HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TẠ HOÀNG MINH

KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN NÁI

F1(LANDRACE x YORKSHIRE) ĐƯỢC PHỐI VỚI

ĐỰC PIDU VÀ DUROC NUÔI TRONG NÔNG HỘ

Chuyên ngành:

Chăn nuôi

Mã số:

60.62.01.05

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Thái Hải

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào.

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn đã được cám ơn và các

thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Tạ Hoàng Minh

i

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ long kính trọng và biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn PGS. TS. Đặng Thái Hải – Giảng viên khoa Chăn nuôi – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tạp và thực hiện đề tài.

Tôi xin bày tỏ long biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Hóa sinh động vật, Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn Hộ chăn nuôi Tuấn Hà (Hải Dương) đã giúp đỡ và

tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận

lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./.

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Tạ Hoàng Minh

ii

MỤC LỤC

Lời cam đoan ..................................................................................................................... i

Lời cảm ơn ........................................................................................................................ ii

Mục lục ........................................................................................................................... iii

Danh mục viết tắt .............................................................................................................. v

Danh mục bảng ................................................................................................................ vi

Danh mục hình ................................................................................................................ vii

Trích yếu luận văn ......................................................................................................... viii

Thesis abstract .................................................................................................................. ix

Phần 1. Mở đầu ............................................................................................................... 1

1.1. Tính cấp thiết của đề tài ...................................................................................... 1

1.2. Mục đích và ý nghĩa của đề tài ........................................................................... 2

1.2.1. Mục đích ............................................................................................................. 2

1.2.2. Ý nghĩa ............................................................................................................... 2

Phần 2. Tổng quan tài liệu ............................................................................................. 3

2.1. Cơ sở sinh lý sinh sản của con cái, các chỉ tiêu đánh giá và các yếu tố

ảnh hưởng ........................................................................................................... 3

2.1.1. Cơ sở sinh lý sinh sản của con cái ...................................................................... 3

2.1.2. Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của con lợn nái ............................................ 5

2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái ................................. 6

2.2. Cơ sở sinh lí của sự sinh trưởng, các chỉ tiêu đánh giá và các yếu tố

ảnh hưởng ......................................................................................................... 11

2.2.1. Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng ...................................................................... 11

2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng...................................................... 13

2.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của lợn ................................. 13

2.3. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước ............................................. 16

2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ..................................................................... 16

2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ..................................................................... 19

Phần 3. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu ............................................................ 23

3.1. Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu ....................................................... 23

3.2. Nội dung nghiên cứu ........................................................................................ 23

iii

3.2.1. Ảnh hưởng của đực phối và lứa đẻ đến các chỉ tiêu năng suất sinh sản ........... 23

3.2.2. Năng suất sinh sản chung và qua các lứa đẻ qua các chỉ tiêu ........................... 23

3.2.3. Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa .................................................................. 24

3.3. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 24

3.3.1. Điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ....................................................................... 24

3.3.2. Phương pháp xác đinh các chỉ tiêu ................................................................... 25

3.3.3. Xử lý số liệu...................................................................................................... 26

Phần 4. Kết quả và thảo luận ....................................................................................... 27

4.1. Năng suất sinh sản của lợn nái lai F1 (Landrace x Yorkshire) phối với

đực Duroc và Pidu ............................................................................................ 27

4.1.1. Ảnh hưởng của đực giống và lứa đẻ đến năng suất sinh sản ............................ 27

4.1.2. Năng suất sinh sản chung của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối

với đực Duroc và PiDu ..................................................................................... 28

4.1.3. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực

giống Duroc và PiDu qua các lứa đẻ ................................................................ 34

4.2. Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa .................................................................. 50

Phần 5. Kết luận và kiến nghị ...................................................................................... 53

5.1. Kết luận ............................................................................................................. 53

5.2. Kiến nghị .......................................................................................................... 53

Tài liệu tham khảo .......................................................................................................... 54

iv

DANH MỤC VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

Cai sữa CS

Duroc Du

Khối lượng KL

Landrace L

Sơ sinh SS

Thức ăn TĂ

Tiêu tốn thức ăn TTTA

Yorkshire Y

v

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Ảnh hưởng của đực giống và lứa đẻ đến năng suất sinh sản của lợn

nái F1(Landrace x Yorkshire) ...................................................................... 27

Bảng 4.2 Năng suất sinh sản chung của lợn nái F1(LxY) phối với đực Duroc

và PiDu ......................................................................................................... 29

Bảng 4.3 Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với

đực Duroc và Pidu ở lứa đẻ thứ 1 ................................................................ 35

Bảng 4.4 Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với

đực Duroc và Pidu ở lứa đẻ thứ 2 ................................................................ 36

Bảng 4.5 Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với

đực Duroc và Pidu ở lứa đẻ thứ 3 ................................................................ 37

Bảng 4.6 Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với

đực Duroc và Pidu ở lứa đẻ thứ 4 ................................................................ 38

Bảng 4.7 Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với

đực Duroc và Pidu ở lứa đẻ thứ 5 ................................................................ 39

Bảng 4.8 Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với

đực Duroc và Pidu ở lứa đẻ thứ 6 ................................................................ 40

Bảng 4.9 Tiêu tốn thức ăn cho 1kg lợn con cai sữa .................................................... 51

vi

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Số con/ổ của lợn nái F1(L x Y) phối với đực Duroc và PiDu ..................... 30

Hình 4.2 Khối lượng/con của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với

đực Duroc và PiDu ...................................................................................... 32

Hình 4.3 Khối lượng/ổ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực

Duroc và PiDu ............................................................................................. 33

Hình 4.4 Số con sơ sinh/ổ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với

đực Duroc và PiDu từ lứa đẻ 1 đến 6 .......................................................... 41

Hình 4.5 Số con sơ sinh sống/ổ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối

với đực Duroc và PiDu từ lứa đẻ 1 đến 6 .................................................... 42

Hình 4.6 Số con sơ để nuôi/ổ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối

với đực Duroc và PiDu từ lứa đẻ 1 đến 6 .................................................... 43

Hình 4.7 Số con cai sữa/ổ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với

đực Duroc và PiDu từ lứa đẻ 1 đến 6 .......................................................... 44

Hình 4.8 Khối lượng sơ sinh/con của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire)

phối với đực Duroc và PiDu từ lứa đẻ 1 đến 6 ............................................ 45

Hình 4.9 Khối lượng sơ sinh/ổ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối

với đực Duroc và PiDu từ lứa đẻ 1 đến 6 .................................................... 46

Hình 4.10 Khối lượng cai sữa/con của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire)

phối với đực Duroc và PiDu từ lứa đẻ 1 đến 6 ............................................ 47

Hình 4.11 Khối lượng cai sữa/ổ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối

với đực Duroc và PiDu từ lứa đẻ 1 đến 6 .................................................... 48

Hình 4.12 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa của nái F1(Landrace x

Yorkshire) phối với đực Duroc và PiDu ..................................................... 52

vii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Tạ Hoàng Minh

Tên Luận văn: Khả năng sản xuất của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) được

phối với đực PiDu và Duroc nuôi trong nông hộ.

Ngành: Chăn nuôi Mã số: 60.62.01.05

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiêp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực

Duroc và PiDu nuôi trong điều kiện nông hộ.

Đánh giá được tiêu tốn thức ăn để sản xuất ra 1kg lợn con cai sữa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại hộ chăn nuôi Tuấn Hà, Bình Giang, Hải Dương từ năm 2013 đến 2015 nhằm đánh giá khả năng sản suất của lợn nái lai F1 (Landrace x Yorkshire) được phối với đực Duroc và đực PiDu. Thí nghiệm được theo dõi đánh giá năng suất sinh sản từ lứa 1 đến lứa 6 trên 257 ổ đẻ của nái lai F1 (Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc, 288 ổ đẻ của nái lại F1 (Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu và theo dõi tiêu tốn thức ăn/1 kg lợn con cai sữa trên 30 ổ lợn con của tổ hợp lai Duroc x F1(Landrace x Yorkshire), 20 ổ lợn con của tổ hợp lai PiDu x F1(Landrace x Yorkshire).

Kết quả chính và kết luận

Đực phối và lứa đẻ ảnh hưởng đến hầu hết tất cả các chỉ tiêu năng suất sinh sản. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc có các chỉ tiêu số con sơ sinh sống/ổ, khối lượng cai sữa/ổ là 11,25 con và 64,13 kg cao hơn so với lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu là 11,16 con và 54,85 kg nhưng số con cai sữa/ổ, tỷ lệ sơ sinh sống và tỷ lệ sống đến cai sữa của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc là 9,89 con, 96,50% và 92,04% thì thấp hơn lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu là 9,99 con, 98,07% và 95,96%. Năng suất sinh sản qua các lứa đẻ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc và PiDu đạt thấp nhất ở lứa 1, tăng dần từ lứa 2, đến lứa 4 và 5 đạt cao nhất và giảm dần từ lứa 6. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữa của tổ hợp lai Duroc phối với nái F1(Landrace x Yorkshire) là 6,00 kg thấp hơn tổ hợp lai PiDu phối với nái F1(Landrace x Yorkshire) là 6,26 kg. Như vậy, khả năng sản suất của tổ hợp lai Duroc phối với F1(Landrace x Yorkshire) có xu hướng cao hơn so với tổ hợp lai PiDu phối với F1(Landrace x Yorkshire).

viii

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Ta Hoang Minh

Thesis title: Reproduction performance of hybrid combinations between F1

(Landrace x Yorkshire) sows and Duroc, PiDu boars raised in households.

Major: Animal Science Code: 60.62.01.05

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Research Objectives:

- Evaluate reproduction performance of hybrid F1(Landrace x Yorkshire) sow

with Duroc and PiDu boars under farm conditions.

- Evaluate the feed conversion ratio to produce 1 kg of weaner.

Materials and Methods:

The study was conducted at Tuan Ha pig farm, Binh Giang, Hai Duong from 2013 to 2015 in order to evaluate reproductive productivity of the F1(Landrace x Yorkshire) sows with PiDu and Duroc boars. 2 hybrid combinations Du x F1(LxY), PiDu x F1 (LxY), with 257 and 288 litters respectively and from age 1 to age 6 were studied to evaluate the reproduction performance and the feed conversion ratio to produce 1 kg of weaned with a total of 30 litters of hybrid Duroc x F1(Landrace x Yorkshire), and 20 litters of hybrid PiDu x F1(Landrace x Yorkshire).

Results and conclusions

Reproductive performance of F1(L×Y) sow with Duroc boar had 11,25 for number of piglet born alive, and 64,13 kg for weaning piglets weight. The result of this hybrid is higher than hybrid F1(LxY) with PiDu boar (11,16 for number of piglet born alive, and 54,85 kg for weaning piglets weight) however, the number of weaned / litters, the percentage of piglets born alive and survival to weaning of F1 (Landrace x Yorkshire) sow with Duroc boar is 9.89, 96.50% and 92.04% and lower than F1 (Landrace x Yorkshire) sow with PiDu boar 9.99, 98.07% and 95.96%, respectively. The reproductive performance of F1 (Landrace x Yorkshire) sow with Duroc and PiDu boar was lowest age 1 and ascending from age 2 to age 4 or age 5 then subside from age 6.

The feed for 1kg weight gain of weaned piglets of hybrid combinations F1(Landrace x Yorkshire) with Duroc is 6.00 kg and lower than hybrid combinations (Landrace x Yorkshire) with PiDu (6.26 kg, respectively). Thus, Reproductive performance of hybrid combinations F1(Landrace x Yorkshire) with Duroc boar tend to be higher than hybrid combinations (Landrace x Yorkshire) with PiDu.

ix

PHẦN 1. MỞ ĐẦU

1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong hai thập kỷ gần đây, chăn nuôi lợn nước ta có nhiều thay đổi quan trọng cả về năng suất, chất lượng và qui mô cũng như phương thức chăn nuôi. Theo số liệu của Cục chăn nuôi cho đến nay, chăn nuôi lợn đã đạt 17-20 con cai sữa/nái/năm (so với mức 31-33 con/nái/năm của Đan Mạch, 24-26 con/nái/năm của các nước như Trung Quốc, Mỹ, Thái Lan…). Tỷ lệ hao hụt lợn con vẫn còn lớn, từ lúc sơ sinh đến cai sữa lên tới 20-25%. Mặc dù chịu tác động của dịch bệnh, suy thoái kinh tế toàn cầu, giá cả vật tư, thức ăn tăng mạnh … tuy nhiên chăn nuôi vẫn tiếp tục duy trì được tốc đô tăng trưởng ấn tượng từ 4,5 - 5,0 %/năm. Đến năm 2015, ước tính tổng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt khoảng 205,44 nghìn tỉ đồng, tổng sản lượng thịt hơi tăng bình quân 3,38 %/năm,

trong đó thịt lợn tăng 2,7%.

Theo số liệu của Tổng Cục thống kê giai đoạn 2011 - 2015, chăn nuôi lợn từng bước phát triển ổn định, tăng cả về quy mô đầu con và sản lượng thịt hơi xuất chuồng. Năm 2011, tổng đàn lợn trên cả nước là 27,06 triệu con và kế hoạch năm 2015 đạt 27,1 triệu con. Tăng trưởng bình quân đạt 0,04 %/năm, giảm 17,99 % so với kế hoạch của cả giai đoạn. Tuy quy mô về đầu con trong cả giai đoạn hầu như không tăng nhưng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đều tăng qua các năm với tốc độ tăng bình quân là 2,12 %/năm; năm 2011, sản lượng thịt đạt 3,09 triệu tấn, đến năm 2013 là gấp 3,22 triệu tấn, ước thực hiện trong năm 2014 là 3,29 triệu tấn và kế hoạch năm 2015 là 3,37 triệu tấn. Trọng lượng thịt xuất chuồng bình quân là 67,1 kg/con (năm 2011) ước tăng lên 68,2kg/con (2014) và đạt

69,5kg/con trong năm 2015.

Đến đầu năm 2015, nước ta có hơn 4 triệu hộ chăn nuôi lợn, nông hộ chăn

nuôi đã đạt con số gần 10 nghìn, trong đó đa số các cơ sở chăn nuôi sử dụng

phương thức chăn nuôi công nghiệp, chuồng khép kín. Nhiều mô hình chăn nuôi

công nghiệp gắn với giết mổ, chế biến tập trung đã hình thành. Chăn nuôi từ chỗ

nhỏ lẻ, manh mún đã cơ bản chuyển sang hàng hóa. Tuy chăn nuôi trong nông hộ

đã tăng về quy mô nhưng nhìn chung vẫn còn phân tán nhỏ lẻ, chưa hình thành

1

được các chuỗi liên kết dẫn đến khả năng cạnh tranh của chăn nuôi Việt Nam còn

kém xa so với nhiều nước trong khu vực.

Trong những năm vừa qua khi các giống lợn ngoại Yorkshire, Landrace,

Duroc và Pietrain … được nhập về nước ta đã có khả năng thích nghi khá tốt và

cho năng suất cũng như chất lượng khá ổn định ở Việt Nam, thì việc lai tạo giữa

các giống lợn ngoại với ngoại để tạo ra con lai thương phẩm 3, 4 máu để tạo ưu

thế lai đang rất được quan tâm, mở rộng và ứng dụng trên cả nước. Việc sử dụng

nái lai F1(Landrace x Yỏkshire) phối với lợn đực PiDu, Duroc tạo ra con lai

thương phẩm nuôi lấy thịt có tặng trọng nhanh, tỷ lệ nạc cao, thích nghi tốt được

xem là một giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm

chăn nuôi.

Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khả

năng sản xuất của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) được phối với đực PiDu và Duroc nuôi trong nông hộ” để chăn nuôi nông hộ của Việt Nam có thể phát

triển và hội nhập với nền kinh tế quốc tế.

1.2. MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1. Mục đích

- Đánh giá được năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(Landrace x

Yorkshire) phối với đực Duroc và PiDu nuôi trong điều kiện nông hộ.

- Đánh giá được tiêu tốn thức ăn để sản xuất ra 1 kg lợn con cai sữa.

1.2.2 Ý nghĩa

- Ý nghĩa khoa học: cung cấp thêm tư liệu có ý nghĩa khoa trong về năng

suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire).

- Ý nghĩa thực tiễn: bổ sung thêm thông tin về tình hình chăn nuôi lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) trong điều kiện chăn nuôi nông hộ giúp cho chăn nuôi

lợn phát triển tốt hơn.

2

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. CƠ SỞ SINH LÝ SINH SẢN CỦA CON CÁI, CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

2.1.1. Cơ sở sinh lý sinh sản của con cái

Sinh sản là một quá trình sinh học hết sức phức tạp của cơ thể động vật, đồng thời là chức năng tái sản xuất của gia súc, gia cầm. Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản cao nhất và phổ biến nhất ở cơ thể động vật, đó là quá trình có sự tham gia của hai cơ thể đực và cái, tiền đề của sự sinh sản hữu tính là quá trình giao phối. Sinh sản hữu tính là một quá trình mà ở đó con đực sản sinh ra tinh trùng, con cái sản sinh ra trứng, thụ tinh giữa tinh trùng và trứng hình thành hợp tử, hợp tử phát triển trong tử cung của con cái, cuối cùng sinh ra đời con. Khả năng sinh sản được biểu hiện qua nhiều chỉ tiêu: đẻ nhiều con, nhiều lứa, tỷ lệ sống khi đẻ và khi cai sữa, độ đồng đều, khả năng tiết sữa, thời gian động dục trở lại của lợn cái sau khi cai sữa. Sinh sản của gia súc là một hình thái của sức sản xuất và cũng biểu hiện đặc trưng của tính di truyền của mỗi phẩm chất giống. Ở lợn cũng như ở gia súc, gia cầm khác chức năng tái sản xuất chỉ có thể được bắt đầu khi con vật đã thành thục về tính, tức là khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản. Ở gia súc, tuổi thành thục về tính được ghi nhận bằng các biểu hiện: bộ phận sinh dục phát triển tương đối hoàn chỉnh, con cái rụng trứng lần đầu, con đực sinh tinh. Tinh trùng và trứng gặp nhau có khả năng thụ thai, các đặc tính sinh dục thứ cấp xuất hiện, con vật xuất hiện các phản xạ sinh dục: con cái động đực, con đực có phản xạ giao phối.

Thời gian thành thục về tính của lợn cái từ 6 - 8 tháng tuổi, tuổi thành thục về tính ở các giống lợn có sự khác nhau: lợn nội từ 4 - 5 tháng, lợn lai (lợn nội x lợn ngoại) 5 - 6 tháng tuổi, lợn ngoại 7 - 8 tháng tuổi. Tuổi thành thục về tính còn phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu, chế độ dinh dưỡng cho lợn nái trong giai đoạn nuôi hậu bị.

Tuy nhiên người ta chỉ đưa vào khai thác khi lợn đã thành thục về thể vóc, đó là tuổi mà con vật có sự phát triển về ngoại hình và thể vóc đạt tới độ hoàn chỉnh, xương đã cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định, thời gian thành thục về thể vóc thường chậm hơn thành thục về tính, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên. Chính vì vậy, trong chăn nuôi lợn

3

không nên cho lợn cái sinh sản quá sớm vì nếu lợn cái phối giống sớm khi cơ thể chưa có sự phân hóa chất dinh dưỡng, ưu tiên cho sự phát triển của bào thai, ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cơ thể mẹ, do đó sự phát triển của bào thai cũng bị ảnh hưởng. Kết quả là mẹ yếu, con nhỏ. Mặt khác, khung xương chậu chưa phát triển hoàn toàn, nhỏ hẹp làm con vật khó đẻ con. Do đó việc xác định tuổi phối giống lần đầu với lợn cái có ý nghĩa quan trọng trong chăn nuôi. Tuổi giao phối lần đầu với lợn cái nội là 6 - 7 tháng nặng trên 50kg, lợn lai trên 7 tháng nặng tự 60 - 70 kg, lợn ngoại từ 9 - 10 tháng nặng trên 80 - 90 kg.

