intTypePromotion=1

Kết quả và kinh nghiệm áp dụng các chuẩn nghề nghiệp, chuẩn kiểm định, mô hình đào tạo tiên tiến trong việc đổi mới chuẩn đầu ra và chương trình đào tạo tại khoa báo chí và truyền thông (trường ĐH KHXH&NV)

Chia sẻ: Nhi Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

0
19
lượt xem
0
download

Kết quả và kinh nghiệm áp dụng các chuẩn nghề nghiệp, chuẩn kiểm định, mô hình đào tạo tiên tiến trong việc đổi mới chuẩn đầu ra và chương trình đào tạo tại khoa báo chí và truyền thông (trường ĐH KHXH&NV)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Báo cáo phân tích 5 vấn đề đặt ra đối với việc đổi mới CTĐT ngành Báo chí, cụ thể là: 1) tình trạng phi chuẩn nghề nghiệp trong bối cảnh giáo dục nghề báo ở Việt Nam; 2) sự rời rạc giữa CĐR và CTĐT ngành Báo chí; 3) CTĐT chỉ “tiệm cận” với năng lực thực hành nghề nghiệp của sinh viên tốt nghiệp (SVTN); 4) CĐR và CTĐT không tương thích với chuẩn kiểm định; và 5) CTĐT không tương thích với quốc tế.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kết quả và kinh nghiệm áp dụng các chuẩn nghề nghiệp, chuẩn kiểm định, mô hình đào tạo tiên tiến trong việc đổi mới chuẩn đầu ra và chương trình đào tạo tại khoa báo chí và truyền thông (trường ĐH KHXH&NV)

See discussions, stats, and author profiles for this publication at: https://www.researchgate.net/publication/331158437<br /> <br /> KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM ÁP DỤNG CÁC CHUẨN NGHỀ NGHIỆP, CHUẨN<br /> KIỂM ĐỊNH, MÔ HÌNH ĐÀO TẠO TIÊN TIẾN TRONG VIỆC ĐỔI MỚI CHUẨN<br /> ĐẦU RA VÀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TẠI KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN...<br /> Conference Paper · February 2019<br /> CITATIONS<br /> <br /> 0<br /> 1 author:<br /> Huynh Van Thong<br /> Ho Chi Minh City University of Social Sciences and Humanities<br /> 2 PUBLICATIONS   0 CITATIONS   <br /> SEE PROFILE<br /> <br /> Some of the authors of this publication are also working on these related projects:<br /> <br /> MEDLIT View project<br /> <br /> CDIO for non-technical programme View project<br /> <br /> All content following this page was uploaded by Huynh Van Thong on 17 February 2019.<br /> <br /> The user has requested enhancement of the downloaded file.<br /> <br /> KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM ÁP DỤNG CÁC CHUẨN NGHỀ NGHIỆP,<br /> CHUẨN KIỂM ĐỊNH, MÔ HÌNH ĐÀO TẠO TIÊN TIẾN TRONG VIỆC<br /> ĐỔI MỚI CHUẨN ĐẦU RA VÀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TẠI KHOA<br /> BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG (TRƯỜNG ĐH KHXH&NV)<br /> Huỳnh Văn Thông<br /> Trường Đại học KHXH&NV<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Từ thực tế tìm kiếm các giải pháp để đổi mới chương trình đào tạo (CTĐT) của khoa<br /> Báo chí và Truyền thông (BC&TT) từ 2010 đến nay, báo cáo trình bày tổng hơp một số bài<br /> học kinh nghiệm thực tiễn chính liên quan đến việc áp dụng giải pháp tích hợp CTĐT theo kiểu<br /> module hóa, áp dụng cách tiếp cận CDIO vào việc xây dựng chuẩn đầu ra (CĐR) và CTĐT để<br /> đáp ứng các tiêu chuẩn AUN-QA về kiểm định chương trình. Báo cáo phân tích 5 vấn đề đặt<br /> ra đối với việc đổi mới CTĐT ngành Báo chí, cụ thể là: 1) tình trạng phi chuẩn nghề