
Đề tài:
“Kế toán nguyên vật liệu tại công ty mía đường
Sông Con thị trấn Tân Kỳ”

LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế hội nhập và phát triển của nền kinh tế nước ta, cơ chế
quản lý mới đã mở ra cho doanh nghiệp một môi trường kinh doanh thông
thoáng. Điều đó vừa là cơ hội vừa là thử thách phải đối mặt với sự cạnh trạnh
ngày càng gay go, ác liệt và không mệt mỏi giữa các doanh nghiệp.
Để tồn tại và phát triển trong cơ chế mới đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải
có chiến lược quản lý sản xuất kinh doanh hợp lý mà đặc biệt là việc quản lý
nguyên vật liệu. Sở dĩ như vậy là vì nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố cơ
bản của quá trình sản xuất, là đối tượng lao động trực tiếp cấu thành nên sản
phẩm và nó chiếm tỷ trọng rất lớn (60 - 90%) trong giá thành sản phẩm
Vì vậy việc cung cấp sử dụng, dự trữ nguyên vật liệu ảnh hưởng rất lớn
tới việc hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh cả về mặt số lượng cũng
như về mặt chất lượng nên muốn tiến hành sản xuất được đều đặn, đồng bộ,
liên tục thì doanh nghiệp phải đảm bảo cung cấp nguyên vật liệu kịp thời về
số lượng, đúng yêu cầu và đảm bảo chất lượng sẽ có tác dụng rất lớn làm
tăng khối lượng chất lượng sản phẩm giảm chi phí, hạ giá thành từ đó tăng lợi
nhuận làm giàu cho doanh nghiệp.
Với kiến thức tiếp thu được ở trường và thực tế tìm hiểu tại công ty,
được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của cô giáo Nguyễn Quỳnh Như với sự giúp
đỡ của các cô, chú phòng kế toán và lãnh đạo công ty Mía đường Sông Con
em đã hoàn thành bài báo cáo với đề tài "Kế toán nguyên vật liệu tại công ty
mía đường Sông Con thị trấn Tân Kỳ - Nghệ An".
Do quá trình thực tập và viết báo cáo quá ngắn ngủi, kiến thức còn hạn
chế nên báo cáo không tránh khỏi sai sót. Vì vậy em rất mong được các thầy
cô giáo và cô chú ở công ty mía đường Sông Con đóng góp thêm những ý

kiến quý báu để em hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán nguyên vật liệu của
công ty.

CHƯƠNG I
CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA NGUYÊN VẬT LIỆU
Nguyên vật liệu là những đối tượng lao động thể hiện dưới dạng vật
hoá, bao gồm: nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế, nhiên liệu thiết bị xây dựng
cơ bản (nó là tài sản dự trữ, là đối tượng lao động của sản xuất kinh doanh)
* Nguyên vật liệu có những đặc điểm là: nguyên vật liệu chỉ tham gia
vào 1 chu kỳ sản xuất kinh doanh và toàn bộ giá trị nguyên vật liệu được
chuyển hết một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ:
- Toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chuyển vào giá trị sản phẩm mới hình
thành chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và được tính vào giá thành sản phẩm.
- Chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng rất lớn (60 - 90%) trong giá
thành sản phẩm. Là một trong ba yếu tố không thể thiếu của quá trình sản
xuất kinh doanh, giúp cho việc sản xuất kinh doanh hoàn thành kế hoạch cả
về mặt số lượng cũng như về mặt chất lượng đảm bảo tính đồng bộ đều đặn
trong sản xuất cũng như hoàn thành tốt kế hoạch mặt hàng.
II. PHÂN LOẠI, ĐÁNH GIÁ VÀ NHIỆM VỤ CỦA NGUYÊN VẬT LIỆU
1. Phân loại
Nguyên vật liệu rất đa dạng và phong phú nên có nhiều cách phân loại.
Nhưng căn cứ vào vai trò và tác dụng của nguyên vật liệu thì được phân thành
các loại sau: Nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng
thay thế, thiết bị xây dựng cơ bản, vật liệu khác.
2. Phương pháp đánh giá và cách đánh giá nguyên vật liệu
2.1. Nguyên tắc đánh giá nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu có ở các doanh nghiệp được phản ánh trong sổ sách kế
toán theo giá thực tế. Giá thực tế nguyên vật liệu trong từng trường hợp có thể
khác nhau tuỳ thuộc vào nguồn nguyên vật liệu và giai đoạn nhập xuất

nguyên vật liệu vì vậy khi hạch toán phải tuân theo nguyên tắc nhất quán
trong cách tính nguyên vật liệu.
2.2. Cách đánh giá nguyên vật liệu nhập kho
Nguyên vật liệu nhập kho có thể là do nhiều nguồn khác nhau như tự
sản xuất, thuê gia công chế biến hoặc do nhập vốn góp liên doanh, kiểm kê
phát hiện thừa…. những nguồn phổ biến nhất là mua ngoài
+ Với nguyên vật liệu mua ngoài dùng cho hoạt động sản xuất kinh
doanh chịu thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thì giá vật liệu
được tính là: giá mua ghi trên hoá đơn của người bán cộng với các chi phí thu
mua khác và thuế nhập khẩu (nếu có), trừ đi các khoản giảm giá hàng mua và
chiết khấu thương mại được hưởng.
+ Với doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực
tiếp là tổng giá thanh toán gồm cả thuế giá trị gia tăng.
2.3. Cách đánh giá nguyên vật liệu xuất kho
Tuỳ theo đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp yêu cầu quản lý và
trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán mà lựa chọn phương pháp tính giá phù
hợp cho doanh nghiệp mình. Theo chuẩn mực kế toán 02 "Hàng tồn kho ban
hành theo quyết định 149/2001/BTC ngày 31/12/2001" ta có thể sử dụng
trong các phương pháp sau:
+ Phương pháp nhập trước xuất trước
+ Phương pháp nhập sau xuất trước
+ Phương pháp đơn giá bình quân có 3 cách tính
Giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ, giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước
và giá bình quân sau mỗi lần nhập
+ phương pháp đích danh
+ Và phương pháp giá hạch toán.
3. Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu
Để thực hiện tốt công tác quản lý nguyên vật liệu, kế toán phải thực
hiện các nhiệm vụ sau:

