẩm của hàng đã bán” và dòng “Lãi gộp” sau dòng “Doanh thu thuần”.

Mẫu sổ chi tiết doanh thu kết hợp với chi tiết kết quả dinh doanh (Xem chi

tiết tại Phụ lục số 08).

Để ghi vào mẫu sổ kết hợp này cần phải căn cứ vào:

- Chứng từ gốc là các hóa đơn bán hàng hoặc hóa đơn (GTGT) và chứng từ

liên quan để ghi vào các cột “doanh thu”, “các khoản giảm doanh thu”.

- Căn cứ vào kết quả tính giá hàng xuất bản đã bán để ghi vào cột “Chi phí

sản phẩm của hàng đã bán” (đối với sản phẩm, hàng hóa) hoặc căn cứ vào giá phí

của dịch vụ đã cung cấp để ghi vào cột này (đối với dịch vụ đã cung cấp).

- Căn cứ vào kết quả phân bổ, chi phí bán hàng, chi phí quản trị doanh

139

nghiệp thể hiện trên sổ chi tiết chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp để

ghi vào các cột tương ứng.

Trong trường hợp bán hàng thu ngoại tệ thì trên sổ chi tiết doanh thu cần có

cột theo dõi nguyên tệ, tỷ lệ giá quy đổi ngoại tệ và số tiền theo đơn vị đồng Việt

Nam sau khi quy đổi.

Hoàn thiện hệ thống báo cáo thực hiện

Để giúp các nhà quản trị thực hiện chức năng kiểm soát, các kế toán viên

KTQT sử dụng các số liệu chi tiết về chi phí, doanh thu, kết quả thực hiện trên các

sổ kế toán liên quan để soạn thảo các báo cáo thực hiện.

Trong đa số các báo cáo thực hiện, KTQT nên vừa trình bày các thông tin

thực hiện, vừa trình bày những thông tin về dự toán (kế hoạch) tương ứng để đảm

bảo so sánh những kết quả thực tế đạt được với dự toán, liệt kê tất cả những sự khác

biệt giữa thực hiện với dự toán để giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá

tình hình thực hiện kế hoạch (dự toán). Khi thiết kế và soạn thảo các báo cáo KTQT

cần đảm bảo các yêu cầu:

- Các thông tin trên báo cáo phải được phân chia thành các chỉ tiêu phù hợp

với các tiêu chuẩn đánh giá thông tin trong mỗi tình huống quyết định khác nhau;

- Các chỉ tiêu trong báo cáo phải có quan hệ chặt chẽ, lôgíc với nhau;

- Các số liệu thực tế, dự toán, định mức hoặc các mục tiêu định trước trong

báo cáo phải so sánh được với nhau để giúp các nhà quản trị doanh nghiệp sử dụng

thông tin thực hiện chức năng kiểm soát các hoạt động;

- Hình thức kết cấu các báo cáo cần đa dạng, linh hoạt tùy thuộc vào tiêu

chuẩn đánh giá thông tin trong mỗi báo cáo phục vụ cho từng tình huống cụ thể;

- Các chỉ tiêu trong báo cáo thực hiện nên được phân bổ theo loại sản phẩm,

mặt hàng hoặc theo khu vực, thời gian, bộ phận…

Một số mẫu báo cáo thực hiện có thể thiết kế theo các mẫu sau:

Mẫu: Báo cáo giá thành sản phẩm (từng phân xưởng) (Xem chi tiết tại Phụ

lục số 09);

Mẫu: Báo cáo số lượng sản phẩm sản xuất hàng tháng (Xem chi tiết tại Phụ

140

lục số 10);

Mẫu: Báo cáo sản xuất (từng phân xưởng) (Xem chi tiết tại Phụ lục số 11).

Các báo cáo thực hiện do KTQT lập ra sẽ được gửi cho các cấp quản trị

trong doanh nghiệp. Do vậy, các thông tin trên báo cáo phải giúp các nhà quản trị

trong doanh nghiệp biết được kế toán đề ra đã được thực hiện như thế nào và chỗ

nào cần phải thay đổi, bổ sung, điều chỉnh nhằm hướng mọi hoạt động của doanh

nghiệp về mục tiêu đã xác định. KTQT doanh nghiệp thực hiện thu thập, trình bày

và cung cấp các thông tin định lượng về các hoạt động của doanh nghiệp cho các

nhà quản trị doanh nghiệp để họ ra quyết định liên quan đến hoạch định và kiểm

soát các hoạt động trong doanh nghiệp. Trong quá trình hoạch định và kiểm soát,

các nhà quản trị doanh nghiệp luôn quan tâm đến khả năng sinh lời của doanh

nghiệp. Cụ thể khi ra quyết định, các nhà quản trị doanh nghiệp phải xem xét số

lượng hoạt động (số lượng sản phẩm sản xuất và bán ra) trong mối quan hệ với chi

phí bỏ và lợi nhuận thu được. Điều đó cũng có nghĩa là muốn kiểm soát được lợi

nhuận, các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải biết được chi phí cho các hoạt động

quan hệ như thế nào đến khối lượng hoạt động và đến lợi nhuận của doanh nghiệp.

Thực tế hoạt động của doanh nghiệp cho thấy một số chi phí không thay đổi

khi số lượng hoạt động của doanh nghiệp thay đổi (định phí), nhưng một số chi phí

khác lại thay đổi khi số lượng hoạt động thay đổi (biến phí). KTQT khi cung cấp

các thông tin về chi phí (kể cả thông tin thực hiện và thông tin dự báo) cần phải

phân biệt được định phí và biến phí. Việc phân biệt chi phí thành định phí và biến

phí có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các thông tin chi phí thích hợp cho

việc ra quyết định cũng như trong việc phân tích mối quan hệ chi phí khối lượng lợi

nhuận và trong việc dự báo chi phí.

Từ sự phân tích trên cho thấy khi cung cấp các thông tin về chi phí trong các

báo cáo KTQT, đặc biệt là báo cáo kết quả, cần phải phân biệt chi phí thành biến

phí và định phí.

Mẫu: Báo cáo chi phí sản xuất chung (Xem chi tiết tại Phụ lục số 12)

Trong các chỉ tiêu trên thì chỉ tiêu “Số giờ máy hoạt động” là tiêu thức

141

thường sử dụng để phân bổ chi phí sản xuất chung (cả khi lập dự toán và khi phân

bổ chi phí sản xuất chung thực tế).

Mẫu: Báo cáo kết quả (Xem chi tiết tại Phụ lục số 13)

Trong các chỉ tiêu thuộc mẫu báo cáo này các chỉ tiêu về định phí chỉ cần

theo dõi tổng số.

Trong một doanh nghiệp với nhiều bộ phận phụ thuộc hoạt động trong nhiều

lĩnh vực hoặc thuộc nhiều khu vực khác nhau thì các báo cáo kết quả thực hiện cũng

cần phân biệt rõ doanh thu, chi phí (định phí và biến phí) và lợi nhuận trước thuế

theo từng bộ phận, từng hoạt động hoặc từng khu vực… và theo toàn doanh nghiệp

để giúp các nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp có thể đánh giá được cụ thể kết

quả hoạt động theo bộ phận, hoạt động hoặc khu vực… cụ thể.

Trong trường hợp này các mẫu Báo cáo kết quả theo khu vực và bộ (Xem chi

tiết tại Phụ lục số 14)

Trong 2 mẫu báo cáo này có thể tách định phí chung của toàn doanh nghiệp

thành mọi chi tiêu riêng nhằm đánh giá chính xác trách nhiệm của các nhà quản trị

ở từng bộ phận, lĩnh vực, khu vực… Trước kết quả đạt được ở bộ phận, lĩnh vực,

khu vực… họ trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý và kiểm soát chi phí. Có thể coi các

mẫu báo cáo này là những báo cáo bộ phận, các thông tin trên đó cho phép đánh giá

kết quả hoạt động của từng bộ phận, lĩnh vực, khu vực… giúp các nhà quản trị

doanh nghiệp đánh giá kết quả hoạt động của từng bộ phận (lĩnh vực, khu vực…),

qua đó giúp họ ra các quyết định quản lý đúng đắn.

Để KTQT doanh nghiệp thực sự là hệ thống kế toán cung cấp những thông

tin định lượng giúp các nhà quản trị trong doanh nghiệp ra các quyết định liên quan

đến hoạch định và kiểm soát, thì vấn đề tổ chức một cách khoa học, hợp lý việc thu

thập thông tin thực hiện một cách chi tiết về chi phí, doanh thu, kết quả các hoạt

động là vấn đề quan trọng. Bởi vì các thông tin thực hiện giúp các nhà quản trị kiểm

soát kết quả và hiệu quả các giải pháp, các quyết định và kế hoạch đã đề ra trước

đó. Mặt khác, kết quả trong quá khứ có thể hữu dụng trong việc xác định các ước

lượng cho tương lai. Điều này cũng có nghĩa là các thông tin chi tiết về chi phí,

142

doanh thu, kết quả các hoạt động sản xuất kinh doanh trong quá khứ gần cũng phần

nào tham dự vào việc thực hiện mục đích sử dụng thông tin để ra quyết định cho

tương lai.

Trên cơ sở hệ thống tài khoản kế toán chung áp dụng cho các doanh nghiệp

nhà nước đã ban hành, các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương căn cứ

vào đặc điểm cụ thể của từng công ty, đồng thời căn cứ vào số lượng, loại nghiệp vụ

kinh tế phát sinh và yêu cầu quản trị công ty để tổ chức vận dụng các tài khoản kế

toán tổng hợp và tài khoản kế toán chi tiết phục vụ cho KTTC và KTQT.

* Về báo cáo KTQT

Báo cáo KTQT là những báo cáo phục vụ yêu cầu quản trị và điều hành hoạt

động sản xuất kinh doanh của nhà quản lý doanh nghiệp.

Báo cáo KTQT cung cấp những thông tin mà nhà quản lý cần để lập kế

hoạch, đánh giá, kiểm soát hoạt động trong doanh nghiệp, nó tồn tại vì lợi ích của

doanh nghiệp. Nói một cách tổng quát nó cung cấp những thông tin kế toán phục vụ

cho mục tiêu ra quyết định của nhà quản lý.

Vì thông tin KTQT chỉ được chuẩn bị và sử dụng riêng cho nhà quản lý nên

việc lập báo cáo này không cần thiết phải tuân theo những nguyên tắc kế toán nhất

định. Bản chất của báo cáo KTQT là hệ thống thông tin được soạn thảo và trình bày

theo các yêu cầu quản trị, điều hành sản xuất kinh doanh và ra các quyết định của

bản thân từng doanh nghiệp nên nó có tính chất linh hoạt không phụ thuộc vào

những nguyên tắc kế toán. Điều cơ bản của báo cáo này là giúp cho nhà quản lý

thấy được những việc đã, đang và sẽ diễn ra trong hoạt động của doanh nghiệp gắn

liền với từng bộ phận, từng chức năng nhất định.

Khảo sát KTQT ở các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương cho

đến thời điểm hiện nay, KTQT tồn tại dưới hai mô hình.

Với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hệ thống quản lý dựa chủ

yếu trên nền tảng chuyên môn hoá sâu theo từng bộ phận hoạt động sản xuất kinh

doanh như Công ty cổ phần giày Cẩm Bình và Công ty cổ phần giày Hải Dương

từng hoạt động quản lý thì nội dung KTQT được xây dựng theo hướng cung cấp

143

thông tin định lượng về tình hình kinh tế - tài chính theo từng bộ phận chuyên môn

hoá để phục vụ hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết định của từng

nhà quản lý ở từng cấp quản trị. Nội dung mô hình KTQT này thường bao gồm

những lý luận và nghiệp vụ kỹ thuật cơ bản về:

Thứ nhất, phân loại, kiểm soát, đánh giá chi phí theo từng phạm vi chuyên

môn hoá, cấp bậc quản trị.

Thứ hai, xác định, kiểm soát, đánh giá giá thành sản phẩm, chủ yếu là giá

thành sản phẩm của từng quá trình sản xuất.

Thứ ba, dự toán ngân sách hoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm theo

từng bộ phận và đánh giá trách nhiệm quản lý ở từng cấp bậc quản trị.

Thứ tư, thu thập, phân tích thông tin để thiết lập thông tin thích hợp xây dựng

giá bán, phương án kinh doanh ngắn hạn, phương án kinh doanh dài hạn theo từng

bộ phận, cấp bậc quản trị.

Thứ năm, phân tích, dự báo một số chỉ số tài chính ở từng bộ phận,

doanh nghiệp.

Với những doanh nghiệp có hệ thống quản lý dựa chủ yếu trên nền tảng từng

“quá trình hoạt động” như Công ty TNHH Việt Phát, Công ty TNHH Minh Phúc, nội

dung KTQT được xây dựng theo hướng cung cấp thông tin định lượng về tình hình

kinh tế - tài chính từng “quá trình hoạt động” để phục vụ hoạch định, tổ chức phối

hợp - thực hiện, đánh giá hiệu quả của từng “đội công tác quá trình”. Nội dung mô

hình KTQT này thường gồm những lý luận và nghiệp vụ kỹ thuật cơ bản về:

Thứ nhất, phân loại, kiểm soát, đánh giá chi phí theo từng “quá trình hoạt

động”. Quá trình hoạt động ở đây có thể hiểu một cách đơn giản là bao gồm tất cả

các công đoạn, bộ phận như nghiên cứu và phát triển sản phẩm, sản xuất, dịch vụ,

thiết kế tiến trình sản xuất, sản phẩm, Marketing, phân phối, dịch vụ sau phân phối

cho khách hàng hoặc bao gồm một nhóm công đoạn, bộ phận gắn kết nhau trong

quá trình sản xuất kinh doanh.

Thứ hai, dự toán ngân sách hoạt động của từng “quá trình hoạt động” và

đánh giá hiệu quả của từng “đội công tác quá trình”. Đội công tác quá trình được tổ

144

chức bao gồm nhiều người có chuyên môn khác nhau cùng thực hiện một quá trình

kinh doanh.

Thứ ba, thu thập, phân tích thông tin để thiết lập thông tin thích hợp phục vụ

lựa chọn từng “quá trình hoạt động” và phối hợp thực hiện quá trình hoạt động của

“đội công tác quá trình”.

Thứ tư, phân tích, dự báo các chỉ số tài chính theo từng “quá trình hoạt

động”, doanh nghiệp.

Ngoài ra, đối với mô hình KTQT được xây dựng theo hướng cung cấp thông

tin định lượng về tình hình kinh tế - tài chính từng “quá trình hoạt động” cần hoàn

thiện một số nội dung sau:

Chứng từ kế toán: TT 200 đã bỏ chứng từ bắt buộc, toàn bộ chứng từ là

chứng từ hướng dẫn điều naỳ tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp sản xuất

trong đó có các doanh nghiệp sản xuất giày của chúng ta chủ động, thiết kế các mẫu

chứng từ để thực hiện thu nhận thông tin quá khứ chi tiếp theo từng mục tiêu quản

lý, KTQT cần sử dụng rộng rãi các chứng từ hướng dẫn. Doanh nghiệp cần cụ thể

hóa hệ thống chứng từ hướng dẫn, chọn lọc, bổ sung, sửa đổi các chỉ tiêu trên chứng

từ cho phù hợp với nội dung KTQT, thiết kế một số chứng từ kế toán cần thiết để

phản ánh các nội dung thông tin thích hợp theo yêu cầu của quản trị doanh nghiệp,

phục vụ cho thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin cho việc đánh giá tình hình thực

hiện định mức, kế hoạch và dự toán cũng như phục vụ cho việc lập định mức, kế

hoạch và dự toán mới.

Tài khoản kế toán: dựa trên hệ thống tài khoản kế toán Nhà nước ban hành,

KTQT dựa trên cơ sở mục tiêu và yêu cầu quản lý chi tiết với từng đối tượng để mở

các tài khoản chi tiết cấp 2, cấp 3, cấp 4… để chi tiết hóa các tài khoản của KTTC,

từ đó tập hợp, xử lý, phân tích thông tin một cách có hệ thống và khoa học. Trên các

tài khoản chi tiết phản ánh kết hợp thước đo giá trị với các thước đo khác.

Sổ kế toán: hệ thống sổ kế toán, đặc biệt là các sổ chi tiết cần thiết kế mẫu sổ

với số lượng, chủng loại, các chỉ tiêu cần phản ánh phù hợp theo yêu cầu quản trị và

trình độ trang bị công nghệ xử lý thông tin tại doanh nghiệp, các sổ kế toán cần

145

phản ánh theo nhiều chỉ tiêu phù hợp với các yêu cầu quản lý khác nhau để có thông

tin hữu ích sử dụng trên báo cáo KTQT đặc thù để có thể tổng hợp theo nhiều yêu

cầu khác nhau. Ví dụ, các sổ kế toán phản ánh chi phí sản xuất kinh doanh vừa đảm

bảo cung cấp thông tin về chi phí theo nội dung kinh tế của chi phí, hay theo công

dụng của chi phí, hay theo mối quan hệ chi phí với khối lượng hoạt động, hay theo

mối quan hệ chi phí với quy trình công nghệ… đồng thời phục vụ cho việc lập các

báo cáo kiểm soát, đánh giá từng bộ phận.

Tính giá và lập báo cáo KTQT: KTQT cũng phải tuân thủ những nguyên tắc

và trình tự tính giá các đối tượng trong quá trình thu nhận thông tin quá khứ như

KTTC. Tuy nhiên, do mục đích riêng của KTQT nên nguyên tắc và trình tự tính giá

trong những trường hợp đặc biệt mang tính đặc thù, đặc biệt.