Khi lợn đã thành thục về tính, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý, thì cơ thể con cái, đặc biệt là cơ quan sinh dục có biến đổi kèm theo sự rụng trứng. Sự sinh trưởng của trứng dưới sự điều tiết của hormone thùy trước tuyến yên làm cho trứng chin và rụng một cách có chu kỳ và biểu hiện bằng những triệu chứng động dục kèm theo chu kỳ được gọi là chu kỳ tính. Thời gian chu kỳ tính là từ lần rụng trứng trước tới lần rụng trứng sau. Chu kỳ tính được bắt đầu từ khi lợn cái thành thục về tính, nó tiếp tục xuất hiện và chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể đã già yếu. Chu kỳ tính của lợn cái là một hiện tượng sinh vật học có tính quy luật, nó tạo ra hàng loạt những điều kiện cần thiết để tiến hành giao phối, thụ tinh và phát triển bào thai. Thời gian chu kỳ tính của lợn là từ 17 - 27 ngày, trung bình là 21 ngày. Thời gian của mỗi lần động đực là 3 - 4 ngày, sau khi lợn động đực 24 - 20 giờ thì trứng rụng, thời gian trứng tụng kéo dài từ 4 - 6 giờ, ở lợn cái tơ quá trình này kéo dài hơn (khoảng 10 giờ). Có từ 10 - 25 tế bào trứng rụng trên một lần, ở lợn cái tơ số lượng trung bình là 14 và giao động từ 7 - 16, còn ở lợn trưởng thành trung bình là 20 và

giao động từ 15 - 25. Ở các giống khác nhau thì số lượng trứng rụng cũng khác nhau.

Tất cả các kích thích bên ngoài và trong cơ thể như: khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng, chế độ nuôi dưỡng, quản lý, tác động xoa bóp, mùi vị con đực, tình trạng cơ quan sinh dục và các bộ phận khác của cơ thể đều ảnh hưởng trực tiếp đến chu

kỳ tính một cách phản xạ theo phương thức thần kinh, thể dịch.

Tất cả các kích thích đó được cơ quan cảm nhận như: tai, mắt, mũi, da,… thu nhận, từ đó tác động lên hệ thống thần kinh trung ương và thông qua sự điều tiết của tuyến yên để điều chỉnh quá trình sinh dục. Bởi vì giữa vùng hypothalamus và tuyến yên có mối quan hệ mật thiết với nhau, khu vực có nhiều mạch quản và thần kinh. Nếu thần kinh đi vào hypothalamus bị tổn thương hay đường truyền xuống tuyến yên bị cắt đứt thì sự phân tiết hormone kích thích sinh

dục của tuyến yên cũng đồng thời giảm theo.

4

Sự điều chỉnh chu kỳ tính không những được thực hiện tuân theo phương thức phản xạ không điều kiện, mà có thể thực hiện thông qua sự liên hệ phản xạ

có điều kiện.

Cùng với yếu tố thần kinh, hormone của tuyến yên là một điều kiện quan trọng và cần thiết để làm xuất hiện, điều chỉnh hoạt động của quá trình sinh dục. Hypothalamus dưới tác động của Gonadotropin Releasing Hormone (GnRH) kích thích thùy trước tuyến yên giải phóng FSH và LH. FSH khích thích sự phát triển của trứng còn LH kích thích thải trứng và ảnh hưởng đến hình thành thể vàng. Sau khi rụng trứng 7 ngày, thể vàng đạt được kích thước 8 – 9nm. ở tổ chức tuyến của thể vàng tiết ra hormone progesteron giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử ở sừng tử cung. Thể vàng tồn tại trong suốt quá trình mang thai. Hormone progesteron ức chế hypothalamus giải phóng GnRH trong thời gian mang thai và qua đó ngăn cản động dục. Do vậy, hormone này được coi như là hormone bảo vệ sự mang thai. Nếu như trứng rụng không được thụ tinh, thể vàng tồn tại đến ngày thứ 15 - 17 bị phá vỡ dưới tác động của prostalandine do sừng tử

cung tiết ra, sau đó chu kỳ tính mới lại bắt đầu.

Theo quy luật, lợn mẹ sau khi cai sữa cho con sẽ biểu hiện động dục vào ngày thứ 4 - 8. Tuy nhiên thời gian động dục trở lại sau cai sữa phụ thuộc vào

thời gian bú sữa.

2.1.2. Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của con lợn nái

Mục đích của việc sản xuất lợn con là để bán, làm giống hay là để nuôi thịt, kết quả sản phẩm này tùy thuộc vào khả năng sản xuất của lợn nái và được thể hiện qua chỉ tiêu tổng hợp là số lợn con cai sữa (hay số lợn con có khả năng sản xuất)/ nái/ năm. Để có được số lợn con cai sữa/nái/năm cao thì chúng ta cần

phải hoàn hiện tất cả các bước trong quá trình chăn nuôi. Gồm các chỉ tiêu:

- Tuổi thành thục vê tính (ngày) - Tuổi đẻ lứa đầu (ngày) - Khoảng cách đẻ lứa (ngày) - Thời gian phối giống trở lại (ngày) - Tỷ lệ thụ thai (%) - Số con sơ sinh/ổ (con) - Số con sơ sinh sống/ổ (con) - Số con để lại nuôi/ ổ (con) - Số con cai sữa/ ổ (con)

5

- Tỷ lệ sơ sinh sống (%) - Tỷ lệ sống đến cai sữa (%) - Khối lượng sơ sinh/ ổ (kg) - Khối lượng cai sữa/ ổ (kg) - Khối lượng sơ sinh/ con (kg) - Khối lượng cai sữa/ con (kg) - Thời gian cai sữa (ngày)

2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái

Sinh sản là một thuộc tính của sinh vật nói chung và gia súc nói riêng, nhằm duy trì nòi giống và đảm bảo cho sự tiến hóa của sinh vật. Ở gia súc nói chung và ở lợn nói riêng, sinh sản là một chức năng quan trọng mang ý nghĩa tái sản xuất ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người. Chính vì vậy, sinh sản của gia súc là một thuộc tính mà các nhà chăn nuôi quan tâm, nhằm mục đích sinh sản được nhiều nhất trong thời gian ngắn nhất, thế hệ sau có đặc tính tốt hơn thế hệ trước, năng suất sinh sản được nâng cao sẽ mang lại hiệu quả cao nhất

trong ngành chăn nuôi.

Một yêu cầu quan trọng của chăn nuôi lợn nái là phải tăng khả năng sinh sản nhằm đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng lợn cho khâu sản xuất lợn thịt. Có nhiều chỉ tiêu sinh học đánh giá năng suất sinh sản của lợn cái, nhưng các nhà di truyền chọn giống lợn chỉ quan tâm tới một số tính trạng năng suất nhất định là các chỉ tiêu có tầm quan trọng kinh tế trong chăn nuôi lợn nái

sinh sản.

Gordon (2004), Legault (1980) cho rằng: trong các trại chăn nuôi hiện đại, số lợn con cai sữa do một nái sản xuất trong một năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất năng suất sinh sản của lợn nái. Tác giả cũng cho biết tầm quan trọng của các thành phần cấu thành ảnh hưởng đến chỉ tiêu số lợn con cai sữa do một nái sản xuất trong một năm lần lượt là: số con đẻ ra trong ổ, tỷ lệ chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu và thời gian từ cai sữa đến khi

thụ thai lứa sau.

Theo Ducos (1994), các thành phần đóng góp vào chỉ tiêu số con còn sống khi cai sữa gồm số trứng rụng, tỉ lệ lợn con sống lúc sơ sinh và tỉ lệ lợn con sống tới lúc cai sữa là các thành phần quan trọng nhất đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái. Do vậy việc nâng cao chỉ tiêu số con đẻ ra sống và số con cai sữa là một vấn đề

được quan tâm hàng đầu trong chăn nuôi lợn nái sinh sản.

6

Mabry et al. (1997) cho rằng các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của lợn nái bao gồm: số con đẻ ra, số con cai sữa, khối lượng 21 ngày/ổ và số lứa đẻ/nái/năm. Các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu này có tầm quan trọng về mặt kinh tế và ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của người sản xuất lợn giống cũng

như người nuôi lợn thương phẩm.

Năng suất sinh sản của lợn nái có mối quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc vào

các yếu tố di truyền và ngoại cảnh.

a. Yếu tố di truyền

Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái

(Đặng Vũ Bình, 1999; Hamann et al., 2004).

Năng suất sinh sản của lợn nái bao gồm các tính trạng vốn có hệ số di truyền nhỏ, lại thường không tạo được áp lực chọn lọc cần thiết nên hiệu quả của chọn lọc rất thấp. Các tính trạng năng suất sinh sản có hệ số biến động khá cao. Tương quan giữa số con/ổ và khối lượng toàn ổ cũng như giữa khối lượng toàn ổ và khối lượng trung bình một lợn con là dương và chặt chẽ, nhưng giữa số con và khối lượng trung bình một lợn con là âm và chặt chẽ (Đặng Vũ Bình, 1995).

Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tính con giống, các giống lợn khác nhau thì có tính năng sản xuất khác nhau. Tính trạng số lượng về khả năng sinh sản của lợn nái thường có hệ số di truyền thấp, các chỉ tiêu như số con còn sống/ổ, số con sai sữa/ổ có hệ số di truyền (h2) là 0,10; khối lượng sơ sinh/ổ, khối lượng cai sữa/ổ có h2 là 0,20. Rydhmer et al. (1995) hệ số di truyền (h2) tính trạng tuổi đẻ lứa đầu, số con đẻ ra sống/ổ và khoảng cách lứa đẻ lần lượt là: 0,27; 0,13 và 0,08. Theo Tolle et al. (1999) cũng cho biết hệ số di truyền của chỉ tiêu số con đẻ ra sống và số con cai sữa/ổ là 0,09 - 0,12 và 0,05 - 0,07.

Theo Legault (1985), căn cứ vào khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt,

các giống lợn chia làm bốn nhóm chính như sau:

- Các giống đa dụng như Yorkshire, Landrace và một số dòng nguyên

chủng được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá.

Các giống chuyên dụng “dòng bố” như Piétrain, Landrace của Bỉ, Hampshire, Poland China có khả năng sinh sản trung bình nhưng khả năng sản xuất thịt cao.

- Các giống chuyên dụng “dòng mẹ”, đặc biệt một số giống chuyên sản của Trung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có khả năng sinh sản đặc biệt

7

cao nhưng khả năng cho thịt kém.

- Các giống địa phương có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sản

xuất thịt kém, song có khả năng thích nghi tốt với môi trường.

Các giống “dòng bố” thường có khả năng sinh sản thấp hơn so với các giống đa dụng, ngoài ra chúng có chiều hướng hơi kém về khả năng nuôi con, tỷ lệ lợn con chết trước khi cai sữa của các giống này cao hơn so với Landrace và

Yorkshire (Blasco et al., 1995).

Sự thành thục về tính của các giống khác nhau cũng khác nhau. Gia súc có tầm vóc và khối lượng nhỏ thường sớm hơn gia súc có tầm vóc, khối lượng lớn. Tuổi thành thục của giống lợn nội Trung Quốc khi 3 - 4 tháng tuổi và các giống

lợn châu Âu là 6 - 7 tháng tuổi (Rothschild and Bidanel, 1998).

Sự cận huyết cũng ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái, số con đẻ ra trong một ổ giảm 0,29 con khi hệ số cận huyết tăng thêm 10%

(Johnson, 1990).

Ngoài ra, năng suất sinh sản còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền

khác như kiểu gen, cá thể, lai giống…

Số con đẻ ra còn sống/ ổ của lợn Landrace Thuy Sĩ có phản ứng halothane âm tính cao hơn so với lợn có phản ứng halothane dương tính là 0,55 con (Schineider et al., 1980), ở lợn Landrace Đan Mạch là 1,3 con (Vandersteen,

1986).

Như vậy năng suất sinh sản của lợn nái chịu ảnh hưởng của giống và cá thể, mỗi một giống có một đặc tính sản xuất gắn liền với năng suất và hiệu quả

kinh tế của nó, giống khác nhau thì có năng suất khác nhau.

b. Yếu tố ngoại cảnh

Ngoài các yếu tố di truyền, yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng rất rõ ràng và có

ý nghĩa đến năng suất sinh sản của lợn nái.

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của lợn nái như: chế độ nuôi dưỡng, tuổi, khối lượng phối, phương thức phối, lứa đẻ, mùa vụ, nhiệt độ môi trường, thời gian chiếu sáng, bệnh tật... (Dierckx et al., 1997; Sohst, 1997; Riha et al., 2000).

* Chế độ nuôi dưỡng

Dinh dưỡng là yếu tố hết sức quan trọng để đảm bảo khả năng sinh sản

8

của lợn nái. Lợn nái và lợn cái hậu bị có chửa cần được cung cấp đủ về số lượng

và chất lượng các chất dinh dưỡng để có kết quả sinh sản tốt.

Zimmerman et al. (1996) cho biết các mức ăn khác nhau trong giai đoạn từ cai sữa đến phối giống trở lại có ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai. Yamada et al. (1998) nhận thấy nuôi dưỡng hạn chế đối với lợn cái trong giai đoạn hậu bị sẽ

làm tăng tuổi động dục lần đầu, tăng tỷ lệ loại thải so với nuôi dưỡng đầy đủ.

Nên cho lợn nái nuôi con ăn tự do để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng. Giảm lượng thức ăn thu nhận khi nuôi con sẽ làm giảm khối lượng cơ thể, hậu quả là thời gian động dục trở lại dài, giảm tỉ lệ thụ tinh và giảm số phôi sống (Brand et al., 2000). Theo Chung et al. (1998), Lember (1998) tăng lượng thức ăn thu nhận ở lợn nái tiết sữa sẽ làm tăng sản lượng sữa và tăng khả năng tăng khối lượng của lợn con. Gordon (2004) cho biết: tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn đầu và giữa chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng giảm thời gian động dục trở lại hơn là tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn cuối, tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn giữa và cuối chu kỳ tiết sữa

sẽ có tác dụng tăng khối lượng cai sữa hơn là tăng ở giai đoạn đầu.

Mục tiêu của nuôi dưỡng lợn nái là làm sao cho số ngày không sản xuất ít nhất, khối lượng cơ thể tăng phù hợp trong thời kỳ có chửa và có được khối lượng cơ thể thích hợp trong thời kỳ nuôi con. Vì vậy cần phải đưa ra khẩu phần

ăn khoa học để tăng sữa.

* Mùa vụ

Mùa vụ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái. Gaustad-Aas et al. (2004) cho biết: mùa vụ có ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ. Mùa có nhiệt độ cao là nguyên nhân làm kết quả sinh sản ở lợn nái nuôi chăn thả

thấp, tỷ lệ chết ở lợn con cao (Akos et al., 2004).

Nhiệt độ cao làm khả năng thu nhận thức ăn của lợn nái thấp, tỷ lệ hao hụt lợn nái tăng và tỷ lệ động dục trở lại sau cai sữa giảm. Tỷ lệ thụ thai bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ và mùa vụ. Lợn nái phối giống vào các tháng nóng có tỷ lệ

thụ thai thấp, giảm khả năng sinh sản từ 5 - 20%.

Nhiệt độ cao không những làm tăng tỷ lệ nái không động dục mà còn làm

giảm tỷ lệ thụ thai, giảm khả năng sống của thai (Pistoni, 1997).

Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ ảnh hưởng của stress nhiệt đến khả năng sinh sản của lợn nái. Thời gian từ tháng 7 đến tháng 11 lợn nái thường ít động dục. Số

9

con đẻ ra/ổ khi phối giống vào mùa hè có thể ít hơn một con so với khi phối giống vào mùa thu, mùa đông (Peltoniemi et al., 2000, Koketsu et al.,1998). Tỷ lệ thụ thai thấp và số con đẻ ra ít vào mùa hè đã được Dominguez et al. (1998)

xác nhận.

Các tác giả nhận thấy về mùa hè, nhiệt độ cao làm giảm tính nhạy cảm bình thường của chu kỳ động dục. Thời gian từ tháng thứ 5 đến tháng thứ 8 khoảng cách từ khi cai sữa đến động dục trở lại ở lợn nái tăng so với các tháng

khác (trích dẫn từ Gordon, 1997).

Stress nhiệt có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai tới 20%, giảm số phôi sống 20% và

do đó làm giảm thành tích sinh sản của lợn nái (Peltoniemi et al., 2000).

* Tuổi và lứa đẻ

Tuổi và lứa đẻ đều là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ (Clark and Leman, 1986). Lợn nái kiểm định có tỷ lệ đẻ thấp hơn so với lợn nái sinh sản (Koketsu et al., 1998). Số lượng trứng rụng thấp nhất ở chu kỳ động dục thứ nhất, tăng đến 3 tế bào trứng ở chu kỳ động dục thứ hai và đạt tương đối cao ở chu kỳ động dục thứ ba (Deckert et al., 1998). Số con đẻ ra tương quan thuận

với số lượng trứng rụng (Warrick et al., 1989, trích dẫn từ Gordon, 1997).

Lứa đẻ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái vì có sự khác nhau về chức năng theo tuổi của lợn nái. Khả năng sinh sản của lợn nái thường thấp nhất ở lứa đẻ thứ nhất, đạt cao nhất ở lứa đẻ thứ 3, 4, 5 và sau đó gần như là ổn định và có xu hướng giảm khi lứa đẻ tăng lên. Gordon (1997) cho biết số con đẻ ra/ổ tăng từ lứa đẻ một đến lứa đẻ thứ 4, ở lứa đẻ thứ 8 trở đi, số lợn con mới đẻ bị chết tăng lên. Số con đẻ ra/ổ có quan hệ chặt chẽ đến tuổi của lợn nái và giảm nhanh sau 4, 5 tuổi. Lợn đẻ lứa đầu tiên thường có số con đẻ ra, khối lượng sơ sinh nhỏ hơn so với những lứa đẻ sau (Colin et al., 1998). Lợn mới đẻ lứa đầu thường hay sợ hãi do đó tỷ lệ thụ thai thấp và tỷ lệ chết cao

(Grandinson et al., 2005).

* Số lần phối và phương thức phối giống

Gordon (1997) cho biết: số lần phối giống trong một lần động dục ở lợn nái ảnh hưởng tới số con đẻ ra/ổ. Phối đơn trong một chu kỳ động dục ở lúc động dục cao nhất có thể đạt được số con đẻ ra/ổ cao, nhưng phối hai lần trong một chu kỳ động dục làm tăng số con đẻ ra/ổ. Khi phối giống cho lợn nái trực tiếp ba lần, mỗi

lần cách nhau 24 giờ tăng hơn 1,3 con/ổ so với phối hai lần.

10

Phương thức phối giống cũng ảnh hưởng khá rõ rệt. Trong phối trực tiếp, ảnh hưởng của con đực rất rõ. Thụ tinh nhân tạo có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai do kỹ thuật phối giống. Theo Anon (1993), phối giống kết hợp giữa thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp có thể làm tăng 0,5 lợn con so với phối riêng rẽ (trích dẫn từ Gordon, 1997). Phối giống bằng thụ tinh nhân tạo làm tỷ lệ thụ thai và số con đẻ ra/ổ đều thấp hơn từ 0 - 10% so với phối giống trực tiếp (Colin et al., 1998), nhưng

kết quả nghiên cứu của Alexopoulos et al. (1997) thì ngược lại.

* Thời gian cai sữa

Kết quả phân tích 14.925 lứa đẻ của 39 đàn lợn nái ở Mỹ (Xue et al., 1993 trích dẫn từ Gordon, 1997) cho thấy: thời gian bú sữa của lợn con dài, khoảng cách từ khi đẻ đến phối giống trở lại dài, khoảng cách lứa đẻ dài. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản do làm

giảm số lứa đẻ/nái/năm.

Nghiên cứu của Gaustad - Aas et al. (2004), Mabry et al. (1997), cho biết: phối giống sớm sau khi đẻ, tỷ lệ đẻ và số con đẻ ra/ổ thấp hơn so với phối giống muộn. Theo Gordon (2004), giảm thời gian cai sữa từ 20 xuống 15 ngày sẽ làm giảm 0,2 con trong ổ, giảm thời gian cai sữa từ 15 xuống còn 10 ngày sẽ làm

giảm trên 0,2 con trong ổ.