nghiệp<br /> trong bối cảnh giáo dục nghề báo ở Việt Nam; 2) sự rời rạc giữa CĐR và CTĐT ngành Báo<br /> chí; 3) CTĐT chỉ “tiệm cận” với năng lực thực hành nghề nghiệp của sinh viên tốt nghiệp<br /> (SVTN); 4) CĐR và CTĐT không tương thích với chuẩn kiểm định; và 5) CTĐT không tương<br /> thích với quốc tế. Từ đó, báo cáo tổng hợp 3 giải pháp mà khoa BC&TT đã thực hiện bào<br /> gồm: 1) tổng hợp chuẩn nghề nghiệp từ các nguồn tham khảo tin cậy; 2) tích hợp CTĐT dựa<br /> trên module hóa và áp dụng CDIO; và 3) thiết kế và sử dụng các học phần tích hợp trong<br /> CTĐT. Khuyến nghị của báo cáo tập trung vào vấn đề phân tích bối cảnh giáo dục nghề nghiệp<br /> khi áp dụng CDIO trong trường hợp của các ngành học khối XH&NV, sự cần thiết của việc tập<br /> huấn chuyển giao nhận thức và kỹ năng áp dụng CDIO cho giảng viên và sự ràng buộc về<br /> năng lực thiết kế CTĐT mà Đại học Quốc gia TP.HCM (VNU-HCM) nên áp dụng như một tiêu<br /> chuẩn nội bộ đối với giảng viên.<br /> TỪ KHÓA<br /> Áp dụng CDIO, kiểm định AUN-QA, chuẩn đầu ra, đổi mới chương trình đào tạo, đào tạo<br /> báo chí, tiêu chuẩn CDIO 1, 2 và 3<br /> 1. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC ĐỔI MỚI CĐR VÀ CTĐT NGÀNH BÁO CHÍ<br /> CTĐT ngành Báo chí được xây dựng và thực hiện từ năm 1992 tại Trường Đại học<br /> Khoa học Xã hội và Nhân văn (XH&NV), trước năm 2007 là thực hiện ở khoa Ngữ văn và Báo<br /> chí, từ 2007 đến nay được thực hiện ở khoa Báo chí và Truyền thông (BC&TT). Trong bối<br /> cảnh nghề báo ở Việt Nam có nhiều thay đổi lớn do tác động của các vấn đề về thể chế xã<br /> hội và do các yếu tố mới trong cảnh quan truyền thông hiện đại, CTĐT ngành Báo chí đối mặt<br /> với một số vấn đề lớn để cập nhật và đổi mới phù hợp với yêu cầu của xã hội và của các bên<br /> liên quan.<br /> 1.1. Tình trạng phi chuẩn nghề nghiệp<br /> Hiện Việt Nam không có một bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp nào về hành nghề báo chí.<br /> Hội Nhà báo Việt Nam không có vai trò gì trong việc công nhận hành nghề báo chí. Văn bản<br /> duy nhất về chuẩn nghề nghiệp mà Hội Nhà báo Việt Nam ban hành là “Quy định về đạo đức<br /> nghề nghiệp của người làm báo Việt” ban hành tháng 8/2005 gồm 9 điều trong đó hầu hết là<br /> <br /> các nội dung liên quan đến tiêu chuẩn công dân. Thẩm quyền cấp thẻ nhà báo thì thuộc Bộ<br /> Thông tin và Truyền thông, và tiêu chuẩn cấp thẻ nhà báo hầu như chỉ tham chiếu đến tiêu<br /> chuẩn quan trọng nhất là thời gian làm việc tại cơ quan báo chí. Các cơ quan báo chí ở Việt<br /> Nam thì gần như không có cơ quan báo chí nào ban hành hiển ngôn một bộ tiêu chuẩn nghề<br /> nghiệp nào mà cơ quan đó áp dụng. Năm 2016, Bộ TT&TT và Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên<br /> tịch 11/2016/TTLT-BTTTT-BNV quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của các chức<br /> danh viên chức biên tập viên, phóng viên, biên dịch viên và đạo diễn truyền hình thuộc chuyên<br /> ngành Thông tin và Truyền thông. Trong văn bản này, tiêu chuẩn nghề nghiệp phóng viên xếp<br /> phóng viên theo 3 hạng, trong đó có nêu yêu cầu phải có bằng đại học chuyên ngành báo chí, điều<br /> kiên về ngoại ngữ và kỹ năng sử dụng CNTT. Tuy nhiên, tiêu chuẩn này thực tế chỉ áp dụng với<br /> các đối tượng có nhu cầu thi vào ngạch viên chức chính thức để được xếp lương. Sự thực là nhiều<br /> người hành nghề báo chí không quan tâm đến việc thi xếp ngạch viên chức báo chí.