LUẬN VĂN:
Hội nhập AFTA –cơ hội và thách thức với
các doanh nghiệp công nghiệp việt nam
Lời mở đu
Trong xu hướng quỗc tế hoá đời sống kinh tế thế giới, với những cấp độ toàn cầu
hoávà khu vực hoá, lực lượng sản xuất phát triển vượt ra ngoài phạm vi biên giới của mỗi
quốc gia, sự phân công lao động , quốc tế phát triển cả về bề rộng lẫn bề sâu; vai trò của các
công ty đa quốc gia được tăng cường, việc hình thành các liên kết khu vực ngày một pt
triển, hầu hết các quốc gia đang chuyển sang nh kinh tế với việc khai thác ngày càng
triệt để lợi thế so nh của mỗi nước.Để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của thương mại quốc
tế trên thị trường thế giới ngày nay,các quốc gia trên hành tinh chúng ta trong quá trình phát
triển đã từng ớc tạo lập nên các mối quan hệ song phươngvà đa phương, từng bước tham
gia vào các liên kết kinh tế quốc tế với nhiều mức độ khác nhau nhằm đưa lại lợi ích thiết
thực cho mỗi bên.Chính các liên kết kinh tế quốc tế là sbiểu hiện rõ nét của hai xu hướng:
Khu vực hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra hết sức sống động và đặc biệt quan trọng trong
những năm gần đây.
Thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của toàn cầu hoá, khu vực hoá, của hội nhập quốc tế, do vậy
các quốc gia đang phát triển sẽ không sự lựa chọn nào khác hơn lựa chọn mô hình
công nghiệp hoá theo hướng hội nhập quốc tế. Phù hợp với xu thế này Việt Nam đã đang
tham gia tích cực có hiệu quả cao vào Hiệp hội c quốc gia Đông Nam á (ASEAN)
khu vực mậu dịch tự do ASEAN (ASEAN free trade area: AFTA) Đây là s kiện bước
ngoặt đáng ghi nhận. Đồng thời cũng vấn đhết sức mới mẽ đôí với các doanh nghiệp
Việt Nam vốn vẫn quen với “vòng tay bảo hộ ”của NNước. Theo ý kiến của các chuyên
gia, nhiều DNCNVN n hoạt động như thời bao cấp, m năng động, phần lớn đến nay
vẫn chưa sẵn sàng cho hi nhập. Do vậy khi tham gia vào AFTA , thực hiện biểu thuế ưu
đãi hiệu lực chung(CEPT) Tức khi nhà nước phải giảm tiến tới xoá bỏ hàng rào thuế
quan và phi thuế quan ngăn cách buôn bán giữa Việt Nam các nước ASEAN thì việc
nghiên cứu , xem xét, thảo luận, phân tích đánh giá những cơ hội, thách thức đối với các
DNCNVN, đồng thời đưa ra nhiều những phương hướng gii pháp để các DNCNVN
phát huy được thế mạnh, tận dụng được hội của nh cũng như hạn chế những ảnh
ởng xấu, vượt qua thách thức để tồn tại trong môi trường mới là hết sức cần thiết.
Chương I: Khái Quát Chung Về AFTA
I / Khu vực hoá kinh tế và các hình thức chủ yếu của nó
Quá trình quốc tế hđời sống kinh tế thế giới đang diễn ra những cấp đ khác
nhau với xu hướng toàn cầu hoá đi đôi với xu ớng khu vực hoá.
Toàn cầu hoá kinh tế là hình thành một thị trườngthế giới thống nhất, một hthống tài
chính, tín dụng toàn cầu , việc phát triển mở rộng phân ng lao động quốc tế theo
chiều sâu, là sự mở rộng giao lưu kinh tế và khoa học công nghệ giữa các nước trên quy mô
toàn cầu;là việc giải quyết các vấn đkinh tế –xã hi tính chất toàn cầu như vấn đdân
số,tài nguyên thiên nhiên, bảo v mội trường sinh ti…Trong khi đó , khuvực hoá kinh tế
chdiễn ra trong một không gian địa nhất đnh dưới nhiều hình thức như: khu vực mậu
dịch tự do, đồng minh (Liên minh) thuế quan, đồng minh tiền tệ,thị trường chung, đồng
minh kinh tế…Nhằm mục đích hợp c,hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển, từng ớc xoá bỏ
những cản trở trong việc di chuyển bản,lực lượng lao động, hàng hoá dịch vụ Tiến tới
tự do hoá hoàn toàn những di chuyển nói trên gia các nước thành viên trong khu vực.
c quốc gia nền kinh tế thtrường phát triển (hay còn gọi các quốcgia công
nghiệp phát triển), thì xu hướng tham gia hi nhập vào nềnkinh tế các ớc trong khu vực
bảo hộ mậu dịch ngày càng gia tăng. Việc tham gia mạnh m rộng rãi vào các khối
liên kết kinh tế khu vực, từng bước tiến tới sự nhất thhoá cao thông qua các văn bản,hiệp
định kết đã đưa lại cho các quốc gia trong liên minh s ổn định, hợp tác cùng phát triển.
Trong điều kiện đó, các doanh nghiệp của các quốc gia thành viên được ởng những ưu
đãi vthương mại ng như phải gánh vác các nghĩa vụ về tài chính, gim thuế cũng như
các min giảm khácv.v..(các quốc gia trong hiệp hội mậu dch tự do Bắc Mỹ NAFTA ), các
quốc gia trong liên minh châu âu(EU) là những liên kết phản ánh rõ nét các xu hướng trên).
Kinh tế giữa các nước thành viên.Theo thoả thuận hợp tác này, các quốc gia trong liên minh
bên cạnh việc xoá bỏ thuế quan và những hạn chế v mậu dịch khác giữa các quốc gia thành
viên, còn cần phải thiết lập một biểu thuế quan chung của khối đi với các quốc gia ngoài
liên minh ,tức phải thực hiện chính sách cân đối mậu dịch với các ớc không phải
thành viên.
Thị trường chung: Đây một liên minh quốctế mức độ cao hơn liên minh thuế
quan,tức là ngoài việc áp dụng các biện pháp tương tự như liên minh thuế quan trong trao
đổi thương maị, hình thức liên minh này còn cho phép tư bản và lực lượng lao động tự do di
chuyn giữa các nước thành viên thông qua từng bước hình thành thị trường thng nhất (các
quốc gia trong cộng đồng kinh tế Châu Âu).
Liên minh tiền tệ: Đây một liên minh chủ yếu trên lĩnh vực tiền tệ. Theo thoả thuận
y các nước thành viên phải phối hợp chính sách tin t thống nhất trong toàn khối, thống
nhất đồng tiền dự trữ và đồng tiền sử dụng chung trong khối.
Liên minh kinh tế: Đây là một liên minh quốc tế với một mức độ cao hơn về sự tự do di
chuyn hàng hoá,dịch vụ, bản lc lượng lao động giữa các quốc gia thành viên, đồng
thời thống nhất biểu thuế quan chung áp dụng cho c nước không phải thành viên. Ngoài
ra, các ớc thành viên còn thực hiện thồng nhất các chính sách kinh tế; tài chính, tiền
tệ.(Liên minh Châu Âu: EU từ m 1994 được coi là liên minh kinh tế ).
II/ Xu hưng quốc tế hoá kinh tế thế giới và sự ra đời của AFTA
1. Xu hướng quốc tế hoá kinh tế thế giới
Có thể nói rằng toàn cầu hoá, khu vực kinh tế là xu hướng đang chiếm ưu thế trong nền
kinh tế hiện đại, do đó thương mại quốc tế ngày càng được tự do hoá. Đã xuất hiện nhiu t
chức kinh tế manh tính khu vực như EU, APEC, AFTA , Asean…. Tnh độ quốc tế ng
cao thì tỷ trọng trao đổi giữa các quốc gia càng ln. Theo một o cáo về nh hình kinh tế
thế giới trong giai đoạn 1990-2000 của WB (ly giá năm 1988 làm chuẩn) thì thị trường thế
giới vcác ngành công ngip quan trng nhất ng t 6.188 t USD năm 1973 lên 7683 tỷ
m 1980 9852 tỷ USD năm 1988 dự kiến năm 2000 stăng lên tới 14522 tỷ USD
trong đó trao đổi giữa các quốc gia chiếm tỷ trọng ngày càng tăng từ 15,3% năm 1973 lên
22,8% năm 1988 và dự kiến đến m 2000 sẽ là 28,5% .