Lợn nái cai sữa ở 28 - 35 ngày, thời gian động dục trở lại 4 - 5 ngày có thể phối giống và có thành tích sinh sản tốt (Colin et al., 1998). Không nên phối giống cho lợn nái sớm hơn 3 tuần sau khi đẻ, phối giống sớm sẽ làm giảm khả

năng sinh sản của lợn nái (Cole et al., 1975 trích dẫn từ Gordon, 1997).

Lợn nái phối giống sau khi cai sữa sớm có số lượng trứng rụng thấp (15,9 so với 24,6) và số phôi ở ngày chửa thứ 11 ít. Lợn nái cai sữa sớm có tỷ lệ thụ

thai thấp, số phôi sống ít và thời gian động dục trở lại dài (Deckert et al., 1998).

2.2. CƠ SỞ SINH LÍ CỦA SỰ SINH TRƯỞNG, CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

2.2.1. Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng

Sinh trưởng là sự tăng lên về kích thước hoặc khối lượng của vật nuôi do có sự tăng lên về số lượng và thể tích tế bào. Mối liên hệ giữa khối lượng và tuổi của vật nuôi được thể hiện bằng đồ thị hình chữ S. Giai đoạn trước thành thục sinh dục có tốc độ sinh trưởng nhanh, sau đó tốc độ sinh trưởng chậm lại và giảm dần cho đến khi đạt ổn định về khối lượng, lúc này vật nuôi thành thục về thể

11

vóc. Khả năng sinh trưởng được mô tả bằng sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng

tương đối.

Sinh trưởng tuyệt đối được xác định bằng tỷ lệ giữa khối lượng cơ thể vật nuôi tăng lên với khoảng thời gian để tăng được khối lượng đó. Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng tăng khối lượng trung bình hàng tháng

(kg/tháng) hoặc hàng ngày (g/ngày).

Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ % tăng lên về khối lượng kích thước và thể

tích cơ thể lúc khảo sát so với lúc ban đầu khảo sát.

Sự sinh trưởng của gia súc nói chung và của lợn nói riêng đều tuân theo quy luật của sinh vật: quy luật sinh trưởng không đồng đều, quy luật theo giai đoạn và quy luật theo chu kỳ: - Quy luật sinh trưởng không đồng đều: quy luật này thể hiện ở chỗ cường độ sinh trưởng thay đổi theo tuổi, tốc độ tăng trọng cũng vậy, các cơ quan bộ phận khác nhau trong cơ thể cũng có sự sinh trưởng và phát triển khác nhau, ví dụ như: cơ thể lợn khi con non tốc độ sinh trưởng của các bắp cơ phát triển mạnh hơn. Do đó, lợi dụng quy luật này, người ta tác động thức ăn sao cho lợn tăng trọng nhanh ở giai đoạn đầu để tỷ lệ nạc cao hơn trong thành phần thịt xẻ. - Quy luật sinh trưởng theo giai đoạn: đối với lợn là loài động vật có vú, quy luật theo giai đoạn được chia ra thành giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai: + Giai đoạn trong thai được chia thành: thời ký phôi thai là 1 – 22 ngày, thời kỳ tiền phôi thai là 23 – 38 ngày, thời kỳ thai nhi là 39 – 114 ngày. Trong thực tế sản xuất, người chăn nuôi cần chú ý lợn chửa có 2 thời kỳ là: thời kỳ I được tính từ khi bắt đầu thụ thai cho đến trước 1 tháng trước khi đẻ, thời kỳ II là thời gian 1 tháng trước khi đẻ. Việc chia lợn chửa thành 2 thời kỳ I và II là để thuận tiện cho việc chăm sóc, quản lý lợn nái có chửa. Trên thực tế lợn chửa kỳ II rất quan trọng, vì ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng sơ sinh và tỷ lệ nuôi sống về sau, ¾ khối lượng sơ sinh được sinh trưởng ở giai đoạn chửa kỳ II. Lợn chửa kỳ II mà nuôi dưỡng kém, sau khi sinh ra, dù nuôi dưỡng tốt lợn con vẫn chậm lớn, ảnh hưởng đến khối lượng cai sữa và thời gian nuôi cho đến khối lượng xuất chuồng. + Giai đoạn ngoài cơ thể mẹ: giai đoạn này được chia ra làm 4 thời kỳ - thời kỳ bú sữa, thời kỳ thành thục, thời kỳ trưởng thành và thời kỳ già cỗi. Thời kỳ bú sữa ở lợn, thông thưởng ở Việt Nam là 60 ngày (2 tháng). Trong thời kỳ này dù cho tách mẹ sớn ở 21. 28, 35, 42,… ngày tuổi thì chế độ dinh dưỡng cho lợn con

12

vẫn là chế độ bú sữa mẹ. Thức ăn nhân tạo cho lợn con ở giai đoạn này phải chế biến sao cho phù hợp với khả năng tiêu hóa của lợn con. Sau khi tách mẹ, những ngày đầu thức ăn nhân tạo vẫn làm cho lợn con tăng trọng đều mỗi ngày như khi vẫn còn bú sữa mẹ. Có như vậy, khi đưa vào nuôi thịt hay nuôi hậu bị, lợn con

không có hiện tượng chậm lớn. Đây là điều kiện để cai sữa sớm ở lợn con.

2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng

Để đánh giá được khả năng sinh trưởng của lợn còn tùy thuộc vào mục đích

chăn nuôi mà người chăn nuôi thường có các chỉ tiêu đánh giá khác nhau:

Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn từ giai đoạn sơ sinh đến cai sữa

thường qua các chỉ tiêu:

- Khối lượng sơ sinh/ổ (kg) - Khối lượng cai sữa/ổ (kg) - Tăng trọng từ sơ sinh đến cai sữa (g)

- Tiêu tốn thức ăn/kg cai sữa (kg)

2.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của lợn

Các tính trạng về khả năng sinh trưởng và phát dục ở lợn hầu hết là tính

trạng số lượng và chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố di truyền và ngoại cảnh.

a. Yếu tố di truyền

* Yếu tố giống

Các giống lợn khác nhau có quá trình sinh trưởng khác nhau, tiềm năng di truyền của quá trình sinh trưởng của các gia súc được thể hiện thông qua hệ số di truyền. Hệ số di truyền đối với tính trạng khối lượng sơ sinh và sinh trưởng trong thời gian bú sữa dao động từ 0,05 - 0,21.

Khả năng tăng trưởng của lợn sau cai sữa là cao nhất so với giai đoạn bú sữa và giai đoạn trưởng thành. Giai đoạn trưởng thành, các chỉ tiêu tỷ lệ móc hàm, chiều dài thân thịt, tỷ lệ nạc, độ dày mỡ lưng, diện tích cơ thăn có hệ số di truyền cao. Do đó trong chọn lọc và nhân giống người ta thường xác định các chỉ tiêu này ở giai đoạn trưởng thành để loại thải những con vật không đạt yêu cầu chất lượng giống. Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu phục vụ cho sản xuất, người ta

thường chọn những giống phù hợp với mong muốn trong chăn nuôi.

Hiện nay, để tăng khả năng sinh trưởng và tăng khối lượng cơ thể, người ta chủ yếu tạo ra ưu thế lai. Con lai thường tạo ra ưu thế lai cao hơn con bố mẹ về tăng trọng (Sellier, 1998). Con lai cho ưu thế lai cao hơn bố mẹ về tăng khối

13

lượng (10%) và thu nhận hàng ngày (Sellier, 1998). Theo Liu et al. (2000), con lai 3 giống có ưu thế lai về tăng khối lượng tới 16,44 %, ưu thế lai về tiêu tốn thức ăn là - 8,18%, trong khi đó con lai trở ngược có ưu thế lai về tăng khối

lượng chỉ đạt 7,03 %, tiêu tốn thức ăn là - 2,7%.

Theo nghiên cứu của Bidanel et al. (1996), hệ số di truyền về tiêu tốn thức ăn ở mức trung bình. Tuy nhiên, tiêu tốn thức ăn có thể dễ dàng được cải thiện thong qua chọn lọc và nó thường là một chỉ tiêu quan trọng trong chương trình

cải tiến giống lợn.

b. Các yếu tố ngoại cảnh

Chăn nuôi lợn con giữ vai trò quan trọng bởi vì năng suất của lợn nái cuối cùng được đánh giá bằng số lượng lợn con và khối lượng toàn ổ giai đoạn 50 - 60 ngày tuổi tính cho mỗi lợn nái một năm. Do vậy, nếu nuôi dưỡng tốt lợn ở giai đoạn này không những làm tăng được năng suất sinh sản của lợn nái mà còn tạo điều kiện tiền đề tốt cho việc nuôi dưỡng lợn sinh trưởng ở những giai đoạn tiếp sau. Lợn con ở giai đoạn này rất mẫn cảm với các yếu tố môi trường xung quanh do có những thay đổi lớn khi từ trong bụng mẹ ra môi trường chăn nuôi. Ngoài ra yếu tố dinh dưỡng cũng giữ một vai trò cực kỳ quan trọng. Nguồn dinh dưỡng của lợn con không chỉ do lợn mẹ cung cấp mà rất cần nguồn dinh dưỡng bổ sung từ bên ngoài để

cho lợn con phát triển tốt nhất.

Yếu tố ngoại cảnh là quan trọng chi phối khả năng sinh trưởng và cho thịt

của gia súc nói chung.

* Dinh dưỡng

Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong số các yếu tố ngoại cảnh chi phối sinh trưởng và khả năng cho thịt của gia súc. Mối quan hệ giữa năng lượng và protein giúp cho việc điều khiển tốc độ tăng khối lượng, tỉ lệ nạc mỡ và tiêu tốn thức

ăn của lợn thịt.

Theo Wood et al. (2004), nuôi lợn thịt bằng khẩu phần protein thấp, lợn sẽ sinh trưởng chậm, khối lượng giết thịt thấp. Mức năng lượng và protein thấp

trong khẩu phần làm tăng khả năng tích luỹ mỡ, tăng tỷ lệ mỡ trong cơ.

Tốc độ tăng khối lượng, chất lượng thịt cũng thay đổi tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa các vitamin với nhau và giữa vitamin với protein và khoáng. Bên cạnh đó hàng loạt nghiên cứu đã xác nhận tác dụng của việc bổ sung các axit amin giới hạn vào khẩu phần lợn thịt: tăng khối lượng tăng, tiết kiệm được thức

14

ăn và protein. Nuôi lợn hướng nạc, hàm lượng Lysin trong khẩu phần giai đoạn cuối cần từ 0,5 - 0,8%. Chất khoáng cũng đặc biệt quan trọng với lợn thịt. Việc bổ sung Cu, Zn một cách hợp lý vào khẩu phần có tác dụng làm tăng khả năng sinh trưởng và giảm ô nhiễm môi trường. Hiệu quả sử dụng protein bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Lợn hướng nạc có hiệu quả sử dụng protein cao hơn so với lợn hướng mỡ, lợn còn non cao hơn lợn trưởng thành, lợn đực cao hơn lợn cái và lợn đực thiến. Khẩu phần có đủ axit amin tốt hơn khẩu phần không đủ.

Phương thức nuôi dưỡng cũng ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của con vật. Khi cho lợn ăn khẩu phần ăn tự do, lợn có khả năng tăng trọng nhanh hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn nhưng dày mỡ lưng cao hơn (Nguyễn Nghị và cs., 1995) khi lợn đực ăn khẩu phần hạn chế. Lợn cho ăn khẩu phần hạn chế có tỷ lệ nạc cao hơn lợn cho ăn khẩu phần tự do (Thomke et al., 1995).

* Thời gian nuôi

Dựa vào quy luật sinh trưởng tích lũy chất dinh dưỡng trong cơ thể lợn, người ta đề ra 3 phương thức nuôi: nuôi lấy nạc đòi hỏi tăng khối lượng nhanh, thường kết thúc khi lợn có khối lượng 80 - 90 kg, nuôi theo hướng kiêm dụng nạc - mỡ, thời gian nuôi dài hơn, còn phương thức nuôi lấy mỡ cần thời gian nuôi dài, khối lượng giết thịt lớn hơn 2 phương thức kia.

Đinh Văn Chỉnh và cs. (1995) nghiên cứu trên lợn kiểm tra cá thể cho biết: độ lớn của hệ số tương quan giữa độ dày mỡ lưng so với tỷ lệ mỡ giảm dần theo tuổi, sự tích luỹ mỡ tăng dần theo sự tăng về khối lượng. Cứ tăng 10 kg khối lượng thì độ dày mỡ lưng tăng khoảng 1mm ở tất cả các điểm.

Thời gian nuôi càng dài, tỷ lệ mỡ trong thân thịt càng tăng và tỷ lệ nạc

càng giảm.

* Các yếu tố chăm sóc nuôi dưỡng

Biện pháp kỹ thuật trong chăn nuôi lợn con là rất quan trọng để góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái. Nếu kỹ thuật chăn nuôi lợn con tốt thì không chỉ đạt được tỷ lệ nuôi sống lợn con cao, rút ngắn thời gian cai sữa mà còn tăng được khối lượng lợn con.

Nhiệt độ chuồng nuôi thấp hoặc cao hơn nhiệt độ giới hạn thích ứng cho

phép đều là các yếu tố bất lợi đối với sinh trưởng của lợn thịt.

Các yếu tố stress ảnh hưởng không tốt đến trao đổi chất và sức sản xuất của lợn bao gồm: sự thay đổi nhiệt độ chuồng nuôi, tiểu khí hậu không thích hợp,

15

cho ăn không theo khẩu phần, chăm sóc nuôi dưỡng không tốt, cân gia súc, vận chuyển, bắt lợn để lấy máu, thiến hoạn, phân đàn, chuyển chuồng tiêm chủng và điều trị, thay đổi kích thước và hình dáng chuồng nuôi, thay đổi khẩu phần, đột ngột bỏ đói, cho uống nước thiếu.

Ngoài ra phương thức nuôi dưỡng cũng ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của con vật. Khi cho lợn ăn khẩu phần ăn tự do, khả năng tăng khối lượng nhanh hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn nhưng dày mỡ lưng lại cao hơn khi lợn đực ăn khẩu phần ăn hạn chế. Lợn cho ăn khẩu phần thức ăn hạn chế có tỷ lệ nạc cao hơn lơn cho ăn khẩu phần thức ăn tự do (Thomke et al., 1995).

* Mùa vụ

Huang et al. (2004) cho biết mùa vụ có ảnh hưởng rõ rệt tới độ dày mỡ lưng và hiệu quả sử dụng thức ăn. Lợn nuôi trong mùa hè và mùa đông có độ dày mỡ lưng thấp hơn mùa thu và mùa xuân (Choi et al., 1997). Stress nhiệt có liên quan mức sinh trưởng chậm vì khả năng thu nhận thức ăn thấp.

Nguyễn Văn Đức và cs. (2001), cho biết tăng khối lượng chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố mùa vụ. Sự khác biệt giữa năm và mùa ảnh hưởng đến tăng khối lượng và dày mỡ lưng rõ rệt (Pathiraja et al., 1990).

* Tính biệt

Tính biệt ảnh hưởng rõ rệt tới tăng trọng (Nguyễn Văn Đức và cs., 2001). Lợn cái, lợn đực hay đực thiến có tốc độ phát triển và cấu thành của cơ thể khác nhau. Tuy nhiên, nhu cầu về năng lượng cho duy trì của lợn đực cũng cao hơn lợn cái và lợn đực thiến. Lợn đực thiến lớn nhanh hơn lợn cái. Thomke et al. (1995) cũng xác nhận: lợn đực có tỷ lệ thịt xẻ cao hơn 0,5% so với lợn đực thiến trong điều kiện cho ăn tự do và mối tương tác giữa chế độ ăn hạn chế với tính biệt đối với tính trạng tỷ lệ nạc.

2.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC 2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

Chăn nuôi lợn được coi là quan trọng nhất trong ngành chăn nuôi ở Việt

Nam. Ngành chăn nuôi lợn đã phát triển nhanh trong những thập kỷ qua, đã tạo ra

lượng sản phẩm hàng hóa với quy mô tương đối lớn, cho hiệu quả kinh tế và có

chiều hướng tăng theo xu hướng phát triển kinh tế của xã hội hiện nay. Thịt lợn lại

được tiêu thụ nhiều nhất trong các loại thịt, chiếm tới khoảng 75-80 %. Chăn nuôi

lợn ở Việt Nam hiện nay không những đáp ứng nhu cầu thịt trong nước mà còn

tham gia xuất khẩu.

16

Chúng ta biết, công tác chọn lọc giống đều được tiến hành trên các dòng

thuần và từ các dòng thuần này con lai thương phẩm được sản xuất ra để khai

thác ưu thế lai. Chọn lọc các dòng thuần dựa trên năng suất của cá thể hay kết

hợp năng suất của các con vật họ hàng trong một quần thể nhất định (Legates,

1988; Siegel, 1988; dẫn theo Kiều Minh Lực, 1999).

Đối với hai giống lợn ngoại Yorkshire và Landrace, Nguyễn Văn Thiện

(1995) áp dụng các chỉ số chọn lọc kết hợp hai tính trạng tăng khối lượng và tiêu

tốn thức ăn cho từng giống.

Những năm gần đây, việc xây dựng chỉ số chọn lọc kết hợp giá trị giống

của các tính trạng chọn lọc đã bắt đầu được quan tâm tại một số trại lợn giống.

Đối với các tính trạng sinh sản của hai giống Yorkshire và Landrace, Đoàn Văn

Giải và Vũ Đình Tường (2004) đã báo cáo tiến bộ di truyền bước đầu ở hai giống

lợn trên tại Xí nghiệp lợn giống Đông Á bằng việc áp dụng chỉ số chọn lọc: tiến

bộ di truyền bình quân về số con sơ sinh sống/ổ và khối lượng 21 ngày tuổi/ổ

tương ứng là 0,045 con/năm và 0,056 kg/ổ đối với giống Yokshire;

0,047con/năm và 0,070kg/ổ đối với giống Landrace trong 3 năm từ 2001 - 2004.

Một số cơ sở giống lợn khác cũng cho những kết quả tương tự. Tạ Thị Bích

Duyên (2003) đã công bố kết quả ước tính giá trị giống về số con sơ sinh sống/ổ

từ -1,32 đến +1,26 trên đàn lợn Landrace và Yorkshire nuôi tại trại Đông Á và

trại lợn tại Thụy Phương giúp cho công tác chọn lọc lợn đực và lợn cái có hiệu

quả cao. Phạm Thị Kim Dung (2005) nghiên cứu giá trị giống trên đàn lợn

F(LxY), F(YxL), D(LxY) và D(YxL) nuôi tại Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy

Phương cho biết giá trị giống trực tiếp về tăng khối lượng cao nhất ở lợn

Landrace và về tỉ lệ nạc tốt nhất cũng ở lợn Landrace.

Phùng Thị Vân và cs. (2001) công bố lợn Landrace và Yorkshire giai đoạn từ

25 - 90 kg có khả năng tăng khối lượng tương ứng là 551,40 và 640,30 g/ngày. Phan

Xuân Hảo (2002) công bố lợn Landrace và Yorkshire giai đoạn từ 20 - 100 kg có

khả năng tăng khối lượng là 646,00 và 619,74 g/ngày. Lai hai giống (L x Y) đạt mức

tăng trọng 650,90 - 667,70 g/ngày, tỷ lệ nạc 58,80%; ngược lại con lai (Y x L) tăng

trọng 601,50 - 624,40 g/ngày và tỷ lệ nạc 56,50% (Phùng Thị Vân và cs., 2002).

Lai hai giống giữa Landrace và Yorkshire và ngược lại đều có ưu thế về nhiều chỉ tiêu sinh sản so với giống thuần với số con cai sữa/ổ tương ứng 9,38 và 9,36 con, khối lượng cai sữa/ổ ở 35 ngày tuổi 79,30 và 81,50 kg; trong khi đó nái

17

thuần Y, L có số con cai sữa/ổ là 8,82 và 9,26 con so với khối lượng cai sữa/ổ ở 35 ngày tuổi chỉ đạt 72,90 và 72,90 kg. Lợn lai F1(LxY), F1(YxL) đạt tỷ lệ nạc

với thịt xẻ tương ứng 58,80 và 56,51 kg (Nguyễn Thiện, 2002).