Chi phí - giá thành: dưới góc độ dự toán, quản lý và kiểm soát chi phí thì chi

phí thường được chia thành biến phí và định phí để phân tích điểm hòa vốn, phân

tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận, phân tích đánh giá báo cáo thu

nhập bộ phận, đồng thời tùy theo yêu cầu và mức độ quản lý để tính giá theo

phương pháp định phí toàn bộ, hay theo biến phí, hay theo biến phí có phân bổ hợp

lý định phí.

Trên cơ sở toàn bộ thông tin đã tập hợp trong nội bộ doanh nghiệp, thiết lập

hệ thống báo cáo kế toán nội bộ gồm các báo cáo nhanh, báo cáo định kỳ, báo cáo

đột xuất ngoài tổng hợp, cân đối số liệu từ các sổ sách kế toán, KTQT còn sử dụng

kỹ thuật thống kê, phương pháp toán… để phân tích các chỉ tiêu thực hiện mục tiêu

quản lý doanh nghiệp, giúp cho nhà quản trị ra quyết định đúng đắn, hiệu quả hơn.

3.3.4. Hoàn thiện tổ chức cung cấp thông tin thông qua hệ thống báo cáo tài

chính và hệ thống báo cáo KTQT

Hoàn thiện tổ chức hệ thống báo cáo tài chính:

Nội dung cơ bản của hoàn thiện tổ chức hệ thống báo cáo tài chính là hoàn

thiện các quy định về chế độ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp sản xuất giày

nói chung và các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng, bao

gồm các quy định về mẫu biểu, phương pháp lập, thời hạn lập và nộp báo cáo tài

146

chính cũng như các chỉ tiêu phản ánh trong báo cáo tài chính bắt buộc; hoàn thiện

về phương pháp phân tích báo cáo tài chính, xử lý, phân tích và cung cấp các thông

tin của KTQT cho nhà quản lý trong công ty.

Đối với Nhà nước, nghiên cứu bổ sung, sửa đổi và ban hành các quy định bắt

buộc về báo cáo tài chính chung cho các loại hình doanh nghiệp sản xuất theo

hướng những thông tin bắt buộc phải trình bày và những thông tin hướng dẫn.

Thông tin hướng dẫn là những thông tin khuyến khích công ty trình bày trên báo

cáo tài chính. Thực hiện được điều này sẽ tạo điều kiện cho công ty chủ động, sáng

tạo trong việc trình bày thông tin trên báo cáo tài chính, phù hợp với đặc điểm loại

hình kinh doanh và có khả năng so sánh giữa các loại hình công ty trong phạm vi

quốc gia cũng như với các nước trên thế giới, đảm bảo sự hài hòa giữa kế toán Việt

Nam với kế toán quốc tế. Theo đó, các thông tin trên báo cáo tài chính cần hoàn

thiện, bao gồm:

- Các thông tin phản ánh trên bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn

bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản của công ty tại thời điểm nhất

định, đồng thời phản ánh tình hình tài chính thông qua mối quan hệ giữa các chỉ

tiêu, khoản mục trình bày trên bảng. Tuy nhiên, hiện nay các chỉ tiêu trên Bảng

CĐKT chưa thực sự phản ánh đúng giá trị thực của tài sản nên cũng không thể phản

ánh thực chất hiệu quả kinh doanh của công ty.

- Các thông tin phản ánh trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Một số chỉ tiêu của báo cáo kết quả kinh doanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố

chủ quan của công ty như chỉ tiêu giá vốn hàng bán phụ thuộc vào việc lựa chọn

phương pháp xác định giá vốn hàng xuất kho để bán, phương pháp tính trích khấu

hao TSCĐ và phương pháp ghi chép kế toán các khoản chi phí phải trả, chi phí trả

trước... Vì vậy, để đảm bảo nguyên tắc phù hợp của kế toán thì các doanh nghiệp

cần phải xác định phương pháp tính giá vốn hàng xuất kho để bán phù hợp và sử

dụng phương pháp đã lựa chọn trong thời gian ổn định lâu dài, đồng thời áp dụng

phương pháp trích trước chi phí, tính toán ghi chép chi phí phải trả hợp lý nhằm

147

đảm bảo sự chính xác của giá vốn hàng bán.

- Các thông tin trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ nhằm cung cấp các thông tin về các dòng tiền

luân chuyển trong đơn vị. Do đó, báo cáo này cần được thiết kế đơn giản, dễ hiểu,

dễ thực hiện và có thể gộp lại một số chỉ tiêu phản ánh dòng tiền vào và dòng tiền ra

như có thể phân chia riêng các dòng tiền đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn. Theo đó

báo cáo lưu chuyển tiền tệ nên thiết lập theo các mục lớn như sau:

Mục I: Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh;

Mục II-1: Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư ngắn hạn (gồm các khoản đầu

tư tài chính ngắn hạn và các khoản đầu tư ngắn hạn khác);

Mục II-2: Lưu chuyển từ hoạt động đầu tư dài hạn (gồm các khoản đầu tư tài

chính dài hạn và các khoản đầu tư dài hạn khác);

Mục III: Lưu chuyển từ hoạt động tài chính.

- Các thông tin trên Thuyết minh báo cáo tài chính

Các thông tin trình bày trên Thuyết minh báo cáo tài chính nhằm giải thích

và trình bày những thông tin về tình trạng tài chính của công ty mà trên các báo cáo

tài chính khác chưa được phản ánh. Với lý do đó, Thuyết minh báo cáo tài chính

của các công ty cần bổ sung thêm các nội dung sau đây:

+ Bổ sung thêm mục các khoản phải thu và phải trả; những thông tin về bán

hàng theo phương thức trả chậm, trả góp với thời hạn trên một năm; và các thông

tin về đầu tư chứng khoán ngắn hạn và dài hạn;

+ Bổ sung thông tin về tài sản ngắn hạn đã đem đi thế chấp để vay tiền;

+ Bổ sung thông tin về chứng khoán sẽ bán để thu hồi vốn vào cuối kỳ kế

toán. Vì các khoản tiền thu được do bán chứng khoán là một trong những nội dung

cấu thành tài sản ngắn hạn của công ty và được dùng để thanh toán các khoản nợ

ngắn hạn.

- Hoàn thiện hệ thống báo cáo KTQT

Báo cáo KTQT được lập trên cơ sở thông tin của KTQT cung cấp và lập theo

yêu cầu của các cấp quản trị trong công ty để ra được quyết định kinh tế phù hợp. Do

148

vậy, thông tin KTQT được cung cấp bởi hệ thống báo cáo KTQT phải được tổ chức

phù hợp với nhu cầu và mục tiêu của công tác quản lý công ty cũng như từng quyết

định kinh doanh cụ thể của nhà quản lý.

Quản lý trong công ty sản xuất giày gồm các chức năng cơ bản như: lập kế

hoạch; dự toán; tổ chức thực hiện; kiểm tra đánh giá và ra quyết định. Theo đó, với

vai trò cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà quản trị doanh nghiệp, hệ thống báo

cáo KTQT phải cung cấp được các thông tin về định mức, dự toán; thông tin về tình

hình thực hiện và các thông tin phân tích, dự báo và tư vấn. Song, thực tế tại các

doanh nghiệp sản xuất giày nói chung và các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa

bàn tỉnh Hải Dương nói riêng, việc tổ chức KTQT và lập báo cáo KTQT còn chưa

được chú trọng đúng mức, làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác

quản trị của công ty.

Hệ thống báo cáo KTQT được thiết kế, lập và trình bày mang tính linh hoạt,

không mang tính thống nhất và tuân thủ như báo cáo tài chính. Số lượng và mẫu

biểu báo cáo KTQT không chỉ khác nhau giữa các doanh nghiệp sản xuất giày mà

còn có thể khác nhau giữa các bộ phận và giai đoạn của một doanh nghiệp. Song,

dựa trên những yêu cầu và nguyên tắc cơ bản của việc hoàn thiện và chức năng cơ

bản của doanh nghiệp sản xuất nói chung và các công ty sản xuất giày trên địa bàn

tỉnh Hải Dương nói riêng, hệ thống báo cáo KTQT của các công ty này cần được

hoàn thiện những nội dung sau đây:

+ Các thông tin trên báo cáo KTQT phải được phân chia thành các chỉ

tiêu phù hợp với các tiêu chuẩn đánh giá thông tin trong mỗi tình huống kinh tế

khác nhau;

+ Các chỉ tiêu trong báo cáo KTQT phải quan hệ chặt chẽ với nhau;

+ Các số liệu thực tế, dự toán, định mức hoặc các mục tiêu định trước trong

báo cáo phải so sánh được với nhau để giúp các nhà quản trị doanh nghiệp sử dụng

thông tin thực hiện chức năng kiểm soát hoạt động một cách có căn cứ và tin cậy.

+ Hình thức kết cấu báo cáo KTQT cần đa dạng, linh hoạt tùy thuộc vào

tiêu chuẩn đánh giá thông tin trong mỗi báo cáo phục vụ cho từng tình huống kinh

149

tế cụ thể;

+ Các chỉ tiêu trong báo cáo KTQT thực hiện nên được phân bổ theo địa

điểm, thời gian, bộ phận, theo nhóm sản phẩm...

Qua khảo sát thực trạng tổ chức KTQT tại các công ty sản xuất giày trên địa

bàn tỉnh Hải Dương cho thấy, KTQT khi cung cấp các thông tin về chi phí (kể cả

thông tin thực hiện và thông tin dự báo) chưa phân biệt được định phí và biến phí.

Để có được thông tin này khi tổ chức KTQT trong các công ty cần phân loại chi phí

thành định phí và biến phí, đồng thời lập báo cáo chi phí kinh doanh và báo cáo kết

quả kinh doanh theo tiêu thức phân loại này. Dưới đây trình bày một số mẫu báo

cáo KTQT ở các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương:

- Báo cáo quản trị chi phí sản xuất kinh doanh

Báo cáo quản trị chi phí sản xuất kinh doanh được lập dựa trên các số liệu,

tài liệu do KTQT chi phí sản xuất kinh doanh cung cấp từ các sổ KTQT chi phí

sản xuất kinh doanh theo đối tượng tập hợp chi phí. Nếu đối tượng tập hợp chi

phí sản xuất kinh doanh là địa điểm sản xuất kinh doanh thì báo cáo này được

lập theo địa điểm sản xuất kinh doanh nhằm cung cấp số liệu chi tiết cho quản trị

chi phí sản xuất hnh doanh theo. Từng địa sản xuất điểm sản xuất kinh doanh.

Nếu yêu cầu quản lý chi phí theo từng loại sản phẩm thì báo cáo này được lập

theo loại sản phẩm.

Báo cáo quản trị chi phí sản xuất theo địa điểm sản xuất kinh doanh được

thiết lập theo mẫu (Xem chi tiết tại Phụ lục số 15).

Báo cáo chi phí sản xuất kinh doanh theo địa điểm sản xuất kinh doanh cung

cấp cho nhà quản trị công ty các thông tin chi tiết về tình hình chi phí sản xuất kinh

doanh ở từng địa điểm phát sinh chi phí. Trên cơ sở đó, nhà quản trị kiểm tra, kiểm

soát được tình hình thực hiện định mức chi phí của từng địa điểm, làm cơ sở cho

việc xác định kết quả kinh doanh theo từng địa điểm.

Cơ sở lập báo cáo này là căn cứ vào sổ chi tiết chi phí sản xuất theo yếu tố

cho từng địa điểm sản xuất kinh doanh.

- Báo cáo quản trị chi phí sản xuất chung

150

Báo cáo quản trị chi phí sản xuất chung cung cấp cho nhà quản trị công ty các

thông tin về tình hình thực hiện định mức chi phí sản xuất chung, tạo điều kiện cho

việc kiểm tra, kiểm soát chi phí sản xuất theo từng địa điểm sản xuất kinh doanh.

Cơ sở lập báo cáo này là căn cứ vào sổ chi tiết chi phí sản xuất chung và dự

toán chi phí sản xuất chung.

Mẫu: Báo cáo quản trị chi phí sản xuất chung (Xem chi tiết tại Phụ lục số 16).

- Báo cáo quản trị giá thành sản phẩm

Báo cáo quản trị giá thành sản phẩm cung cấp thông tin về tổng giá thành và

giá thành đơn vị theo từng sản phẩm sản xuất của công ty. Trên cơ sở đó giúp nhà

quản trị phân tích, đánh giá tình hình tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản

phẩm để tăng lợi nhuận.

Cơ sở lập báo cáo này là căn cứ vào sổ chi tiết chi phí sản xuất, giá thành và

dự toán chi phí sản xuất và giá thành của các loại sản phẩm.

Mẫu Báo cáo quản trị giá thành sản xuất sản phẩm (Xem chi tiết tại Phụ

lục số 17).

3.3.5. Hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính

Phân tích báo cáo tài chính trong các DNSX có ý nghĩa quan trọng trong việc

cung cấp các thông tin về thực trạng tài chính của công ty cho các đối tượng trực

tiếp và gián tiếp quan tâm đến doanh nghiệp. Nguồn tài liệu sử dụng trong phân tích

báo cáo tài chính chủ yếu là báo cáo tài chính và các tài liệu thực tế khác có liên

quan. Do đó, hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính, trước hết phải hoàn thiện tổ

chức công tác phân tích, hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích... Việc phân

tích các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp không những giúp doanh

nghiệp xác định đúng hướng đi, biện pháp đầu tư mà còn giúp doanh nghiệp cung

cấp thông tin ra bên ngoài doanh nghiệp như nhà đầu tư, đặc biệt là NHTM hay các

tổ chức tín dụng giúp doanh nghiệp có thể được vay vốn dễ dàng, kịp thời.

Nội dung tổ chức công tác phân tích tài chính được xác định bao gồm:

+ Lập kế hoạch phân tích

Trong khâu lập kế hoạch phân tích tài chính cần chú ý đến vấn đề xác định

151

nguồn tài liệu phân tích; các chỉ tiêu phân tích; thời gian phân tích và người thực

hiện công tác phân tích.

Đối với các tài liệu phân tích cần được chuẩn bị đầy đủ, gồm Bảng cân đối

kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và

Thuyết minh báo cáo tài chính; thu thập các thông tin thực tế có liên quan đến thực

trạng tài chính để đảm bảo tính trung thực của kết quả phân tích:

+ Thực hiện kế hoạch phân tích

Sau khi kế hoạch phân tích được phê duyệt; công tác phân tích tài chính

được thực hiện bởi các những người có chuyên môn làm công tác phân tích tài

chính của doanh nghiệp. Những người này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan

đến công tác kế toán trong công ty.

Song trên thực tế thường là kế toán trưởng, kế toán tổng hợp hoặc người

được kế toán trưởng ủy quyền.

+ Lập báo cáo phân tích

Sau khi công tác phân tích được hoàn thành, người làm công tác phân tích

cần có báo cáo phân tích tài chính. Báo cáo phân tích tài chính phải thể hiện được

cả nội dung về kết quả số liệu phân tích của từng chỉ tiêu phân tích tài chính và cả

về lời văn thuyết trình thực trạng phân tích, những ưu, nhược điểm trong quá trình

thực hiện các chỉ tiêu phân tích và đề xuất các kiến nghị chủ yếu để thực hiện có

hiệu quả các chỉ tiêu phân tích tài chính của công ty.

Để thực hiện tốt công tác phân tích tài chính của công ty, trước khi phân tích

cần kiểm tra tính xác thực của các thông tin đã trình bày trên báo cáo tài chính.

Thông thường sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:

Phương pháp cân đối: Phương pháp này dựa trên mối quan hệ cân đối vốn

có của kế toán như cân đối giữa tài sản và nguồn vốn, thể hiện qua phương trình kế

toán sau đây:

Tài sản = Nguồn vốn = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu.

Phương pháp đối chiếu: Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu giữa số

liệu tổng hợp và số liệu chi tiết hoặc giữa số liệu trên sổ kế toán với số liệu thực tế

152

kiểm kê. Sau khi công việc kiểm tra được hoàn tất, tiến hành phân tích tài chính

thông qua các báo cáo tài chính chủ yếu sau:

Thông qua Bảng cân đối kế toán

Phân tích tài chính thông qua Bảng CĐKT nhằm mục đích cung cấp những

thông tin về năng lực hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính của công

ty cho các đối tượng quan tâm. Vì vậy, cần phân tích các vấn đề cơ bản sau:

+ Xem xét quy mô, tốc độ phát triển của tổng tài sản và từng loại tài sản

trong công ty. Điều này được thực hiện bằng cách so sánh chỉ tiêu tổng tài sản và

chỉ tiêu từng loại tài sản cuối kỳ với đầu năm để xác định số tăng, giảm cả số tuyệt

đối và số tương đối. Từ đó sẽ xác định được quy mô tăng hay giảm của tài sản trong

doanh nghiệp;

+ Xem xét tính hợp lý của cơ cấu tài sản: được thực hiện bằng cách tính tỷ

trọng của từng loại tài sản trong tổng tài sản của công ty, đồng thời so sánh số

chênh lệch về tỷ trọng của từng loại tài sản để thấy mức độ phát triển và sự hợp lý

về cơ cấu tài sản;

+ Khi phân tích tài chính thông qua phần Tài sản của Bảng CĐKT cần xác

định chỉ tiêu tỷ suất đầu tư. Tỷ suất này bao gồm tỷ suất đầu tư chung, tỷ suất đầu tư

ngắn hạn và tỷ suất đầu tư dài hạn;

Khi phân tích các chỉ tiêu về đầu tư nói trên thì ngoài việc xác định tính hợp

lý của tỷ suất này trong từng năm còn phải so sánh tỷ suất năm nay với tỷ suất các

năm trước để thấy rõ mức phát triển của từng khoản đầu tư của công ty.

+ Khi phân tích chỉ tiêu tài chính thông qua phần Nguồn vốn trên Bảng

CĐKT, ngoài việc so sánh số cuối kỳ với số đầu năm của từng loại nguổn vốn, cần

xác định các tỷ suất sau:

- Các khoản phải thu:

Tổng các khoản Tỷ lệ các khoản x phải thu phải thu = 100% với phải trả Tổng nợ phải trả

Nếu chỉ tiêu này lớn hơn 100%, chứng tỏ vốn của doanh nghiệp bị chiếm

153

dụng nhiều, ngược lại nếu chỉ tiêu này càng nhỏ hơn 100%, chứng tỏ doanh nghiệp

chiếm dụng vốn nhiều. Tuy nhiên số đi chiếm dụng nhỏ hay lớn đều cho thấy tình

hình tài chính không lành mạnh và đều ảnh hưởng đến uy tín và kết quả kinh doanh

của doanh nghiệp.

- Tỷ suất tự tài trợ: Tỷ suất này cung cấp thông tin về tình hình đảm bảo

nguổn vốn chủ sở hữu cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tỷ suất này càng cao thể

hiện tính chủ động về vốn đảm bảo cho kinh doanh càng cao. Điều đó thể hiện tình

hình tài chính của công ty là tốt. Phương pháp xác định chỉ tiêu này như sau:

Nguồn vốn chủ

sở hữu Tỷ suất tự tài x

trợ = 100% Tổng nguồn

vốn

Thông qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty nhằm cung cấp

các thông tin về tình hình thực hiện kế hoạch, dự toán chi phí sản xuất, giá vốn hàng

bán, doanh thu và thu nhập của các hoạt động cũng như tình hình thực hiện nghĩa vụ

với ngân sách nhà nước về các loại thuế.

Phương pháp phân tích báo cáo kết quả kinh doanh được sử dụng chủ yếu là

phương pháp so sánh. So sánh giữa số cuối kỳ và số đầu năm theo từng chỉ tiêu trên

báo cáo tài chính nhằm xác định mức độ tăng, giảm của các chỉ tiêu, đồng thời cần

chú trọng phân tích mối quan hệ giữa tốc độ tăng doanh thu, tốc độ tăng lợi nhuận

với tốc độ tăng chi phí để xem xét tính hiệu quả trong kinh doanh của công ty. Mặt

khác, cần xác định các nhân tố ảnh hưởng đối với lợi nhuận của công ty để có các

giải pháp điều chỉnh phương án sản xuất kinh doanh (Xem phụ lục số 24)

Thông qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Phân tích tài chính thông qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ nhằm cung cấp các

thông tin về việc hình thành và sử dụng các luồng tiền trong hoạt động sản xuất

kinh doanh của công ty cho các đối tượng quan tâm.

Khi các luồng tiền được hình thành hợp lý và sử dụng có hiệu quả sẽ mang

154

lại cho công ty khả năng tài chính khả quan và ngược lại.

Phương pháp phân tích là so sánh theo từng chỉ tiêu của số kỳ này và kỳ

trước cả về số tuyệt đối và số tương đối để thấy được khả năng tạo ra tiền của từng

hoạt động và sự biến động của từng khoản thu, chi tiền. Tính toán mức độ tạo ra

tiền từ hoạt động kinh doanh.

3.4. Điều kiện thực hiện giải pháp

Sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng các doanh nghiệp

nói chung đòi hỏi Nhà nước cần phải sửa đổi và ban hành mới các chính sách quản

lý kinh tế tài chính nhằm tạo môi trường pháp lý cho các đơn vị phát triển, trong đó

có các chính sách về kế toán.

Những năm qua, hệ thống kế toán Việt Nam đã có nhiều đổi mới nhằm đáp

ứng và phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa. Hàng loạt các văn bản pháp quy hướng dẫn về kế toán doanh

nghiệp đã được ban hành và đi vào cuộc sống. Sự thay đổi hệ thống kế toán Việt

Nam được đánh dấu bằng việc ban hành Quyết định 1141-QĐ/CĐKT ngày

01/11/1995 thay cho các quyết định về chế độ kế toán trước đây. Các chế độ kế toán

này, trong quá trình thực hiện đã có những bổ sung, sửa đổi phù hợp. Đặc biệt, Luật

Kế toán và hệ thống Chuẩn mực kế toán Việt Nam đã đánh dấu bước ngoặt về đổi

mới công tác kế toán cả về mặt tư duy và tính pháp lý, tạo thuận lợi cho các doanh

nghiệp Việt Nam phát triển trong điều kịên hội nhập ngày càng sâu với thế giới và

khu vực. Trong hoàn cảnh đó, Nhà nước cũng đã có sự đổi mới về hệ thống kế toán

doanh nghiệp bởi việc ban hành Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006

và Thông tư số 244/2009/ TT- BTC thay thế Quyết định số 1141-TC/QĐ/CĐKT và

Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 thay thế Quyết định 1177-TC/QĐ-

CĐKT. Ngày 22/12/2014, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 200/2014/TT-BTC

hướng dẫn Chế độ kế toán Doanh nghiệp thay thế cho Quyết định 15/2006/ QĐ-

BTC & Thông tư 244/2009/TT-BTC.

Tuy nhiên, nền kinh tế, xã hội không ngừng phát triển với tốc độ tăng trưởng

khá nên các chính sách, chế độ cũng cần thường xuyên phải được sửa đổi phù hợp

155

với thực tế. Do đó, để đảm bảo hoàn thiện môi trường pháp lý về kế toán áp dụng

cho các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương phù hợp với điều kiện

hiện nay thì ngoài các văn bản về kế toán có tính pháp lý cao nhất như Luật kế toán

Việt Nam, các văn bản dưới luật còn hiệu lực, cần tiếp tục đổi mới hệ thống kế toán

doanh nghiệp hiện hành theo hướng cơ bản sau đây:

Về Luật Kế toán: “Với hàng loạt vấn đề mới về thể chế kinh tế đã được xác

lập, bao gồm cả thể chế kinh tế vĩ mô, thể chế kinh tế tài chính Nhà nước, tài chính

DN. Nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện vào kinh tế khu

vực và thế giới” [47]. Dich vụ kế toán và hành nghề kế toán kế toán đã được thừa

nhận, phát triển dần trở thành một lĩnh vực thương mại quan trọng trong nền kinh tế.

Luật Kế toán cần được sửa đổi một cách căn bản và toàn diện. Sắp tới khi Luật Kế

toán 2015 có hiệu lực thi hành, Nhà nước cần nghiên cứu ban hành các văn bản

hướng dẫn thi hành Luật kế toán 2015 để Luật thực sự đi vào cuộc sống của công tác

kế toán.

Về Hệ thống Chuẩn mực kế toán: Tiếp tục ban hành, hoàn thiện hệ thống

Chuẩn mực kế toán phù hợp với thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế, đảm bảo

Việt hóa các nội dung Chuẩn mực làm cơ sở cho các doanh nghiệp nói chung trong

đó có các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương triển khai trong

quá trình tổ chức công tác kế toán. Sau thời gian triển khai thực hiện cần có tổng

kết, đánh giá để sửa chữa, bổ sung cho phù hợp và ứng dụng được vào thực tiễn

quản lý trong doanh nghiệp và các cơ sở kinh tế.

Về chế độ kế toán: Chế độ kế toán là những qui định và hướng dẫn kế toán

trong một lĩnh vực hoặc một công viêc cụ thể nào đó do cơ quan quản lý Nhà nước

về kế toán hoặc tổ chức được cơ quan quản lý Nhà nước về kế toán ủy quyền ban

hành. Cần quy định thống nhất hệ thống kế toán sử dụng cho các loại hình doanh

nghiệp, đối với từng loại hình doanh nghiệp khi xây dựng hệ thống tài khoản, hệ

thống chứng từ nên xây dựng theo hướng mở giúp các doanh nghiệp tự xây dựng,

lựa chọn cho phù hợp với đặc điểm cụ thể và yêu cầu quản trị. Hệ thống kế toán này

chỉ quy định những vấn đề chung, cơ bản nhất mang tính bắt buộc về KTTC và

156

những hướng dẫn cơ bản về KTQT mà tất cả các loại hình doanh nghiệp sản xuất

kinh doanh ở các lĩnh vực khác nhau thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có thể

vận dụng được. Tạo điều kiện tối đa để các doanh nghiệp được chủ động, sáng tạo

trong việc vận dụng chế độ kế toán cho phù hợp với đặc điểm riêng có của mình

đồng thời vẫn chấp hành tốt các quy định của Nhà nước. Trong thời gian tới cần

nghiên cứu thực hiện một số công việc sau:

+ Tích hợp một số tài khoản KTTC theo hướng: những tài khoản có nội dung

tương tự nhau nên ghép lại thành một tài khoản; phải có đủ các loại tài khoản khác

nhau để phản ánh được tính đa dạng của đối tượng kế toán, đồng thời cung cấp đầy

đủ thông tin cho nhà quản lý;

+ Rà soát, đổi tên một số tài khoản kế toán chưa phù hợp giữa tên gọi và nội

dung phản ánh của tài khoản;

+ Chú trọng bản chất nghiệp vụ hơn hình thức biểu hiện.

Đặc biệt trong thời gian không xa khi hiệp định TPP được thông qua, các

doanh nghiệp sản xuất giày sẽ phải đối mặt với rất nhiều thách thức ngoài những lợi

ích mà TPP mang lại. TPP, viết tắt của từ Trans - Pacific Partnership Agreement

(Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương), là hiệp định, thỏa thuận thương

mại tự do giữa 12 quốc gia với mục đích hội nhập nền kinh tế khu vực Châu Á -

Thái Bình Dương). Mục tiêu chính của TPP là xóa bỏ các loại thuế và rào cản cho

hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên. Ngoài ra, TPP sẽ thống

nhất nhiều luật lệ, quy tắc giữa các nước này như: sở hữu trí tuệ, chất lượng thực

phẩm, an toàn lao động. Thỏa thuận TPP bao gồm 29 chương, trong đó chỉ có 5

chương là trực tiếp liên quan đến vấn đề trao đổi hàng hóa, dịch vụ, các chương còn

lại đề cập vấn đề liên quan đến các chuẩn mực khác nhau về môi trường, chất lượng

lao động, luật lệ tài chính, thực phẩm, thuốc men. Khi tham gia TPP, hàng da giày sẽ

hưởng rất nhiều lợi thế để cạnh tranh với hàng Trung Quốc (vì hàng Trung Quốc còn

phải chịu thuê). Như vậy các hãng giày lớn của Mỹ và Châu Âu sẽ rời từ Trung quốc

sang Việt Nam để hưởng lợi thế từ TPP. Điều này sẽ làm cho ngành da giày có nhiều

đơn hàng, tạo việc làm cho hơn một triệu lao động. Tuy nhiên TPP cũng đặt ra nhiều

157

tiêu chuẩn hết sức nghiêm ngặt về môi trường, an toàn vệ sinh, lao động, sở hữu trí

tuệ,... đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất giày phải chuẩn bị hết sức kỹ lưỡng.

Ngoài nỗ lực của bản thân doanh nghiệp, rất cần sự trợ giúp của cơ quan Nhà

nước, của tỉnh, của các ban ngành tạo điều kiện cho các đơn vị hoạt động, có thể

cạnh tranh và nâng cao hiệu quả tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp.

Để các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp

sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương thực sự đạt được hiệu quả tích cực nhằm

tăng cường công tác quản trị công ty cần phải có những điều kiện nhất định. Dưới

đây luận án trình bày và phân tích một số điều kiện chủ yếu thuộc về phía Nhà nước,

Hội nghề nghiệp và thuộc về phía các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh

Hải Dương:

3.4.1. Đối với Nhà nước

Nhà nước Việt Nam, với chức năng quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân

thông qua các chính sách kinh tế, tài chính vĩ mô và hệ thống các chính sách quản lý

vĩ mô khác cần đảm bảo đầy đủ các điều kiện cơ bản, tạo khung pháp lý và định

hướng cho sự phát triển chung của toàn xã hội.

Không nên can thiệp quá sâu và quy định đối với từng ngành nghề, tạo cho

doanh nghiệp chủ động và sáng tạo trong công tác kế toán. Nhà nước nên tạo dựng

đầy đủ và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán, đảm bảo cho công tác kế toán,

tổ chức bộ máy kế toán, hành nghề kế toán được thực hiện theo pháp luật.

Hoàn thiện và ổn định chính sách kinh tế tài chính vĩ mô. Hiện nay, ở nước

ta, các chính sách kinh tế tài chính vĩ mô đang được dần hoàn thiện nhằm phù hợp

với điều kiện phát triển mới, nhiều chính sách kinh tế vĩ mô còn chưa có sự thống

nhất nên ảnh hưởng không ít đến sự phát triển chung của nền kinh tế và của các

công ty. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các chính sách kinh tế tài chính vĩ

mô theo hướng sau:

Thứ nhất, ổn định chính sách tiền tệ, kiềm chế tăng giá và lạm phát: Các cơ

chế, chính sách cần được xây dựng và hoàn thiện phù hợp với xu thế và bối cảnh

hội nhập kinh tế thế giới, đảm bảo sự bình đẳng, ổn định, thông thoáng và minh

158

bạch. Đặc biệt là trong điều kiện lạm phát và giá cả hàng hoá tăng cao như hiện nay

cần tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, quản lý thị trường vàng và ngoại hối để

tránh sự biến động lớn.

Thứ hai, xây dựng kế hoạch phát triển trong từng thời kỳ theo quy hoạch tổng

thể và kết hợp với quy hoạch chi tiết về phát triển của toàn bộ nền kinh tế và của

từng ngành, từng lĩnh vực, từng vùng lãnh thổ theo kế hoạch thứ tự ưu tiên nhằm thu

hút đầu tư nước ngoài cho sự phát triển của các công ty sản xuất giày. Các chương

trình trợ giúp đối với doanh nghiệp như chương trình khuyến khích đầu tư, chương

trình trợ giúp tiếp cận các nguồn vốn của các tổ chức tín dụng, các ngân hàng và các

tập đoàn tài chính; trợ giúp xuất khẩu; trợ giúp thông tin; hỗ trợ kỹ thuật,...

Thứ ba, thống nhất quản lý nhà nước về chiến lược phát triển kinh tế trên

phạm vi toàn quốc và trên từng vùng, lãnh thổ;

Thứ tư, xây dựng và sửa đổi hoàn thiện hệ thống Luật, các văn bản dưới

Luật, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nói chung và các công ty sản xuất giày nói

riêng hoạt động trên cơ sở tuân thủ pháp luật; thường xuyên rà soát các văn bản

pháp quy, xóa bỏ những văn bản không phù hợp và xây dựng mới các văn bản

hướng dẫn theo từng thời kỳ phát triển của đất nước.

Thứ năm, hoàn thiện hệ thống Chuẩn mực kế toán, hệ thống kế toán Việt

Nam và các văn bản hướng dẫn thực hiện Chuẩn mực kế toán, hệ thống kế toán, tạo

sự thực hiện thống nhất trong phạm vi cả nước.

Thứ sáu, hoàn thiện về việc ban hành các thông tư hướng dẫn chuẩn mực tạo

cho điều kiện thuận lợi cho các đơn vị áp dụng, cập nhật kịp thời tránh tình trạng

như hiện nay các đơn vị thường rơi vào tình trạng trì trệ trong việc nghiên cứu áp

dụng chính sách của Nhà nước ban hành; Hoặc khi áp dụng kịp thời lại xảy ra tình

trạng áp dụng sai do nghiên cứu chính sách chưa đúng hướng.

Trong thời gian không xa khi Hiệp định TPP được thông qua, để Việt Nam

có thể hưởng lợi một cách tốt nhất từ TPP, tận dụng được mọi ưu thế của mình sau

khi hội nhập thì trước hết cần phải có những thay đổi về chính sách và pháp luật

trong nước để thúc đẩy phát triển những ngành có lợi thế so sánh. Ngành da giày

159

được đánh giá là sẽ được lợi sau khi TPP có hiệu lực cần chủ động các nhân tố lao

động, vốn, đất đai và các tài nguyên khác.

3.4.2. Đối với các Hội nghề nghiệp

Tăng cường và nâng cao vai trò của các Hội nghề nghiệp, đặc biệt là Hội

kế toán Việt Nam trong việc hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ đối với công tác

kế toán trong các doanh nghiệp nói chung và trong các doanh nghiệp sản xuất giày

nói riêng.

Hiệp hội là nơi đại diện của các doanh nghiệp luôn đưa ra các hoạt động có

lợi cho các doanh nghiệp trong ngành. Các doanh nghiệp gia công sản xuất giày

xuất khẩu ra nước ngoài hiện đang gặp khó khăn bởi sự cạnh tranh gay gắt đặc biệt

là từ Trung Quốc. Việc thu thập thông tin thị trường, nghiên cứu thị trường, xúc tiến

thương mại trọng điểm là một trong những hoạt động quan trọng mà Hiệp hội giày

lúc này cần phải thực hiện để giúp đỡ các doanh nghiệp trong ngành. Đặc biệt trong

thời gian tới khi chúng ta đàm phán thành công hiệp định TPP. Mới đây nhất tại

buổi đàm phán với Tổng thống Hoa kỳ Barack Obama ngày 23/5/2016 tại Hà Nội,

Tổng thống Hoa Kỳ nhất trí sẽ sẽ sớm thúc đẩy Quốc hội Hoa Kỳ thông qua TPP,

cam kết trợ giúp Việt Nam nâng cao năng lực để để triển khai thỏa thuận này. TPP

chỉ cho phép các doanh nghiệp xuất khẩu được hưởng ưu đãi thuế quan còn 0-5%

nếu chứng minh hàng hóa được sản xuất hoàn toàn tại bên xuất khẩu và nguyên vật

liệu của bên đó hoặc một phần từ các nước trong khu vực ASEAN. Để tận dụng

được các lợi thế từ Hiệp định này thì ngành da giày phải tăng tốc chuẩn bị nguyên

phụ liệu trong nước để được hưởng thuế suất vào thị trường Mỹ và EU và một số thị

trường. Tuy nhiên, với sự lạc quan về một nền kinh tế khởi sắc, cũng như hoạt động

giao thương phát triển, năm 2016 các doanh nghiệp sẽ có mức doanh thu tăng

trưởng tốt. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng như các doanh nghiệp nước ngoài cần

chuẩn bị chu đáo, riêng doanh nghiệp Việt Nam cần đưa khoa học công nghệ vào để

tăng năng suất.