<br /> Những thực tế trên cho thấy, một trong những điểm phải nói đến như một khía cạnh của<br /> bối cảnh giáo dục nghề báo ở Việt Nam là tình trạng phi chuẩn nghề nghiệp. Trong khi đó, các kỳ<br /> vọng của xã hội đối với nghề báo lại rất cao. Quan niệm thường có trong xã hội là coi nghề báo là<br /> một nghề cao quý, có sứ mệnh đặc biệt là tìm kiếm và phát hiện sự thật, phụng sự cái thiện, định<br /> hướng các giá trị tốt đẹp cho xã hội. Thậm chí, Việt Nam còn có một ngành dành riêng cho báo<br /> chí – ngày 21/6.<br /> <br /> 1.2. Sự rời rạc giữa CĐR và CTĐT<br /> Phát biểu CĐR là một trong những điểm yếu lớn nhất của các ngành đào tạo lĩnh vực khoa<br /> học XH&NV. Điều này thể hiện ở những điểm cụ thể như: 1) CĐR được “phiên ngược” từ việc nhìn<br /> vào các môn học trong CTĐT; 2) CĐR phát biểu ở dạng các mệnh đề chung chung, không phản<br /> ánh cấu trúc khung năng lực cụ thể; 3) CĐR không xác định được các mức độ thụ đắc cụ thể của<br /> người học.<br /> Trong bước phát triển gần đây, khung năng lực KSA được tham khảo để phát biểu CĐR,<br /> tạo ra một khung logic cụ thể hơn, nhưng mối liên hệ giữa CĐR với các môn học trong CTĐT vẫn<br /> ở mức rời rạc, nghĩa là các môn học không được phân nhiệm thực hiện CĐR một cách liền lạc và<br /> có hệ thống. Mỗi môn học thường được gán cho một hoặc một vài CĐR nào đó khá chung chung,<br /> rồi các giảng viên phụ trách sẽ tự hành xử theo những cách hình dung riêng của họ. Các CĐR<br /> không được tích hợp vào CTĐT theo quá trình, mà chỉ được “đính” vào các môn học theo kiểu liên<br /> hệ hàng ngang (mô hình).<br /> <br /> Hình 1: Mô hình phiên chuyển CĐR vào CTĐT<br /> theo kiểu hàng ngang – rời rạc<br /> <br /> 1.3. CTĐT chỉ “tiệm cận” năng lực hành nghề của SVTN<br /> Đặc biệt từ góc độ của người học, CĐR và CTĐT thiết kế theo cách truyền thống không<br /> trực tiếp giúp họ hình thành một năng lực hành nghề ngay trong quá trình học. SVTN thường phải<br /> tự mình thực hiện việc tích hợp KSA để tự xây dựng năng lực hành nghề cho bản thân sau quá<br /> trình học, và không ít SVTN thất bại trong việc này. Việc cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng và<br /> thái độ hành vi cho người học trong CTĐT không được tổ chức thành những nội dung giáo dục<br /> tích hợp trong các học phần có kích thước lớn hơn đã khiến người học phải tự mình “nhặt nhạnh”<br /> năng lực hành nghề và chỉ có thể “tiệm cận” với năng lực hành nghề trong quá trình học chớ không<br /> có trải nghiệm hành nghề trực tiếp và cụ thể trong quá trình đào tạo.<br /> Mô hình phản ánh thực tế này có thể hình dung như sau:<br /> <br /> Hình 2: Mô hình SV tự liên kết các năng lực để tiệm cận<br /> với năng lực thực hành nghề nghiệp<br /> 1.4. CĐR và CTĐT không tương thích với tiêu chuẩn kiểm định<br /> Bên cạnh những hạn chế cố hữu về điều kiện nguồn lực của một nền giáo dục đại học dựa<br /> trên chi phí thấp, việc tổ chức CTĐT không có liên kết logic rõ ràng với CĐR dẫn đến thực tế là<br /> CTĐT của khoa không đáp ứng trực tiếp 5 tiêu chuẩn đầu và có thể ảnh hưởng xấu đến việc đáp<br /> ứng các tiêu chuẩn 11, 13, 14, 15 của AUN-QA.