Lai ba giống giữa lợn đực Duroc với nái lai F1(LxY) và F1(YxL) có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản, giảm chi phí thức ăn để sản xuất 1 kg lợn con ở 60 ngày tuổi. Cụ thể: số con cai sữa/ổ 9,60 và 9,70 con, khối lượng cai sữa/ổ 80,00 và 75,70 kg ở 35 ngày tuổi, tăng trọng trung bình 655,90 và 655,70 g/ngày, tỷ lệ nạc 61,81 và 58,71% và tiêu tốn thức ăn 2,98 và 2,95 kgTA/kg tăng

trọng (Phùng Thị Vân và cs., 2002).

Trần Minh Hoàng và cs. (2003) cho biết: tổ hợp lai giữa lợn Pi và MC có khả năng sinh sản tốt. Số con để nuôi đạt 11,0 con/ổ, số con lúc 60 ngày tuổi/ổ đạt 10,25 con, khối lượng sơ sinh và khối lượng 60 ngày tuổi/con đạt 1,04kg và

12,45 kg.

Đặng Vũ Bình (2003) công bố về năng suất sinh sản của nái Landrace và Yorkshire nuôi tại các cơ sơ giống miền Bắc đạt ở mức độ thấp so với năng suất cùng giống nuôi tại các nước chăn nuôi tiên tiến. Lợn nái Landrace và Yorkshire có tuổi đẻ lứa đầu trên 13 tháng, số lứa đẻ/nái/năm đạt 2,0 và sản xuất được 16,5 lợn con cai sữa/năm. Đặng Vũ Bình và cs. (2005) khi sử dụng nái lai F1 giữa hai giống Landrace và Yorkshire cho thấy, ưu thế lai thể hiện rõ nhất ở các tính trạng số con đẻ ra, số con để nuôi, khối lượng sơ sinh/ổ, số con cai sữa và khối lượng cai sữa/ổ. Nái lai F1(Landrace x Yorkshire) có ưu thế lai cao hơn rõ rệt so với nái F1(Yorkshire x Landrace). Nguyễn Thị Viễn và cs. (2005) khi nghiên cứu về khả năng sinh sản của hai nhóm nái lai F1(Landrace x Yorkshire) và F1(Yorkshire x Landrace) cho thấy, nhóm nái F1 (Landrace x Yorkshire) nâng cao được khối lượng cai sữa từ 0,65 – 3,29 kg/ổ, còn nhóm nái F1(Yorkshire x Landrace) nâng cao được số con sơ sinh sống/ổ từ 0,24 - 0,62 con và rút ngắn được tuổi đẻ lứa

đầu từ 4 - 11 ngày.

Kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005, 2006) cho thấy, năng suất sinh sản của nái F1(Landrace x Yorkshire) được nâng cao khi phối với đực Piétran và Duroc. Theo Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006), sử dụng đực Piétrain phối với nái F1 (Yorkshire x Móng Cái) cải thiện được khối lượng sơ sinh/ổ, khối lượng cai sữa/ổ, khối lượng cai sữa/con so với sử dụng đực Landrace. Khi sử dụng đực Yorkshire và Piétrain phối với nái

18

Móng Cái, Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006) cho biết mức độ cải thiện các chỉ tiêu về khối lượng sơ sinh/ổ, khối lượng cai sữa/ổ, khối lượng cai sữa/con khi sử dụng đực Piétrain phối với nái Móng Cái cũng đạt cao hơn so với

sử dụng đực Yorkshire.

Nái lai F1(Landrace x Yorkshire), F1(Yorkshire x Landrace) và VCN22 (lợn nái bố mẹ có nguồn gốc PIC) có năng suất sinh sản tốt hơn so với nái Landrace, Yorkshire thuần nuôi trong điều kiện trang trại (Nguyễn Ngọc Phục và cs., 2009). Nái Landrace, Yorkshire và F1 (Landrace x Yorkshire) có năng suất sinh sản tương đối cao và ổn định khi phối với đực PiDu (Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thuý, 2009). Xu hướng này cũng được Phan Xuân Hảo (2010) tìm

thấy khi sử dụng đực Omega và PiDu phối với nái F1(Landrace x Yorkshire).

Nguyễn Văn Đức và cs. (2010) công bố về năng suất sinh sản của lợn nái Móng Cái, Piétrain, Landrace, Yorkshire nuôi trong điều kiện nông hộ. Kết quả cho thấy lợn nái Móng Cái có số con sơ sinh sống, số con cai sữa cao nhất (11,67 và 9,44 con/lứa), thấp nhất ở nái Piétrain (9,61 và 8,82 con). Tuy nhiên, khối lượng sơ sinh/con, khối lượng cai sữa/con của nái Piétrain đạt cao nhất (1,48 và 14,43 kg), thấp nhất ở nái Móng Cái (0,60 và 6,04 kg). Năng suất sinh sản của tổ hợp lai 3 và 4 giống cao hơn so với lai 2 giống (Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình

Tôn, 2010).

Kết quả công bố của Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh (2010) cho thấy, nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc có khối lượng cai sữa/con (6,35 kg), khối lượng lúc 60 ngày tuổi (18,66 kg) cao hơn so với khi phối với đực Landrace (6,09 và 18,34 kg). Theo Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011), nái F1(Landrace x Yorkshire) và F1(Yorkshire x Landrace) phối với đực L19 có số con đẻ ra, số con để nuôi cao hơn khi phối với đực Duroc, nhưng khối

lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa/ổ thấp hơn.

2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Xuất phát từ mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi lợn và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, các nhà chọn giống lợn trên thế giới đã sử dụng các phương pháp lai, tạo ưu thế lai nhằm tạo ra con lai thương phẩm nhiều máu có năng suất và tỷ lệ nạc cao. Nhiều giống lợn cao sản đã được sử dụng làm nguyên liệu cho các công thức lai như Yorkshire (Y), Landrace (L), Duroc (D), Hampshire (H), Pietrain (Pi)…

19

Theo Ian Gordon (1997), lai giống trong chăn nuôi lợn đã có từ hơn 50

năm trước, việc sử dụng lai hai, ba, bốn giống để sản xuất lợn thịt thương phẩm

đã trở thành phổ biến.

So sánh giữa các công thức lai hai, ba, bốn giống, Otrowski et al. (1997)

cho thấy con lai có 25% và 50% máu Pietrain có tỷ lệ nạc cao và chất lượng thịt

tốt. Sử dụng đực lai F1(PiD) có tác dụng nâng cao diện tích và khối lượng cơ

thăn (Gajewczyk et al., 1998). Các nghiên cứu của Gerasimov et al. (1997) cho

biết lai hai, ba giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: số con

đẻ ra/lứa, tỷ lệ nuôi sống và khối lượng ở 60 ngày tuổi/con. Lai hai giống làm

tăng số con đẻ ra/lứa so với giống thuần (10,9 con so với 10,1 con/lứa), tăng khối

lượng sơ sinh và khối lượng khi cai sữa. Vì vậy, việc sử dụng lai hai, ba giống là

phổ biến để nâng cao khả năng sinh sản và sản xuất lợn thịt thương phẩm

(Dzhuneibaev et al., 1998). Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy

lợn lai có mức tăng trọng tốt và tỷ lệ nạc cao hơn so với lợn thuần. Gerasimov et

al. (1997) cho biết công thức lai hai giống (Duroc  Large Black), công thức lai

ba giống Duroc  (Poltava Meat  Russian Large White) có khả năng tăng trọng

cao nhưng tiêu tốn thức ăn lại thấp so với các công thức khác.

Ở Mỹ, năng suất sinh sản của đàn lợn nái năm 1970 chỉ đạt 7,2 lợn con cai

sữa/lứa, với số lứa đẻ/nái/năm là 1,80 (Gerrits et al., 1979, trích từ Ian Gordon,

1997). Đến năm 1994 đã tăng lên 8,92 lợn con cai sữa/lứa và số lứa đẻ/nái/năm là

2,30 (Trần Kim Anh, 2000).

Việc sử dụng nái lai (LY) phối giống với lợn Pietrain để sản xuất con lai

ba giống, sử dụng nái lai (LY) phối với lợn đực lai PiDu để sản xuất con lai bốn

giống khá phổ biến tại Bỉ. Lợn đực giống Pietrain đã được cải tiến (Pietrian

Rehal hay còn gọi Pietrain kháng stress) có tỷ lệ nạc cao (trên 60%) được sử

dụng là dòng đực cuối cùng để sản xuất lợn thịt (Leroy et al., 2000). Warnants et

al. (2003) cho biết ở Bỉ thường sử dụng lợn nái lai phối giống với lợn đực Pi để

sản xuất lợn thịt có tỷ lệ nạc cao và tiêu tốn thức ăn thấp.

Tại Áo, với 4,8 triệu lợn thịt giết mổ hàng năm thì gần như tất cả được

sản xuất từ lai hai, ba giống. Nái lai được sử dụng phổ biến là F1(Edelschwein 

LW) và F1(Edelschwein  L) được phối giống với lợn đực Pietrain hoặc Duroc

để sản xuất con lai ba giống nuôi thịt.

20

Việc sử dụng nái lai F1(L×Y) phối với lợn Pietrain để sản xuất con lai ba

giống, sử dụng nái lai F1(L×Y) phối với lợn đực lai (Pietrain×Duroc) để sản xuất

con lai bốn giống khá phổ biến tại Bỉ.

Lai kinh tế ở một số nước, kết quả lai kinh tế đã làm tăng số lợn con sơ sinh

trung bình/ổ là 12 - 16%. Tỷ lệ nuôi sống cao hơn từ 10 - 15% so với lợn thuần.

Ở Hà Lan, chăn nuôi là một trong những ngành quan trọng. Thịt lợn

chiếm 60% tổng sản lượng thịt các loại được sản xuất trong năm. Trong chăn

nuôi lợn thì trên 90% lợn vỗ béo là lợn lai. Tổ hợp lai hai máu (L×Y) chiếm tới

69%, các tổ hợp lai nhiều giống tham gia ngày càng tăng. Nhiều địa phương của

Hà Lan đã sử dụng lợn lai hai máu để nuôi thịt, một số địa phương khác thì ưa

chuộng lợn lai 3- 4 máu, trong đó giống thứ 3, 4 thường được chọn là lợn đực

Duroc Canada. Lợn lai có ưu thế đẻ nhiều con, trung bình một ổ lợn con lúc sơ

sinh là 9,9 con và đạt 18,2 con cai sữa/năm.

Trung Quốc có 60 giống lợn được nuôi ở các vùng sinh thái khác nhau. Để

nâng cao chất lượng đàn lợn thịt, Trung Quốc đã nhập một số giống lợn có khả năng

sản xuất cao, phẩm chất thịt tốt như lợn: Yorkshire, Duroc, Hampshire, Landrace

cho phối với lợn nái Meishan của Trung Quốc vì vậy đã làm tăng khả năng sinh sản

của lợn nái, đạt trung bình 12,5 con/ổ.

Ở Thái Lan trước năm 1960 chỉ quan tâm đến dòng lợn thuần, sau năm

1960 mới quan tâm đến lai kinh tế 2 giống. Sau năm 1970 các nhà khoa học Thái

Lan đã tiến hành lai kinh tế 3 giống và sau năm 1980 đã tiến tới lai 4 giống. Các

giống lợn được sử dụng chủ yếu để lai kinh tế ở Thái Lan là: Yorkshire,

Landrace, Duroc, Hampshire. Kết quả công bố của Pholsing et al. (2009) cho

thấy, lợn Piétrain nuôi tại Thái Lan có tuổi đẻ lứa đầu 434,76 ngày, số con sơ

sinh sống đạt 7,47 con và khối lượng sơ sinh/ổ đạt 11,10 kg thấp hơn so với lợn

nái Large White nuôi trong cùng điều kiện (428,34 ngày, 8,58 con và 11,80 kg).

Tác giả khẳng định hệ số di truyền ước tính ở mức thấp cho các tính trạng tuổi đẻ

lứa đầu (0,06), số con sơ sinh sống (0,11) và khối lượng sơ sinh/ổ (0,08).

Tomiyama et al. (2010) nghiên cứu trên lợn Berkshire nuôi tại Nhật Bản

cho biết: hệ số di truyền của khối lượng sơ sinh là 0,07, khối lượng cai sữa là

0,14 và khối lượng 60 ngày tuổi là 0,18. Roehe et al. (2009) cho biết, hệ số di

truyền ước tính ở mức thấp đối với tính trạng khối lượng sơ sinh (0,20).

21

Mccann et al. (2008) khẳng định sử dụng đực thuần hoặc đực lai không ảnh

hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái.

Số con đẻ ra/lứa thường thấp ở lứa thứ nhất, tăng dần và đạt cao nhất từ lứa

thứ 3 đến lứa thứ 5 (Tretinjak et al., 2009).

Htoo and Molares (2012) khi nghiên cứu tại Tây Ban Nha trên lợn giai đoạn từ 15 đến 35 ngày tuổi có tăng khối lượng trung bình đạt từ 432 – 498 g/ngày và tiêu tốn thức ăn /kg tăng khối lượng đạt 1,36 đến 1,60 kg/kg. Lợn Piétrain nuôi tại Anh có khối lượng cai sữa đạt 8,2 kg, tăng khối lượng trung bình hàng ngày giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa đạt 289 g/ngày và tiêu tốn thức ăn/kg

tăng khối lượng đạt 1,18 kg/kg (Taylor et al., 2012).

22

PHẦN 3. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu được tiến hành trên 257 ổ đẻ từ lứa 1 đến lứa 6 của nái lai F1 (Landrace x Yorkshire) được phối với đực Duroc và 288 ổ đẻ của nái lại F1

(Landrace x Yorkshire) được phối với đực PiDu (50:50).

Con lai 3 giống, 4 giống được tạo ra từ các tổ hợp lai trên.

- Thời gian nghiên cứu: Số liệu được theo dõi và ghi chép trong 03 năm

(từ 2013 - 2015).

- Địa điểm nghiên cứu: Hộ chăn nuôi Tuấn Hà, Bình Giang, Hải Dương.

3.1. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đề tài đã nghiên cứu các nội dung sau:

3.2.1. Ảnh hưởng của đực phối và lứa đẻ đến các chỉ tiêu năng suất sinh sản 3.2.2. Năng suất sinh sản chung và qua các lứa đẻ qua các chỉ tiêu

+ Thời gian mang thai (ngày)

+ Khoảng cách lứa đẻ (ngày)

+ Số con sơ sinh/ổ (con)

+ Số con sơ sinh sống/ổ (con)

+ Số con để nuôi/ổ (con)

+ Số con cai sữa/ổ (con)

+ Khối lượng sơ sinh/con (kg)

+ Khối lượng sơ sinh/ổ (kg)

+ Khối lượng cai sữa/con (kg)

+ Khối lượng cai sữa/ổ (kg)

+ Tỷ lệ sơ sinh sống (%)

+ Tỷ lệ sống đến cai sữa (%)

+ Thời gian cai sữa (ngày)

+ Thời gian phối có chửa sau cai sữa (ngày)

23

3.2.3. Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa

Các chỉ tiêu theo dõi gồm:

- Thức ăn lợn nái mang thai (kg)

- Thức ăn lợn nái nuôi con (kg)

- Thức ăn lợn con tập ăn đến cai sữa (kg)

- Thức ăn lợn nái chờ phối (kg)

- Khối lượng cai sữa/ổ (kg)

3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.3.1. Điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng

- Lợn đực, lợn nái và lợn con được quản lý, nuôi dưỡng, chăm sóc theo đúng

quy trình kỹ thuật nuôi lợn giống ngoại theo phương thức công nghiệp.

- Chuồng trại đảm bảo đúng yêu cầu thiết kế, kỹ thuật.

- Phương thức phối giống: thụ tinh nhân tạo, tinh dịch đảm bảo phẩm chất

- Quy trình vệ sinh, phòng bệnh theo đúng quy định và theo lịch.

- Khẩu phần ăn sử dụng theo chương trình thức ăn của Công ty thức ăn CP:

Giai đoạn cho ăn

Loại cám

Mức cho ăn

Chờ phối

CP 567

2,5 kg TA/ngày

Mang thai

- Từ tuần 1 – 12

CP 566

2,0 kg TA/ngày

- Từ tuần 13 – 14

CP 566

Lợn nái hậu bị: 2,0 kg TA/ngày

Lợn nái: 3,0 kg TA/ngày

CP 567

Lợn nái hậu bị: 2,0 kg TA/ngày

- Từ tuần 15 – trước đẻ 03 ngày

Lợn nái: 3,0 kg TA/ngày

Trước khi đẻ 03 ngày giảm dần từ 1,5 kg TA xuống, mỗi ngày giảm 0,5 kg.

CP 567

Nuôi con (sau đẻ 03 ngày)

Tăng dần từ 1,5 kg TA lên, mỗi ngày tăng 0,5 kg.

Cai sữa

CP 567

Không cho ăn 01 ngày, sau đó cho ăn hạn chế

24

3.3.2. Phương pháp xác đinh các chỉ tiêu

Số liệu về năng suất sinh sản được theo dõi, ghi chép và cân tại thời điểm

sơ sinh và cai sữa:

Số con sơ sinh/ổ (con), số con sơ sinh sống/ổ (con), số con để nuôi/ổ

(con), số con cai sữa/ổ (con) được xác định bằng cách đếm tại từng thời điểm

tương ứng.

Khối lượng sơ sinh/con (kg), khối lượng cai sữa/con (kg) được cân từng

con bằng cân đồng hồ (10 kg ± 0,01 kg) tại các thời điểm tương ứng. Sau đó

cộng khối lượng từng con của một ổ đẻ để tính ra khối lượng sơ sinh/ổ (kg) và

khối lượng cai sữa/ổ (kg).

Tỷ lệ sơ sinh sống (%) = (số con sơ sinh sống/số con sơ sinh) x 100.

Tỷ lệ sống đến cai sữa (%) = (số con cai sữa/số con sơ sinh sống) x 100.

Thời gian mang thai (ngày): là khoảng thời gian từ lúc lợn nái phối có

chửa đến lúc đẻ. Chỉ tiêu này được xác định bằng cách lấy ngày đẻ trừ đi ngày

phối thông qua hệ thống sổ sách ghi chép.

Thời gian cai sữa (ngày): là khoảng thời gian từ lúc lợn con được đẻ ra

đến lúc lợn con được tách khỏi lợn mẹ. Thời gian cai sữa được xác định dựa vào

ngày cai sữa trừ đi ngày ngảy thông qua sổ sách ghi chép.

Khoảng cách lứa đẻ (ngày): là khoảng thời gian từ ngày đẻ lứa trước đến

ngày đẻ lứa sau và được xác định dựa vào thời gian nuôi con + thời gian chờ phối

có chửa sau cai sữa + thời gian mang thai thông qua hệ thống sổ sách ghi chép.

Tiêu tốn thức ăn/ kg lợn con cai sữa:

Theo dõi 30 ổ đẻ của tổ hợp lai Duroc x F1(Landrace x Yorkshire) và 20 ổ

của tổ hợp lai PiDu x F1(Landrace x Yorkshire).

Số liệu về tiêu tốn thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữa được theo dõi, ghi

chép và cân tại từng thời điểm tương ứng với số liệu cần thu thập:

- Thức ăn lợn nái mang thai (kg), thức ăn lợn nái nuôi con (kg), thức ăn

lợn con tập ăn đến cai sữa (kg), thức ăn lợn nái chờ phối (kg): hàng ngày trước

khi cho ăn tiến hành cân lượng thức ăn cho vào máng ăn và khi kết thúc giờ cho

ăn cân lượng thức ăn còn thừa.

25

Lượng TĂ thu nhận = Lượng TĂ cho vào – Lượng TĂ còn thừa.

- Khối lượng cai sữa/ổ (kg): được cân từng con bằng cân đồng hồ (10 kg ± 0,01 kg) tại các thời điểm cai sữa. Sau đó cộng khối lượng từng con của một ổ đẻ

để tính ra khối lượng cai sữa/ổ (kg).

- Tổng lượng TA/lứa (kg) = TA lợn nái mang thai (kg) + TA lợn nái nuôi

con (kg) + TA lợn con tập ăn đến cai sữa (kg) + TA lợn nái chờ phối (kg)

- TTTA/kg lợn con cai sữa (kg) = Tổng lượng TA/lứa/Khối lượng cai

sữa/ổ.

3.3.3. Xử lý số liệu

Số liệu theo dõi được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học bằng

chương trình Excel 2010 và SAS 9.1

Các tham số thống kê tính toán gồm: dung lượng mẫu (n), giá trị trung bình cộng (Mean), sai số của số trung bình (SE) và hệ số biến động (Cv%). So sánh cặp giữa các giá trị trung bình bằng phân tích phương sai sử dụng

phép so sánh Tukey.

26

PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI LAI F1 (LANDRACE X YORKSHIRE) PHỐI VỚI ĐỰC DUROC VÀ PIDU

4.1.1. Ảnh hưởng của đực giống và lứa đẻ đến năng suất sinh sản

Ảnh hưởng của đực giống và lứa đẻ đến các chỉ tiêu năng suất sinh sản

của lợn nái lai F1 (Landrace x Yorkshire) được trình bày trong bảng 4.1.

Bảng 4.1. Ảnh hưởng của đực giống và lứa đẻ đến năng suất sinh sản của lợn

nái F1(Landrace x Yorkshire)

Chỉ tiêu Đực giống Lứa đẻ R²

NS: P ≥ 0,05

*: P < 0,05

**: P < 0,01

***: P < 0,001

Đực giống ảnh hưởng đến thời gian mang thai, số con để nuôi, khối lượng sơ sinh/con, khối lượng sơ sinh/ổ, khối lượng cai sữa/con, khối lượng cai sữa/ổ, tỷ lệ sơ sinh sống, tỷ lệ sống đến cai sữa, thời gian cai sữa và thời gian phối có chửa sau cai

sữa (P<0,001), số con sơ sinh (P<0,01) và số con sơ sinh sống (P<0,05).

Lứa đẻ ảnh hưởng đến khoảng cách lứa đẻ, số con sơ sinh, số con sơ sinh sống, số con để nuôi, số con cai sữa, khối lượng sơ sinh/con, khối lượng sơ sinh/ổ, khối lượng cai sữa/con, khối lượng cai sữa/ổ, tỷ lệ sống đến cai sữa, thời gian cai sữa (P<0,001), thời gian phối có chửa sau cái sữa (P<0,01).

Thời gian mang thai (ngày) Khoảng cách lứa đẻ (ngày) Số con sơ sinh/ổ (con) Số con sơ sinh sống/ổ (con) Số con để nuôi/ổ (con) Số con cai sữa/ổ (con) Khối lượng sơ sinh/con (kg) Khối lượng sơ sinh/ổ (kg) Khối lượng cai sữa/con (kg) Khối lượng cai sữa/ổ (kg) Tỷ lệ sơ sinh sống (%) Tỷ lệ sống đến cai sữa (%) Thời gian cai sữa (ngày) TG phối có chửa sau cai sữa (ngày) *** NS ** * *** NS *** *** *** *** *** *** *** *** NS *** *** *** *** *** *** *** *** *** NS *** *** ** 0,04 0,05 0,18 0,18 0,16 0,10 0,10 0,23 0,80 0,37 0,03 0,12 0,12 0,08

27

Hệ số xác định (R²) là phần trăm biến động của biến phụ thuộc được giải thích bởi mối quan hệ tuyến tính của biến phụ thuộc đối với biến độc lập. Hệ số xác định càng lớn thì độ chính xác càng cao. Hệ số xác định của chỉ tiêu khối lượng cai

sữa/con là cao nhất (0,80) và thấp nhất đối với chỉ tiêu tỷ lệ sơ sinh sống (0,03).

Đực giống có ảnh hưởng đến khối lượng của lợn con tại thời điểm sơ sinh và cai sữa (Đỗ Đức Lực và cs., 2013). Đặng Vũ Bình và cs. (2005) cho biết yếu tố lứa đẻ ảnh hưởng rất rõ rệt đến hầu hết các tính trạng năng suất sinh sản; đực giống chỉ ảnh hưởng tới số con cai sữa/lứa và khối lượng sơ sinh/con; nái giống chỉ ảnh hưởng đến khối lượng sơ sinh/con khi nghiên cứu khả năng sinh sản của một số

công thức lai trên đàn lợn nuôi tại Xí nghiệp Chăn nuôi Đồng Hiệp, Hải Phòng.

Lứa đẻ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ (Clark and Leman, 1986). Nghiên cứu của Phan Xuân Hảo (2002) về khả năng sinh sản lợn Landrace và Yorkshire cho biết: yếu tố lứa đẻ ảnh hưởng nhiều nhất đến năng suất sinh sản, sau đó là kiểu gen halothane. Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005) cũng kết

luận lứa đẻ là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tất cả các chỉ tiêu sinh sản.

So với các kết quả nghiên cứu trên, kết quả ở nghiên cứu này đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đực giống và lứa đẻ đến năng suất sinh sản của lợn

nái F1(Landrace x Yorkshire) đều phù hợp với các kết quả đã công bố trước đây.

4.1.2. Năng suất sinh sản chung của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc và PiDu

Các chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire)

phối với đực giống Duroc và PiDu được trình bày qua bảng 4.2.

Qua bảng 4.2 ta thấy, khả năng sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc và PiDu nuôi trong điều kiện nông hộ là tương

đối tốt. Cụ thể:

- Thời gian mang thai của tổ hợp lai giữa lợn F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc là 115,14 ngày thấp hơn so với tổ hợp lai F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu là 115,83 ngày. Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (P<0,001). Kết quả này có hơi cao so với thời gian mang thai trung bình của lợn là 114,00 ngày nhưng vẫn nằm trong khoảng thời gian cho phép là 110 - 117 ngày. Kết quả nghiên cứu ở chỉ tiêu này của chúng tôi cao hơn so với một số kết quả nghiên cứu khác. Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009) cho biết thời gian mang thai của lợn 3 tổ hợp lai PiDi x Yorkshire, PiDu x Landrace và PiDu x

28

F1(LY) lần lượt là 114,28; 114,22 và 114,29 ngày. Tác giả Lê Đình Phùng (2009) cũng cho biết thời gian mang thai của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire)

phối tinh đực F1(Duroc x Pietrain) là 114,31 ngày.

Bảng 4.2. Năng suất sinh sản chung của lợn nái F1(LxY)

phối với đực Duroc và PiDu

Duroc x F1(Landrace x Yorkshire) PiDu x F1(Landrace x Yorkshire) Chỉ tiêu n SE Cv% SE Cv%

Thời gian mang thai (ngày) 257 Mean 115,14b 0,11 1,59 n Mean 288 115,83a 0,12 1,77

Khoảng cách lứa đẻ (ngày) 203 0,48 4,75 288 0,29 3,38

Số con sơ sinh/ổ (con) 257 0,14 19,00 288 0,11 17,18

Số con sơ sinh sống/ổ (con) 257 0,14 19,31 288 0,10 16,24

Số con để nuôi/ổ (con) 257 144,60 11,68a 11,25a 10,90a 0,13 19,13 288 144,08 11,16b 10,92b 10,45b 0,07 11,97

Số con cai sữa/ổ (con) 257 0,09 14,80 288 0,06 10,96

Khối lượng sơ sinh/con (kg) 257 0,01 6,96 288 0,00 2,09

Khối lượng sơ sinh/ổ (kg) 257 0,20 19,17 288 0,17 18,42

Khối lượng cai sữa/con (kg) 257 0,02 4,04 288 0,02 5,93

Khối lượng cai sữa/ổ (kg) 257 0,62 15,43 288 0,42 13,14

Tỷ lệ sơ sinh sống (%) 257 0,40 6,68 288 0,24 4,21

Tỷ lệ sống đến cai sữa (%) 257 0,61 10,62 288 0,39 6,99

Thời gian cai sữa (ngày) 257 0,10 7,53 288 0,22 15,70

* Trong cùng một hàng, những giá trị trung bình không mang cùng chữ cái là sai số có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

- Khoảng cách lứa đẻ ở tổ hợp lai giữa lợn F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc là 144,60 ngày, tổ hợp lai F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu là 144,08 ngày (P>0,05), tương ứng số lứa đẻ/năm là 2,52 và 2,53 lứa. Kết quả theo dõi của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011) trên lợn nái F1(LY) và F1(YL) là 114,03 và 144,55 ngày. Nghiên cứu của Lê Đình Phùng (2009) trên lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối tinh đực F1(Duroc x Pietrain) cho kết quả là 144,78 ngày. Ngoài ra, một số tác giả có kết quả nghiên cứu cao hơn, cụ thể: Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009) nghiên cứu trên các tổ hợp lai giữa nái Landrace, Yorkshire và F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu có khoảng cách lứa đẻ lần lượt là 156,34; 154,70 và 153,19 ngày; Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005) cho biết: khoảng

9,89 1,46a 16,98a 6,49a 64,13a 96,50b 92,04b 22,31b 6,54a 0,36 87,83 288 9,99 1,43b 15,99b 5,49b 54,85b 98,07a 95,96a 23,74a 4,50b 0,16 59,01 TG phối có chửa sau CS (ngày) 257

29

cách lứa đẻ trên lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) là 171,07 ngày; Đặng Vũ Bình (2003) nghiên cứu trên lợn nái Yorkshire và Landrace nuôi tại các cơ sở giống ở

miền Bắc đạt kết quả là 183,85 và 179,62 ngày.

- Số con sơ sinh/ổ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc là 11,68 con, cao hơn so với đực Pietrain (11,16 con) với P<0,01. Kết quả này tương đương với các nghiên cứu của một số tác giả trên lợn nái lai F1(Landrace x Yorkshire). Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006) trên lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc đạt 11,05 con; của Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) trên lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc, Landrace và PiDu là 11,25; 11,17 và 11,45 con; Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011) cho biết số con đẻ ra/ổ của nái F1(LY) là 11,61 và F1(YL) là 12,10 con, tổ hợp lai D x (LY) là 11,46 và L19 x (LY) là 11,75 con. Tuy nhiên, nghiên cứu của Phan Văn Hùng và Đặng Vũ Bình (2008) ở lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đự Duroc và PiDu là 10,34 và 10,06

con thì lại thấp hơn kết quả nghiên cứu của chúng tôi.

Hình 4.1. Số con/ổ của lợn nái F1(L x Y) phối với đực Duroc và PiDu

- Số con sơ sinh sống/ổ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) với đực Duroc là 11,25 con, cao hơn so với đực PiDu là 10,92 con (P<0,05). Kết quả nghiên cứu này tương đương với kết quả nghiên cứu của Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011) là 11,12 con ở tổ hợp lai D x (LxY) và 11,27 con ở tổ hợp lai L19 x (LxY) nhưng thấp hơn kết quả của Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh

30

(2010) là 11,75 con ở lợn nái F1(LxY) phối với đực Duroc và cao hơn so với lợn nái lai F1(LxY) phối với đực Duroc, Landrace, PiDu là 10,70; 10,63 và 10,88 con (Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn, 2010); nái lai F1(Landrace x Yorkshire) là

9,66 con, F1(Yorkshire x Landrace) là 9,67 con (Nguyễn Văn Đức, 2000).

- Số con để nuôi/ổ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) với đực Duroc là 10,90 con, cao hơn so với đực PiDu (10,45 con) với P<0,05. Nghiên cứu của Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009) cho biết số con để nuôi của tổ hợp lai PiDu x Yorkshire, PiDu x Landrace, PiDu x F1(LY) lần lượt là 11,26; 10,84; 11,18 con; Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh (2010) nghiên cứu trên tổ hợp lai D x F1(LY) và L x F1(LY) cho biết số con để nuôi/ổ lần lượt là 11,30 và 10,47 con; Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011) cho biết số con để nuôi/ổ nái lai F1(LY) và F1(YL) là 10,79 và 11,10 con thì kết quả nghiên cứu của chúng tôi gần tương đương nhưng cao hơn so với kết quả đã công bố của Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005) trên tổ hợp lai Pi x (LxY) và Du x (LxY) là 10,05 và 9,63 con.

- Số con cai sữa/ổ trung bình của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) là 9,94 con, ở tổ hợp lai giữa đực Duroc với nái F1(Landrace x Yorkshire) là 9,89 con thấp hơn so với tổ hợp lai giữa đực PiDu với nái F1(Landrace x Yorkshire) là 9,99 con (P>0,05). Kết quả này tương tự kết quả nghiên cứu của Phan Văn Hùng và Đặng Vũ Bình (2008) trên tổ hợp lai lợn Duroc x F1(LxY) là 9,60 con và L19 x F1(LxY) là 9,72 con nhưng lại cao hơn kết quả nghiên cứu của Lê Đình Phùng (2009) trên lợn nái lai F1(Landrace x Yorkshire) là 9,07 con và thấp hơn nghiên cứu của Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009) ở ba tổ hợp lai PiDu x Yorkshire, PiDu x Landrace, PiDu x F1(LY) là 11,10; 10,49; 10,90 con; Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011) đã nghiên cứu trên nái lai F1(LY) là 10,33 con.

- Khối lượng sơ sinh/con ở tổ hợp lai Duroc x F1(Landrace x Yorkshire) là 1,46 kg, cao hơn tổ hợp lai PiDu x F1(Landrace x Yorkshire) là 1,43 kg (P<0,001). Kết quả về chỉ tiêu khối lượng sơ sinh/ổ này có hơi thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011) ở lợn nái lai F1(LY) là 1,49 kg; tương tự kết quả nghiên cứu Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009) ở tổ hợp lai PiDu x F1(LY) là 1,46 kg và cao hơn một số nghiên cứu của Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh (2010) ở lợn đực Duroc và Landrace phối với nái lai F1(LY) là 1,32 và 1,30 kg; Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) nghiên cứu trên ba tổ hợp lai giữa đực Landrace, Duroc, PiDu với nái lai LxY lần lượt là 1,37; 1,39; 1,41 kg; Lê Đình Phùng (2009) nghiên cứu trên lợn PiDu x F1(LY) là 1,35 kg.

31

- Khối lượng sơ sinh/ổ ở tổ hợp lai Duroc x F1(Landrace x Yorkshire) là 16,98 kg, cao hơn so với tổ hợp lai PiDu x F1(Landrace x Yorkshire) là 15,99 kg (P<0,001). Kết quả về chỉ tiêu khối lượng sơ sinh/ổ này có hơi thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011) ở lợn nái lai F1(LY) là 17,21 kg; Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009) nghiên cứu trên tổ hợp lai PiDu x F1(LY) là 17,14 kg và cao hơn một số nghiên cứu của Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh (2010) ở lợn đực Duroc và Landrace phối với nái lai F1(LY) là 15,30 và 13,81 kg; Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) nghiên cứu trên ba tổ hợp lai giữa đực Landrace, Duroc, PiDu với nái lai LxY lần lượt là 14,88; 14,98; 15,65 kg;

- Khối lượng cai sữa/con ở tổ hợp lai Duroc x F1(Landrace x Yorkshire) là 6,49 kg cao hơn nhiều so với tổ hợp lai PiDu x F1(Landrace x Yorkshire) là 5,49 kg (P<0,05). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đương với nghiên cứu của Lê Đình Phùng (2009) trên lợn PiDu x F1(LY) nuôi tại Quảng Bình là 5,88 kg nhưng lại thấp hơn nhiều so với kết quả của môt số tác giả nghiên cứu trên nái lai F1(LY) là 6,74 kg (Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình, 2011); trên tổ hợp lai D x F1(LY) là 9,60 kg và L19 x F1(LY) là 9,72 kg (Phan Văn Hùng và Đặng Vũ Bình, 2008); Du x (LxY) là 7,39 kg và Pi x (LxY) là 7,44 kg (Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình, 2005).

Hình 4.2. Khối lượng/con của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với

đực Duroc và PiDu

32

- Khối lượng cai sữa/ổ ở tổ hợp lai Duroc x F1(Landrace x Yorkshire) là 64,13 kg cao hơn tổ hợp lai PiDu x F1(Landrace x Yorkshire) là 54,85 kg (P<0,05). Ở chỉ tiêu khối lượng cai sữa/ổ trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) ở ba tổ hợp lai L x (LxY), D x (LxY), (PxD) x (LxY) là 55,46; 57,02 và 58,45 kg nhưng thấp hơn một số nghiên cứu của Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011) ở lợn nái lai F1(LY) là 69,29 kg; Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009) trên tổ hợp lai PiDu x F1(LY) là 91,83 kg và Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006) ở hai tổ hợp

lai giữa đực Duroc và Pietrain với nái lai LxY lần lượt là 69,71 và 70,42 kg;

Hình 4.3. Khối lượng/ổ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực

Duroc và PiDu

Tỷ lệ sơ sinh sống và tỷ lệ sống đến cai sữa của tổ hợp lai giữa đực Duroc x F1(Landrace x Yorkshire) là 96,50 và 92,04 % thấp hơn PiDu x F1(Landrace x Yorkshire) 98,07 và 95,96 % (P<0,05). Kết quả nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005) ở hai tổ hợp lai Pi x (LxY), Du x (LxY) và nghiên cứu của Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011) trên nái lai F1(LY) nhưng thấp hơn nghiên cứu của Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009) ở tổ hợp lai PiDu x F1(LY) là 98,09 và 97,59 %; Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh (2010) ở tổ hợp lai D x F1(LY) là 97,82 và 94,17 %, L x

(F1(LY) là 95,17 và 96,55 %.

33

Thời gian cai sữa ở tổ hợp lai Duroc x F1(Landrace x Yorkshire) là 22,31 ngày sớm hơn so với PiDu x F1(Landrace x Yorkshire) là 23,74 ngày (P<0,05). Kết quả này nằm trong khoảng thời gian phù hợp với điều kiện chăn nuôi công nghiệp hiện nay là cai sữa từ 21 đến 25 ngày và tương tự với thời gian cai sữa trong nghiên cứu của Lê Đình Phùng (2009) ở tổ hợp lai PiDu x F1(LY) là 22, 65 ngày; Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) ở ba tổ hợp lai L x (LxY), D x (LxY), (PxD) x (LxY) là 22,69; 22,53 và 22,67 ngày. Nhưng trong nghiên cứu của Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009) thì thời gian cai sữa của tổ hợp

lai PiDu x F1(LY) lại khá cao (31,46 ngày).

Thời gian phối có chửa sau cai sữa ở tổ hợp lai Duroc x F1(Landrace x Yorkshire) là 6,54 ngày muôn hơn so với PiDu x F1(Landrace x Yorkshire) là 4,50 ngày (P<0,05). Điều này có thể nhận thấy là số lứa/nái/năm ở tổ hợp lai PiDu x F1(Landrace x Yorkshire) cao hơn so với tổ hợp lai Duroc x F1(Landrace x Yorkshire). So với kết quả nghiên cứu trên tổ hợp lai PiDu x F1(LY) của Lê Đình Phùng (2009) là 7,90 ngày; của Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009)

là 7,47 ngày thì kết quả của chúng tôi là ngắn hơn.

Nhìn chung, năng suất sinh sản của tổ hợp lai Duroc x F1(Landrace x Yorkshire) tốt hơn so với tổ hợp lai PiDu x F1(Landrace x Yorkshire) nhưng tỷ lệ nuôi sống chưa cao. Đực phối ảnh hưởng rõ rệt tới các chỉ tiêu năng suất sinh sản

ngoại trừ chỉ tiêu khoảng cách lứa đẻ và số con cai sữa/ổ.

4.1.3. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực giống Duroc và PiDu qua các lứa đẻ

Ảnh hưởng của lứa đẻ đến năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) khi phối với đực giống Duroc và PiDu nuôi tại nông hộ được trình

bày qua các bảng 4.3, 4.4, 4.5, 4.6, 4.7 và 4.8:

- Thời gian mang thai (ngày):

Thời gian mang thai từ lứa 1 đến 6 của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc lần lượt là 115,11; 115,19; 115,16; 115,44; 114,86; 115,03 ngày và với đực PiDu lần lượt là 116,01; 116,31; 115,48; 116,05; 115,18, 115,54 ngày. Kết quả nghiên cứu này cho thấy, thời gian mang thai có hơi cao hơn bình thường (114 ngày) nhưng vẫn nằm trong khoảng cho phép và thời gian mang thai của nái F1(Landrace x Yorkshire) khi phối với đực PiDu cao hơn so với đực Duroc. Ảnh hưởng của yếu tố lứa đẻ đến chỉ tiêu này chỉ có ý nghĩa thống kê ở

lứa 1 và 2 (P<0,05) còn lại các lứa khác là không có ý nghĩa thống kê (P>0,05).

34

Bảng 4.3. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc và Pidu ở lứa đẻ thứ 1

Duroc x F1(Landrace x Yorkshire) PiDu x F1(Landrace x Yorkshire) Chỉ tiêu Cv% n Mean SE Cv% n Mean SE

Thời gian mang thai (ngày) 1,54 68 116,01a 0,25 1,78 54 115,11b 0,24

Số con sơ sinh/ổ (con) 18,85 68 9,63b 0,18 15,52 54 10,81a 0,28

Số con sơ sinh sống/ổ (con) 19,99 68 9,50b 0,18 15,27 54 10,50a 0,29

Số con để nuôi/ổ (con) 18,98 68 9,43b 0,17 14,70 54 10,19a 0,26

Số con cai sữa/ổ (con) 15,99 68 9,35 0,16 14,40 54 9,20 0,20

Khối lượng sơ sinh/con (kg) 8,08 68 1,40b 0,00 2,33 54 1,44a 0,02

Khối lượng sơ sinh/ổ (kg) 19,56 68 13,52b 0,27 16,35 54 15,49a 0,41

Khối lượng cai sữa/con (kg) 3,60 68 5,26b 0,03 4,09 54 6,47a 0,03

Khối lượng cai sữa/ổ (kg) 16,16 68 49,20b 0,88 14,83 54 59,50a 1,31

Tỷ lệ sơ sinh sống (%) 5,59 68 98,75a 0,47 3,89 54 97,01b 0,74

Tỷ lệ sống đến cai sữa (%) 11,37 68 99,30a 0,30 2,51 54 91,60b 1,42

Thời gian cai sữa (ngày) 8,06 68 24,81a 0,44 14,60 54 22,41b 0,25

* Trong cùng một hàng, những giá trị trung bình không mang cùng chữ cái là sai số có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

TG phối có chửa sau CS (ngày) 78,30 68 5,01 0,35 58,11 54 4,22 0,45

35

Bảng 4.4. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc và Pidu ở lứa đẻ thứ 2

Duroc x F1(Landrace x Yorkshire) PiDu x F1(Landrace x Yorkshire) Chỉ tiêu n SE Cv% n SE Cv%

Thời gian mang thai (ngày) 52 Mean 115,19b 0,26 1,65 59 Mean 116,31a 0,21 1,38

Số con sơ sinh/ổ (con) 52 11,33 0,25 16,19 59 11,07 0,19 13,51

Số con sơ sinh sống/ổ (con) 52 10,83 0,24 16,02 59 10,78 0,18 12,90

Số con để nuôi/ổ (con) 52 10,46 0,23 15,55 59 10,41 0,13 9,79

Số con cai sữa/ổ (con) 52 0,14 10,42 59 0,12 9,32

Khối lượng sơ sinh/con (kg) 52 9,83 1,45a 0,01 6,70 59 10,05 1,42b 0,00 1,54

Khối lượng sơ sinh/ổ (kg) 52 0,38 16,53 59 0,29 14,01

Khối lượng cai sữa/con (kg) 52 0,03 3,86 59 0,03 3,97

Khối lượng cai sữa/ổ (kg) 52 16,43 6,48a 63,58a 0,95 10,83 59 15,76 5,40b 54,27b 0,74 10,48

Tỷ lệ sơ sinh sống (%) 52 95,84 0,86 6,47 59 97,57 0,54 4,24

Tỷ lệ sống đến cai sữa (%) 52 1,30 9,87 59 0,82

Thời gian cai sữa (ngày) 52 0,21 6,74 59 6,47 14,75

TG phối có chửa sau CS (ngày) 52 95,02 22,35b 8,23a 0,94 82,49 59 96,84 24,81a 5,07b 0,48 0,49 73,91

* Trong cùng một hàng, những giá trị trung bình không mang cùng chữ cái là sai số có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Khoảng cách lứa đẻ (ngày) 52 145,77 1,04 5,14 59 146,14 0,79 4,15

36

Bảng 4.5. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc và Pidu ở lứa đẻ thứ 3

Duroc x F1(Landrace x Yorkshire) PiDu x F1(Landrace x Yorkshire) Chỉ tiêu n Mean SE Cv% n Mean SE Cv%

Thời gian mang thai (ngày) 44 115,16 0,29 1,65 50 115,48 0,31 1,89

Số con sơ sinh/ổ (con) 44 11,77 0,36 20,14 50 11,84 0,22 12,92

Số con sơ sinh sống/ổ (con) 44 11,43 0,33 19,09 50 11,58 0,21 12,95

Số con để nuôi/ổ (con) 44 11,05 0,33 19,72 50 10,98 0,12 7,70

Số con cai sữa/ổ (con) 44 10,05 0,23 15,33 50 10,32 0,12 8,41

Khối lượng sơ sinh/con (kg) 44 1,45 0,02 7,79 50 1,44 0,00 1,14

Khối lượng sơ sinh/ổ (kg) 44 0,46 18,00 50 0,32 13,10

Khối lượng cai sữa/con (kg) 44 0,05 5,05 50 0,04 4,74

Khối lượng cai sữa/ổ (kg) 44 16,90 6,50a 65,09a 1,48 15,12 50 17,03 5,59b 57,62b 0,68 8,36

Tỷ lệ sơ sinh sống (%) 44 97,46 0,73 4,96 50 97,92 0,60 4,32

Tỷ lệ sống đến cai sữa (%) 44 1,46 10,50 50 0,89 6,68

Thời gian cai sữa (ngày) 44 0,21 6,11 50 0,44 12,83

TG phối có chửa sau CS (ngày) 44 92,22 22,48b 5,36a 0,72 88,65 50 94,16 24,04a 3,74b 0,25 47,96

* Trong cùng một hàng, những giá trị trung bình không mang cùng chữ cái là sai số có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Khoảng cách lứa đẻ (ngày) 44 143,00 0,85 3,94 50 143,36 0,61 2,99

37

Bảng 4.6. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc và Pidu ở lứa đẻ thứ 4

Duroc x F1(Landrace x Yorkshire) PiDu x F1(Landrace x Yorkshire) Chỉ tiêu Cv% n Mean SE Cv% n Mean SE

Thời gian mang thai (ngày) 1,33 42 116,05 0,38 2,13 41 115,44 0,24

Số con sơ sinh/ổ (con) 17,58 42 12,33 0,23 11,97 41 12,27 0,34

Số con sơ sinh sống/ổ (con) 20,45 42 12,10 0,18 9,63 41 11,85 0,38

Số con để nuôi/ổ (con) 20,29 42 11,40 0,12 7,00 41 11,56 0,37

Số con cai sữa/ổ (con) 16,73 42 10,48 0,13 7,96 41 10,27 0,27

Khối lượng sơ sinh/con (kg) 6,01 42 1,45 0,00 1,00 41 1,48 0,01

Khối lượng sơ sinh/ổ (kg) 17,19 42 0,35 12,58 41 0,48

Khối lượng cai sữa/con (kg) 4,47 42 0,05 5,64 41 0,05

Khối lượng cai sữa/ổ (kg) 18,08 42 17,91 5,75b 60,13b 0,80 8,60 41 18,04 6,64a 68,21a 1,93

Tỷ lệ sơ sinh sống (%) 8,86 42 98,33 0,58 3,80 41 96,15 1,33

Tỷ lệ sống đến cai sữa (%) 10,69 42 92,17 1,30 9,11 41 90,10 1,50

Thời gian cai sữa (ngày) 8,52 42 0,65 18,32 41 0,29

TG phối có chửa sau CS (ngày) 84,29 42 23,07 4,36b 0,33 49,10 41 21,95 7,10a 0,93

* Trong cùng một hàng, những giá trị trung bình không mang cùng chữ cái là sai số có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Khoảng cách lứa đẻ (ngày) 4,52 42 143,55 0,62 2,78 41 144,49 1,02

38

Bảng 4.7. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc và Pidu ở lứa đẻ thứ 5

Duroc x F1(Landrace x Yorkshire) PiDu x F1(Landrace x Yorkshire) Chỉ tiêu Cv% n Mean SE Cv% n Mean SE

Thời gian mang thai (ngày) 1,72 34 115,18 0,28 1,43 36 114,86 0,33

Số con sơ sinh/ổ (con) 18,57 34 12,82 0,39 17,64 36 12,44 0,39

Số con sơ sinh sống/ổ (con) 17,85 34 12,47 0,33 15,45 36 12,14 0,36

Số con để nuôi/ổ (con) 17,01 34 11,18 0,16 8,38 36 11,72 0,33

Số con cai sữa/ổ (con) 13,68 34 10,38 0,19 10,87 36 10,28 0,23

Khối lượng sơ sinh/con (kg) 5,94 34 1,46 0,00 1,18 36 1,49 0,01

Khối lượng sơ sinh/ổ (kg) 19,49 34 0,58 18,08 36 0,60

Khối lượng cai sữa/con (kg) 2,59 34 0,05 5,51 36 0,03

Khối lượng cai sữa/ổ (kg) 14,37 34 18,77 5,81b 60,18b 1,17 11,31 36 18,55 6,42a 65,98a 1,58

Tỷ lệ sơ sinh sống (%) 4,19 34 97,63 0,75 4,47 36 97,77 0,68

Tỷ lệ sống đến cai sữa (%) 10,95 34 1,55 9,71 36 1,62

Thời gian cai sữa (ngày) 8,93 34 0,59 16,80 36 0,33

TG phối có chửa sau CS (ngày) 82,27 34 0,35 43,59 36 1,02

* Trong cùng một hàng, những giá trị trung bình không mang cùng chữ cái là sai số có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Khoảng cách lứa đẻ (ngày) 5,17 34 93,10 20,41b 4,74b 140,32b 0,62 2,56 36 88,77 22,19a 7,44a 144,50a 1,24

39

Bảng 4.8. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc và Pidu ở lứa đẻ thứ 6

Duroc x F1(Landrace x Yorkshire) PiDu x F1(Landrace x Yorkshire) Chỉ tiêu n Mean SE Cv% n Mean SE Cv%

Thời gian mang thai (ngày) 30 0,37 1,75 35 0,37 1,89

Số con sơ sinh/ổ (con) 30 0,44 20,17 35 0,19 10,69

Số con sơ sinh sống/ổ (con) 30 0,39 19,11 35 0,17 10,22

Số con để nuôi/ổ (con) 30 115,03 11,97a 11,20a 10,83a 0,40 20,00 35 115,54 10,29b 10,06b 9,89b 0,12 7,27

Số con cai sữa/ổ (con) 30 10,03 0,25 13,47 35 9,66 0,10 6,12

Khối lượng sơ sinh/con (kg) 30 0,02 5,92 35 0,00 1,13

Khối lượng sơ sinh/ổ (kg) 30 0,62 19,51 35 0,29 11,65

Khối lượng cai sữa/con (kg) 30 0,04 3,00 35 0,04 4,41

Khối lượng cai sữa/ổ (kg) 30 1,64 14,00 35 0,69 7,96

Tỷ lệ sơ sinh sống (%) 30 1,63 9,50 35 0,81 4,91

Tỷ lệ sống đến cai sữa (%) 30 1,53 8,92 35 0,77 4,64

Thời gian cai sữa (ngày) 30 0,28 6,79 35 0,41 10,24

TG phối có chửa sau CS (ngày) 30 1,46 17,40a 6,40a 64,22a 94,26b 93,94b 22,43b 7,70a 1,19 84,59 35 1,43 14,71b 5,32b 51,37b 97,95a 97,87a 23,49a 3,57b 0,22 36,12

* Trong cùng một hàng, những giá trị trung bình không mang cùng chữ cái là sai số có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Khoảng cách lứa đẻ (ngày) 30 145,17 1,28 4,83 35 142,60 0,49 2,04

40

- Số con sơ sinh (con):

Số con sơ sinh từ lứa 1 đến 6 của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc là 10,81; 11.33; 11,77; 12,27; 12,44; 11,97 con và với đực PiDu là 9,63; 11,07; 11,84; 12,33; 12,82; 10,29 con. Số con sơ sinh đạt thấp nhất ở lứa 1, tăng dần từ lứa 2 và đạt cao nhất ở lứa 5, đến lứa 6 thì giảm dần. Ở lứa 1 và 2 của nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc có số con sơ sinh cao hơn so với F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu nhưng từ lứa 3 đến 5 thì ngược lại và đến lứa 6 thì nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu có xu hướng giảm nhanh hơn F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc. Tuy nhiên, lứa

đẻ chỉ ảnh hưởng đến số con sơ sinh ở lứa 1 và 6 (P < 0,05).

Hình 4.4. Số con sơ sinh/ổ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire)

phối với đực Duroc và PiDu từ lứa đẻ 1 đến 6

Nghiên cứu của Đặng Vũ Bình (1999) trên lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) và F1(Yorkshire x Landrace) qua 4 lứa đẻ cho biết: hầu hết các chỉ tiêu sinh sản đều tăng từ lứa 1 tới 4. Nghiên cứu Phan Xuân Hảo (2002) và Tạ Thị Bích Duyên (2003), cho thấy, số con sơ sinh/ổ của lợn nái Landrace và Yorkshire sinh sản từ lứa đẻ thứ 1 đến 6 cho thấy số con đẻ ra/ổ ở lứa đẻ thứ 1 là thấp nhất, sau đó tăng dần từ lứa thứ 2 và đạt cao nhất ở lứa 5 và đến lứa 6 bắt đầu giảm. Từ Quang Hiển và Lương Bích Nguyệt (2005) cho biết, số con đẻ ra/ổ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) tăng dần từ lứa 1 đến 6 và bắt đầu giảm từ lứa 7. Dan

41

and Summer (1995) cho biết: số con trong ổ tăng dần từ lứa 1 đến 5, sau đó giảm dần từ lứa 6. Serenius et al. (2002) theo dõi trên đàn nái Landrace và Large

White qua 5 lứa đẻ đã nhận xét, số con sơ sinh/ổ tăng dần từ lứa 1 đến lứa 5.

Như vậy, nghiên cứu này cũng tuân theo quy luật sinh sản của lợn so với

các nghiên cứu khác.

- Số con sơ sinh sống (con):

Số con sơ sinh sống từ lứa 1 đến 6 của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc là 10,50; 10,83; 11,43; 11,85; 12,14; 11,20 con và với đực PiDu là 9,50; 10,78; 11,58; 12,10; 12,47; 10,06 con. Số con sơ sinh sống thấp nhất ở lứa 1, tăng dần từ lứa 2 và đạt cao nhất ở lứa 5, đến lứa 6 thì bắt đầu giảm. Ở lứa 1 và 2 của nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc có số con sơ sinh cao hơn so với F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu nhưng từ lứa 3 đến 5 thì ngược lại và đến lứa 6 thì nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu bắt đầu giảm nhanh hơn so với nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc. Tuy

nhiên, lứa đẻ chỉ ảnh hưởng đến số con sơ sinh sống ở lứa 1 và 6 (P<0,05).

Hình 4.5. Số con sơ sinh sống/ổ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire)

phối với đực Duroc và PiDu từ lứa đẻ 1 đến 6

Phan Xuân Hảo (2006) cho biết: số con sơ sinh sống/ổ của lợn nái lai F1(Landrace x Yorkshire) tăng dần từ lứa 1 đến lứa 4 là đạt đỉnh và bắt đầu giảm từ lứa 5,6. Lê Đình Phùng (2009) cho biết: số con sơ sinh sống đến 24 giờ sau

42

khi đẻ của lợn nái lai F1(Landrace x Yorkshire) phối với tinh đực lai F1(Duroc x Pietrain) ở nhóm lứa đẻ I (lứa 1 và 2) là 9,08 con tương đương với nhóm lứa đẻ thứ III (lứa 5 và 6) là 9,53 con và cao nhất ở nhóm lứa đẻ thứ II (lứa 3 và 4) là 10,20 con. Như vậy, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với các kết

quả nghiên cứu khác.

- Số con để nuôi (con):

Số con để nuôi từ lứa 1 đến 6 của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc là 10,19; 10,46; 11,05; 11,56; 11,42; 10,83 con và với đực PiDu là 9,43; 10,41; 10,98; 11,40; 11,18; 9,89 con. Số con để nuôi trong nghiên cứu này tăng dần từ lứa 1 đến 4 là đạt cao nhất và bắt đầu giảm ở lứa 5, 6. Lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc có số con để nuôi từ lứa 1 đến 6 cao hơn so với lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu nhưng chỉ có lứa đẻ 1 và 6 là sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (P < 0,05). Số con để nuôi chịu ảnh hưởng từ chỉ tiêu số con sơ sinh và số con sơ sinh sống nên nó cũng tuân theo quy luật của của hai chỉ tiêu này. Theo Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011), số con để nuôi của lợn nái lai F1(Landrace x Yorkshire) và F1(Yorkshire x Landrace) ở lứa 1 luôn thấp nhất, sau đó tăng dần từ lứa 2 đến lứa 5, lứa đẻ thứ 6 có xu hướng giảm.

Hình 4.6. Số con sơ để nuôi/ổ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire)

phối với đực Duroc và PiDu từ lứa đẻ 1 đến 6

43

- Số con cai sữa (con):

Số con cai sữa từ lứa 1 đến 6 của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc là 9,20; 9,83; 10,05; 10,27; 10,28; 10,03 con thấp hơn so với đực PiDu là 9,35; 10,05; 10,32; 10,48; 10,38; 9,66 con. Xu hướng kết quả nghiên cứu ở chỉ tiêu này ngược so với các chỉ tiêu số con sơ sinh, số con sơ sinh sống và số con để nuôi ở trên, tức là số con cai sữa ở tổ hợp lai giữa nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc thấp hơn so với tổ hợp lai giữa F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu. Điều này thể hiện rằng tỷ lệ nuôi sống lợn con đến cai sữa của con lai F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc thấp hơn so với con lai F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu. Có thể là do kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con từ sơ sinh đến cai sữa không tốt dẫn đến tỷ lệ chết trong giai đoạn này cao. Ở chỉ tiêu này, lứa đẻ không ảnh hưởng rõ rệt (P > 0,05).

Hình 4.7. Số con cai sữa/ổ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire)

phối với đực Duroc và PiDu từ lứa đẻ 1 đến 6

Theo Phan Xuân Hảo (2006) thì số con cai sữa/ổ của nái F1(Landrace x Yorkshire) ở các lứa đẻ từ 1 đến 6 lần lượt là 8,45; 9,52; 9,48; 9,90; 9,46 và 8,90 con/ổ, tức là số con cai sữa tăng từ lứa 1 đến 4 là đạt đỉnh, sau đó giảm dần từ lứa 5, 6. Theo Lê Đình Phùng (2009), số con cai sữa của lợn nái lai F1(Landrace x Yorkshire) phối với tinh đực lai F1(Duroc x Pietrain) ở Quảng Bình ở nhóm lứa đẻ I (lứa 1 và 2) thấp nhất là 8,66 con/ổ, cao nhất ở nhóm lứa đẻ thứ II (lứa 3 và 4) là 9,54 con/ổ và bắt đầu giảm ở nhóm lứa đẻ thứ III (lứa 5 và 6) là 9,36 con/ổ. Xu

44

hướng này cũng hoàn toàn phù hợp với xu hướng trong nghiên cứu của chúng tôi

nhưng kết quả nghiên cứu của chúng tôi lại cao hơn.