Yếu tố này thì các doanh nghiệp sản xuất giày của chúng ta đang gặp khó

khăn vì hầu hết nguyên vật liệu nhập khẩu từ Trung Quốc.

160

3.4.3. Đối với các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Các điều kiện cơ bản thuộc về các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn

tỉnh Hải Dương bao gồm:

Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, có các chương trình hỗ trợ trực tiếp

cho các doanh nghiệp về đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến thương mại, tạo điều kiện

cho các doanh nghiệp trong tỉnh tiếp xúc với các thông tin của Nhà nước. Đặc biệt

củng cố hoạt động của Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh để thật sự là cầu nối giữa các

doanh nghiệp với nhau, giữa doanh nghiệp với ban ngành của địa phương. Là nơi tổ

chức các lớp đào tạo, các buổi hội thảo cho đội ngũ những người làm công tác kế

toán, là trung tâm tư vấn về cơ chế chính sách, hướng dẫn ghi sổ kế toán, lập báo

cáo tài chính, thực hiện Luật kế toán, Chuẩn mực kế toán…

Xác định được vai trò, tầm quan trọng của doanh nghiệp trong chiến lược phát

triển kinh tế của tỉnh, thời gian qua tỉnh Hải Dương đã có nhiều giải pháp giúp doanh

nghiệp vượt qua khó khăn góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội

đã đề ra, thời gian tới để cạnh tranh được thì từng doanh nghiệp phải nỗ lực hơn nữa

tìm hướng đi hợp lý, chủ động nâng cao hiệu quả tổ chức công tác kế toán trong

doanh nghiệp là một trong những giải pháp tạo ra thành công cho doanh nghiệp.

Tổ chức phân cấp công tác quản lý kinh tế tài chính đối với các đơn vị nội bộ

công ty. Trong trường hợp công ty có nhiều bộ phận sản xuất kinh doanh trực thuộc

và phụ thuộc, công ty cần tổ chức phân cấp công tác quản lý nội bộ nhằm nâng cao

trách nhiệm quản lý ở từng bộ phận. Theo đó, tổ chức công tác kế toán cũng được

thực hiện trên cơ sở mô hình phân cấp, đảm bảo nhiệm vụ của từng bộ phận được

thực hiện theo sự chỉ đạo chung của toàn công ty.

Trên cơ sở hệ thống kế toán nhà nước đã ban hành, các doanh nghiệp sản

xuất giày căn cứ vào đặc điểm cụ thể về loại hình sản xuất kinh doanh của mình để

lập quy trình thực hiện công tác kế toán phù hợp, đặc biệt là công tác KTQT; quy

định đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể của từng bộ phận kế toán,

từng người làm kế toán trong bộ máy kế toán doanh nghiệp.

Thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kiến

161

thức tin học cho những người làm kế toán, đồng thời cập nhật chính sách chế độ

mới cho đội ngũ làm kế toán. Bên cạnh đó, cần nâng cao trình độ cho kế toán

trưởng, giám đốc công ty thông qua việc đào tào, bồi dưỡng qua các lớp bồi dưỡng

kế toán trưởng và giám đốc doanh nghiệp.

Tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin trong kế toán nhằm nâng cao năng

suất lao động kế toán và cung cấp thông tin kế toán đầy đủ, kịp thời phục vụ yêu

cầu quản trị doanh nghiệp.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày

trên địa bàn tỉnh Hải Dương là vấn đề phức tạp cần có sự nghiên cứu tỷ mỉ cả về lý

luận và thực tiễn. Những nội dung hoàn thiện được nghiên cứu một cách khoa học

dựa trên cơ sở lý luận và những đánh giá khách quan về thực trạng tổ chức công tác

kế toán trong một số doanh nghiệp sản xuất giày mà tác giả luận án đã khảo sát thực

tế. Các nội dung hoàn thiện này vừa mang tính khái quát, vừa mang tính cụ thể, bao

gồm các nội dung hoàn thiện trên lĩnh vực vĩ mô của Nhà nước như các văn bản

pháp luật của nhà nước về kế toán và trong phạm vi bản thân đối với các doanh

nghiệp về vấn đề tổ chức công tác kế toán, tổ chức hệ thống thông tin kế toán phục

vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp. Mặt khác, cũng trong chương này, luận án

đã phân tích một số điều kiện cơ bản thuộc về nhà nước, Hội nghề nghiệp và các

doanh nghiệp sản xuất giày trong việc thực hiện các giải pháp đã đề xuất.

162

KẾT LUẬN CHUNG

Trong những năm gần đây, phát triển các doanh nghiệp sản xuất giày đã và

đang được nhà nước cũng như toàn xã hội quan tâm. Các doanh nghiệp sản xuất

giày phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng đã khẳng định vị trí của mình và

có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội. Tăng cường công

tác quản lý công ty sản xuất giày thông qua việc sử dụng công cụ kế toán là cần

thiết khách quan. Do vậy, đổi mới và hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các

công ty sản xuất giày nói chung và các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh

Hải Dương nói riêng là vấn đề đã và đang được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý

quan tâm cả về lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ tầm quan trọng đó, luận án “Hoàn

thiện tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh

Hải Dương” đã nghiên cứu và rút ra những kết luận cơ bản sau đây:

Một là, hệ thống hóa và làm rõ thêm các vấn đề lý luận về tổ chức công

tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất nói chung và tổ chức công tác kế

toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng.

Các vấn đề được nghiên cứu một cách khoa học, tạo điều kiện cho việc nâng cao

nhận thức lý luận trong hoạch định chính sách quản lý vĩ mô. Đồng thời, luận án

trình bày và phân tích vai trò của KTTC và KTQT trong việc cung cấp thông tin

phục vụ quản trị, giúp các nhà quản lý trong các doanh nghiệp sản xuất giày

nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của tổ chức kế toán đối với công tác quản trị

trong doanh nghiệp.

Hai là, thông qua khảo sát thực tế về tổ chức công tác kế toán trong một số

doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương, luận án đã phân tích những

ưu điểm, những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trong tổ chức

công tác kế toán. Các nhận xét, đánh giá mang tính khách quan, giúp cho các nhà

quản trị thấy rõ thực chất của công tác quản trị doanh nghiệp những năm qua, từ đó

có biện pháp tích cực đổi mới công tác quản trị.

Ba là, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận án đã đề xuất các nội

163

dung hoàn thiện về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày

trên địa bàn tỉnh Hải Dương nhằm cung cấp thông tin một cách kịp thời, đầy đủ và

trung thực cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc đưa ra các quyết định kinh

doanh tối ưu, bao gồm:

- Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán;

- Hoàn thiện về tổ chức thu nhận thông tin ban đầu thông qua hệ thống chứng

từ kế toán và ghi chép ban đầu;

- Hoàn thiện tổ chức cung cấp thông tin thông qua hệ thống báo tài chính và

hệ thống báo cáo KTQT;

- Hoàn thiện công tác phân tích tài chính.

Bốn là, Luận án đã đề xuất những điều kiện cơ bản thuộc về phía Nhà nước,

Hội nghề nghiệp và các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

Đó cũng chính là các kiến nghị để thực hiện các giải pháp đề xuất. Tổ chức công tác

kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày nói chung và trong các doanh nghiệp

sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng là vấn đề hết sức phức tạp cần

được nghiên cứu kỹ lưỡng nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế trong giai đoạn

mới. Toàn bộ nội dung luận án thể hiện tính lý luận và thực tiễn một cách khái quát

về vấn đề tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa

bàn tỉnh Hải Dương. Vấn đề này sẽ còn được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.

164

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG

BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1. Nguyễn Thị Đào (2010), “Chuẩn mực kế toán số 05 và vấn đề hoàn thiện

chế độ kế toán bất động sản đầu tư qua thực tế tại Hải Dương”, “Tạp chí Kiểm toán”,

(8/105), Tr. 29.

2. Nguyễn Thị Đào (2015), “Hoàn thiện tổ chức công tác trong các doanh

nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương”, “Nghiên cứu Tài chính kế toán”,

(6/143), Tr. 68.

3. Nguyễn Thị Đào (2015), “Xây dựng mô hình tổ chức bộ máy kế toán trong

các doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương”, “Nghiên cứu Tài chính

kế toán”, (10/147), Tr. 69.

165

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Công thương (2014) số 2757/ QĐ - BCT, Phê duyệt quy hoạch phát

triển công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

2. Bộ Tài chính (2000), Hệ thống kế toán doanh nghiệp, Nxb Tài chính,

Hà Nội.

3. Bộ Tài chính (2002), Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa, Nxb Tài

chính, Hà Nội.

4. Bộ Tài chính (2006), Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa, Nxb Tài

chính, Hà Nội.

5. Nguyễn Hữụ Ba (2001), Giáo trình lý thuyết hạch toán kế toán, Nxb Tài

chính, Hà Nội.

6. Vũ Huy Cẩm (1996), Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành

sản phẩm, Nxb Thống kê, Hà Nội.

7. Nguyễn Văn Công (2001), Lập, đọc, kiểm tra và phân tích báo cáo tài

chính, Nxb Tài chính, Hà Nội.

8. Nguyễn Văn Công (1992), Phân tích hoạt động Kinh doanh, Nxb Tài chính,

Hà Nội.

9. Ngô Thế Chi (1996), Kế toán trưởng trong cơ chế quản lý mới, Nxb

Thống kê, Hà Nội.

10. Ngô Thế Chi, Nguyễn Trọng Cơ (2002), Hướng dẫn thực hành Kế toán

và phân tích tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa, Nxb Thống kê, Hà Nội.

11. Ngô Thế Chi, Nguyễn Mạnh Thiều (2015), Giáo trình kế toán dành cho nhà

quản lý, Nxb Tài chính.

12. Ngô Thế Chi, Trương Thị Thủy (2007), Giáo trình KTTC, Nxb Tài chính.

13. Ngô Thế Chi, Trương Thị Thủy (2013), Giáo trình KTTC, Nxb Tài chính.

14. Đại học Kinh tế quốc dân (2002), Lý thuyết hạch toán kế toán, Nxb Tài

chính, Hà Nội.

15. Đại học Kinh tế quốc dân (1998), Giáo trình quản trị kinh doanh, Nxb

Giáo dục, Hà Nội.

166

16. Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước (1998).

17. Nguyễn Đình Đỗ, Vương Đình Huệ (1996), Giáo trình kế toán doanh

nghiệp, Nxb Tài chính, Hà Nội.

18. Nguyễn Đình Đỗ, Vương Đình Huệ (1996), Giáo trình kế toán doanh

nghiệp, Nxb Tài chính, Hà Nội.

19. Nguyễn Đình Đỗ (2006), Qui trình kế toán doanh nghiệp trong xu thế đổi

mới hội nhập và phát triển, Nxb Lao động xã hội.

20. Nguyễn Thị Đông (1997), Lý thuyết hạch toán kế toán, Nxb Tài chính,

Hà Nội.

21. Mấy vấn đề về cán bộ tổ chức trong cách mạng XHCN, NXB sự thật, Hà

Nội (1973)

22. Nguyễn Thị Đông (1998), Tổ chức hạch toán kế toán, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

23. Nguyễn Thị Đông (2002), Lý thuyết hạch toán kế toán, Nxb Tài chính,

Hà Nội.

24. Phạm Thị Gái (1997), Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh, Nxb

Giáo dục, Hà Nội.

25.Nguyễn Phú Giang (2008), Giáo trình kế toán thương mại và dịch vụ,

Nxb Giáo dục, Hà Nội.

26. Nguyễn Đình Giao (1997), Kinh tế học vi mô, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

27. Lê Thị Thanh Hà, Trần Thị Kỳ, Giáo trình nguyên lý kế toán, Nxb

Thống kê.

28. Hệ thống kế toán Việt Nam (2006), Nxb Tài chính, Hà Nội.

29. Nguyễn Trọng Hoài, Phùng Thanh Bình, Nguyễn Khánh Duy (2014), Dự

báo và phân tích dữ liệu trong Kinh tế và Tài chính, Nxb Tài chính, TP Hồ Chí Minh.

30. Vương Đình Huệ, Đoàn Xuân Tiên (1999), Giáo trình KTQT, Nxb Tài

chính, Hà Nội.

31. Kennit. D. Larson (1994), KTTC theo hệ thống kế toán Mỹ, Nxb Thống

kê, Hà Nội.

32. Đặng Thị Loan (2011), KTTC trong các doanh nghiệp, Nxb Đại học kinh

167

tế quốc dân.

33. Trần Hải Long (2012), Hoàn thiện tổ chức công tác trong các doanh

nghiệp thuộc tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam, luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện

Tài chính, Hà Nội.

34. Huỳnh Lợi - Lê Khắc Tâm (2001), Kế toán quản trị, Nxb Thống kê, Hà Nội.

35. Luật Doanh nghiệp (2014).

36. Luật Giao dịch điện tử (2005)

37. Luật Kế toán Việt Nam (2003), Nxb Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,

Hà Nội.

38. Luật Kế toán Việt Nam (2016), Nxb Lao động, Hà Nội.

39. Lê Gia Lục (1999), Kế toán đại cương và tổ chức công tác kế toán trong

doanh nghiệp, Nxb Thống kê, Hà Nội.

40. Hùng Mạnh (1998), Kế toán quản lý, Nxb Thống kê, Hà Nội.

41. Bùi Văn Mai (2003), “Những nét mới trong dự thảo luật Kế toán Việt

Nam”, Kế toán, (40), Tr 7 - 9.

42. Trần Ngọc Nghĩa (2006), Giáo trình Lý thuyết hạch toán kế toán, Nxb

Tài chính, Hà Nội.

43. Nguồn báo Xây dựng Hải Dương 20/01/2015

44. Niên giám thống kê các năm.

45. Nathan. Hệ thống Lavin (1994), Kế toán chi phí theo hệ thống kế toán

Mỹ, Nxb Thống kê, Hà Nội.

46. P.M Kec - gien - txep (1999), Những nguyên lý của công tác tổ chức,

Nxb Thanh niên.

47. Đặng Văn Thanh., Luật Kế toán cần được sửa đổi một cách toàn diện và

căn bản, Tạp chí Kế toán & Kiểm toán số 4/2015

48. Nguyễn Minh Phương (2002), Giáo trình KTQT, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

49. Nguyễn Ngọc Quang (2011), Giáo trình KTQT, Nxb Đại học kinh tế

quốc dân.

50. Nguyễn Quang Quynh (1986), Những vấn đề cơ bản về tổ chức hạch

168

toán kế toán, Nxb Thống kê, Hà Nội.

51. Nguyễn Ngọc Song (1996), Hoàn thiện công tác kế toán trong các xí

nghiệp liên doanh với nước ngoài áp dụng chế độ kế toán Việt Nam, luận án phó

tiến sĩ khoa học kinh tế, Trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà Nội.

52. Nguyễn Ngọc Tâm (2015), Công nghiệp hỗ trợ tỉnh Hải Dương quy

hoạch để phát triển

53.Trần Thị Cẩm Thanh (2014), Giáo trình Tổ chức hạch toán kế toán, Nxb

Chính trị quốc gia.

54. Trần Hữu Thục (2009), Chế độ kế toán doanh nghiệp, hướng dẫn lập

chứng từ kế toán, hướng dẫn ghi sổ kế toán, Nxb Thống kê, Hà Nội.

55. Thông tư 200/2014/TT-BTC về Hướng dẫn Chế độ kế toán doanh

nghiệp, có hiệu lực từ 01/01/2015.

56. Đoàn Xuân Tiên, Lê Văn Liên, Nguyễn Thị Hồng Vân (2014), Giáo trình

nguyên lý kế toán, Nxb Tài chính.

57. Đoàn Xuân Tiên, Nguyễn Vũ Việt (2014), Giáo trình kế toán máy,

Nxb Tài chính.

58. Lưu Đức Tuyên, Ngô Thị Thu Hồng (2011), Tổ chức công tác kế toán trong

doanh nghiệp, Nxb Tài chính, Hà Nội.

59. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011), Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội.

60. Tài liệu kế toán tại các Công ty cổ phần Giày Cẩm Bình, Công ty cổ phần

Giày Hải Dương, Công ty Sumidenso,...

61. Tài liệu tại các trang website: Tailieu.vn, Luanvan.co, Thuvien24.com,

doc.edu.vn, Khodetai.com, Doko.vn, Reportshop.com.vn,...

169

UBND TỈNH HẢI DƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNG PHIẾU ĐIỀU TRA KHẢO SÁT

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIÀY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG

Chúng tôi xin trân trọng ghi nhận sự tham gia của ông (bà) vào đề tài nghiên

cứu này và xin cam đoan rằng nội dung trả lời và các thông tin cá nhân của ông (bà)

sẽ chỉ được dùng cho mục đích nghiên cứu.

Tên doanh nghiệp: ........................................................................................................

Tên người được phỏng vấn: .........................................................................................

Vị trí công tác: ..............................................................................................................

Xin quý doanh nghiệp trả lời các câu hỏi dưới đây theo cách đánh dấu vào

các phương án trả lời hoặc có ý kiến.

1. Doanh nghiệp thuộc hình thức sở hữu nào?

- Doanh nghiệp Nhà nước

- Doanh nghiệp Liên doanh

- Công ty cổ phần

- Công ty 100% vốn nước ngoài

2. Doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh giày theo phương thức nào dưới đây

- Gia công thuần túy

- Phương thức sản xuất làm hàng FOB

- Phương thức sản xuất cho các thương hiệu nước ngoài

- Phương thức sản xuất sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam

3. Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán ban hành theo quyết định nào?

- Chế độ kế toán ban hành theo QĐ 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006

- Chế độ kế toán ban hành theo QĐ 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006

- Chế độ kế toán khác (Xin nêu cụ thể) ………………………………… 

170

4. Bộ máy kế toán của doanh nghiệp được tổ chức theo mô hình nào?

- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung

- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán

- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán

5. Cơ cấu phân cấp tổ chức, hoạt động; mô hình tổ chức các phòng ban nghiệp vụ

- Rõ ràng, đầy đủ

- Chưa rõ ràng, đầy đủ

- Không rõ ràng, không phân chia thành các phòng ban

6. Cơ chế quản lý tài chính và tổ chức hệ thống kế toán

- Cơ chế quản lý tài chính đầy đủ, hệ thống tài chính kế toán rõ ràng

- Cơ chế quản lý tài chính đầy đủ, hệ thông tài chính kế toán chưa rõ ràng

- Cơ chế q.lý tài chính chưa đầy đủ, hệ thống tài chính kế toán tương đối rõ ràng

- Cơ chế quản lý tài chính chưa đầy đủ, hệ thống tài chính kế toán chưa rõ ràng

7. Tại doanh nghiệp có tổ chức bộ máy kế toán quản trị không?

- Có

- Không

8. Tổ chức bộ máy kế toán quản trị tại doanh nghiệp (nếu có) theo mô hình nào?

- Độc lập với bộ máy kế toán tài chính

- Kết hợp với bộ máy kế toán tài chính

9. Tổ chức kế toán quản trị tại doanh nghiệp (nếu có) được thực hiện như thế nào?

- Kết hợp với kế toán tài chính trên cùng một phần hành kế toán

- Không kết hợp với kế toán tài chính trên cùng một phần hành kế toán

- Cách tổ chức khác (xin nêu cụ thể) ………………………………………………

………………………………………………………………………………………

10. Bộ máy kế toán của doanh nghiệp có bao nhiêu nhân viên kế toán? …………

Số lượng các nhân viên kế toán có trình độ:

- Trình độ thạc sĩ: ……

- Trình độ đại học: ……

171

- Trình độ cao đẳng: …..

- Trình độ trung cấp: ……

- Chưa qua đào tạo chuyên môn: ……

11. Các nhân viên kế toán trong bộ máy được phân công công việc theo:

- Phân công theo các phần hành kế toán

- Phân công theo quy trình kế toán

- Cách phân công khác (xin trình bày cụ thể): ……………………………………

……………………………………………………………………………..............

12. Hệ thống chứng từ kế toán tại DN sử dụng bao gồm các chứng từ nào?

- Chỉ chứng từ bắt buộc

- Chỉ chứng từ hướng dẫn

- Cả hai loại chứng từ trên

13. Mẫu chứng từ kế toán bắt buộc tại DN có đúng mẫu quy định không?

- Đúng quy định

- Không đúng quy định

- Có chứng từ đúng, có chứng từ không đúng

14. Việc ghi chép trên chứng từ kế toán tại doanh nghiệp bằng cách thức nào?

- Ghi chép bằng tay

- Ghi chép bằn máy vi tính

- Kết hợp cả hai cách thức trên

15. Tại doanh nghiệp có sử dụng chứng từ kế toán điện tử không?

- Có sử dụng

- Không sử dụng

16. Chứng từ kế toán điện tử sử dụng tại doanh nghiệp (nếu có) gồm những chứng

từ nào?

……………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………..

17. Thiết lập các quy trình hoạt động và quy trình kiểm soát nội bộ

172

- Được thiết lập, cập nhập và kiểm tra thường xuyên

- Được thiết lập nhưng chưa được thực hiện toàn diện trong thực tế

- Có tồn tại nhưng không được chính thức hóa hay được ban hành thành văn bản

- Chưa được thiết lập các quy trình kiểm soát nội bộ, quy trình hoạt động

18. Tại doanh nghiệp có tiến hành kiểm tra chứng từ kế toán không?

- Có kiểm tra

- Không kiểm tra

19. Các công việc kiểm tra chứng từ kế toán (nếu có) bao gồm những công việc nào?

- Kiểm tra tính hợp pháp của nghiệp vụ phát sinh lập trên chứng từ

- Kiểm tra nội dung kinh tế của nghiệp vụ lập trên chứng từ

- Kiểm tra tính rõ ràng, đầy đủ của các yếu tố cơ bản trên chứng từ

- Kiểm tra tính trung thực, chính xác của số liệu, nội dung trên chứng từ

- Kiểm tra việc định khoản trên chứng từ

- Các công việc kiểm tra khác: …………………………………………………..

…………………………………………………………………………………....

20. Doanh nghiệp có lập kế hoạch, trình tự luân chuyển chứng từ kế toán không?

- Có

- Không

21. Các tài khoản kế toán sử dụng trong DN được thực hiện như thế nào?

- Tuân thủ hoàn toàn theo chế độ kế toán doanh nghiệp đã áp dụng

- Tuân thủ một phần đồng thời có xây dựng một số tài khoản đặc thù

22. Căn cứ pháp lý của các tài khoản kế toán đặc thù (nếu có) tại doanh nghiệp là gì?

……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………

23. Các tài khoản đặc thù (nếu có) mà doanh nghiệp áp dung bao gồm tài khoản nào?

…………………………………………………………………..………………

…………………………………………………………………………………...

173

…………………………………………………………………………………...

24. Doanh nghiệp có xây dựng thêm tài khoản chi tiết ngoài hướng dẫn không?

- Có xây dựng

- Không xây dựng

25. Nguyên tắc xây dựng tài khoản chi tiết ngoài hướng dẫn (nếu có) là gì?

- Theo cấp độ chi tiết được xây dựng sau hướng dẫn của chế độ kế toán

- Đáp ứng được yêu cầu quản trị

- Thuận lợi cho việc mã hóa tài khoản

- Phù hợp với trang thiết bị trong công tác kế toán

- Nguyên tắc khác (xin nêu cụ thể): ………………………………………………

……………………………………………………………………………………..

26. Tại doanh nghiệp hiện đang áp dụng hình thức kế toán nào?

- Hình thức Nhật ký sổ cái

- Hình thức Nhật ký chung

- Hình thức Chứng từ ghi sổ

- Hình thức Nhật ký chứng từ

- Hình thức kế toán máy

27. Trong trường hợp doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán máy thì mẫu sổ

được thiết kế xây dựng theo hình thức nào?

- Hình thức Nhật ký sổ cái

- Hình thức Nhật ký chung

- Hình thức Chứng từ ghi sổ

- Hình thức Nhật ký chứng từ

28. Sổ kế toán chi tiết tại doanh nghiệp có phù hợp với tài khoản chi tiết không?

- Có

- Không

29. Sổ kế toán chi tiết tại DN đã đáp ứng được yêu cầu công tác quản lý chưa?

- Đã đáp ứng

174

- Chưa đáp ứng

30. Sổ kế toán chi tiết cần mở thêm tại doanh nghiệp là những sổ nào?

……………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………..

31. Doanh nghiệp đã lập đầy đủ các báo cáo tài chính theo chế độ kế toán không?

- Đầy đủ

- Chưa đầy đủ

32. Các báo cáo tài chính doanh nghiệp lập đã tuân thủ yêu cầu nào dưới đây?

- Trung thực, hợp lý

- Khách quan, đầy đủ, kịp thời

- Đơn giản, dễ hiểu, rõ ràng

- Có thể so sánh được

- Liên tục

- Đúng biểu mẫu quy định

33. Việc lập báo cáo tài chính tại doanh nghiệp được thực hiện:

- Định kỳ

- Bất thường

- Khi có yêu cầu

34. Tại doanh nghiệp đã tiến hành lập được những báo cáo kế toán quản trị nào? :

………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………

35. DN cần phải tiến hành lập thêm những báo cáo kế toán quản trị nào?:

………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………….

36. Báo cáo kế toán quản trị tại doanh nghiệp cần thể hiện được thông tin gì?

175

- Thông tin về định mức

- Thông tin về kế hoạch

37. Doanh nghiệp có tiến hành kiểm tra báo cáo tài chính không?

- Có kiểm tra

- Không kiểm tra

38. Kiểm tra báo cáo tài chính (nếu có) tại doanh nghiệp được thực hiện như thế nào?

- Hàng tháng

- Hàng quý

- Hàng năm

- Khi có yêu cầu

- Khác

39. Tại doanh nghiệp có tiến hàng phân tích báo cáo tài chính không?

- Có phân tích

- Không phân tích

40. Doanh nghiệp cần phân tích những chỉ tiêu gì trên báo cáo tài chính?

……………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………

41. Phân tích báo cáo tài chính tại doanh nghiệp cần thực hiện khi nào?

- Định kỳ

- Khi có yêu cầu

42. Doanh nghiệp có tiến hành kiểm tra công tác kế toán không?

- Có kiểm tra

- Không kiểm tra

43. Kiểm tra công tác kế toán (nếu có) tại doanh nghiệp được thực hiện khi nào?

- Định kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm

- Khi cần thiết

44. Kiểm tra công tác kế toán tại doanh nghiệp đã đáp ứng được yêu cầu chưa?

176

- Đã đáp ứng

- Chưa đáp ứng

45. Kiểm tra công tác kế toán tại doanh nghiệp cần làm gì để đáp ứng yêu cầu?

- Lập bộ phận kiểm tra

- Xây dựng kế hoạch kiểm tra

- Tiến hành kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kỳ một cách đồng thời

- Tiến hành phân tích kết quả kiểm tra

46. Ạnh (Chị) có tham gia tập huấn về thông tư 200 BTC ngày 22/12/20014?

……………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………..

47. Ý kiến đóng góp cho sự phát triển công tác kế toán trong doanh nghiệp?

…………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………..

Xin chân thành cảm ơn quý doanh nghiệp đã giúp đỡ. Phiếu điều tra xin gửi về

theo địa chỉ: Nguyễn Thị Đào Khoa Kế toán - Kiểm toán trường Đại học Hải Dương

số điện thoại 0166 8019548 hoặc địa chỉ Email: uhddaonguyen.edu@gmail.com

177

PHỤ LỤC

Phụ lục số 01a): Một số thông tin về các Công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2012

Lao động thời điểm 1/1/2012

Lao động thời điểm 31/12/2012

STT

Tên Doanh nghiệp

Địa chỉ

Tên ngành kinh doanh

Loại hình DN

Trị giá vốn HB (triệu đồng)

Tổng số tài sản có 31/12/2012 (triệu đồng)

Tổng DT BH và CC DV (triệu đồng)

Lợi nhuận BH và CCDV (triệu đồng)

Tổng số

T.đó: Nữ

Tổng số

T.đó: Nữ

8

Tổng số tài sản có 1/1/2012 (triệu đồng) 18

3

6

9

11

12

13

14

19

20

21

22

A

1077 Lê Thanh Nghị

10

848

653

798

608

78854

63892

157649

151904

5745

1

Giày Thể Thao XK

Tất Thượng

7

Gia Công Giày

107

103

169

160

1424

4164

4165

2

-1

Tiên Tảo 9

3

50

47

522

412

329

83

9

40

32

4

2

1

10658

8596

103

98

5

Km 44 +100, Quốc Lộ 5, Khu 16

844

5

Khu 19 Lai Cách

10

398

813

384

192362

223812

330922

301508

29014

4

Bình Xuyên

9

6

10

4

32849

33273

7154

3428

3726

50

41

Tiên Tảo - Thanh An

8

7

50

41

1428

3856

1072

791

281

Gia Công Mũ Giày Gia Công Giày Dép Xk SX Giày Thể Thao Gia Công Hàng 10 Giày, Dép Da Gia Công Mũ Giày

10

SX Giày Da

65

64

8

74

73

1018

809

2842

2840

2

9

Đội 3 Thiên Đông

7

SX Giày Dép

11

7

10

6

959

819

263.2

147.2

116

10

Kim Xuyên

9

298 Sx Giày Dép

350

290

253

15240

15424

15803

14493

1310

11

596

An Bình 9

145

150

145

1041

778

6445

5849

150

Gia Công Mũ Giày

12

Đội 1 10 Gia Công Giày Da

42

55

55

42

1046

Công Ty CP Giày Hải Dương Doanh Nghiệp Tn May Mặc Và Vt Hoa Việt Công Ty TNHH Mtv Bằng Nam Công Ty TNHH Cựu Chiến Binh Thành Đông Công Ty CP Giày Cẩm Bình Công Ty TNHH Huy Phong HTX Tiểu Thủ CN Thanh Niên Thanh An Hà Liễu Thanh Doanh Nghiệp Tư nhân May Phú Triệu Quang Công Ty CP SX TM Thảo Nguyên Công Ty TNHH Long Sơn Công Ty CP TM Và Dịch Vụ Khâm Khá Công Ty TNHH Mtv - SX TM Đức Vạn Lộc

Lao động thời điểm 1/1/2012

Lao động thời điểm 31/12/2012

STT

Tên Doanh nghiệp

Địa chỉ

Tên ngành kinh doanh

Loại hình DN

Trị giá vốn HB (triệu đồng)

Tổng số tài sản có 31/12/2012 (triệu đồng)

Tổng DT BH và CCDV (triệu đồng)

Lợi nhuận BH và CCDV (triệu đồng)

Tổng số

T.đó: Nữ

Tổng số

T.đó: Nữ

A

Tổng số tài sản có 1/1/2012 (triệu đồng) 18

12

13

14

19

20

21

22

3

6

11

13 Công Ty Giày Bình Dương

181

181

167

20647

30286

45035

40977

4058

8 9 Cổ Phục

359

9 Gia Công Sx Giày Dép Xk

10

14

Quốc Lộ 5 - Km 53

2 SX Form Giày Pvc

7

1542

1262

470

449

5

2

21

Công Ty CP Đầu Tư Và TM Vĩnh Phong

9

15 Công Ty TNHH Việt Phát

Km 52 Quốc Lộ 5

SX Giày Da XK

162

117

150

108

42373

38916

70697

61063

9436

10

16

Ngõ 51, Quán Thánh

SX Giày

250

170

4905

3658

3267

3566

6

1

-299

9

17

Phúc Lâm

Gia Công Giày Da

2

1

200

2

1

200

9

18

232 - Trần Hưng Đạo

SX Giày Dép

15

9

15

456

484

373

9

394

111

9

19

6/80 Quang Trung

Gia Công Mũ Giày

41

26

7

1749

1617

450

429

5

21

11

20

196 Sx ủng Cao Su

263

324

135

93839

101460

54598

43762

10836

11 Gia Công Giày

21

2982

4451

3785

61638

68143

122942

179370

-56428

Công Ty CP Vật Tư Và Giày Dép XK Hải Hưng Công Ty TNHH Mtv SX Và TM Thiên Phúc Công Ty TNHH Mtv TM Thuận Thành Công Ty TNHH Mtv Phúc An Phú Công Ty TNHH Vina Okamoto Công Ty TNHH Giày Continuance Việt Nam

11

22 Công Ty CP Golden Sun

2448

2171

2156

68066

65485

63464

55459

8005

2459

11

23

1637

1615

1398

1242

298161

335724

402029

225793

176147

3597 Dép Các Loại Sx, Gia Công Giày XK Sx Giày Dép Và Phụ Kiện Kèm Theo

11

24

Giày Da XK

1749

1310

1720

1300

44767

46075

105273

89442

15831

9

25

Gia Công Mũ Giày

2426

2300

2301

2254

5937

6458

69471

68651

820

9

26

37 Gia Công Giấy

50

50

37

806

578

1768

1420

348

CTy TNHH Công Nghiệp Oriental Sports VN Công Ty TNHH Samil Hà Nội Vina Chi Nhánh Công Ty TNHH Sao Vàng Công Ty TNHH Một Thành Viên V T S

Lô 14,15 Kcn Nam Sách Km 43 Quốc Lộ 5a Lai Cách Cẩm Giàng Km1+100 Đường 188 Hiệp An Kinh Môn Thôn Miếu Lãng - Đồng Lạc Km 52 Quốc Lộ 5 Bình Hàn Khu 3 Trần Hưng Đạo Số 20 Trần Bình Trọng

15547 13181 15252

2966

979433

1054569

1467580.2

1256868.2

210025

178

Cộng

Cục thống kê tỉnh Hải Dương năm 2013

179

Tên Doanh nghiệp

STT

Lao động thời điểm 1/1/2013

Lao động thời điểm 31/12/2013

Địa chỉ

Số điện thoại

Tên ngành kinh doanh

Tổng số TS có 1/1/2013 (triệu đồng)

Loại hình DN

Tổng số TS có 31/12/2013 (triệu đồng)

Tổng DTBH và CCDV (triệu đồng)

Trị giá vốn HB (triệu đồng)

Lợi nhuận BH và CCDV (triệu đồng)

Tổng số

T.đó: Nữ

Tổng số

T.đó: Nữ

2

5

6

7

8

10

11

12

13

17

18

19

20

21

A

Tiên Tảo

8

33

35

33

517

511

1278

1028

250

1

3203511757

690

9

400

700

392

227805

212476

336916 324104

12812

2

795

9

607

650

494

63211

79286

109983 104283

5700

3

3860678

Gia Công Mũi 35 Giày SX Giày Thể 3203785416 Khu 19 Lai Cách Thao Giày Thể Thao Xuất Khẩu

1077 Lê Thanh Nghị

Tất Thượng

Gia Công Giày

240

229

6

240

219

1541

1947

12440

11558

4

3749574

882

Ngọc Lâm

5

320

282

1121

2337

16469

15553

253

225

5

916

Cổ Phục

8

309

289

14364

17794

22286

19651

2635

209

175

6

3203721635

Gia Công Giày Gia Công Giày Xuất Khẩu

3203724632 Đội 3 Thiên Đông

7 SX Giày Dép

10

9

10

7

823

869

177

124

7

53

Hoàng Sơn

Gia Công Giày

8

32

28

978

612

569

8

978391819

43

8

1696 1455 1589 1359

5632

5612

75249

74636

9

3764898

613

Khu 3 Trần Hưng Đạo

Gia Công Mũi Giày

110 Quán Thánh

8 May Giày Dép

3833068

40

73

73

40

1089

3873

3458

10

415

An Bình

6

146

150

146

5402

5005

6622

5918

11

3203729998

704

Gia Công Mũ 150 Giày

3202215068 Kim Xuyên

Sx Giày Dép

297

254

8

297

254

20829

18213

27741

26810

12

931

26 Tuệ Tĩnh

3589688

8

48

42

1048

1188

1151

13

37

Gia Công Mũi Giày

Công Ty TNHH Mtv Bằng Nam Công Ty CP Giày Cẩm Bình Công Ty CP Giày Hải Dương DN Tn May Mặc Và Vt Hoa Việt 3741003 Hợp Tác Xã Lâm Ngọc Công Ty Giày Bình Dương Công Ty CP SX TM Thảo Nguyên Công Ty TNHH Mtv May Dũng Anh Chi Nhánh Công Ty TNHH Sao Vàng Công Ty TNHH Thương Mại Ntt Công Ty CP TM Và Dịch Vụ Khâm Khá Công Ty TNHH Long Sơn Công Ty TNHH Mtv May Minh Phúc

Phụ lục số 01b): Một số thông tin về các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2013

Lao động thời điểm 1/1/2013

Lao động thời điểm 31/12/2013

STT

Tên Doanh nghiệp

Địa chỉ

Số điện thoại

Tên ngành kinh doanh

Loại hình DN

Trị giá vốn HB (triệu đồng)

A

2

5

6

7

8

Tổng số 10

T.đó: Nữ 11

Tổng số 12

T.đó: Nữ 13

Tổng số TS có 1/1/2013 (triệu đồng) 17

Tổng số TS có 31/12/2013 (triệu đồng) 18

Tổng DTBH và CCDV (triệu đồng) 19

20

Lợi nhuận BH và CCDV (triệu đồng) 21

14 Công Ty CP Golden

3203828945

11 Sx, Gia Công

2402

2362

1987

1928

68880

68175

90888

80481

10407

Sun

Giày Xuất Khẩu

15 Công Ty TNHH Vina

3203574680

11 Ủng Cao Su

298

219

264

201

93233

94413

85775

65717

20058

Okamoto

16 Công Ty TNHH Giày

3203570456

11 Gia Công Giày

3164

2690

3666

3116

48479

101970

195480

133665

61815

Continuance VN

Dép Các Loại

17 Công Ty TNHH Giày

3203576068

11 Gia Công Giày

2373

2017

2538

2158

81212

120845

150467

115101

35366

Panta Việt Nam

Dép Các Loại

18 Công Ty TNHH CN

3203751267

11 Sx Giày Dép Và

1421

1200

1666

1300

325061

476343

627640

446745

178715

Oriental Sports VN

Km1+100 Đường 188 Hiệp An Kinh Môn Lô 14,15 Kcn Nam Sách Km 43 Quốc Lộ 5a Lai Cách Thôn Ngõ - Bình Xuyên Thôn Miếu Lãng - Đồng Lạc

Phụ Kiện Kèm Theo

19 Công Ty TNHH Samil

3832364

11 Giày Da Xuất

1800

1898

1780

40859

30020

184664

182309

2355

Hà Nội Vina

Km 52 Quốc Lộ 5 Bình Hàn

2103 Khẩu

180

Cộng

16209 13859 16472 14068

998969

1238931

1949748 1612861

334707

Cục thống kê tỉnh Hải Dương năm 2014

181

Tài sản 1/1/2014 (triệu đồng)

Tài sản 31/12/2014 (triệu đồng)

Nguồn vốn 01/1/2014 (triệu đồng)

Nguồn vốn 31/12/2014 (triệu đồng)

Chia ra

Chia ra

Chia ra

Chia ra

Tên DN

Địa chỉ

Loại hình DN

Tổng số LĐ (người)

Trong đó:LĐ nữ (người)

Trị giá vốn hàng bán (triệu đồng)

Tổng tài sản

Tổng tài sản

Tổng nguồn vốn

Tổng nguồn vốn

TS dài hạn

Tổng DT thuần BH và CCDV (triệu đồng)

TS ngắn hạn

TS dài hạn

TS ngắn hạn

Nợ phải trả

Nợ phải trả

Nguồn vốn chủ sở hữu

Nguồn vốn chủ sở hữu

393

1068

777

291

978

12

966

1068

77

991

612

569

585

978

39

8

40

Hoàng Sơn

1048

1048

8

48

42

337

337

1048

38

1010

337

59

278

1374

1914

26 Tuệ Tĩnh

200

1946

1129

229

6

817

3846

3092

754

1946

1010

936

3846

2789

1057

10366

9248

Tất Thượng

320

350

5

2337

2225

112

4468

4297

171

2337

1965

372

4468

3954

514

18821

17512

1613

8

1516

5611

1507

4104

5199

1157

4042

5611

5836

-225

5199

5338

-139

55921

55516

Ngọc Lâm Khu 3 Trần Hưng Đạo

Tiên Tảo

511

511

32

35

8

472

472

511

36

475

472

42

430

1712

1421

Hà Liễu

344

344

6

1996

1504

492

344

2

342

1996

975

1021

2585

2503

184

8

4085 Cổ Phục

17794

13709

172

41502

11055

30447

17794

9301

8493

41502

24834

16668

10444

8155

Công Ty TNHH MTV May Dũng Anh Công Ty TNHH Mtv May Minh Phúc DN Tn May Mặc Và Vt Hoa Việt Hợp Tác Xã Lâm Ngọc Chi Nhánh Công Ty TNHH Sao Vàng Công Ty TNHH Mtv Bằng Nam DN Tư Nhân May Phú Triệu Công Ty Giày Bình Dương

Phụ lục số 1c): Một số thông tin về doanh nghiệp sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2014

Tài sản 1/1/2014 (triệu đồng)

Tài sản 31/12/2014 (triệu đồng)

Nguồn vốn 01/1/2014 (triệu đồng)

Nguồn vốn 31/12/2014 (triệu đồng)

Chia ra

Chia ra

Chia ra

Chia ra

Địa chỉ

Tên DN

Loại hình DN

Tổng số LĐ (người)

Trong đó:LĐ nữ (người)

Tổng tài sản

Tổng tài sản

Tổng nguồn vốn

Tổng nguồn vốn

Trị giá vốn hàng bán (triệu đồng)

TS dài hạn

TS ngắn hạn

TS dài hạn

TS ngắn hạn

Nợ phải trả

Nợ phải trả

Nguồn vốn chủ sở hữu

Nguồn vốn chủ sở hữu

Tổng doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ (triệu đồng)

9868

24626

4944

19682

18213

5757

12456

24626

5989

18637

27472

25996

417

8

355

8345

18213

Công Ty TNHH Long Sơn

7937 85776

52909

26154

26755

93713

24012

69701

52909

9873

43036

3269

3600

13

93713

7

3

Công Ty TNHH SX Thương Mại Tân Cương

1650 476343 391783 84560 784920 600619 184301 476343 150521 325822 784920 210605 574315 1361537 1056382

1693

11

Công Ty TNHH Công Nghiệp Oriental Sports Việt Nam

Kim Xuyên Lô Xn 1-1 Kcn Lai Cách Thôn Miếu Lãng - Đồng Lạc

171687 105445

66242

171687

80867

90820

12852

30350

11

Hiệp An

870

822

48

820

131

689

870

152

718

158

96

820

47

10

9

5

815

556

259

1089

492

597

815

522

293

4623

3869

1089

811

278

44

69

8

Công Ty TNHH Thương Mại Ntt

Công Ty TNHH Vietory Đội 3 Công Ty 773 Thiên CPSXTM Thảo Nguyên Đông 110 Quán Thánh

9

5066 An Bình

5005

143

-61

22

5427

514

4913

5005

80

4925

5427

649

4778

4039

3779

Công Ty CP Thương Mại Và Dịch Vụ Khâm Khá

182

Tài sản 1/1/2014 (triệu đồng)

Tài sản 31/12/2014 (triệu đồng)

Nguồn vốn 01/1/2014 (triệu đồng)

Nguồn vốn 31/12/2014 (triệu đồng)

Chia ra

Chia ra

Chia ra

Chia ra

Tên DN

Địa chỉ

Loại hình DN

Tổng số LĐ (người)

Trong đó: LĐ nữ (người)

Tổng tài sản

Tổng tài sản

Tổng nguồn vốn

Tổng nguồn vốn

Trị giá vốn hàng bán (triệu đồng)

TS dài hạn

TS ngắn hạn

TS dài hạn

Nợ phải trả

TS ngắn hạn

Nguồn vốn chủ sở hữu

Nợ phải trả

Nguồn vốn chủ sở hữu

Tổng doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ (triệu đồng)

9

492

660

80997

60200

20797

88235

63979

24256

80997

68545

12452

88235 75855

12380

105331

96125

11

201

94413

27854

66559

75465

22572

52893

94413

92255

2158

75465 57231

18234

35146

13798

Công Ty CP Giày Hải Dương Công Ty TNHH Vina Okamoto

11

1928

1987

68175

19222

48953

77439

77439

68175

7806

60369

77439

2210

75229

38248

28516

Công Ty CP Golden Sun

3666

3116

11

115385 104053

11332

192543

177493

15050

115385

31135

84250 192543 34614

157929

395686 292401

2538

2158

11

133905 111128

22777

147017

78494

68523

133905

51082

82823 147017 58077

88940

112487

77929

30019

1898

1780

11

25690

4329

30437

24914

5523

30019

28688

1331

30437 74277

-43840

170847 194262

1077 Lê Thanh Nghị Lô 14,15 264 Kcn Nam Sách Km1+100 Đường 188 Hiệp An Kinh Môn Km 43 Công Ty Quốc Lộ TNHH Giày 5a Lai Continuance Cách Việt Nam Thôn Công Ty Ngõ - TNHH Giày Bình Panta Việt Xuyên Nam Km 52 Công Ty Quốc Lộ TNHH 5 Bình Samil Hà Hàn Nội Vina

183

15851

14075

1148646

778793

369853

1711278

1206636

504642

1148646

478704

669942 1711278 648989 1062289

2373530

1923941

Cộng

Cục thống kê tỉnh Hải Dương năm 2015

184

Lao động thời điểm 1/1/2015

Lao động thời điểm 31/12/2015

STT

Tên Doanh nghiệp

Địa chỉ

Số điện thoại

Tên ngành kinh doanh

Loại hình doanh nghiệp

Tổng số tài sản có 1/1/2015 (triệu đồng)

Tổng số TS có 31/12/2015 (triệu đồng)

Trị giá vốn hàng bán (triệu đồng)

LNBH và CCDV (triệu đồng)

Tổng số

T.đó: Nữ

Tổng số

T.đó: Nữ

A

1

3

4

5

6

7

8

9

10

11

Tổng DTBH và CCDV (triệu đồng) 12

13

14

1

3203570456

11

4007

3250

4345

3695

192543

265805

487270

401680

85590

Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Giày Continuance Việt Nam

2 Km 43 Quốc Lộ 5a Lai Cách

2

3203751267

11

2011

1916

1897

1808

784920

904682

1315598

1021510

294088

Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Công Nghiệp Oriental Sports Việt Nam

Thôn Miếu Lãng - Đồng Lạc

3

3203576068

11

3857

3306

3295

2854

147017

189448

391425

332992

58433

Thôn Ngõ - Bình Xuyên

Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Giày Panta Việt Nam

4

3832364

11

2011

1658

2010

1875

30437

33937

208988

220682

-11694

Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Samil Hà Nội Vina

Gia Công Giày Dép Xuất Khẩu Giày Dép Và Dịch Vụ Sản Xuất Giày Dép Sản Xuất, Gia Công Giày Dép Xuất Khẩu Sản Xuất Giày Thể Thao Xuất Khẩu

5

3203574680

11

261

200

254

198

75465

73664

79860

62547

17313

Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Vina Okamoto

Sản Xuất ủng Cao Su

Km 52 Quốc Lộ 5 Bình Hàn Lô 14,15 Kcn Nam Sách

6

Hiệp An

3828945

11

996

922

4021

3770

171687

224620

251803

223017

28786

Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Vietory

7

3203789188

11

0

0

423

317

0

303033

2642

5372

-2730

Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Giày Ngọc Hưng

8

3555268

13

156

150

393

162

93713

106436

50489

38451

12038

9

3833068

8

35

22

16

10

778

660

471

400

71

Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Sản Xuất Thương Mại Tân Cương Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Thương Mai Ntt

Cụm Cn Lương Điền - Cẩm Giàng Lô Xn 1-1 Kcn Lai Cách 110 Quán Thánh

Sản Xuất, Gia Công Giày Dép Gia Công Giày Dép Xuất Khẩu Gia Công Đế Giày Thể Thao Sản Xuất Giày Dép

Phụ lục số 01c): Một số thông tin về các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2015

Lao động thời điểm

STT

Tên Doanh nghiệp

Địa chỉ

Lao động thời điểm 1/1/2015

Tên ngành kinh doanh

Số điện thoại

Tổng DTBH và CCDV (triệu đồng)

Trị giá vốn hàng bán (triệu đồng)

LNBH và CCDV (triệu đồng)

31/12/2015 Tổng số T.đó: Nữ Tổng số T.đó: Nữ

2

A

1

5

6

7

8

9

12

13

14

3

Loại hình doanh nghiệp 4

Tổng số tài sản có 1/1/2015 (triệu đồng) 10

Tổng số TS có 31/12/2015 (triệu đồng) 11

10 Hợp Tác Xã Yuntai

3203741003

5 Gia Công Giày

150

120

104

83

1751

1470

9160

8378

782

11 Cty TNHH Phương Anh

3203842064

6

16

7

23

7

8958

4259

4235

2680

1555

Gia Công May Giày Thương Tật

Tân Kỳ - Tư Kỳ Km52 Quoc Lo 5a Phường Bình Hàn

An Bình

3203729998

6 May Mũ Giày

5427

4871

1398

1681

-283

12

12

116

12

12

3589688

8

337

407

2687

2326

361

48

45

53

40

13

26 Tuệ Tĩnh

Minh Đức

3744125

8

0

240

3686

3438

248

100

105

105

100

14

Kim Xuyên 3202215068

8

324

451

24626

31134

61525

55972

5553

442

337

15

May Gia Công Mũ Giày Gia Công Giày Thể Thao Sản Xuất Giày Dép Xuất Khẩu

Công Ty Cổ Phần Thương Mại Và Dịch Vụ Khâm Khá Cty TNHH Mtv May Minh Phúc Cty TNHH Mtv Huy Tuyết Mai Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Long Sơn

3860678

9

Sản Xuất Giày

456

630

88235

85165

149033

141057

7976

647

422

16

Công Ty Cổ Phần Giày Hải Dương

1077 Lê Thanh Nghị

230

140

17 Hợp Tác Xã Lâm Ngọc Ngọc Lâm

3741003

5 Gia Công Giày

218

160

4468

2787

17168

15843

1325

280

132

Tất Thượng

3749574

6 Gia Công Giày

210

147

3846

2617

13454

12599

855

18

Doanh Nghiệp Tn May Mặc Và Vt Hoa Việt

19

Cổ Phục

3203721635

8

186

174

179

167

41502

40652

24146

19587

4559

Công Ty Giày Bình Dương

Gia Công Giày Thể Thao Xuất Khẩu

185

15559

13093

18510

16129

1675710

2275887

3075038

2570212

504826

Cộng

9: Công ty Cổ phần 11: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Cục thống kê tỉnh Hải Dương năm 2016

Chú thích: Ký hiệu về loại hình doanh nghiệp 5: Hợp tác xã 6: Doanh nghiệp tư nhân 8: Công ty TNHH

186

Phụ lục số 02: Xuất khẩu hàng giày dép sang một số thị trường chính năm 2011 và năm 2012

Bảng 02: Xuất khẩu hàng giày dép sang một số thị trường chính năm 2011 và năm 2012

Năm 2011 Năm 2012

Thị trường Kim ngạch Tốc độ tăng so với Kim ngạch Tốc độ tăng so với

(Triệu USD) năm trước (%) (Triệu USD) năm trước (%)

15,7 2.609 2.650 1,6 EU

35,5 1.908 2.243 17,6 Hoa Kỳ

44,7 249 328 31,9 Nhật Bản

63,0 253 301 19,1 Trung Quốc

43,8 182 249 37,3 Braxin

Nguồn: Tổng cục Hải quan

187

Phụ lục số 03: Mẫu Sổ chi tiết chi phí sản xuất chung

Bảng số 03:

SỔ CHI TIẾT CHI PHÍ SẢN XUẤT CHUNG

Bộ phận:

Tháng …năm…

Chứng từ Chi tiết theo yếu tố chi phí

Dịch vụ mua ngoài Cộng Các chi phí bằng tiền khác Diễn giải Ngày ghi sổ SH NT Nhân công Vật liệu Công cụ Khấu hao … Thuế … Chi phí điện Chi phí nước Chi phí ĐT – Fax Chi phí sửa chữa Chi phí tiếp khách

Cộng CFSC phân bổ cho S.phẩmA S. phẩm B …... .

188

Phụ lục số 04: Mẫu Sổ chi tiết sản xuất toàn doanh nghiệp

Bảng số 04:

SỔ CHI TIẾT SẢN XUẤT TOÀN DOANH NGHIỆP

Tháng… năm…

Chi tiết theo yếu tố chi phí Chi phí Dịch vụ mua ngoài CF = tiền Cộng

NVL trực tiếp Nhân công Vật liệu Công cụ Khấu hao …. … Nhân công trực tiếp Chi phí sửa chữa Thuế Đối tượng chịu chi phí Chi phí điện Chi phí nước Chi phí tiếp khách Chi phí ĐT – Fax

- Phân xưởng 1 + Sản phẩm A + Sản phẩm B ….............. - Phân xưởng 2 + Sản phẩm C + Sản phẩm D

…...... Tổng cộng

189

Phụ lục số 05: Mẫu Sổ chi tiết chi phí bán hàng (Chi phí quản lý doanh nghiệp)

Bảng số 05:

SỔ CHI TIẾT CHI PHÍ BÁN HÀNG

(Hoặc SỔ CHI TIẾT CHI PHÍ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP)

Tháng… năm…

Chứng từ Chi tiết theo yếu tố chi phí

Dịch vụ mua ngoài CF = tiền Cộng

Diễn giải Ngày ghi sổ SH NT Nhân công Vật liệu Công cụ Khấu hao … Thuế …. Chi phí điện Chi phí nước Chi phí ĐT – Fax Chi phí sửa chữa Chi phí tiếp khách

Cộng CF bán hàng (hoặc chi phí QLDN) phân bổ cho S.phẩm A S.phẩm B

190

Phụ lục số 06: Mẫu Sổ chi tiết doanh thu bán hàng hóa nội địa

Bảng số 06

SỔ CHI TIẾT DOANH THU BÁN HÀNG NỘI ĐỊA

Loại sản phẩm (hàng hóa, dịch vụ) Nhóm sản phẩm (hàng hóa, dịch vụ) Tên sản phẩm (dịch vụ, mặt hàng)

Tháng… năm…

Chứng từ Doanh thu Các khoản giảm doanh thu

Diễn giải Hàng bán bị Ngày ghi sổ SH NT SL Đơn giá Thành tiền Giảm giá hàng bán trả lại Thuế tiêu thụ đặc biệt XK

Cộng phát sinh sản phẩm (dịch vụ mặt hàng)…...........

Doanh thu thuần của sản phẩm (dịch vụ mặt hàng)

191

Phụ lục số 07: Mẫu Sổ chi tiết doanh thu bán hàng hóa nhập khẩu

Bảng số 07

SỔ CHI TIẾT DOANH THU BÁN HÀNG (XUẤT KHẨU)

Loại sản phẩm (hàng hóa)…....

Nhóm sản phẩm (hàng hóa)…....

Tên sản phẩm (hàng hóa):….......

Tháng… năm…

Chứng từ Doanh thu Các khoản giảm doanh thu

Thành tiền Diễn giải Giảm giá hàng bán Hàng bán bị trả lại Thuế xuất khẩu Ngày ghi sổ SL Đơn vị tiền (ngoại tệ) SH NT Tỷ lệ quy đổi ngoại tệ Đơn giá VNĐ VNĐ VNĐ VNĐ VNĐ Đơn giá (ngoại tệ) Ngoại tệ Ngoại tệ Ngoại tệ Ngoại tệ

Cộng phát sinh sản hóa) (hàng phẩm Doanh thu thuần của sản phẩm (hàng hóa)

Phụ lục số 08: Mẫu Sổ chi tiết doanh thu kết quả

Bảng số 08

SỔ CHI TIẾT DOANH THU KẾT QUẢ

Tên sản phẩm (dịch vụ, mặt hàng) Tháng…... năm…...

Chứng từ

Ngày ghi sổ Diễn giải Doanh thu CF bán hàng Kết quả SH NT Các khoản giảm doanh thu CF quản lý DN CFSP của hàng đã bán

Cộng

Phụ lục số 09: Mẫu báo cáo giá thành sản phẩm

Bảng số 09

BÁO CÁO GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

Tháng…... năm….

Phân xưởng X

Giá thành thực tế Giá thành KH Đối tượng Chênh lệch giá thành đơn vị Giá đơn vị Giá thành Đơn vị Số lượng

- Bộ phận (PX…) + Sản phẩm A + Sản phẩm B - Bộ phận (PX…) + Sản phẩm C + Sản phẩm D ….............

Cộng

Phụ lục số 10: Mẫu báo cáo số lượng sản phẩm sản xuất hàng tháng

Bảng số 10

BÁO CÁO SỐ LƯỢNG SẢN PHẨM SẢN XUẤT HÀNG THÁNG

Tháng…... năm….

Phân xưởng X

Loại SP Ngày 1 2 3 4 5 6 …... Tổng

A

B

….

Tổng

Phụ lục số 11: Mẫu báo cáo sản xuất

Bảng số 11:

BÁO CÁO SẢN XUẤT

Phân xưởng X

CF NVL trực tiếp CF NC trực tiếp CF sản xuất chung

I. Số lượng sản xuất 1. Số sản phẩm dở dang đầu kỳ 2. Tỷ lệ thực hiện kỳ này của SPDD 3. Số bắt đầu sản xuất và hoàn thành trong kỳ 4. Số sản phẩm dở cuối kỳ 5.Tỷ lệ hoàn thành của sản phẩm dở cuối kỳ 6. Số lượng sản phẩm tương đương

II. Chi phí sản xuất 1. Chi phí sản xuất PS trong kỳ 2. Chi phí sản xuất bình quân

Phụ lục số 12: Mẫu báo cáo chi phí sản xuất chung

Bảng số 12

Báo cáo chi phí sản xuất chung

Tháng….. năm….

Thực hiện

Dự toán Chênh lệch

Chỉ tiêu 1. Số giờ máy hoạt động 2. Biến phí - Chi phí vật liệu - Chi phí nhân công quản lý sản xuất - Chi phí dịch vụ mua ngoài …......................... 3. Định phí - Chi phí khấu hao TSCĐ - Chi phí thuê TSCĐ - Các chi phí khác ….............

Phụ lục số 13: Mẫu Báo cáo kết quả

Bảng số 13: Báo cáo kết quả Tháng….. năm…... Khối lượng

Thực hiện Dự toán Chênh lệch Chỉ tiêu

Tổng số Đơn vị Tổng số Đơn vị Tổng số Đơn vị

1. DT bán hàng 2. Biến phí - Chi phí NVL trực tiếp - Chi phí NC trực tiếp - Chi phí SXC - Chi phí bán hàng - Chi phí quản lý DN 3. Lãi trên biến phí 4. Định phí - Định phí sản xuất - Định phí quản lý DN 5. LN trước thuế

Phụ lục số 14: Mẫu báo cáo kết quả theo khu vực và bộ phận

Bảng số 14: Báo cáo kết quả theo khu vực và bộ phận

Tháng….. năm…...

Khu vực Bộ phận trong khu vực A Bộ phận trong khu vực B Chỉ tiêu Toàn DN 1 l 3

2 … 2 … 4 …

1. Doanh thu 2. Biến phí 3. Lãi trên biến phí 4. Định phí - Định phí sản xuất - Định phí bán hàng - Định phí QLDN 5. LN trước thuế

Phụ lục số 15: Mẫu Báo cáo quản trị CPSX theo địa điểm SXKD

Bảng số 15: Báo cáo quản trị chi phí sản xuất theo địa điểm SXKD

Tháng.... năm....

Đơn vị tính:

Chi phí sản xuất Toàn doanh nghiệp Chi phí sản xuất theo địa điểm PX2 PX1 ......

1. Chi phí trực tiếp - Biến phí sản xuất + Nguyên vật liệu + Nhân công ..... - Định phí sản xuất + Khấu hao TSCĐ + Lương thời gian ..... 2. Chi phí sản xuất chung - Biến phí + công cụ, dụng cụ + Nhân công ..... - Định phí + Khấu hao TSCĐ .....

3. Cộng chi phí

Phụ lục số 16: Mẫu báo cáo quản trị chi phí sản xuất chung

Bảng số 16: Báo cáo quản trị chi phí sản xuất chung Tháng.... năm.... Đơn vị tính:

Dự toán Thực hiện Chênh lệch Nội dung

1. Biến phí sản xuất chung - Chi phí vật liệu - Chi phí nhân công - Chi phí CCDC - Chi phí dịch vụ mua ngoài -..................... 2. Định phí sản xuất chung - Chi phí khấu hao TSCĐ - Chi phí điện thoại - Chi phí khác 3. Phân bổ cho các địa điểm - Đơn vị....... - Đơn vị............

Cộng

Phụ lục số 17: Mẫu báo cáo quản trị giá thành sản xuất sản phẩm

Bảng số 17: Báo cáo quản trị giá thành sản xuất sản phẩm

Tháng..........năm....

Giá thành đơn vị Tổng giá thành

Đối tượng KH TT KH TT Chênh lệch Chênh lệch

PX 1 - Biến phí + Nguyên vật liệu + Nhân công - Định phí + Khấu hao TSCĐ +... PX2 - Biến phí + Nguyên vật liệu + Nhân công - Định phí + Khấu hao TSCĐ +...

Cộng

Phụ lục số 18: Danh sách các công ty sản xuất giày trên địa bàn tỉnh Hải Dương tham gia khảo sát:

Vũ Mạnh Khuề

1

Tiên Tảo

Kế toán viên

Cty TNHH MTV Bằng Nam

0989548413

2

Km 52 quốc lộ 5, phường Bình Hàn

Đỗ Hồng Sơn

Kế toán viên

3

Phạm Thị Thu 0978811833 Kế toán viên

Cty TNHH Việt Phát DNTN may mặc và VT Hoa Việt Tất Thượng

Lê Thị Thuyết

4

Lô 1 khu công nghiệp Lai Cách

Kế toán viên

Cty TNHH SX TM Tân Cương

03203555268

Trưởng phòng nhân

5

Thôn Ngô- Bình Xuyên

Phạm Văn Huy

Cty TNHH giày Panta VN

sự

Trần Thị Nguyệt (0983784622)

Kế toán trưởng

6

Km 52, quốc lộ 5, phường Bình Hàn

Cty TNHH Samil Hà Nội Vina

Tống Kiều Nga (0916843221)

Kế toán viên

7

Khu 3 Trần Hưng Đạo

Phạm Văn Mạnh

Kế toán viên

8

Xã Bình Xuyên, Kim Thành

Nguyễn Thị Thoan

Kế toán trưởng

Cty TNHH giày da Sao Vàng Ninh Giang Cty TNHH Thành Long

Phạm Thị Luyến

9

Kế toán viên

Cty cổ phần SXTM Thảo Nguyên Đội 3 Thiên Đông

0968 8566183

Nguyễn Mai Thu Huyền

10

Lô 14, 15 khu công nghiệp Nam Sách

03203574680

Kế toán trưởng

Cty TNHH Vina Okamoto

0912512568

Nguyễn Văn Lưu

11

Số 1077 Lê Thanh Nghị

Kế toán trưởng

Cty cổ phần giày Hải Dương

0943759819

STT Tên công ty Địa chỉ Tên người phỏng vấn Vị trí công tác

Nguyễn Thị Hương

Cổ Phục, Kim Thành

Kế toán trưởng

12

Cty giày Bình Dương

03203721635

Km1+100 đường 188 Hiệp An, Kinh

Đinh Thị Huế

Kế toán viên

13

Cty cổ phần Golden Sun

Môn

0973018385

Trưởng phòng sản

Hoàng Tân, Chí Linh

Trần Nam Trung

14

Cty cổ phần giày Thăng Long

xuất

Thị trấn Lai Cách – Cẩm Giàng

Nguyễn Thị Hoa

Kế toán viên

15

Cty cổ phần giày Cẩm Bình

Nguyễn Thị Khanh

26 Tuệ Tĩnh

Kế toán viên

16

C.ty TNHH MTV Minh Phúc

0987317696

Miếu lãng- Đồng Lạc

Kế toán trưởng

17

Cty TNHH CN Oriental Sport Việt Nam

Đặng Thị Phương

Lê Thị Đản

Kim Xuyên, Bình Giang

Kế toán trưởng

18

Cty TNHH Long Sơn

0982810996

Km 43, quốc lộ 5A, Lai Cách

Trịnh Thị Yên

Kế toán trưởng

19

Cty TNHH Vietory

Kế toán tổng hợp

Nguyễn Thị Hạnh

20

Cty TNHH MTV may Dũng Anh Hoàng Sơn

STT Tên công ty Địa chỉ Tên người phỏng vấn Vị trí công tác

199

Phụ lục số 19: Qui định liên quan đến các thủ tục kế toán (trích)

5.6. Quy định về Thông quan hàng mua trong nước

- Ngày 4 tháng 4 năm 2007, Bộ Thương Mại (BTM) đã ra Thông tư số

04/2007/TT-BTM về Hướng dẫn hoạt động xuất nhập khẩu, gia công, thanh lý hàng

nhập khẩu và tiêu thụ sản phẩm của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).

Theo đó, quan hệ mua bán hàng hóa giữa Doanh nghiệp chế xuất và thị trường nội

địa là quan hệ xuất nhập khẩu, và thủ tục thông quan được thực hiện tại cơ quan hải

quan. Đối với SDVN là tại Chi cục Hải quan Tỉnh Hải Dương.

- Về nguyên tắc 100% hàng hóa mua trong nước bắt buộc phải thông quan

(trừ những loại hàng hóa không cần thông quan như từ trước tới nay như: văn

phòng phẩm; ăn uống, y tế; bàn ghế làm việc; xe đưa đón nhân viên… các hàng hóa

phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của Công ty; và các loại dịch vụ). Như vậy, với

bất cứ việc mua hàng với số tiền là bao nhiêu cũng phải bắt buộc thông quan, trừ

những hàng hóa, dịch vụ nêu trên.

- Khi đề nghị thanh toán, người gửi đề nghị thanh toán cần gửi kèm theo bản

phôtô Tờ khai hải quan đính kèm làm chứng từ thanh toán. Tờ khai Hải quan gốc sẽ

được lưu tại Bộ phận kế toán.

5.7. Quy trình mua hàng

- Quá trình mua hàng được bắt đầu khi người có nhu cầu đề nghị được cung

cấp hàng hoá, dịch vụ cho đến khi người đó nhận được đúng loại hàng hoá, dịch vụ

người thẩm phê Bộ

Bộ phận có nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ mở đề “Giấy nghị mua hàng” (P/R) và phải có duyệt ký của trưởng bộ phận đó.

Bộ phận có nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ trình người có thẩm quyền phê duyệt P/R theo hướng dẫn tại Bảng 4.2

Bộ phận có thẩm quyền mua hàng phải có trách nhiệm lưu giữ đầy đủ tất cả các giấy tờ, chứng từ liên quan để thủ đảm bảo tục thanh toán với kế toán.

cho Chuyển bộ phận có quyền thẩm hàng mua ứng tương được nêu tại Bảng 4.2. Bộ phận có thẩm quyền mua hàng tiến hành điền đầy đủ thông tin về giá cả, nhà cung cấp và ký vào P/R

Sau khi P/R được có quyền duyệt, phận có nhu cầu về hàng hoá trình Bộ phận có thẩm quyền mua hàng. để tiến hành làm hợp đồng và mua hàng.

Bộ phận có thẩm quyền mua hàng tiến hành bàn giao hàng hoá cho Bộ phận có nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ đó. Và làm Giấy nhận giao hàng hoặc Phiếu nhập kho

đó. Sau đây là Quy trình 4.5:

200

- Kết hợp với Bảng 4.2 về phân cấp ký duyệt, sau đây là Quy trình mua hàng

tổng thể số 4.5 mà những bộ phận nêu tại Bảng 4.2 cần phải tuân thủ khi mua hàng

hoá, dịch vụ trong nước.

- Tại bước 2 của quy trình sau (Quy trình 4.5): tức là bước Bộ phận có thẩm

quyền mua hàng tiến hành điền đầy đủ thông tin về giá cả, nhà cung cấp và ký vào

P/R: Ở bước này Bộ phận có thẩm quyền mua hàng phải (i): tiến hành thu thập đầy

đủ ít nhất là ba (03) báo giá cho mỗi loại hàng hoá ghi trên P/R đó (nếu là nhà cung

cấp lần đầu tiên, hoặc là nhà cung cấp cũ nhưng giá sản phẩm đó trên thị trường nay

đã thay đổi); (ii): tiến hành thương thảo với nhà cung cấp để đạt được mức giá hợp

lý chắc chắn.

13. QUY ĐỊNH VỀ VIỆC CUNG CẤP THÔNG TIN CHO KẾ TOÁN

13.1. Yêu cầu đối với việc cung cấp thông tin cho Kế toán

Theo chính sách, quy định của tập đoàn, hàng tháng, SDVN phải gửi báo cáo

tháng về tình hình, kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty cho SWS/ SEI vào

ngày làm việc thứ 5 của tháng sau; gửi báo cáo quý (báo cáo hợp nhất số liệu) vào

ngày làm việc thứ 7 của tháng đầu tiên của quý sau.

Ngày làm việc là ngày tính theo lịch làm việc của SWS/ SEI hàng năm.

Thông thường, ngày làm việc của SWS/ SEI là các ngày không gồm thứ 7, chủ nhật

và các ngày lễ của họ; không tính theo các ngày lễ tại Việt Nam.

Việc các bộ phận gửi số liệu, báo cáo cho kế toán chậm hơn quy định sẽ ảnh

hưởng đến việc tuân thủ của Công ty đối với các quy định trên của tập đoàn.