Điều gì đã làm cho thương mại thế giới phát triển như ngày nay ? Đó là sự bùng ncủa
tự do hoá trương mại khu vực toàn cầu thể hiện qua việc xuất hin ngày càng nhiu các
tổ chức kinh tế mang tính khu vực. Tự do hoá thương mại được khởi xướng Bắc Mỹ
Châu Âu. ở Châu á, tiếp sau Nhật Bản là Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kong, Singapo đã theo
đuổi chính ch hướng ngoại, m cửa tích cực hội nhập vào thị trường quốc tế ; thực
hiện tdo hoá từng ớc . Kết quả bốn nước y đã tăng thu nhập đầu người từ mức 20%
so với c nước công nghiệp vào năm 1965 lên 70% vào m 1995. Con đường hướng
ngoại,thực hin tdo hoá thương mại được thực hiện tiếp nối Chi , Malayxia Thái
Lan vào đầu thập niên 70 sau đó Trung Quốc vào đầu thập niên 80. Nhiều người cho
rằng khi hội nhập vào kinh tế khu vực sẽ giảm bảo hộ sản xuất trong nước, do đó sẽ tăng
thất nghiệp giảm tăng trưởng. Lịch sử đã chứng minh không mộtớc nào có thđạt tốc
độ phát trin nhanh mà không mở cửa kinh tế, không tích cực hội nhập . Theo WB số người
sống mức ngo khổ Châu á (ới 1USD/ ngày) đã giảm từ 700tr người xuống còn
300tr người m 1995. Trung quốc nhờ tho thuận với Mỹ m cửa thị trường hơn nữa
chuẩn b ra nhập WTO sẽ làm cho thu nhập quốc dân tăng thêm 30% năm nhờ vậy tăng
thêm 12 triệu việc làm.
ràng xu hướng khu vực hKinh tế tất yếu. Nó mang lại những lợi ích kinh tế to
lớn cho cả người sản xuất và người tiêu dùng trong các nước thành viên . Một quốc gia nào
đó gia nhập các nước thực hiện ưu đãi mậu dịch thường đưa li những li ích chủ yếu sau
đây:
Một là, tạo lập quan hệ mậu dịch giữa cácớc thành viên, mở rộng n nữa khả năng
xuất nhập khẩu hàng hoá của các nước trongliên minh với các nước, các khu vực khác trên
thế giới. Cũng trong điều kiện này mà tiềm năng kinh tế của các nước thành viên được khai
thác một cách hiệu quả. Chính việc tạo lập mậu dịch tự do hội nhập khu vực đã làm tăng
thêm phúc lợi thông qua việc thay thế các nnh, trước hết là công nghiệp của các nước chủ
nhà chi phí cao (lãng phí nguồn lực) bằng những ngành chi phí thấp hơn (tức hiệu
quả hơn) của những quốc gia nhận được sự ưu đãi. ng trong điều kiện y, lợi ích của
người tiêu dùng cũng được tăng lên nhờ hàng hcủa các nước thành viên đưa vào nước
chủ nhà luôn nhận được s ưu đãi. Do đó giá hàng hoá gim xuống làm cho người dân
ớc chủ nhà có thể mua được khối lượng hàng hoá lón hơn mức chi phí thấp hơn.
Hai , Hi nhập khu vực còn góp phần vào việc chuyển hướng mậu dịch. Sự chuyển
ớng này diễn ra phổ biến khi hình thành liên minh thuế quan, vì khi đó các điều kiện buôn
bán giữa các nước thành viên trong liên minh sẽ trở nên thuận lợi hơn, hấp dẫn hơn.
Ngay cả trong trường hợp một nước nào đó trong liên minh tiến hành nhập khẩu những
sản phẩm của các quốc gia ngoài liên minh với giá thấp hơn, nhưng nay được thay thế bằng