+ Tỷ lệ sơ sinh sống (%):

Ở lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc có tỷ lệ sơ sinh sống từ lứa đẻ 1 đến 6 lần lượt là 97,01; 95,84; 97,46; 96,15; 97,77; 94,26% và ở lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu có tỷ lệ sơ sinh sống từ lứa đẻ 1 đến 6 lần lượt là 98,75; 97,57; 97,92; 98,33; 97,63; 97,95%. Tỷ lệ sơ sinh sống của tổ hợp lai giữa nái F1(Landrace x Yorkshire) với đực Duroc thấp hơn so với tổ hợp lai giữa nái F1(Landrace x Yorkshire) với đực PiDu. Sự khác nhau này có ý

nghĩa thống kê ở lứa 1 và 6 (P < 0,05) và không rõ rệt ở lứa 2, 3, 4, 5 (P > 0,05).

+ Tỷ lệ sống đến cai sữa (%):

Tỷ lệ sống đến cai sữa từ lứa 1 đến 6 của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) khi phối với đực Duroc lần lượt là 91,60; 95,02; 92,22; 90,10; 88,77; 93,94% thấp hơn khi phối với đực PiDu lần lượt là 99,30; 96,84; 94,16; 92,17; 93,10; 97,87%. Tỷ lệ sống đến cai sữa của lợn con trong nghiên cứu này là không cao. Có thể là do kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con từ sơ sinh đến cai sữa không tốt dẫn đến số con chết trong giai đoạn này hơi cao. Sự khác nhau này chỉ có ý nghĩa thống kê ở lứa 1 và 6 (P<0,05), các lứa còn lại sự khác nhau là không rõ rệt (P>0,05).

+ Khối lượng sơ sinh/con (kg):

Hình 4.8. Khối lượng sơ sinh/con của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire)

phối với đực Duroc và PiDu từ lứa đẻ 1 đến 6

45

Ở lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc, khối lượng sơ sinh/con từ lứa 1 đến 6 là 1,44; 1,45; 1,45; 1,48; 1,49; 1,46 kg cao hơn so với ở lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu có khối lượng sơ sinh/con từ lứa 1 đến 6 là 1,40; 1,42; 1,44; 1,45; 1,46; 1,43 kg. Nhìn vào kết quả nghiên cứu, khối lượng sơ sinh/con ở cả hai tổ hợp lai tăng dần từ lứa 1 đến 5 là cao nhất, bắt đầu giảm ở lứa 6. Sự khác nhau này chỉ có ý nghĩa thống kê ở lứa 1 và 2

(P < 0,05), còn khác lứa khác sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (P>0,05).

Theo Phan Xuân Hảo (2006), khối lượng sơ sinh/con qua nhiều năm ở lợn nái Landrace đạt khoảng 1,40-1,43 kg; Yorkshire là 1,40-1,45 kg và F1(Landrace x Yorkshire) là 1,39-1,44 kg/con. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đương với kết quả nghiên cứu này nhưng cao hơn kết quả nghiên cứu của Lê Đình Phùng (2009) là 1,37 kg (lứa 1, 2); 1,31kg (lứa 3, 4) và 1,33 kg (lứa 5, 6) khi

nghiên cứu trên lợn nái lai F1(Landrace x Yorkshire).

+ Khối lượng sơ sinh/ổ (kg):

Hình 4.9. Khối lượng sơ sinh/ổ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire)

phối với đực Duroc và PiDu từ lứa đẻ 1 đến 6

Khối lượng sơ sinh/ổ từ lứa 1 đến 6 ở lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc là 15,49; 16,13; 16,90; 18,04; 18,55; 17,40 kg cao hơn so với ở lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu là 13,52; 15,76; 17,03; 17,91; 18,77; 14,71 kg nhưng ở lứa 5 thì ngược lại, khối lượng sơ sinh/ổ của nái

46

F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu cao hơn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc. Khối lượng sơ sinh/con ở cả hai tổ hợp lai tăng dần từ lứa 1 đến 5 là cao nhất và có dấu hiệu bắt đầu giảm ở lứa 6. Sự khác nhau này chỉ có ý nghĩa thống kê ở lứa 1 và 6 (P<0,05), còn các lứa 2, 3, 4, 5 khác sai

khác không có ý nghĩa thống kê (P>0,05).

Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011) cho biết, khối lượng sơ sinh/ổ của lợn nái lai F1(Landrace x Yorkshire) và F1(Yorkshire x Landrace) đều có giá trị thấp nhất ở lứa 1, lứa 2 đến lứa 4 tăng dần, đạt cao ở lứa đẻ thứ 5, ổn định hoặc giảm ở lứa đẻ thứ 6. Trương Hữu Dụng và cs. (2004) cho biết, khối lượng sơ sinh toàn ổ từ lứa 1 đến lứa 3 của tổ hơp lai D(LY) và D(YL) đều tăng dần từ

lứa 1 đến lứa 3.

+ Khối lượng cai sữa/con (kg):

Hình 4.10. Khối lượng cai sữa/con của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire)

phối với đực Duroc và PiDu từ lứa đẻ 1 đến 6

Khối lượng cai sữa/con từ lứa 1 đến 6 của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc là 6,47; 6,48; 6,50; 6,64; 6,42; 6,40 kg/con cao hơn nhiều so với đực PiDu là 5,26; 5,40; 5,59; 5,75; 5,81; 5,32 kg/con. Kết quả này cho thấy, khối lượng cai sữa/con ở tổ hợp lai F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc là cao, tăng đều từ lứa 1 đến 3 và đạt cao nhất ở lứa thứ 4 rồi giảm nhẹ ở lứa 5 và 6. Còn ở tổ hợp lai F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu

47

là không cao nhưng cũng tăng từ lứa 1 đến lứa 5 đạt cao nhất và giảm mạnh ở lứa

6. Ở chỉ tiêu này, lứa đẻ ảnh hưởng rõ rệt (P>0,05).

Nghiên cứu của Lê Đình Phùng (2009) trên lợn nái lai F1(Landrace x Yorkshire) thì lại ngược lại với nghiên cứu của chúng tôi, khối lượng cai sữa/con ở

nhóm lứa đẻ I (lứa 1, 2) cao hơn nhóm lứa đẻ thứ II (lứa 3, 4) và thứ III (lứa 5, 6).

+ Khối lượng cai sữa/ổ (kg):

Hình 4.11. Khối lượng cai sữa/ổ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối

với đực Duroc và PiDu từ lứa đẻ 1 đến 6

Tương tự chỉ tiêu khối lượng cai sữa/con, ở chỉ tiêu khối lượng cai sữa/ổ

từ lứa 1 đến 6 của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc là 59,50;

63,58; 65,09; 68,21; 65,98; 64,22 kg/ổ cao hơn so với đực PiDu là 49,20; 54,27;

57,62; 60,13; 60,18; 51,37 kg/ổ. Khối lượng cai sữa/ổ ở tổ hợp lai F1(Landrace x

Yorkshire) phối với đực Duroc thấp nhất ở lứa 1, tăng dần từ lứa 2, đạt cao nhất ở

lứa thứ 4 và bắt đầu giảm ở lứa 5 và 6. Còn ở tổ hợp lai F1(Landrace x Yorkshire)

phối với đực PiDu thấp nhất ở lứa 1, tăng dần từ lứa 2 đến lứa 5 đạt cao nhất và

giảm ở lứa 6. Sự khác nhau ở chỉ tiêu khối lượng cai sữa/ ổ từ lứa 1 đến 6 có ý

nghĩa thống kê (P<0,05).

Nghiên cứu của Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011) cho biết, khối

lượng cai sữa/ổ của lợn nái lai F1(Landrace x Yorkshire) và F1(Yorkshire x

48

Landrace) đều có giá trị thấp nhất ở lứa 1, tăng dần từ lứa 2 đến lứa 4, lứa thứ 5

đạt cao nhất, ổn định hoặc giảm ở lứa đẻ thứ 6.

+ Thời gian cai sữa (ngày):

Thời gian cai sữa của nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc từ

lứa 1 đến lứa 6 lần lượt là 22,41; 22,35; 22,48; 21,95; 22,19; 22,43 ngày; ở nái

F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu từ lứa 1 đến lứa 6 lần lượt là 24,81;

24,81; 24,04; 23,07; 20,41; 23,49 ngày. Lợn con ở tổ hợp lai giữa nái F1(Landrace

x Yorkshire) phối với đực Duroc có thời gian cai sữa sớm hơn so với lợn con của

tổ hợp lai nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu. Sự khác nhau này có ý

nghĩa thống kê ở hầu hết các lứa đẻ (P<0,05) ngoại trừ lứa 4 (P>0,05). Thời gian

mang thai ở kết quả này tương tự với kết quả của Lê Đình Phùng (2009) là 22,00

ngày (lứa 1, 2); 23,06 ngày (lứa 3, 4) và 22,74 ngày (lứa 5, 6).

+ Thời gian phối có chửa sau cai sữa (ngày):

Thời gian phối có chửa trong nghiên cứu này không đồng đều nhau qua

các lứa đẻ, cụ thể: nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc từ lứa 1 đến

lứa 6 lần lượt là 4,22; 8,23; 5,36; 7,10; 7,44; 7,70 ngày; ở nái F1(Landrace x

Yorkshire) phối với đực PiDu lần lượt là 5,01; 5,07; 3,74; 4,36; 4,74; 3,75 ngày.

Thời gian phối có chửa của lợn nái lai F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực

PiDu thấp hơn so với lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc. Sự

khác nhau ở chỉ tiêu này có ý nghĩa thống kê ở tất cả các lứa đẻ (P<0,05). So với

nghiên cứu của Lê Đình Phùng (2009) thì thời gian phối có chửa trong nghiên

cứu của chúng tôi là ngắn hơn.

+ Khoảng cách lứa đẻ (ngày):

Khoảng cách lứa đẻ của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực

Duroc từ lứa 2 đến lứa 6 lần lượt là 145,77; 143,00; 144,49; 144,50; 145,17 ngày;

ở nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu lần lượt là 146,14; 143,36;

143,55; 140,32; 142,60 ngày. Thời gian phối có chửa của lợn nái lai F1(Landrace

x Yorkshire) phối với đực Durroc cao hơn so với lợn nái F1(Landrace x

Yorkshire) phối với đực PiDu. Tuy nhiên, sự khác nhau này không có ý nghĩa

thống kê ở tất cả các lứa đẻ (P>0,05). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi so với

nghiên cứu của Lê Đình Phùng (2009) là tương đương.

49

Nhìn chung, năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) qua

các lứa đẻ đều đạt và hoàn toàn phù hợp với quy luật sinh sản của lợn nái. Ở tổ

hợp lai giữa nái F1(Landrace x Yorkshire) với đực Duroc có xu hướng tốt hơn so

với tổ hợp lai giữa nái F1(Landrace x Yorkshire) với đực PiDu nhưng khoảng

cách lưa đẻ thì lại cao hơn. Điều này cho thấy lợn ngoại có khả năng phát triển

tốt trong các nông hộ ở nước ta nhưng cần phải áp dụng biện pháp ký thuật và

quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc tốt hơn nữa để giảm được thời gian phối có chửa

sau cai sữa, từ đó cũng sẽ giảm được khoảng cách lứa đẻ, nâng được số con cai

sữa/nái/năm và hiệu quả trong chăn nuôi nông hộ.

4.2. TIÊU TỐN THỨC ĂN/KG LỢN CON CAI SỮA

Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữa của lợn nái F1(Landrace x

Yorkshire) phối với đực Duroc và PiDu được thể hiện qua bảng 4.9.

Kết quả cho thấy, lượng thức ăn cho lợn nái chờ phối, chửa kỳ I, chửa kỳ II,

nuôi con, lợn con tập ăn đến cai sữa của lợn F1(Landrace x Yorkshire) phối với

đực Duroc lần lượt là 9,16; 170,88; 86,42; 117,93; 1,27 kg thức ăn cao hơn so với

lợn F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu lần lượt là 11,40; 164,65; 83,55;

103,55; 4,32. Sự chênh lệch này có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05).

Khối lượng cai sữa/ổ của những ô lợn theo dõi tiêu tốn thức ăn của lợn

F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc (65,01 kg) cũng cao hơn so với

lợn F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu (59,13 kg) (P<0,05) nhưng tiêu

tốn thức ăn/kg lợn cai sữa của lợn F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc

(6,00 kg) lại thấp hơn lợn F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực PiDu (6,26 kg)

(P>0,05).

Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân và cs. (2002) cho biết, tiêu tốn

thức ăn /kg lợn con cai sữa ở 35 ngày tuổi là 5,25 kg ở tổ hợp lai Du x F1(LxY) và

5,48 kg ở tổ hợp lai Du x F1(YxL).Theo Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình

(2005), tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa ở 28,58 ngày tuổi ở tổ hợp lai

PiDu(LxY) là 5,74 kg, ở tổ hợp lai Duroc x F1(LxY) ở 28,58 ngày tuổi là 5,76 kg.

Theo Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh (2010), tiêu tốn thức ăn/kg lợn

con cai sữa ở 26,45 ngày tuổi đối với tổ hợp lai Duroc x (f1(LxY) là 5,47 kg.

50

Bảng 4.9. Tiêu tốn thức ăn cho 1kg lợn con cai sữa

Duroc x F1(Landrace x Yorkshire)

PiDu x F1(Landrace x Yorkshire)

(n = 30)

(n = 20)

Chỉ tiêu

Mean

Cv%

Mean

SE

Cv%

SE

TA lợn nái chờ phối (kg)

9,16b

33,35

11,40a

0,94

36,96

0,56

TA lợn nái chửa kỳ I (kg)

170,88a

2,16

164,65b

0,89

2,42

0,67

TA lợn nái chửa kỳ II (kg)

86,42

3,33

83,55

2,26

12,09

0,52

TA lợn nái nuôi con (kg)

117,93a

2,80

103,55b

1,77

7,65

0,60

TA lợn con tập ăn đến cai sữa (kg)

1,72b

7,69

4,32a

0,11

11,36

0,02

Khối lượng cai sữa/ổ (kg)

65,01a

10,10

59,13b

1,28

9,70

1,20

Tổng thức ăn/lứa (kg)

386,12a

1,48

367,47b

3,62

4,41

1,05

TTTA/kg lợn cai sữa (kg)

6,00

10,07

6,26

0,12

8,55

0,11

* Trong cùng một hàng, những giá trị trung bình không mang cùng chữ cái là sai số có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

51

Hình 4.12. Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa của nái F1(Landrace x

Yorkshire) phối với đực Duroc và PiDu

So sánh với các kết quả nghiên cứu trên thì kết quả nghiên cứu của chúng tôi là cao hơn. Nguyên nhân là do để đảm bảo đủ sữa cho lợn con bú và thể trạng của lợn nái, giảm sự hao hụt cho lợn nái sau khi nuôi con dẫn đến ảnh hưởng đến lứa đẻ tiếp theo nên các nông hộ cho lợn mẹ ăn tự do (mỗi ngày ăn trung bình khoảng 4,5

– 5,0 kg thức ăn).

52

PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. KẾT LUẬN

1. Đực giống ảnh hưởng đến hầu hết các chỉ tiêu năng suất sinh sản, ngoài trừ chỉ tiêu khoảng cách lứa đẻ và số con cai sữa/ổ. Lứa đẻ cũng ảnh hưởng tới hầu

hết các chỉ tiêu sinh sản ngoại trừ chỉ tiêu thời gian mang thai và tỷ lệ sơ sinh sống.

2. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace×Yorkshire) phối với đực Duroc ở các chỉ tiêu số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, số con đẻ nuôi/ổ (11,68; 11,25; 10,90 con) và các chỉ tiêu về khối lượng sơ sinh/con, khối lượng sơ sinh/ổ, khối lượng cai sữa/con, khối lượng cai sữa/ổ (1,46; 16,98; 6,49; 64,13 kg) cao hơn so với lợn nái F1(Landrace × Yorkshire) phối với đực PiDu (11,16; 10.92;

10,45 con) và (1,43; 15,99; 5,49; 54,85 kg).

3. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) qua 6 lứa đẻ đều đạt và hoàn toàn phù hợp với quy luật sinh sản của lợn nái, tức là tăng dần từ lứa 1 đến lứa 5 và bắt đầu giảm dần ở lứa 6. Ở tổ hợp lai giữa nái F1(Landrace x Yorkshire) với đực Duroc có xu hướng tốt hơn so với tổ hợp lai giữa nái

F1(Landrace x Yorkshire) với đực PiDu nhưng khoảng cách lưa đẻ thì cao hơn.

4. Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa tổ hợp lai giữa nái F1(Landrace x Yorkshire) với đực Duroc là 6,00 kg thấp hơn tổ hợp lai giữa nái F1(Landrace x

Yorkshire) với đực PiDu là 6,26 kg.

5.2. KIẾN NGHỊ

- Cho phép sử dụng kết quả nghiên cứu này như là cơ sở thực tiễn để xây dựng

và phát triển đàn nái lai sinh sản F1(Landrace x Yorkshire) có năng suất cao nhằm

nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn.

- Tiếp tục nghiên cứu đề tài này trên quy mô lớn hơn ở nhiều hộ chăn khác

nhau để có thể đánh giá một cách khách quan, toàn diện và chính xác hơn về năng

suất sinh sản của lợn nái lai F1(Landrace x Yorkshire) theo các công thức phối giống

khác nhau.

53

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt :

1. Đặng Vũ Bình (1995). Các tham số thống kê, di truyền và chỉ số chọn lọc năng suất sinh sản lợn nái Yorkshire và Landrace. Kỷ yếu kết quả nghiên cứu khoa học Chăn nuôi-Thú y 1991-1995. Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội. tr. 61-65.

2. Đặng Vũ Bình (1999). Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới các tính trạng năng suất

sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại. Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật khoa

Chăn nuôi - Thú y 1996-1998. NXB Nông nghiệp. tr. 5-6.

3. Đặng Vũ Bình (2003). Năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landrace nuôi tại

các cơ sở giống miền Bắc. Tạp chí KHKT Nông nghiệp. 01(2).

4. Đặng Vũ Bình, Nguyễn Văn Tường, Đoàn Văn Soạn và Nguyễn Thị Kim Dung (2005). Khả năng sản xuất của một số công thức lai của đàn lợn nuôi tại Xí nghiệp Chăn nuôi Đồng Hiệp – Hải Phòng. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp. 03(4). tr. 304-309.

5. Đinh Văn Chỉnh, Đặng Vũ Bình, Trần Xuân Việt, Vũ Ngọc Sơn (1995). Năng suất

sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landrace nuôi tại Trung tâm Giống gia súc Hà Tây.

Kết quả nghiên cứu KHKT Khoa Chăn nuôi – Thú y 1999-2001. NXB Nông nghiệp.

tr. 70-72.

6. Đỗ Đức Lực, Hà Xuân Bộ, Nguyễn Chí Thành, Nguyễn Xuân Trạch, Vũ Đình Tôn

(2013). Năng suất sinh sản của đàn lợn hạt nhân Piétrain kháng stress và Duroc nuôi

tại Trung tâm Giống lợn chất lượng cao Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Tạp chí

Khoa học và Phát triển. 09(01). tr. 30-35.

7. Đoàn Văn Giải và Vũ Đình Tường (2004). Kết quả bước đầu về cải tiến phương pháp

đánh giá di truyền và chọn lọc các tính trạng sinh sản tại Xí nghiệp lợn giống Đông Á.

Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y. NXB Nông nghiệp. tr. 282 - 291.

8. Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2010). Khả năng sinh trưởng của tổ hợp lai giữa

nái lai F1(landrace x Yorkshire), F1(Yorkshire x Landrace) phối giống với lợn đực

Duroc và L19. Tạp chí Khoa học và Phát triển. Vol 8(5). tr. 807-813.

9. Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011). Khả năng sản xuất của các tổ hợp lợn lai giữa nái lai F1(Yorkshire × Landrce) với đực Duroc và L19. Tạp chí Khoa học và Phát triển. 09(4). tr. 614-621.

10. Kiều Minh Lực (1999). Di truyền giống động vật. Chương trình nâng cao cho cán bộ

kỹ thuật. Viện KHKT Miền Nam. 01(9). tr. 45 - 68.

54

11. Lê Đình Phùng (2009). Năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(Landrace x Yorkshire)

phối tinh đực F1(Duroc x Pietrain) trong điều kiện chăn nuôi trang trại tại Quảng

Bình. Tạp chí Khoa học - Đại học Huế. 55(5). tr. 42-51.