<br /> Đặc biệt, do việc phát biểu CĐR theo kiểu phiên ngược từ các môn học trong CTĐT, nội<br /> dung CTĐT vì thế không xuất phát từ định hướng đáp ứng CĐR, nên logic thiết kế CTĐT không<br /> rành mạch, không thể hiện hiển ngôn chuỗi giá trị thiết kế – thực thi – đánh giá của CTĐT.<br /> Một trong những chuỗi giá trị quan trọng trong khung logic AUN-QA là chuỗi EPPTSA<br /> (Expected Learning Outcomes – Programme Specification – Programme Structure & Content –<br /> Teaching & Learning Strategy – Student Assessment – Achievements) không được thể hiện rành<br /> mạch trong CTĐT báo chí.<br /> <br /> Hình 3: Chuỗi EPPTSA trong khung logic của bộ tiêu chuẩn AUN-QA<br /> 1.5. CTĐT không tương thích với quốc tế<br /> Trong một cơ hội đàm phán hợp tác tổ chức đào tạo 2+2 với Đại học Deakin (Australia),<br /> việc rà soát và khớp nối CTĐT giữa hai bên hầu như không thực hiện được. Lý do chính là phía<br /> Đại học Deakin không tìm thấy sự tương đồng cần thiết giữa CTĐT đào tạo ngành Báo chí của họ<br /> với CTĐT của khoa BC&TT. Việc tổ chức các môn học nhỏ, rời rạc đã dẫn đến một danh sách<br /> môn học quá nhiều và đặc biệt là với cách tổ chức đó, phía Đại học Deakin không nhận ra những<br /> năng lực nghề nghiệp nào cụ thể được hình thành trong CTĐT của khoa BC&TT. Trước đó, trong<br /> dự án MediaPro do Bộ Ngoại giao Anh tài trợ với sự hỗ trợ chuyên môn của Đại học City London<br /> (Anh) về thay đổi CTĐT báo chí, các chuyên gia quốc tế cũng tỏ ra lúng túng trước một danh mục<br /> các môn học nhỏ lẻ và quá chi tiết của CTĐT báo chí ở Việt Nam. Chính vậy trong dự án MediaPro,<br /> một trong những hướng đi chính của dự án là hỗ trợ để tích hợp CTĐT thành những môn học lớn<br /> hơn theo giải pháp module hóa.<br /> <br /> 2. CÁC GIẢI PHÁP VÀ KINH NGHIỆM TRONG THỰC TẾ TRIỂN KHAI<br /> 2.1. Khái quát chuẩn nghề nghiệp từ các nguồn tham khảo tin cậy<br /> Tình trạng phi chuẩn nghề nghiệp đã nêu ở trên đặt ra cho các cơ sở đào tạo báo chí ở<br /> bậc đại học một yêu cầu là phải tự xác định những luận điểm quan trọng về chuẩn mực nghề báo<br /> làm chỗ dựa cho việc xây dựng các giá trị của CTĐT. Để thực hiện việc này, Khoa BC&TT xác<br /> định chọn cách: 1) tham khảo quan điểm chuyên gia; 2) tham khảo các bộ quy tắc đạo đức nghề<br /> nghiệp của các nền báo chí phát triển; 3) tham khảo bộ quy tắc đạo đức được phát biểu bởi Hiệp<br /> hội Nhà báo Chuyên nghiệp (SPJ); 4) phân tích các khảo sát tòa soạn báo chí tiêu biểu.<br /> <br /> Kết quả của việc này là Khoa BC&TT xây dựng được một bộ nhận diện giá trị nghề<br /> báo và các yêu cầu cần có trong khung năng lực của người hành nghề báo chí ở hai vị trí mục<br /> tiêu của sinh viên tốt nghiệp như: phóng viên, biên tập viên. Công việc này được thực hiện<br /> trên một bảng miêu tả dựa vào 5 nhóm năng lực như trình bày trong bảng sau đây:<br /> Bảng 1: Bảng miêu tả khung năng lực nghề báo (do khoa BC&TT tổng hợp)<br /> Nhóm năng lực<br /> Kiến thức nền tảng<br /> (knowledge)<br /> <br /> Các yêu cầu liên quan<br /> Lịch sử, Văn hóa, Địa lý, Luật, Kinh tế,<br /> Chính trị, Xã hội học, Lý thuyết truyền<br /> thông, Loại hình, Thể loại<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản