
HỒNG CẦU
1. HÌNH DÁNG VÀ KÍCH THƯỚC.
Hồng cầu trưởng thành, lưu thông trong máu là tế bào không có nhân. Ở điều kiện
tự nhiên, nó có hình đĩa lõm hai mặt, đường kính khoảng 7,2mm, bề dày ở ngoại
vi là 2,2mm, ở trung tâm là 1mm
Thể tích một hồng cầu là 83mm3 (83femtolit). Nhờ có tính đàn hồi tốt mà hồng
cầu dễ dàng thay đổi hình dạng khi đi qua các mao mạch. Diện tích bề mặt hồng
cầu lớn (do có hai mặt lõm), vì vậy khi hồng cầu biến dạng màng hồng cầu không
bị căng và vỡ ra. Nếu tính diện tích toàn bộ màng hồng cầu trong cơ thể cộng lại,
có thể lên đến 3000m2.
2. THÀNH PHẦN.
Tỷ lệ thành phần của hồng cầu
%
Các thành phần

67,00
Nước
28,00
Hemoglobin
0,30
Lipid các loại (lecitin, cholesterol)
2,00
Những chất khác có chứa nitơ (enzym, protein, glutation)
0,02

Urê
1,20
Các chất vô cơ (K+)
Hồng cầu có một cấu trúc đặc biệt với nhiều thành phần khác nhau. Nó gồm một
nền do protein và lipid tạo nên. Đa số lipid đều kết hợp với protein tạo thành
lipoprotein. Trong nền còn có glucose, clorua, phosphat... Nền và màng chiếm 2 -
5% trọng lượng hồng cầu. Giữa các mắt của nền có hemoglobin. Hai thành phần
quan trọng nhất của hồng cầu được nghiên cứu nhiều đó là màng hồng cầu và
hemoglobin. Màng hồng cầu mang nhiều kháng nguyên nhóm máu. Hemoglobin
là thành phần quan trọng trong sự vận chuyển khí của máu.
3. SỐ LƯỢNG.
Người trưởng thành, ở máu ngoại vi có 3,8 x 1012 hồng cầu/lít (đối với nữ); 4,2
x1012 hồng cầu/lít (đối với nam). Trẻ mới sinh, ở ngày đầu số lượng hồng cầu rất
cao (5,0 x1012 hồng cầu/lít). Sau đó, do hiện tượng tan máu, số lượng hồng cầu

giảm dần. Trẻ em dưới 15 tuổi có số lượng hồng cầu thấp hơn người trưởng thành
0,1 - 0,2 x 1012 hồng cầu/lít. Số lượng hồng cầu ổn định ở tuổi trưởng thành.
Số lượng hồng cầu tăng lên sau bữa ăn, khi lao động thể lực, sống ở trên núi cao
700 - 1000m, khi ra nhiều mồ hôi, đái nhiều, ỉa chảy, bỏng mất huyết tương, trong
bệnh đa hồng cầu, bệnh tim bẩm sinh.... Số lượng hồng cầu giảm lúc ngủ, khi
uống nhiều nước, cuối kỳ hành kinh, sau đẻ, đói lâu ngày, ở nơi có phân áp oxy
cao, các loại bệnh thiếu máu, suy tuỷ, nhiễm độc, chảy máu trong, chảy máu do
vết thương...
4. QUÁ TRÌNH SINH HỒNG CẦU
4.1. Nguồn gốc và các giai đoạn phát triển của hồng cầu
Những tuần đầu của thai nhi hồng cầu có nhân được lá thai giữa sản xuất. Từ
tháng thứ hai trở đi gan, lách, sau đó là hạch bạch huyết cũng sản xuất ra hồng cầu
có nhân. Từ tháng thứ 5 của kỳ phát triển thai, tuỷ xương bắt đầu sản xuất hồng
cầu và từ đó trở đi, tuỷ xương là nơi duy nhất sinh ra hồng cầu. Sau tuổi 20 các tuỷ
xương dài bị mỡ hoá, còn tuỷ xương xốp như xương sống, xương sườn, xương ức,
xương chậu sản xuất hồng cầu. Vì vậy tuổi già dễ bị thiếu máu hơn.
Tế bào tuỷ xương là tế bào gốc vạn năng có khả năng duy trì nguồn cung cấp tế
bào gốc và phát triển thành tế bào gốc biệt hoá để tạo ra các dòng khác nhau của tế
bào máu (theo thuyết một nguồn gốc). Tế bào gốc biệt hoá sinh ra hồng cầu được

gọi là đơn vị tạo cụm của dòng hồng cầu: C.F.U.E (Colony forming unit
erythrocyt). Sau đó các tế bào dòng hồng cầu trải qua các giai đoạn sau đây.
Tiền nguyên hồng cầu (proerythoblast)
Nguyên hồng cầu ưa kiềm( normoblast ưa kiềm) à Nguyên hồng cầu đa sắc
(normoblast đa sắc) à Nguyên hồng cầu (normoblast) à Hồng cầu lưới
(reficulocyt) à Hồng cầu trưởng thành (erythrocyt)
Nhân của nguyên hồng cầu mất đi khi nồng độ hemoglobin trong bào tương cao >
34%. Hồng cầu chính thức không có nhân xuyên mạch rời bỏ tuỷ xương vào hệ
tuần hoàn chung. Hồng cầu lưới cũng có khả năng vào máu như hồng cầu trưởng
thành nhưng tỷ lệ rất thấp chỉ chiếm 1% tổng số lượng hồng cầu ở máu ngoại vi,
khoảng 1-2 ngày sau hồng cầu lưới trở thành hồng cầu trưởng thành. Hồng cầu
sống trong máu khoảng 120 ngày (người da trắng), gần 120 ngày (người Việt).
Hệ thống enzym nội bào hồng cầu luôn luôn tổng hợp ATP từ glucose để duy trì
tính đàn hồi của màng tế bào, duy trì vận chuyển ion qua màng, giữ cho sắt luôn
luôn có hoá trị 2, đồng thời ngăn cản sự oxy hoá protein trong hồng cầu. Trong
quá trình sống, hệ thống enzym giảm dần, hồng cầu già cỗi, màng hồng cầu kém
bền và dễ vỡ.
Một phần hồng cầu tự huỷ trong máu, còn đại bộ phận hồng cầu bị huỷ trong tổ
chức võng - nội mô của lách, gan, tuỷ xương. Hemoglobin được giải phóng ra bị