12. Nguyễn Nghị và Bùi Thị Gợi (1995). Ảnh hưởng của hàm lượng protein và năng

lượng trong khẩu phần ăn đến năng suất và phẩm chất thịt của một số giống lợn nuôi

tại Việt Nam. Tuyển tập công trình nghiên cứu KHKT chăn nuôi 1969-1995. NXB

Nông nghiệp Hà Nội. tr. 24-34.

13. Nguyễn Thị Viễn (2005). Giá trị kinh tế của tính trạng độ dày mỡ lưng và dày cơ thăn

trong hệ thống sản xuất và phân phối thịt khu vực Tp. HCM. Tạp chí Chăn nuôi.

12(05). tr. 4-6.

14. Nguyễn Thiện (2002). Kết quả nghiên cứu và phát triển lợn lai có năng suất và chất lượng

cao ở Việt Nam. Viện Chăn nuôi 50 năm xây dựng và phát triển 1952-2002. NXB Nông

nghiệp Hà Nội. tr. 81-91.

15. Nguyễn Văn Đức (2000). Ưu thế lai thành phần của tính trạng số con sơ sinh

sống/lứa trong các tổ hợp lai giữa lợn MC, L và Y nuôi tại miền Bắc và Trung Việt

Nam. Kết quả nghiên cứu KHKT 1969-1999. Viện Chăn nuôi. NXB Nông nghiệp Hà

Nội. tr. 40-46.

16. Nguyễn Văn Đức, Tạ Thị Bích Duyên, Phạm Nhật Lệ, Lê Thanh Hải (2001). Nghiên

cứu các thành phần đóng góp vào tổ hợp lai giữa ba giống Móng Cái, Landrace và

Large White về tốc độ tăng trọng tại đồng bằng sông Hồng. Báo cáo khoa học Chăn

nuôi thú y 1999-2000 - phần chăn nuôi gia súc, TP HCM. tr. 181-188.

17. Nguyễn Văn Đức, Bùi Quang Hộ, Giang Hồng Tuyến, Đặng Đình Trung, Nguyễn Văn

Trung, Trần Quốc Việt và Nguyễn Thị Viễn (2010). Năng suất sinh sản, sản xuất của

lợn Móng cái, Pietrain, Landrace, Yorkshire và ưu thế lai của lợn lai F1(LRxMC),

F1(YxMC) và F1(PixMC). Tạp chí Khoa học công nghệ Chăn nuôi. Vol 22. tr. 29 - 36.

18. Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005). So sánh khả năng sinh sản của lợn nái F1(Landrace × Yorkshire) phối với lợn đực giống Pietrain và Duroc. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp. 03(2). tr. 140-143.

19. Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006). Năng suất sinh sản, sinh trưởng và chất lượng thân thịt của các công thức lai giữa nái F1(Landrace × Yorkshire) phối giống với lợn đực Duroc và Pietrain. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp. 4(6). tr. 48-55.

20. Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010). Năng suất sinh sản, sinh trưởng, thân thịt

55

và chất lượng thịt của các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(Landrace × Yorkshire) với đực giống Landrace, Duroc và (Pietrain × Duroc). Tạp chí Khoa học và Phát triển. 8(1). tr. 98-105.

21. Nguyễn Văn Thiện (1995). Di truyền học số lượng ứng dụng trong chăn nuôi, NXB Nông

nghiệp, Hà Nội.

22. Phạm Thị Kim Dung (2005). Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới một số tính trạng

về sinh trưởng và cho thịt của lợn lai F1(LY), F1(YL), D(LY) và D(YL) ở miền Bắc

Việt Nam. Luận án Tiến sỹ Nông nghiệp. Viện Chăn nuôi.

23. Phan Văn Hùng và Đặng Vũ Bình (2008). Khả năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa

lợn đực Duroc, L19 với nái F1(LxY) và F1(YxL) nuôi tại Vĩnh Phúc. Tạp chí Khoa

học và Phát triển. 6(6). tr. 537-541.

24. Phan Xuân Hảo (2002). Xác định một số chỉ tiêu về sinh sản, năng suất và chất lượng thịt của lợn Landrace và Yorkshire có các kiểu gen halothane khác nhau, Luận án tiến sĩ nông nghiệp. Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội.

25. Phan Xuân Hảo (2006). Đánh giá khả năng sản xuất của lợn ngoại đời bố mẹ và con lai nuôi thịt, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ.

26. Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thuý (2009). Năng suất sinh sản và sinh trưởng của các tổ hợp lai giữa nái Landrace, Yorkshire và F1 (Landrace x Yorkshire) phối với đực lai giữa Pietrain và Duroc (PiDu). Tạp chí Khoa học và Phát triển. 7(3). tr. 269-275. 27. Phan Xuân Hảo và Nguyễn Văn Chi (2010). Thành phần thân thịt và chất lượng thịt của các tổ hợp lai giữa nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực lai Landrace x Duroc (Omega) và Pietrain x Duroc (PiDu). Tạp chí Khoa học và Phát triển. 8(3). tr. 439-447.

28. Phùng Thị Vân, Hoàng Hương Trà, Lê Thị Kim Ngọc, Trương Hữu Dũng (2001). Nghiên

cứu khả năng cho thịt của lợn lai giữa hai giống L, Y, giữa ba giống L, Y và D và ảnh

hưởng của hai chế độ nuôi tới khả năng cho thịt của lợn ngoại có tỷ lệ nạc trên 52%. Báo

cáo khoa học Chăn nuôi thú y 1999-2000. Phần Chăn nuôi gia súc. TP Hồ Chí Minh. tr.

207-209.

29. Phùng Thị Vân, Hoàng Hương Trà, Trần Thị Hồng (2002). Nghiên cứu khả năng cho thịt của lợn lai và ảnh hưởng của hai chế độ nuôi tới khả năng cho thịt của lợn ngoại có tỷ lệ nạc trên 52%. Bộ Nông nghiệp và PTNT – Vụ Khoa học công nghệ và chất lượng sản phẩm. Kết quả nghiên cứu KHCN trong nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 1996 - 2000. tr.482-493.

30. Tạ Thị Bích Duyên (2003). Xác định mốt số đặc điểm di truyền, giá trị giống về khả năng sinh sản của lợn Yorkshire và Landrace nuôi tại các cơ sở An Khánh, Thụy

56

Phương và Đông Á. Tóm tắt luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội.

31. Trần Kim Anh (2000). Sự cần thiết mở rộng ứng dụng hệ thống giống lợn hình tháp và

sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi lợn. Chuyên san chăn nuôi lợn. Hội chăn nuôi Việt

Nam. Tr. 94-112.

32. Trần Minh Hoàng, Phạm Văn Chung, Lê Thanh Hải và Nguyễn Văn Đức (2003). Ảnh

hưởng của các nhân tố cố định đến các tính trạng sản xuất của ba tổ hợp lai F1(LR x

MC), F1(LW x MC) và F1(P x MC) nuôi trong nông hộ huyện Đông Anh, Hà Nội.

Tạp chí Chăn nuôi. 06. tr. 22-24.

33. Trương Hữu Dụng, Phùng Thị Vân, Nguyễn Khánh Quắc (2004). Khả năng sinh

trưởng và thành phần thịt xẻ của tổ hợp lai D(LY) và D(YL). Tạp chí Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn. 04. tr. 471.

34. Từ Quang Hiển và Lương Bích Nguyệt (2005). Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái

giống Landrace, Yorkshire và nái lai F1(YxL) nuôi tại trại chăn nuôi Tân Thái - tỉnh

Thái Nguyên. Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học về chăn nuôi. NXB Nông

nghiệp. tr. 265-278.

35. Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh (2010). Năng suất sinh sản, sinh trưởng và chất lượng thân thịt của các tổ hợp lai giữa nái F1(Landrace x Yorkshire) và đực giống Duroc và Landrace nuôi tại Bắc Giang. Tạp chí Khoa học và Phát triển. 8(1). tr. 106-113.

36. Zimmerman D. R., E. D. Purkinser and J. W. Parker (1996). Quản lý lợn cái và lợn

đực hậu bị để sinh sản có hiệu quả. Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp. Nhà xuất

bản Bản đồ Hà Nội. tr. 185-190.

Tiếng nước ngoài:

37. Akos K. and G. Bilkei (2004). Comparison of the reproductive performance of sows kept outdoors in Croatia with that of sows kept indoors. Livetock Productive Science. Vol 85. pp. 293-298.

38. Alexopoulos K., A. Karaglanidis, C. Boscos and J. Mavromatis (1997). Comparative study of reproductive parameters after fertilization of sows by natural service of artificial insemination. Animal Breeding Abstracts. Vol 65 (6). pp. 2947.

39. Blasco A., J.P Binadel and C.S. Haley (1995). Genetic and neonatal surval, The neonatal pig Development and survival, Valey M.A. (Ed), CAE international, Wallingford, Oxon, UK. pp. 17-38.

40. Brand H. V. D., S. J. Dieleman, N. M. Soede and B. Kemp (2000). Dietary energy source at two feeding levels during lactation of primiparous sows: Effect on glucose, insulin anh luteinizing hormone and on follicle development, weaning-to-estrus interval and ovulation rate. Animal Breeding Abstracts. Vol 68(12). pp. 7554.

57

41. Choi J.G., G. J. Bon, J. H. Lee, D. H. Kim and J. B. Kim (1997). Estimation of environmental effect on carcass traits in pigs. Animal Breeding Abstracts. Vol 65 (11). pp. 6005.

42. Chung C. S. and A. S. Nam (1998). Effects of feeding regimes on the reproductive perfomance of lactating sows and growth rate of piglets. Animal Breeding Abstracts. Vol 66(12). pp. 8369.

43. Clark,L. K. and A. D. Leman 1986. Factors that ihfluence litter size in pigs: part 1. Pig

New and Information. Vol 7. pp. 303-310.

44. Colin T, Whittemore (1998). The science and practive of pig production, Second

Edition, Blackwell Science Ltd, pp. 91-130.

45. Dan T. T and P. M. Summer (1995). Factors effecting farrowing rate and birth litter size in pigeries in Southern Vietnam and Queesland. Exploring apporoaches to research in ther animal science in Vietnam 8/1995. pp. 76 - 81.

46. Deckert A.E., C. E. Dewey, J. T. Ford and B. F. Staw (1998). The influence of the weaning to breeding interval on ovulation rate in parity two sows. Animal Breeding Abstracts. Vol 66(2). pp.1155.

47. Dierckx J. M. A. G., A. D. A. Ramos and J. R. V. Nunes (1997). Environmental factors affecting litter in pig, 2: Stillbirths and preweaning mortality. Animal Breeding Abstracts. Vol 65(11). pp. 6075.

48. Dominguez J. C., F. J. Pena, L. Anel, M. Carbajo and B. Alegre (1998). Seasonal

infertility syndrome in pigs. Animal Breeding Abstracts. Vol 66(2). pp. 1156.

49. Ducos A. (1994). Genetic evaluation of pigs tested in central stations using a multiple trait animal model. Doctoral Thesis, Institut National Agromique Paris – Grigson, France.

50. Dzhuneibaev E.T. and N. Kurenkova (1998). Carcass quality of purebred and

crossbred pigs. Animal Breeding Abstracst. Vol 66(4). pp. 2573.

51. Jonson R. K (1990). Inbreeding effects on reproduction, growth and carcass trait.

Genetics of swine, Young, L, D (ed), NC-103 publication. pp. 257-280.

52. Hamann H., R. Steinheuer and O. Distl (2004). Estimation of genetic parameters for litter size as a sow and boar trait in German herdbook L and P swine. Livestock Production Science. Vol 85. pp. 201-207.

53. Htoo, J. K and J. Molare (2012). Effects of dietary supplementation with two potassium formate sources on performance of 8 to 22 kg pigs. Journal of Animal Science. Vol 90(4). pp. 346 – 349.

54. Huang S. Y., W. C. Lee, M. Y. Chen, S. C. Wang, C. H. Huang, H. L. Tsou and E. C. Lin (2004). Genetypes of 5-flanking region in porcine heat-shock protein 70.2 gene effect backfat thickness and growth performance in D boars. Livestock Production Science. Vol 84. pp. 181-187.

58

55. Gajewczyk P., A. Rzasa and P. Krzykawski (1998). Fattening performance and carcass

quality of pigs from crossing the Polish LW, Polish L and P breeds. Animal Breeding

Abstracst. Vol 66(12). pp. 8321.

56. Gaustad A. H., P. O. Hofmo and K. Kardberg (2004). The importance of furrowing to service interval in sows served during lactation or after shorter lactation than 28 days. Animal Reproduction Science. Vol 81. pp. 289-293.

57. Gerasimov V.I., T. N. Danlova and E. V. Pron (1997). The results of 2 and 3 breed

crossing of pigs. Animal Breeding Abstracst. Vol 65(3). pp. 1395.

58. Gordon I. (1997). Controled reproduction in pig. CAB Internation. 59. Gordon I. (2004). Reproduction technologies animal. CAB Internation. 60. Grandinson K., L. Rydhmer, E. Strandberg and F. X. Solanes (2005). Genetic analysis of body condition in the sow during lactation and it relation to piglets survival and growth. Animal Science. Vol 80. pp. 33-40.

61. Koketsu Y., G. D. Dial and V. L. King (1998). Influence of various factors in farrowing rate on farms using early weaning. Animal Breeding Abstracts. Vol 66(2). pp. 1165.

62. Mabry J. W, M. S. Culbertson and D. Reeves (1997). Effect of lactation length on weaning to first service interval, first service farrowing rate and subsequent litter size. Animal Breeding Abstracts. Vol 65(6). pp. 2958.

63. Mccann M. E. E., V. E. Beattie, D. Watt and B. W. Moss (2008). The effect of boar breed type on reproduction, production performance and carcass and meat quality in pigs. Irish Journal of Agricultural and Food Research. Vol 47(2). pp. 171-185.

64. Lember A. (1998). Litter size and live weight gain of piglets depending on the feeding

level of sows, Animal Breeding Abstracts,66(2), pp. 1167.

65. Legault C. (1980). Genetics and Reproduction in pigs. Jahrestagung der Europars

Chen Vereinigung fur Tierzucht September. Vol 2(6). pp.1-4.

66. Legault C. (1985). Selection for breeds, straits and individual pigs for prolificacy.

Journal of reproduction and fertility. Vol 33. pp. 156-166.

67. Leroy P. L., J. M. Elsen, J. C. Caritez, A. Talmant, H. Juin, P. Sellier and G. Monin

(2000). Comparison between the three porcine RN genotypes for growth, carcass

composition and meat quality traits. Genetics Selection Evolution. Vol 32(2). pp. 165-186.

68. Liu Xiao Chun, Chen Bin and Shi Qishun (2000). Effect of Duroc, Large White and

Landrace crosses on growth and meat production traits. Animal Breeding Abstracts.

Vol 68 (12). pp. 7529.

69. Ostrowski A. and T. Blicharski (1997). Effect of different paternal components on

meat quality of crossbred pigs. Animal Breeding Abstracts. Vol 65 (7). pp. 3587

59

70. Pathiraja N., K. T. Mandisodza and S. M. Makuza (1990). Estimates of genetic and

phenotypic parameters of perfomance traits from centrally tested British Landrace boars under tropical conditions in Zimbabwe, Proc. 4th World Congr. Genet. Appl.

Livest. Prod. Vol 14. pp. 23-27.

71. Peltoniemi O.A.T., H. Heinonen, A. Leppavuori and R. J. Love (2000). Seasonal effect on reproduction in the domestic sow in Finland. Animal Breeding Abstracts. Vol 68(4). pp. 2209.

72. Pholsing P., S. Koonawootrittriron, M. A. Elzo and T. Suwanasopee (2009). Genetic association between age and litter traits at first farrowing in a commercial Pietrain- Large White population in Thailand. Kasetsart Journal. Natural Sciences. Vol 43(2). pp. 280-287.

73. Pistoni S. (1997). Evaluation of reproductive performance at some Italian farms in

1991-1993. Animal Breeding Abstracts. Vol 65(11). pp. 6064.

74. Riha J., V. Jakubec and S. Kamlerova (2000). An analysic of some factors affecting

the reproductive performance of sows. Animal Breeding Abstracts. Vol 68(5). pp.

2780.

75. Roehe R., N. P. Shrestha, W. Mekkawy, E. M. Baxter, P. W. Knap, K. M. Smurthwaite, S. Jarvis, A. B. Lawrence and S. A. Edwards (2009). Genetic analyses of piglet survival and individual birth weight on first generation data of a selection experiment for piglet survival under outdoor conditions. Livestock Science. Vol 121(2-3). pp. 173-181.

76. Rothschild M.F. and J. P. Bidanel (1998). Biology and genetics of reproduction. The

genetics of the pigs. CAB International.

77. Rydhmer L., N. Lundeheim and K. Johansson (1995). Genertic parameters for reporduction traits in sows and relations to performance - test measurements. Journal of .Animal Breeding and Genetic. Vol 112. pp. 33 - 42 .

78. Schineider A., D. Schworer and J. Blum (1980). Effects of halothane genotype on

production traits in Swiss Landrace. Anim. Prod., Munich, Germany.

79. Sellier P. (1998). Genetics of meats and carcass traits. The genetics of the pig.

Rothschild, M.F. and Ruvinsky, A. (eds). CAB International. pp. 463-510.

80. Serenius T. S., M. L. Aimonen and E. A. Mantysaari (2002). Effect of service sire and

validity of repeatability model in litter size and farrowing interval of Finnish L and

LW populations. Livestock Prodution Science. Vol 81. pp. 213-222.

81. Sohst E. (1997). Investigation on factors affecting herd fertility in 1996. Animal

Breeding Abstracts. Vol 65(12). pp. 6945.

60

82. Taylor A. E., P. Toplis, I. J. Welllock and H. M. Miller (2012). The effects of

genotype and dietary lysine concentration on the production of weaner pigs. Livestock

Science. Vol 149(1-2). pp. 180-184.

83. Thomke S., A. Madsen, H. P. Mortensen, F. Sundstol, O. Vangen, T. Alaviuhkola and

K. Andersson (1995). Dietary energy and protein for growing pigs: performance and

carcass composition. Acta Agric Scand. Vol 45. pp. 45-53.

84. Tolle K. H., E. Tholen, W. Trappmann and F. J. Stork (1999). Possibilities of optimizing breeding value for reproduction traits for a pig breeding association. Animal Breeding the Abstracts 1999 Vol. 67 No.4. pp. 2148.

85. Tomiyama, M., T. Kanetani, Y. Tatsukawa, H. Mori and T. Oikawa (2010). Genetic parameters for preweaning and early growth traits in Berkshire pigs when creep feeding is used. Journal of animal science. Vol 88. pp. 879-884.

86. Tretinjak M., D. Skorput, M. Ikic and Z. Lukovic (2009). Litter size of sows at family

farms in Republic of Croatia, Stocarstvo. Vol 63(3). pp. 175-185.

87. Warnants N., M.J.V. Oeckel and M. D. Paepe (2003). Response of growing pigs to

different levels of ideal standardized digestible lysine using diets balanced in threonine,

methionine and tryptophan. Livestock Production Science. Vol 82. pp. 201-209.

88. Wood J.D, Nute G.R, Richardson R.I, Whittington F.M, Southwood O, Plastow G,

Mansbrite R, N. D. Costa, K. C. Chang (2004), Effects of breed, died and muscle on

fat deposition and eating quality in pig. Meat Science. Vol 67. pp. 651-667.

89. Yamada J. and M. Nakamura (1998), Effects of full feeding and restricted feefing on the reproductive performance in the gilts and the sow. Animal Breeding Abstracts. Vol 66(4). pp. 2637.

90. Yang H., J. E. Petigrew and R. D. Walker (2000). Lactational and subsequent reproductive responses of lactating sow to dietary lysine (protein) concentration. Animal Breeding the Abstracts. Vol 68(12). pp. 7570.

91. Vandersteen H.A.M. (1986). Predition of future value sow productivity commission

on pig production. Section V. Free Communications. pp. 4.

61