201

13.2. Lịch khóa sổ bắt buộc của Kế toán

Do các yêu cầu trên, Kế toán bắt buộc phải tuân thủ lịch hoàn thành từng

phần việc của Kế toán như sau:

Ngày phải

STT

Hạng mục

Liên quan đến

hoàn thành

Vay và Lãi vay

Ngày làm việc thứ 1 ACC

1

Tiền và các khoản tương đương tiền

Ngày làm việc thứ 2 ACC

2

Doanh thu và Phải thu

Ngày làm việc thứ 3

PC/MD/TUBE/DS

3

4 Mua hàng và Phải trả

Ngày làm việc thứ 3 MC/ALL

Tài sản cố định

Ngày làm việc thứ 3 ALL

6

Tiền lương và các khoản khác

Ngày làm việc thứ 3 ADM

7

Lập dự phòng

Ngày làm việc thứ 4 ACC

8

Thuế các loại

Ngày làm việc thứ 4 ACC

9

10 Nghiệp vụ trích trước

Ngày làm việc thứ 4 ACC

11 Hàng tồn kho

Ngày làm việc thứ 4 MC/MD/TUBE

Tính giá thành sản phẩm

Ngày làm việc thứ 4 ACC

12

Sổ nhật ký/ Chứng từ

Ngày làm việc thứ 5 ACC

13

14 Kiểm tra, xem xét, phê duyệt, khóa sổ

Ngày làm việc thứ 5 ACC/BOD

202

Phụ lục số 20: Bảng tổng hợp hình thức kế toán và chế độ kế toán sử dụng của

các DN khảo sát

Hình thức kế toán

QĐ15

TT

Tên DN

48

(TT200)

NKSC NKC NKCT CTGS

x

x

1 Cty TNHH MTV Bằng Nam

x

x

2 Cty TNHH Việt Phát

x

x

3 DNTN may mặc và VT Hoa Việt

x

x

4 Cty TNHH SX TM Tân Cương

x

x

5 Cty TNHH giày Panta VN

x

x

6 Cty TNHH Samil Hà Nội Vina

7 Cty TNHH giày da Sao Vàng

x

x

Ninh Giang

x

x

8 Cty TNHH Thành Long

x

x

9 Cty cổ phần SXTM Thảo Nguyên

x

x

10 Cty TNHH Vina Okamoto

x

x

11 Cty cổ phần giày Hải Dương

x

x

12 Cty giày Bình Dương

x

x

13 Cty cổ phần Golden Sun

x

x

14 Cty cổ phần giày Thăng Long

x

x

15 Cty cổ phần giày Cẩm Bình

x

x

16 C.ty TNHH MTV Minh Phúc

17 Cty TNHH CN Oriental Sport

x

x

Việt Nam

x

x

18 Cty TNHH Long Sơn

x

x

19 Cty TNHH Vietory

x

x

20 Cty TNHH MTV may Dũng Anh

8

12

1

12

1

6

Cộng

203

Phụ lục số 21(a): Bảng tổng hợp mô hình Tổ chức bộ máy kế toán tại

các DN khảo sát

Tổ chức

Tổ chức bộ

Tổ chức bộ

STT

BMKT

máykế toán

máy kế toán

Tên DN khảo sát

tập trung

phân tán

hỗn hợp

Cty TNHH MTV Bằng Nam

1

x

Cty TNHH Việt Phát

2

x

3 DNTN may mặc và VT Hoa Việt

x

Cty TNHH SX TM Tân Cương

4

x

Cty TNHH giày Panta VN

5

x

Cty TNHH Samil Hà Nội Vina

6

x

7

x

Cty TNHH giày da Sao Vàng Ninh Giang Cty TNHH Thành Long

8

x

Cty cổ phần SXTM Thảo Nguyên

9

x

10 Cty TNHH Vina Okamoto

x

11 Cty cổ phần giày Hải Dương

x

12 Cty giày Bình Dương

x

13 Cty cổ phần Golden Sun

x

14 Cty cổ phần giày Thăng Long

x

15 Cty cổ phần giày Cẩm Bình

x

16 C.ty TNHH MTV Minh Phúc

x

17 Cty TNHH CN Oriental Sport VN

x

18 Cty TNHH Long Sơn

x

19 Cty TNHH Vietory

x

20 Cty TNHH MTV may Dũng Anh

x

Cộng

18

2

204

Phụ lục số 21(b): Trình độ của người làm kế toán tại các doanh nghiệp khảo sát

Trình độ chuyên môn đào tạo

STT Tên doanh nghiệp

Cty TNHH MTV Bằng Nam

1

Thạc sĩ Đại học Cao đẳng Trung cấp Sơ cấp

Cty TNHH Việt Phát

2

Số lượng nhân viên kế toán 1 1

3 DNTN may mặc và VT Hoa Việt

3 1 2

Cty TNHH SX TM Tân Cương

4

2 1 1

Cty TNHH giày Panta VN

5

4 1 2 1

Cty TNHH Samil Hà Nội Vina

6

3 1 2

7

5 1 1 3

Cty TNHH giày da Sao Vàng Ninh Giang Cty TNHH Thành Long

8

5 5

9

Cty cổ phần SXTM Thảo Nguyên

9 3 5 1

10 Cty TNHH Vina Okamoto

3 1 2

11 Cty cổ phần giày Hải Dương

2 1 1

12 Cty giày Bình Dương

10 2 7 1

13 Cty cổ phần Golden Sun

7 2 4 1

14 Cty cổ phần giày Thăng Long

9 4 5

15 Cty cổ phần giày Cẩm Bình

7 7

16 C.ty TNHH MTV Minh Phúc

15 6 9

17 Cty TNHH CN Oriental Sport

1 1

Việt Nam

18 Cty TNHH Long Sơn

10 10

19 Cty TNHH Vietory

4 4

20 Cty TNHH MTV may Dũng Anh

10 10

1 1

Cộng

81 111 2 22 6

205

Phụ lục số 22: Bảng phân tích chi phí giá thành sản xuất tháng

全廠生產费用明细表(不含水產) BẢNG CHI TIẾT CHI PHÍ GIÁ THÀNH SX THÁNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

合计 Cộng

序 号 STT

月份 Tháng 费用明细 Chi tiết chi phí NL

Nguyen vat lieu

209,272,000 204,612,352 210,663,936 213,066,270

537,979

535,910

533,229

537,070

2,144,189

工资(盾) Lương (đồng)

1

107,592

104,385

108,598

115,256

435,831

加班(盾) Tăng ca (đồng)

薪金 Tiền lương

645,571

640,295

641,827

652,326

2,580,020

合计 Cộng

785,577

775,258

801,789

846,589

3,209,213

①电费(盾) Tiền điện (đồng)

2

660,905

655,025

665,892

685,028

2,666,850

动力费 Phí động lực

-

-

-

-

-

②当月电耗(度) Hao điện trong tháng (số) ③当月发电机油费(盾/月) Phí dầu máy phát điện trong tháng (đồng/tháng)

蒸汽用量(立方米/月)

1,122

842

899

770

3,633

3

燃油费(盾) Phí dầu ma zút (đồng)

蒸汽费用(越盾/月)

509,108

382,058

407,921

349,388

1,648,474

4

237,873

193,165

225,025

245,369

901,432

润滑油、脂(盾) Dầu, mỡ bôi trơn (đồng)

905,589

901,525

920,520

3,660,194

932,560

283,560

316,763

327,507

1,272,855

345,025

5

1,050

-

69,960

71,010

-

206

配件、修缮费用 Phí khắc phục sửa chữa, linh kiện thay thế

46,335

53,280

43,591

72,127

215,333

①库房零、部件领用费用 Chi phí lĩnh dùng linh phụ kiện kho 库房零、部件领用费用-鋼模 Chi phílinh phụ kiện -khuon ②零、部件外加工费用(盾) Phí linh phụ kiện gia công&sua chua ngoài (đồng) ③堆高机修理费用(盾) Phí sửa chữa xe nâng (đồng)

69,805

71,491

69,136

274,642

64,210

④工程费用(盾) Chi phí công trình (đồng)

-

-

-

-

-

-

-

当月总费用(1+2+3+4+5) (盾) Tổng chi phí trong tháng (đồng)

212,756,467

207,946,186

214,171,212

216,573,864 -

13,833,171

吨 费 用 分 析 表

BẢNG PHÂN TÍCH CHI PHÍ TẤN

29,684

29,056

29,856

30,158

118,754.0

891

754

733

678

3,056.0

1

28,793

28,302

29,123

29,480

115,698.0

207

每月产能(吨) Năng lực sx mỗi tháng (tấn) 粉料(吨) Hàng bột (tấn) 颗粒(吨) Hàng viên (tấn)

3

3

2

2

2.6

7,050

7,042

7,056

7,065

2

21.7

22.0

21.5

21.6

21.7

3

26.5

26.7

26.9

28.1

27.0

22.3

22.5

22.3

22.7

22.5

4

18.5

18.7

18.8

19.7

18.9

26.7

26.9

27.1

28.3

27.2

17.2

13.1

13.7

11.6

13.9

5

8.0

6.6

7.5

8.1

7.6

6

44.0

46.2

47.9

46.9

46.3

7

粉料占总产量的百分比(%) Hàng bột chiếm tổng sản lượng (%) Nguyen vat lieu (000đ/tan) 薪水(盾/吨) Lương (đồng/tấn) 年平均每吨饲料动力费(盾/吨) Phí động lực năm trung bình mỗi tấn cám (000đ/tan) 平均每吨饲料电耗(度/吨) 粉料电费 (盾/吨) Tiền điện hàng bột (000đ/tan) 粒料水电费 (盾/吨) Tiền điện nước hàng viên (000đ/tan) 每吨燃油费费 (盾/吨) Phí dầu mazut mỗi tấn (000đ/tan) 每吨润滑油、脂费 (盾/吨) Phí dầu, mỡ bôi trơn mỗi tấn (đồng/tấn) 每吨修缮费(盾/吨) Phí sửa chữa khắc phục mỗi tấn (000đ/tan)

7,167.4

7,156.7

7,173.5

7,181.3 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0

0.0

116.5

每吨成本 (盾/吨) Giá thành mỗi tấn (000đ/tan)

208

Phụ lục số 23: Danh sách các công ty của Nhật Bản trên địa bàn tỉnh Hải Dương Nguồn: Sở kế hoạch Đầu tư năm 2014

STT

Số giấy phép đầu tư

Tên doanh nghiệp

Vốn đầu tư (Triệu USD)

042043000011 ngày 31/3/2004 – TĐ lần 6 ngày 26/3/2010 042023000016 ngày 16/1/2006 – TĐ lần 5 ngày 07/5/2012 042043000090 ngày 28/3/2008 – TĐ lần 1 ngày 12/6/2012

1 2 3

04212000149 ngày 27/3/2012 – TĐ lần 4 ngày 29/10/2013

4

66,67 36,50 4,50

Cty TNHH Sumidenso Việt Nam Cty TNHH Dây cáp điện ôtô Sumiden VN Cty TNHH VN Harajuku Electrical Appliance Cty TNHH Hóa chất và Môi trường Aureole Mitani – CN Hải Dương (CN hạch toán độc lập) Côngty TNHH KC Việt Nam Công ty TNHH FULUHASHI (VIỆT NAM) Công ty TNHH Fujikura Kasei Việt Nam Công ty TNHH Koyo Việt nam Công ty TNHH Phòng cháy chữa cháy Tomoken VN Cty TNHH Bơm Ebara VN Cty TNHH Việt Nam Toyo Denso

042043000156 Ngày 06/11/2012 042043000169 Ngày 18/6/2013 042043000177 Ngày 24/01/14 TĐ 1 ngày 18/2/2014 042043000191 Ngày 24/6/2014 042403000197 Ngày 15/9/2014 04222000151 ngày 13/7/2012 TĐ lần 1 ngày 21/11//2012 043042000035 ngày 06/9/2006 – TĐ lần 8 ngày 10/9/2013 042023000042 ngày 14/11/2006 – TĐ lần 6 ngày 20/01/2014 Cty TNHH Aiden VN (DN Chế xuất) 042043000017 ngày 19/1/2006 – TĐ lần 6 ngày 21/8/2013 042043000026 ngày 30/6/2006 – TĐ lần 5 ngày 17/5/2011 043042000033 ngày 09/8/2006 042023000038 ngày 27/9/2006 – TĐ lần 7 ngày 1/11/2013 04212000040 ngày 10/11/2006 – TĐ lần 5 ngày 12/5/2014

5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17

10,00

042043000074 ngày 11/9/2007 TĐ lần 1 ngày 20/01/2014

18

1,875 1,20 0,975 1,00 1,55 5,50 57,076 120,00 90,00 3,00 8,00 11,00 6,00

Công ty TNHH Công nghiệp Brother Việt Nam Công ty TNHH Atarih Precision VN Cty TNHH Kuroda Kagaku VN Cty TNHH TT gia công Hà Nội VN POSCO- VNPC CN Công ty TNHH Aureole BCD Công ty TNHH Fuji Việt Nam Đổi thành Công ty Teikokugiken co., LTD Cty TNHH Arion Electric Việt Nam

042023000146 ngày 07/2/2012 TĐ lần 1 04/12/2012

19

1,45

5,00

209

STT

Số giấy phép đầu tư

Tên doanh nghiệp

Vốn đầu tư (Triệu USD)

Chi nhánh Cty TNHH Molitec Steel (VN) tại HD Công ty TNHH FUJI CHEMI Việt Nam Công ty TNHH Điện tử UMC Việt Nam

20 21 22

Công ty TNHH Điện tử Iriso Việt Nam

23

1,09 0,50 100,00

04212000147 ngày 13/2/2012 042043000168 TĐ lần 1 - 29/10/2013 04202000039 ngày 7/11/2006 – TĐ lần 5 ngày 1/4/2013 042043000043 ngày 16/11/2006 – TĐ lần 6 ngày 9/8/2013 Có thể công nghệ cao được 042043000056 ngày 22/1/2007 – TĐ lần 6 ngày 20/1/2014 042043000059 ngày 02/3/2007 – TĐ lần 1 ngày 29/12/2008 042043000061 ngày 04/4/2007 – TĐ lần 10 ngày 10/9/2013 04212000083 ngày 2/01/2008 – TĐ lần 1 ngày 28/7/2009 042043000084 ngày 10/1/2008 – TĐ lần 5 ngày 9/12/2013 042023000088 ngày 21/3/2008 – TĐ lần 9 ngày 02/7/2014 042043000092 ngày 21/4/2008 – TĐ lần 8 ngày 15/3/2013 042043000101 ngày 16/6/2008 – TĐ lần 4 ngày 18/7/2014 04212000102 ngày 26/6/2008 – TĐ lần 1 ngày 24/7/2009 04222000134 ngày 30/11/2010 042043000137 ngày 31/3/2011 – TĐ lần 2 ngày 01/8/2014 042043000154 Ngày 19/9/2012 - TĐ 1 ngày 14/3/2013 042043000163 Ngày 01/4/2013 - TĐ 1 ngày 25/2/2014 042043000174 - Ngày 21/10/2013 042043000170 Ngày 29/7/2013 - TĐ lần 1 25/4/2013

Công ty TNHH Quốc tế Jaguar Hà Nội Công ty TNHH Sản xuất VSM Nhật Bản Cty TNHH Uniden VN CN Công ty TNHH Sankyu (VN) tại Hải Dương Cty TNHH sản xuất máy may Pegasus VN Công ty TNHH Hitachi Cable Việt Nam Công ty TNHH Valqua VN Cty TNHH Công nghệ Ikka Việt Nam Cty TNHH Sankyu Logistics VN Công ty Ajinomoto VIỆT NAM Công ty TNHH Toko Mimtech Nhật Bản Công ty TNHH ICS VIỆT NAM Công ty TNHH máy Brother Việt Nam Công ty TNHH Showa Valve Việt nam Công ty TNHH Frontier Việt Nam

24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38

80,00

Tổng

35,00 8,00 93,30 2,50 20,00 50,70 7,00 18,00 0,20 5,887 4,652 5,50 73,00 2,00 1,00 939,625

210

Phụ lục số 24: Phân tích BCKQHĐKD Công ty Cổ phần Giày Cẩm Bình

Tăng/Giảm

(2015/2014)

Chỉ tiêu Năm 2015 Năm 2014 Tương Tuyệt đối đối (%)

-6.4 Doanh thu thuần 383.351 409.406 -26.055

-7.0 Giá vốn hàng bán 362.135 389.373 -27.238

Lợi nhuận thuần từ hoạt 1.230 1.699 -469 -27.6 động SXKD

Lợi nhuận sau thuế 995 1.360 -365 -34.1

- Đánh giá quy mô, xu hướng biến động, nguyên nhân tăng, giảm doanh thu,

lợi nhuận: nhìn vào bảng trên ta thấy năm 2015 doanh thu và lợi nhuận đều sụt giảm

so với năm 2014, cụ thể doanh thu thuần là 383.351 triệu đồng, giảm 26 .055 triệu

đồng (mức giảm là 6,4%) so với năm 2014, tương ứng lợi nhuận sau thuế là 995

triệu đồng, giảm 365 triệu đồng (mức giảm là 34,1%). Doanh thu giảm là do năm

2015, công ty gặp khó khăn trong việc tiêu thụ gạch ốp lát. Nhu cầu thị trường sụt

giảm là nguyên nhân khiến Doanh thu giảm mặc dù ở các lĩnh vực còn lại là sản

xuất giày và Giấy carton vẫn duy trì được sự tăng trưởng so với các năm trước.

- Cơ cấu về doanh thu và lợi nhuận theo từng loại sản phẩm, dịch vụ/ lĩnh

vực hoạt động:

Doanh thu 2015 Sản phẩm/ Dịch vụ Tỷ trọng (%) (triệu đồng)

Giày thể thao 30.907 7,5

Gạch men 378.499 92,5

Giấy Carton

Tổng cộng 409.406 100

(Nguồn: Ngân hàng Công thương Hải Dương chi nhánh Khu Công nghiệp năm 2015)